Apr 29, 2026

Đại thắng mùa Xuân 1975: Bảo vệ sự thật lịch sử trước những “mặt nạ” xuyên tạc mới

        Tre Việt - Đại thắng mùa Xuân 1975 là chân lý của lịch sử Việt Nam hiện đại, được viết bằng ý chí độc lập và sự hy sinh của cả dân tộc, được kiểm chứng bằng thực tiễn nửa thế kỷ phát triển đất nước. Thế nhưng, mỗi dịp kỷ niệm 30/4, các thế lực thù địch, cơ hội chính trị lại tăng cường chống phá, tập trung xuyên tạc ý nghĩa và bản chất của sự kiện lịch sử trọng đại này. Đáng chú ý, những luận điệu ấy ngày càng được khoác lên những “chiếc mặt nạ” tinh vi hơn, núp bóng khách quan, đa chiều để làm mờ ranh giới giữa sự thật lịch sử và ngụy biện. Nhận diện và bóc tách những lớp ngụy trang đó không chỉ là bảo vệ sự thật lịch sử, mà còn là trách nhiệm trong bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng hiện nay.
        Sự thật lịch sử không thể phủ nhận
        Mùa Xuân năm 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng, quân và dân ta đã tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy trên toàn miền Nam, phát triển thần tốc qua các chiến dịch, mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 30/4/1975, chính quyền ngụy quyền Sài Gòn sụp đổ, miền Nam hoàn toàn được giải phóng, Tổ quốc ta hoàn toàn thống nhất, cả nước vững bước tiến lên xây dựng chủ nghĩa xã hội.
        Đây không phải là một sự kiện ngẫu nhiên, càng không phải là kết quả của những toan tính nhất thời, mà là kết tinh của cả một quá trình đấu tranh kiên cường, bền bỉ và đầy hy sinh của dân tộc Việt Nam vì mục tiêu độc lập dân tộc và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đại thắng mùa Xuân 1975 “mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người”.
        Giá trị và bản chất của sự kiện ấy đã được xác lập rõ ràng: đó là thắng lợi của chính nghĩa trước phi nghĩa, của khát vọng hòa bình, tự do trước mọi sự áp đặt và can thiệp từ bên ngoài. Sự thật lịch sử này không chỉ được ghi nhận trong sử sách, mà còn được kiểm chứng bằng chính hiện thực phát triển của đất nước trong gần nửa thế kỷ qua.
        Từ một quốc gia bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã từng bước vươn lên ổn định, đổi mới, hội nhập và phát triển; đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Với những thành tựu to lớn đã đạt được, chúng ta có cơ sở để khẳng định rằng, “đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín như ngày nay”; Việt Nam “là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Những thành tựu đó chính là minh chứng sinh động, có sức thuyết phục nhất cho tính đúng đắn của con đường mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, đồng thời khẳng định giá trị bền vững của Đại thắng mùa Xuân 1975.
        Chính vì vậy, mọi nỗ lực phủ nhận, bóp méo hay “diễn giải lại” sự kiện 30/4, dù dưới bất kỳ hình thức nào, đều không thể làm thay đổi bản chất của sự thật lịch sử. Điều cần nhận diện rõ là: trong bối cảnh hiện nay, sự xuyên tạc không còn biểu hiện thô sơ, trực diện, mà thường được che giấu dưới những cách tiếp cận tưởng như khách quan, trung tính. Chúng ta cần phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
        Những “mặt nạ” xuyên tạc ngày càng tinh vi
        Nếu trước đây, các quan điểm xuyên tạc về sự kiện 30/4 thường bộc lộ khá trực diện, dễ nhận biết, thì hiện nay đã chuyển sang những hình thức tinh vi hơn, khó nhận diện hơn nhưng lại tác động sâu hơn đến nhận thức của một bộ phận người tiếp cận. Điểm đáng chú ý là, các nội dung này không còn phủ nhận thẳng thừng, mà thường được thể hiện theo cách “mềm”, dễ tiếp nhận, tạo cảm giác hợp lý, khách quan.
        Trước hết, đó là cách tiếp cận nhân danh “nhìn nhận đa chiều”. Một số ý kiến cho rằng cần “đánh giá lại lịch sử cho khách quan hơn”, nhưng thực chất lại đưa vào những cách hiểu sai lệch, làm mờ ranh giới giữa đúng và sai. Việc đặt những quan điểm không có cơ sở ngang với sự thật lịch sử đã được kiểm chứng dễ dẫn đến nhận thức lệch lạc.
        Bên cạnh đó là kiểu đặt vấn đề dưới dạng câu hỏi tưởng như “trung tính”. Những câu hỏi như “liệu có cách nhìn nào khác không?”, “sự kiện đó có thực sự như chúng ta vẫn hiểu?”,… dễ khiến người đọc suy nghĩ theo hướng hoài nghi, dù bản thân câu hỏi không đưa ra kết luận cụ thể. Đây là cách tác động gián tiếp nhưng hiệu quả, vì người tiếp nhận thường không nhận ra mình đang bị dẫn dắt.
        Một biểu hiện khác là cách so sánh phiến diện, thiếu cơ sở. Việc giả định “nếu không có sự kiện 30/4 thì đất nước có thể phát triển khác”, hoặc so sánh đơn giản với một số quốc gia khác mà không đặt trong bối cảnh lịch sử cụ thể dễ dẫn đến những kết luận sai lệch. Đây là cách lập luận thiếu khoa học nhưng lại dễ gây ảnh hưởng vì đánh vào tâm lý suy diễn.
        Ngoài ra, nhiều thông tin được trình bày dưới dạng có vẻ khách quan, có dẫn chứng, số liệu hoặc trích nguồn, nhưng lại bị chọn lọc, cắt ghép hoặc đặt sai bối cảnh. Khi được trình bày bài bản, những nội dung này dễ tạo niềm tin ban đầu, nhất là với người không có điều kiện kiểm chứng đầy đủ. Đáng chú ý, các nội dung này ngày càng xuất hiện nhiều trên mạng xã hội dưới dạng video ngắn, hình ảnh, thông điệp. Thay vì lập luận, chúng tác động trực tiếp đến cảm xúc người xem, lan truyền nhanh và dễ tạo hiệu ứng đám đông, từ đó ảnh hưởng đến nhận thức một cách âm thầm.
        Dù được thể hiện dưới những hình thức ngày càng tinh vi, bản chất của các luận điệu xuyên tạc về sự kiện 30/4 không hề thay đổi. Trước hết, đó là sự phủ nhận hoặc làm sai lệch bản chất chính nghĩa của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, tìm cách biến một cuộc chiến vì độc lập, thống nhất thành những cách diễn giải mơ hồ, lệch lạc. Các luận điệu này hướng tới tác động vào niềm tin xã hội, tạo ra tâm lý hoài nghi, dao động, nhất là đối với thế hệ trẻ. Sâu xa hơn, mục tiêu cuối cùng là làm suy yếu nền tảng tư tưởng, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, từ đó tạo điều kiện cho những tác động tiêu cực về chính trị - xã hội.
        Bảo vệ sự thật lịch sử
        Trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp hiện nay, việc nhận diện đúng và bảo vệ sự thật lịch sử trở thành yêu cầu cấp thiết. Đây không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chuyên trách, mà là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, của mỗi người dân và cả hệ thống chính trị, nhất là khi các thông tin sai lệch có thể lan truyền nhanh và tác động trực tiếp đến nhận thức xã hội.
        Trước hết, cần nâng cao khả năng nhận diện thông tin. Không tiếp nhận một chiều, không vội tin vào những nội dung giật gân, cảm tính hoặc thiếu nguồn kiểm chứng. Mỗi thông tin cần được xem xét trong bối cảnh đầy đủ, đối chiếu từ nhiều nguồn chính thống, đáng tin cậy trước khi tiếp nhận hoặc chia sẻ.
        Thứ hai, hiểu đúng lịch sử phải gắn với hiểu đúng giá trị. Không chỉ dừng ở việc biết sự kiện, mà cần nhận thức rõ ý nghĩa, bản chất và những thành quả mà lịch sử đã tạo dựng cho hiện tại. Khi nhận thức vững vàng, các thông tin sai lệch sẽ khó có thể tác động.
        Thứ ba, cần chủ động lan tỏa thông tin tích cực và đúng đắn. Những thành tựu phát triển của đất nước, những minh chứng sống động từ thực tiễn chính là cơ sở thuyết phục nhất để khẳng định giá trị của lịch sử. Đây cũng là cách phản bác hiệu quả, không phải bằng tranh luận gay gắt, mà bằng sự thật và thực tiễn.
        Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, với đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, là biểu tượng tiêu biểu của ý chí độc lập, thống nhất và sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Bảo vệ sự thật lịch sử về sự kiện đó không chỉ là trách nhiệm đối với quá khứ, mà còn là yêu cầu đối với hiện tại và tương lai. Đó chính là nền tảng tinh thần vững chắc để đất nước vững bước vào kỷ nguyên phát triển, phồn vinh và thịnh vượng./.

Giá trị lịch sử, tầm vóc thời đại của Chiến thắng 30/4/1975 - đập tan mọi thủ đoạn xuyên tạc, chống phá cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước

            Tre Việt - Chiến thắng ngày 30/4/1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, là mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc Việt Nam thế kỷ XX, kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Đây không chỉ là thắng lợi có ý nghĩa quyết định đối với vận mệnh dân tộc, mà còn mang tầm vóc thời đại sâu sắc, tác động mạnh mẽ đến cục diện thế giới, đồng thời là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch.

Trước hết, về giá trị lịch sử, Chiến thắng 30/4/1975 đã chấm dứt vĩnh viễn ách thống trị của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước Việt Nam, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội. Sau hơn một thế kỷ bị đô hộ và hơn 30 năm chiến tranh liên tục, thắng lợi này khẳng định ý chí kiên cường, bất khuất và khát vọng hòa bình, thống nhất của dân tộc Việt Nam. Đó là thành quả của đường lối cách mạng đúng đắn, sáng tạo của Đảng, sự kết hợp chặt chẽ giữa đấu tranh quân sự, chính trị và ngoại giao, giữa sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.

Không thể phủ nhận rằng, bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước là một cuộc chiến tranh chính nghĩa nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Thực tiễn lịch sử, đặc biệt sau Hiệp định Geneva (21/7/1954), cho thấy Việt Nam đã kiên trì con đường hòa bình, mong muốn thống nhất đất nước thông qua tổng tuyển cử tự do. Tuy nhiên, sự can thiệp từ bên ngoài và việc phá hoại Hiệp định đã buộc Nhân dân Việt Nam phải đứng lên đấu tranh. Vì vậy, mọi luận điệu cho rằng đây là cuộc “nội chiến” hay cuộc chiến tranh “huynh đệ tương tàn” đều là sự xuyên tạc trắng trợn, cố tình phủ nhận bản chất xâm lược và áp đặt từ bên ngoài.

Về tầm vóc thời đại, Chiến thắng 30/4/1975 đã góp phần làm thay đổi sâu sắc tương quan lực lượng trên thế giới trong bối cảnh Chiến tranh Lạnh. Một dân tộc nhỏ bé đã đánh bại một cường quốc quân sự hàng đầu, qua đó khẳng định chân lý: sức mạnh của một dân tộc không chỉ nằm ở tiềm lực kinh tế hay quân sự, mà trước hết là ở ý chí độc lập, tinh thần đoàn kết và tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh. Thắng lợi của Việt Nam đã cổ vũ mạnh mẽ phong trào giải phóng dân tộc ở châu Á, châu Phi và Mỹ Latinh, góp phần thúc đẩy quá trình phi thực dân hóa trên phạm vi toàn cầu.

Bên cạnh đó, Chiến thắng này còn khẳng định giá trị phổ quát của quyền tự quyết dân tộc - một nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế hiện đại. Việt Nam đã chứng minh bằng thực tiễn rằng: mọi dân tộc đều có quyền lựa chọn con đường phát triển của mình, không thể bị áp đặt bởi bất kỳ thế lực bên ngoài nào. Đây chính là nền tảng lý luận và thực tiễn để bác bỏ các quan điểm sai trái đang cố tình bóp méo lịch sử, phủ nhận ý nghĩa chính nghĩa của cuộc kháng chiến.

Tuy nhiên, hiện nay các thế lực thù địch vẫn không ngừng lợi dụng không gian mạng và các phương tiện truyền thông để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và bản chất của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Những luận điệu như “miền Bắc xâm lược miền Nam”, “chiến tranh ý thức hệ vô nghĩa” hay “thống nhất là áp đặt” đều nhằm mục đích gây nhiễu loạn nhận thức, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân. Thực chất, đó là sự phủ nhận những hy sinh to lớn của hàng triệu người Việt Nam và đi ngược lại sự thật lịch sử đã được kiểm chứng.

Để đập tan những luận điệu xuyên tạc đó, cần khẳng định rõ: Chiến thắng 30/4/1975 là kết quả tất yếu của một cuộc đấu tranh chính nghĩa, phù hợp với xu thế phát triển của thời đại. Những thành tựu to lớn mà Việt Nam đạt được sau chiến tranh từ việc kiến thiết đất nước, phát triển kinh tế đến nâng cao vị thế quốc tế, chính là minh chứng sống động cho giá trị của hòa bình và thống nhất. Không có hòa bình, không có thống nhất, sẽ không có nền tảng để phát triển bền vững như ngày nay.

Từ góc độ thực tiễn hiện nay, việc nhận thức đầy đủ giá trị lịch sử và tầm vóc thời đại của Chiến thắng 30/4/1975 có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Đó không chỉ là cơ sở để củng cố niềm tin, bồi đắp lòng tự hào dân tộc, mà còn là nền tảng để định hướng hành động trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao bản lĩnh chính trị, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, phản động của các thế lực thù địch; đồng thời tích cực lan tỏa những giá trị lịch sử chân thực đến cộng đồng, đặc biệt là thế hệ trẻ.

Chúng ta khẳng định chắc chắn rằng, Chiến thắng 30/4/1975 mãi mãi là biểu tượng sáng ngời của ý chí độc lập dân tộc, của khát vọng hòa bình và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam. Mọi âm mưu xuyên tạc, chống phá dù tinh vi, xảo quyệt” đến đâu cũng không thể làm thay đổi bản chất và ý nghĩa vĩ đại của sự kiện lịch sử này. Việc bảo vệ sự thật lịch sử, phát huy giá trị của Chiến thắng là trách nhiệm chung của toàn xã hội, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh, bền vững trong kỷ nguyên mới./.

 

Apr 28, 2026

Phải chăng Chiến thắng 30 tháng Tư là “cuộc chiến huynh đệ tương tàn”?

         Cách đây 51 năm trước, ngày 30/4/1975 đã trở thành mốc son chói lọi trong lịch sử dân tộc, là biểu tượng vĩ đại về tinh thần, ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam. Chiến thắng 30/4 mãi mãi đi vào lịch sử, khẳng định tầm vóc vĩ đại và ý nghĩa lịch sử của cuộc kháng chiến chống Mỹ xâm lược. Nó thể hiện ý chí độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường và khát vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam. Thế nhưng, đã từ nhiều năm và nhất là vào dịp kỷ niệm hằng năm, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị vẫn tìm mọi cách chống phá, nhai đi, nhai lại các luận điệu xuyên tạc, bóp méo, như: Chiến thắng 30 tháng Tư chỉ là “cuộc chiến huynh đệ tương tàn”,… để phủ nhận ý nghĩa, hạ thấp sự kiện lịch sử trọng đại này. 
        Như lịch sử đã chứng kiến, sau chiến tranh thế giới thứ hai, trên thế giới đế quốc Mỹ có tiềm lực rất mạnh, nổi lên cầm đầu phe đế quốc, bộc lộ hết bản chất hiếu chiến và thể hiện rõ âm mưu làm bá chủ thế giới, từng bước có mặt ở Đông Dương. Sau thất bại của thực dân Pháp ở Việt Nam, chủ nghĩa thực dân cũ sụp đổ, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam Việt Nam, áp đặt chủ nghĩa thực dân mới, âm mưu chia cắt lâu dài đất nước ta. Trong bối cảnh đó, trên thế giới đã chia thành hai hệ thống đối đầu gay gắt bằng “cuộc chiến tranh lạnh” và cuộc chạy đua vũ trang quyết liệt. 
        Ở trong nước, sau hơn 09 năm kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng và bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; miền Nam vẫn dưới ách thống trị của đế quốc Mỹ và chính quyền bù nhìn Sài Gòn. Vì thế, thống nhất đất nước trở thành nhiệm vụ thiêng liêng của toàn thể dân tộc Việt Nam.
        Luận điệu xuyên tạc chiến thắng 30/4 chỉ là “cuộc chiến huynh đệ tương tàn”, hàm ý đây là cuộc chiến giữa người Việt Nam ở hai miền Nam - Bắc với nhau và từ luận điệu đó chúng tiếp tục xuyên tạc “không có bên thắng, bên thua”, “chỉ có nhân dân là nạn nhân”, v.v. Các thế lực thù địch hòng bẻ cong sự thật của cuộc chiến tranh giải phóng vĩ đại nhất trong lịch sử của dân tộc ta thành cuộc chiến giữa hai người anh em Nam - Bắc ở cùng chung một mảnh đất hình chữ S. Điều đó càng trở nên phi lý hơn khi Mỹ đưa hàng triệu quân từ bên kia Tây Bán Cầu sang xâm lược và lập nên chính quyền tay sai để phục vụ cho ý đồ đen tối của Mỹ. Ngoài ra, Mỹ còn sử dụng hàng vạn quân của các nước đồng minh với Mỹ, như: Ôxtrâylia, Hàn Quốc và Thái Lan,… tham gia vào cuộc chiến tranh xâm lược của Mỹ . Điều đó đã thể hiện rõ đây là cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ với Việt Nam - tiền đồ của phe xã hội chủ nghĩa ở Đông Nam châu Á, chứ không phải là “cuộc  chiến huynh đệ tương tàn” giữa người Việt Nam với nhau mà các thế lực thù địch đã thường xuyên tuyên truyền, nhất là vào dịp kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4 hằng năm, nhằm phủ định chiến thắng vĩ đại nhất trong lịch sử cách mạng của dân tộc ta.
        Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng đã trải qua 21 năm, là cuộc kháng chiến lâu dài, gian khổ và nhiều thử thách, cam go, ác liệt nhất. Cuộc kháng chiến này phải trải qua 5 giai đoạn, phải đối phó lần lượt với các kế hoạch chiến lược của đế quốc Mỹ, đó là: (1). Từ tháng 7/1954 đến hết năm 1960, ta tập trung đấu tranh giữ gìn lực lượng, chuyển dần sang thế tiến công, làm thất bại bước đầu phương thức chủ nghĩa thực dân mới của đế quốc Mỹ. (2). Từ đầu năm 1961 đến giữa năm 1965, ta giữ vững và phát triển thế tiến công, đánh bại chiến lược “ Chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mỹ. (3). Từ giữa năm 1965 đến hết năm 1968, Đảng phát động phong trào “ Toàn dân chống Mỹ cứu nước”, đánh bại chiến lược “Chiến tranh cục bộ” của đế quốc Mỹ ở miền Nam, đánh thắng cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân, hải quân của Mỹ lần thứ nhất ở miền Bắc. (4). Từ năm 1969 đến năm 1973, quân và dân ta phát huy sức mạnh chiến đấu của Liên minh đặc biệt ba nước: Việt Nam - Lào - Campuchia, làm thất bại một bước chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đánh bại cuộc chiến tranh bằng không quân, hải quân của Mỹ lần thứ hai ở miền Bắc, tạo thế mạnh trong đàm phán. (5). Từ cuối năm 1973 đến ngày 30/4/1975, là giai đoạn thế và lực, tạo thời cơ, kiên quyết tiến hành cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, kết thúc thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. 
        Chúng ta khẳng định rằng, đây là cuộc kháng chiến chính nghĩa của dân tộc Việt Nam đánh thắng tên đế quốc đầu sỏ, lớn mạnh và hung hãn nhất của loài người tiến bộ; kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu hơn 30 năm giành độc lập, tự do, thống nhất cho đất nước; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; đánh dấu bước ngoặt quyết định trong lịch sử dân tộc, đưa đất nước ta bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, cả nước vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đồng thời, Chiến thắng 30/4 cổ vũ, động viên, khích lệ các dân tộc trên thế giới đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc, mở đầu sự phá sản của chủ nghĩa thực dân mới do Mỹ đứng đầu trên toàn thế giới. Trong Hồi ký của mình, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Macnamara đã viết: Mỹ thua Việt Nam vì không hiểu được văn hóa và trí tuệ của người Việt Nam! Thắng lợi của chiến thắng 30/4 là kết quả thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại: “Đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”.
        Do vậy, Chiến thắng này là sự khẳng định đanh thép của chính nghĩa đã thắng phi nghĩa, của ý chí và niềm tin đã thắng hung nô và bạo tàn và bác bỏ một cách thuyết phục nhất luận điệu sai trái, thù địch khi cho rằng đó là “cuộc chiến huynh đệ tương tàn”./.
(Sưu tầm)



Apr 27, 2026

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với truyền thông - bước đi tất yêu và đúng đắn

        Trên trang Viettan, Lý Thái Hùng đã phát tán bài viết “Từ Moscow đến Hà Nội: Khi quyền lực chọn con đường cô lập”, Y cho rằng: “Quyền lực không còn muốn bị giớ hạn. Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và hai cơ quan học thuật nằm dưới sự quản lý và chỉ huy của bộ máy đảng không phải là cải tổ. Đó là Thâu tóm…”. Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động; phủ nhận vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ:
        1. Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và cơ quan Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam thuộc chính phủ sang đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đồng ý chủ trương chuyển Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là các cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 
        Sáng ngày 01/04/2026 tại trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra Hội nghị công bố quyết định của Bội chính trị về công tác cán bộ. Việc chuyển 3 cơ quan báo chí quốc gia sang đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm tăng cường sự lãnh đạo tập trung, trực tiếp, toàn diện và thống nhất của Đảng đối với các cơ quan truyền thông chủ lực; khẳng định sự đổi mới về tư duy, phương pháp và cách thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, chính trị và truyền thông trong kỷ nguyên mới.
        Những luận điệu cho rằng việc đưa các cơ quan truyền thông chủ lực trên đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là “thâu tóm quyền lực” thực chất là sự xuyên tạc bản chất của hệ thống chính trị  ở Việt Nam. Cần khẳng định rõ ràng rằng, ở Việt Nam, báo chí là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, thực hiện chức năng thông tin, định hướng dư luận xã hội và phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này được quy định nhất quán trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Báo chí năm 2016. Vì vậy, việc đặt các cơ quan truyền thông dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng không phải là “thu hẹp tự do”, mà là bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, không bị lệch hướng hoặc bị chi phối bởi các lợi ích khác. Hơn nữa, việc tổ chức lại, tinh gọn hệ thống truyền thông còn là yêu cầu khách quan trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay. Một hệ thống phân tán, chồng chéo sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả truyền thông. Do đó, việc thống nhất quản lý không phải là “thâu tóm”, mà là cải tổ theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh thông tin trong môi trường toàn cầu hóa, nhất là thời kỳ chuyển đổi số hiện nay.
        2. Thực tiễn đã chứng minh, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào Đảng ta luôn quan tâm, phát triển; nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí, khoa học và công nghệ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn công cuộc đổi mới đường lối phát triển của đất nước cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và toàn diện đối với các cơ quan truyền thông, báo chí và khoa học trọng yếu. Các cơ quan chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam không ngừng được củng cố tổ chức, hiện đại hóa công nghệ, mở rộng độ phủ và nâng cao chất lượng nội dung, giữ vai trò nòng cốt trong định hướng dư luận, thông tin đối nội, đối ngoại và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Các cơ quan khoa học, như: Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được đầu tư phát triển, từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chính sách và phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Hệ thống cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện, đội ngũ cán bộ báo chí và trí thức khoa học được đào tạo bài bản, bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao. 
        Những kết quả đó khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng để các cơ quan này phát triển mạnh mẽ, nâng cao chất lượng hoạt động và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nhờ coi trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí và khoa học, tạo sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
        Tóm lại, việc đặt các cơ quan truyền thông chủ lực dưới sự lãnh đạo của Đảng không những không làm suy giảm vai trò của báo chí mà còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm định hướng đúng đắn, phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc. Những luận điệu cho rằng đó là “thâu tóm” thực chất là sự áp đặt phiến diện, thiếu hiểu biết về đặc thù chính trị - xã hội của Việt Nam. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước; đề cao cảnh giác, nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của Nhân dân./.
 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Tự do tôn giáo ở Việt Nam - sự thật không thể phủ nhận

          Với đường lối, chủ trương nhất quán, Việt Nam ngày càng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân một cách thực chất. Thế nhưng, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành quả đó. Trong bài viết “Tự do tôn giáo tại Việt Nam: Một song đề nghịch lý” đăng trên Boxitvn, Trần Kiên Đoàn đã ngụy biện, bóp méo thực tiễn để rêu rao rằng Việt Nam “chưa có tự do tôn giáo trọn vẹn”. Đằng sau luận điệu này là mưu đồ chính trị rõ ràng, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào có đạo, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ.

1. Bức tranh sinh động về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Trên thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã được khẳng định xuyên suốt từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, theo đó “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tiếp tục cụ thể hóa quyền này, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các tổ chức và cá nhân tôn giáo hoạt động. Với những chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước, có thể dễ dàng nhận thấy những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay.

Theo số liệu thống kê của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, hiện nay, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành,… được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Những thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như sự kiện Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019), Liên Hội đồng Giám mục Á châu (2023), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2025. Những con số trên đã phản ánh bức tranh đa sắc màu, tự do và hòa hợp về đời sống tôn giáo tại Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động cho nỗ lực nhất quán của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cũng là lời đáp rõ ràng trước luận điệu xuyên tạc của Trần Kiên Đoàn.

2. Mưu đồ gì khi cổ súy khẩu hiệu “Dân tộc - Đạo pháp - Giác ngộ”. Từ cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan về thực tiễn tự do tôn giáo ở Việt Nam, Trần Kiên Đoàn đã đưa ra đề xuất chuyển đổi khẩu hiệu tôn giáo từ “Dân tộc - Đạo pháp - Chủ nghĩa xã hội” sang “Dân tộc - Đạo pháp - Giác ngộ”. Đây không phải là sự thay đổi ngôn từ đơn thuần, mà là một toan tính chính trị có chủ đích. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và gắn bó chặt chẽ với lợi ích quốc gia. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, nhưng là tự do trong giới hạn pháp luật và đi đôi với trách nhiệm công dân. Đó mới là bản chất của một nền tự do chân chính, không thể bị đánh tráo bằng thứ “tự do vô giới hạn” để che đậy các hành vi lợi dụng tôn giáo phục vụ mục đích cá nhân, chống phá gây nguy hại đến xã hội. Việc cố tình thay thế “chủ nghĩa xã hội” bằng “giác ngộ” thực chất là thủ đoạn làm “mờ hóa” yếu tố pháp lý và chính trị, đẩy tôn giáo về trạng thái thuần túy cá nhân, tách khỏi hệ quy chiếu của nhà nước pháp quyền. Khi đó, một số đối tượng có thể vin vào danh nghĩa “tu hành”, “giác ngộ” để né tránh nghĩa vụ công dân, biện minh cho các hành vi vi phạm pháp luật. Nguy hiểm hơn, nó tạo tiền đề cho việc hình thành những hoạt động tôn giáo tự phát, vượt ra ngoài khuôn khổ quản lý, dễ bị kích động, lợi dụng để gây rối trật tự, khoét sâu chia rẽ cộng đồng. Xét đến cùng, đây là một bước đi tinh vi nhằm làm suy yếu nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo, tiến tới tách rời tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, từ đó tạo ra những khoảng trống nguy hiểm về chính trị - xã hội.

Nhìn tổng thể, đời sống tôn giáo ở Việt Nam là một bức tranh đa dạng nơi các tôn giáo cùng tồn tại, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, gắn bó, đồng hành cùng sự phát triển đất nước. Thực tiễn đó đã bác bỏ một cách thuyết phục những luận điệu sai trái, phiến diện như Trần Kiên Đoàn./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Apr 23, 2026

Quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc là vì mục tiêu cùng phát triển, không phải sự phụ thuộc

           Tre Việt - Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa qua đã thành công rất tốt đẹp, nâng tầm cao mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện này, các trang mạng xã hội đã có nhiều bài viết, chia sẻ có nội dung xuyên tạc, chia rẽ về quan hệ giữa hai nước là “lệ thuộc”, “mất tự chủ”, v.v. Đơn cử như trang facebook Việt Tân ngày 22/4 đăng bài: “Hợp tác Việt - Trung: lợi ích hay phụ thuộc?”.

Cần khẳng định ngày rằng: những luận điệu trên không chỉ thiếu cơ sở khoa học mà còn xuyên tạc bản chất quan hệ hai nước, đi ngược lại thực tiễn sinh động của đời sống quốc tế và đường lối đối ngoại nhất quán của Việt Nam. Bởi vì:

Thứ nhất, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc được xây dựng trên nền tảng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Việt Nam. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, không liên minh quân sự, không phụ thuộc vào bất kỳ một quốc gia nào. Đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện. Trong bối cảnh ấy, quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc ngày càng phát triển trên nhiều lĩnh vực; sự tin cậy chính trị giữa hai bên được tăng cường, tiếp tục phát huy vai trò gắn kết, định hướng chiến lược và làm sâu sắc hơn quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai trong thời kỳ mới.

Thứ hai, lâu nay chúng vẫn cho rằng: Việt Nam “phụ thuộc kinh tế” vào Trung Quốc thông qua quy mô kim ngạch thương mại giữa hai nước. Tuy nhiên, đây là nhìn nhận mang tính phiến diện, không phản ánh đúng bản chất quan hệ kinh tế song phương. Trên thực tế, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung Quốc luôn bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Việt Nam nhập khẩu nhiều nguyên liệu, máy móc phục vụ sản xuất, nhưng cũng xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản, điện tử, hàng tiêu dùng,... sang thị trường rộng lớn này. Sự gia tăng kim ngạch thương mại không phải là dấu hiệu của “lệ thuộc”, mà là kết quả của quá trình hội nhập kinh tế, phù hợp với quy luật thị trường và lợi ích của cả hai bên.

Thứ ba, Việt Nam không chỉ có quan hệ kinh tế với Trung Quốc mà còn thiết lập quan hệ thương mại, đầu tư với hầu hết các nền kinh tế lớn trên thế giới. Việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh,... đã cho thấy rõ định hướng đa dạng hóa thị trường, đối tác, giảm thiểu rủi ro phụ thuộc. Nếu thực sự “lệ thuộc”, Việt Nam khó có thể duy trì được mạng lưới quan hệ kinh tế rộng lớn và cân bằng như hiện nay.

Thứ tư, trong quan hệ chính trị, việc duy trì trao đổi, hợp tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc là điều bình thường, phù hợp với thông lệ quốc tế. Điều đó không đồng nghĩa với sự “chi phối” hay “lệ thuộc”. Ngược lại, các kênh đối thoại chính trị giúp tăng cường hiểu biết, kiểm soát bất đồng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Quan hệ giữa các quốc gia luôn tồn tại cả hợp tác và đấu tranh, việc có những khác biệt là hoàn toàn khách quan. Vấn đề cốt lõi là xử lý những khác biệt đó trên cơ sở tôn trọng lẫn nhau và luật pháp quốc tế.

Thực tiễn đã chứng minh: Việt Nam luôn giữ vững độc lập, tự chủ trong mọi quyết sách đối nội, đối ngoại. Trong các vấn đề liên quan đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, Việt Nam kiên định lập trường, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế. Không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy Việt Nam bị “chi phối” hay “mất tự chủ” trong quan hệ với bất kỳ quốc gia nào.

Vì thế, những luận điệu xuyên tạc quan hệ Việt Nam - Trung Quốc thực chất nhằm phục vụ mục tiêu chính trị xấu, kích động tư tưởng cực đoan, gây chia rẽ quan hệ hai nước, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước cần bị vạch trần, lên án, bác bỏ./.

Lật tẩy chiêu trò xuyên tạc lịch sử thâm độc của “Nhật Ký Yêu Nước”

         Tre Việt - Những ngày gần đây, trên  trang facebook Nhật Ký Yêu Nước liên tục đăng các bài viết, hình ảnh xuyên tạc lịch sử, hạ thấp ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4. Họ trắng trợn đưa ra những luận điệu kích động lố bịch, rằng: “Đó chính là bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại”“May mắn cho Hàn Quốc không có ngày 30/4, bất hạnh cho Việt Nam khi có ngày ấy”. 

      Trước hết, cần khẳng định rõ, việc mô tả ngày 30/4/1975 của Việt Nam như là “bi kịch lớn” và “bất hạnh” cho Việt Nam, không chỉ sai về mặt logic, mà còn thể hiện sự phủ nhận thực tế lịch sử và những hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam; là sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử, hạ thấp ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4. 

        Bởi vì, về tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Ngày Chiến thắng 30/4/1975, tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam coi đó là một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển mới, rực rỡ hơn cho đất nước. Đó là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc. Kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho đất nước; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc - thời kỳ Tổ quốc ta được hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối, cả nước được sống trong hòa bình, tự do để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Với thắng lợi này, Đảng và nhân dân ta có điều kiện tập trung mọi nguồn lực vật chất và tinh thần để tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước. 

        Có thể nói rằng, không có Chiến thắng 30/4, chúng ta không có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 50 năm qua. Ngày nay, đất nước đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

        Đối với thế giới, thắng lợi ngày 30/4/1975 của Nhân dân ta là một thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, đập tan cuộc phản công chiến lược lớn nhất (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai) của chủ nghĩa đế quốc vào ba trào lưu cách mạng của thời đại, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam châu Á; góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ, động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc.

        Mỗi quốc gia có hoàn cảnh riêng, lựa chọn riêng và phải đối mặt với những thách thức riêng. Một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, đã trực tiếp mang lại hòa bình và chủ quyền quốc gia thống nhất của dân tộc Việt Nam không thể bị quy kết là  “bi kịch lớn” của lịch sử và “bất hạnh” cho Việt Nam. 

        Việc Nhật Ký Yêu Nước đưa ra so sánh giữa Việt Nam với Hàn Quốc là một sự so sánh sai lệch, khập khiễng, mang tính kích động, chống phá rất thâm độc; gieo vào người dân một cảm giác tiếc nuối, so sánh và thậm chí là phủ nhận giá trị lịch sử của chính dân tộc mình. Do đó, mỗi người dân cần phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị Ngày Chiến thắng 30/4 của Nhân dân ta./.


Apr 20, 2026

Bác bỏ luận điệu cố tình xuyên tạc của HRW

           Tre Việt - Mới đây, trong Báo cáo thế giới năm 2026 (World Report 2026), tổ chức Human Rights Watch (HRW) tiếp tục đưa ra những đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực tự do ngôn luận, báo chí và không gian mạng. Với việc viện dẫn một số vụ án hình sự liên quan đến phát ngôn trên mạng xã hội và gọi các bị cáo là “nhà hoạt động”, “nhà báo độc lập” hoặc “tù nhân chính trị”, HRW cho rằng Việt Nam “hình sự hóa tự do ngôn luận”. Đây là luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, cần đấu tranh bác bỏ.

Niềm vui của Nhân dân tại Lễ kỷ niệm 80 năm
Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công
và Quốc khánh 02/9

Trước hết, cần khẳng định rằng: quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, luôn được Đảng, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Đồng thời, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập hầu hết các công ước cơ bản của Liên hợp quốc về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Những cam kết của Việt Nam đã được cụ thể hóa bằng nhiều đạo luật và chính sách phù hợp với điều kiện của đất nước.

Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua đã minh chứng rõ nét cho việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, luôn gắn liền với ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và nâng cao đời sống Nhân dân. Những thành tựu về xóa đói, giảm nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, thông tin,… đã tạo nền tảng vững chắc để người dân được thụ hưởng đầy đủ hơn các quyền cơ bản của mình.

Bên cạnh đó, với gần 780 cơ quan báo chí đang hoạt động thường xuyên, đóng vai trò quan trọng trong phản biện xã hội và giám sát quyền lực. Nhiều vụ việc tiêu cực, sai phạm nghiêm trọng bị phát hiện, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự từ báo chí và dư luận xã hội. Mặt khác, không gian mạng tại Việt Nam hiện nay đang phát triển hết sức năng động, với hàng trăm triệu tài khoản sử dụng mạng xã hội trong nước sử dụng các nền tảng số để trao đổi thông tin, bày tỏ ý kiến, sáng tạo nội dung. Hàng loạt ý kiến đa chiều về các vấn đề chính trị, kinh tế, xã hội được đăng tải công khai trên báo chí, mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến. Điều này cho thấy quyền tự do ngôn luận không chỉ được ghi nhận trên giấy tờ mà còn được thực thi rộng rãi trong đời sống xã hội.

Với những kết quả, thành tựu đó, Việt Nam đã tái đắc cử lần 3 trở thành thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 (lần 1 trúng cử nhiệm kỳ 2014 - 2016, lần 2 trúng cử nhiệm kỳ 2023 - 2025). Điều này cho thấy sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những cam kết, nỗ lực và thành tựu của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người, bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân. Đồng thời, đó còn là sự thừa nhận vai trò và đóng góp của Việt Nam trong thúc đẩy hợp tác về bảo đảm quyền con người trên phạm vi thế giới.

Tuy nhiên, không riêng ở Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào, quyền tự do ngôn luận không phải là quyền tuyệt đối, không bị giới hạn. Việc thực thi quyền này phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, nhằm bảo đảm hài hòa giữa quyền cá nhân với lợi ích của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Đây là nguyên tắc phổ quát, được chính Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị thừa nhận khi cho phép các quốc gia áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Thực tế cho thấy, những trường hợp bị xử lý theo pháp luật tại Việt Nam thời gian qua không phải vì họ “bày tỏ quan điểm” một cách ôn hòa, mà vì đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, như tuyên truyền chống Nhà nước, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, hoặc phát tán thông tin sai sự thật gây hoang mang trong xã hội.

Vì vậy, việc HRW quy kết Việt Nam “hình sự hóa tự do ngôn luận” thực chất là sự đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất giữa hành vi vi phạm pháp luật với việc thực thi quyền tự do ngôn luận. Đây không chỉ là sự xuyên tạc thực tế, mà còn nhằm mục đích gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, phục vụ ý đồ vận động quốc tế với mục đích đen tối, cần bị vạch trần, bác bỏ./.

Tự do báo chí, hay tự do xuyên tạc?

           Trên trang Baoquocdan, bút danh Lê Phi có bài viết: “Cái bẫy vô minh thể chế”, từ đó đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng: Việt Nam tuy có hệ thống báo chí nhưng “không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”, dẫn tới hạn chế nhận thức xã hội; sự “thiếu hiểu biết” trở thành đặc điểm cấu trúc do hệ thống thông tin bị kiểm soát, từ đó kìm hãm phát triển dài hạn. Nhìn bề ngoài, lập luận có vẻ logic, “khoa học”. Nhưng đi sâu sẽ thấy, thực chất đây là sự xuyên tạc trắng trợn, vu khống theo kiểu lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm và suy diễn chủ quan.

Thứ nhất, Lê Phi vu khống “Việt Nam không có tự do báo chí”. Lê Phi cố tình sử dụng con số “hơn 880 cơ quan báo chí, hơn 70 đài phát thanh - truyền hình” như một tiền đề, rồi phủ định toàn bộ bằng kết luận “không có tự do”. Đây là thủ pháp quen thuộc: đưa ra một thực tế hiển nhiên, sau đó gán cho nó một ý nghĩa hoàn toàn trái ngược để tạo cảm giác “nghịch lý”. Thực chất, là sự ngụy biện trơ tráo, Lê Phi đã cố tình đánh tráo giữa “tự do có trách nhiệm”“tự do vô điều kiện”, rồi lấy cái không tồn tại để phủ định cái đang tồn tại.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: tự do báo chí không đồng nghĩa với tự do vô chính phủ, bỏ qua việc quản lý, kiểm duyệt thông tin. Ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả những nước được coi là “chuẩn mực tự do”, báo chí vẫn vận hành trong khuôn khổ pháp luật, chuẩn mực đạo đức và lợi ích quốc gia. Không có một mô hình “tự do tuyệt đối” nào tồn tại ngoài lý thuyết. Ở Việt Nam, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của Nhân dân. Điều này không phải là hạn chế, mà là định hướng chính trị - xã hội phù hợp với đặc thù chế độ.

Thực tiễn cho thấy, báo chí Việt Nam không hề “câm lặng” như cách Lê Phi ám chỉ trong bài viết. Ngược lại, hàng loạt vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai phạm trong quản lý đã được báo chí phản ánh, góp phần thúc đẩy xử lý kỷ luật và hoàn thiện thể chế. Nếu “không có tự do”, liệu những vụ án lớn, những sai phạm trong bộ máy có được phanh phui công khai? Hay chính điều đó lại chứng minh rằng tự do báo chí ở Việt Nam là tự do trong khuôn khổ, có trách nhiệm, chứ không phải tự do vô pháp, vi phạm đạo đức, quy tắc xã hội dẫn tới hỗn loạn thông tin.

Thứ hai, Lê Phi huyễn hoặc về cái gọi là “vô minh thể chế”. Lê Phi đã mượn ý tưởng, khái niệm về thể chế và thông tin để đưa ra kết luận rằng xã hội Việt Nam bị hạn chế nhận thức do “cấu trúc thông tin”, do thể chế. Nhưng Y đã cố tình lờ đi thực tế rằng nhận thức xã hội không chỉ phụ thuộc vào kênh cung cấp thông tin chính thức, mà còn đến từ nhiều nguồn đa dạng.

Trong bối cảnh hiện nay, internet, mạng xã hội, nền tảng xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, người dân Việt Nam có thể tiếp cận thông tin từ khắp nơi trên thế giới. Chính Lê Phi cũng thừa nhận điều này trong bài viết, nhưng lại rơi vào một nghịch lý: vừa nói “thông tin bị hạn chế”, vừa thừa nhận “ai cũng có thể đọc báo quốc tế, xem YouTube”, v.v. Vậy rốt cuộc là thiếu thông tin hay thừa thông tin?

Thực tế cho thấy, vấn đề của thời đại không phải là thiếu thông tin, mà là thừa thông tin, nhiễu thông tin và thông tin sai lệch. Khi đó, vai trò của hệ thống báo chí chính thống và quản lý thông tin không phải là “làm nghèo nhận thức”, mà là định hướng, sàng lọc và bảo đảm độ tin cậy của thông tin. Nếu buông lỏng hoàn toàn, cái gọi là “đa dạng thông tin” rất dễ biến thành “hỗn loạn thông tin”, nơi tin giả, tin độc hại lấn át sự thật. Khi đó, “vô minh” không phải do thể chế tạo ra, mà do thiếu cơ chế kiểm chứng và dẫn dắt thông tin. Nói cách khác, Lê Phi đã nhìn nhận một chiều khi coi mọi sự quản lý là hạn chế, mà không thấy rằng chính sự thiếu quản lý mới là mảnh đất màu mỡ cho sự sai lệch nhận thức.

Những luận điểm xuyên tạc, vu khống của Lê Phi về vấn đề “không có tự do báo ch픓vô minh thể chế” thực chất dựa trên những tiền đề phiến diện và cách suy luận thiếu toàn diện. Chúng cố tình bỏ qua đặc thù chế độ chính trị - xã hội, đánh tráo khái niệm “tự do” và đơn giản hóa một vấn đề phức tạp thành những kết luận đơn giản dễ gây hiểu lầm. Cái đáng nói không phải là việc đặt vấn đề bởi phản biện luôn là điều cần thiết. Nhưng phản biện mà dựa trên cách nhìn một chiều, phiến diện, quy chụp, vu khống như Lê Phi thì rất cần lên án, đấu tranh, bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Thành công chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là không thể xuyên tạc, phủ nhận

            Chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thành công tốt đẹp. Một tầm cao mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc đã mở ra sau chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử này. Đồng thời, khẳng định sự tin cậy chính trị giữa hai bên được tăng cường, tiếp tục phát huy vai trò gắn kết, định hướng chiến lược và tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới, “đóng góp tích cực cho phát huy truyền thống hữu nghị Việt - Trung, đẩy nhanh xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển, phồn vinh của khu vực và thế giới” như Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc đã công bố ngày 17/4/2026 (Tuyên bố chung năm 2026).

Thành công là không thể phủ nhận và kết quả đạt được từ chuyến thăm Trung Quốc này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện qua lễ đón trọng thị cấp Nhà nước; hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và hội kiến với các lãnh đạo khác của Trung Quốc; các hoạt động dày đặc; chứng kiến Lễ ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác trên các lĩnh vực (kênh Đảng, quốc phong, an ninh, tư pháp, kinh tế, khoa học công nghệ, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, dân sinh, truyền thông và địa phương,…) không chỉ thể hiện thành quả toàn diện mà hai bên đạt được trong chuyến thăm này, mà còn đồng thời bác bỏ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt của tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ; tài khoản fb “Hạt Lúa Kẻ Gai”, “Nhật ký yêu nước”, Trân Văn, Lê Anh, Nguyễn Văn Đài,… khi cố tình kích động dư luận bằng những luận điệu phản động, như: “Tô Lâm lệ thuộc Trung Quốc” nên đã vội đi “bái kiến thiên triều”, “chầu họ Tập”, “nhận sắc phong”, “đi xin chỉ thị”, v.v. 

Thứ nhất, khẳng định chắc chắn rằng, chuyến thăm cấp Nhà nước đến pTrung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không phải vì “lệ thuộc” mà là chủ động “lựa chọn”; không phải đi “bái kiến” mà là “thăm cấp Nhà nước”; không phải “xin chỉ thị” mà là “hội đàm và ký kết”. Bởi thực tế cho thấy, việc lựa chọn thăm Trung Quốc sau khi được Đại hội XIV và Quốc hội khóa XVI bầu làm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ thể hiện rõ tầm nhìn, bản lĩnh, quan điểm ưu tiên đối ngoại, phản ánh xu hướng tăng cường quan hệ giữa hai nước của người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh thế giới nhiều diễn tiến phức tạp và đất nước vươn mình bước vào kỷ nguyên mới, mà còn là hiện thực hóa Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và đường lối đối ngoại của Đại hội XIV. Đồng thời, chuyến thăm này không chỉ củng cố và đưa quan hệ song phương Việt Nam - Trung Quốc lên một tầm cao mới, hiệu quả, thiết thực, sâu sắc hơn, mà còn thêm một lần khẳng định: “Việt Nam luôn coi việc phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; ủng hộ các sáng kiến toàn cầu của Trung Quốc về phát triển, an ninh, văn minh và quản trị; nhất quán thực hiện chính sách “một Trung Quốc” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 15/4/2026.

Thứ hai, việc bóp méo sự thật, xuyên tạc bản chất quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nói chung, những chuyến thăm Trung Quốc của các đồng lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, có Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói riêng là thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động, như: tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ; tài khoản fb “Hạt Lúa Kẻ Gai”, “Nhật ký yêu nước”, Trân Văn, Lê Anh, Nguyễn Văn Đài,… ưa dùng để tuyên truyền có chủ đích nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Tuy nhiên, thủ đoạn tuyên truyền,  chống phá đen tối, xảo quyệt, kích động dư luận với tâm lý “bài Trung” cũng không thể bôi đen được sự thật và càng không thể phủ nhận được sự đón tiếp trọng thị; tình hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai Đảng, hai nước; sự gắn bó của tình anh em giữa hai dân tộc “có núi liền núi, sông liền sông”, có mối tình hữu nghị đặc biệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, bao thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân hai dân tộc dày công vun đắp.

Việc Tuyên bố chung năm 2026 khẳng định “hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc cùng nỗ lực thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước phát triển mạnh mẽ, thể hiện với thế giới sức sống mạnh mẽ và triển vọng tươi sáng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai bên cần kiên trì lý tưởng và ý chí, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình của mỗi nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển chất lượng cao, tăng cường đoàn kết, hợp tác, học hỏi lẫn nhau, không ngừng làm sâu sắc nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản, quy luật về xây dựng chủ nghĩa xã hội, quy luật phát triển của nhân loại, cùng bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa của hai nước, cùng chung tay nỗ lực vì sự nghiệp cao cả cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại, luôn đi tiên phong trước thời đại, tiến về phương hướng đúng đắn trong tiến trình lịch sử với sự thay đổi sâu sắc của tình hình thế giới” đã cho thấy cả Trung Quốc và Việt Nam cùng coi trọng chuyến thăm này.

Thứ ba, báo chí Trung Quốc, Việt Nam đưa tin đậm nét chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc, nhất là nội dung toàn diện, sâu sắc của Tuyên bố chung năm 2026; trong đó, có việc cho rằng “Việt Nam - Trung Quốc cùng chung chí hướng và con đường, chia sẻ tương lai chung, phát triển tốt quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, toàn cục và lịch sử, là sự lựa chọn chiến lược chung của hai nước. Trung Quốc nhấn mạnh kiên trì chính sách hữu nghị với Việt Nam, luôn coi Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng” và “hai bên nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường; thúc đẩy thương mại song phương gắn với kết nối hạ tầng, kết nối logistics và kết nối thị trường, phát triển mạnh xây dựng các hành lang kinh tế qua biên giới, các trung tâm logistics, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, cụm công nghiệp tại khu vực biên giới và các tuyến vận tải đa phương thức”,… chính là minh chứng cho thấy lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt lên trên hết, trước hết, chứ không phải “chọn” đi thăm Trung Quốc để bảo vệ “lợi ích nhóm cầm quyền” và quên đi “Hoàng Sa, Trường Sa”; là góp phần vào việc giữ gìn hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực và trên thế giới, chứ không phải Việt Nam lún sâu vào quỹ đạo, vòng xoáy “lệ thuộc Bắc Kinh” như bịa đặt.

Vì thế, kết quả đạt được của chuyến thăm này đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc vô căn cứ, bịa đặt trắng trợn, kích động tâm lý “bài Trung” cực đoan và bẻ cong sự thật về mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc cũng như chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)