Jul 9, 2026

Bóc trần luận điệu đòi giải tán Quân đội nhân dân Việt Nam

         Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh và chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội vẫn xuất hiện những luận điệu cho rằng các hội nghị quốc phòng chỉ là “màn kịch”, ngân sách quốc phòng bị lãng phí, thậm chí đòi “giải tán quân đội”. Những âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc ấy nếu không được nhận diện đầy đủ có thể làm suy giảm niềm tin của một bộ phận Nhân dân vào đường lối quốc phòng và ảnh hưởng đến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, cần khẳng định rằng chiến lược “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình, ngoại giao không phải là sự thỏa hiệp hay yếu hèn. Với một dân tộc từng trải qua nhiều cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, Việt Nam hiểu sâu sắc rằng xung đột vũ trang chưa bao giờ là lựa chọn tối ưu cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Sức mạnh quốc phòng hiện đại không chỉ nằm ở vũ khí, trang bị hay quân số, mà còn nằm ở khả năng dự báo chiến lược, ngăn ngừa nguy cơ từ sớm, xử lý mâu thuẫn từ xa, không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định nền quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ; Việt Nam kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đó là đường lối nhất quán, thể hiện bản lĩnh của một quốc gia có chủ quyền: không khiêu khích, không chạy đua vũ trang, nhưng cũng không buông lỏng khả năng tự vệ.

Từ góc độ đó, “ngoại giao cây tre” với tinh thần kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược chính là biểu hiện sinh động của nghệ thuật giữ nước trong thời bình. Một quốc gia biết tận dụng đối thoại, xây dựng lòng tin chiến lược, mở rộng quan hệ hợp tác và xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế không phải là quốc gia yếu thế, mà là quốc gia biết bảo vệ lợi ích của mình bằng phương thức ít tổn thất nhất. Trong hơn ba thập kỷ đổi mới, môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập, nâng cao vị thế quốc tế. Chính vì vậy, những quan điểm cố tình đánh đồng chủ trương hòa bình với sự nhu nhược thực chất là cách nhìn phiến diện, bỏ qua bản chất phòng ngừa chiến tranh của chính sách quốc phòng hiện đại.

Mặt khác, việc Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia giữ gìn ổn định đất nước hoàn toàn không phải để “duy trì quyền lực” cho bất kỳ cá nhân nào, mà xuất phát từ lợi ích tối cao của Nhân dân và quốc gia. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một đất nước muốn phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ hay nâng cao đời sống Nhân dân thì trước hết phải có hòa bình, an ninh và trật tự. Không thể có môi trường đầu tư ổn định nếu biên giới bất ổn; không thể có đời sống xã hội bình yên nếu vùng biển, vùng trời bị đe dọa; cũng không thể nói đến phát triển bền vững nếu nền quốc phòng bị xem nhẹ.

Trong thời bình, vai trò của Quân đội không chỉ thể hiện ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, quản lý biên giới, bảo vệ vùng biển, vùng trời, mà còn ở những nhiệm vụ gần gũi với đời sống Nhân dân như cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão lũ, hỗ trợ người dân trong dịch bệnh và làm điểm tựa cho ngư dân yên tâm bám biển, v.v. Hình ảnh người lính dầm mình trong lũ dữ, có mặt ở vùng sạt lở, tâm bão, tuyến đầu chống dịch hay trên các vùng biển xa không phải là khẩu hiệu, mà là minh chứng cụ thể cho mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và Nhân dân. Vì vậy, mọi mưu đồ tách rời quân đội khỏi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hoặc gắn mác “công cụ quyền lực” cho các hoạt động giữ gìn an ninh quốc gia, thực chất là luận điệu kích động nhằm chia rẽ quân với dân, làm suy yếu nền quốc phòng toàn dân.

Không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ trong nước, Việt Nam còn tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng và hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành cho thấy uy tín và sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 2014 và đã triển khai gần 1.400 lượt cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tới các phái bộ, đồng thời đăng ký thêm nhiều loại hình đơn vị mới trên hệ thống đánh giá năng lực sẵn sàng triển khai của Liên hợp quốc. Các đội hình như Bệnh viện dã chiến cấp 2, Đội Công binh cùng các sĩ quan làm nhiệm vụ tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và trụ sở Liên hợp quốc là minh chứng rõ ràng cho trách nhiệm quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một quân đội bị xuyên tạc là “không cần thiết” không thể đồng thời là lực lượng đang góp phần gìn giữ hòa bình ở những khu vực khó khăn, phức tạp trên thế giới.

Tương tự, luận điệu cho rằng ngân sách quốc phòng là lãng phí cũng cần được nhìn nhận một cách tỉnh táo. Quốc phòng và an ninh là lĩnh vực trọng yếu của mọi quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị hay trình độ phát triển. Trong điều kiện Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế mở, đường bờ biển dài, vị trí địa chiến lược quan trọng và chịu tác động trực tiếp từ các biến động khu vực, việc đầu tư nguồn lực phù hợp cho quốc phòng là yêu cầu tất yếu. Đầu tư quốc phòng không chỉ để mua sắm trang bị, mà còn để huấn luyện con người, hiện đại hóa lực lượng, nâng cao năng lực cảnh báo, bảo vệ chủ quyền, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo vệ không gian mạng và tham gia các nhiệm vụ quốc tế. Nói cách khác, chi cho quốc phòng là tất yếu và là một trong những điều kiện bảo đảm cho phát triển được ổn định và bền vững.

Đánh giá vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam và chính sách quốc phòng cần dựa trên chức năng, nhiệm vụ và những kết quả hoạt động thực tế, thay vì các nhận định cảm tính hoặc quy kết thiếu căn cứ.

 Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh là điều kiện để giữ vững hòa bình và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc về quân đội và chính sách quốc phòng không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Thượng tôn pháp luật

Vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” và Trần Việt Anh, người đã  xây dựng các nội dung của cuốn sách nêu trên, nhằm thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015.Ngay sau đó, không ít tổ chức, cá nhân phản động, cơ hội chính trị đã cho rằng: tác giả “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” đã sử dụng ngôn ngữ mới là nhằm tuyên truyền về các sự kiện lịch sử cách mạng Việt Nam, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,… và hành động bắt Nam “là hành vi không phù hợp, tạo ra một tiền lệ đáng lo ngại”; thậm chí cho rằng “Chế độ Việt Nam tăng cường bịt miệng, đàn áp dân chủ”(!)
        Cần phải nói ngay rằng, việc Cơ quan An ninh điều tra công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh là chính xác. Vì, hai cá nhân này đã vi phạm Điều 117, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nguyễn Thành Nam đã lợi dụng, núp bóng hoạt động văn học, nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời có nội dung xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nguyễn Thành Nam đã suy thoái về tư tưởng chính trị, có hành vi xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngay tại cơ quan công an, bản thân Nguyễn Thành Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” là sai sự thật, bày tỏ sự hối hận và xin lỗi bạn đọc. Còn Trần Việt Anh cũng thừa nhận là đã tham gia sản xuất, phát tán các video quảng bá cho cuốn sách trên các nền tảng số là nhằm làm kinh tế.
        Thực tế cho thấy, luật pháp là tổng thể các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Ở bất kỳ quốc gia nào, nhà nước đều ban hành những luật, bộ luật nhằm điều chính hành vi của công dân trong xã hội và được thực thi bởi nhà nước. Và ở quốc gia nào, luật pháp được tổ chức thực hiện nghiêm minh, người dân chấp hành nghiêm pháp luật, thì tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở quốc gia đó ổn định, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và ngược lại. Đó chính là “thượng tôn pháp luật”.
        Ở Việt Nam, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy xã hội phát triển, Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực thi minh bạch, hiệu quả các bộ luật, luật, trong đó có Bộ luật Hình sự, góp phần quan trọng để mọi tổ chức, cá nhân của Việt Nam hoặc hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thực hành phương châm “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.
        Như vậy, những tổ chức nào hoạt động theo đúng quy định của pháp luật sẽ được Nhà nước bảo hộ, tạo điều kiện thuận lợi, còn nếu tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị điều tra, xét xử và xử lý thích đáng theo quy định của pháp luật. Việc cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố vụ án, bắt giữ, điều tra hành vị vi phạm pháp luật của Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Nam Anh là đúng đắn, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của dân tộc Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Và tới đây, Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh sẽ được tòa án xét xử và bị xử lý một cách minh bạch theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đây là hành động thượng tôn pháp luật./.
 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Jul 6, 2026

Không thể phủ nhận sự đúng đắn của việc mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài

         Tre Việt - Ngày 03/7, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Chính quyền cứ hô hào “hóa hổ, hóa rồng”...”; trong đó, cho rằng: Sau hơn 20 năm “mở cửa” thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam đã trở thành một “công xưởng” gia công hùng hậu; thực chất FDI vào Việt Nam chủ yếu là lắp ráp, chuyển giao công nghệ gần như bằng không; người dân Việt Nam chỉ mãi là làm thuê giá rẻ mà thôi, v.v. Đây là những nhận định phiến diện, suy diễn, không phản ánh đúng thực tế sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bởi vì:
        Thứ nhất, Đảng, Nhà nước đã đề ra chủ trương đúng đắn khi mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực FDI đã trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, cơ khí, ô tô, thiết bị công nghiệp, v.v. Những năm gần đây, Việt Nam thu hút nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực điện tử, thiết kế chip, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ số và bán dẫn. Một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn, như: thiết kế sản phẩm, phát triển phần mềm, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất linh kiện. Quá trình chuyển dịch này diễn ra từng bước, bắt đầu từ gia công, sau đó dần nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo.
        Thứ hai, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế đang từng bước tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Những năm qua, đã có hàng chục nghìn kỹ sư, quản lý và công nhân kỹ thuật Việt Nam được đào tạo trong các doanh nghiệp FDI đã trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế; sau đó chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp trong nước hoặc tự khởi nghiệp, góp phần lan tỏa kinh nghiệm và tri thức. 
        Cùng với đó, Chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn vào giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng mới nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Nhờ đó, tiền lương bình quân của người lao động Việt Nam đã tăng cùng với sự phát triển kinh tế và năng suất lao động. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngày càng tăng. 
        Thứ ba, Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài. Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, xác định: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Đồng thời, ưu tiên lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao; khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam.
        Chính vì vậy, việc mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, không thể phủ nhận. Việc làm này không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm, có chất lượng cao trong kỷ nguyên mới./.

Jul 2, 2026

Việc làm cần thiết góp phần xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh

         Tre Việt - Ngày 01/7/2026, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, ngày 25/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành. Đây là bước tiến quan trọng, rất cần cần thiết nhằm làm sạch không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường thông tin số lãnh mạnh, bảo vệ an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. 
        Tuy nhiên, ngay lập tức, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã đẩy mạnh chiến dịch xuyên tạc, chống phá nội dung của Nghị định này. Điển hình là, trên trang facebook Việt Tân, đăng bài: “Chế độ gia tăng kiểm soát mạng xã hội với Nghị định 174”, họ rêu rao: “Nghị định 174/2026/NĐ-CP làm dấy lên lo ngại về tác động đối với quyền bày tỏ ý kiến của người dân”.
        Trước hết, cần khẳng định: Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, ngày 25/5/2026 của Chính phủ, gồm: 08 chương, 117 điều đã kế thừa, bổ sung và thay thế nhiều quy định của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 14/2022/NĐ-CP, ngày 27/01/2022 của Chính phủ và Nghị định số 211/2025/NĐ-CP, ngày 25/7/2025 của Chính phủ), với mức xử phạt cao hơn, biện pháp xử lý mạnh mẽ và đồng bộ hơn. Nội dung cốt lõi tập trung vào việc xử lý các hành vi vi phạm, như: đưa tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín tổ chức, cá nhân; vi phạm bản quyền; chia sẻ thông tin cấm lưu hành; lạm dụng thông tin cá nhân và các hành vi gây hại khác trên môi trường mạng. Mức phạt tiền có thể lên đến hàng chục triệu đồng đối với cá nhân và cao hơn đối với tổ chức, kèm theo các biện pháp bổ sung như buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm, khóa tài khoản, fanpage, nhóm, kênh truyền thông, thu hồi tên miền, số thuê bao, địa chỉ IP, v.v. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường mạng an toàn, lành mạnh hơn, giảm thiểu tin giả gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn và sự ổn định xã hội. Nghị định còn là sự cụ thể hóa Hiến pháp 2013, phù hợp với xu hướng quản lý không gian mạng của nhiều quốc gia trên thế giới.
        Sử dụng mạng xã hội là quyền của mỗi công dân nhưng phải đi kèm với trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Theo tinh thần Nghị định 174, mỗi người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản, là: 1).Kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải hoặc chia sẻ, tin tức cần có nguồn chính thống, tránh chia sẻ các bài viết giật tít, tin đồn thất thiệt, đặc biệt từ tài khoản ẩn danh hoặc trang web nước ngoài có động cơ xấu. 2). Việc bình luận, phê phán cần có cơ sở, mang tính xây dựng, không thêm thắt, bóp méo sự thật gây hiểu lầm. 3). Cần nắm rõ luật bản quyền khi sử dụng các sản phẩm báo chí, văn hóa, văn học - nghệ thuật.  4). Tuyệt đối không tham gia, ủng hộ hoặc lan truyền nội dung vi phạm an ninh quốc gia, chia rẽ dân tộc, xúc phạm lãnh tụ, cơ quan nhà nước.
        Điều này đòi hỏi người dân phải nâng cao nhận thức trong việc “đăng nội dung gì, chia sẻ nội dung gì trên mạng xã hội cũng phải nghĩ đến lợi ích dân tộc và hậu quả pháp lý có thể xảy ra”. Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp cá nhân tránh bị xử phạt mà còn góp phần xây dựng một không gian mạng văn minh, an toàn cho cộng đồng. Một môi trường mạng an toàn, lành mạnh là điều mà người dân mong muốn, ủng hộ.
        Nghị định số 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, được ví như lá chắn pháp lý cần thiết để bảo vệ không gian mạng Việt Nam trước những âm mưu chống phá tinh vi của các đối tượng phản động, thù địch. Các luận điệu xuyên tạc rằng “Nghị định 174/2026/NĐ-CP làm dấy lên lo ngại về tác động đối với quyền bày tỏ ý kiến của người dân” càng cho thấy bộ mặt thật của Việt Tân “có tật giật mình”, khi không gian mạng - công cụ quen thuộc để tung tin độc, kích động chia rẽ, bôi nhọ Đảng, Nhà nước bị siết chặt bởi pháp luật. Việc mỗi công dân Việt Nam thực hiện nghiêm Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, sáng suốt, tỉnh táo trong sử dụng mạng xã hội sẽ góp phần ngăn chặn tin giả, tin sai sự thật lan tràn trên mạng xã hội, góp phần lập lại trật tự trong môi trường nội dung số, tạo nên môi trường mạng trong sạch, an toàn; đồng thời, xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh./.


Jun 29, 2026

Nguyễn Thành Nam - kẻ lật sử

         Tre Việt - Ngày 15/6/2026, Cục Xuất bản, In và Phát hành đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nhà xuất bản Hội Nhà văn vì xuất bản cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” của tác giả Nguyễn Thành Nam có nội dung sai sự thật nghiêm trọng.

Theo thông tin được công bố, cơ quan chức năng xác định cuốn sách chứa nhiều nội dung sai lệch về dữ liệu lịch sử, đưa ra các nhận định thiếu căn cứ và sử dụng cách diễn đạt làm lệch chuẩn hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số nhân vật lịch sử. Một trong những biểu hiện đáng chú ý là việc đánh tráo hệ quy chiếu khi diễn giải hành trình hơn ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành bằng các thuật ngữ kinh doanh như “khởi nghiệp”, “người sáng lập”, “chuyển hướng mô hình”, thậm chí ví như một chuyến “phượt”. Đây không phải là sự hiện đại hóa ngôn ngữ lịch sử, mà là sự áp đặt cách hiểu thiếu cơ sở khoa học, làm biến dạng bản chất của một hành trình cách mạng. Hành trình ấy không phải quá trình thử - sai theo logic thị trường, càng không phải một chuyến phiêu lưu hay trải nghiệm cá nhân, mà là quá trình bền bỉ khảo nghiệm thực tiễn, tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc và lựa chọn con đường cách mạng trên cơ sở tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin như một tất yếu của lịch sử Việt Nam.

Việc quy giản một quá trình lịch sử mang tầm vóc dân tộc và thời đại thành ngôn ngữ kinh doanh, diễn đạt bằng văn phong “cợt nhã” đã làm hạ thấp giá trị thiêng liêng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nguy hiểm hơn, đây là một dạng tác động mềm, không phủ nhận trực diện nhưng làm lệch dần nhận thức thông qua việc thay đổi cách kể và hệ ngôn ngữ tiếp cận. Khi sự lệch chuẩn này lặp lại, sẽ dẫn đến sự “bình thường hóa” nhận thức sai lệch, đặc biệt trong giới trẻ, từ đó từng bước bào mòn nền tảng hiểu biết đúng đắn về lịch sử và các giá trị đã được khẳng định.

Phải khẳng định rằng, trong dòng chảy lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, biểu tượng kết tinh khát vọng độc lập, tự do và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã được kiểm chứng bằng thực tiễn lịch sử, được khẳng định qua hàng nghìn công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, được minh chứng bằng những thành tựu to lớn mà dân tộc Việt Nam giành được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh và tư tưởng của Người luôn được các thế hệ Nhân dân Việt Nam tôn kính, được bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ ghi nhận, ngưỡng mộ đối với một nhân cách lớn, một biểu tượng của hòa bình, độc lập dân tộc và khát vọng giải phóng con người.

Chính vì vậy, việc tên Nam xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lộ rõ bản chất kẻ phản động, lật sử nhằm phủ nhận những giá trị lịch sử đã được kiểm chứng, làm sai lệch nhận thức lịch sử, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bào mòn niềm tin của Nhân dân và từng bước làm suy giảm sự đồng thuận xã hội đối với con đường phát triển mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Chính vì vậy, bảo vệ sự thật lịch sử là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số và bùng nổ truyền thông hiện nay. Mọi hành vi xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Đó là trách nhiệm của các cơ quan quản lý, giới nghiên cứu, đội ngũ làm công tác báo chí, xuất bản, văn hóa và của mỗi công dân. Bảo vệ lịch sử là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bồi đắp niềm tin vào những giá trị đã được lịch sử và thực tiễn khẳng định. Đó cũng là cách gìn giữ sức mạnh tinh thần của dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới./.


Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc, tôn giáo của Việt Nam

        Tre Việt - Ngày 26/6, trang facebook Việt Nam Thời báo đăng bài: “Tây Nguyên: Máu và nước mắt”, trong đó đưa ra luận điệu vu cáo: “Chính quyền Việt Nam đã thực hiện những chính sách tàn bạo nhằm xóa bỏ lịch sử, văn hóa, tôn giáo và buôn làng của người bản địa Tây Nguyên”, đồng thời, lu loa rằng: “nhiều người Thượng Công giáo đã phải đối mặt với các cuộc đàn áp về các quyền tự do tôn giáo và cũng chịu chung số phận với người Thượng theo đạo Tin Lành”. Đây là nhận định phiến diện, xuyên tạc sự thật, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.
        Trước hết, cần khẳng định ngay rằng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Quan điểm này được xác định xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng và được thể chế hóa trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Điều 5, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”; “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Đồng thời, Nhà nước đã có chính sách phát huy nội lực, cùng với sự phát triển của đất nước chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
        Với Tây Nguyên, đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước; là không gian sinh tồn lâu đời của nhiều dân tộc anh em với những giá trị văn hóa độc đáo, giàu bản sắc. Nhận rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đầu tư nguồn lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho vùng đất này. Hàng loạt chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được triển khai với nguồn lực đầu tư rất lớn. Hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Tỷ lệ hộ nghèo ở các địa phương Tây Nguyên giảm đáng kể, trình độ dân trí không ngừng được nâng lên, điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục ngày càng tốt hơn.
        Đặc biệt, những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những không bị xóa bỏ mà còn được quan tâm gìn giữ, phục hồi và phát huy. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhiều lễ hội truyền thống, nghề thủ công, sử thi, dân ca, dân vũ được sưu tầm, bảo tồn và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Hàng nghìn bộ cồng chiêng được cấp phát cho các buôn làng; nhiều nghệ nhân được phong tặng danh hiệu và hỗ trợ kinh phí để truyền dạy văn hóa dân gian. Các địa phương Tây Nguyên đã đầu tư xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, khôi phục các lễ hội truyền thống và tổ chức các ngày hội văn hóa dân tộc, v.v. Những việc làm thiết thực đó là minh chứng sinh động cho chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.
        Vì thế, những phần tử phản động cho rằng Việt Nam “xóa bỏ lịch sử, văn hóa và buôn làng người bản địa” là cố tình xuyên tạc tình hình ở Tây Nguyên, đánh tráo khái niệm, đồng nhất những biến đổi tất yếu của xã hội trong quá trình phát triển với cái gọi là “chính sách xóa bỏ buôn làng”. Trên thực tế, quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế, dịch chuyển lao động và tiếp cận khoa học công nghệ đã làm thay đổi phương thức sinh hoạt truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Sự thay đổi về mô hình cư trú, nghề nghiệp hay tập quán sản xuất không đồng nghĩa với việc có một chủ trương mang tính cưỡng bức nhằm đồng hóa hay xóa bỏ bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số.
        Về vấn đề tôn giáo, luận điệu cho rằng người Thượng theo Công giáo và Tin Lành bị “đàn áp” về quyền tự do tín ngưỡng là sự bóp méo sự thật. Bởi, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm. Hiện nay, có hàng triệu tín đồ theo Công giáo, Tin Lành, Phật giáo và các tôn giáo khác đang sinh hoạt bình thường tại hàng nghìn cơ sở thờ tự trên địa bàn Tây Nguyên. Nhiều nhà thờ, nhà nguyện được xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp; các hoạt động mục vụ, đào tạo chức sắc, tổ chức lễ hội tôn giáo được tiến hành công khai theo quy định pháp luật. Các chức sắc, chức việc và tín đồ tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động từ thiện nhân đạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 
        Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần túy với việc lợi dụng tôn giáo để thực hiện các mục đích chính trị chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, một số tổ chức phản động lưu vong đã lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền tư tưởng ly khai, kích động thành lập “Nhà nước Đề-ga độc lập”, lôi kéo quần chúng tham gia các hoạt động trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở Tây Nguyên. Việc các cơ quan chức năng xử lý những hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự và bảo đảm cuộc sống bình yên của Nhân dân, hoàn toàn không phải là hành vi đàn áp tôn giáo như các đối tượng chống đối rêu rao. Chúng cố tình đồng nhất việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật với việc đàn áp tín đồ tôn giáo, từ đó tạo dựng hình ảnh sai lệch về tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm gây sức ép từ bên ngoài. 
        Do đó, chúng ta cần nhận diện đúng bản chất, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo về tình hình dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.


Jun 26, 2026

Vạch trần âm mưu lợi dụng vấn đề báo chí để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

           Tre Việt - Nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của Nhân dân làm điểm xuất phát. Đây là sự khẳng định nhất quán quan điểm của Đảng về vai trò, trách nhiệm xã hội và sứ mệnh chính trị của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau phát biểu này, ngày 20/6 trên trang facebook Việt Tân, đã đưa ra quan điểm thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc rằng việc yêu cầu báo chí “tôn trọng sự thật” đồng nghĩa với việc báo chí Việt Nam lâu nay không được phản ánh sự thật; từ đó quy kết rằng muốn báo chí trung thực thì phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ cơ quan định hướng tư tưởng và cơ chế quản lý báo chí hiện hành. Đây là lập luận phiến diện, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, mang động cơ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí cách mạng.

Trước hết, cần khẳng định rằng “tôn trọng sự thật” là nguyên tắc nghề nghiệp phổ quát của báo chí trên toàn thế giới, không phải là sự thừa nhận tồn tại một nền báo chí “không trung thực” như các thế lực chống phá cố tình suy diễn. Trong bất kỳ quốc gia nào, báo chí cũng luôn được yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin, bảo đảm tính khách quan, chính xác và trách nhiệm xã hội. Việc người đứng đầu Đảng, Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu này thể hiện quyết tâm xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc và quyền lợi chính đáng của Nhân dân.

Lập luận cho rằng báo chí Việt Nam không được phản ánh sự thật vì chịu sự lãnh đạo của Đảng là sự đánh tráo khái niệm giữa “định hướng chính trị” với “kiểm duyệt sự thật”. Trên thực tế, mọi quốc gia đều có những cơ chế quản lý truyền thông phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, văn hóa và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Ngay tại các nước tự nhận có nền báo chí “hoàn toàn tự do”, hệ thống pháp luật vẫn đặt ra nhiều giới hạn liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, chống kích động bạo lực, chống khủng bố, chống thù hận sắc tộc, bảo vệ trẻ em và quyền riêng tư cá nhân.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo báo chí không nhằm hạn chế quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân mà nhằm bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ lợi ích quốc gia và định hướng dư luận xã hội trước những vấn đề phức tạp. Điều này được thể chế hóa bằng Hiến pháp năm 2013, Luật Báo chí 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

Thực tiễn cho thấy, báo chí Việt Nam đã và đang phản ánh sinh động mọi mặt của đời sống xã hội. Hàng loạt vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được báo chí phát hiện, đấu tranh và góp phần thúc đẩy các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn được dư luận biết đến có sự tham gia tích cực của báo chí trong việc phát hiện, phản ánh và giám sát xã hội.

Bên cạnh đó, cần nhận thức rằng quyền tự do báo chí không đồng nghĩa với tự do vô hạn. Báo chí chân chính phải gắn liền với trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và tuân thủ pháp luật. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, các thế lực thù địch thường lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” để phát tán thông tin sai sự thật, bóp méo bản chất vấn đề, gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá chế độ. Vì vậy, việc duy trì cơ chế quản lý, định hướng và bảo đảm môi trường thông tin lành mạnh không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là trách nhiệm của mỗi quốc gia có chủ quyền.

Đặc biệt, luận điệu đòi “dẹp bỏ Ban Tuyên giáo” và xóa bỏ vai trò định hướng tư tưởng đối với báo chí thực chất là nhằm từng bước phi chính trị hóa báo chí cách mạng, tách báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những thủ đoạn quen thuộc mà các thế lực cơ hội chính trị và phản động thường sử dụng để thúc đẩy cái gọi là “đa nguyên truyền thông”, tiến tới “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Lịch sử thế giới cho thấy ở nhiều quốc gia, khi truyền thông bị các nhóm lợi ích thao túng, thông tin không còn phục vụ lợi ích cộng đồng mà trở thành công cụ phục vụ lợi ích kinh tế hoặc mục tiêu chính trị của một số thế lực nhất định.

Đối với Việt Nam, báo chí cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện luôn mang bản chất cách mạng, tính nhân dân sâu sắc và tính chiến đấu mạnh mẽ. Trong suốt hơn một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc trong đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu đó khẳng định vai trò sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với báo chí, chứ không phải là trở ngại đối với việc phản ánh sự thật như một số người cố tình xuyên tạc.

Yêu cầu bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của Nhân dân làm điểm xuất phát là lời nhắc nhở về trách nhiệm nghề nghiệp cao cả của người làm báo trong giai đoạn mới. Điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn với vai trò lãnh đạo của Đảng, càng không thể bị lợi dụng để cổ súy cho những luận điệu phủ nhận nền tảng chính trị, pháp lý của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Bảo vệ sự thật không đồng nghĩa với từ bỏ định hướng; tôn trọng sự thật càng không đồng nghĩa với phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, phản ánh trung thực đời sống xã hội, đấu tranh chống cái xấu, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc và phục vụ ngày càng tốt hơn quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Vì vậy, với âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề báo chí để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn sai trái, cần đấu tranh bác bỏ./.

 

Jun 24, 2026

Nhận diện và đấu tranh với chiêu trò xuyên tạc mới của Việt Tân

Trên trang Viettan, tổ chức phản động Việt Tân đăng bài viết “Bản lên tiếng của đảng Việt Tân: Chế độ Tô Lâm đang khủng bố nội địa và khủng bố xuyên quốc gia”, tiếp tục tung ra những luận điệu cực đoan, sai trái nhằm vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp đối lập”, “khủng bố người bất đồng chính kiến”, thậm chí xuyên tạc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia thành “khủng bố xuyên quốc gia”. Đây là luận điệu phản động, xuyên tạc bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động chống đối và tạo cớ gây sức ép đối với Việt Nam. Do đó, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, Việt Nam không tồn tại cái gọi là “khủng bố nội địa” như luận điệu xuyên tạc của Việt Tân. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin và tham gia quản lý nhà nước, xã hội của công dân. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, quyền tự do phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không thể bị lợi dụng để kích động chống phá Nhà nước, phát tán thông tin sai sự thật hay gây rối an ninh, trật tự xã hội.

Việt Tân cố tình đánh tráo khái niệm giữa “xử lý vi phạm pháp luật” với “đàn áp chính kiến”. Trên thực tế, không ai ở Việt Nam bị xử lý chỉ vì bày tỏ quan điểm cá nhân hay phản biện ôn hòa. Những trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều liên quan đến hành vi cụ thể như tuyên truyền chống Nhà nước, móc nối tổ chức phản động, kích động cực đoan hoặc gây mất ổn định xã hội.

Ngay tại nhiều nước phương Tây, các hành vi đe dọa an ninh quốc gia hay kích động cực đoan cũng bị xử lý nghiêm khắc. Hoa Kỳ từng truy tố hàng loạt đối tượng liên quan vụ bạo loạn Đồi Capitol năm 2021; nhiều quốc gia châu Âu tăng cường kiểm soát các tổ chức cực đoan và nội dung kích động trên không gian mạng. Vì vậy, việc Việt Nam xử lý hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ ổn định xã hội hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thực tiễn cũng bác bỏ hoàn toàn luận điệu vu cáo của Việt Tân. Việt Nam hiện có khoảng 78 triệu người sử dụng internet và mạng xã hội; hàng trăm cơ quan báo chí, hàng nghìn trang thông tin điện tử hoạt động thường xuyên. Người dân có thể phản ánh, kiến nghị, tham gia phản biện xã hội trên nhiều nền tảng khác nhau. Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng lớn được phát hiện từ phản ánh của báo chí và Nhân dân, cho thấy dân chủ và minh bạch ở Việt Nam ngày càng được mở rộng.

Thứ hai, luận điệu vu cáo Việt Nam “khủng bố xuyên quốc gia” là sự bóp méo trắng trợn hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, tư pháp. Việt Tân cố tình lợi dụng một số vụ việc liên quan các đối tượng vi phạm pháp luật ở nước ngoài để dựng lên luận điệu “bắt cóc”, “trấn áp xuyên quốc gia”, nhằm quốc tế hóa vấn đề nội bộ và bôi nhọ hình ảnh Việt Nam. Nhưng ngược lại, chính các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân mới thường xuyên lợi dụng không gian mạng và lãnh thổ nước ngoài để phát tán thông tin sai lệch, kích động chống phá, móc nối các phần tử cực đoan chống Nhà nước Việt Nam dưới vỏ bọc “đấu tranh dân chủ”.

Trên thực tế, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, tham gia nhiều công ước về chống khủng bố, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Mọi hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, tư pháp đều được thực hiện trên cơ sở luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế. Hơn nữa, thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua là minh chứng thuyết phục bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của Việt Tân. Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định chính trị - xã hội, tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm cao trong khu vực; đời sống Nhân dân không ngừng được nâng lên; quyền con người ngày càng được bảo đảm tốt hơn trên thực tế. Uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam tiếp tục được củng cố thông qua việc mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương và đóng góp trách nhiệm vào các vấn đề toàn cầu. Việc kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Nhà nước là yêu cầu tất yếu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và cuộc sống bình yên của Nhân dân. Không có quốc gia nào chấp nhận việc nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để kích động chống nhà nước hay gây mất ổn định chính trị - xã hội. Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội là trách nhiệm chính đáng của mọi nhà nước.

Tóm lại, bài viết của Việt Tân là sự xuyên tạc có chủ đích nhằm vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ”, “khủng bố nội địa”, “khủng bố xuyên quốc gia”, qua đó kích động chống phá và gây sức ép chính trị đối với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.

(nguồn: nhanvanviet.com)

 


Jun 22, 2026

Phản bác luận điệu “Việt Nam không có tự do báo chí”!

          1. Hằng năm, cứ vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (03/5) hoặc dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam lại tung ra những quan điểm sai lệch, xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Điển hình cho những luận điệu sai lệch, xuyên tạc ấy phải kể đến tên đầu sỏ là Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), tiếp đó là một số trang tiếng Việt ở hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam, như: BBC, FRA, RFI, VOA,… gần đây là trang Nhật ký yêu nước cùng các đối tượng phản động, chống phá lại tung hứng với giọng điệu loạn ngôn, quy chụp, vu cáo quyền tự do báo chí ở Việt Nam.

Thủ đoạn của chúng thường theo các bước: 1- Tổ chức RSF công bố “Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới”, trong đó xếp Việt Nam đứng thứ 174/180 quốc gia để quy kết rằng Việt Nam “không có tự do báo chí”, “đàn áp tiếng nói phản biện”, cố tình đánh tráo khái niệm giữa “tự do báo chí” với “tự do vô giới hạn”; 2- một số tổ chức, cá nhân chống đối tiếp tục viện dẫn cái gọi là “bảng xếp hạng tự do báo chí” để lấn sang mổ xẻ, xuyên tạc thêm.

Cụ thể là trang Nhật ký yêu nước hồ hởi đổ thêm dầu vào lửa, xuyên tạc vô lối rằng “các nhà báo quốc doạn suốt ngày chỉ đi tuyên truyền cho chế độ, ca tụng lãnh đạo, ca tụng Đảng - Nhà nước, bắt người dân yêu nước phải yêu Đảng. Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ thì gọi là nước lạ, Cảnh sát giao thông đuổi em học sinh Đăk Lawk tử vong thì gọi là xe lạ. Đó là hậu quả của báo chí mà cứ làm theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản”.

Còn BBC, FRA, VOA Tiếng Việt bám theo chỉ số vớ vẩn đó để xuyên tạc trắng trợn rằng: “Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tư tưởng”, “Việt Nam trở thành nhà tù lớn thứ ba thế giới về tự do báo chí”, “Việt Nam là quốc gia không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí”; “ngoài đàn áp những người làm truyền thông độc lập, bộ máy kiểm duyệt còn thực hiện một số biện pháp khác để hạn chế tự do báo chí ở Việt Nam”; “Việt Nam tiến một bước dù bỏ tù thêm nhiều nhà báo và vẫn là một trong những quốc gia tồi tệ nhất thế giới”, v.v.

Các tổ chức, cá nhân chống phá cách mạng Việt Nam thường lợi dụng những bảng xếp hạng đó để tạo cảm giác rằng Việt Nam “bị quốc tế lên án”, từ đó kích động tâm lý hoài nghi và phủ nhận thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đây là thủ đoạn tuyên truyền quen thuộc: dùng danh nghĩa “quốc tế” để tạo vỏ bọc khách quan cho các luận điệu mang động cơ chính trị.

Thời gian qua, việc bắt giữ, xét xử những đối tượng có hoạt động lợi dụng vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Phạm Chí Dũng… mà họ gọi là “nhà báo độc lập”, “nhà báo công dân”, “nhà báo tự do” là đúng người, đúng tội. Những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các đối tượng mượn danh nhà báo trên là hành vi vi phạm pháp luật, gây bất ổn định xã hội, đi ngược lại với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, của dân tộc. Như vậy, tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được pháp luật đảm bảo theo đúng thông lệ quốc tế.

2. Tự do báo chí ở Việt Nam là quyền hiến định, được bảo đảm bằng pháp luật và thực tiễn. Từ khi Báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên ngày 21/6/1925, nền Báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén”. Trải qua hơn một thế kỷ, báo chí cách mạng luôn là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích quốc gia – dân tộc. Hơn 400 nhà báo đã anh dũng hy sinh, minh chứng cho truyền thống chiến đấu vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam.

Cần khẳng định rõ rằng, ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí là quyền hiến định, được pháp luật bảo vệ. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 và Luật Báo chí năm 2016 quy định đầy đủ quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền phản ánh, kiến nghị và tham gia giám sát xã hội của công dân. Vì vậy, những luận điệu cho rằng Việt Nam “không có tự do báo chí” là hoàn toàn sai lệch, cố tình phủ nhận thực tế khách quan.

Bản chất của các luận điệu này là đánh tráo khái niệm giữa quyền tự do báo chí với việc lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc sự thật, phát tán tin giả, kích động chống phá Nhà nước và gây mất ổn định xã hội. Không một quốc gia nào cho phép tự do vô giới hạn. Ngay tại nhiều nước phương Tây, các hành vi tung tin sai sự thật, kích động bạo lực, xâm phạm an ninh quốc gia hoặc vu khống cá nhân đều bị xử lý nghiêm theo pháp luật. Do đó, yêu cầu báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nguyên tắc chung của mọi quốc gia có chủ quyền, không phải đặc thù riêng của Việt Nam.

Bên cạnh đó, quyền tiếp cận thông tin và bày tỏ chính kiến của người dân ngày càng được mở rộng. Thông qua báo chí và không gian mạng, người dân có thể phản ánh tâm tư, nguyện vọng, góp ý chính sách và tham gia thảo luận các vấn đề xã hội. Báo chí thực sự trở thành diễn đàn của Nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng, góp phần tăng cường dân chủ và đồng thuận xã hội.

Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin và tạo điều kiện cho báo chí phát triển là thực tế không thể phủ nhận. Vì vậy, mọi sự xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam đều nhằm mục đích hạ thấp uy tín đất nước, gây hoài nghi trong xã hội và phục vụ các ý đồ chống phá về chính trị, tư tưởng. Tự do báo chí ở Việt Nam là có thật, được pháp luật bảo vệ và ngày càng phát triển theo hướng công khai, minh bạch, trách nhiệm. Điều cần cảnh giác là việc lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí” để hợp thức hóa các hoạt động xuyên tạc, chống phá, phát tán thông tin sai sự thật, gây nhiễu loạn dư luận và xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn đời sống báo chí Việt Nam hiện nay là minh chứng sinh động cho quyền tự do báo chí được bảo đảm ngày càng đầy đủ. Hệ thống báo chí phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Báo chí không chỉ tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước mà còn tích cực phản biện xã hội, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều vụ việc lớn liên quan đến quản lý đất đai, giáo dục, y tế, thị trường và đội ngũ cán bộ đã được báo chí phản ánh kịp thời, góp phần thúc đẩy các cơ quan chức năng vào cuộc xử lý. Đó là vai trò, đóng góp của báo chí không thể ai thay thế được, càng không thể xuyên tạc được./.

(Nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Jun 19, 2026

Lật tẩy luận điệu xuyên tạc nền báo chí cách mạng ở Việt Nam

        Tre Việt - Ngày 18/6, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài “Nhà báo, phóng viên nên làm “con chó” của ai!” của Nguyễn Đình Ấm, trong bài viết, họ rêu rao rằng: “Báo chỉ của ta do Đảng quản lý mà trực tiếp là Trưởng ban Tuyên giáo từ Trung ương đến tỉnh, thành, các bộ trưởng truyền thông, tổng biên tập. Vậy phóng viên của báo quốc doanh phải “trung thành” như con chó không?”
        Trước hết, cần khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu xuyên tạc của Nguyễn Đình Ấm và Việt Nam Thời Báo nhằm phủ nhận vai trò của nền báo chí Việt Nam trong đời sống xã hội. Đồng thời, đây còn là sự xúc phạm trắng trợn đến nhân phẩm, danh dự của đội ngũ nhà báo ở Việt Nam.
        Chúng ta đều biết, ở nước ta, từ khi báo chí cách mạng xuất hiện (21/6/1925) tới nay, mục tiêu ngày càng cao của nó là thiết thực phục vụ lợi ích ngày một nhiều của Nhân dân. Luật Báo chí (năm 2025) quy định: “Báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là báo chí cách mạng, gắn liền với công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân”. 
        Báo chí nói chung và sứ mệnh của những người làm báo nói riêng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà”. Điều đó được hiểu: “phò chính”, tức là bảo vệ chính nghĩa, nói lên sự thật, đồng hành với lẽ phải. “trừ tà”, tức dám phản ánh cái xấu, cái ác, chống lại sự phi lý, bất công. Hiểu rộng ra theo nghĩa “phò chính, trừ tà” là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống, quyền lợi của dân; vạch trần, phê phán và tẩy trừ những gì sai trái, làm tổn hại tới sự nghiệp cách mạng, tới lợi ích chung của xã hội, của Nhân dân.Vì thế, báo chí cũng là một đối tượng cần sự quản lý của Nhà nước. 
        Mục đích của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, bảo đảm quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận. Cũng như bất kỳ dạng quản lý xã hội nào khác, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp. Nó là sự tác động của các tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy hành pháp từ Trung ương đến cơ sở, để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của Nhân dân. Quản lý nhà nước đối với báo chí là những hoạt động của bộ máy chính quyền hướng tới sự bảo đảm để báo chí hoạt động ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội.
        Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã thực hiện sứ mệnh, vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Các cơ quan báo chí đã thể hiện tốt chức năng tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là cầu nối của dân với Đảng, truyền đi thông điệp về một Việt Nam đang kiến tạo để phát triển trong kỷ nguyên mới; đồng thời tích cực triển khai nhiều hoạt động xã hội như: Chăm lo hỗ trợ đồng bào nghèo, trẻ em nghèo, phát hiện bồi dưỡng tài năng trẻ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, v.v. Cùng với cả hệ thống chính trị, báo chí cũng đang thực hiện nghiêm túc việc sắp xếp tổ chức bộ máy để bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đến nay, cả nước có 733 cơ quan báo chí (gồm 98 báo, 597 tạp chí, 38 đài, cơ quan hoạt động phát thanh, truyền hình), giảm 189 cơ quan báo chí.
        Tính đến hết năm 2025, Việt Nam có gần 21.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, các nhà báo, phóng viên luôn là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xấu, bảo vệ cái đúng, lan tỏa người tốt việc tốt. Đảng và Nhà nước có có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đến đội ngũ những người làm báo trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; có các giải pháp hỗ trợ phù hợp để ổn định đời sống, giữ chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao và tạo động lực để người làm báo yên tâm công tác, gắn bó với nghề, cống hiến lâu dài.
        Điều đó cho thấy, luận điệu mà Nguyễn Đình Ấm và Việt Nam Thời Báo xuyên tạc về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam thực chất chỉ là chiêu bài chính trị của các thế lực thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ hình ảnh đất nước, gây chia rẽ và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Tuy nhiên, mọi sự xuyên tạc đều không thể phủ nhận thực tế rằng Việt Nam đang có một nền báo chí phát triển mạnh mẽ, hiện đại, nhân văn và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng./.