Mar 2, 2026

Sự phi lý của luận điệu: bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh, không có tự do lựa chọn”

          Sau thành công rực rỡ của Đại hội XIV của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gia tăng hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên không gian mạng nhằm phá hoại việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và cản trở cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Luận điệu xuyên tạc bản chất dân chủ của chế độ ta, đặc biệt xoay quanh cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp lần này, đã và đang trở thành mũi nhọn tấn công trực diện vào tính chính danh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu không kịp thời nhận diện đúng và đấu tranh phản bác thấu đáo, những luận điệu sai trái ấy có cơ hội bùng phát, tiếp tục gieo rắc “nọc độc” vào tâm lý hoài nghi, nhất là trong một bộ phận thanh niên – lực lượng thường xuyên tiếp cận thông tin đa chiều nhưng chưa đủ trải nghiệm để “lọc nhiễu” sẽ gây tác hại vô cùng to lớn: “làm ô nhiễm những bộ óc non trẻ” với sự tổn thương lớn lao, khôn lường.

1. Lại luận điệu cũ: “bầu cử là hình thức”, “đảng cử dân bầu” và sự so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây.  Một trong những chiêu bài quen thuộc là gán ghép rằng, bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh”, “không có tự do lựa chọn”, rằng đó chỉ là “đảng cử dân bầu”, “việc làm hình thức, gây tốn tiền thuế của dân”, “chưa bầu đã biết các đại biểu gật”, v.v. Thực chất, đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất dân chủ với mô hình đa đảng phương Tây, rồi lấy đó làm thước đo duy nhất để la ó rùm beng.

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền ứng cử, tự ứng cử và bầu cử. Thực tế các kỳ bầu cử trước đây cho thấy, số lượng người ứng cử luôn cao hơn số đại biểu được bầu; danh sách chính thức được chốt qua nhiều vòng hiệp thương, bảo đảm cơ cấu nhưng vẫn có sự lựa chọn thực chất. Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử các nhiệm kỳ trước luôn đạt trên 99%. Đây là một con số biết nói về niềm tin và trách nhiệm chính trị của Nhân dân.

Những kẻ tung tin “không có cạnh tranh” đã “đội mũ ni che tai”, cố tình làm ngơ, bỏ qua thực tế rằng, cạnh tranh trong bầu cử ở Việt Nam không phải là sự đối đầu đảng phái, mà là sự lựa chọn giữa những cá nhân đủ đức, đủ sức, đủ tài, được Nhân dân tín nhiệm. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không đặt trọng tâm ở sự “đấu khẩu” hay vận động tranh cử tốn kém hàng triệu đô la, kéo dài vài tháng, mà ở quyền làm chủ thực chất của Nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Ai đó đã so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây là cách lập luận khiên cưỡng. Mỗi quốc gia, dân tộc có lịch sử, điều kiện chính trị - xã hội khác nhau; nhận thức, hiểu biết khác nhau. Dân chủ không phải là “đồng phục chính trị” - những bộ quần áo đã may sẵn một cỡ cho tất cả các nước; một cờ giầy cho tất cả các đôi chân. Lịch sử đã chứng minh, có những quốc gia đa đảng nhưng chia rẽ, bất ổn kéo dài; cũng có những quốc gia một đảng lãnh đạo nhưng xã hội ổn định, phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao. Vấn đề cốt lõi không phải “mấy đảng”, mà là quyền lực có thực sự thuộc về Nhân dân hay không, dân có thực sự làm chủ hay không.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Đó là tinh thần xuyên suốt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Quyền lực nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân ủy quyền thông qua bầu cử; không một tổ chức hay cá nhân nào đứng ngoài hay đứng trên nhân dân.

2. Phủ nhận vai trò hiệp thương và lấy ý kiến cử tri – sự bóp méo trắng trợn quy trình dân chủ. Một luận điệu khác là cố tình phủ nhận vai trò của hiệp thương, cho rằng, đó chỉ là “thủ tục hợp thức hóa”, “bịt mắt dân”. Thực chất, quy trình hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì là điểm đặc thù và là giá trị dân chủ sâu sắc của chế độ ta.

Hiệp thương không phải “đóng cửa bảo nhau”, mà diễn ra qua nhiều vòng: thỏa thuận cơ cấu, giới thiệu người ứng cử; lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; tổ chức hội nghị cử tri; tổng hợp, công khai danh sách sơ bộ và chính thức. Ở mỗi khâu, cử tri có quyền phát biểu, nhận xét thẳng thắn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của người ứng cử. Không ít trường hợp người ứng cử đã không đạt được tín nhiệm cần thiết và phải rút khỏi danh sách.

Việc lấy ý kiến cử tri nơi cư trú và nơi công tác chính là “bộ lọc xã hội” quan trọng, bảo đảm người được giới thiệu không chỉ “đúng quy trình” mà còn “hợp ý Đảng - lòng Dân”. Đó là cơ chế giám sát ngay từ đầu vào, phòng ngừa nguy cơ “lọt lưới” những người không đủ tiêu chuẩn.

Những người phủ nhận kết quả Hội nghị hiệp thương thường né tránh thực tế rằng, nếu không có quy trình này, danh sách ứng cử có thể bị chi phối bởi tiền bạc, truyền thông hoặc các nhóm lợi ích. Ở nhiều nước, vận động tranh cử gắn với tài trợ tài chính lớn, tạo ra khoảng cách giữa người có điều kiện và người không có điều kiện; kẻ giầu và người nghèo. Trong khi đó, mô hình hiệp thương ở Việt Nam hướng đến sự cân bằng giữa tiêu chuẩn, cơ cấu và tín nhiệm xã hội.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là cuộc thi “ai nói hay hơn”, “diễn thuyết hùng biện hơn”, mà là quá trình lựa chọn người đại diện xứng đáng thông qua sự thẩm định của công chúng, cộng đồng. Bản chất của nó là dân chủ có tổ chức, có kỷ cương, có nền nếp, chứ không phải dân chủ vô chính phủ, “nói một đằng, làm một nẻo”.

3. Thổi phồng cá biệt để quy chụp toàn hệ thống - thủ pháp quen thuộc cần vạch trần sự giả dối. Một chiêu thức nữa là thổi phồng, bóp méo một vài trường hợp cá biệt như khi có đại biểu vi phạm pháp luật, bị bãi nhiệm, rồi quy chụp rằng, toàn bộ hệ thống “thiếu dân chủ”, “thiếu minh bạch”. Đây là lối suy luận “vơ đũa cả nắm”, thiếu cơ sở khoa học và thiếu thiện chí; không thể chấp nhận.

Chúng ta đều biết, trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, không thể tránh khỏi sai sót cá nhân. Vấn đề quan trọng là cơ chế xử lý có nghiêm minh hay không; có hợp với lòng dân, vận nước hay không. Thực tế cho thấy, khi có vi phạm hoặc sai sót, các cơ quan có thẩm quyền đã xem xét, xử lý kịp thời, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu cần thiết, đúng với người, hợp với việc. Chính việc công khai xử lý sai phạm lại chứng tỏ cơ chế kiểm soát quyền lực đang vận hành thống nhất, hiệu quả.

Nếu lấy một vài hiện tượng tiêu cực để phủ định cả nền dân chủ, thì đó không phải “phản biện xây dựng”, mà là cố tình phá hoại niềm tin xã hội, gây rối lòng dân. Điều đó giống như thấy một chiếc lá úa mà kết luận cả khu rừng đã chết. Đó là cách nhìn phiến diện, một chiều, “thấy màu đỏ tưởng đã chín”, “nhìn gà hóa cuốc”.

Đấu tranh với những luận điệu sai trái, phản nhân văn, xuyên tạc về bầu cử không chỉ là trách nhiệm công dân trong bảo vệ một quy trình pháp lý, mà là bảo vệ nền tảng chính trị, bảo vệ niềm tin của Nhân dân vào chế độ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không rập khuôn máy móc theo mô hình nào, mà được hình thành từ thực tiễn cách mạng, từ tư tưởng “dân là gốc”,  “lấy Nhân dân làm trung tâm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.

Đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái; giữ vững và làm sáng rõ bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là cách tốt nhất để phản bác mọi luận điệu sai trái, chống phá bầu cử. Bởi lẽ, khi Nhân dân thực sự là chủ, làm chủ, tức là khi “bao nhiêu quyền hạn đều của dân, thuộc về dân”, thì mọi sự xuyên tạc, dù ồn ào đến đâu, xảo trá đến mức nào, cũng chỉ là tiếng vọng lạc lõng trước niềm tin và thực tiễn sống động của đất nước.

Kết luận: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, không chỉ là một sự kiện chính trị thường kỳ theo luật định, mà là biểu hiện tập trung của quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất dân chủ của chế độ thực chất nhằm đánh vào niềm tin - nền tảng chính trị - tinh thần của xã hội ta. Nhưng niềm tin của Nhân dân không được xây dựng bằng khẩu hiệu, mà bằng thực tiễn sinh động của mỗi kỳ bầu cử với tỷ lệ cử tri tham gia rất cao, bằng quy trình hiệp thương dân chủ, công khai, minh bạch và bằng trách nhiệm chính trị ngày càng được nâng cao của mỗi công dân.

Tính tất yếu khách quan của cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 nằm ở yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới. Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng, càng cần một Quốc hội và Hội đồng nhân dân đủ tâm, đủ tầm, đủ tuệ; được Nhân dân ủng hộ và tín nhiệm cao.

Thông điệp cốt lõi là: bảo vệ bầu cử chính là bảo vệ quyền làm chủ của chính mình, của gia đình mình, của quốc gia - dân tộc mình. Niềm tin của Nhân dân sẽ tiếp tục là sức mạnh vững chắc làm thất bại mọi sự xuyên tạc, gieo rắc hoài nghi, bi quan; sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

Nhận diện thủ đoạn bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam qua xung đột quân sự tại Iran

          Trong thời điểm diễn biến tại Trung Đông, đặc biệt xoay quanh xung đột quân sự liên quan tới Iran, một số luồng thông tin sai lệch đã xuất hiện nhằm so sánh lãnh đạo Việt Nam với lãnh tụ Iran. Những so sánh này được gắn với mục đích bôi nhọ, kích động cảm xúc tiêu cực, và đặt ra những ám chỉ sai lệch về đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhưng khi nhìn vào thực tiễn chính trị - đối ngoại của Việt Nam, nhận định ấy không chỉ phi lý mà còn chứng tỏ sự hiểu sai bản chất đường lối chính trị của dân tộc ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng so sánh lãnh đạo quốc gia một cách tùy tiện, đặc biệt trong bối cảnh nhạy cảm của xung đột quốc tế, là thao tác tuyên truyền thiếu trách nhiệm và dễ dẫn đến hiểu lầm trong dư luận. Lãnh đạo Việt Nam, được bầu chọn theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luôn được đặt trong hệ thống quyền lực tập thể của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và Chính phủ, dưới sự giám sát của nhân dân. Đây là mô hình chính trị khác xa với cấu trúc quyền lực cá nhân hoặc gia đình trị thường được ghi nhận trong một số nước Trung Đông.

Trong khi đó, Iran có một hệ thống chính trị đặc thù với vị trí người đứng đầu tôn giáo (Supreme Leader) nắm giữ quyền lực cực kỳ rộng lớn trong nhiều thập kỷ. Việc so sánh vai trò và tính chất lãnh đạo giữa hai hệ thống chính trị khác biệt này là thiếu cơ sở khoa học và dễ dẫn đến nhận thức sai lệch. Điều này không phải chỉ là vấn đề học thuật, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới hình ảnh và niềm tin xã hội vào lãnh đạo đất nước.

Một luận điệu phổ biến trên mạng là “Tổng Bí thư Việt Nam giống lãnh tụ Iran vì cả hai đều định hướng chiến lược quốc gia”. Đây là cách dựng chuyện lẫn lộn hai mô hình chính trị hoàn toàn khác nhau. Nước ta thực thi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đảm bảo quyền lực không bị tập trung vào một cá nhân duy nhất; đây là nguyên lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam. Ngược lại, trong hệ thống chính trị của Iran, chức danh Lãnh tụ Tối cao có quyền lực vượt trội và kéo dài trọn đời, không chịu sự giám sát và bầu cử phổ thông theo mô hình đa đảng.

Thực tế đối ngoại gần đây của Việt Nam cũng minh chứng đường lối lãnh đạo đúng đắn và chủ động. Trong bối cảnh xung đột Iran và căng thẳng khu vực Trung Đông leo thang, Việt Nam đã giữ thái độ cân bằng, tôn trọng luật pháp quốc tế và kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, phù hợp với nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và truyền thống đối ngoại lâu đời của dân tộc. Đây là biểu hiện của một đường lối lãnh đạo không dựa trên cá nhân mà là nguyên tắc tỉnh táo, phù hợp với lợi ích quốc gia. Những thông điệp chính thức từ Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh toàn diện, minh bạch quan điểm này trong nhiều tuyên bố gần đây, đặc biệt khi nói tới quyền chủ quyền và hòa bình trong khu vực.

Một số đối tượng lại cố tình sử dụng chiêu bài “so sánh lãnh đạo” nhằm gây hoang mang, đẩy nhận thức của người dân đi lệch khỏi thực tế. Họ cố tạo ra một tương quan giữa hai hình mẫu lãnh đạo mà thực chất không thể đặt cạnh nhau. Bởi một bên là nhà lãnh đạo trong hệ thống chính trị đa thành phần, được kiểm soát bởi luật pháp và phản ánh ý chí của nhân dân, còn bên kia là mô hình quyền lực tập trung và mang tính thần quyền. Việc ghép nối này chỉ nhằm mục đích tuyên truyền và hạ thấp hình ảnh lãnh đạo thực tế, không hề phản ánh bản chất chính trị, pháp lý hay đạo đức lãnh đạo.

Quan trọng hơn, những so sánh như vậy thường xuất hiện vào thời điểm nhạy cảm nhằm lợi dụng biến động quốc tế để gây bất ổn trong nhận thức xã hội. Từ đó lan truyền thông tin sai lệch về tính hiệu quả, bản lĩnh và trách nhiệm lãnh đạo trong việc đưa đất nước vượt qua khó khăn. Trên thực tế, qua các giai đoạn phát triển và hội nhập sâu rộng, Việt Nam luôn thể hiện sự nhất quán trong hoạch định chính sách: giữ vững hòa bình, bảo vệ quyền lợi quốc gia; tăng cường vai trò đối ngoại độc lập; và không để bị lôi kéo vào các liên minh mang tính đối đầu chiến lược.

So sánh giữa các hệ thống lãnh đạo quốc gia là một chủ đề nghiên cứu hay đối thoại chính trị, nhưng việc áp đặt, đặc biệt trong truyền thông thiếu kiểm chứng, là hành vi thiếu trách nhiệm và nguy hiểm. Đặc biệt trong kỷ nguyên thông tin với sự lan truyền nhanh của mạng xã hội, mỗi chúng ta cần cẩn trọng hơn trước những luận điệu đơn giản hóa, cố tình bóp méo thực tế để phục vụ mục tiêu tuyên truyền.

Nhìn từ xung đột Iran, chúng ta càng thấy rõ hơn sự khác biệt căn bản giữa những mô hình chính trị, đường lối lãnh đạo và cách thức điều hành đất nước. Nhận diện đúng bản chất sẽ giúp công chúng không bị cuốn theo các luận điệu sai lệch, mà giữ được cái nhìn thấu suốt về các vấn đề đối ngoại - chính trị. Một xã hội tỉnh táo thông tin là nền tảng để bảo vệ niềm tin vào lãnh đạo, đồng thời giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội.

Việc hiểu đúng, đánh giá đúng vai trò lãnh đạo của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu biến động là điều hết sức quan trọng. Chúng ta không thể, và không nên, mang những hình ảnh lãnh đạo từ những thể chế khác nhau ra để so sánh một cách thiếu căn cứ. Việc đó không chỉ sai lệch về mặt chính trị học, mà còn có nguy cơ đánh lừa nhận thức xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân vào hệ thống lãnh đạo đất nước - điều đang rất cần được củng cố trong thời đại cạnh tranh thông tin hiện nay./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Feb 24, 2026

“Tham gia Hội đồng Hòa bình là tham vọng cá nhân của lãnh đạo?” - Phản bác cách cá nhân hóa một quyết định chính sách quốc gia

         Trong các luận điệu công kích liên quan đến việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình về Gaza (Board of Peace - BoP), một dạng xuyên tạc nổi bật là quy kết đây là “bước đi vì hình ảnh cá nhân”, “tham vọng quyền lực” hay “chiến lược đánh bóng tên tuổi” của lãnh đạo cấp cao. Thậm chí, có ý kiến suy diễn rằng chuyến công tác tham dự phiên họp khai mạc BoP tại Washington là “ưu tiên lợi ích cá nhân hơn lợi ích quốc gia”. Đây là một lối tiếp cận mang tính cá nhân hóa chính sách, đánh tráo bản chất tập thể của hệ thống hoạch định đối ngoại Việt Nam.

Trước hết, cần khẳng định rằng chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải sản phẩm của quyết định cá nhân đơn lẻ. Theo quy định của hệ thống chính trị, các vấn đề đối ngoại chiến lược được thảo luận và quyết định tập thể trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan có thẩm quyền. Đường lối đối ngoại được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng, được triển khai nhất quán qua các nhiệm kỳ, bất kể thay đổi nhân sự lãnh đạo. Vì vậy, việc quy toàn bộ một quyết định ngoại giao về động cơ cá nhân là sự đơn giản hóa không phản ánh đúng cơ chế vận hành chính sách.

Luận điệu “đánh bóng cá nhân” thường dựa vào việc nhấn mạnh hình ảnh xuất hiện của lãnh đạo tại các diễn đàn quốc tế. Tuy nhiên, trong thông lệ ngoại giao, việc nguyên thủ hoặc lãnh đạo cấp cao tham dự hội nghị quốc tế là bình thường và thể hiện vai trò đại diện quốc gia. Việt Nam đã nhiều lần cử lãnh đạo cấp cao tham dự các diễn đàn như Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội nghị Cấp cao ASEAN, APEC, G20 mở rộng, v.v. Không ai coi những chuyến đi này là “tham vọng cá nhân”, bởi chúng nằm trong khuôn khổ chức trách quốc gia.

Việc Tổng Bí thư tham dự phiên khai mạc BoP và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo Hoa Kỳ, các nghị sĩ, cộng đồng kiều bào cũng diễn ra theo thông lệ ngoại giao. Trong tài liệu tổng hợp dư luận được công bố, chuyến công tác bao gồm nhiều hoạt động song phương và đa phương, từ trao đổi thương mại đến hợp tác nghị viện. Nếu nhìn một cách toàn diện, đây là chuyến công tác tổng hợp chứ không chỉ là sự kiện đơn lẻ.

Một đặc điểm của luận điệu cá nhân hóa là bỏ qua bối cảnh chiến lược dài hạn. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ năm 2023, trước cả khi BoP được đề xuất. Quan hệ này được xây dựng trên nền tảng 30 năm bình thường hóa và nhiều năm hợp tác kinh tế, giáo dục, quốc phòng. Do đó, việc lãnh đạo Việt Nam tham dự một cơ chế có sự tham gia của Hoa Kỳ là sự tiếp nối lộ trình hợp tác, không phải bước đi đột biến nhằm phục vụ hình ảnh cá nhân.

Cũng cần phân biệt giữa việc xuất hiện trên trường quốc tế và việc thay đổi chính sách. Không có bằng chứng nào cho thấy Việt Nam đã điều chỉnh nguyên tắc đối ngoại để phục vụ lợi ích cá nhân của bất kỳ lãnh đạo nào. Việt Nam vẫn duy trì lập trường ủng hộ giải pháp hai nhà nước, vẫn tiếp tục tham gia các cơ chế Liên hợp quốc, vẫn giữ nguyên nguyên tắc “không liên minh quân sự, không đứng về bên này chống bên kia”. Nếu mục tiêu là “đánh bóng cá nhân”, thì việc phải chấp nhận rủi ro bị chỉ trích từ nhiều phía là điều không hợp lý.

Trong khoa học chính trị, cá nhân hóa chính sách thường xuất hiện ở các hệ thống nơi quyền lực tập trung tuyệt đối vào một người. Tuy nhiên, tại Việt Nam, cơ chế lãnh đạo tập thể và nguyên tắc tập trung dân chủ là đặc trưng tổ chức. Các quyết định chiến lược đều phải qua quy trình tham vấn nhiều cấp. Bởi vậy, việc quy kết một quyết định ngoại giao thành tham vọng cá nhân không phù hợp với cấu trúc thể chế hiện hành.

Một điểm đáng chú ý là những cáo buộc cá nhân hóa thường đi kèm với thuyết âm mưu như “bảo chứng chính danh” hay “thỏa thuận ngầm”. Tuy nhiên, các thuyết này không kèm theo bằng chứng tài liệu, nghị quyết hay tuyên bố chính thức. Trong khi đó, các văn bản công khai của Việt Nam về chính sách đối ngoại vẫn nhấn mạnh tính độc lập, tự chủ và đa phương hóa.

Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, chính việc lãnh đạo cấp cao tham gia diễn đàn quốc tế giúp củng cố vị thế quốc gia và mở rộng cơ hội hợp tác. Khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, lãnh đạo Việt Nam đã trực tiếp tham dự và phát biểu tại các phiên họp quan trọng. Không ai coi đó là “tham vọng cá nhân”, mà là biểu hiện của trách nhiệm quốc gia.

Luận điệu cá nhân hóa cũng bỏ qua yếu tố dư luận trong nước. Theo tài liệu tổng hợp phản ánh, đa số ý kiến đánh giá chuyến công tác là dấu hiệu nâng cao vị thế quốc tế và thể hiện tinh thần chủ động đối ngoại. Chỉ một số ít ý kiến tiêu cực trên mạng xã hội tìm cách gán ghép động cơ. Điều này cho thấy bức tranh dư luận không đồng nhất với cách diễn giải cực đoan.

Trong môi trường truyền thông hiện đại, việc công kích cá nhân là chiến thuật phổ biến nhằm làm suy yếu tính chính danh của chính sách. Khi không thể bác bỏ nội dung chính sách bằng lập luận thực chứng, người ta chuyển sang tấn công người đại diện. Đây là phương thức tranh luận ad hominem - tập trung vào cá nhân thay vì bản chất vấn đề.

Đánh giá một quyết định ngoại giao cần dựa trên tác động chính sách và sự phù hợp với nguyên tắc quốc gia. Cho đến nay, chưa có bằng chứng nào cho thấy việc tham gia BoP làm thay đổi đường lối đối ngoại hoặc gây tổn hại lợi ích quốc gia. Do đó, việc quy kết thành “tham vọng cá nhân” là thiếu cơ sở.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và thông tin phân cực, cần thận trọng với các diễn giải dựa trên động cơ suy đoán. Chính sách đối ngoại của Việt Nam là kết quả của quá trình hoạch định tập thể, dựa trên lợi ích quốc gia dài hạn. Cá nhân lãnh đạo có vai trò đại diện và triển khai, nhưng không phải là chủ thể duy nhất quyết định./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Feb 23, 2026

Tỉnh táo trước những suy diễn về chuyến công tác tới Mỹ của Tổng Bí thư Tô Lâm

           Nhân chuyến công tác tới Mỹ theo lời mời của Tổng thống Donald Trump để tham dự hội nghị hòa bình về Gaza do phía Mỹ khởi xướng, một số trang mạng nhanh chóng đưa ra hàng loạt lập luận mang tính suy diễn. Tựu trung có ba hướng chính: Việt Nam phải đóng 1 tỉ USD; Việt Nam “lệ thuộc Mỹ”; và chuyến đi nhằm củng cố vị thế cá nhân. Thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng khi phân tích kỹ, những lập luận này bộc lộ nhiều điểm yếu, cần được phân tích làm rõ. 

1. Họ sử dụng luận điệu “Việt Nam đóng 1 tỉ USD” như một thông tin khẳng định, trong khi dữ kiện chính thức không cho thấy điều đó. Một số bài viết cho rằng nếu tham gia với tư cách thành viên sáng lập sáng kiến hòa bình, Việt Nam phải đóng góp 1 tỉ USD vào quỹ chung. Tuy nhiên, tại phiên bế mạc hội nghị, phía tổ chức đã công bố tổng mức đóng góp là 17 tỉ USD; trong đó Mỹ đóng 10 tỉ USD, 7 tỉ USD còn lại do một số quốc gia khác đóng góp. Danh sách công bố không có tên Việt Nam.

Như vậy, thông tin “Việt Nam đóng 1 tỉ USD” không chỉ thiếu cơ sở tại thời điểm lan truyền, mà còn không phù hợp với dữ kiện chính thức đã được công bố. Con số 1 tỉ USD được đưa ra trước khi có thông tin đầy đủ, rồi được lặp lại như một sự thật hiển nhiên.

Trong tranh luận nghiêm túc, giả định cần được đặt dưới dạng câu hỏi, không phải dưới dạng kết luận. Khi một con số chưa được xác thực được lặp đi lặp lại, nó dễ tạo cảm giác “có vẻ là thật”. Nhưng cảm giác không thể thay thế bằng chứng.

Ngay cả trong trường hợp một quốc gia tham gia với tư cách sáng lập và có đóng góp tài chính, điều đó cũng cần được nhìn trong tổng thể lợi ích và trách nhiệm quốc tế. Thành viên sáng lập không chỉ đóng góp nguồn lực mà còn có tiếng nói trong việc định hình cơ chế hoạt động. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, việc quy kết Việt Nam đóng 1 tỉ USD đã không dựa trên dữ kiện thực tế.

2. Họ quy kết Việt Nam “lệ thuộc Mỹ” nhưng không đưa ra bằng chứng về việc mất độc lập chính sách. Trong thế giới toàn cầu hóa, các nền kinh tế đan xen lợi ích. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao; Mỹ là một đối tác thương mại lớn. Biến động chính sách thuế của Mỹ có thể ảnh hưởng tới Việt Nam – điều đó phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng phụ thuộc kinh tế không đồng nghĩa với lệ thuộc chính trị.

“Lệ thuộc” hàm ý mất quyền tự chủ, bị chi phối trong quyết sách chiến lược. Để chứng minh một quốc gia lệ thuộc, cần chỉ ra bằng chứng cụ thể: chính sách bị áp đặt, lợi ích cốt lõi bị hy sinh, hay định hướng đối ngoại bị dẫn dắt từ bên ngoài. Việc Việt Nam tham dự một hội nghị do Mỹ khởi xướng không đủ để đi tới kết luận đó.

Việt Nam nhiều năm qua theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ; thiết lập quan hệ với nhiều trung tâm kinh tế - chính trị khác nhau, không chọn bên, chỉ chọn chân lý, lẽ phải. Nếu chỉ vì một chuyến công tác mà quy chụp thành “lệ thuộc”, thì đó là cách nhìn phiến diện, tách một sự kiện khỏi toàn bộ bối cảnh chính sách.

Việc sử dụng từ “lệ thuộc” trong trường hợp này mang tính tạo ấn tượng hơn là phân tích. Nó đánh vào tâm lý lo ngại về chủ quyền, nhưng không cung cấp bằng chứng cụ thể cho cáo buộc.

3. Khi không tập trung vào nội dung chính sách, một số ý kiến chuyển sang suy đoán động cơ cá nhân. Trong hoạt động đối ngoại cấp cao, người đứng đầu tham dự sự kiện với tư cách đại diện quốc gia. Các chuyến công tác được chuẩn bị và thống nhất trong hệ thống chính trị, không phải quyết định mang tính cá nhân. Nếu muốn phản biện, cần phân tích hiệu quả cụ thể của chuyến đi, nội dung trao đổi, cam kết đạt được hay lợi ích mang lại.

Việc gán ghép động cơ mà không có bằng chứng không giúp làm rõ chính sách, mà chỉ làm tăng nghi ngờ. Phản biện chính sách là cần thiết; nhưng phỏng đoán chủ quan về ý đồ cá nhân không phải là phương pháp tranh luận nghiêm túc.

4. Điểm chung của ba luận điệu trên là họ đã thay thế dữ kiện bằng suy diễn và thay thế phân tích bằng cảm xúc. Một con số không phù hợp với thông tin công bố được lặp lại như sự thật; một sự kiện ngoại giao bị nâng lên thành bằng chứng “lệ thuộc”; một chuyến công tác quốc gia bị quy thành câu chuyện cá nhân.

Phản biện là cần thiết trong đời sống chính trị. Nhưng phản biện phải dựa trên dữ kiện, phải phân biệt giữa khả năng và khẳng định, giữa phân tích và suy đoán. Khi dữ kiện đã được công bố, việc tiếp tục lặp lại thông tin không phù hợp với thực tế không còn là đặt câu hỏi, mà là duy trì một ấn tượng sai lệch.

Trong thời đại mạng xã hội, thông tin lan truyền nhanh hơn quá trình kiểm chứng. Vì vậy, thái độ tỉnh táo là điều cần thiết. Không phải mọi câu hỏi đều là xuyên tạc; nhưng cũng không phải mọi lời khẳng định mạnh mẽ đều là sự thật. Điều phân biệt hai điều đó chính là bằng chứng và logic.

Chuyến công tác của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Mỹ có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng nếu muốn tranh luận nghiêm túc, cần bắt đầu từ thông tin được kiểm chứng và phân tích chặt chẽ. Chỉ khi đó, phản biện mới góp phần làm sáng tỏ vấn đề, thay vì làm nhiễu thêm không gian thông tin./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Feb 22, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc dân chủ trong Đảng của Vũ Đức Khanh

          Trên Vietnamthoibao Vũ Đức Khanh có bài viết: “Dân chủ trong Đảng và nghịch lý chính danh quyền lực ở Việt Nam”. Bài viết chứa đựng các luận điệu xuyên tạc, suy diễn rằng “dân chủ trong Đảng” mang tính hình thức, “mị dân”, dùng để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng, thực chất quyền lực đã được dàn xếp, thống nhất từ trước, bầu cử chỉ mang tính hình thức, đồng thời so sánh “dân chủ trong Đảng” với dân chủ nghị viện, kêu gọi giám sát của các tổ chức xã hội dân sự. Đây là âm mưu, thủ đoạn phủ nhận, bác bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, chống phá công tác nhân sự, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước trong dịp tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

1. Không thể phủ nhận, bác bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Cần khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản, do đó, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ là xa rời bản chất của Đảng. Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện nào cũng phải phát huy dân chủ; đồng thời phải dưới sự tập trung thống nhất. Ở mọi thời kỳ cách mạng, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh đều phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chỉ khác ở cách thực hiện nội dung và phạm vi áp dụng do tình hình, nhiệm vụ của Đảng trong mỗi thời kỳ quy định. Giữ vững tập trung dân chủ không chỉ nhằm mở rộng dân chủ, phát huy mạnh mẽ dân chủ mà còn phải giữ gìn tính tập trung thống nhất, tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Do vậy, việc đem dân chủ trong Đảng để suy diễn với vấn đề tự do, dân chủ và đối chiếu với dân chủ nghị viện ở một số nước phương tây là cố tình bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, tìm cách quy chụp quan liêu, chuyên quyền, độc đoán. Trong 96 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất ý chí và hành động, luôn thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, coi đây quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

2. Công tác nhân sự được thực hiện dân chủ, minh bạch, bài bản, chặt chẽ, thống nhất cao trong Đảng. Trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, công tác nhân sự luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhân dân, chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá, cho rằng bầu cử trong Đảng là dân chủ hình thức, lá phiếu được hợp thức hóa, thực chất đã có chỉ đạo và phân chia quyền lực từ trước. Cần khẳng định, quá trình chuẩn bị Đại hội XIV cho thấy, công tác nhân sự của Đảng luôn được tiến hành một cách dân chủ, bài bản, chặt chẽ, thống nhất cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Điều lệ Đảng, điều này được thể hiện rõ trong các văn bản quy định về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử,… qua đó, tạo hành lang pháp lý vững chắc, như một “chiếc lưới” nhiều tầng, nhiều lớp để sàng lọc. Nhân sự được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa mới không phải là sự “sắp đặt” của một vài cá nhân, mà là kết quả của một quy trình gồm 5 bước chặt chẽ, được thực hiện từ cơ sở lên Trung ương, lấy ý kiến rộng rãi từ tập thể lãnh đạo đến các cấp ủy trực thuộc. Bên cạnh đó, tính dân chủ thể hiện rõ nét qua việc lấy phiếu tín nhiệm. Đây là thước đo khách quan, công tâm về uy tín và năng lực của cán bộ. Việc Đảng ta kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những “con sâu làm rầu nồi canh” ngay trước thềm Đại hội không phải là đấu đá, mà chính là sự sàng lọc cần thiết để làm trong sạch đội ngũ, đảm bảo những người được lựa chọn phải thực sự là những cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Do đó, việc rêu rao rằng công tác nhân sự là phân chia quyền lực, đã được sắp đặt trước Đại hội là sự vu khống trắng trợn, thiếu căn cứ của các thế lực thù địch.

3. Xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là thước đo thực tiễn dân chủ ở Việt Nam. Thực tiễn chứng minh vấn đề dân chủ hay không dân chủ ở một quốc gia không phải do có nhiều đảng, mà đảng cầm quyền đó bảo vệ quyền và lợi ích cho ai. Đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất”.

Tóm lại, Đảng ta luôn xác định, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, tận tâm phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định của mình. Đó mới là thước đo chính xác nhất về dân chủ, chứ không phải bằng công thức đa đảng đối lập, tự do cạnh tranh như Vũ Đức Khanh nêu ra./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

 

Feb 18, 2026

Bóc trần luận điệu ngụy biện về dân quyền, tự do trong âm mưu chống, phá Việt Nam

          Trên trang Vietquoc, Lê Thành Nhân đăng tải bài viết: Dân quyền tự do là điều kiện cần thiết để đưa đất nước tiến lên”. Dưới vỏ bọc ngôn từ có vẻ “dân chủ”, “nhân quyền”, bài viết đã cố tình xuyên tạc bản chất chế độ chính trị Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bóp méo thực tiễn dân chủ, quyền con người ở nước ta. Đây là thủ đoạn không mới, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng, chính trị. Việc nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh phản bác là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng Việt Nam “không có dân quyền, tự do thực chất” là sự áp đặt phiến diện, phản khoa học và mang động cơ chính trị. Cần khẳng định rằng dân quyền và tự do không phải là những khái niệm trừu tượng, phi lịch sử, càng không tồn tại dưới một mô hình duy nhất mang tính “chuẩn mực phổ quát” như các thế lực thù địch thường rêu rao. Trong khoa học chính trị hiện đại, quyền con người, quyền công dân luôn gắn với điều kiện lịch sử - văn hóa - trình độ phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, ngay từ khi giành được độc lập, quyền con người, quyền công dân đã được xác lập một cách rõ ràng. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trích dẫn và phát triển sáng tạo các giá trị tiến bộ của nhân loại, khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Trải qua các thời kỳ, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 dành riêng một chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với phạm vi rộng, nội dung cụ thể, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thực tiễn cho thấy, người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tiếp cận thông tin; quyền học tập, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của nhiều công ước quốc tế quan trọng về quyền con người và nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế đó. Việc Lê Thành Nhân cố tình tách rời dân quyền khỏi ổn định chính trị, độc lập dân tộc và phát triển bền vững để áp đặt một mô hình dân chủ phương Tây là sự ngụy biện có chủ ý. Lịch sử thế giới cho thấy không ít quốc gia sao chép máy móc mô hình dân chủ “đa đảng đối lập” đã rơi vào hỗn loạn chính trị, xung đột xã hội, thậm chí nội chiến kéo dài. Việt Nam lựa chọn con đường phát triển của mình là kết quả của lịch sử, là nguyện vọng và sự lựa chọn có ý thức của Nhân dân, chứ không phải sự “áp đặt” như luận điệu xuyên tạc đã bịa đặt.

Thứ hai, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phủ nhận dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tráo khái niệm nguy hiểm. Luận điệu cho rằng “quyền lực chính trị tập trung vào một nhóm nhỏ trong Đảng Cộng sản” thực chất là sự đánh đồng cố ý giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với việc tước bỏ quyền làm chủ của Nhân dân. Đây là một sự tráo khái niệm mang tính phá hoại. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam không đứng ngoài, càng không đứng trên Nhân dân, mà là lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và cả dân tộc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được xác lập không phải bằng đặc quyền, mà bằng uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và sự tín nhiệm của Nhân dân, được hiến định rõ ràng.

Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia thảo luận, góp ý vào các dự thảo luật, chiến lược, chính sách lớn; thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thực tiễn qua 40 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ luận điệu của Lê Thành Nhân. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao. Những thành tựu đó không thể có được nếu “người dân mất quyền làm chủ” như các đối tượng chống phá rêu rao.

Tóm lại, luận điệu trong bài viết của Lê Thành Nhân không phải là dân quyền hay tự do, mà là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từng bước làm suy yếu nền tảng tư tưởng của chế độ. Mỗi người dân cần nêu cao cảnh giác và kiến quyết đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet)

Không thể xuyên tạc đường lối nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong thực hiện chính sách với người Việt Nam ở nước ngoài

Tre Việt - Ngày 13/02, trang facebook Nhật Ký Yêu Nước đăng đoạn status: Không khó nhận ra rằng, thái độ của chính quyền Việt Nam đối với cộng đồng người Việt ở hải ngoại luôn tồn tại hai lớp giọng: khi thì là “các tổ chức phản động lưu vong”; khi lại trở thành “khúc ruột ngàn dặm”, “máu thịt của Tổ quốc”.

Cần khẳng định, đây là luận điệu xuyên tạc trắng trợn quan điểm, chủ trương, chính sách về người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng và Nhà nước ta; phủ nhận những nỗ lực trong việc phát huy vai trò, củng cố sức mạnh, tiềm năng của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước, cũng như và những nỗ lực nhằm tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc của Đảng, Nhà nước. Cố đánh tráo khái niệm khi so sánh giữa đông đảo cộng đồng người Việt Nam đang sinh sống, học tập công tác ở nước ngoài với các các tổ chức phản động lưu vong và lực lượng chống phá ở hải ngoại trong cộng đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài. Mục đích cuối cùng của chúng là chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá chế độ, cản trở con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. 

        Thực tiễn cho thấy, những năm qua, Đảng, Nhà nước ta đã ban hành nhiều chủ trương, chính sách liên quan đến vấn đề người Việt Nam ở nước ngoài, tiếp tục tạo những điều kiện thuận lợi, mở rộng quyền cho đồng bào ta có cơ hội làm ăn, đầu tư,... ở trong nước. Những chủ trương, chính sách này không chỉ tháo gỡ những rào cản thủ tục hành chính trước đây, mà có nhiều thay đổi thuận lợi về mặt pháp lý, tạo ra khuôn khổ, cơ chế bền vững cho sự bình đẳng giữa người dân trong nước và kiều bào khi tiến hành các hoạt động đầu tư, kinh doanh, khoa học - công nghệ, văn hóa thể thao, nhân đạo. Đồng thời, mở ra cơ chế khuyến khích người Việt Nam ở nước ngoài tham gia phát triển đất nước trên các lĩnh vực. Hình ảnh khối diễu hành người Việt Nam ở nước ngoài lần đầu tiên tham gia tại Lễ kỷ niệm 50 năm Giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước; Lễ kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 vừa qua, là minh chứng sinh động của tinh thần đại đoàn kết, hòa hợp dân tộc, minh chứng cho chân lý “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, tất cả người Việt là con rồng cháu tiên.

        Mới đây, chiều 08/02, tại Trụ sở Trung ương Đảng, gặp mặt đoàn kiều bào tiêu biểu tham dự chương trình “Xuân Quê hương 2026” do Ủy ban Nhà nước về Người Việt Nam ở nước ngoài, Bộ Ngoại giao tổ chức, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán tư tưởng xuyên suốt Nhân dân là gốc, là trung tâm, chủ thể, là mục tiêu, là động lực và nguồn lực của phát triển; trong đó, cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời của dân tộc Việt Nam, là nguồn lực đặc biệt quan trọng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong kỷ nguyên phát triển mới.

        Tổng Bí thư mong muốn, người Việt Nam ở nước ngoài luôn chấp hành tốt luật pháp sở tại, đoàn kết xây dựng cộng đồng ngày càng phát triển lớn mạnh, nâng cao vị thế, uy tín của cộng đồng; luôn tích cực gìn giữ, quảng bá văn hóa Việt Nam, xây dựng hình ảnh tốt đẹp về đất nước, con người Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế; tiếp tục phát huy vai trò cầu nối tăng cường quan hệ hữu nghị giữa Việt Nam và các nước, v.v. 

        Đảng, Nhà nước luôn hoan nghênh và tạo điều kiện thuận lợi để các chuyên gia, trí thức, các nhà khoa học, doanh nhân kiều bào đóng góp nhiều hơn nữa cho sự phát triển đất nước, nhất là trên những lĩnh vực then chốt cho giai đoạn phát triển mới của đất nước. Tất cả những cái đó đều đã có những định hướng không thể dàn trải được, những cái gì là trọng tâm, trọng điểm, chúng ta phải đi nhanh, thậm chí đi tắt đón đầu. Đảng, Nhà nước sẽ tiếp tục hoàn thiện các chính sách đối với người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời, tăng cường phối hợp quốc tế để bảo vệ quyền, lợi ích chính đáng của bà con, giúp cho đồng bào yên tâm sinh sống, làm việc, phát triển ở nước sở tại.

        Tuy nhiên, không thể đánh đồng giữa một bên gồm đại đa số đồng bào ta ở nước ngoài là những người có lòng yêu nước, luôn hướng về cội nguồn và mong muốn được trở về đóng góp cho quê hương, đất nước khi có cơ hội. Khi có điều kiện đều sẵn sàng quay trở về đóng góp một phần công sức cũng như của cải vật chất để phát triển đất nước. Còn bên kia là các tổ chức phản động, các thế lực thù địch, phản động lưu vong ở hải ngoại trong cộng đồng người Việt Nam ta ở nước ngoài luôn tìm mọi cách để chống phá sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện.

        Vì vậy, kiều bào ta cần tỉnh táo nhận diện thủ đoạn, luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, đề cao cảnh giác, không để các thế lực phản động, thù địch có cơ hội để lôi kéo, kích động. Phát huy cao độ tinh thần yêu nước, bản lĩnh kiên cường, khát vọng phát triển, củng cố sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng quan trọng nhất bảo đảm cho sự ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền của Tổ quốc từ sớm, từ xa./.


Feb 16, 2026

So sánh phi lịch sử - biểu hiện của “cơ hội chính trị” cần kiên quyết đấu tranh, phản bác

        Tre Việt - Thời gian gần đây, trên mạng xã hội, tài khoản “Nhật ký yêu nước” có bài viết “Kể tiếp chuyện Tết cơ quan thời bao cấp”, xuất hiện lối kể chuyện đan xen giữa hồi ức cá nhân và những nhận định so sánh các giai đoạn lịch sử, các thế hệ lãnh đạo. Bề ngoài, đó là những kỷ niệm dung dị về không khí Tết cơ quan thời bao cấp; nhưng, đằng sau lớp vỏ hoài niệm ấy là cách quy chiếu giản đơn, đặt các thời kỳ lịch sử lên cùng một “bàn cân” cảm tính, từ đó dẫn dắt người đọc đến những kết luận phiến diện, thiếu cơ sở khoa học.
        Đáng chú ý là luận điệu: “khoa học của Việt Nam sẽ không thể phát triển khi mỗi ông bộ trưởng một nhiệm kỳ lại tách nhập viện”. Ở đây, vấn đề đã vượt ra khỏi phạm vi hồi ức. Trải nghiệm cá nhân được nâng lên thành phán quyết về cả một cơ chế quản lý và một giai đoạn phát triển. Cách lập luận này đánh đồng hiện tượng với bản chất, lấy một lát cắt chủ quan để bao quát toàn cục, từ đó hàm ý phủ nhận nỗ lực điều hành, cải cách của các thế hệ lãnh đạo trong bối cảnh mới. Nguy hiểm hơn là thủ pháp “nâng quá khứ - hạ hiện tại”. Khi quá khứ được miêu tả như một thời “cán bộ năng động hơn hẳn”, “tình người đậm đà”, còn hiện tại bị ám chỉ bởi hình ảnh tách nhập, nhiệm kỳ, thì người đọc rất dễ hình thành tâm lý so bì, tiếc nuối, thậm chí hoài nghi. Đây là cách so sánh giàu cảm xúc nhưng nghèo lập luận; khai thác tâm lý hoài cổ để tạo ra sự đối lập giả tạo giữa các thế hệ lãnh đạo, giữa các thời kỳ phát triển. 
        Trên thực tiễn, việc sắp xếp, tổ chức lại các viện nghiên cứu và điều chỉnh mô hình quản lý khoa học là yêu cầu khách quan của quá trình chuyển đổi từ cơ chế bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Cải cách luôn có độ trễ, có vướng mắc, có cả bài học cần rút kinh nghiệm, nhưng nếu nhìn tổng thể tiến trình phát triển, có thể khẳng định khoa học, công nghệ nước ta đang chuyển mình mạnh mẽ, chứ không hề “trì trệ” như những nhận định cảm tính. Năm 2025 là minh chứng rõ ràng. Theo Bộ Khoa học và Công nghệ, doanh thu toàn ngành đạt hơn 5,4 triệu tỉ đồng, vượt kế hoạch đề ra; đóng góp trực tiếp vào GDP hơn 1,4 triệu tỉ đồng, tăng 35% so với năm 2024. Những con số đó cho thấy khoa học, công nghệ đã trở thành động lực tăng trưởng quan trọng của nền kinh tế. Không chỉ tăng về quy mô, vị thế quốc tế của Việt Nam cũng được nâng cao khi xếp thứ 44/139 nền kinh tế trong Chỉ số Đổi mới Sáng tạo Toàn cầu 2025, thuộc nhóm cải thiện nhanh nhất trong thập kỷ qua. Đây là kết quả của quá trình đổi mới thể chế, tăng cường liên kết viện - trường - doanh nghiệp và hội nhập sâu rộng.
        Thực tế ấy bác bỏ cách nhìn quy kết giản đơn theo “tư duy nhiệm kỳ”. Thành tựu hôm nay là kết quả của sự kế thừa, điều chỉnh và phát triển qua nhiều giai đoạn. Và lịch sử cách mạng Việt Nam là một dòng chảy liên tục kế thừa, phát triển. Mỗi giai đoạn có sứ mệnh, nhiệm vụ và đóng góp riêng; mỗi thế hệ lãnh đạo hoạt động trong những điều kiện hoàn toàn khác nhau. Vì thế, không thể dùng tiêu chí của hôm nay để phủ định hôm qua; cũng không thể dùng ký ức của hôm qua để phủ định yêu cầu phát triển của hôm nay.
        Nhận diện và bác bỏ lối so sánh phi lịch sử chính là bảo vệ cách nhìn khoa học về tiến trình cách mạng; bảo vệ niềm tin vào sự lãnh đạo thống nhất, xuyên suốt của Đảng; bảo vệ sự đoàn kết giữa các thế hệ. Trong bối cảnh không gian mạng trở thành mặt trận tư tưởng ngày càng phức tạp, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần tỉnh táo, bản lĩnh, không để những so sánh cảm tính dẫn dắt nhận thức. So sánh lịch sử là cần thiết, nhưng phải dựa trên cơ sở khoa học và tinh thần xây dựng. Mọi biểu hiện lợi dụng so sánh để phủ nhận thành tựu, chia rẽ niềm tin, kích hoạt tâm lý hoài nghi đều cần được kiên quyết đấu tranh, phản bác./.

Feb 15, 2026

Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta - nhịp cầu đại đoàn kết dân tộc trong kỷ nguyên mới của đất nước

          Tre Việt - Mỗi dịp Tết đến, xuân về, khi lòng người hướng về gia đình và cội nguồn, câu chuyện đoàn tụ của dân tộc lại trở nên gần gũi hơn bao giờ hết. Sau thành công của Đại hội XIV của Đảng, đất nước ta bước vào một giai đoạn phát triển mới với nhiều kỳ vọng và khát vọng lớn. Trong dòng chảy ấy, chủ trương đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được khẳng định là đường lối xuyên suốt. Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo đối với những người từng “lầm đường, lạc lối” một thời từng phản bội dân tộc, phản bội đất nước, nhưng nay hướng về Tổ quốc là một biểu hiện sinh động của tinh thần ấy. Đó không chỉ là chính sách mang tính nhân văn, nhân đạo, mà còn là cách ứng xử có trách nhiệm với lịch sử, với con người và với tương lai của đất nước.

Sân bay Tân Sơn Nhất (Thành phố Hồ Chí Minh)
nhộn nhịp đón kiều bào về quê ăn Tết Bính Ngọ - 2026

Từ nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm: khép lại quá khứ, hướng tới tương lai, tăng cường hòa hợp dân tộc. Sau khi đất nước thống nhất, chủ trương phân biệt rõ giữa những người có tội ác với những người do hoàn cảnh lịch sử mà đứng ở phía bên kia đã được xác định rõ ràng. Tinh thần ấy tiếp tục được kế thừa và phát triển trong bối cảnh mới, nhất là khi đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển, hội nhập sâu rộng. Đại hội XIV của Đảng một lần nữa nhấn mạnh yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chính sách khoan hồng, nhân đạo đối với những người hướng về Tổ quốc vì thế không chỉ mang ý nghĩa nhân văn, mà còn góp phần tăng cường sự đồng thuận xã hội, tạo nền tảng cho phát triển bền vững đất nước.

Mỗi dịp Tết Nguyên đán cổ truyền của dân tộc, tinh thần nhân đạo ấy được thể hiện rõ nét. Tết là thời khắc thiêng liêng của đoàn tụ, là lúc con người hướng về gia đình, tổ tiên, quê hương. Đảng và Nhà nước ta luôn tạo điều kiện thuận lợi để những người từng rời quê hương trong hoàn cảnh lịch sử khác nhau, nếu có thiện chí trở về, có thể thăm quê, gặp lại người thân, tìm lại sự gắn bó với đất nước. Những chuyến trở về ấy không chỉ mang ý nghĩa cá nhân, mà còn là minh chứng cho chính sách hòa hợp dân tộc. Khi một người từng ở phía bên kia chiến tuyến nay mong muốn hướng về Tổ quốc, việc mở rộng vòng tay đón nhận chính là cách thể hiện tinh thần bao dung, nhân ái của Đảng và Nhà nước ta.

Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới sau Đại hội XIV, chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo càng có ý nghĩa sâu sắc. Đó là thông điệp rõ ràng rằng mọi người Việt Nam, dù ở đâu, dù từng trải qua hoàn cảnh lịch sử nào, nếu có thiện chí xây dựng quê hương, đất nước, đều có thể tìm thấy vị trí của mình trong cộng đồng dân tộc. Sự khoan hồng ở đây không làm giảm đi tính nghiêm minh của pháp luật, mà đặt trên cơ sở thượng tôn pháp luật, tôn trọng độc lập, chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc. Những người biết nhìn nhận quá khứ, tôn trọng hiện tại, mong muốn đóng góp cho tương lai chung của đất nước đều được tạo điều kiện để hòa nhập, tham gia vào quá trình phát triển của đất nước. Thực tế cho thấy, nhiều người từng rời quê hương trong những giai đoạn khó khăn của đất nước, khi trở về đã xúc động trước sự đổi thay ngày càng rõ nét nơi từng căn nhà, con phố, xóm làng.

Đối với cán bộ, đảng viên và mỗi người dân, việc quán triệt chủ trương khoan hồng, nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta cần được thể hiện bằng nhận thức đúng và hành động cụ thể. Chúng ta không quên lịch sử, nhưng cũng không để quá khứ cản trở tương lai. Mỗi cán bộ, đảng viên cần ứng xử với tinh thần tôn trọng, cởi mở, trên cơ sở pháp luật và lợi ích chung của đất nước. Khi một người có thiện chí quay về, chúng ta đón nhận bằng thái độ chân thành; khi họ mong muốn đóng góp, chúng ta tạo điều kiện để họ tham gia; khi họ còn băn khoăn, chúng ta giải thích để họ hiểu rõ đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước. Chính cách ứng xử ấy sẽ góp phần củng cố niềm tin, tăng cường sự gắn bó giữa những người Việt Nam ở trong và ngoài nước.

Đại hội XIV của Đảng mở ra một kỷ nguyên phát triển mới với nhiều cơ hội và thách thức. Để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng đất nước “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc là yêu cầu quan trọng. Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo đối với những người từng “lầm đường, lạc lối” nhưng nay hướng về Tổ quốc là một phần trong tổng thể chính sách ấy. Nó góp phần hàn gắn những khoảng cách, củng cố niềm tin, tạo thêm nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Khi mọi người Việt Nam, dù ở trong hay ngoài nước, đều cảm nhận được sự bao dung của Tổ quốc, họ sẽ thêm gắn bó và sẵn sàng đóng góp cho quê hương.

Khép lại quá khứ để cùng hướng tới tương lai không phải là điều dễ dàng, nhưng đó là lựa chọn đúng đắn và cần thiết. Chính sách khoan hồng, nhân văn, nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta đã, đang và sẽ tiếp tục là nhịp cầu nối liền những người con Việt Nam, giúp họ tìm lại sự gắn bó với quê hương. Trong mùa xuân mới của đất nước, khi khát vọng phát triển ngày càng lớn, tinh thần đại đoàn kết dân tộc, lòng bao dung và nhân ái sẽ tiếp tục là nguồn sức mạnh để chúng ta cùng nhau xây dựng một Việt Nam hòa bình, ổn định và phát triển bền vững trong kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam./.

Feb 14, 2026

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc: không phải “món ăn hàm thụ”

         Mỗi dịp đầu năm, khi xã hội cần sự bình tâm để nhìn lại và hướng tới tương lai, tại trang Baotiengdan lại xuất hiện bài viết mượn danh “suy nghĩ về đất nước” để phủ nhận những giá trị nền tảng đã làm nên Việt Nam hiện đại. Bài “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” của Trần Trung Đạo là một trường hợp như vậy. Từ phủ nhận ý nghĩa của “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, bôi nhọ vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho tới cổ vũ tuổi trẻ noi theo các phong trào bất ổn ở nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý trong bài viết có lập luận cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam giữ nguyên tên gọi “Cộng sản” để “cảnh báo nhân dân rằng nhà tù, súng đạn và trừng phạt vẫn còn đó”. Đây không chỉ là một suy diễn ác ý, mà còn là sự bóp méo thô bạo lịch sử, phủ nhận lựa chọn chính trị của dân tộc Việt Nam. 

Trước hết, cần khẳng định, tên gọi của một chính đảng là sự xác nhận công khai về cội nguồn lịch sử, nền tảng tư tưởng và mục tiêu chính trị mà đảng đó theo đuổi. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất nước, tồn tại và phát triển gắn liền với những bước ngoặt có ý nghĩa sống còn của lịch sử: giành độc lập năm 1945, lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Việc Đảng từng mang tên Đảng Lao động Việt Nam trong một giai đoạn nhất định là sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không phải là hành vi “đổi tên cho dễ nghe” hay “che giấu bản chất” như cách Trần Trung Đạo cố tình xuyên tạc.

Tên gọi “Đảng Cộng sản Việt Nam” vì thế không phải là để hù dọa bất kỳ ai, mà là sự tiếp nối nhất quán về tư tưởng, mục tiêu và trách nhiệm lịch sử. Trong đời sống chính trị hiện đại, không có chính đảng nào tồn tại lâu dài chỉ nhờ vào tên gọi, càng không thể duy trì vai trò cầm quyền nếu tách rời lợi ích dân tộc và sự thừa nhận của xã hội. Việc quy kết rằng giữ tên “Cộng sản” là để “cảnh báo nhân dân” phản ánh một cách nhìn đầy định kiến, đánh tráo bản chất giữa quyền lực chính trị của Đảng và quyền lực nhà nước với những tưởng tượng mang màu sắc tuyên truyền.

Luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại nhờ “lý luận, tuyên truyền, khủng bố và chia chác” tiếp tục cho thấy cách tiếp cận cực đoan và phiến diện của tác giả. Một chính quyền nếu chỉ dựa vào trấn áp không thể duy trì ổn định xã hội trong nhiều thập kỷ, càng không thể tiến hành những cải cách sâu rộng về kinh tế - xã hội, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và ngày càng phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại và cải thiện đời sống nhân dân như thực tiễn Việt Nam đã chứng minh. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam là quyền lực của nhân dân, được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật và hệ thống thiết chế quản lý, chứ không vận hành bằng “nỗi sợ” gắn với tên gọi của một đảng chính trị như cách Trần Trung Đạo áp đặt.

Hai là, lập luận của tác giả tự mâu thuẫn với chính tiền đề mà ông ta đưa ra. Nếu “chủ nghĩa cộng sản đã bị văn minh nhân loại đào thải” như Trần Trung Đạo khẳng định, thì việc một đảng cầm quyền công khai mang tên Cộng sản, tồn tại hợp hiến, hợp pháp và giữ vai trò trung tâm trong đời sống chính trị quốc gia lại càng không thể bị giải thích bằng thứ ngôn ngữ kiểu “nhà tù và súng đạn”. Thực tế cho thấy, trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại nhiều đảng cộng sản hoặc các đảng cánh tả tham gia cầm quyền với những mô hình phát triển khác nhau. Việc gán nhãn “bị đào thải” không phải là kết luận khoa học, mà là phán xét cảm tính, phi lịch sử.

Không dừng lại ở đó, Trần Trung Đạo còn phủ nhận toàn bộ chặng đường lịch sử kể từ năm 1945, cho rằng người dân Việt Nam chỉ “nghe, đọc” về độc lập, tự do, hạnh phúc chứ chưa từng “nếm mùi”, coi những giá trị này như một “món ăn hàm thụ”. Đây là cách nói vừa khiên cưỡng, vừa xúc phạm lịch sử dân tộc. Độc lập không phải là mỹ từ trừu tượng, mà là quyền tự quyết của một dân tộc từng mất nước, từng bị ngoại bang đô hộ. Tự do không phải là khẩu hiệu sáo rỗng, mà là quyền được sống trong hòa bình, lao động, học tập, sáng tạo trên chính mảnh đất của mình. Hạnh phúc không phải là trạng thái hoàn hảo tuyệt đối, mà là những thành quả cụ thể, tích lũy qua thời gian: Xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục, mở rộng chăm sóc y tế, nâng cao tuổi thọ, giảm nghèo bền vững và gia tăng cơ hội phát triển cho người dân.

Gọi tất cả những thành tựu đó là “hàm thụ” chỉ có thể xuất phát từ cái nhìn của những người đứng ngoài lịch sử, chứ không phải từ trải nghiệm của một dân tộc đã đi qua chiến tranh, đói nghèo và tái thiết. Sự phủ nhận trắng trợn này không chỉ bóp méo thực tế phát triển của đất nước, mà còn xúc phạm tới hàng triệu người Việt Nam đã hy sinh xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc.

Tóm lại, bài viết “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” là một chuỗi phủ định có chủ đích: Phủ định giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, phủ định vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ định con đường phát triển mà dân tộc đã lựa chọn. Những luận điệu này càng cho thấy cách nhìn phiến diện của những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nên bị đấu tranh bác bỏ là lẽ đương nhiên./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)