Feb 3, 2026

Không thể đánh tráo bản chất, xuyên tạc vị trí, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam

        Trước, trong thời gian diễn ra Đại hội XIV của Đảng, mức độ và tính chất các hoạt động chống phá của các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động có chiều hướng phức tạp, tinh vi hơn, đặc biệt là trên không gian mạng. Tuy nhiên, sự thành công của Đại hội là minh chứng thuyết phục bác bỏ những luận điệu sai trái.

Những ngày qua, nhân kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026), các thế lực thù địch, tổ chức phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị lại tiếp tục luận điệu tuyên truyền chống phá, bôi nhọ thành quả, vai trò lãnh đạo của Đảng.

Những luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng

Gần đây, một số bài viết đưa ra xu hướng tư tưởng của những người tự xưng “đi tìm con đường cứu nguy cho dân tộc”, “tìm con đường thứ 3”… và ngụy biện rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì đất nước mới phát triển”, v.v.

Họ tìm cách ngụy tạo, cắt dán thông tin, đổi trắng thay đen, bịa đặt những chi tiết không đúng sự thật hòng bôi nhọ danh dự, uy tín, lịch sử hào hùng, vẻ vang của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng. Lợi dụng mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản trên thế giới, các thế lực thù địch đưa ra ý kiến bình luận, so sánh sai lệch về lịch sử Đảng ta với lịch sử các đảng cộng sản anh em trên thế giới, quy chụp Đảng ta là “rập khuôn”, “bắt chước”.

Từ đó, họ đánh tráo bản chất, xuyên tạc về sự lựa chọn con đường XHCN tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 là một “sai lầm lịch sử”. Hướng lái, xuyên tạc từ sai lầm này đến sai lầm trong việc đưa ra Chính cương, Sách lược vắn tắt là “giáo điều”, “sao chép” máy móc mô hình đấu tranh giai cấp từ bên ngoài, gây ra sự chia rẽ dân tộc, đưa đất nước vào con đường đấu tranh giai cấp cực đoan, trái với truyền thống dân tộc và là “nguyên nhân của những đau thương trong lịch sử”. Qua đó, các thế lực thù địch, các tổ chức phản động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị phủ nhận tính tất yếu khách quan của việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phủ nhận tính chính nghĩa, thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho đây chỉ là cuộc “đảo chính”, là “sự ăn may” tại thời điểm Nhật đảo chính Pháp và đầu hàng đồng minh tạo nên một “khoảng trống quyền lực”. Xuyên tạc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược là sai lầm, ngụy biện rằng không nhất thiết phải tiến hành chiến tranh cách mạng, không nhất thiết phải sử dụng bạo lực để “tránh việc gây chết chóc cho người dân vô tội, cho đồng bào ở cả hai miền Nam - Bắc”. Họ phủ nhận nỗ lực, thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới, miệt thị do Đảng lãnh đạo nên Việt Nam ngày càng tụt hậu, đất nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển, xã hội không có tự do, dân chủ, v.v.

Những luận điệu này thực chất chỉ là “bổn cũ soạn lại”, mang tính cũ mòn, sáo rỗng nhưng họ chỉ “hâm nóng” vào các dịp Việt Nam kỷ niệm ngày thành lập Đảng hay tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng. Về bản chất, các luận điệu đó hoàn toàn sai trái và nguy hiểm bởi đánh tráo bản chất, xuyên tạc về vai trò, ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai trò của Đảng đối với công cuộc lãnh đạo dân tộc giải phóng đất nước, đánh đuổi xâm lăng, lật đổ chế độ áp bức, bóc lột, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất giang sơn.

Hiện nay, dưới những vỏ bọc như “phản biện xã hội”, “góp ý xây dựng”, “lo cho tương lai đất nước”,… nhiều đối tượng đã cố tình bóp méo bản chất các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong đổi mới, phát triển đất nước, xuyên tạc rằng đường lối phát triển đất nước “thiếu thực tế”, “lệch hướng”, “không theo kịp thời đại”, làm méo mó những quan điểm có tầm nhìn chiến lược của Đảng; gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước.

Những luận điệu sai trái, xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động hòng làm thay đổi nhận thức, tâm lý, tình cảm của cán bộ, đảng viên và quần chúng, gây hoài nghi, mất niềm tin vào lịch sử của Đảng, phủ nhận công lao vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó làm suy yếu nền tảng tư tưởng của Đảng, kích động tâm lý nghi ngờ trong nội bộ, gây chia rẽ giữa Đảng với nhân dân. Một khi niềm tin bị xói mòn, sự đồng thuận xã hội bị phá vỡ thì đó chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực chống phá thúc đẩy những kịch bản chính trị nguy hiểm như đã từng diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, được gọi là “cách mạng màu”.

Lịch sử đã chọn Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo

Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt Nam, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần Vương” do các văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị đàn áp và lần lượt tan rã. Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại liên tục nổ ra như: Phong trào Đông Du (1905), Việt Nam Quang phục Hội (1912) do Phan Bội Châu khởi xướng; phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động (1906-1908); phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn Quyền và nhiều nhân sĩ yêu nước lãnh đạo. Tất cả các phong trào đều lần lượt thất bại bởi sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù.

Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều tổ chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam được thành lập và đều có khuynh hướng, mục tiêu đấu tranh đòi độc lập dân tộc như Việt Nam Nghĩa đoàn, Hội Phục Việt, Đảng Thanh niên Việt Nam, Việt Nam Quốc dân Đảng, Hội kín Nam Kỳ, v.v. Đặc biệt, nửa cuối năm 1929, đầu năm 1930, ở Việt Nam xuất hiện 3 tổ chức cộng sản là Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Sự ra đời của 3 tổ chức cộng sản đã tiếp tục thúc đẩy phong trào công nhân và phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết, làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, điều này nếu để lâu sẽ không có lợi cho cách mạng Việt Nam.

Ngày 3/2/1930, dưới sự lãnh đạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3 tổ chức cộng sản nói trên. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tuân theo quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam đã giải quyết triệt để cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới trong lịch sử xây dựng, phát triển đất nước.

Sứ mệnh và vai trò của Ðảng Cộng sản Việt Nam đã được khẳng định ngay từ khi mới thành lập, được chỉ rõ trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt và nay đang thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vai trò lãnh đạo của Đảng đã được thể hiện trong những năm 30 của thế kỷ XX đến nay đã đánh dấu bằng các mốc son chói lọi. Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á; thắng lợi vang dội của hai cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc, giải phóng và thống nhất đất nước; những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước.

Khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới

Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh vai trò lịch sử và bản lĩnh của một Đảng cầm quyền chân chính: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng thời, không ngừng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo để đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Có thể khẳng định, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, với hệ thống nghị quyết chiến lược mang tính kiến tạo, đất nước ta đang đứng trước vận hội phát triển mới. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc không phải là sự thay đổi con đường, mà là sự phát triển ở tầm cao mới của con đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội.

Từ nền móng vững chắc là thế và lực đã được tạo dựng, Đại hội XIV đã vạch ra tầm nhìn dài hạn để dẫn dắt dân tộc ta vững tin dưới lá cờ vinh quang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục tiêu: Đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao.

Để có thể gánh vác sứ mệnh lớn lao ấy, đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương khóa mới phải thật sự là một tập thể đoàn kết và vững mạnh, trí tuệ và bản lĩnh; dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và dám chịu trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân. Sức mạnh của Đảng, được bồi đắp thông qua quá trình lãnh đạo có tính hệ thống, kiên định về mục tiêu nhưng linh hoạt trong phương thức, cùng sự đoàn kết của toàn dân tộc, sự đồng thuận và tham gia ngày càng sâu của toàn xã hội trở thành động lực mạnh mẽ để Đảng Cộng sản Việt Nam vững vàng gánh vác trọng trách lịch sử trong thời đại mới.

Trong bối cảnh thế giới biến động, cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn ra sâu rộng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, Đại hội XIV thể hiện rõ bản lĩnh cầm quyền vững vàng của Đảng: Không dao động trước biến động, không né tránh khó khăn, không thỏa hiệp với những lực cản của sự phát triển. Đại hội nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình đất nước, chỉ rõ cả thành tựu và hạn chế, từ đó hoạch định con đường phát triển của đất nước bằng tư duy tỉnh táo, tinh thần trách nhiệm cao và tầm nhìn cho một kỷ nguyên mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam, hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực, chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ, thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”.

Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng, với niềm tin mới và khí thế mới, toàn Đảng, toàn dân ta bày tỏ niềm tin vào kết quả Đại hội XIV cũng như quyết tâm biến Nghị quyết Đại hội thành động lực hành động, góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới. Thực tiễn đó là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ các thông tin sai trái, các luận điệu quy chụp, phủ nhận thành tựu trên các lĩnh vực, làm thất bại ý đồ chính trị hòng hạ thấp hình ảnh, uy tín, danh dự đất nước và con người Việt Nam, chia rẽ đại đoàn kết toàn dân tộc./.

(Trích nguồn: huongsenviet.com)

 

Feb 2, 2026

Phát triển kinh tế tư nhân không đồng nghĩa với từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa

        Trong quá trình đẩy mạnh công cuộc đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta luôn nhất quán khẳng định vai trò quan trọng của kinh tế tư nhân. Tuy nhiên, thời gian gần đây, các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị đã lợi dụng chủ trương này để xuyên tạc, bóp méo bản chất đường lối của Đảng, cho rằng việc ban hành và triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân là “sự thừa nhận thất bại của kinh tế nhà nước”, “bước lùi về con đường tư bản chủ nghĩa”, thậm chí quy kết Đảng ta “từ bỏ mục tiêu xã hội chủ nghĩa”. Đây là những luận điệu sai trái, phản động, cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

May hàng xuất khẩu tại một donh nghiệp tư nhân
ở thành phố Hải Phỏng (Ảnh: TTXVN)

1. Đảng, Nhà nước ta luôn coi trọng xây dựng và hoàn thiện thể chế, môi trường đầu tư, kinh doanh bình đẳng, minh bạch, thuận lợi để kinh tế tư nhân phát triển đúng hướng. Nghị quyết số 68-NQ/TW nhấn mạnh yêu cầu tháo gỡ các rào cản, định kiến, tạo điều kiện cho kinh tế tư nhân tiếp cận bình đẳng các nguồn lực về vốn, đất đai, khoa học - công nghệ, nhân lực; đồng thời khuyến khích hình thành và phát triển các doanh nghiệp tư nhân lớn, có năng lực cạnh tranh khu vực và quốc tế, tham gia sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đây không chỉ là giải pháp phát triển kinh tế trước mắt, mà còn là định hướng chiến lược lâu dài nhằm xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, gắn với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế.

Cùng với việc khuyến khích phát triển, Đảng và Nhà nước đặc biệt nhấn mạnh trách nhiệm xã hội của khu vực kinh tế tư nhân. Kinh tế tư nhân không chỉ nhằm mục tiêu lợi nhuận đơn thuần, mà phải gắn với lợi ích của người lao động, của cộng đồng và của quốc gia, dân tộc. Doanh nghiệp tư nhân được khuyến khích làm giàu hợp pháp, nhưng đồng thời phải tuân thủ pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế, bảo đảm quyền lợi người lao động, tham gia giải quyết các vấn đề xã hội, bảo vệ môi trường, đóng góp tích cực cho phát triển bền vững đất nước. Đây chính là điểm khác biệt căn bản giữa phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam với mô hình kinh tế tư bản chủ nghĩa tự do mà các thế lực thù địch cố tình đánh đồng, xuyên tạc.

2. Thực tiễn gần 40 năm đổi mới đã chứng minh sâu sắc tính đúng đắn, khoa học và cách mạng của chủ trương phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Trong mọi giai đoạn phát triển, dù bối cảnh trong nước và quốc tế có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó lường, Đảng ta vẫn kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, đồng thời luôn chủ động, sáng tạo trong việc lựa chọn mô hình, cơ chế và hình thức tổ chức kinh tế phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất và yêu cầu thực tiễn của đất nước. Chính sự kiên định về mục tiêu chiến lược gắn với linh hoạt, sáng tạo về sách lược đã tạo nên bản lĩnh đổi mới đặc thù của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Việc ban hành và triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW thể hiện rõ quyết tâm chính trị cao của Đảng trong việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khơi dậy mạnh mẽ tiềm năng, sức sáng tạo của khu vực kinh tế tư nhân – một động lực quan trọng của nền kinh tế. Nghị quyết không chỉ góp phần củng cố niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân vào đường lối phát triển của Đảng và Nhà nước, mà còn tạo môi trường đầu tư, kinh doanh ngày càng minh bạch, bình đẳng, an toàn, thúc đẩy tinh thần khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Qua đó, đóng góp tích cực vào việc tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, bảo đảm hài hòa giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội.

Ở tầm chiến lược, Nghị quyết 68-NQ/TW cùng với hệ thống các chủ trương, chính sách lớn của Đảng tiếp tục khẳng định rõ con đường phát triển nhanh và bền vững mà Việt Nam đã lựa chọn; đồng thời là minh chứng sinh động cho tính ưu việt của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa – một mô hình phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam. Đây là mô hình kinh tế không rập khuôn, sao chép bất kỳ mô hình nào, mà được hình thành và phát triển trên cơ sở vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam. Qua đó, tiếp tục khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo sự nghiệp đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Tóm lại, có thể khẳng định chắc chắn rằng: Phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68-NQ/TW không làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, mà trái lại là con đường đúng đắn để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam trong điều kiện mới. Mọi luận điệu xuyên tạc chủ trương này đều là sai trái, phản khoa học và không thể phủ nhận được thực tiễn phát triển năng động của đất nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao nhận thức, kiên định niềm tin vào đường lối đổi mới của Đảng; chủ động đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch bằng lý luận sắc bén và thực tiễn sinh động./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jan 29, 2026

Nhận diện thủ đoạn “đào bới hồ sơ” và kích động so sánh cán bộ sau Đại hội XIV của Đảng

      Tre Việt - Sau Đại hội XIV của Đảng, trong bối cảnh đất nước bước vào nhiệm kỳ phát triển mới với nhiều thời cơ và thách thức đan xen, các thế lực thù địch tiếp tục gia tăng hoạt động chống phá với thủ đoạn ngày càng tinh vi, trực diện hơn. Trọng tâm mà họ hướng tới là làm suy giảm niềm tin chính trị, phá vỡ sự thống nhất và đồng thuận xã hội đối với công tác cán bộ và kết quả Đại hội.

     Đáng chú ý, bên cạnh âm mưu, thủ đoạn xuyên tạc quen thuộc đối với công tác cán bộ của Đảng, trên không gian mạng nổi lên hai thủ đoạn được họ sử dụng thường xuyên, có chủ ý, đó là: cố tình “đào bới” hồ sơ, quá trình công tác, phát ngôn cũ của cán bộ; đồng thời, kích động tâm lý so sánh cán bộ, tạo nên sự nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân, nhằm hạ thấp uy tín đội ngũ cán bộ vừa được Đại hội XIV lựa chọn. Đây không phải là những hiện tượng ngẫu nhiên, càng không phải là phản biện xã hội lành mạnh, mà là các bước đi có tính toán nhằm tác động trực tiếp vào nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, do đó cần được nhận diện đầy đủ và kiên quyết đấu tranh phản bác.

     Thủ đoạn “đào bới” hồ sơ, quá trình công tác và phát ngôn cũ của cán bộ thực chất là một hình thức bôi nhọ trá hình. Họ cố tình lục lọi thông tin quá khứ, cắt xén phát biểu, bóp méo bối cảnh lịch sử, nhiệm vụ cụ thể để suy diễn, quy kết một cách chủ quan về phẩm chất, lập trường chính trị của cán bộ. Đáng chú ý, họ thường “pha trộn” thông tin đúng với thông tin sai, thật với giả, tạo ra “vùng xám” nhận thức, khiến dư luận khó phân biệt, từ đó nảy sinh hoài nghi, dao động. Cần khẳng định rõ rằng, đây là hành vi có chủ đích nhằm hạ thấp uy tín cá nhân cán bộ, sâu xa hơn là phủ nhận tính đúng đắn của công tác cán bộ và kết quả Đại hội XIV của Đảng.

     Nguy hiểm hơn, thủ đoạn kích động so sánh, gieo nghi ngờ cán bộ được triển khai như một bước đi tiếp theo, tinh vi và có sức lan tỏa mạnh. Các thế lực thù địch cố tình dựng lên những “hình tượng cán bộ khác” để đối lập, so sánh một cách cảm tính, phiến diện, dựa trên các tiêu chí bề nổi như tuổi tác, bằng cấp, hình ảnh cá nhân, nhằm tạo ra các nhận xét chủ quan kiểu “người xứng đáng thì không được bầu”, người được bầu thì “chưa xứng đáng”, “chưa thuyết phục”. Thực chất, họ cố tình tách công tác cán bộ khỏi nguyên tắc, quy trình, tiêu chuẩn và yêu cầu chiến lược của Đảng, từng bước gieo mầm chia rẽ, gây tâm lý phân tâm, nghi ngờ trong nội bộ và xã hội, làm suy giảm sự thống nhất và đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân về công tác cán bộ Đại hội.

     Thực tiễn đã chứng minh, việc Đại hội XIV của Đảng bầu ra Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV là kết quả của một quá trình dân chủ, chặt chẽ, nhiều vòng, nhiều bước, đặt dưới sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng và sự giám sát của Nhân dân. Đại hội đã lựa chọn Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV gồm 180 Ủy viên chính thức và 20 Ủy viên dự khuyết. Đây là những đồng chí hội tụ đầy đủ phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, trí tuệ và năng lực thực tiễn, được Đảng và Nhân dân tin tưởng giao phó trọng trách lãnh đạo đất nước trong giai đoạn phát triển mới. Vì vậy, mọi luận điệu phủ nhận uy tín của đội ngũ cán bộ được Đại hội lựa chọn không chỉ là sự xuyên tạc công tác cán bộ, mà còn trực tiếp phủ nhận niềm tin của hơn 5,6 triệu đảng viên cùng sự đồng thuận, kỳ vọng và gửi gắm của Nhân dân cả nước.

     Bên cạnh đó, cần thống nhất nhận thức rằng, công tác cán bộ không phải là sự cộng gộp giản đơn các yếu tố riêng lẻ, mà là một quá trình đánh giá tổng thể, liên tục, đặt trong sự vận động, phát triển của từng cá nhân cán bộ qua rèn luyện, cống hiến và thử thách trong thực tiễn cách mạng. Việc cố tình “đào bới” hồ sơ, cố tình cắt ghép các sự việc đã qua, tách khỏi bối cảnh lịch sử và nhiệm vụ cụ thể để suy diễn, quy kết phẩm chất, lập trường không phản ánh đúng bản chất khoa học, khách quan của công tác cán bộ. Những cách tiếp cận này không dựa trên tiêu chuẩn, quy trình và đánh giá chính thức của tổ chức đảng, mà dựa trên thao tác truyền thông cảm tính, cắt khúc thông tin, pha trộn đúng - sai nhằm tạo nghi ngờ trong xã hội. Đây không phải là phản biện mang tính xây dựng, mà là sự xuyên tạc có chủ đích, làm lệch chuẩn nhận thức về cán bộ và công tác cán bộ của Đảng.

     Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang tập trung triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, sự thống nhất ý chí và hành động của toàn hệ thống chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Việc cố tình dựng lên các so sánh cảm tính, đối lập cá nhân, lấy những tiêu chí bề nổi để gieo nghi ngờ về cán bộ được phân công, bổ nhiệm không chỉ đi ngược lại nguyên tắc tập trung dân chủ, mà còn trực tiếp làm nhiễu loạn nhận thức xã hội, xói mòn niềm tin và làm suy giảm sự đồng thuận trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân - yếu tố then chốt bảo đảm việc tổ chức thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng.

     Sau Đại hội XIV của Đảng, việc giữ vững niềm tin chính trị và sự thống nhất trong toàn xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với quá trình tổ chức thực hiện nghị quyết. Mọi thủ đoạn “đào bới” hồ sơ, kích động so sánh, gieo nghi ngờ cán bộ của các thế lực thù địch đều nhằm làm suy giảm uy tín đội ngũ cán bộ và phá vỡ sự đồng thuận xã hội. Kiên quyết nhận diện, đấu tranh bác bỏ các luận điệu này không chỉ là bảo vệ danh dự, uy tín cán bộ, mà còn là bảo vệ kết quả Đại hội XIV của Đảng, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích căn bản, lâu dài của đất nước./.


Jan 28, 2026

Không ồn ào không có nghĩa là không đổi mới: Đại hội XIV và nghịch lý truyền thông!

          Trong không gian truyền thông hiện đại, nơi nhịp độ thông tin ngày càng nhanh và sự chú ý của công chúng bị phân mảnh bởi mạng xã hội, một hiện tượng đáng lo ngại đang hình thành: tâm lý “nghiện mới lạ” và “đòi hỏi cú sốc”. Không ít người tiếp nhận thông tin đã quen với việc đánh giá một sự kiện chính trị bằng mức độ gây chú ý tức thời, bằng những tuyên bố đột phá được trình bày như bước ngoặt kịch tính. Chính trong bối cảnh đó, các luận điệu xuyên tạc, chống phá Đại hội XIV đã tìm được mảnh đất để nảy nở, khi chúng vin vào sự thiếu kiên nhẫn của một bộ phận dư luận để gán ghép, quy chụp rằng “Đại hội không có gì mới”, từ đó hạ thấp ý nghĩa, vai trò và giá trị lịch sử của Đại hội.

Đây không phải là nhận định ngẫu nhiên, càng không phải đánh giá học thuật, mà là một thủ đoạn truyền thông được thiết kế có chủ ý nhằm đánh tráo bản chất của hoạt động lãnh đạo chính trị với sản phẩm giải trí ngắn hạn.

Thực chất, tâm lý “khát mới” không phải tự nhiên trở thành vấn đề chính trị, nhưng nó bị các đối tượng chống phá khai thác triệt để. Họ cố tình dựng lên một kỳ vọng sai lệch rằng Đại hội Đảng phải đưa ra những quyết định gây sốc, những thay đổi đột ngột, thậm chí những tuyên bố đảo chiều chính sách thì mới được coi là “đổi mới”. Khi Đại hội XIV được tổ chức đúng bản chất của một sự kiện chính trị - tư tưởng trọng đại, với sự điềm tĩnh, chặt chẽ và tính kế thừa cao, lập tức họ quay sang phủ nhận sạch trơn, coi sự ổn định là biểu hiện của trì trệ. Sự trượt giọng này không phải là nhầm lẫn trong nhận thức, mà là sự chuyển giọng có chủ đích: từ thổi phồng kỳ vọng sang gieo rắc thất vọng, từ đó tạo ra nghi ngờ về năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu nhìn sâu vào bản chất, có thể thấy rõ rằng Đại hội Đảng chưa bao giờ được thiết kế để trở thành nơi tạo ra “cú sốc” truyền thông. Đại hội là nơi tổng kết một chặng đường phát triển, đánh giá toàn diện bối cảnh trong nước và quốc tế, xác lập những định hướng chiến lược lớn, bảo đảm tính liên tục trong lãnh đạo và quản lý xã hội. Trong khoa học chính trị, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển, sự ổn định và nhất quán không phải là dấu hiệu của bảo thủ, mà là điều kiện tiên quyết để cải cách dài hạn có thể triển khai thành công. Việc các đối tượng xuyên tạc cố tình đồng nhất đổi mới với xáo trộn cho thấy họ không quan tâm đến hiệu quả thực chất, mà chỉ nhằm tạo ra cảm giác bất mãn giả tạo trong dư luận.

Lịch sử các kỳ Đại hội Đảng đã chứng minh rất rõ một điều: giá trị của Đại hội không hiện hình ngay tại thời điểm diễn ra, mà chỉ bộc lộ đầy đủ qua nhiều năm triển khai. Đại hội VI mở ra công cuộc đổi mới không phải bằng những tuyên bố giật gân, mà bằng sự điều chỉnh có tính chiến lược về tư duy phát triển. Các Đại hội sau đó tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện và mở rộng đổi mới trong từng lĩnh vực, từ kinh tế, xã hội đến xây dựng Đảng. Ngay cả những nội dung ngày nay được nhìn nhận là bước ngoặt lịch sử, tại thời điểm công bố cũng từng bị một số ý kiến hoài nghi vì không tạo ra “hiệu ứng tức thì”. Điều đó cho thấy, việc vội vàng kết luận Đại hội XIV “không có gì mới” không chỉ thiếu cơ sở khoa học, mà còn lặp lại đúng kiểu sai lầm nhận thức đã từng xuất hiện trong quá khứ.

Một yếu tố xuyên suốt làm nên thành công của các kỳ Đại hội trước đây chính là sự tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, quy định trong Đảng, gắn liền với việc phát huy dân chủ nội bộ và giữ vững đoàn kết, thống nhất. Công tác chuẩn bị văn kiện, nhân sự, tổ chức thảo luận đều được tiến hành bài bản, chặt chẽ, trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. Dân chủ trong Đảng không phải là sự tùy tiện hay tranh cãi vô nguyên tắc, mà là dân chủ gắn với kỷ luật, bảo đảm mọi quyết sách lớn đều là kết quả của trí tuệ tập thể. Chính nền tảng này đã giúp Đảng duy trì được sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh lãnh đạo đất nước trong những giai đoạn đầy biến động.

Các luận điệu chống phá thường xuyên bóp méo khái niệm dân chủ trong Đảng, cố tình mô tả quá trình này như sự áp đặt một chiều. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh điều ngược lại. Nếu không có cơ chế dân chủ nội bộ và kỷ luật chặt chẽ, Việt Nam khó có thể duy trì ổn định chính trị trong nhiều thập kỷ, vượt qua khủng hoảng kinh tế khu vực, toàn cầu, đại dịch và những biến động địa chính trị phức tạp. Sự ổn định đó không phải là trạng thái tĩnh, mà là nền tảng để thích ứng linh hoạt, điều chỉnh chính sách khi cần thiết mà không rơi vào hỗn loạn.

Lòng tin của Nhân dân chính là thước đo khách quan nhất đối với giá trị của Đại hội XIV. Lòng tin ấy không được xây dựng bằng khẩu hiệu hay những tuyên bố hoa mỹ, mà bằng kết quả cụ thể trong đời sống xã hội. Tăng trưởng kinh tế được duy trì trong bối cảnh thế giới nhiều bất ổn, an sinh xã hội được mở rộng, xóa đói giảm nghèo đạt kết quả bền vững, hạ tầng được đầu tư đồng bộ, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng nâng cao – tất cả những điều đó là minh chứng sinh động cho hiệu quả của đường lối lãnh đạo. Trong bối cảnh ấy, những luận điệu xuyên tạc về việc Đại hội “không có gì mới” gần như không tạo được tác động xã hội đáng kể, bởi chúng va chạm trực tiếp với trải nghiệm thực tế của người dân.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều học giả và cơ quan báo chí quốc tế đánh giá cao con đường phát triển của Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của ổn định chính trị và sự liên tục trong lãnh đạo. Các phân tích quốc tế thường chỉ ra rằng, trong khi nhiều quốc gia rơi vào vòng xoáy bất ổn do thay đổi chính sách đột ngột, Việt Nam duy trì được tính dự đoán và nhất quán, qua đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư và xã hội. Những đánh giá này bác bỏ trực tiếp quan điểm cho rằng “không có gì mới” đồng nghĩa với “không có giá trị”. Trên thực tế, trong nghiên cứu phát triển, chính sự nhất quán và ổn định mới là điều kiện để cải cách sâu rộng phát huy hiệu quả lâu dài.

Trước bối cảnh đó, việc chính quyền kiên quyết xử lý các đối tượng tung tin giả, xuyên tạc, chống phá Đại hội XIV, dù ở trong hay ngoài nước, là yêu cầu khách quan để bảo vệ môi trường chính trị - xã hội lành mạnh. Tự do thông tin không thể bị lợi dụng để bịa đặt, bóp méo sự thật và gây tổn hại đến lợi ích quốc gia. Xử lý nghiêm thông tin giả không phải là hạn chế quyền tự do, mà là bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin đúng đắn của đại đa số người dân, đồng thời ngăn chặn những hệ lụy xã hội nguy hiểm từ sự lan truyền của tin sai lệch.

Xét đến cùng, cái mới thực sự của Đại hội XIV không nằm ở sự ồn ào hay những khẩu hiệu gây chú ý, mà ở khả năng tiếp nối có chọn lọc, ở sự kiên định mục tiêu đi đôi với linh hoạt trong phương thức thực hiện, ở việc củng cố niềm tin xã hội trong một thế giới đầy biến động. Sự thiếu kiên nhẫn của một bộ phận dư luận và các thế lực chống phá không thể trở thành thước đo cho giá trị của một sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử. Cải cách không phải là màn trình diễn, đổi mới không đồng nghĩa với xáo trộn, và Đại hội XIV, trong sự điềm tĩnh và nhất quán của mình, đang thể hiện đúng bản chất ấy./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

 

“Công dân số” - Sự thật bị bóp méo

         Lợi dụng việc Bộ Công an đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết phát triển công dân số, trong đó có đề xuất triển khai hệ thống điểm công dân số trên VNeID, các thế lực thù địch lại “được đà” tung ra những luận điệu xuyên tạc với mưu đồ chống phá thâm độc. Điển hình như trên trang Saigonnhonews, dưới tiêu đề đầy tính kích động “Xếp hạng công dân: Đòn sinh tử của Bộ Công an trước đại hội”, Minh Hải đã rêu rao rằng “Bộ Công an ngày càng công khai từng bước thay thế vai trò của Chính phủ trong việc định hình phương thức quản trị xã hội bằng sữ liệu và kỹ thuật số” và coi đề xuất “chấm điểm công dân trên VNEID là chiến lược kiểm soát toàn bộ xã hội”. Phải khẳng định rằng, đây là một nhận định hoàn toàn vô căn cứ, một góc nhìn trái chiều, là thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ khối đoàn kết trong hệ thống chính trị, gieo rắc sự hoang mang, hoài nghi trong nhân dân.

          1. Bộ Công an không thay thế vai trò của Chính phủ. Trong nguyên tắc vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc xây dựng chính sách, pháp luật là một quy trình khoa học, minh bạch và chặt chẽ. Trong quá trình đó, các bộ, ngành có trách nhiệm chủ động nghiên cứu, xây dựng dự thảo, đề xuất chính sách thuộc lĩnh vực được phân công quản lý, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bộ Công an với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ, có chức năng tham mưu, thực thi và quản lý công tác bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội. Do đó, việc Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng, dự thảo Nghị quyết phát triển công dân số, trong đó có đề xuất triển khai hệ thống điểm công dân số trên VNeID hoàn toàn nằm trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định và Chính phủ phê duyệt.

        Cần phải hiểu rõ rằng, trong kỷ nguyên số, dữ liệu chính là “trái tim” của hệ điều hành quốc gia. Quản trị xã hội hiện đại không thể dựa trên những phương thức thủ công lỗi thời mà phải dựa trên dữ liệu thực, chính xác và được cập nhật liên tục. Việc các cơ quan Nhà nước nghiên cứu công cụ quản lý mới là một tất yếu khách quan nhằm tối ưu hóa việc phục vụ nhân dân và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi công dân. Thực chất, Bộ Công an đang đóng vai trò là “kiến trúc sư hạ tầng”, nỗ lực xây dựng một nền tảng số dùng chung cho cả hệ thống chính trị. Khi “hạ tầng dữ liệu” được thông suốt, các bộ ngành từ Tài chính, Y tế đến Giáo dục mới có thể thực hiện chức năng chuyên ngành một cách hiệu quả, minh bạch và chính xác hơn. Do đó, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đang được Bộ Công an triển khai, thực hiện chính là nỗ lực phụng sự cho cho Tổ quốc, phục sự Nhân dân. 

          Thực tế đã chứng minh, nhờ sự quyết liệt của Bộ Công an trong việc số hóa, hàng triệu người dân đã tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí khi thực hiện thủ tục hành chính. Bộ Công an “không thay thế vai trò của Chính phủ” hay “tự ý định hình phương thức quản trị xã hội bằng dữ liệu” mà được Chính phủ phê duyệt để cùng kiến tạo một diện mạo mới cho đất nước: Hiện đại hơn, an toàn hơn và minh bạch hơn.

        2. Vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi và nâng cao năng lực số của người dân trong kỷ nguyên số. Luận điệu “Đề xuất chấm điểm công dân là chiến lược kiểm soát toàn bộ xã hội” và “là đòn quyền lực nhắm thẳng vào Đại hội XIV” của Minh Hải đã lộ rõ bản chất xuyên tạc, chống phá. Cần khẳng định rằng, đề xuất của Bộ Công an xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, nhằm phục vụ người dân tốt hơn, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đơn giản hóa thủ tục hành chính và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong môi trường số; hướng tới đánh giá mức độ sẵn sàng, mức độ tham gia và khả năng thụ hưởng dịch vụ số của công dân, qua đó giúp Nhà nước có căn cứ khoa học để thiết kế chính sách phù hợp, thu hẹp khoảng cách số, hỗ trợ các nhóm yếu thế. 

         Trong tổng thể quản lý xã hội thời đại công nghệ số, việc đánh giá mức độ tham gia và năng lực số của công dân là một xu hướng tất yếu và khách quan, một số quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Italia đã triển khai việc “chấm điểm” người dân, với nhiều hình thức khác nhau và đã đem lại kết quả tích cực. Hơn nữa, một sự thật mà những kẻ xuyên tạc cố tình lờ đi chính là: nội dung “chấm điểm và xếp hạng công dân” hiện mới chỉ dừng lại ở mức độ dự thảo đề xuất, đang trong quá trình lấy ý kiến rộng rãi để tìm kiếm phương án tối ưu. 

         Trong một xã hội dân chủ và pháp quyền, việc xuất hiện nhiều ý kiến, phương án khác nhau là biểu hiện của một quy trình xây dựng chính sách lành mạnh và khoa học. Thế nhưng, Minh Hải đã bất chấp thực tế đó để hiểu sai bản chất chất nhằm mục đích duy nhất là xuyên tạc, bóp méo sự thật gây hoài nghi trong Nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

        Tóm lại, quản trị xã hội bằng công nghệ là xu thế tất yếu của thời đại. Mỗi công dân cần tỉnh táo, nhận diện rõ những luận điệu xuyên tạc. Chúng ta không chấp nhận sự kiểm soát vô lý, nhưng chúng ta ủng hộ sự minh bạch và tôn vinh những giá trị chuẩn mực của một “Công dân số” trách nhiệm./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Jan 26, 2026

Thành công của Đại hội XIV là sự phủ nhận đối với các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch

            Ngay trước thềm Đại hội XIV của Đảng trong thời gian chỉ còn ít ngày diễn ra Đại hội, các thế lực thù địch, phản động vẫn lu loa lên rằng: “ mô hình lãnh đạo của Đảng là lỗi thời, cản trở phát triển, đi ngược lại lợi ích của nhân dân nên không cần tổ chức Đại hội Đảng”. Cách thời điểm diễn ra Đại hội hàng năm, các lực lượng chống phá Việt Nam đã mở các chiến dịch để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng và vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII cũng như vào nội dung then chốt là việc chuẩn bị công tác nhân sự cho Đại hội XIV với mục đích phủ nhận toàn diện sự lãnh đạo của Đảng.

 Thế nhưng sau 05 ngày diễn ra, Đại hội XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp - là Đại hội của tầm nhìn chiến lược dài hạn, của đột phá về tư duy, cách làm và của hành động, hướng về các kết quả cụ thể với thời hạn rõ ràng…Đồng thời được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao về những kết quả đạt được và tựu trung Đại hội XIV được khẳng định có tầm vóc lịch sử do Đảng lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh, văn minh và thịnh vượng. Thành công của Đại hội XIV là do sự lãnh đạo của Đảng đúng đắn và tài tình suốt 96 năm qua đã trải qua hai kỷ nguyên giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước và tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu vĩ đại và có ý nghĩa lịch sử.

Những kỳ tích vĩ đại  giành được qua 96 năm là minh chứng hung hồn, thuyết phục về sự lãnh đạo của Đảng và càng khẳng định ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong thế kỷ XX cũng như 26 năm đầu của thế kỷ XXI. Đảng ta không ngừng đổi mới để đáp ứng những thực tiễn đòi hỏi phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức được đặc biệt quan tâm, triển khai tích cực và đạt được nhiều hiệu quả qua Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Quy định số 37-QĐ/TW về “những điều đảng viên không được làm” đang từng bước đi vào cuộc sống. Đáng chú ý, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, không ngừng nghỉ và thu được nhiều kết quả rõ nét, tăng thêm niềm tin của nhân dân với Đảng.

Kinh tế - xã hội nước ta trong nhiệm kỳ vừa qua diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, biến động nhanh, khó lường và tính bất ổn cao; lạm phát của nhiều nước vẫn chưa giảm đáng kể. Cạnh tranh chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn, xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina chưa có dấu hiệu kết thúc; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng và lương thực trên phạm vi toàn cầu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, GDP năm 2025 của Việt Nam tăng trên 8%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD. Về văn hóa, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc sinh thời tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, trong thời gian qua, các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã có nhiều khởi sắc ngày càng xứng đáng là nền tảng tinh thần của xã hội. Với những thành tựu vĩ đại và có ý nghĩa lịch sử do Đảng lãnh đạo đã đạt được, chúng ta có niềm tin vững chắc vào sự khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc sinh thời: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế cũng như uy tín quốc tế như hiện nay”.

Hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng là Đại hội XIV của Đảng”. Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Đó cũng là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao, khơi dậy hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, kết hợp chặt chẽ sức mạnh đất nước với sức mạnh thời đại.

Trước Đại hội XIV của Đảng và chuẩn bị cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Đảng đã lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy. Đảng khẳng định: việc đẩy mạnh tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay mà còn là đột phá mang tính chất chiến lược để đưa đất nước ta tiến xa hơn trên con đường phát triển toàn diện. Có thể nói, quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm về “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã trở thành sự chỉ đạo quyết liệt cho việc tổ chức bộ máy phù hợp với yêu cầu và những đòi hỏi bức thiết của thời đại. Đó là nguyên tắc quan trọng và tiền đề cho việc phát triển hơn nữa tri thức, công nghệ, lao động, nguồn vốn để không ngừng tạo ra của cải phục vụ xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Từ những vấn đề trên, có thể thấy Đảng ta quyết định thời điểm Đại hội XIV đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng là hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ đây là thời điểm hội tụ tổng hòa các lợi thế, sức mạnh tiếp sau kỉ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng: “Việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là vấn đề cấp bách, bắt buộc phải làm, càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước, phải coi đây là cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị”.

Chúng ta phải thấu hiểu một điều, cuộc cách mạng nào cũng có sự hy sinh, có sự đau đớn. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng không có sự thay đổi sẽ không có sự phát triển khi mà 70% ngân sách để nuôi bộ máy và những hoạt động thường xuyên. Chúng ta đang hướng đến sự thay đổi để mọi thứ đều tốt đẹp hơn. Tinh gọn bộ máy - đó là mệnh lệnh của cuộc sống! Thế nhưng, các thế lực thù địch xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy là “ không quan tâm đến lợi ích của nhân dân”, là “ phục vụ lợi ích nhóm”, là “ tốn kém tiền của của dân”…Song, trong một thời gian không dài, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị cũng như sự ủng hộ của cán bộ, nhân dân nên việc sắp xếp đã tiến hành theo đúng chương trình đề ra, tạo niềm tin trong Đảng và trong xã hội khi tổ chức Đại hội XIV.

Như vậy, Đại hội XIV của Đảng đã có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng về văn kiện, về chuẩn bị nhân sự cũng như công tác tuyên truyền tiến hành hiệu quả nên trong quá trình diễn ra rất tốt đẹp. Các đại biểu phát biểu tại Hội trường cũng như như khi thảo luận tại tổ đều phản ánh không khí dân chủ. Bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV chỉ một lần là xong. Hội nghị lần thứ nhất khóa XIV bầu Bộ Chính trị, bầu Ban Bí thư và bầu Tổng Bí thư Tô Lâm tái cử Tổng Bí thư khóa XIV với số phiếu trúng tuyệt đối. Bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương với kết quả tốt đẹp. Đêm 23/1 đã diễn ra Chương trình chào mừng thành công Đại hội XIV tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình của Thủ đô Hà Nội và kết thúc bằng màn pháo hoa rất ấn tượng. Vì thế, thành công của Đại hội XIV đã phủ nhận tất cả những luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch đã tổ chức nhiều chiến dịch chống phá, với các hình thức đa dạng, nhất là tận dụng sự phát triển của công nghệ, của AI để tung ra nhiều chiêu trò trên không gian mạng nhằm phá hoại sự thành công của Đại hội. Nhưng thành công của Đại hội XIV là một minh chứng thuyết phục không có một thế lực đen tối nào có thể ngăn cản, phủ nhận được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam!

Chúng ta tin tưởng rằng, với thành công của Đại hội XIV, với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, lại được nhân dân đặt nhiều kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình, ủng hộ, nhất định Đảng ta sẽ thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình đưa Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống và cũng là thời điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời./.

(Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Jan 22, 2026

Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng - bản thiết kế chiến lược cho giai đoạn mới

         Trong quá trình lấy ý kiến Nhân dân cho Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, phần lớn dư luận trong và ngoài nước đều đánh giá cao tính cụ thể và khát vọng của bản dự thảo. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện một số ý kiến cho rằng văn kiện mang tính “sáo rỗng, hình thức”. Đây là nhận định phiến diện, thiếu căn cứ khoa học và tách rời thực tiễn phát triển của đất nước. Xem xét các con số kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng trong dự thảo, có thể khẳng định, đây là một lộ trình hành động có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu cấp bách của giai đoạn mới.

Trước hết, có thể khẳng định Văn kiện của Đảng không phải là một tập hợp các khẩu hiệu rời rạc mà là kết quả của quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn sau 40 năm đổi mới. Những ý kiến cho rằng văn kiện “hình thức” thường lờ đi một thực tế quan trọng: Dự thảo lần này đã tích hợp các nội dung về kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng vào một chỉnh thể thống nhất, nhằm triệt tiêu sự chồng chéo và tăng cường tính thực thi. Những mục tiêu được đưa ra không dựa trên mong muốn chủ quan mà dựa trên các dự báo kinh tế vĩ mô và nguồn lực quốc gia hiện có.

Điểm khác biệt lớn nhất của dự thảo báo cáo chính trị lần này là tính cụ thể hóa qua các con số. Việc đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên cho giai đoạn 2026 - 2030 là một con số có tính toán kỹ lưỡng:

Về thu nhập: Dự thảo đặt mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030. Đây là ngưỡng quan trọng để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình thấp, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao một cách bền vững.

Về cơ cấu nội lực: kinh tế số phải chiếm 30% GDP. Đây là con số phản ánh sự chuyển dịch từ thâm dụng lao động sang thâm dụng công nghệ. Để đạt được điều này, dự thảo tập trung vào các ngành công nghiệp nền tảng như bán dẫn và AI.

Về hiệu quả đầu tư: tổng vốn đầu tư toàn xã hội được xác định khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt (khoảng 20-22%). Chỉ tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% là minh chứng cho việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo thay vì khai thác tài nguyên.

Để hiện thực hóa các con số kinh tế, dự thảo đã vạch ra lộ trình thực thi chuyên biệt cho hai ngành mang tính xoay trục:

Ngành công nghiệp bán dẫn: Dự thảo xác định lộ trình trở thành trung tâm thiết kế và kiểm thử của khu vực. Trước đó, từ năm 2024, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 phê duyệt Chương trình “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”. Trong đó, xác định: đào tạo 50.000 kỹ sư chuyên ngành đến năm 2030 là nhiệm vụ trọng tâm. Đồng thời hình thành ít nhất 02 nhà máy chế tạo chip (Fab) và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử tại các khu công nghệ cao. Đây là giải pháp trực diện để Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở phân khúc cao hơn, thay vì chỉ dừng lại ở lắp ráp đơn thuần.

Ngành năng lượng sạch: để phục vụ tăng trưởng và cam kết khí hậu, lộ trình năng lượng được thiết lập mạch lạc thông qua phát triển điện gió ngoài khơi đạt quy mô 6.000 MW vào năm 2030; xây dựng hệ sinh thái Hydro xanh tại miền Trung và miền Nam để cung cấp năng lượng cho sản xuất thép và hóa chất; triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) để khơi thông nguồn vốn tư nhân vào hạ tầng năng lượng.

Bên cạnh đường lối và mục tiêu về kinh tế, Văn kiện lần này cũng chỉ ra nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới: Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV, một thông điệp mang tính cách mạng được khẳng định: kỷ luật không phải để răn đe một cách thụ động, mà là kỷ luật của sự hành động, của kết quả và của hiệu quả thực chất. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta xác định rằng, một hệ thống chính trị thực sự có kỷ cương khi mọi chủ trương, đường lối được chuyển hóa thành những giá trị thụ hưởng cụ thể cho nhân dân. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng, đưa kỷ luật Đảng thoát khỏi những khuôn mẫu hành chính khô khan để hòa nhập vào dòng chảy của đời sống, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo danh dự và năng lực của mỗi tổ chức đảng.

Để kỷ luật thực thi đạt được hiệu quả tối ưu, Đảng ta xác định phải gắn chặt với cơ chế kiểm soát quyền lực và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo. Đây là một mối quan hệ biện chứng tinh tế: Kỷ luật để kiểm soát quyền lực, tránh tha hóa; nhưng kỷ luật cũng phải tạo ra không gian để những tư tưởng đột phá không bị bóp nghẹt bởi nỗi sợ sai. Dự thảo văn kiện đặt ra yêu cầu phải có các quy định rõ ràng để phân định giữa sai sót do trình độ, do rủi ro khách quan với những sai phạm cố ý vì lợi ích nhóm. Sự minh bạch trong kỷ luật sẽ giải tỏa tâm lý lo ngại cho cán bộ, giúp họ tự tin hành động theo nguyên tắc “tự chủ, tự lực, tự cường”. Khi cán bộ dám bứt phá vì dân và Đảng có kỷ luật để bảo vệ họ, sẽ có một đội ngũ lãnh đạo vừa có tâm, vừa có tầm, đủ sức dẫn dắt quốc gia trong bối cảnh quốc tế đầy biến động.

Có thể nói, khi đi sâu phân tích từng nội dung của các Văn kiện, có thể khẳng định, các Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV với kết cấu, nội dung có nhiều đổi mới đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới một cách khoa học và có tính khả thi cao.

Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là một bản quy hoạch chiến lược có tính hệ thống cao, với những con số định lượng rõ ràng và lộ trình thực thi chuyên biệt cho giai đoạn mới. Sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; từ phòng chống tham nhũng sang cả phòng chống lãng phí và bảo vệ thực thi chính là những minh chứng sống động nhất cho tính thực tiễn của Văn kiện.

Những luận điệu xuyên tạc cho rằng Văn kiện mang tính “hình thức” thực chất là đang cố tình phớt lờ sức sống và nhịp đập phát triển hằng ngày của đất nước. Với các chỉ tiêu cụ thể và lộ trình khoa học, Đại hội XIV sẽ là cột mốc quan trọng, đưa hệ thống chính trị và nền kinh tế bước vào một kỷ nguyên phát triển thực chất, mạnh mẽ và tự chủ./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về công tác bảo đảm an ninh, trật tự cho Đại hội XIV của Đảng

       Tre Việt - Ngày 19/01, trang facebook Tiếng Dân New đăng bài viết của Trân Văn có tiêu đề: “Làm sao “diễu võ, giương oai” có thể sánh duyên với “tin yêu, kỳ vọng?”. Trong bài viết, Trân Văn xuyên tạc: “từ đầu tháng đến nay, các lực lượng vũ trang trên toàn Việt Nam từ Công an đến Quân đội, kể cả địa phương quân cùng ra sức chứng tỏ sẽ sử dụng bạo lực để đè bẹp, dọn dẹp tất cả trở ngại khiến đại hội lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 19/1/2026 đến 25/1/2026) không thể… “thành công tốt đẹp”. Không dừng lại ở đó, Trân Văn còn kích động: “xem thông tin, hình ảnh, các video clip hẳn có thể dễ dàng nhận ra, những hoạt động rầm rộ như vừa đề cập chẳng khác gì “răn đe” dân chúng, ngăn chặn ẩn họa. Đó cũng chính là bằng chứng cho thấy nhận thức của giới lãnh đạo đảng hiện nay lệch lạc tới mức đáng ngại”.

       Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn tuyệt đối cho Đại hội không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là trách nhiệm chính trị của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng Công an, Quân đội giữ vai trò nòng cốt. Do đó, để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trước, trong thời gian diễn ra Đại hội, việc tổ chức diễn tập, huy động lực lượng, phương tiện kỹ thuật và triển khai các phương án bảo vệ không phải là “thị uy” hay biểu hiện của bất ổn chính trị, mà là thông lệ quản trị an ninh bình thường ở bất kỳ quốc gia nào khi diễn ra sự kiện chính trị - xã hội quan trọng. Đây không phải là việc làm riêng có ở Việt Nam mà là thông lệ phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt thể chế chính trị. Đây là biện pháp mang tính phòng ngừa, chủ động, nhằm bảo đảm an toàn cho đại biểu, khách mời, cũng như duy trì ổn định xã hội, chứ không phải hành vi “đàn áp” hay “sử dụng bạo lực” như Trân Văn cố tình gán ghép. 

       Việc gọi các biện pháp bảo vệ an ninh là “đè bẹp, dọn dẹp trở ngại” cho thấy sự suy diễn ác ý, thiếu căn cứ thực tiễn và pháp lý. Ở đây, Trân Văn đã cố ý đánh tráo khái niệm giữa bảo đảm an ninh, trật tự với đàn áp quần chúng, giữa thực thi pháp luật với bạo lực chính trị. Việc triển khai lực lượng không nhằm vào “đám đông” hay bất kỳ người dân nào, mà nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các nguy cơ gây mất ổn định, phá hoại Đại hội, bao gồm cả những hành vi lợi dụng “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật. 

       Cần nhấn mạnh rằng khẩu hiệu: “bảo vệ Đại hội tuyệt đối an ninh, an toàn” không phải là biểu hiện của tư duy bạo lực, mà là yêu cầu chính trị - pháp lý chính đáng đối với một sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt. “Tuyệt đối an ninh, an toàn” đồng nghĩa với việc không để xảy ra bất kỳ rủi ro nào, dù là nhỏ nhất, có thể ảnh hưởng đến Đại hội. Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Nhà nước đối với Đảng, với Nhân dân và với tương lai đất nước. Việc Trân Văn sử dụng các cụm từ như “đàn áp”, “tấn công đám đông”, “bạo lực” không phải là phản ánh khách quan tình hình, mà còn bóp méo bản chất của công tác bảo đảm an ninh, trật tự, tạo cảm giác bất an, từ đó gây hiểu lầm trong dư luận và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân; kích động, gieo rắc tâm lý đối kháng giữa Nhân dân với lực lượng bảo vệ pháp luật. 

      Vì vậy, để góp phần vào thành công của Đại hội, mỗi người dân Việt Nam cần đề cao cảnh giác nhận diện rõ ràng và kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc, kích động nguy hiểm này./.


Jan 21, 2026

Bắt chữ để né sự thật, chiêu trò xuyên tạc quanh bài hát “Thưa Đảng”

        Tre Việt - Những ngày gần đây, quanh bài hát “Thưa Đảng” của ca sĩ Anh Tú, nổi lên một kiểu tranh luận nghe thì có vẻ “học thuật”, “chuẩn chỉnh”, “có văn hóa”, nhưng càng đọc càng thấy… quen. Quen cái thói bắt chữ để né nội dung. Quen kiểu không dám đối diện thông điệp chính, nên lôi tiểu tiết ra bấu víu, thổi phồng thành “sai phạm”, rồi từ đó phủ định một tác phẩm chính luận. Người ta không bàn bài hát nói gì, chạm vào cảm xúc nào, gợi lại điều gì trong ký ức dân tộc. Không! Người ta soi chữ “thưa”, bới mốc năm 1930, lật đi lật lại một vài cụm từ như “toàn quân dậy sóng”, “Bắc Nam chung một lòng”, rồi dựng lên một rừng lý sự để kết luận rằng… bài hát “sai”. Cái “sai” ấy, ngẫm kỹ, chẳng phải sai nghệ thuật, cũng không phải sai lịch sử theo nghĩa nghiêm túc. Nó chỉ “sai” vì bài hát nhắc lại lịch sử với thái độ trân trọng, và trớ trêu thay, có những người lại dị ứng đúng với điều đó.

       Người ta bám vào câu “1930 toàn quân dậy sóng” và lập tức nhảy dựng lên rằng năm 1930 làm gì đã có quân đội chính quy, làm gì có “toàn quân”. Đúng! Nhưng đúng kiểu gì? Đúng theo cách hiểu máy móc, hiểu chiết chữ. Còn đúng theo tinh thần lịch sử thì sao? Năm 1930, cái “dậy sóng” là dậy sóng của cả dân tộc, của phong trào công nhân, nông dân, của những đội tự vệ, những lực lượng cách mạng tiền thân, của khí thế đấu tranh khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thống nhất ý chí và đường lối. “Toàn quân” ở đây là cách nói khái quát về sức mạnh tập hợp, về khí thế vùng lên, chứ không phải “một đơn vị cụ thể”. Người nghe bình thường, người Việt bình thường, hiểu rất rõ. Chỉ có những ai cố tình không hiểu mới giả vờ “không hiểu”.

       Cũng vậy với câu “Bắc Nam chung một lòng”. Người ta lại lôi chuyện năm 1930 đất nước bị thực dân chia thành “ba kỳ” để bắt lỗi. Xin hỏi: thực dân có chia được lòng dân không? Chia được ý chí người Việt không? Nếu “không chung một lòng” thì các tổ chức cộng sản ở cả ba miền có hợp nhất được thành một Đảng không? Nếu không có cái “chung lòng” từ rất sớm, lấy gì làm nền cho Cách mạng Tháng Tám, lấy gì làm sức mạnh để cả dân tộc đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, lấy gì để đi đến thống nhất? Bám vào một sự chia cắt hành chính do ngoại bang áp đặt rồi phủ định tinh thần thống nhất dân tộc, đó không phải là “chuẩn lịch sử”, đó là cố tình xuyên tạc lịch sử theo hướng vô cảm.

        Khi không phủ nhận được dòng chảy lịch sử và ý nghĩa của nó, người ta đổi bài. Từ soi sự kiện, họ chuyển sang soi chữ. Và khi soi chữ chưa đủ, họ bắt đầu viện dẫn “văn hóa xưng hô”, làm như mình là người giữ hồn tiếng Việt. Nào là chữ “thưa” phải đi với ai, phải nói thế nào mới đúng miền, đúng lễ, đúng vai. Nghe thì tưởng trọng văn hóa, nhưng thực chất là đang cố tình bóp méo chữ theo nghĩa hẹp nhất, thậm chí gán nghĩa xấu để gây nhiễu.

       Trong tiếng Việt, “thưa” không chỉ là một thủ tục giao tiếp. “Thưa” là thái độ. “Thưa” là sự kính trọng. “Thưa” là lời trình bày, lời bộc bạch, lời đối thoại. Người Việt nói “thưa Cha, thưa Mẹ” đâu phải để “kiện” cha mẹ. Học trò nói “thưa thầy, thưa cô” đâu phải để “tố” người dạy mình. Người dân miền Tây mở đầu câu chuyện bằng tiếng “thưa” là để thể hiện sự lễ phép, chứ có ai bảo đó là “đưa nhau ra tòa”. Vậy mà có người cố tình xoắn chữ “thưa” thành một thứ ám chỉ xấu xa, để rồi từ đó bẻ lái thông điệp của bài hát sang hướng tiêu cực. Không phải họ không hiểu. Họ đang diễn. Diễn cho đám đông thiếu bình tĩnh xem, để biến một lời tri ân thành cái cớ công kích.

       “Thưa Đảng” trong bài hát không phải gọi trống không. Càng không phải “đối chất”, “phản ánh”, “kêu oan” theo kiểu giật tít. “Thưa Đảng” là cách nói của một người con đứng trước một lý tưởng, trước một hành trình lịch sử, nói lời biết ơn và tự nhắc mình về trách nhiệm. Đó là sự tiếp nối mạch cảm xúc từng có trong nhiều tác phẩm chính luận và cách mạng: nói với Tổ quốc, nói với Bác Hồ, nói với những người đã hy sinh. Đây là truyền thống của nghệ thuật cách mạng Việt Nam: không khô cứng, không giáo điều, nhưng giàu biểu tượng và hàm nghĩa.

       Và chính vì bài hát chạm vào những giá trị lịch sử ấy nên mới có những kẻ khó chịu. Không khó chịu vì “sai niên biểu”. Không khó chịu vì “sai xưng hô”. Mà khó chịu vì bài hát nhắc lại điều họ không muốn nghe: rằng lịch sử Việt Nam có một dòng chảy rõ ràng, rằng vai trò lãnh đạo của Đảng không phải câu chuyện bịa đặt, càng không phải thứ có thể phủ nhận bằng vài trò vặn vẹo câu chữ. Khi người ta không thể đập vỡ một bức tường bằng búa, họ sẽ dùng kim châm, khoan nhặt từng chỗ, hy vọng bức tường tự nứt. Bắt chữ là cây kim của họ. Còn mục tiêu là làm rạn nứt niềm tin. Nhưng lịch sử không tồn tại nhờ câu chữ hoàn hảo. Lịch sử tồn tại nhờ máu, mồ hôi, nước mắt và lựa chọn của hàng triệu con người Việt Nam. Độc lập không rơi từ trên trời xuống. Thống nhất không phải quà tặng. Từng tấc đất, từng khoảnh khắc bình yên hôm nay đều phải trả bằng sự hy sinh. Cho nên viết về lịch sử, hát về lịch sử, nhắc về lịch sử bằng cảm xúc trân trọng không phải là “tuyên truyền rẻ tiền” như một số kẻ hay chụp mũ, mà là một cách gìn giữ ký ức dân tộc, giữ lửa cho thế hệ sau.

       Ai cũng có quyền thích hoặc không thích một bài hát. Nhưng biến sự “không thích” thành những lập luận ngụy biện, rồi khoác áo “chuẩn mực văn hóa” để tấn công, bôi nhọ, lái dư luận, thì đó không phải góp ý. Đó là phá! Nó là một mắt xích trong chuỗi thủ đoạn “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch vẫn dùng: từ chê một câu chữ, tiến tới phủ định cả tinh thần; từ phủ định tinh thần, tiến tới phủ định nền tảng; và từ phủ định nền tảng, họ kích động hoài nghi, chia rẽ.

       Nếu phải bẻ cong cả ngôn ngữ, bẻ cong cả bối cảnh, bẻ cong cả cách người Việt nói năng bao đời chỉ để chê một bài hát, thì vấn đề không nằm ở bài hát nữa. Vấn đề nằm ở động cơ của người chê. Và động cơ ấy, nói thẳng, không trong sáng. Mà vì có những điều… họ không muốn thế hệ trẻ được nghe nhắc lại. Nhưng càng tránh, lịch sử càng sáng. Càng xuyên tạc, sự thật càng đứng vững. Và càng bôi nhọ, Nhân dân càng hiểu ai thật lòng xây dựng, ai đang nhân danh “chuẩn mực” để phá hoại niềm tin của đất nước./.

 

 

Jan 19, 2026

“Tam quyền phân lập” - luận điệu cũ trong âm mưu mới chống phá Việt Nam

         Trên trang Baotiengdan, Lê Chí Thành có bài viết: “Tâm thư gửi tân Tổng Bí thư, người đứng đầu đảng và lực lượng quyền lực nhất đất nước”,cho rằng: “Việt Nam nên lựa chọn con đường tam quyền phân lập…”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc Hiến pháp, cường điệu hóa học thuyết “tam quyền phân lập” để thực hiện mục tiêu chống phá Việt Nam.

Thứ nhất, cần hiểu đúng Hiến pháp Việt Nam và tại sao Việt Nam không áp dụng “tam quyền phân lập” trong tổ chức bộ máy nhà nước. Ở Việt Nam, Hiến pháp phản ánh ý chí và nguyện vọng chung của dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam; là cơ sở pháp lý cho xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hiến pháp Việt Nam do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, theo một quy trình thủ tục chặt chẽ. Từ chủ trương xây dựng Hiến pháp đều được biểu thị bằng nghị quyết của Quốc hội; việc xây dựng Hiến pháp được tiến hành bằng một cơ quan do Quốc hội lập ra; dự thảo Hiến pháp được lấy ý kiến rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân; việc thông qua Hiến pháp được tiến hành tại một kỳ họp của Quốc hội và chỉ được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc sửa đổi Hiến pháp cũng được thực hiện theo một trình tự quy định tại Hiến pháp.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), cũng như Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định rõ: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước, trong đó: Quốc hội Việt Nam là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, các vấn đề trọng đại của đất nước. Cùng với quyền lập hiến, Quốc hội cũng là cơ quan có quyền sửa đổi Hiến pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân) là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Việc Việt Nam không lựa chọn “Tam quyền phân lập” trong tổ chức bộ máy nhà nước, bởi lẽ: Về phương diện lý luận, “tam quyền phân lập” là một học thuyết phức tạp, đa chiều, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như trình độ dân chủ, truyền thống dân tộc, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Về bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia (chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác); các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Điều này chứng tỏ rằng, dân chủ và pháp quyền không phụ thuộc vào việc có hay không tam quyền phân lập, mà phụ thuộc vào bản chất của quyền lực nhà nước và mục tiêu phục vụ nhân dân.

Thứ hai, thực tế xây dựng Hiến pháp và thực thi pháp luật ở Việt Nam được bảo đảm một cách tuyệt đối, quyền lực nhà nước là thống nhất. Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã ban hành và sửa đổi bổ sung Hiến pháp, đó là: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992, (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013 (Sửa đổi bổ sung 2025). Quá trình xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam luôn phát huy dân chủ rộng rãi trong nhân dân. Trong Hiến pháp năm 2013, xác định rõ mối quan hệ trong việc phân quyền, phân công, phối hợp và thực hiện kiểm soát quyền lực giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Như vậy, bảo đảm tốt cho thực hiện kiểm soát, cân bằng, khống chế và kiềm chế quyền lực giữa các cơ quan nhà nước, qua đó ngăn ngừa được sự chuyên chế phát sinh ở xã hội lạm quyền. 

Thực tiễn, quá trình phát triển và tiến hành công cuộc đổi mới của đất nước, Việt Nam luôn coi trọng bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn đất nước và sự phát triển của cách mạng Việt Nam, tạo được sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Việt Nam từ nền kinh tế kém phát triển, nay đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 – 2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỉ USD, gấp 1,47 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao.

Do vậy, luận điệu của Lê Chí Thành “khuyên” Việt Nam đi theo con đường “tam quyền phân lập” là phản khoa học và mang động cơ chính trị không trong sáng. Kiên định con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn, hợp quy luật và hợp lòng dân, cần được bảo vệ và giữ vững. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước; đề cao cảnh giác, nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của Nhân dân./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)