Jul 24, 2026

Không thể nhân danh “nhân quyền” để bao che hành vi vi phạm pháp luật

           Tre Việt - Trong thời gian gần đây, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) lên tiếng yêu cầu Nhà nước ta thả ngay 5 nhân vật mà họ gọi là bất đồng chính kiến gồm: Nguyễn Thành Nam, Trần Việt Anh, Nguyễn Thúy Hằng, Đào Bá Đoàn, Nguyễn Văn Yên trong vụ án liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”. Động thái này một lần nữa cho thấy cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan và không tôn trọng chủ quyền, pháp luật của Việt Nam. Đây cũng không phải là lần đầu một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí cố tình khoác áo “nhân quyền” để xuyên tạc bản chất vụ việc, gây sức ép đối với Việt Nam và can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, trái với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc.

Cần nhìn nhận đúng bản chất vụ việc: theo thông tin công khai do cơ quan điều tra công bố, cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” cùng nhiều tài liệu liên quan có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Những hành vi này được xem xét theo quy định của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, đặc biệt là Điều 117 về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, đây hoàn toàn không phải là việc trừng phạt quyền tự do ngôn luận.

Trước những luận điệu thiếu thiện chí từ Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW), quan điểm của Việt Nam đã được nêu rõ và nhất quán. Chiều 23-7, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, người phát ngôn Phạm Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về việc Tổ chức Theo dõi nhân quyền ra tuyên bố kêu gọi trả tự do cho 5 người bị khởi tố liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” đã bác bỏ dứt khoát đối với những nhận định thiếu căn cứ, đồng thời thể hiện rõ lập trường của Việt Nam: mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đều được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.

Không chỉ dừng ở phát biểu ngoại giao, trình tự xử lý của các cơ quan chức năng Việt Nam trong vụ việc này cũng cho thấy sự thận trọng và tuân thủ pháp luật. Trước khi khởi tố vụ án hình sự, cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản đã đình chỉ phát hành, thu hồi xuất bản phẩm, xử phạt nhà xuất bản và yêu cầu tiêu hủy số sách vi phạm theo quy định của Luật Xuất bản và Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản. Chỉ sau quá trình xác minh, thu thập chứng cứ và xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan điều tra mới tiến hành các biện pháp tố tụng theo quy định. Điều đó khẳng định mọi quyết định đều dựa trên căn cứ pháp luật, không phải hành động tùy tiện như một số luận điệu xuyên tạc.

Từ vụ việc này có thể thấy rõ một thủ đoạn quen thuộc: Chúng cố tình đánh tráo khái niệm giữa quyền tự do biểu đạt với hành vi tuyên truyền thông tin chống Nhà nước, giữa việc thực thi pháp luật với cái gọi là “đàn áp tiếng nói đối lập”. Cách lập luận đó bỏ qua nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia: mọi quyền con người đều được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm đối với xã hội.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định rất rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; đồng thời Điều 14 khoản 2 xác định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Vì vậy, không thể lấy danh nghĩa “nhân quyền” để phủ nhận quyền của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích quốc gia.

Thực tiễn phát triển của Việt Nam là minh chứng thuyết phục bác bỏ những luận điệu sai trái. Quyền con người ở Việt Nam không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn được bảo đảm bằng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, an sinh xã hội và bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân. Đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc không phải là phủ nhận quyền tự do ngôn luận, mà là bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia và tính nghiêm minh của pháp luật. Từ bối cảnh vụ việc, quan điểm nhất quán của cơ quan chức năng đến cơ sở pháp lý hiện hành đều cho thấy một điều rõ ràng: những luận điệu xuyên tạc sẽ không thể làm thay đổi bản chất vụ việc, càng không thể phủ nhận quyền và trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ lợi ích của nhân dân và xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật.

Điều cần thiết hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên và công dân cần nâng cao bản lĩnh chính trị, tỉnh táo trước các nguồn thông tin sai lệch, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước./.

Bác bỏ luận điệu “ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo” của Việt Tân

          Tre Việt - Mới đây, trang facebook Việt Tân đăng bài viết xuyên tạc, bóp méo tình hình đất nước dưới luận điệu “ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo” của Đình Long. Bài viết đã cố tình đưa ra những luận điệu lập lờ, đánh tráo khái niệm giữa việc Việt Nam hội nhập quốc tế với việc các cơ quan chức năng thực thi pháp luật, xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm pháp luật trong nước. Đây là âm mưu thâm độc nhằm bôi nhọ thể chế, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, kích động tâm lý hoài nghi trong Nhân dân cần bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định ngay rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập quốc tế. Vấn đề này được thể hiện rõ trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước. Trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn có sự bổ sung, hoàn chỉnh và có những bước phát triển mới về tư duy đối ngoại cho phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và bối cảnh quốc tế.

Qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước cho thấy, Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao với gần như toàn bộ các quốc gia trên thế giới, tham gia nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Đồng thời, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP),... đã khẳng định quan điểm hội nhập kinh tế sâu rộng và cam kết thúc đẩy môi trường đầu tư, thương mại theo các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đã thiết lập và nâng cấp nhiều khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước trên thế giới và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế lớn.

 Trong lĩnh vực an ninh quốc tế, Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc từ năm 2014, đã cử nhiều sĩ quan và đơn vị công binh, quân y làm nhiệm vụ tại các phái bộ. Đây là minh chứng cho việc thực hiện trách nhiệm quốc tế gắn với đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển.

Thứ hai, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với cải cách hành chính, giải quyết những nút thắt, điểm nghẽn. Trong nhiều năm qua, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức tương đối cao trong khu vực (6 tháng đầu năm 2026, tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 8,18%); tích cực mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển hạ tầng giao thông, đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính. Chương trình chuyển đổi số quốc gia, việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và định danh điện tử,... là những ví dụ về nỗ lực hiện đại hóa quản trị nhà nước. Trong lĩnh vực xã hội, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt mức cao, tuổi thọ trung bình tăng, tỷ lệ nghèo đa chiều tiếp tục giảm theo chuẩn quốc gia, giáo dục phổ cập được duy trì, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, v.v.

Bên cạnh đó, Việt Nam đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xử lý những nút thắt, điểm nghẽn; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Như vậy, việc xử lý những hạn chế, tồn tại, điểm nghẽn thể chế không phải là dấu hiệu của sự thiếu nhất quán, mà phản ánh quá trình phát triển liên tục của đất nước, trong đó chính sách được điều chỉnh để thích ứng với yêu cầu thực tiễn phát triển và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm minh những công dân lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước. Quan điểm nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh, đúng trình tự, thủ tục pháp luật đối với mọi hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật không nhằm hạn chế các quyền tự do chính đáng, mà nhằm bảo đảm nguyên tắc mọi quyền đều được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, phù hợp với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế về quyền con người.

Thực tế, một số công dân bị xử lý theo quy định của pháp luật trong thời gian qua đều có hành vi vi phạm pháp luật, được các cơ quan thực thi pháp luật bắt giữ, truy tố, điều tra, xét xử theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm khách quan, đúng người, đúng tội.

Vì thế, việc Đình Long và Việt Tân lợi dụng vào đó để suy diễn, quy chụp, xuyên tạc cho rằng: Việt Nam ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo là nhằm thực hiện những dụng ý xấu, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

Jul 23, 2026

Chiến dịch 500 ngày đêm: Hành trình tri ân không thể xuyên tạc

         Tre Việt - Chiến tranh đã lùi xa hơn nửa thế kỷ, nhưng vẫn còn hàng trăm nghìn liệt sĩ chưa xác định được danh tính, hàng chục nghìn gia đình vẫn mòn mỏi chờ đợi ngày đón liệt sĩ trở về. Tìm kiếm, quy  tập và xác định danh tính liệt sĩ là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ trách nhiệm ấy, thực hiện chỉ đạo của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, Chiến dịch 500 ngày đêm được phát động nhằm tạo bước đột phá trong tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Tuy nhiên, trên không gian mạng xuất hiện một số luận điệu xuyên tạc, cho rằng: Chiến dịch 500 ngày đêm chỉ là hoạt động “hình thức”, “làm màu”, “giả dối”, hoặc đặt vấn đề vì sao đến nay mới triển khai. Thực chất, đây là cách cố tình tách Chiến dịch khỏi bối cảnh lịch sử và thực tiễn; phủ nhận những nỗ lực bền bỉ của Đảng, Nhà nước, Quân đội và toàn xã hội trong nhiều thập kỷ qua đối với công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ, đồng thời phủ nhận chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước đối với người có công với cách mạng. Mục đích sâu xa là gieo rắc hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm phai nhạt truyền thống “Uống nước nhớ nguồn”, ‘Đền ơn đáp nghĩa”.

Sự thật là công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ chưa bao giờ bị gián đoạn. Ngay sau ngày đất nước thống nhất, thực hiện chủ trương của Đảng, Quân đội đã phối hợp với các địa phương và lực lượng liên quan tổ chức tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ trên khắp các chiến trường trong nước và tại Lào, Campuchia. Nhiều thế hệ cán bộ, chiến sĩ đã vượt qua muôn vàn gian khổ, hiểm nguy để đưa đồng đội trở về với Tổ quốc. Vì vậy, Chiến dịch 500 ngày đêm không phải là sự khởi đầu mà là đợt cao điểm nhằm huy động tổng hợp nguồn lực, đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ ADN và cơ sở dữ liệu số, tạo bước đột phá trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Quy mô của Chiến dịch cho thấy đây là một chương trình tổng thể, bài bản và có mục tiêu rất cụ thể: phấn đấu quy tập khoảng 7.000 hài cốt liệt sĩ; lấy mẫu đối với khoảng 230.000 mộ liệt sĩ chưa xác định danh tính; giám định khoảng 18.000 mẫu ADN; xây dựng cơ sở dữ liệu gene thân nhân liệt sĩ và đẩy mạnh rà phá bom mìn tại các khu vực trọng điểm. Đây là sự kết hợp giữa khoa học, công nghệ, y sinh học, dữ liệu số với sự tham gia của nhiều bộ, ngành và địa phương, hoàn toàn không phải một hoạt động mang tính phong trào.

Kết quả bước đầu đã bác bỏ mọi sự hoài nghi. Đến ngày 15/7/2026, Chiến dịch đã quy tập được 1.389 hài cốt liệt sĩ; lấy mẫu hơn 52.700 mộ liệt sĩ và hơn 93.400 mẫu thân nhân; đồng bộ hơn 53.000 trường hợp vào cơ sở dữ liệu; đồng thời rà phá trên 7.700 ha bom mìn phục vụ công tác tìm kiếm. Đằng sau những con số ấy là biết bao ngày tháng băng rừng, lội suối, đối mặt với hiểm nguy của những người lính thời bình để tìm lại tên tuổi cho những người đã ngã xuống.

Hình ảnh những người lính ngày ngày băng rừng, lội suối, kiên trì đào từng tấc đất, đối chiếu từng trang hồ sơ, thu thập từng mẫu sinh phẩm để tìm lại tên cho đồng đội đã ngã xuống cũng đủ thấy Chiến dịch 500 ngày đêm không phải là “làm màu” hay “giả dối”. Bởi phía sau mỗi hài cốt được tìm thấy là một gia đình bớt đi nỗi chờ đợi, một người con, người vợ, người mẹ có thêm cơ hội được đón người thân trở về. Chừng nào vẫn còn hàng trăm nghìn ngôi mộ chưa xác định được danh tính, chừng đó hành trình tri ân ấy vẫn chưa thể dừng lại.

Đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” luôn hiện thực hóa bằng những việc làm thiết thực: chăm lo người có công, phụng dưỡng Bà mẹ Việt Nam anh hùng, xây dựng nhà tình nghĩa, quy tập hài cốt liệt sĩ, xác định danh tính những người còn nằm lại nơi chiến trường. Chỉ trong 5 năm qua, toàn quân đã vận động xây mới, sửa chữa hơn 43.400 căn nhà cho gia đình chính sách, người có công và hộ nghèo; phụng dưỡng hàng trăm Bà mẹ Việt Nam anh hùng còn sống; đỡ đầu hàng trăm con liệt sĩ, con thương binh nặng; dành hơn 200 tỉ đồng tu bổ, tôn tạo các công trình ghi công liệt sĩ. Những việc làm ấy thể hiện trách nhiệm và nghĩa tình sâu nặng của Đảng, Nhà nước, Quân đội và cả hệ thống chính trị đối với những người đã cống hiến, hy sinh vì Tổ quốc.

Điều đáng lo ngại không phải là những ý kiến khác biệt, mà là các luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo ý nghĩa của công tác đền ơn đáp nghĩa để gieo rắc hoài nghi, làm phai nhạt những giá trị đã được hun đúc qua lịch sử dân tộc. Chiến dịch 500 ngày đêm không chỉ là hành trình tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, mà còn là sự tiếp nối đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, khẳng định trách nhiệm của Đảng, Nhà nước và toàn xã hội đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc.

Vì thế, mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa của chiến dịch hay lợi dụng vấn đề người có công để gieo rắc hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc đều cần được nhận diện, đấu tranh và bác bỏ bằng sự thật lịch sử, bằng những kết quả cụ thể và bằng chính đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam./.

Jul 22, 2026

Không thể xuyên tạc chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước Việt Nam

        Tre Việt - Ngày 22/7, trang facebook Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam đăng stust xuyên tạc: “Việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ đã phải làm từ hàng thập niên trước. Tại sao lại bùng nổ trong kỷ nguyên Tô Lâm?”.

Cần khẳng định ngay, đây là luận điệu xuyên tạc trắng trợn chủ trương, chính sách tốt đẹp, nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước, cũng như những kết quả rất quan trọng mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta và cả hệ thống chính trị đã nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ những năm qua.

Ở Việt Nam, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ đã được tiến hành ngay sau các cuộc kháng chiến. Đặc biệt, từ năm 2013 đến nay, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, trọng tâm là: Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 15/5/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Quyết định số 1515/QĐ-TTg, ngày 14/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ luôn được Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta và cả hệ thống chính trị xác định là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng; các cơ quan, đơn vị Quân đội đã phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương, triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, đạt được những kết quả rất quan trọng.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2021 - 2025, toàn quốc đã tìm kiếm, quy tập được 6.959 hài cốt liệt sĩ (trong đó: ở trong nước 3.122, ở Lào 938, ở Campuchia 2.899); tiếp nhận 13.404 mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ; phân tích, so sánh, đối khớp và trả kết quả giám định ADN đối với 1.094 trường hợp, trong đó xác định được danh tính 103 hài cốt liệt sĩ; xác minh, kết luận, đính chính, bổ sung thông tin bằng phương pháp thực chứng đối với 2.560 mộ an táng trong các nghĩa trang liệt sĩ, v.v.

Kết quả đó, khẳng định quyết tâm chính trị, thể hiện sự tri ân, lòng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đối với công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ; đáp ứng nguyện vọng và làm vơi đi nỗi đau của thân nhân, gia đình liệt sĩ; tạo sự đồng thuận xã hội cao, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin hiện nay vẫn rất nặng nề, hiện còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và hơn 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Trong khi đó, điều kiện thực hiện ngày càng khó khăn, nếu không hành động khẩn trương, quyết liệt, cùng cách làm khoa học và sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương, lực lượng chuyên trách và Nhân dân, thì cơ hội tìm kiếm, quy tập hài cốt các liệt sĩ sẽ ngày càng dần mất đi.

Chính vì lẽ đó, ngày 02/4/2026, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị, Ban Chỉ đạo quốc gia phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Mục đích là, nhằm phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; trực tiếp góp phần tri ân và ghi nhớ công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đồng thời, giáo dục truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).

Như thế, chúng ta đều thấy công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là chủ trương, chính sách đúng đắn, được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện từ hơn 80 nay, hoàn toàn không phải “đến kỷ nguyên này mới bùng nổ” như luận điệu mà Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam xuyên tạc, rêu rao!. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, điều kiện kinh tế, khoa học, kỹ thuật của đất nước còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nên công tác tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ chưa đạt kết quả như mong muốn. Vì thế, đến giai đoạn hiện nay, khi đất nước phát triển, có điều kiện thuận lợi hơn, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được đẩy mạnh hơn cũng là điều dễ hiểu, nhằm sớm đưa các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc trở về với quê hương, gia đình, đáp ứng nguyện vọng và làm vơi đi nỗi đau của thân nhân, gia đình liệt sĩ; tạo sự đồng thuận xã hội cao, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì vậy, luận điệu kích động, xuyên tạc, lố bịch của Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam nhằm chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nội dung, mục tiêu, ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc của động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, sẽ chẳng lừa bịp được ai, nhất định sẽ bị đấu tranh bác bỏ, làm phá sản./.

 

Jul 21, 2026

Đồng nhất con đường phát triển của Việt Nam với Venezuela là một sự so sánh khập khiễng.

         Tre Việt - Ngày 21/7/2026, trang facebook Việt Tân đăng tải video với tiêu đề: “Bên Venezuela Chavez rồi Maduro cũng thử cái kiểu “định hướng” thị trường theo XHCN, rồi cũng thất bại. Việt Nam cũng thử nhiều lần, không thành công nhưng mà vẫn kiên định”. Thông qua việc cắt ghép thông tin, hình ảnh, ngụy tạo lập luận và sử dụng phép so sánh khập khiễng, video này cố tình đồng nhất mô hình phát triển của Việt Nam với Venezuela nhằm phủ nhận đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

        Đây là thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch khi cố tình đánh đồng những quốc gia có điều kiện lịch sử, thể chế chính trị, cơ cấu kinh tế và phương thức quản trị hoàn toàn khác nhau để đưa ra những kết luận mang tính áp đặt, phiến diện, thiếu cơ sở khoa học, qua đó tạo tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với đường lối phát triển đất nước do Đảng ta lựa chọn.

        Trước hết, cần khẳng định rằng không thể lấy kết quả phát triển của một quốc gia để suy ra tất yếu kết quả của một quốc gia khác khi nền tảng lịch sử, thể chế, điều kiện kinh tế, cơ cấu sản xuất và chiến lược phát triển hoàn toàn khác nhau. Việt Nam là quốc gia lựa chọn mô hình phát triển dựa trên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa ngành nghề, mở cửa hội nhập quốc tế, phát triển nhiều thành phần kinh tế và chủ động tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nên việc đồng nhất kết quả phát triển của Việt Nam với quốc gia khác là thiếu cơ sở.

        Thứ hai, việc cho rằng Việt Nam “thử nhiều lần nhưng không thành công” hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, quy mô nền kinh tế tăng nhiều lần so với thời kỳ đầu đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng lên. Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ hơn; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; giáo dục, y tế, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, vững chắc, bền vững; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận và khó có thể coi là biểu hiện của một mô hình “thất bại” như lời rêu rao của các thế lực thù địch, phản động.

        Đặc biệt, Việt Nam không sao chép mô hình phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Đường lối phát triển được xác định là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó các thành phần kinh tế cùng phát triển theo pháp luật, thị trường giữ vai trò quan trọng trong phân bổ nguồn lực, đồng thời Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo phát triển, điều tiết vĩ mô và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Đây là mô hình được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn của Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và từng bước được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình phát triển.

        Thứ ba, việc Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là bảo thủ hay phủ nhận những yêu cầu đổi mới. Thực tiễn cho thấy, cùng với sự kiên định về mục tiêu, Việt Nam luôn nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, mở rộng hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. Chính sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu và đổi mới phương thức phát triển đã tạo nên những kết quả quan trọng trong nhiều năm qua.

        Mọi mô hình phát triển đều phải đối mặt với những khó khăn và thách thức riêng và Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, Việt Nam nhìn nhận những vấn đề khó khăn, thách thức một cách khách quan, từ đó tiếp tục hoàn thiện chính sách, chứ không phủ nhận toàn bộ thành quả và con đường phát triển mà đất nước đã lựa chọn.

        So sánh Việt Nam với Venezuela để kết luận rằng con đường phát triển của Việt Nam tất yếu sẽ thất bại là một phép suy diễn đơn giản hóa, bỏ qua những khác biệt căn bản về điều kiện lịch sử, thể chế, mô hình phát triển và thực tiễn quản trị quốc gia. Một cách tiếp cận khách quan cần dựa trên những dữ liệu, thành tựu và thực tiễn phát triển của chính Việt Nam, thay vì áp đặt kinh nghiệm của một quốc gia khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể đánh giá đúng hiệu quả của đường lối đổi mới và định hướng phát triển mà Việt Nam đang kiên trì thực hiện./.

Jul 20, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

       Trong bài viết “Chính trị thị trường - Tại sao không” trên Thongluan, Đinh Hoàng Thắng đã cố tình suy diễn, xuyên tạc thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay, nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi và chia rẽ nội bộ. Việc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào Đảng và chế độ.

1. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, nhất quán, không có sự cạnh tranh trong nội bộ. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhất quán, không có sự cạnh tranh nội bộ hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Trước hết, về mặt lý luận, Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này xuất phát từ học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Theo đó, để đảm bảo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cần có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật cao và mục tiêu rõ ràng. Đồng thời, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ, tức là có thảo luận dân chủ trong nội bộ nhưng khi đã thống nhất thì toàn Đảng hành động như một khối. Điều này không tạo ra cạnh tranh quyền lực theo kiểu đối lập mà hướng đến sự thống nhất ý chí và hành động. Vì vậy, tính “nhất quán” trong đường lối được bảo đảm bởi nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị và nguyên tắc tổ chức của Đảng.

Trong thực tiễn lịch sử, từ khi thành lập năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò lãnh đạo xuyên suốt đối với cách mạng Việt Nam. Những thắng lợi to lớn như giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, và công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay là minh chứng cho sự lãnh đạo ổn định và nhất quán đó. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới, mặc dù có nhiều điều chỉnh về chính sách kinh tế, xã hội để phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế, nhưng mục tiêu chiến lược (độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội) không bao giờ thay đổi. Điều này cho thấy đường lối có sự linh hoạt trong phương pháp nhưng kiên định về mục tiêu, không phải là sự cạnh tranh hay thay thế giữa các lực lượng chính trị.

Từ cả góc độ lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định rằng, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính nhất quán, được bảo đảm bởi nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức và vai trò lịch sử. Sự khác biệt ý kiến trong nội bộ chỉ tồn tại trong khuôn khổ dân chủ nội bộ và không dẫn đến cạnh tranh chính trị đối lập, mà hướng đến mục tiêu chung là phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò trung tâm, vừa định hướng, dẫn dắt, vừa tổ chức thực hiện để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường.

2. Ở Việt Nam hiện nay, hoàn toàn không có “chính trị thị trường”. “Chính trị thị trường” (thường thấy trong các nước đa đảng) có những đặc điểm chính như: Quyền lực chính trị được “cạnh tranh” giữa nhiều đảng phái, cử tri đóng vai trò như “người lựa chọn” giữa các chương trình chính trị khác nhau, các đảng vận động tranh cử để giành quyền lãnh đạo nhà nước, có sự đối lập giữa các lực lượng chính trị. Nói cách khác, chính trị vận hành gần giống cơ chế thị trường: có cung, cầu, cạnh tranh, lựa chọn.

Ở Việt Nam hiện nay, hoàn toàn không có chính trị thị trường. Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước và xã hội. Không tồn tại nhiều đảng cạnh tranh quyền lực như trong mô hình chính trị thị trường. Vì vậy, không có “cạnh tranh chính trị” theo nghĩa giành chính quyền giữa các đảng. Quyền lực không được “mua - bán” hay cạnh tranh như hàng hóa; không có các chương trình, chính sách được “chào mời” để thu hút phiếu bầu. Ở Việt Nam, đường lối phát triển được xác định thống nhất trong Đảng, không có hoạt động tranh cử giữa các đảng đối lập, không coi quyền lực chính trị là thứ để cạnh tranh kiểu thị trường.

          Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo nguyên tắc có thảo luận, góp ý trong nội bộ nhưng khi đã thống nhất thì thực hiện đồng bộ. Điều này tạo ra sự thống nhất, không phải cạnh tranh đối kháng.Mục tiêu chính trị mang tính định hướng lâu dài,Việt Nam kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các chính sách có thể điều chỉnh linh hoạt, nhưng không thay đổi mục tiêu chiến lược, nên không hình thành các “gói lựa chọn” cạnh tranh như trong chính trị thị trường. Việt Nam không phải là nền chính trị thị trường vì không có đa đảng cạnh tranh quyền lực, không vận hành theo cơ chế “cạnh tranh - lựa chọn” như thị trường, quyền lực chính trị mang tính thống nhất, tập trung, định hướng phát triển được xác định lâu dài, không thay đổi theo cạnh tranh chính trị. Đây là mô hình chính trị một đảng lãnh đạo, khác về bản chất so với “chính trị thị trường” trong các hệ thống đa đảng.

Tóm lại, bài viết của Đinh Hoàng Thắng là luận điệu phản động, xuyên tạc, cố tình phủ nhận đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những quan điểm sai trái đó hoàn toàn không có cơ sở, suy diễn thiếu căn cứ, hoàn toàn không phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Chúng ta luôn tin tưởng, đây không phải là “Chính trị thị trường”, “cạnh tranh về đường lối”. Với uy tín, nền tảng tư tưởng vững chắc là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo duy nhất không thể phủ nhân; với niềm tin của Nhân dân và thành tựu to lớn đạt được trong lãnh đạo đất nước của Đảng, mọi luận điệu xuyên tạc trên nhất định sẽ bị đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jul 16, 2026

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc giá trị của Tuyên ngôn độc lập năm 1945

         Tre Việt - Ngày 14/7, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài:  “Tuyên ngôn độc lập hay là cái bánh vẽ mị dân tinh vi?” của tác giả Nhật Ngôn. Trong bài viết, Nhật Ngôn sử dụng ngôn từ hết sức phản động, nhằm xuyên tạc nội dung và hạ thấp giá trị lịch sử của Tuyên ngôn độc lập năm 1945, khi kết luận rằng: “Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 là bản copy phong cách tuyên ngôn 4/7/1776 nhằm mục đích mị dân và hiệu triệu quần chúng… biến hàng triệu người dân thành công cụ đẩy lùi các thế lực ngoại bang, trong khi các quyền lợi dân chủ thực chất của người dân thì không có bất cứ sự bảo đảm nào. Từ đó về sau, mọi cam kết, khẩu hiệu hứa hẹn các mục tiêu theo kế hoạch 5 năm đều chỉ là cái bánh vẽ mị dân được vẽ ra liên tục”.

Cần khẳng định ngay rằng, Tuyên ngôn Độc lập được Bác Hồ tuyên đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/9/1945 là Tuyên ngôn lập quốc của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện sâu sắc ý chí, khát vọng của Nhân dân ta về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Việc lãnh tụ Hồ Chí Minh dẫn lời Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp thể hiện bản lĩnh văn hóa tuyệt vời của vị lãnh tụ cách mạng. Từ việc dẫn Tuyên ngôn của Mỹ, Hồ Chí Minh muốn cho nhân dân thế giới thấy rằng, Nhân dân Việt Nam đấu tranh chống xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc mình là quyền chính đáng, thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm. Việc dẫn Tuyên ngôn của nước Pháp, Hồ Chí Minh cũng muốn để nhân dân thế giới hiểu rõ rằng, nước Pháp đã từng giương cao ngọn cờ đấu tranh chống chế độ phong kiến để thực hiện dân chủ và tiến bộ. Cả hai bản Tuyên ngôn này, đều ghi dấu ấn tích cực và tiến bộ trong sự phát triển tư tưởng chính trị, nhân văn của nhân loại. Điều đáng tiếc là, sau khi giai cấp tư sản ở Mỹ và Pháp giành được quyền thống trị, họ đã đi ngược lại những giá trị văn hóa, nhân văn đó khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và nhiều dân tộc khác. Vì thế, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đồng thời, Người nhắc lại lời Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Không chỉ có thế, trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã mở rộng và phát triển quyền của con người thành quyền tự do, độc lập của dân tộc. Vì lẽ đó, không thể xuyên tạc: “Tuyên ngôn Độc lập là bản copy phong cách tuyên ngôn 4/7/1776 nhằm mục đích mị dân và hiệu triệu quần chúng”!.

80 năm qua, kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, dân tộc ta đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử gắn với những biến động của tình hình chính trị khu vực và thế giới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Tuyên ngôn độc lập đã chỉ lối, nhất là trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ, tính hiện thực và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình được giữ vững, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế ngày càng phát triển, quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đời sống Nhân dân không ngừng được nâng cao.

Từ một nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước thiếu lương thực, đến nay Việt Nam đã không những bảo đảm được an ninh lương thực. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (mục tiêu Đại hội XIII đề ra là 4.700 USD - 5.000 USD), gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Chỉ số phát triển con người HDI liên tục được cải thiện qua các năm (năm 2025, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao). Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021.

Đặc biệt, Đảng, Nhà nước huy động nguồn lực, tập trung thực hiện hiệu quả các chính sách bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, giảm nghèo bền vững, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân. Việt Nam được đánh giá là hình mẫu thành công trong thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), hoàn thành mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trước thời hạn 10 năm, v.v. Thành tựu đó có được từ những định hướng đúng đắn mà Tuyên ngôn độc lập đã vạch lối, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu đó là sự thật, được các tầng lớp Nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, chứ không như luận điệu: “mọi cam kết, khẩu hiệu hứa hẹn các mục tiêu theo kế hoạch 5 năm đều chỉ là cái bánh vẽ mị dân được vẽ ra liên tục” mà Việt Nam Thời Báo rêu rao!.

Tuyên ngôn độc lập ra đời đã hơn 80 năm, song tinh thần, giá trị của nó vẫn đang tỏa sáng và tiếp tục sẽ là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Mọi mưu đồ xuyên tạc, hạ thấp giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập sẽ thất bại trước lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn đó./.

Khi sự “cợt nhả” trở thành công cụ xuyên tạc lịch sử

         Tre Việt - Không phải mọi tiếng cười đều vô hại. Có những tiếng cười giúp con người gần nhau hơn, xua tan áp lực và làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng cũng có những tiếng cười được tạo ra bằng sự giễu nhại lịch sử, xúc phạm những điều thiêng liêng và hạ thấp những giá trị đã được cả dân tộc gìn giữ bằng biết bao máu xương. Khi đó, tiếng cười không còn là biểu hiện của sự hài hước, mà trở thành dấu hiệu của sự lệch chuẩn trong nhận thức và văn hóa ứng xử, thậm chí bị các thế lực thù địch sử dụng làm công cụ để xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng.

Bị can Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra.
(Ảnh: Công an Hà Nội)

Việc Cơ quan An ninh điều tra khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam để điều tra về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” phần nào đã đáp ứng sự mong đợi của dư luận về việc xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng vượt lên trên câu chuyện trách nhiệm của một cá nhân, vụ việc còn gióng lên hồi chuông cảnh báo về một hiện tượng đã âm ỉ trong xã hội từ nhiều năm qua: khi sự cợt nhả, giễu nhại, phá bỏ chuẩn mực được một số người ngộ nhận là biểu hiện của cá tính, trí tuệ hay sáng tạo.

Thực tế cho thấy, đây không phải là hiện tượng mới. Gần hai thập niên trước, dư luận từng nhiều lần bày tỏ sự bức xúc khi một số ấn phẩm nội bộ của FPT, như: “Sách đỏ FPT”, “FPT ca”, “FPT - Sử ký 20 năm” được báo chí phản ánh có nội dung chế lời nhiều ca khúc cách mạng, nổi bật nhất là: bài “FPT ca”, chế từ ca khúc cách mạng “Đoàn Vệ quốc quân” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu; bài viết “Tuyên ngôn của những con dân FHO” của tác giả Vũ BM - Thịnh HD trong “FPT - Sử ký 20 năm” đã nhại Tuyên ngôn độc lập; xuyên tạc ca khúc “Hà Nội, niềm tin và hi vọng” của Nhạc sĩ Phan Nhân và một số tác phẩm, văn kiện có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử dân tộc. Khi đó, báo chí đã đặt câu hỏi về ranh giới giữa sáng tạo và sự phản cảm, giữa văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm đối với những giá trị chung của xã hội. Cố nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu từng đau xót đặt ra câu hỏi: “Liệu những thanh niên ấy có còn xứng đáng là thanh niên Việt Nam nữa không?”

Điều chúng ta lo ngại không phải ở một vài câu nói đùa, mà là những giá trị lịch sử, xã hội, biểu tượng của dân tộc bị kéo xuống thành “chất liệu” để mua vui, tiêu khiển. Đây là điều hết sức nguy hiểm, bởi vì đằng sau mỗi ca khúc cách mạng, mỗi văn kiện lịch sử, mỗi biểu tượng của đất nước là biết bao hy sinh, mất mát và khát vọng độc lập, tự do của nhiều thế hệ người Việt Nam. Đặc biệt, khi sự “giễu nhại”, “cợt nhả”, “xuyên tạc” này được in thành sách, lưu truyền trong Nhân dân, được nhiều người hưởng ứng và gọi đó là “văn hóa mới”, thì sự lệch chuẩn rất dễ được bình thường hóa và hình thành trong một bộ phận công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong chiến lược chống phá trên mặt trận tư tưởng của các thế lực thù địch, việc lợi dụng tiếng cười luôn là một phương thức tác động mềm nhưng rất nguy hiểm được họ sử dụng. Một thông tin sai trái nếu được tuyên truyền trực diện thường dễ bị cảnh giác và phản bác, nhưng nếu được bọc trong vỏ bọc của sự hài hước, châm biếm theo cái gọi là “diễn giải mới” thì nó lại dễ được chia sẻ, lan truyền và tiếp nhận hơn. Chính vì vậy, việc lợi dụng sự cợt nhả để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng hay làm méo mó hình tượng lãnh tụ không còn đơn thuần là câu chuyện ứng xử văn hóa, mà đã trở thành một phương thức dẫn dắt nhận thức xã hội theo hướng lệch lạc, thậm chí trở thành công cụ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Vụ việc của Nguyễn Thành Nam là minh chứng rõ nét cho điều đó. Theo kết quả điều tra ban đầu, cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” chứa nhiều nội dung xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của Đảng. Bản thân Nguyễn Thành Nam cũng đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là sai sự thật và công khai xin lỗi; đặc biệt, cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự đối với những sai phạm này. Điều đó cho thấy, không phải mọi thứ được nhân danh “hư cấu”, “sáng tạo” hay “góc nhìn mới” đều nằm ngoài giới hạn của pháp luật. Quyền tự do biểu đạt không đồng nghĩa với quyền xuyên tạc lịch sử, xúc phạm lãnh tụ hay phủ nhận những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, những nội dung gây sốc, cợt nhả hay xuyên tạc thường dễ thu hút sự chú ý hơn các giá trị tích cực. Nếu thế hệ trẻ không được trang bị nền tảng lịch sử, văn hóa và khả năng phân biệt đúng - sai, thì đó là điều rất nguy hiểm. Đảng ta nhiều lần khẳng định xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của sự phát triển đất nước. Điều đó không có nghĩa hạn chế tự do sáng tạo hay phủ nhận sự đổi mới. Ngược lại, mọi sự sáng tạo đều cần được khuyến khích, nhưng phải hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, bồi đắp lòng yêu nước, củng cố niềm tin xã hội và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chứ không thể lấy việc xuyên tạc lịch sử, xúc phạm những giá trị thiêng liêng hoặc phủ nhận thành quả cách mạng làm biểu hiện của tư duy đổi mới.

Việc xử lý Nguyễn Thành Nam và các đối tượng có liên quan thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng bài học rút ra không chỉ dành cho một cá nhân, mà cho tất cả những người sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận thông tin trong thời đại số: tự do biểu đạt luôn gắn với trách nhiệm; sáng tạo phải dựa trên nền tảng văn hóa và sự tôn trọng sự thật lịch sử. Mọi hành vi lợi dụng sáng tạo để xuyên tạc lịch sử, xúc phạm lãnh tụ, phủ nhận những giá trị cốt lõi của dân tộc, dù được ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào đều sẽ bị Nhân dân phát hiện, lên án và bị xử lý theo quy định của pháp luật./.


Jul 13, 2026

Cần lên án hành động sai trái của các tổ chức nhân quyền quốc tế

         Tre Việt - Ngày 12/7, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng bài: “18 tổ chức nhân quyền kêu gọi Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tù nhân lương tâm”. Theo đó, trong báo cáo chung của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) cùng 17 tổ chức vừa phát ra cảnh báo rằng: Bàn tay đàn áp của Hà Nội đã vươn sang tận Thái Lan, để nhắm vào các tù nhân chính trị. Đồng thời, kêu gọi Liên minh Châu Âu vào cuộc, dùng áp lực ngoại giao để buộc Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho 11 tù nhân chính trị đang bị giam giữ hà khắc, v.v. 
        Cần khẳng định rằng, đây là những thông tin sai sự thật, mang tính suy diễn, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam với dụng ý xấu, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:
        Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đề cao việc bảo đảm, thực thi quyền con người trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, được hiến định trong Hiến pháp và quy định rõ trong các văn bản pháp luật. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ các quyền cơ bản của công dân. Cụ thể: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đồng thời, quy định việc thực hiện các quyền này có thể bị hạn chế theo luật trong những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng. Quan điểm này hoàn toàn tương đồng với các điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là quốc gia thành viên. 
        Trên thực tế, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn cố gắng, nỗ lực bảo đảm thực thi các quyền này cho công dân; được thể hiện rõ trong thực hiện các quyền về dân chủ, đảm bảo đời sống, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, v.v. Ngoài ra, hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể,... rộng khắp trên cả nước từ Trung ương đến cơ sở, là cầu nối giữa Nhân dân với các tổ chức của Đảng, Nhà nước; nơi lắng nghe, tiếp thu, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. 
        Thứ hai, ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ các quyền của công dân. Việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ diễn ra với những công dân có hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự và trải qua quy trình điều tra, truy tố, xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, để pháp luật được thực thi nghiêm minh, triệt để, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các quốc gia, tổ chức quốc tế, trong đó có Thái Lan để đưa những công dân vi phạm pháp luật bỏ trốn ra nước ngoài về nước xét xử. Trên thực tế, những cái tên được bài viết nhắc đến như: Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Chí Tuyến, đều là những công dân có hành vi vi phạm pháp luật và đang phải thi hành bản án theo quy định của pháp luật. Và bản thân thân họ, đã nhận ra sai phạm, lỗi lầm của mình khi bị đưa ra xét xử.
        Thứ ba, việc làm này của 18 tổ chức quốc tế là cố tình vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Theo Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia có chủ quyền bình đẳng và có quyền tổ chức hệ thống pháp luật, tư pháp phù hợp với điều kiện của mình trên cơ sở thực hiện các nghĩa vụ quốc tế đã cam kết. Vì thế, mọi quốc gia, tổ chức quốc tế khi quan hệ với Việt Nam đều phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Do đó, việc 18 tổ chức quốc tế kêu gọi Liên minh Châu Âu vào cuộc, dùng áp lực ngoại giao để buộc Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho cái gọi là “tù nhân chính trị” là chưa tôn trọng tính độc lập của hệ thống tư pháp cũng như chủ quyền pháp lý của Việt Nam. 
        Đây không phải là lần đầu xuất hiện những kiến nghị như vậy. Những lời kêu gọi, lu loa tương tự đã được đưa ra nhiều lần trong khuôn khổ các cuộc đối thoại nhân quyền quốc tế cũng như các báo cáo thường niên của một số tổ chức phi chính phủ vốn có thâm thù với Đảng, Nhà nước, chế độ và Nhân dân Việt Nam. Đây là những hành động, việc làm với dụng ý xấu, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, cần bị nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ./.


Jul 9, 2026

Bóc trần luận điệu đòi giải tán Quân đội nhân dân Việt Nam

         Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh và chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội vẫn xuất hiện những luận điệu cho rằng các hội nghị quốc phòng chỉ là “màn kịch”, ngân sách quốc phòng bị lãng phí, thậm chí đòi “giải tán quân đội”. Những âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc ấy nếu không được nhận diện đầy đủ có thể làm suy giảm niềm tin của một bộ phận Nhân dân vào đường lối quốc phòng và ảnh hưởng đến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, cần khẳng định rằng chiến lược “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình, ngoại giao không phải là sự thỏa hiệp hay yếu hèn. Với một dân tộc từng trải qua nhiều cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, Việt Nam hiểu sâu sắc rằng xung đột vũ trang chưa bao giờ là lựa chọn tối ưu cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Sức mạnh quốc phòng hiện đại không chỉ nằm ở vũ khí, trang bị hay quân số, mà còn nằm ở khả năng dự báo chiến lược, ngăn ngừa nguy cơ từ sớm, xử lý mâu thuẫn từ xa, không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định nền quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ; Việt Nam kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đó là đường lối nhất quán, thể hiện bản lĩnh của một quốc gia có chủ quyền: không khiêu khích, không chạy đua vũ trang, nhưng cũng không buông lỏng khả năng tự vệ.

Từ góc độ đó, “ngoại giao cây tre” với tinh thần kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược chính là biểu hiện sinh động của nghệ thuật giữ nước trong thời bình. Một quốc gia biết tận dụng đối thoại, xây dựng lòng tin chiến lược, mở rộng quan hệ hợp tác và xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế không phải là quốc gia yếu thế, mà là quốc gia biết bảo vệ lợi ích của mình bằng phương thức ít tổn thất nhất. Trong hơn ba thập kỷ đổi mới, môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập, nâng cao vị thế quốc tế. Chính vì vậy, những quan điểm cố tình đánh đồng chủ trương hòa bình với sự nhu nhược thực chất là cách nhìn phiến diện, bỏ qua bản chất phòng ngừa chiến tranh của chính sách quốc phòng hiện đại.

Mặt khác, việc Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia giữ gìn ổn định đất nước hoàn toàn không phải để “duy trì quyền lực” cho bất kỳ cá nhân nào, mà xuất phát từ lợi ích tối cao của Nhân dân và quốc gia. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một đất nước muốn phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ hay nâng cao đời sống Nhân dân thì trước hết phải có hòa bình, an ninh và trật tự. Không thể có môi trường đầu tư ổn định nếu biên giới bất ổn; không thể có đời sống xã hội bình yên nếu vùng biển, vùng trời bị đe dọa; cũng không thể nói đến phát triển bền vững nếu nền quốc phòng bị xem nhẹ.

Trong thời bình, vai trò của Quân đội không chỉ thể hiện ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, quản lý biên giới, bảo vệ vùng biển, vùng trời, mà còn ở những nhiệm vụ gần gũi với đời sống Nhân dân như cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão lũ, hỗ trợ người dân trong dịch bệnh và làm điểm tựa cho ngư dân yên tâm bám biển, v.v. Hình ảnh người lính dầm mình trong lũ dữ, có mặt ở vùng sạt lở, tâm bão, tuyến đầu chống dịch hay trên các vùng biển xa không phải là khẩu hiệu, mà là minh chứng cụ thể cho mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và Nhân dân. Vì vậy, mọi mưu đồ tách rời quân đội khỏi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hoặc gắn mác “công cụ quyền lực” cho các hoạt động giữ gìn an ninh quốc gia, thực chất là luận điệu kích động nhằm chia rẽ quân với dân, làm suy yếu nền quốc phòng toàn dân.

Không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ trong nước, Việt Nam còn tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng và hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành cho thấy uy tín và sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 2014 và đã triển khai gần 1.400 lượt cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tới các phái bộ, đồng thời đăng ký thêm nhiều loại hình đơn vị mới trên hệ thống đánh giá năng lực sẵn sàng triển khai của Liên hợp quốc. Các đội hình như Bệnh viện dã chiến cấp 2, Đội Công binh cùng các sĩ quan làm nhiệm vụ tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và trụ sở Liên hợp quốc là minh chứng rõ ràng cho trách nhiệm quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một quân đội bị xuyên tạc là “không cần thiết” không thể đồng thời là lực lượng đang góp phần gìn giữ hòa bình ở những khu vực khó khăn, phức tạp trên thế giới.

Tương tự, luận điệu cho rằng ngân sách quốc phòng là lãng phí cũng cần được nhìn nhận một cách tỉnh táo. Quốc phòng và an ninh là lĩnh vực trọng yếu của mọi quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị hay trình độ phát triển. Trong điều kiện Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế mở, đường bờ biển dài, vị trí địa chiến lược quan trọng và chịu tác động trực tiếp từ các biến động khu vực, việc đầu tư nguồn lực phù hợp cho quốc phòng là yêu cầu tất yếu. Đầu tư quốc phòng không chỉ để mua sắm trang bị, mà còn để huấn luyện con người, hiện đại hóa lực lượng, nâng cao năng lực cảnh báo, bảo vệ chủ quyền, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo vệ không gian mạng và tham gia các nhiệm vụ quốc tế. Nói cách khác, chi cho quốc phòng là tất yếu và là một trong những điều kiện bảo đảm cho phát triển được ổn định và bền vững.

Đánh giá vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam và chính sách quốc phòng cần dựa trên chức năng, nhiệm vụ và những kết quả hoạt động thực tế, thay vì các nhận định cảm tính hoặc quy kết thiếu căn cứ.

 Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh là điều kiện để giữ vững hòa bình và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc về quân đội và chính sách quốc phòng không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)