Sep 7, 2026
Phản bác luận điệu xuyên tạc về công tác tư tưởng trong bối cảnh mới
Sep 3, 2026
Xuyên tạc Tuyên ngôn Độc lập - sự đánh tráo lịch sử và phủ nhận giá trị của độc lập dân tộc
Tre Việt - Mới đây, trang mạng facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài viết: “Tuyên ngôn độc lập hay là cái bánh vẽ mị dân tinh vi?” của Nhật Ngôn; trong đó, cho rằng: Tuyên ngôn Độc lập thực chất là một sản phẩm truyền thông chính trị mị dân tinh vi. Đây là những lời lẽ cố tình phủ nhận, xuyên tạc giá trị lịch sử, tầm vóc thời đại của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cần bị vạch trần, đấu tranh, bác bỏ.
Chúng ta đều biết rằng, ngày 02/9/1945, tại
Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên
ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trọng đại, đánh dấu
bước ngoặt căn bản của lịch sử dân tộc: Nhân dân Việt Nam từ thân phận bị áp bức,
nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, tự quyết định vận mệnh của mình.
Có được thành quả đó là do dưới sự lãnh đạo của
Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng
Tám, giành chính quyền trong cả nước, thành lập ra Chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân chủ Cộng hòa. Về logic lịch sử, Cách
mạng Tháng Tám tạo lập cơ sở hiện thực của chính quyền cách mạng; Tuyên ngôn Độc
lập là văn kiện chính thức tuyên bố trước quốc dân và thế giới về sự ra đời của
Nhà nước độc lập. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh lâu dài
chống chủ nghĩa thực dân, là sự tiếp nối của truyền thống yêu nước và các phong
trào đấu tranh của dân tộc, được kết tinh thành thắng lợi của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945. Vì thế, bài viết cho rằng: Tuyên ngôn Độc lập “thực chất là một sản
phẩm truyền thông chính trị mị dân tinh vi”, là sự suy diễn lịch sử không có cơ
sở, cố tình đánh tráo khái niệm, xuyên tạc hiện thực, nhằm hạ thấp giá trị của
một văn kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng
hòa, phủ nhận thành quả đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta.
Hơn nữa, ngay trong phần mở đầu bản Tuyên
ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những nguyên lý về quyền con người được
nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và
Dân quyền của Pháp năm 1789. Nhưng Người không sao chép hay dừng lại ở việc viện
dẫn những tư tưởng ấy. Người phát triển thành một luận đề có ý nghĩa sâu sắc đối
với các dân tộc thuộc địa: các dân tộc
cũng có quyền bình đẳng, có quyền sống, quyền tự do và quyền độc lập. Đặc
biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định quyền độc lập bằng những tuyên
bố mang tính nguyên tắc, mà còn đưa ra những căn cứ lịch sử để chứng minh; đồng
thời, khẳng định Nhân dân Việt Nam đã đứng lên giành chính quyền và tự mình thành
lập Nhà nước của mình. Như vậy: Tuyên ngôn Độc lập là sự kết hợp chặt chẽ giữa nguyên lý và thực tiễn, quyền con người và
quyền dân tộc, lập luận chính trị và căn cứ lịch sử. Nên luận điệu Tuyên
ngôn Độc lập chỉ là “sản phẩm truyền thông chính trị” đã thể hiện sự cố tình bỏ
qua lập luận đặc sắc, chặt chẽ, khoa học của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã soạn thảo.
Thực tiễn lịch sử cho thấy, nền độc lập của
nước ta vừa giành được đã phải đứng trước những thử thách thù trong, giặc
ngoài, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhân dân Việt Nam phải tiếp tục tiến
hành cuộc đấu tranh lâu dài để bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giữ vững
chính quyền cách mạng, bảo vệ chủ quyền và thống nhất đất nước. Biết bao thế hệ
người Việt Nam đã chấp nhận gian khổ, hi sinh để bảo vệ độc lập, tự do và thống
nhất Tổ quốc. Chính quá trình đấu tranh ấy đã chứng minh rằng độc lập được
tuyên bố trong Tuyên ngôn không phải một khái niệm trừu tượng, càng không phải
một lời hứa nhằm mị dân. Đó là mục tiêu chính trị được hiện thực hóa bằng hành
động và được bảo vệ bằng sức mạnh của cả dân tộc. Đến nay, 81 năm đã trôi qua,
nhưng bản Tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử, chính trị và tư tưởng,
khẳng định chân lý của dân tộc Việt Nam. Đây là minh chứng thuyết phục nhất phản bác luận điệu Tuyên ngôn Độc lập
chỉ là “bánh vẽ”.
Thông qua thực tiễn lịch sử, chứng cứ, lập luận khoa học là cơ sở vạch trần, đấu tranh với những luận điệu sai
trái, xuyên tạc trên không gian mạng về Tuyên ngôn Độc lập. Đồng thời, thống nhất
nhận thức, bảo vệ bản Tuyên ngôn Độc lập không phải chỉ là bảo vệ một văn kiện
lịch sử mà sâu xa hơn là bảo vệ giá trị của độc lập, chủ quyền, thống nhất và
quyền tự quyết của dân tộc - thành quả
mà các thế hệ người Việt Nam đã phải đánh đổi bằng biết bao hy sinh mới giành
được, gìn giữ đến hôm nay và cho mai sau./.
Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 - mốc son không thể phủ nhận trong lịch sử dân tộc
Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài “Ngày “độc lập 2 tháng 9” nên dẹp bỏ”. Núp dưới cách diễn giải về lịch sử dựng nước, giữ nước và đề cao giá trị của Nam quốc sơn hà, tác giả đưa ra một loạt nhận định rằng dân tộc Việt Nam “đã độc lập hơn ngàn năm”, đã có “Tuyên ngôn độc lập từ ngàn năm trước”, vì thế không cần một bản tuyên ngôn độc lập mới; đồng thời xuyên tạc ý nghĩa của Ngày Quốc khánh 2/9/1945, phủ nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc.
Thứ
nhất,
khẳng định truyền thống độc lập hàng
nghìn năm của dân tộc hoàn toàn không mâu thuẫn với việc khẳng định giá trị lịch
sử và pháp lý đặc biệt của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Sai lầm đầu
tiên và cũng là nền tảng cho toàn bộ lập luận của Trương Nhân Tuấn nằm ở chỗ cố
tình đặt Nam quốc sơn hà và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vào quan hệ
loại trừ đã có cái trước thì cái sau trở thành “dư thừa”. Đây là một phép suy
luận phi lịch sử. Không ai phủ nhận Việt Nam là quốc gia có lịch sử hàng
nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo cùng
nhiều văn kiện, sự kiện lịch sử khác là những cột mốc rực rỡ khẳng định ý chí độc
lập, chủ quyền và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu của các học giả Việt
Nam từ lâu cũng nhìn nhận Nam quốc sơn hà như bản tuyên ngôn độc lập
đầu tiên của dân tộc.
Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập năm
1945 phải được nhìn nhận là sự kế thừa và phát triển truyền thống ấy trong một
điều kiện lịch sử hoàn toàn mới, chứ không phải sự phủ nhận lịch sử trước đó. Trước
Ngày 2/9/1945, Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm dưới chế độ thuộc địa của thực
dân Pháp; đến năm 1940 lại chịu sự thống trị của phát xít Nhật. Vì vậy, vấn đề
đặt ra vào năm 1945 không phải là chứng minh “dân tộc Việt Nam có từ bao giờ”,
mà là xác lập lại nền độc lập đã bị chủ nghĩa thực dân tước đoạt và tuyên bố sự
ra đời của một nhà nước độc lập trong trật tự quốc tế mới. Tại Quảng trường Ba
Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân
và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn đồng thời
tuyên bố chấm dứt quan hệ thuộc địa với Pháp, xóa bỏ những đặc quyền của Pháp ở
Việt Nam và khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do, độc lập. Bởi
vậy, lấy Nam quốc sơn hà để kết luận rằng Tuyên ngôn Độc lập năm 1945
là “dư thừa” chẳng khác nào cho rằng một dân tộc đã từng có độc lập trong lịch
sử thì sau khi bị xâm lược, mất độc lập không cần tuyên bố khôi phục chủ quyền
quốc gia. Đó không phải tư duy lịch sử mà là sự đánh đồng các thời đại, các chủ
thể nhà nước và các hoàn cảnh pháp lý hoàn toàn khác nhau.
Thứ
hai,
phủ nhận Ngày Quốc khánh 2/9/1945 thực chất
là tách Tuyên ngôn Độc lập khỏi thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và xuyên tạc
quá trình nhân dân Việt Nam giành lại quyền tự quyết của mình. Trương Nhân
Tuấn còn cho rằng, không có chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh giành độc
lập ngày 2/9/1945; rằng Nhật đã đầu hàng Đồng minh, vì thế việc giành chính quyền
chỉ là “chạy đua với Đồng minh”. Cách diễn giải sai lệch này đã giản lược một
quá trình lịch sử phức tạp thành một sự chuyển giao quyền lực gần như tự nhiên.
Nhật đầu hàng Đồng minh là điều kiện quốc tế thuận lợi, nhưng sự đầu hàng của
Nhật không tự động tạo ra một Nhà nước Việt Nam độc lập. Khoảng trống quyền lực
chỉ có thể trở thành cơ hội lịch sử khi có một lực lượng chính trị đủ khả năng
tổ chức nhân dân, giành chính quyền và thiết lập một chính quyền mới trên thực
tế. Cách mạng Tháng Tám chính là quá trình biến thời cơ đó thành hiện thực
chính trị.
Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ rõ một thực tế
lịch sử quan trọng: Nhân dân Việt Nam giành lại đất nước từ tay Nhật; chế độ
thuộc địa của Pháp và chế độ quân chủ đều bị chấm dứt, từ đó Nhà nước Việt Nam
Dân chủ Cộng hòa được xác lập. Không thể chỉ viện dẫn việc Nhật đầu hàng để xóa
bỏ vai trò chủ thể của hàng triệu người Việt Nam đã tham gia quá trình giành
chính quyền. Điều cần phân biệt rất rõ là tôn vinh Ngày Quốc khánh 2/9/1945
không hề phủ nhận hàng nghìn năm lịch sử trước đó. Trái lại, Ngày mùng 2 tháng
9 là một mắt xích đặc biệt trong dòng chảy liên tục của ý chí độc lập dân tộc từ Nam
quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo đến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Một
bên khẳng định chủ quyền trong điều kiện quốc gia quân chủ thời trung đại; một
bên tuyên bố nền độc lập và xác lập nhà nước mới trong bối cảnh chính trị –
pháp lý quốc tế của thế kỷ XX. Chính sự kế tục ấy làm nên chiều sâu của lịch sử
Việt Nam. Vì thế, lời kêu gọi “dẹp bỏ” Ngày Mùng 2 tháng 9 không phải là cách
“trả lại lịch sử” cho dân tộc như cách suy diễn xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn.
Ngược lại, đó là cách cắt bỏ một mắt xích quan trọng khỏi chính lịch sử dân tộc,
lấy một mốc son của quá khứ để phủ định một mốc son của thời đại sau.
Tóm lại, lập luận đòi “dẹp
bỏ” Ngày Quốc khánh nùng 2 tháng 9 là cách nhìn phiến diện, phản động, đánh đồng
các thời kỳ và hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Truyền thống độc lập hàng nghìn năm
của dân tộc không đối lập, mà được kế thừa và phát triển trong Tuyên ngôn Độc lập
năm 1945. Tôn trọng lịch sử phải là nhìn nhận đầy đủ tính kế thừa của truyền thống
độc lập và giá trị đặc biệt của Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, không như lập
luận xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn./.
Nhìn đúng giá trị lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập
Ý nghĩa ấy càng rõ khi đặt trong bối cảnh quốc tế năm 1945. Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, chủ nghĩa thực dân vẫn tồn tại ở nhiều nơi và quyền tự quyết của các dân tộc chưa trở thành hiện thực phổ biến. Trong những thập niên sau đó, nguyên tắc bình đẳng về quyền và quyền tự quyết của các dân tộc ngày càng được khẳng định trong đời sống quốc tế. Nhìn từ tiến trình ấy, việc một dân tộc thuộc địa tuyên bố độc lập năm 1945 không chỉ là một sự kiện của riêng Việt Nam, mà còn nằm trong dòng chảy rộng lớn của lịch sử phi thực dân hóa.
Từ bối cảnh đó có thể thấy một giá trị nổi bật của Tuyên ngôn: đặt quyền dân tộc trong mối liên hệ với những giá trị phổ quát về con người. Từ các nguyên lý về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Tuyên ngôn đi đến khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam. Sự kết nối giữa quyền con người và quyền dân tộc vì thế không phải là hai vấn đề tách biệt, mà được đặt trong cùng một lập luận về quyền được sống tự do và tự quyết định tương lai.
Cách tiếp cận này cũng tương thích với nhận thức phổ biến của khoa học xã hội hiện đại. Nhiều nghiên cứu về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc cho rằng một cộng đồng chính trị không chỉ được hình thành bởi lãnh thổ hay những yếu tố nguồn gốc, mà còn bởi ký ức lịch sử, bản sắc, sự gắn kết xã hội và ý thức về một cộng đồng chung. Trong chính trị học, quyền tự quyết cũng được xem là một vấn đề quan trọng khi một cộng đồng xác định địa vị chính trị và khả năng tự quản của mình. Đặt trong cách nhìn đó, Tuyên ngôn Độc lập vừa phản ánh hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, vừa thể hiện một tư tưởng có ý nghĩa rộng hơn về quyền của các dân tộc.
Chính vì vậy, khi đánh giá Tuyên ngôn, cần tránh cả hai thái cực: tuyệt đối hóa một cách giản đơn hoặc phủ nhận giá trị lịch sử của nó từ một vài chi tiết riêng lẻ. Lịch sử luôn cần được nghiên cứu lại khi xuất hiện tư liệu mới, phương pháp mới và những câu hỏi mới. Đó là yêu cầu bình thường của khoa học. Tuy nhiên, “đa chiều” không có nghĩa là mọi cách giải thích đều có giá trị ngang nhau; cũng không có nghĩa một chi tiết riêng lẻ có thể tự động phủ định cả một tiến trình lịch sử.
Một cách tiếp cận lịch sử thuyết phục phải đặt sự kiện trong toàn bộ bối cảnh, xem xét quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, giữa văn kiện và thực tiễn, giữa hoàn cảnh trong nước và môi trường quốc tế. Khi tách một câu chữ khỏi hoàn cảnh ra đời, tách một sự kiện khỏi tiến trình đã tạo nên nó hoặc chỉ lựa chọn những dữ kiện phù hợp với một kết luận có sẵn, cái nhìn về lịch sử dễ trở nên phiến diện. Nghiên cứu lại lịch sử là nhu cầu bình thường của khoa học; nhưng nghiên cứu lại không đồng nghĩa với việc tùy ý viết lại lịch sử.
Hơn tám thập niên đã trôi qua, thế giới và Việt Nam đều thay đổi sâu sắc. Tuy nhiên, những vấn đề mà Tuyên ngôn đặt ra vẫn còn ý nghĩa: độc lập, chủ quyền, quyền tự quyết, tự do và quyền được sống trong một cộng đồng có khả năng tự quyết định tương lai. Trong nhận thức hiện đại, độc lập không chỉ là thoát khỏi sự thống trị từ bên ngoài, mà còn là năng lực tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển, bảo vệ lợi ích quốc gia và tạo điều kiện để con người thực hiện những quyền cơ bản của mình. Bởi vậy, giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không nên chỉ được nhìn như một biểu tượng thuộc về quá khứ. Nó là dấu mốc cho thấy một dân tộc đã chuyển từ vị thế bị trị sang chủ thể tự quyết; đồng thời phản ánh một khát vọng có sức sống lâu dài: độc lập dân tộc gắn với tự do, quyền con người và mong muốn xây dựng một tương lai do chính mình lựa chọn.
Nhìn lại Tuyên ngôn Độc lập từ hôm nay, điều cần thiết không phải là làm cho một văn kiện lịch sử trở nên xa cách với hiện tại, mà là nhận ra những giá trị đã giúp nó vượt qua giới hạn của một thời điểm cụ thể. Đó là khát vọng độc lập của một dân tộc, quyền tự quyết của một cộng đồng chính trị và mong muốn xây dựng một cuộc sống tự do, hạnh phúc cho con người.
Lịch sử càng được nhìn trong đầy đủ bối cảnh, giá trị của những dấu mốc lớn càng hiện rõ. Với Tuyên ngôn Độc lập, giá trị ấy không chỉ thuộc về ngày 2/9/1945, mà còn nằm trong ý nghĩa lâu dài của độc lập, chủ quyền, tự do và quyền tự quyết đối với hành trình phát triển của đất nước. Nhìn đúng giá trị lịch sử của Tuyên ngôn, vì thế, cũng là nhìn rõ hơn ý nghĩa của một thời khắc mà dân tộc Việt Nam khẳng định vị thế của mình như một chủ thể độc lập, tự quyết định con đường đi tới tương lai.
(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)
Aug 28, 2026
“Gen Z” cảnh giác trước những chiêu trò khai thác cảm xúc trên không gian mạng
Aug 26, 2026
Giá trị lịch sử và cống hiến vĩ đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, bác bỏ mọi xuyên tạc
Ấy thế mà, những kẻ chống cộng cực đoan, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để đưa ra những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam. Chúng cho rằng, bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là sự “sao chép” Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789 (!) hoặc “Bản Tuyên ngôn độc lập lời lẽ hằn học, lập luận ngoa ngôn hồ đồ, từ ngữ không chính xác. Không xứng đáng là một bản tuyên ngôn nghiêm túc”(!) Đây là những luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử, nhằm hạ thấp giá trị lịch sử và sự cống hiến của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và nhằm bôi nhọ tư tương, đạo đức, phương pháp, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Như chúng ta đã biết, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tổ chức Lễ Độc lập. Trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời và quốc dân đồng bào cả nước trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam và tuyên bố: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.
Trong tiến trình đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng về nhân dân và hỏi rằng: Tôi nói đồng bào nghe rõ không! Lời Người vang dậy khắp năm Châu về ý chí, khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung về. Đến nay, đã gần 81 năm trôi qua, giá trị và sự cống hiến vĩ đại của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 ngày càng được thể hiện rõ ràng.
Lịch sử đã ghi nhận, ngày 19/8/1945 Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội và viết bản Tuyên ngôn Độc lập tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang để công bố trong Ngày Lễ tuyên bố độc lập. Với văn phong trong sáng, ngôn từ giản dị, ngắn, gọn, rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu trong 49 câu, 1.013 từ, Tuyên ngôn thực sự là “Áng văn lập quốc vĩ đại”, thể hiện nền văn hiến, trí tuệ, khí phách, tính văn nhân văn cao cả, ý chí và khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hội của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vì thế hàm chứa giá trị lịch sử bền vững và giá trị hiện thực sâu sắc.
Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn lời trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và nhắc lại lời Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Vì sao, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu như vậy?
Thực chất Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những câu thể hiện sự tiến bộ về tư tưởng chính trị, nhân văn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp làm câu mở đầu trong Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam, là nhằm khẳng định quyền tự do, dân chủ của mọi người dân trên thế giới, trong đó có người dân Việt Nam là không thể vi phạm. Đồng thời, chỉ rõ rằng, họ ra tuyên ngôn như vậy, nhưng chỉ nói, mà không làm; hơn nữa, còn đi ngược lại, khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và nhiều dân tộc khác. Đặc biệt, trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng và phát triển quyền của “tất cả mọi người” thành quyền của “tất cả các dân tộc trên thế giới”. Khi dẫn Tuyên ngôn Độc lập Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người đã suy rộng và khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Đây là cống hiến vĩ đại, thể hiện tính nhân văn triệt để của ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tiến hành đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Người luôn khẳng định, độc lập dân tộc là phải làm cho nhân dân được hưởng ấm no, hạnh phúc. Như vậy, độc lập dân tộc là điều kiện nền tảng, cơ bản đẻ quyền con người được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất và thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt Nam nói riêng, trong khu vực và trên thế giới nói chung đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam!
Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, không chỉ là “Áng văn lập quốc” vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà còn thể hiện tư tưởng nhân văn, nhân ái, trí tuệ, bản lĩnh văn hóa tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam văn hiến. Thực tế cho thấy, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, các thế lực phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn tìm mọi cách giấu mặt, giật dây lực lương phản động trong và ngoài nước Việt Nam chống phá, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ, thực hiện âm mưu nhảy vào thống trị các nước Đông Dương. Nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã anh dũng đứng lên thực hiện Lời thề độc lập, đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật cũng như đế quốc Mỹ can thiệp, xâm lược và bè lũ tay sai. Nhưng, Nhân dân Việt Nam là một dân tộc văn hiến, luôn yêu chuộng hoà bình, có lòng nhân ái, nhân đạo cao cả, luôn tôn trọng, đoàn kết với nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ và không bao giờ hạ thấp, bác bỏ nền văn hóa Pháp, nền văn hóa Mỹ. Ngược lại, Nhân dân Việt Nam trân trọng và tiếp thu những giá trị văn hóa, chính trị mà nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ tạo ra; đồng thời đoàn kết cũng nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ đấu tranh vì hoà bình, công lý và sựu phát triển bền vững của nhân loại.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 là để cho nhân dân thế giới thấy rằng, dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc trên thế giới nói chung, đấu tranh chống xâm lược, phá cường quyền, áp bức để giành độc lập, tự do cho dân tộc là quyền chính đáng, thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm. Đó là tầm cao và cống hiến vĩ đại của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh!
Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam ra đời gần 81 năm, nhưng những giá trị, công hiến vĩ đại của nó đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống cộng cự đoan, thù địch, cơ hội, bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; vu khống, xúc phạm, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và giá trị của Tuyên ngôn Độc lập./.
(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)
Aug 25, 2026
Phê phán cách nhìn phiến diện, quy chụp về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở Việt Nam
Tre Việt - Sau khi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV ban hành Kết luận số 76-KL/TW, ngày 28/7/2026 về “Tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”, trên không gian mạng xuất hiện một số ý kiến thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc mục tiêu, ý nghĩa chủ trương này. Đáng chú ý, trang facebook Tiếng Dân đăng bài viết: “Vươn mình hay thu mình?”, cho rằng: bộ máy “không phải để phục vụ người dân mà để cai trị”; gắn quá trình sắp xếp tổ chức với “đấu đá nội bộ”, v.v. Đây là nhận định phiến diện, quy chụp về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở Việt Nam, cần được nhận diện, phê phán, bác bỏ.
Trước
hết, cần khẳng định rằng:
việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước ta là chủ trương đúng
đắn, có ý nghĩa chiến lược, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình xây
dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh nhiệm vụ quản trị quốc gia ngày càng
phức tạp, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi
số diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng cao, bộ
máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là điều kiện quan trọng để nâng cao
năng lực quản trị và phát triển đất nước. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy không đơn
thuần là giảm đầu mối mà hướng tới khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng,
giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực.
Thực
tiễn cho thấy, mọi mô hình tổ chức đều cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển mới. Đây không chỉ là yêu
cầu trước mắt mà còn là quá trình lâu dài, cần được thực hiện khoa học, đồng
bộ, thận trọng, lấy hiệu lực, hiệu quả hoạt động và sự hài lòng của người dân
làm những thước đo hành động.
Thứ
hai, không thể lấy hạn chế, vướng mắc trong thực hiện
để phủ nhận chủ trương đúng đắn. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy là một quá trình có phạm vi
rộng, tác động đến nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương và đội ngũ cán bộ. Trong
quá trình thực hiện, bên cạnh những kết quả quan trọng thì xuất hiện những khó
khăn, vướng mắc là điều khó tránh khỏi. Có thể có nơi việc phân định chức năng,
nhiệm vụ chưa thật rõ; sự phối hợp chưa đồng bộ; có cán bộ chưa kịp thích ứng
với yêu cầu mới; cơ sở vật chất, dữ liệu và nguồn lực ở một số địa bàn chưa đáp
ứng đầy đủ, v.v. Vì thế, Kết luận số 76-KL/TW đã yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện,
vận hành hiệu quả” mô hình tổ chức mới. Điều này cho thấy, Đảng ta không nhìn
nhận quá trình đổi mới một cách giản đơn, một chiều mà luôn đặt trong yêu cầu
tổng kết thực tiễn, phát hiện những điểm nghẽn để tiếp tục điều chỉnh, hoàn
thiện. Do đó, bài viết trên chỉ dựa vào một số vướng mắc, bất cập để phủ nhận
toàn bộ chủ trương đúng đắn chính là sự đánh tráo giữa mục tiêu của đổi mới sắp xếp và những vấn đề phát sinh trong thực hiện.
Thứ ba, nhận định rằng bộ máy “không phải để
phục vụ người dân mà để cai trị” là sự quy chụp thiếu căn cứ. Nhà
nước là thiết chế thực hiện quyền lực công, quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo
đảm trật tự, kỷ cương và tổ chức cung cấp các dịch vụ công. Đối với Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà
nước có trách nhiệm phục vụ lợi ích của Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân
và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Vấn đề cần quan tâm không phải
là Nhà nước có quyền lực hay không, mà là quyền lực được tổ chức, thực thi như
thế nào; trách nhiệm của cơ quan công quyền được xác định ra sao; quyền lực có
được kiểm soát hay không; người dân có được phục vụ ngày càng tốt hơn hay không?
Nhìn
vào mục tiêu của việc đổi mới tổ chức bộ máy, càng không có cơ sở để quy kết
việc sắp xếp bộ máy nhằm “cai trị”. Tinh gọn tổ chức nhằm giảm tầng nấc trung
gian, khắc phục chồng chéo chức năng, phân định rõ trách nhiệm, đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ
người dân, doanh nghiệp. Thực tế đã chỉ ra, nếu bộ máy cồng kềnh, thủ tục phức
tạp, trách nhiệm không rõ thì chính người dân, doanh nghiệp phải chịu chi phí
xã hội lớn hơn. Vì vậy, cải cách tổ chức, cải cách hành chính và chuyển đổi
phương thức quản trị phải được nhìn nhận từ lợi ích của người dân và yêu cầu
phát triển đất nước.
Thứ tư, những thay
đổi về tổ chức, nhân sự trong
quá trình sắp xếp bộ máy không phải là “đấu đá nội bộ”. Bởi
vì, bất kỳ quá trình sắp xếp tổ chức nào cũng tác động đến vị trí việc làm,
chức năng, nhiệm vụ và con người. Vì vậy, không thể dựa vào một sự điều chuyển
cán bộ, một thay đổi tổ chức hay một quyết định nhân sự để đưa ra kết luận của
quá trình là “đấu đá nội bộ”. Cách suy diễn, quy chụp này chính là với dụng ý
xấu, tạo tâm lý hoài nghi, làm sai lệch nhận thức của xã hội về công tác tổ
chức, cán bộ cần được nhận diện, vạch trần.
Vì
vậy, trước những thông tin sai lệch, phiến diện, quy chụp trên không gian mạng,
chúng ta cần giữ thái độ tỉnh táo, khách quan để phân biệt rõ đúng - sai, bảo
vệ sự thật khách quan, củng cố đồng thuận xã hội, tạo cơ sở để chủ trương đổi
mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước tiếp tục được triển khai thực
chất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Aug 22, 2026
Đập tan âm mưu kêu gọi từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không” để trở thành đồng minh quân sự
Chúng ta cần
khẳng định rõ: chính sách quốc phòng “bốn không” là sự lựa chọn có tính nguyên
tắc, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và truyền thống yêu chuộng hòa bình
của Việt Nam. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước
này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng
lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế. Bản chất của “bốn không” không phải là “đóng cửa”, biệt lập hay tự tước bỏ khả năng bảo vệ Tổ quốc, mà nhằm
giữ vững độc lập, tự chủ, tránh bị cuốn vào đối đầu, cạnh tranh phe phái và
xung đột giữa các nước lớn.
Thực tiễn đã bác bỏ hoàn
toàn luận điệu cho rằng “bốn không” khiến Việt Nam bị cô lập. Không tham gia
liên minh quân sự không đồng nghĩa với không hợp tác quốc phòng. Việt Nam vẫn
chủ động, tích cực mở rộng quan hệ đối ngoại, quốc phòng, an ninh với nhiều quốc
gia, tổ chức quốc tế; thúc đẩy hợp tác về đào tạo, quân y, gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc, an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống tội phạm xuyên quốc
gia và nhiều lĩnh vực khác... Chính sách quốc phòng “bốn không” tạo
cho Việt Nam không gian chiến lược rộng mở, giúp đất nước duy trì quan hệ với
nhiều quốc gia, nhiều trung tâm quyền lực, đồng thời tránh bị ràng buộc bởi những
cam kết có thể làm hạn chế quyền tự quyết. Chính sách này cũng không phải sự
đóng khung cứng nhắc. Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ quốc phòng với các
nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp
với luật pháp quốc tế. Đó là sự kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt về sách
lược.
Kiên định chính sách quốc phòng
“bốn không” không phải là yếu mềm, càng không phải “đứng ngoài thế giới”. Đó là
bản lĩnh của một quốc gia biết hợp tác nhưng không lệ thuộc, hội nhập nhưng
không hòa tan, kiên trì hòa bình nhưng luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mọi
luận điệu kêu gọi Việt Nam từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không” để trở thành đồng minh quân
sự cần được nhận diện đúng bản chất, kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Giữ vững “bốn
không” chính là giữ vững quyền tự quyết chiến lược, bảo vệ lợi ích quốc gia,
dân tộc và tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để Việt Nam phát triển bền vững.
Chính
vì vậy, mỗi cán bộ, chiến
sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải là một “lá chắn” trên mặt trận tư tưởng. Cần
nắm chắc bản chất, nội dung, cơ sở và giá trị của chính sách quốc phòng “bốn không”; nhận diện đúng những luận điệu xuyên tạc,
không dao động trước các thông tin phiến diện trên không gian mạng. Khi đấu
tranh phản bác, phải lấy lý luận, thực tiễn và bằng chứng thuyết phục làm cơ sở;
tránh tranh luận cực đoan, cảm tính, đồng thời chủ động lan tỏa thông tin chính
thống, góp phần định hướng nhận thức đúng đắn cho cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân. Bên cạnh đó,
các cơ quan, đơn vị
cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, kiến thức quốc phòng, đối
ngoại và năng lực nhận diện thông tin xấu độc; chủ động cung cấp thông tin chính
xác về đường lối quốc phòng, đối ngoại của Đảng, Nhà nước./.
Aug 20, 2026
Đập tan luận điệu phủ nhận giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trên trang mạng Thongluan, Phạm Trần có bài viết: “Lịch sử 1945″ xuyên tạc, phủ nhận giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Qua đó, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phủ nhận sức mạnh của quần chúng nhân dân. Y cho rằng, thắng lợi chủ yếu là do “khoảng trống quyền lực” sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thậm chí quy kết đó là một sự “ăn may” của cách mạng. Khẳng định, đây không phải là cách tiếp cận lịch sử khách quan, mà là thủ đoạn xuyên tạc, đánh tráo nguyên nhân, tuyệt đối hóa một yếu tố khách quan để phủ nhận cả một quá trình chuẩn bị lâu dài của cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám mở ra một thời đại mới ở Việt Nam,
thời đại nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước,
làm chủ vận mệnh của chính mình (Ảnh TTXVN)
Thứ
nhất, lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử
năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt, tài tình chèo lái con
thuyền cách mạng qua 15 năm gian khổ với 03 cao trào cách mạng vô cùng cam go,
khốc liệt, đó là: Cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô
Viết Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao
trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Ngay từ năm 1939, Đảng ta đã
chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi
nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.
Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945
đã tạo ra “thời cơ vàng” để dân tộc Việt Nam đứng lên thực hiện một cuộc cách mạng
giành độc lập, tự do. Đó là thời điểm quân Nhật đã thất bại và tuyên bố đầu
hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận
mệnh dân tộc đã đến.Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng
cho ta…”. Người nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm, nếu bỏ qua thì
không bao giờ còn nữa”, “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho
được độc lập dân tộc”.
Thứ
hai, khẳng định, thành công của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là thành
quả của sự đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không quản ngại
hi sinh, mất mát của toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết quả của sự chuẩn bị kĩ lưỡng, chính
xác về chủ trương, đường lối, xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng
vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, xác định, lựa chọn thời cơ khởi nghĩa;
là kết tinh sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, là kết quả tất yếu của cuộc
đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của Nhân
dân ta.
Tám
mươi mốt năm trôi qua nhưng tầm vóc, ý nghĩa cùng những bài học kinh nghiệm quý
báu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục tỏa
sáng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Đó là cuộc hồi sinh vĩ đại của
dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước với những chiến công
oanh liệt như chiến thắng Điện Biên Phủ, đại thắng mùa xuân năm 1975, với những
thành tựu có tính lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước,
tạo dựng nên “cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín” của Tổ quốc Việt Nam hôm nay.
Tóm
lại, những
luận điệu xuyên tạc của Phạm Trần về Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực chất là
sự đánh tráo điều kiện với nguyên nhân, tuyệt đối hóa yếu tố khách quan, phủ nhận
vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hạ thấp sức mạnh của
quần chúng nhân dân. Nhận diện đúng, chủ động đấu tranh bác bỏ những luận điệu
sai trái, xuyên tạc là góp phần bảo vệ sự thật lịch sử, củng cố niềm tin, bồi đắp
lòng tự hào dân tộc và giáo dục trách nhiệm của các thế hệ hôm nay đối với Tổ
quốc./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)
Aug 18, 2026
Hãy tỉnh táo để nhận diện, tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội
Tuy nhiên, chính sự nhanh chóng, rộng lớn và khó kiểm soát của môi trường mạng đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với người dùng là cần tỉnh táo để nhận diện, kiểm chứng, tiếp nhận thông tin. Bởi, mỗi khi có thông tin gây tranh luận xuất hiện, tâm lý tò mò, muốn thể hiện quan điểm hoặc muốn trở thành người “biết chuyện” trước người khác có thể khiến một bộ phận người trẻ lập tức chia sẻ, bình luận. Vì thế, khi sự việc liên quan đến vụ tai nạn giao thông được đưa trở lại dòng chảy mạng xã hội, nhiều người đã vào bình luận, chia sẻ, phán xét dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng đầy đủ, thậm chí đưa ra kết luận, phán quyết đối với cá nhân, tổ chức. Lúc đó, ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận với hành vi vi phạm pháp luật là rất mong manh.
Đến khi Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) có phóng sự cung cấp thêm những thông tin, hình ảnh, phân tích về vụ việc của các cơ quan chức năng thực thi pháp luật, giới luật sư, ý kiến của gia đình nạn nhân,... đã giúp công chúng có cơ sở nhìn nhận toàn diện, đánh giá sự việc đầy đủ hơn.
Do vậy, mỗi chúng ta, nhất là các bạn trẻ cần hình thành một nguyên tắc khi lên mạng xã hội: đọc kỹ trước khi tin, kiểm chứng trước khi chia sẻ, suy nghĩ trước khi bình luận. Đặc biệt, cần tránh tâm lý “chia sẻ cho vui”, “thấy nhiều người đăng thì đăng theo” hoặc “cứ đăng rồi tính”. Không gian mạng không phải là nơi nằm ngoài đời sống thực. Mỗi tài khoản đều gắn với một chủ thể cụ thể, mỗi phát ngôn đều có thể tạo ra tác động xã hội và người đó phải chịu trách nhiệm tương ứng trước pháp luật.
Trong điều kiện hiện nay, nâng cao khả năng nhận diện thông tin của thế hệ trẻ không chỉ là kỹ năng sử dụng mạng xã hội mà cần xây dựng “sức đề kháng” trước những thông tin xấu, độc. “Sức đề kháng” ấy trước hết được hình thành từ tri thức. Người có kiến thức nền càng tốt thì càng khó bị dẫn dắt bởi những thông tin phiến diện. Cùng với đó là tư duy phản biện để có khả năng nhìn nhận một vấn đề từ nhiều chiều, nhận diện những điểm bất hợp lý, kiểm tra, đối chiếu bằng chứng. Đồng thời, cần có bản lĩnh trước những bình luận trái chiều, bởi nếu không có bản lĩnh, con người rất dễ thay đổi quan điểm chỉ vì sợ bị phản đối hoặc muốn được số đông công nhận.
Trong kỷ nguyên số, để trở thành những công dân thông thái, chúng ta cần có thái độ tiếp nhận thông tin hiện đại: cởi mở nhưng không dễ dãi, phản biện nhưng không cực đoan, chủ động nhưng không vội vàng, có chính kiến nhưng không định kiến. Đó là cách để mỗi người góp phần xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, an toàn./.








