Feb 18, 2026

Bóc trần luận điệu ngụy biện về dân quyền, tự do trong âm mưu chống, phá Việt Nam

          Trên trang Vietquoc, Lê Thành Nhân đăng tải bài viết: Dân quyền tự do là điều kiện cần thiết để đưa đất nước tiến lên”. Dưới vỏ bọc ngôn từ có vẻ “dân chủ”, “nhân quyền”, bài viết đã cố tình xuyên tạc bản chất chế độ chính trị Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bóp méo thực tiễn dân chủ, quyền con người ở nước ta. Đây là thủ đoạn không mới, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng, chính trị. Việc nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh phản bác là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng Việt Nam “không có dân quyền, tự do thực chất” là sự áp đặt phiến diện, phản khoa học và mang động cơ chính trị. Cần khẳng định rằng dân quyền và tự do không phải là những khái niệm trừu tượng, phi lịch sử, càng không tồn tại dưới một mô hình duy nhất mang tính “chuẩn mực phổ quát” như các thế lực thù địch thường rêu rao. Trong khoa học chính trị hiện đại, quyền con người, quyền công dân luôn gắn với điều kiện lịch sử - văn hóa - trình độ phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, ngay từ khi giành được độc lập, quyền con người, quyền công dân đã được xác lập một cách rõ ràng. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trích dẫn và phát triển sáng tạo các giá trị tiến bộ của nhân loại, khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Trải qua các thời kỳ, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 dành riêng một chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với phạm vi rộng, nội dung cụ thể, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thực tiễn cho thấy, người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tiếp cận thông tin; quyền học tập, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của nhiều công ước quốc tế quan trọng về quyền con người và nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế đó. Việc Lê Thành Nhân cố tình tách rời dân quyền khỏi ổn định chính trị, độc lập dân tộc và phát triển bền vững để áp đặt một mô hình dân chủ phương Tây là sự ngụy biện có chủ ý. Lịch sử thế giới cho thấy không ít quốc gia sao chép máy móc mô hình dân chủ “đa đảng đối lập” đã rơi vào hỗn loạn chính trị, xung đột xã hội, thậm chí nội chiến kéo dài. Việt Nam lựa chọn con đường phát triển của mình là kết quả của lịch sử, là nguyện vọng và sự lựa chọn có ý thức của Nhân dân, chứ không phải sự “áp đặt” như luận điệu xuyên tạc đã bịa đặt.

Thứ hai, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phủ nhận dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tráo khái niệm nguy hiểm. Luận điệu cho rằng “quyền lực chính trị tập trung vào một nhóm nhỏ trong Đảng Cộng sản” thực chất là sự đánh đồng cố ý giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với việc tước bỏ quyền làm chủ của Nhân dân. Đây là một sự tráo khái niệm mang tính phá hoại. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam không đứng ngoài, càng không đứng trên Nhân dân, mà là lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và cả dân tộc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được xác lập không phải bằng đặc quyền, mà bằng uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và sự tín nhiệm của Nhân dân, được hiến định rõ ràng.

Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia thảo luận, góp ý vào các dự thảo luật, chiến lược, chính sách lớn; thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thực tiễn qua 40 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ luận điệu của Lê Thành Nhân. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao. Những thành tựu đó không thể có được nếu “người dân mất quyền làm chủ” như các đối tượng chống phá rêu rao.

Tóm lại, luận điệu trong bài viết của Lê Thành Nhân không phải là dân quyền hay tự do, mà là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từng bước làm suy yếu nền tảng tư tưởng của chế độ. Mỗi người dân cần nêu cao cảnh giác và kiến quyết đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet)

Không thể xuyên tạc đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài

Tre Việt - Ngày 13/02, trang facebook Nhật Ký Yêu Nước đăng đoạn status: Không khó nhận ra rằng, thái độ của chính quyền Việt Nam đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại luôn tồn tại hai lớp giọng: khi thì là “các tổ chức phản động lưu vong”; khi lại trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “máu thịt của Tổ quốc”.

Cần khẳng định, đây là luận điệu xuyên tạc trắng trợn quan điểm, chủ trương, chính sách về người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực trong việc phát huy vai trò, củng cố sức mạnh, tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, cũng như và những nỗ lực nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước. Cố đánh tráo khái niệm khi so sánh giữa đông đảo cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập công tác ở nước ngoài với các các tổ chức phản động lưu vong và lực lượng chống phá ở hải ngoại trong cộng đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài. Mục đích cuối cùng của chúng là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

        Thực tiễn cho thấy, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài, tiếp tục tạo những điều kiện thuận lợi, mở rộng quyền cho đồng bào ta có cơ hội làm ăn, đầu tư,... ở trong nước. Những chủ trương, chính sách này không chỉ tháo gỡ những rào cản thủ tục hành chính trước đây, mà có nhiều thay đổi thuận lợi về mặt pháp lý, tạo ra khuôn khổ, cơ chế bền vững cho sự bình đẳng giữa người dân trong nước và kiều bào khi tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh, khoa học - công nghệ, văn hóa thể thao, nhân đạo. Đồng thời, mở ra cơ chế khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển đất nước trên các lĩnh vực. Hình ảnh khối diễu hành người Việt Nam ở nước ngoài lần đầu tiên tham gia tại Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua, là minh chứng sinh động của tinh thần đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc, minh chứng cho chân lý “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, tất cả người Việt là con rồng cháu tiên.

        Mới đây, chiều 08/02, tại Trụ sở Trung ương Đảng, gặp mặt đoàn kiều bào tiêu biểu tham dự chương trình “Xuân Quê hương 2026” do Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao tổ chức, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán tư tưởng xuyên suốt Nhân dân là gốc, là trung tâm, chủ thể, là mục tiêu, là động lực và nguồn lực của phát triển; trong đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, là nguồn lực đặc biệt quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.

        Tổng Bí thư mong muốn, người Việt Nam ở nước ngoài luôn chấp hành tốt luật pháp sở tại, đoàn kết xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển lớn mạnh, nâng cao vị thế, uy tín của cộng đồng; luôn tích cực gìn giữ, quảng bá văn hóa Việt Nam, xây dựng hình ảnh tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế; tiếp tục phát huy vai trò cầu nối tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, v.v. 

        Đảng, Nhà nước luôn hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi để các chuyên gia, trí thức, các nhà khoa học, doanh nhân kiều bào đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển đất nước, nhất là trên những lĩnh vực then chốt cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tất cả những cái đó đều đã có những định hướng không thể dàn trải được, những cái gì là trọng tâm, trọng điểm, chúng ta phải đi nhanh, thậm chí đi tắt đón đầu. Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện các chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời, tăng cường phối hợp quốc tế để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bà con, giúp cho đồng bào yên tâm sinh sống, làm việc, phát triển ở nước sở tại.

        Tuy nhiên, không thể đánh đồng giữa một bên gồm đại đa số đồng bào ta ở nước ngoài là những người có lòng yêu nước, luôn hướng về cội nguồn và mong muốn được trở về đóng góp cho quê hương, đất nước khi có cơ hội. Khi có điều kiện đều sẵn sàng quay trở về đóng góp một phần công sức cũng như của cải vật chất để phát triển đất nước. Còn bên kia là các tổ chức phản động, các thế lực thù địch, phản động lưu vong ở hải ngoại trong cộng đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài luôn tìm mọi cách để chống phá sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện.

        Vì vậy, kiều bào ta cần tỉnh táo nhận diện thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, đề cao cảnh giác, không để các thế lực phản động, thù địch có cơ hội để lôi kéo, kích động. Phát huy cao độ tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiên cường, khát vọng phát triển, củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng quan trọng nhất bảo đảm cho sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc từ sớm, từ xa./.


Feb 16, 2026

So sánh phi lịch sử - biểu hiện của “cơ hội chính trị” cần kiên quyết đấu tranh, phản bác

        Tre Việt - Thời gian gần đây, trên mạng xã hội, tài khoản “Nhật ký yêu nước” có bài viết “Kể tiếp chuyện Tết cơ quan thời bao cấp”, xuất hiện lối kể chuyện đan xen giữa hồi ức cá nhân và những nhận định so sánh các giai đoạn lịch sử, các thế hệ lãnh đạo. Bề ngoài, đó là những kỷ niệm dung dị về không khí Tết cơ quan thời bao cấp; nhưng, đằng sau lớp vỏ hoài niệm ấy là cách quy chiếu giản đơn, đặt các thời kỳ lịch sử lên cùng một “bàn cân” cảm tính, từ đó dẫn dắt người đọc đến những kết luận phiến diện, thiếu cơ sở khoa học.
        Đáng chú ý là luận điệu: “khoa học của Việt Nam sẽ không thể phát triển khi mỗi ông bộ trưởng một nhiệm kỳ lại tách nhập viện”. Ở đây, vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi hồi ức. Trải nghiệm cá nhân được nâng lên thành phán quyết về cả một cơ chế quản lý và một giai đoạn phát triển. Cách lập luận này đánh đồng hiện tượng với bản chất, lấy một lát cắt chủ quan để bao quát toàn cục, từ đó hàm ý phủ nhận nỗ lực điều hành, cải cách của các thế hệ lãnh đạo trong bối cảnh mới. Nguy hiểm hơn là thủ pháp “nâng quá khứ - hạ hiện tại”. Khi quá khứ được miêu tả như một thời “cán bộ năng động hơn hẳn”, “tình người đậm đà”, còn hiện tại bị ám chỉ bởi hình ảnh tách nhập, nhiệm kỳ, thì người đọc rất dễ hình thành tâm lý so bì, tiếc nuối, thậm chí hoài nghi. Đây là cách so sánh giàu cảm xúc nhưng nghèo lập luận; khai thác tâm lý hoài cổ để tạo ra sự đối lập giả tạo giữa các thế hệ lãnh đạo, giữa các thời kỳ phát triển. 
        Trên thực tiễn, việc sắp xếp, tổ chức lại các viện nghiên cứu và điều chỉnh mô hình quản lý khoa học là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cải cách luôn có độ trễ, có vướng mắc, có cả bài học cần rút kinh nghiệm, nhưng nếu nhìn tổng thể tiến trình phát triển, có thể khẳng định khoa học, công nghệ nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ, chứ không hề “trì trệ” như những nhận định cảm tính. Năm 2025 là minh chứng rõ ràng. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, doanh thu toàn ngành đạt hơn 5,4 triệu tỉ đồng, vượt kế hoạch đề ra; đóng góp trực tiếp vào GDP hơn 1,4 triệu tỉ đồng, tăng 35% so với năm 2024. Những con số đó cho thấy khoa học, công nghệ đã trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Không chỉ tăng về quy mô, vị thế quốc tế của Việt Nam cũng được nâng cao khi xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu 2025, thuộc nhóm cải thiện nhanh nhất trong thập kỷ qua. Đây là kết quả của quá trình đổi mới thể chế, tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp và hội nhập sâu rộng.
        Thực tế ấy bác bỏ cách nhìn quy kết giản đơn theo “tư duy nhiệm kỳ”. Thành tựu hôm nay là kết quả của sự kế thừa, điều chỉnh và phát triển qua nhiều giai đoạn. Và lịch sử cách mạng Việt Nam là một dòng chảy liên tục kế thừa, phát triển. Mỗi giai đoạn có sứ mệnh, nhiệm vụ và đóng góp riêng; mỗi thế hệ lãnh đạo hoạt động trong những điều kiện hoàn toàn khác nhau. Vì thế, không thể dùng tiêu chí của hôm nay để phủ định hôm qua; cũng không thể dùng ký ức của hôm qua để phủ định yêu cầu phát triển của hôm nay.
        Nhận diện và bác bỏ lối so sánh phi lịch sử chính là bảo vệ cách nhìn khoa học về tiến trình cách mạng; bảo vệ niềm tin vào sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng; bảo vệ sự đoàn kết giữa các thế hệ. Trong bối cảnh không gian mạng trở thành mặt trận tư tưởng ngày càng phức tạp, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, bản lĩnh, không để những so sánh cảm tính dẫn dắt nhận thức. So sánh lịch sử là cần thiết, nhưng phải dựa trên cơ sở khoa học và tinh thần xây dựng. Mọi biểu hiện lợi dụng so sánh để phủ nhận thành tựu, chia rẽ niềm tin, kích hoạt tâm lý hoài nghi đều cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác./.

Feb 15, 2026

Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta - nhịp cầu đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới của đất nước

          Tre Việt - Mỗi dịp Tết đến, xuân về, khi lòng người hướng về gia đình và cội nguồn, câu chuyện đoàn tụ của dân tộc lại trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, đất nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều kỳ vọng và khát vọng lớn. Trong dòng chảy ấy, chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được khẳng định là đường lối xuyên suốt. Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo đối với những người từng “lầm đường, lạc lối” một thời từng phản bội dân tộc, phản bội đất nước, nhưng nay hướng về Tổ quốc là một biểu hiện sinh động của tinh thần ấy. Đó không chỉ là chính sách mang tính nhân văn, nhân đạo, mà còn là cách ứng xử có trách nhiệm với lịch sử, với con người và với tương lai của đất nước.

Sân bay Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh)
nhộn nhịp đón kiều bào về quê ăn Tết Bính Ngọ - 2026

Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm: khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, tăng cường hòa hợp dân tộc. Sau khi đất nước thống nhất, chủ trương phân biệt rõ giữa những người có tội ác với những người do hoàn cảnh lịch sử mà đứng ở phía bên kia đã được xác định rõ ràng. Tinh thần ấy tiếp tục được kế thừa và phát triển trong bối cảnh mới, nhất là khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, hội nhập sâu rộng. Đại hội XIV của Đảng một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sách khoan hồng, nhân đạo đối với những người hướng về Tổ quốc vì thế không chỉ mang ý nghĩa nhân văn, mà còn góp phần tăng cường sự đồng thuận xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững đất nước.

Mỗi dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc, tinh thần nhân đạo ấy được thể hiện rõ nét. Tết là thời khắc thiêng liêng của đoàn tụ, là lúc con người hướng về gia đình, tổ tiên, quê hương. Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để những người từng rời quê hương trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nếu có thiện chí trở về, có thể thăm quê, gặp lại người thân, tìm lại sự gắn bó với đất nước. Những chuyến trở về ấy không chỉ mang ý nghĩa cá nhân, mà còn là minh chứng cho chính sách hòa hợp dân tộc. Khi một người từng ở phía bên kia chiến tuyến nay mong muốn hướng về Tổ quốc, việc mở rộng vòng tay đón nhận chính là cách thể hiện tinh thần bao dung, nhân ái của Đảng và Nhà nước ta.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội XIV, chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo càng có ý nghĩa sâu sắc. Đó là thông điệp rõ ràng rằng mọi người Việt Nam, dù ở đâu, dù từng trải qua hoàn cảnh lịch sử nào, nếu có thiện chí xây dựng quê hương, đất nước, đều có thể tìm thấy vị trí của mình trong cộng đồng dân tộc. Sự khoan hồng ở đây không làm giảm đi tính nghiêm minh của pháp luật, mà đặt trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc. Những người biết nhìn nhận quá khứ, tôn trọng hiện tại, mong muốn đóng góp cho tương lai chung của đất nước đều được tạo điều kiện để hòa nhập, tham gia vào quá trình phát triển của đất nước. Thực tế cho thấy, nhiều người từng rời quê hương trong những giai đoạn khó khăn của đất nước, khi trở về đã xúc động trước sự đổi thay ngày càng rõ nét nơi từng căn nhà, con phố, xóm làng.

Đối với cán bộ, đảng viên và mỗi người dân, việc quán triệt chủ trương khoan hồng, nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta cần được thể hiện bằng nhận thức đúng và hành động cụ thể. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng cũng không để quá khứ cản trở tương lai. Mỗi cán bộ, đảng viên cần ứng xử với tinh thần tôn trọng, cởi mở, trên cơ sở pháp luật và lợi ích chung của đất nước. Khi một người có thiện chí quay về, chúng ta đón nhận bằng thái độ chân thành; khi họ mong muốn đóng góp, chúng ta tạo điều kiện để họ tham gia; khi họ còn băn khoăn, chúng ta giải thích để họ hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chính cách ứng xử ấy sẽ góp phần củng cố niềm tin, tăng cường sự gắn bó giữa những người Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Đại hội XIV của Đảng mở ra một kỷ nguyên phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức. Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu quan trọng. Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo đối với những người từng “lầm đường, lạc lối” nhưng nay hướng về Tổ quốc là một phần trong tổng thể chính sách ấy. Nó góp phần hàn gắn những khoảng cách, củng cố niềm tin, tạo thêm nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Khi mọi người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, đều cảm nhận được sự bao dung của Tổ quốc, họ sẽ thêm gắn bó và sẵn sàng đóng góp cho quê hương.

Khép lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai không phải là điều dễ dàng, nhưng đó là lựa chọn đúng đắn và cần thiết. Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục là nhịp cầu nối liền những người con Việt Nam, giúp họ tìm lại sự gắn bó với quê hương. Trong mùa xuân mới của đất nước, khi khát vọng phát triển ngày càng lớn, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, lòng bao dung và nhân ái sẽ tiếp tục là nguồn sức mạnh để chúng ta cùng nhau xây dựng một Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam./.

Feb 14, 2026

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc: không phải “món ăn hàm thụ”

         Mỗi dịp đầu năm, khi xã hội cần sự bình tâm để nhìn lại và hướng tới tương lai, tại trang Baotiengdan lại xuất hiện bài viết mượn danh “suy nghĩ về đất nước” để phủ nhận những giá trị nền tảng đã làm nên Việt Nam hiện đại. Bài “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” của Trần Trung Đạo là một trường hợp như vậy. Từ phủ nhận ý nghĩa của “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, bôi nhọ vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho tới cổ vũ tuổi trẻ noi theo các phong trào bất ổn ở nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý trong bài viết có lập luận cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam giữ nguyên tên gọi “Cộng sản” để “cảnh báo nhân dân rằng nhà tù, súng đạn và trừng phạt vẫn còn đó”. Đây không chỉ là một suy diễn ác ý, mà còn là sự bóp méo thô bạo lịch sử, phủ nhận lựa chọn chính trị của dân tộc Việt Nam. 

Trước hết, cần khẳng định, tên gọi của một chính đảng là sự xác nhận công khai về cội nguồn lịch sử, nền tảng tư tưởng và mục tiêu chính trị mà đảng đó theo đuổi. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất nước, tồn tại và phát triển gắn liền với những bước ngoặt có ý nghĩa sống còn của lịch sử: giành độc lập năm 1945, lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Việc Đảng từng mang tên Đảng Lao động Việt Nam trong một giai đoạn nhất định là sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không phải là hành vi “đổi tên cho dễ nghe” hay “che giấu bản chất” như cách Trần Trung Đạo cố tình xuyên tạc.

Tên gọi “Đảng Cộng sản Việt Nam” vì thế không phải là để hù dọa bất kỳ ai, mà là sự tiếp nối nhất quán về tư tưởng, mục tiêu và trách nhiệm lịch sử. Trong đời sống chính trị hiện đại, không có chính đảng nào tồn tại lâu dài chỉ nhờ vào tên gọi, càng không thể duy trì vai trò cầm quyền nếu tách rời lợi ích dân tộc và sự thừa nhận của xã hội. Việc quy kết rằng giữ tên “Cộng sản” là để “cảnh báo nhân dân” phản ánh một cách nhìn đầy định kiến, đánh tráo bản chất giữa quyền lực chính trị của Đảng và quyền lực nhà nước với những tưởng tượng mang màu sắc tuyên truyền.

Luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại nhờ “lý luận, tuyên truyền, khủng bố và chia chác” tiếp tục cho thấy cách tiếp cận cực đoan và phiến diện của tác giả. Một chính quyền nếu chỉ dựa vào trấn áp không thể duy trì ổn định xã hội trong nhiều thập kỷ, càng không thể tiến hành những cải cách sâu rộng về kinh tế - xã hội, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và ngày càng phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại và cải thiện đời sống nhân dân như thực tiễn Việt Nam đã chứng minh. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam là quyền lực của nhân dân, được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật và hệ thống thiết chế quản lý, chứ không vận hành bằng “nỗi sợ” gắn với tên gọi của một đảng chính trị như cách Trần Trung Đạo áp đặt.

Hai là, lập luận của tác giả tự mâu thuẫn với chính tiền đề mà ông ta đưa ra. Nếu “chủ nghĩa cộng sản đã bị văn minh nhân loại đào thải” như Trần Trung Đạo khẳng định, thì việc một đảng cầm quyền công khai mang tên Cộng sản, tồn tại hợp hiến, hợp pháp và giữ vai trò trung tâm trong đời sống chính trị quốc gia lại càng không thể bị giải thích bằng thứ ngôn ngữ kiểu “nhà tù và súng đạn”. Thực tế cho thấy, trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại nhiều đảng cộng sản hoặc các đảng cánh tả tham gia cầm quyền với những mô hình phát triển khác nhau. Việc gán nhãn “bị đào thải” không phải là kết luận khoa học, mà là phán xét cảm tính, phi lịch sử.

Không dừng lại ở đó, Trần Trung Đạo còn phủ nhận toàn bộ chặng đường lịch sử kể từ năm 1945, cho rằng người dân Việt Nam chỉ “nghe, đọc” về độc lập, tự do, hạnh phúc chứ chưa từng “nếm mùi”, coi những giá trị này như một “món ăn hàm thụ”. Đây là cách nói vừa khiên cưỡng, vừa xúc phạm lịch sử dân tộc. Độc lập không phải là mỹ từ trừu tượng, mà là quyền tự quyết của một dân tộc từng mất nước, từng bị ngoại bang đô hộ. Tự do không phải là khẩu hiệu sáo rỗng, mà là quyền được sống trong hòa bình, lao động, học tập, sáng tạo trên chính mảnh đất của mình. Hạnh phúc không phải là trạng thái hoàn hảo tuyệt đối, mà là những thành quả cụ thể, tích lũy qua thời gian: Xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục, mở rộng chăm sóc y tế, nâng cao tuổi thọ, giảm nghèo bền vững và gia tăng cơ hội phát triển cho người dân.

Gọi tất cả những thành tựu đó là “hàm thụ” chỉ có thể xuất phát từ cái nhìn của những người đứng ngoài lịch sử, chứ không phải từ trải nghiệm của một dân tộc đã đi qua chiến tranh, đói nghèo và tái thiết. Sự phủ nhận trắng trợn này không chỉ bóp méo thực tế phát triển của đất nước, mà còn xúc phạm tới hàng triệu người Việt Nam đã hy sinh xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc.

Tóm lại, bài viết “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” là một chuỗi phủ định có chủ đích: Phủ định giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, phủ định vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ định con đường phát triển mà dân tộc đã lựa chọn. Những luận điệu này càng cho thấy cách nhìn phiến diện của những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nên bị đấu tranh bác bỏ là lẽ đương nhiên./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Nhìn nhận khách quan về công tác nhân sự sau Đại hội XIV của Đảng

         Ngày 31/01/2026, Nguyễn Thiều Quang đăng tải bài viết trên trang Baotiengdan.com với tiêu đề: “Những cú ‘Sốc Hàng’ ở Việt Nam hậu Đại hội XIV”, trong đó đưa ra những nhận định mang tính quy chụp, suy diễn về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Đáng chú ý, bài viết xuất hiện ngay thời điểm sau 1 tuần chúng ta vừa tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước. Việc đưa ra những luận điệu thiếu khách quan, ám chỉ tiêu cực về công tác nhân sự không chỉ làm sai lệch bản chất vấn đề mà còn dễ gây hoài nghi trong dư luận.

Trong bài viết, Nguyễn Thiều Quang nêu quan điểm “Con lãnh đạo làm lãnh đạo - Tập quyền, chính danh và giới hạn chịu đựng của xã hội”, viện dẫn câu “Con vua rồi lại làm vua” và cho rằng “quyền lực, khi đã lên cao, thường có xu hướng tự tái sản sinh trong phạm vi gia đình và mạng lưới thân cận”; đồng thời, dẫn ra một số trường hợp con của nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham gia Ban Chấp hành Trung ương hoặc giữ vị trí quan trọng. Từ đó, tác giả ngầm quy kết rằng ở Việt Nam tồn tại hiện tượng “cha truyền con nối” trong công tác cán bộ. Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu toàn diện và chưa phản ánh đúng cơ chế lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ ở nước ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, công tác cán bộ ở Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình và sự giám sát nhiều cấp. Việc bổ nhiệm, giới thiệu nhân sự vào các vị trí lãnh đạo không dựa trên yếu tố quan hệ gia đình, mà phải đáp ứng các tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm công tác và uy tín trong tập thể. Quy trình này bao gồm nhiều bước như quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, đánh giá, lấy ý kiến tập thể và bỏ phiếu tín nhiệm. Không có quy định nào mặc nhiên trao quyền lãnh đạo chỉ vì là “con của lãnh đạo”.

Câu hỏi đặt ra là: chẳng lẽ con của lãnh đạo thì không được tham gia bộ máy lãnh đạo? Trong một xã hội pháp quyền, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền phấn đấu, cống hiến nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn. Việc một cá nhân có xuất thân là con của lãnh đạo không đồng nghĩa với việc họ đương nhiên được ưu ái; đồng thời cũng không thể vì lý do xuất thân mà tước đi cơ hội chính đáng nếu họ có đủ năng lực và phẩm chất. Đánh giá một cán bộ cần dựa trên quá trình công tác, kết quả thực hiện nhiệm vụ và sự tín nhiệm của tổ chức, thay vì quy kết dựa trên quan hệ gia đình. Bài viết chỉ viện dẫn một vài trường hợp cá biệt để khái quát thành bản chất của cả hệ thống là cách lập luận thiếu khách quan. Nếu nhìn tổng thể đội ngũ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam qua nhiều nhiệm kỳ, có thể thấy phần lớn có xuất thân từ gia đình nông dân, công nhân hoặc cán bộ, công chức bình thường. Nhiều lãnh đạo trưởng thành từ cơ sở, trải qua quá trình rèn luyện lâu dài trong thực tiễn. Điều này phản ánh tính mở và sự cạnh tranh trong công tác cán bộ, chứ không phải mô hình “cha truyền con nối”.

Ngay cả ở các quốc gia phát triển, việc các thành viên trong cùng một gia đình tham gia chính trường cũng không phải là hiện tượng hiếm gặp. Ví dụ, Hoa Kỳ từng có hai cha con đều giữ cương vị Tổng thống. Tuy nhiên, không vì thế mà có thể khẳng định đó là cơ chế “cha truyền con nối”, bởi mỗi cá nhân đều phải trải qua bầu cử, cạnh tranh chính trị và đáp ứng các yêu cầu pháp lý. Như vậy, việc có quan hệ gia đình với người từng giữ chức vụ cao không phải là bằng chứng tự thân của tập quyền hay tái sản sinh quyền lực. Trong xã hội hiện đại, cả ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác, yếu tố quyết định để một cá nhân trở thành lãnh đạo vẫn là năng lực, uy tín và sự tín nhiệm của tổ chức hoặc cử tri. Hệ thống chính trị Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch, phòng chống tham nhũng và tiêu cực trong công tác cán bộ. Nhiều vụ việc sai phạm, kể cả liên quan đến cán bộ có vị trí cao, đã bị xử lý nghiêm minh, thể hiện quyết tâm không có “vùng cấm” hay ngoại lệ. Điều đó cho thấy hệ thống không dung túng cho việc lợi dụng vị trí gia đình để trục lợi hay thao túng quyền lực.

Có thể khẳng định rằng, việc suy diễn từ một số trường hợp cụ thể để kết luận tồn tại hiện tượng “con lãnh đạo làm lãnh đạo” như một quy luật phổ biến là cách tiếp cận thiếu căn cứ và mang tính quy chụp. Trong một xã hội pháp quyền, điều quan trọng không phải là xuất thân của cá nhân, mà là họ có đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao hay không. Đại hội XIV của Đảng được tổ chức trên tinh thần dân chủ, kỷ cương, đoàn kết và phát triển. Công tác nhân sự được chuẩn bị công phu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và sự lựa chọn những người đủ đức, đủ tài để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới. Những luận điệu xuyên tạc, quy kết thiếu cơ sở không thể phủ nhận nỗ lực hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

Feb 12, 2026

Bóc trần chiêu trò xuyên tạc, giữ vững hồn cốt Tết Việt

         Tre Việt - Tết Nguyên Đán (còn gọi là Tết Cả, Tết Ta, Tết Âm lịch, Tết Cổ truyền, Tết Á Đông hay đơn giản là Tết) không chỉ là mốc chuyển giao của thời gian, mà là không gian thiêng liêng để con người trở về với cội nguồn, sum họp gia đình, sẻ chia yêu thương và bồi đắp tình làng nghĩa xóm. Đó là mạch nguồn văn hóa được gìn giữ qua hàng nghìn năm lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam.

Thế nhưng, vào thời khắc thiêng liêng ấy, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội lại đẩy mạnh các hoạt động chống phá trên không gian mạng. Họ tận dụng Tết như “thời điểm vàng” để tung ra những luận điệu xuyên tạc, đánh thẳng vào nền tảng văn hóa và niềm tin xã hội.

Âm mưu của họ tập trung trên một số nội dung: (1) Xuyên tạc ý nghĩa văn hóa của Tết, bôi nhọ các giá trị truyền thống, phong tục tập quán. (2) Thổi phồng những hạn chế, tiêu cực cá biệt để quy chụp cho rằng “Tết vô cảm”, “Tết chỉ dành cho những người khá giả”, từ đó gây tâm lý bi quan, bất mãn. (3) Dùng những lời lẽ mỉa mai, họ gọi Tết là “lạc hậu”, “rườm rà”, “không phù hợp với thời đại”.

Các thủ đoạn này được triển khai có tính toán, đồng bộ và lặp đi lặp lại, cho thấy họ xuyên tạc có chủ đích chứ không phải những phát ngôn bột phát, cá biệt. Mục đích của họ là nhằm làm nhiễu loạn nhận thức xã hội, bào mòn niềm tin và từng bước làm suy yếu nền tảng tinh thần của cộng đồng, từ đó kích động chia rẽ, nghi ngờ giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và lực lượng chức năng. Vì vậy, cần chủ động đấu tranh, kiên quyết phản bác các luận điệu xuyên tạc về Tết và mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch.

Thực tế lịch sử và đời sống văn hóa Việt Nam cho thấy, Tết Nguyên đán không chỉ là kỳ nghỉ lễ mang tính hành chính, mà là kết tinh sâu sắc truyền thống dân tộc. Đây là thời điểm thiêng liêng để mỗi người Việt hướng về cội nguồn, gia đình, dòng họ và quê hương. Những phong tục như thờ cúng tổ tiên, sum họp gia đình, chúc Tết, mừng tuổi, thăm hỏi họ hàng, làng xóm không phải là hình thức, mà là phương thức sống động để bảo tồn ký ức văn hóa, giữ gìn các giá trị văn hóa giữa các thế hệ. Tết đóng vai trò như “chất keo” xã hội, củng cố sự gắn kết từ gia đình đến cộng đồng, vun đắp tinh thần đoàn kết, sẻ chia và đồng thuận - nền tảng tinh thần quan trọng cho sự phát triển bền vững của đất nước. Vì vậy, duy trì và phát huy các phong tục tốt đẹp của Tết không phải là “lạc hậu”, mà là cách thức căn bản để gìn giữ bản sắc, bồi đắp đời sống tinh thần và tăng cường sức mạnh nội sinh của dân tộc trong bối cảnh hội nhập.

Trong dịp Tết Nguyên đán năm nay, hưởng ứng phong trào “Cả nước chung tay vì người nghèo - Không ai bị bỏ lại phía sau”, hàng trăm nghìn suất quà Tết đã đến với người có công, gia đình chính sách, hộ nghèo, công nhân lao động có hoàn cảnh khó khăn. Cùng với chương trình “Tết Sum vầy - Xuân chia sẻ”, các cấp Công đoàn đã tổ chức các chương trình như: “Ngày hội gia đình công nhân”; “Tết cho em”; thăm hỏi, tặng quà, hỗ trợ tiền mặt; tổ chức các chuyến xe, chuyến tàu, chuyến bay Công đoàn đưa, đón đoàn viên, người lao động về quê đón Tết; chương trình “Tết không xa nhà” cho những người lao động ở lại, Tết cho con công nhân, v.v. Dự kiến trong dịp Tết Nguyên đán năm nay, khoảng trên 12 triệu lượt đoàn viên, người lao động và thân nhân được thụ hưởng các hoạt động chăm lo do tổ chức Công đoàn triển khai. Từ Trung ương đến địa phương, lãnh đạo các cấp trực tiếp thăm hỏi, động viên, chăm lo để mọi người đều có Tết, vui Tết. Đây là thực tiễn sinh động bác bỏ rõ ràng các luận điệu xuyên tạc về một “cái Tết vô cảm”, hay “Tết chỉ dành cho người khá giả”.

Trong xu thế hội nhập và hiện đại hóa, việc điều chỉnh một số tập quán cho phù hợp với nhịp sống mới là cần thiết, nhưng đó phải là sự đổi mới trên nền tảng gìn giữ bản sắc, chứ tuyệt nhiên không phải đánh đổi hay làm phai nhạt bản sắc. Như Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Cái gì cũ mà tốt, thì phải phát triển thêm…”, hàm ý rằng truyền thống quý báu cần được kế thừa, sáng tạo và phát huy trong điều kiện mới, chứ không phải bị phủ nhận cực đoan. Vì vậy, những lời lẽ mỉa mai gọi Tết là “lạc hậu”, “rườm rà”, “không phù hợp với thời đại” không chỉ là sự thiếu thấu hiểu văn hóa, mà còn là cách nhìn phiến diện, đứt gãy với lịch sử văn hóa dân tộc. Nếu thực sự quan tâm đến văn hóa và sự phát triển của đất nước, thay vì kêu gọi bỏ Tết, cần tập trung hiến kế để hạn chế những mặt tiêu cực phát sinh, đồng thời khai thác và phát huy tốt hơn các giá trị kinh tế, xã hội và văn hóa của Tết trong đời sống đương đại.

Bên cạnh đó, ở tuyến đầu, trong khi mọi nhà sum vầy đón Tết, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang vẫn kiên trì bám trụ, trực sẵn sàng chiến đấu, tuần tra, kiểm soát, giữ vững chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội để Nhân dân vui Xuân, đón Tết trong bình yên. Sự hy sinh thầm lặng ấy không chỉ là nhiệm vụ, mà còn là biểu hiện sinh động của trách nhiệm với Tổ quốc và tình cảm sâu nặng với Nhân dân. Chính điều này đã tạo nên nét đặc sắc của Tết Việt: vừa mang đậm bản sắc văn hóa, vừa thấm đẫm tinh thần phụng sự, sẻ chia và bảo vệ cuộc sống yên bình cho Nhân dân.

Giữ lấy Tết là giữ lấy hồn cốt Việt, giữ lấy ký ức lịch sử, bản sắc văn hóa và nền tảng tinh thần của dân tộc. Trong bối cảnh không gian mạng ngày càng phức tạp, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo nhận diện, chủ động đấu tranh, không để các luận điệu xuyên tạc làm nhiễu loạn nhận thức và bào mòn niềm tin. Đồng thời, cần tích cực lan tỏa những giá trị nhân văn, nghĩa tình của Tết Việt; phát huy mặt tích cực, khắc phục những hạn chế phát sinh trong đời sống hiện đại, để Tết vừa giữ được cốt cách truyền thống, vừa phù hợp với nhịp sống mới. Đó chính là cách thiết thực nhất để bảo vệ bản sắc văn hóa dân tộc, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và góp phần xây dựng một Việt Nam giàu mạnh, nhân ái, văn minh trong kỷ nguyên mới./.

Feb 11, 2026

Đại hội XIV thành công rất tốt đẹp là câu trả lời đanh thép các thế lực thù địch

      Đại hội XIV của Đảng đã bế mạc được ba tuần nhưng thành công của Đại hội rất tốt đẹp vẫn tiếp tục lan tỏa sâu rộng  trong Đảng, trong xã hội và trên trường quốc tế. Đồng thời thành công của Đại hội rất tốt đẹp là câu trả lời đanh thép các thế lực thù địch, phản động. Là một công dân sống tại Hà Nội đã hơn nửa thế kỷ nên tôi trao đổi để làm rõ nhận định này.

     Trước hết, về bối cảnh thế giới đang diễn ra những biến động nhanh chóng, phức tạp, cạnh tranh chiến lược gay gắt giữa các nước lớn ngày càng gia tăng; biến đổi khí hậu cực đoan khiến động đất, bão lũ, thiên tai diễn ra ở nhiều khu vực và tác động trực tiếp tới Việt Nam dẫn đến tình trạng “bão chồng bão”, “lũ chồng lũ”, v.v. Các thách thức truyền thống và phi truyền thống đan xen. Chính trong bối cảnh đó, Đại hội XIV đã khẳng định tài năng sáng suốt và bản lĩnh cầm quyền của Đảng ta: Không dao động trước biến động, không né tránh trước khó khăn, không thỏa hiệp với những lực cản của sự phát triển, không bị các luận điệu sai trái của các thế lực thù địch, phản động làm ảnh hưởng đến mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân. Vì vậy, Đại hội XIV đã thể hiện tầm nhìn chiến lược cho một kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng.

     Thứ hai, Đại hội rất thành công vì đã thực hiện tốt phương châm của Đảng ta là: “ Kế thừa, đổi mới và phát triển”. Đại hội thể hiện việc kiên định những vấn đề quan điểm có tính nguyên tắc sống còn của Đảng. Đó là : Khẳng định chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bổ sung thành tố thứ ba: Lý luận về đổi mới vào nền tảng tư tưởng của Đảng; Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; vai trò lãnh đạo của Đảng cầm quyền; xác định nhân dân làm trung tâm, chủ thể và mục đích của công cuộc đổi mới, của sự phát  triển. Đồng thời Đại hội thể hiện tư duy đột phá cho sự phát triển, những quyết sách tại Đại hội mở đường cho giai đoạn phát triển mới dựa vào sự phát triển của khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số; chuyển đổi xanh, kinh tế tri thức và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đó là đòi hỏi sinh tử để nâng cao chất lượng cạnh tranh, khả năng thích nghi và vị thế quốc gia trong tình hình thế giới có những biến đổi mau lẹ và khó lường. Nội dung này cũng phủ nhận luận điệu xấu cho rằng: Việt Nam đang bế tắc về đường lối phát triển…

     Thứ ba, Đại hội XIV có điểm nhấn vượt thời đại khi xác định: Tư duy tự cường và độc lập chiến lược quốc gia. Trong bối cảnh thế giới xu thế toàn cầu hóa đang bị phân mảnh thì Nghị quyết Đại hội XIV khẳng định Việt Nam hội nhập sâu rộng nhưng không lệ thuộc, hợp tác  rộng mở nhưng không đánh mất bản sắc. Cần nhấn mạnh tự cường được hiểu thể hiện trong nhiều lĩnh vực, như: Kinh tế, công nghệ, thể chế, văn hóa…để phát huy năng lực nội sinh và đặt lợi ích dân tộc, lợi ích quốc gia lên trên hết, trước hết. Điều đó cũng phủ nhận luận điệu cho rằng: Việt Nam là “ chư hầu” của nước khác…

     Thứ tư, công tác nhân sự là một thành công nổi bật của Đại hội XIV. Mặc dù trước Đại hội, các thế lực thù địch tung ra các luận điệu sai trái, thù địch hòng phá hoại Đại hội khi cho rằng, nhân sự cho Đại hội XIV đã được “áp đặt từ trước”, “không hề có dân chủ”, thể hiện “bè cánh”, “lợi ích nhóm”, “nhân sự thiên về công an”,... đáng chú ý, tiêu chuẩn đối với người tham gia Ban Chấp hành Trung ương kỳ này phải có “tư duy đột phá”, “nói đi đôi với làm”, “nói ít làm nhiều”, v.v. Nói tóm lại, phải có “Đức - Sức - Tài” như Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh để hoàn thành nhiệm vụ được giao một cách có hiệu quả cao nhất xứng đáng với niềm tin của Đảng và sự kỳ vọng của nhân dân. Mặt khác, lựa chọn cán bội phải đáp ứng cho tương lai phát triển lâu dài của đất nước khi bước vào kỷ nguyên nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng.

     Thứ năm, phát biểu của Tổng Bí thư Tô lâm trong phiên bế mạc Đại hội và trong bài viết “Tiến lên! Toàn thắng ắt về ta!” đã đưa ra thông điệp mạnh mẽ là: Phải biến nghị quyết thành hành động, biến ý chí chính trị thành kết quả cụ thể trong đời sống xã hội! Cũng chính với lẽ đó mà Chương trình hành động thực hiện Nghị  quyết Đại hội XIV đã được Đảng chuẩn bị song song với văn kiện Đại hội. Điều đó đã nói lên ý chí quyết tâm đưa Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống để hiện thực hóa khát vọng ngàn đời của dân tộc ta. Và chúng ta xin nói lại rằng, mọi âm mưu, thủ đoạn chống phá đối với Đại hội XIV của các thế lực thù địch, phản động nhất định sẽ thất bại./.

(Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)


Không thể xuyên tạc, hạ thấp thân thế, sự nghiệp và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh

          Tre Việt - Ngày 04/02, trang facebook Nhật Ký Yêu Nước đăng status: “Hồ Chí Minh không hề được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới hay bất kỳ danh hiệu cá nhân nào”, nhằm bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp thân thế, sự nghiệp và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

Cần khẳng định ngay rằng, đây là chiêu bài thâm hiểm, theo kiểu “lập lờ đánh lận con đen” của các thế lực thù địch, phần tử phản động, cơ hội chính trị thông qua việc bôi nhọ, xuyên tạc, hạ thấp thân thế, sự nghiệp và uy tín của Chủ tịch Hồ Chí Minh để xuyên tạc, chống phá Đảng Cộng sản Việt Nam, nhất là sự kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng ta vừa diễn ra thành công rất tốt đẹp. Thâm hiểm hơn, với âm mưu “hạ bệ thần tượng” này, họ lợi dụng để xuyên tạc, chống phá tận gốc một trong những thành tố quan trọng hình thành nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Có lẽ, không ngôn từ nào có thể diễn tả được hết những cống hiến, hy sinh của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Đảng, Nhân dân Việt Nam và sự nghiệp cách mạng của nhân dân cần lao trên toàn thế giới. Điều đó đã được nhiều học giả, nhà nghiên cứu văn hóa quốc tế, các nguyên thủ ghi nhận, đánh giá Hồ Chí Minh là một nhân vật đã làm nên dấu ấn bước ngoặt vĩ đại không chỉ cho dân tộc Việt Nam mà còn để lại những dấu ấn khó phai trong tiến trình lịch sử phát triển tư tưởng, văn hóa của nhân loại.

Điều rất đáng tự hào là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được yêu quý, kính trọng ở Việt Nam mà Người cũng được Nhân dân thế giới nể phục, tôn vinh. Năm 1987, tại khóa họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất”. Với Nghị quyết này, UNESCO đã ghi nhận những đóng góp to lớn, quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với cả nhân loại, đồng thời tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những “nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại”.

Từ đó đến nay, hoạt động vinh danh Người đã được tổ chức ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Việt Nam, đến cuối năm 2023, đã có 37 tượng/tượng đài, 13 khu tưởng niệm, 06 trường lớp và 21 đại lộ, đường phố, công viên mang tên Hồ Chí Minh được xây dựng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Những hoạt động đó xuất phát từ sự yêu mến, lòng kính trọng và công nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp của Hồ Chí Minh, hoàn toàn trái ngược với luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.

Vì vậy, Nhật Ký Yêu Nước rêu rao ““Hồ Chí Minh không hề được UNESCO công nhận là danh nhân văn hóa thế giới hay bất kỳ danh hiệu cá nhân nào”, là luận điệu hết sức thâm độc, nham hiểm nhằm hạ thấp thanh danh, uy tín, vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam, làm xói mòn niềm tin của Nhân dân vào tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; qua đó, nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, hướng lái Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Luận điệu xuyên tạc trắng trợn, kích động lố bịch này sẽ chẳng lừa bịp được ai, nhất định sẽ bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.

 

 

 

 

Feb 10, 2026

Chăm lo, phát triển thanh niên - chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam

          Trên trang Vietnamthoibao, Camille Nguyễn đăng tải bài viết “Cuối năm 2025: 10% thanh niên không việc làm, không học tập, không đào tạo nghề” nhằm phủ nhận, xuyên tạc quan điểm, đường lối của Đảng, chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước về thanh niên, cho rằng Đảng, Nhà nước thiếu chính sách đào tạo đúng đắn, hướng nghiệp cho thanh niên, chưa đáp ứng được nhu cầu của thị trường lao động hiện nay. Đây là những luận điệu hoàn toàn sai trái, phản động cần phê phán, bác bỏ:

Một là, chăm lo, phát triển thanh niên chủ trương nhất quán xuyên suốt của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Ngay từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đã đặc biệt quan tâm đến công tác thanh niên. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần khẳng định: Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà, đồng thời căn dặn: Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết. Tư tưởng đó đã trở thành nền tảng lý luận, kim chỉ nam cho đường lối, chủ trương của Đảng về thanh niên. Qua các kỳ Đại hội, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhấn mạnh nhiệm vụ chăm lo, phát triển thanh niên. Nghị quyết Trung ương 7 khóa X về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” khẳng định: thanh niên là lực lượng xung kích trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện; tạo môi trường, điều kiện thuận lợi để thanh niên học tập, lao động, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, cống hiến cho đất nước. Trên cơ sở quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, pháp luật quan trọng như: Luật Thanh niên, Chiến lược phát triển thanh niên Việt Nam, các chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm, dạy nghề, giảm nghèo bền vững, hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp, v.v. Điều đó cho thấy chăm lo, phát triển thanh niên không phải là chủ trương nhất thời mà là quan điểm xuyên suốt, nhất quán, lâu dài.

Hai là, thực tiễn chính sách chăm lo, phát triển thanh niên ở Việt Nam hiện nay. Thực tế cho thấy, những năm qua, Đảng và Nhà nước đã dành nhiều nguồn lực để đầu tư cho giáo dục, đào tạo, tạo việc làm và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trẻ. Mạng lưới các cơ sở giáo dục, đào tạo nghề ngày càng được mở rộng; nhiều chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ học nghề, vay vốn giải quyết việc làm, khởi nghiệp sáng tạo dành cho thanh niên được triển khai đồng bộ. Các tổ chức Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Liên hiệp Thanh niên Việt Nam đã phát huy vai trò nòng cốt trong tập hợp, giáo dục, rèn luyện thanh niên, triển khai nhiều phong trào thiết thực như “Thanh niên lập nghiệp”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”, v.v. Nhiều mô hình hỗ trợ thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp, chuyển giao khoa học, công nghệ, đào tạo nghề gắn với nhu cầu xã hội đã mang lại hiệu quả rõ rệt. Tuy nhiên, trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế sâu rộng, tác động của biến động kinh tế toàn cầu, chuyển đổi cơ cấu lao động, sự chênh lệch về trình độ, kỹ năng giữa các nhóm thanh niên,… đã làm nảy sinh những vấn đề xã hội phức tạp. Việc còn tồn tại một bộ phận thanh niên không có việc làm, không học tập, không tham gia đào tạo nghề là hiện tượng khách quan, xuất hiện ở nhiều quốc gia, không riêng Việt Nam, và không thể đồng nhất với việc Đảng, Nhà nước thiếu quan tâm đến thanh niên. Chăm lo, phát triển thanh niên là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội, trong đó thanh niên vừa là đối tượng thụ hưởng, vừa là chủ thể tích cực. Bên cạnh sự quan tâm của Đảng, Nhà nước, mỗi thanh niên cần nâng cao ý thức tự giác học tập, rèn luyện, chủ động thích ứng với yêu cầu của thị trường lao động, không trông chờ, ỷ lại.

Tóm lại, chăm lo, phát triển thanh niên là chủ trương nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta. Nhận diện đúng bản chất vấn đề, kiên quyết đấu tranh phản bác luận điệu sai trái, đồng thời phát huy vai trò, trách nhiệm của thanh niên và toàn xã hội chính là con đường đúng đắn để xây dựng thế hệ thanh niên Việt Nam phát triển toàn diện, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)