Jul 22, 2026

Không thể xuyên tạc chính sách nhân văn của Đảng và Nhà nước Việt Nam

        Tre Việt - Ngày 22/7, trang facebook Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam đăng stust xuyên tạc: “Việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ đã phải làm từ hàng thập niên trước. Tại sao lại bùng nổ trong kỷ nguyên Tô Lâm?”.

Cần khẳng định ngay, đây là luận điệu xuyên tạc trắng trợn chủ trương, chính sách tốt đẹp, nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước, cũng như những kết quả rất quan trọng mà Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta và cả hệ thống chính trị đã nỗ lực trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ những năm qua.

Ở Việt Nam, công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ được tiến hành ngay sau các cuộc kháng chiến. Đặc biệt, từ năm 2013 đến nay, quán triệt sâu sắc các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; các chương trình, kế hoạch của Ban Chỉ đạo quốc gia về tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ, trọng tâm là: Chỉ thị số 24-CT/TW, ngày 15/5/2013 của Bộ Chính trị (khóa XI) về tiếp tục đẩy mạnh công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ từ nay đến năm 2020 và những năm tiếp theo; Quyết định số 1515/QĐ-TTg, ngày 14/9/2021 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Kế hoạch tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin đến năm 2030 và những năm tiếp theo. Công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ luôn được Đảng, Nhà nước, Nhân dân ta và cả hệ thống chính trị xác định là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng; các cơ quan, đơn vị Quân đội đã phát huy tốt vai trò là lực lượng nòng cốt, chủ động phối hợp chặt chẽ với cấp ủy, chính quyền các địa phương, triển khai thực hiện toàn diện, đồng bộ, quyết liệt các giải pháp tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, đạt được những kết quả rất quan trọng.

Chỉ tính riêng giai đoạn 2021 - 2025, toàn quốc đã tìm kiếm, quy tập được 6.959 hài cốt liệt sĩ (trong đó: ở trong nước 3.122, ở Lào 938, ở Campuchia 2.899); tiếp nhận 13.404 mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ; phân tích, so sánh, đối khớp và trả kết quả giám định ADN đối với 1.094 trường hợp, trong đó xác định được danh tính 103 hài cốt liệt sĩ; xác minh, kết luận, đính chính, bổ sung thông tin bằng phương pháp thực chứng đối với 2.560 mộ an táng trong các nghĩa trang liệt sĩ, v.v.

Kết quả đó, khẳng định quyết tâm chính trị, thể hiện sự tri ân, lòng biết ơn sâu sắc của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đối với công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ; đáp ứng nguyện vọng và làm vơi đi nỗi đau của thân nhân, gia đình liệt sĩ; tạo sự đồng thuận xã hội cao, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Tuy nhiên, hiện nay vẫn rất nặng nề, hiện còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và hơn 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Trong khi đó, điều kiện thực hiện ngày càng khó khăn, nếu không hành động khẩn trương, quyết liệt, cùng cách làm khoa học và sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành, địa phương, lực lượng chuyên trách và Nhân dân, thì cơ hội tìm kiếm, quy tập hài cốt các liệt sĩ sẽ ngày càng dần mất đi.

Chính vì lẽ đó, ngày 02/4/2026, tại Khu di tích quốc gia đặc biệt Thành cổ Quảng Trị, Ban Chỉ đạo quốc gia phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. Mục đích là, nhằm phát huy cao nhất sức mạnh tổng hợp của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân và cả hệ thống chính trị trong thực hiện nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; trực tiếp góp phần tri ân và ghi nhớ công lao to lớn của các Anh hùng liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân; đồng thời, giáo dục truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027).

Như thế, chúng ta đều thấy công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ là chủ trương, chính sách đúng đắn, được Đảng, Nhà nước quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, triển khai thực hiện từ hơn 80 nay, hoàn toàn không phải “đến kỷ nguyên này mới bùng nổ” như luận điệu mà Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam xuyên tạc, rêu rao!. Tuy nhiên, do hoàn cảnh chiến tranh khốc liệt, điều kiện kinh tế, khoa học, kỹ thuật của đất nước còn nhiều khó khăn, thiếu thốn nên công tác tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ chưa đạt kết quả như mong muốn. Vì thế, đến giai đoạn hiện nay, khi đất nước phát triển, có điều kiện thuận lợi hơn, công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được đẩy mạnh hơn cũng là điều dễ hiểu, nhằm sớm đưa các Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc trở về với quê hương, gia đình, đáp ứng nguyện vọng và làm vơi đi nỗi đau của thân nhân, gia đình liệt sĩ; tạo sự đồng thuận xã hội cao, góp phần củng cố, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, Quân đội và chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Vì vậy, luận điệu kích động, xuyên tạc, lố bịch của Thông Tấn Xã Quốc Gia Việt Nam nhằm chống phá chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và nội dung, mục tiêu, ý nghĩa chính trị, xã hội, nhân văn sâu sắc của động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, sẽ chẳng lừa bịp được ai, nhất định sẽ bị đấu tranh bác bỏ, làm phá sản./.

 

Jul 21, 2026

Đồng nhất con đường phát triển của Việt Nam với Venezuela là một sự so sánh khập khiễng.

         Tre Việt - Ngày 21/7/2026, trang facebook Việt Tân đăng tải video với tiêu đề: “Bên Venezuela Chavez rồi Maduro cũng thử cái kiểu “định hướng” thị trường theo XHCN, rồi cũng thất bại. Việt Nam cũng thử nhiều lần, không thành công nhưng mà vẫn kiên định”. Thông qua việc cắt ghép thông tin, hình ảnh, ngụy tạo lập luận và sử dụng phép so sánh khập khiễng, video này cố tình đồng nhất mô hình phát triển của Việt Nam với Venezuela nhằm phủ nhận đường lối đổi mới, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 

        Đây là thủ đoạn quen thuộc của các thế lực thù địch khi cố tình đánh đồng những quốc gia có điều kiện lịch sử, thể chế chính trị, cơ cấu kinh tế và phương thức quản trị hoàn toàn khác nhau để đưa ra những kết luận mang tính áp đặt, phiến diện, thiếu cơ sở khoa học, qua đó tạo tâm lý hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với đường lối phát triển đất nước do Đảng ta lựa chọn.

        Trước hết, cần khẳng định rằng không thể lấy kết quả phát triển của một quốc gia để suy ra tất yếu kết quả của một quốc gia khác khi nền tảng lịch sử, thể chế, điều kiện kinh tế, cơ cấu sản xuất và chiến lược phát triển hoàn toàn khác nhau. Việt Nam là quốc gia lựa chọn mô hình phát triển dựa trên công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đa dạng hóa ngành nghề, mở cửa hội nhập quốc tế, phát triển nhiều thành phần kinh tế và chủ động tham gia chuỗi giá trị toàn cầu, nên việc đồng nhất kết quả phát triển của Việt Nam với quốc gia khác là thiếu cơ sở.

        Thứ hai, việc cho rằng Việt Nam “thử nhiều lần nhưng không thành công” hoàn toàn không phù hợp với thực tiễn phát triển của đất nước. Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới Việt Nam trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, quy mô nền kinh tế tăng nhiều lần so với thời kỳ đầu đổi mới, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được nâng lên. Hệ thống kết cấu hạ tầng được đầu tư đồng bộ hơn; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh; giáo dục, y tế, an sinh xã hội đạt nhiều kết quả tích cực, vững chắc, bền vững; vị thế và uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Những thành tựu đó được nhiều tổ chức quốc tế ghi nhận và khó có thể coi là biểu hiện của một mô hình “thất bại” như lời rêu rao của các thế lực thù địch, phản động.

        Đặc biệt, Việt Nam không sao chép mô hình phát triển của bất kỳ quốc gia nào. Đường lối phát triển được xác định là xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó các thành phần kinh tế cùng phát triển theo pháp luật, thị trường giữ vai trò quan trọng trong phân bổ nguồn lực, đồng thời Nhà nước thực hiện vai trò kiến tạo phát triển, điều tiết vĩ mô và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội. Đây là mô hình được hình thành trên cơ sở tổng kết thực tiễn của Việt Nam, kế thừa kinh nghiệm quốc tế và từng bước được bổ sung, hoàn thiện trong quá trình phát triển.

        Thứ ba, việc Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định mục tiêu xã hội chủ nghĩa không có nghĩa là bảo thủ hay phủ nhận những yêu cầu đổi mới. Thực tiễn cho thấy, cùng với sự kiên định về mục tiêu, Việt Nam luôn nhấn mạnh yêu cầu đổi mới tư duy, hoàn thiện thể chế, phát triển khoa học, công nghệ, thúc đẩy chuyển đổi số, phát triển kinh tế tư nhân, mở rộng hội nhập quốc tế và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. Chính sự kết hợp giữa kiên định mục tiêu và đổi mới phương thức phát triển đã tạo nên những kết quả quan trọng trong nhiều năm qua.

        Mọi mô hình phát triển đều phải đối mặt với những khó khăn và thách thức riêng và Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, Việt Nam nhìn nhận những vấn đề khó khăn, thách thức một cách khách quan, từ đó tiếp tục hoàn thiện chính sách, chứ không phủ nhận toàn bộ thành quả và con đường phát triển mà đất nước đã lựa chọn.

        So sánh Việt Nam với Venezuela để kết luận rằng con đường phát triển của Việt Nam tất yếu sẽ thất bại là một phép suy diễn đơn giản hóa, bỏ qua những khác biệt căn bản về điều kiện lịch sử, thể chế, mô hình phát triển và thực tiễn quản trị quốc gia. Một cách tiếp cận khách quan cần dựa trên những dữ liệu, thành tựu và thực tiễn phát triển của chính Việt Nam, thay vì áp đặt kinh nghiệm của một quốc gia khác. Chỉ trên cơ sở đó mới có thể đánh giá đúng hiệu quả của đường lối đổi mới và định hướng phát triển mà Việt Nam đang kiên trì thực hiện./.

Jul 20, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam

       Trong bài viết “Chính trị thị trường - Tại sao không” trên Thongluan, Đinh Hoàng Thắng đã cố tình suy diễn, xuyên tạc thể chế chính trị ở Việt Nam hiện nay, nhằm phủ nhận đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam, gieo rắc hoài nghi và chia rẽ nội bộ. Việc đấu tranh phản bác luận điệu sai trái này là cần thiết để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và Nhân dân vào Đảng và chế độ.

1. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam hiện nay là hoàn toàn đúng đắn, nhất quán, không có sự cạnh tranh trong nội bộ. Đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhất quán, không có sự cạnh tranh nội bộ hoàn toàn có cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc. Trước hết, về mặt lý luận, Việt Nam lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản Việt Nam. Quan điểm này xuất phát từ học thuyết Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vai trò của Đảng tiên phong của giai cấp công nhân. Theo đó, để đảm bảo mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, cần có một lực lượng lãnh đạo thống nhất, có tổ chức chặt chẽ, kỷ luật cao và mục tiêu rõ ràng. Đồng thời, nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng là tập trung dân chủ, tức là có thảo luận dân chủ trong nội bộ nhưng khi đã thống nhất thì toàn Đảng hành động như một khối. Điều này không tạo ra cạnh tranh quyền lực theo kiểu đối lập mà hướng đến sự thống nhất ý chí và hành động. Vì vậy, tính “nhất quán” trong đường lối được bảo đảm bởi nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị và nguyên tắc tổ chức của Đảng.

Trong thực tiễn lịch sử, từ khi thành lập năm 1930 đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò lãnh đạo xuyên suốt đối với cách mạng Việt Nam. Những thắng lợi to lớn như giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, và công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay là minh chứng cho sự lãnh đạo ổn định và nhất quán đó. Đặc biệt, trong giai đoạn đổi mới, mặc dù có nhiều điều chỉnh về chính sách kinh tế, xã hội để phù hợp với bối cảnh trong nước và quốc tế, nhưng mục tiêu chiến lược (độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội) không bao giờ thay đổi. Điều này cho thấy đường lối có sự linh hoạt trong phương pháp nhưng kiên định về mục tiêu, không phải là sự cạnh tranh hay thay thế giữa các lực lượng chính trị.

Từ cả góc độ lý luận và thực tiễn, có thể khẳng định rằng, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính nhất quán, được bảo đảm bởi nền tảng tư tưởng, nguyên tắc tổ chức và vai trò lịch sử. Sự khác biệt ý kiến trong nội bộ chỉ tồn tại trong khuôn khổ dân chủ nội bộ và không dẫn đến cạnh tranh chính trị đối lập, mà hướng đến mục tiêu chung là phát triển đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vai trò trung tâm, vừa định hướng, dẫn dắt, vừa tổ chức thực hiện để hiện thực hóa mục tiêu đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, hùng cường.

2. Ở Việt Nam hiện nay, hoàn toàn không có “chính trị thị trường”. “Chính trị thị trường” (thường thấy trong các nước đa đảng) có những đặc điểm chính như: Quyền lực chính trị được “cạnh tranh” giữa nhiều đảng phái, cử tri đóng vai trò như “người lựa chọn” giữa các chương trình chính trị khác nhau, các đảng vận động tranh cử để giành quyền lãnh đạo nhà nước, có sự đối lập giữa các lực lượng chính trị. Nói cách khác, chính trị vận hành gần giống cơ chế thị trường: có cung, cầu, cạnh tranh, lựa chọn.

Ở Việt Nam hiện nay, hoàn toàn không có chính trị thị trường. Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước và xã hội. Không tồn tại nhiều đảng cạnh tranh quyền lực như trong mô hình chính trị thị trường. Vì vậy, không có “cạnh tranh chính trị” theo nghĩa giành chính quyền giữa các đảng. Quyền lực không được “mua - bán” hay cạnh tranh như hàng hóa; không có các chương trình, chính sách được “chào mời” để thu hút phiếu bầu. Ở Việt Nam, đường lối phát triển được xác định thống nhất trong Đảng, không có hoạt động tranh cử giữa các đảng đối lập, không coi quyền lực chính trị là thứ để cạnh tranh kiểu thị trường.

          Hệ thống chính trị Việt Nam vận hành theo nguyên tắc có thảo luận, góp ý trong nội bộ nhưng khi đã thống nhất thì thực hiện đồng bộ. Điều này tạo ra sự thống nhất, không phải cạnh tranh đối kháng.Mục tiêu chính trị mang tính định hướng lâu dài,Việt Nam kiên định mục tiêu: Độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Các chính sách có thể điều chỉnh linh hoạt, nhưng không thay đổi mục tiêu chiến lược, nên không hình thành các “gói lựa chọn” cạnh tranh như trong chính trị thị trường. Việt Nam không phải là nền chính trị thị trường vì không có đa đảng cạnh tranh quyền lực, không vận hành theo cơ chế “cạnh tranh - lựa chọn” như thị trường, quyền lực chính trị mang tính thống nhất, tập trung, định hướng phát triển được xác định lâu dài, không thay đổi theo cạnh tranh chính trị. Đây là mô hình chính trị một đảng lãnh đạo, khác về bản chất so với “chính trị thị trường” trong các hệ thống đa đảng.

Tóm lại, bài viết của Đinh Hoàng Thắng là luận điệu phản động, xuyên tạc, cố tình phủ nhận đường lối lãnh đạo nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những quan điểm sai trái đó hoàn toàn không có cơ sở, suy diễn thiếu căn cứ, hoàn toàn không phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay. Chúng ta luôn tin tưởng, đây không phải là “Chính trị thị trường”, “cạnh tranh về đường lối”. Với uy tín, nền tảng tư tưởng vững chắc là Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vai trò lãnh đạo duy nhất không thể phủ nhân; với niềm tin của Nhân dân và thành tựu to lớn đạt được trong lãnh đạo đất nước của Đảng, mọi luận điệu xuyên tạc trên nhất định sẽ bị đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jul 16, 2026

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc giá trị của Tuyên ngôn độc lập năm 1945

         Tre Việt - Ngày 14/7, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài:  “Tuyên ngôn độc lập hay là cái bánh vẽ mị dân tinh vi?” của tác giả Nhật Ngôn. Trong bài viết, Nhật Ngôn sử dụng ngôn từ hết sức phản động, nhằm xuyên tạc nội dung và hạ thấp giá trị lịch sử của Tuyên ngôn độc lập năm 1945, khi kết luận rằng: “Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 là bản copy phong cách tuyên ngôn 4/7/1776 nhằm mục đích mị dân và hiệu triệu quần chúng… biến hàng triệu người dân thành công cụ đẩy lùi các thế lực ngoại bang, trong khi các quyền lợi dân chủ thực chất của người dân thì không có bất cứ sự bảo đảm nào. Từ đó về sau, mọi cam kết, khẩu hiệu hứa hẹn các mục tiêu theo kế hoạch 5 năm đều chỉ là cái bánh vẽ mị dân được vẽ ra liên tục”.

Cần khẳng định ngay rằng, Tuyên ngôn Độc lập được Bác Hồ tuyên đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/9/1945 là Tuyên ngôn lập quốc của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện sâu sắc ý chí, khát vọng của Nhân dân ta về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Việc lãnh tụ Hồ Chí Minh dẫn lời Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp thể hiện bản lĩnh văn hóa tuyệt vời của vị lãnh tụ cách mạng. Từ việc dẫn Tuyên ngôn của Mỹ, Hồ Chí Minh muốn cho nhân dân thế giới thấy rằng, Nhân dân Việt Nam đấu tranh chống xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc mình là quyền chính đáng, thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm. Việc dẫn Tuyên ngôn của nước Pháp, Hồ Chí Minh cũng muốn để nhân dân thế giới hiểu rõ rằng, nước Pháp đã từng giương cao ngọn cờ đấu tranh chống chế độ phong kiến để thực hiện dân chủ và tiến bộ. Cả hai bản Tuyên ngôn này, đều ghi dấu ấn tích cực và tiến bộ trong sự phát triển tư tưởng chính trị, nhân văn của nhân loại. Điều đáng tiếc là, sau khi giai cấp tư sản ở Mỹ và Pháp giành được quyền thống trị, họ đã đi ngược lại những giá trị văn hóa, nhân văn đó khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và nhiều dân tộc khác. Vì thế, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đồng thời, Người nhắc lại lời Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Không chỉ có thế, trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã mở rộng và phát triển quyền của con người thành quyền tự do, độc lập của dân tộc. Vì lẽ đó, không thể xuyên tạc: “Tuyên ngôn Độc lập là bản copy phong cách tuyên ngôn 4/7/1776 nhằm mục đích mị dân và hiệu triệu quần chúng”!.

80 năm qua, kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, dân tộc ta đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử gắn với những biến động của tình hình chính trị khu vực và thế giới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Tuyên ngôn độc lập đã chỉ lối, nhất là trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ, tính hiện thực và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình được giữ vững, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế ngày càng phát triển, quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đời sống Nhân dân không ngừng được nâng cao.

Từ một nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước thiếu lương thực, đến nay Việt Nam đã không những bảo đảm được an ninh lương thực. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (mục tiêu Đại hội XIII đề ra là 4.700 USD - 5.000 USD), gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Chỉ số phát triển con người HDI liên tục được cải thiện qua các năm (năm 2025, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao). Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021.

Đặc biệt, Đảng, Nhà nước huy động nguồn lực, tập trung thực hiện hiệu quả các chính sách bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, giảm nghèo bền vững, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân. Việt Nam được đánh giá là hình mẫu thành công trong thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), hoàn thành mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trước thời hạn 10 năm, v.v. Thành tựu đó có được từ những định hướng đúng đắn mà Tuyên ngôn độc lập đã vạch lối, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu đó là sự thật, được các tầng lớp Nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, chứ không như luận điệu: “mọi cam kết, khẩu hiệu hứa hẹn các mục tiêu theo kế hoạch 5 năm đều chỉ là cái bánh vẽ mị dân được vẽ ra liên tục” mà Việt Nam Thời Báo rêu rao!.

Tuyên ngôn độc lập ra đời đã hơn 80 năm, song tinh thần, giá trị của nó vẫn đang tỏa sáng và tiếp tục sẽ là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Mọi mưu đồ xuyên tạc, hạ thấp giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập sẽ thất bại trước lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn đó./.

Khi sự “cợt nhả” trở thành công cụ xuyên tạc lịch sử

         Tre Việt - Không phải mọi tiếng cười đều vô hại. Có những tiếng cười giúp con người gần nhau hơn, xua tan áp lực và làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng cũng có những tiếng cười được tạo ra bằng sự giễu nhại lịch sử, xúc phạm những điều thiêng liêng và hạ thấp những giá trị đã được cả dân tộc gìn giữ bằng biết bao máu xương. Khi đó, tiếng cười không còn là biểu hiện của sự hài hước, mà trở thành dấu hiệu của sự lệch chuẩn trong nhận thức và văn hóa ứng xử, thậm chí bị các thế lực thù địch sử dụng làm công cụ để xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng.

Bị can Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra.
(Ảnh: Công an Hà Nội)

Việc Cơ quan An ninh điều tra khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam để điều tra về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” phần nào đã đáp ứng sự mong đợi của dư luận về việc xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng vượt lên trên câu chuyện trách nhiệm của một cá nhân, vụ việc còn gióng lên hồi chuông cảnh báo về một hiện tượng đã âm ỉ trong xã hội từ nhiều năm qua: khi sự cợt nhả, giễu nhại, phá bỏ chuẩn mực được một số người ngộ nhận là biểu hiện của cá tính, trí tuệ hay sáng tạo.

Thực tế cho thấy, đây không phải là hiện tượng mới. Gần hai thập niên trước, dư luận từng nhiều lần bày tỏ sự bức xúc khi một số ấn phẩm nội bộ của FPT, như: “Sách đỏ FPT”, “FPT ca”, “FPT - Sử ký 20 năm” được báo chí phản ánh có nội dung chế lời nhiều ca khúc cách mạng, nổi bật nhất là: bài “FPT ca”, chế từ ca khúc cách mạng “Đoàn Vệ quốc quân” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu; bài viết “Tuyên ngôn của những con dân FHO” của tác giả Vũ BM - Thịnh HD trong “FPT - Sử ký 20 năm” đã nhại Tuyên ngôn độc lập; xuyên tạc ca khúc “Hà Nội, niềm tin và hi vọng” của Nhạc sĩ Phan Nhân và một số tác phẩm, văn kiện có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử dân tộc. Khi đó, báo chí đã đặt câu hỏi về ranh giới giữa sáng tạo và sự phản cảm, giữa văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm đối với những giá trị chung của xã hội. Cố nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu từng đau xót đặt ra câu hỏi: “Liệu những thanh niên ấy có còn xứng đáng là thanh niên Việt Nam nữa không?”

Điều chúng ta lo ngại không phải ở một vài câu nói đùa, mà là những giá trị lịch sử, xã hội, biểu tượng của dân tộc bị kéo xuống thành “chất liệu” để mua vui, tiêu khiển. Đây là điều hết sức nguy hiểm, bởi vì đằng sau mỗi ca khúc cách mạng, mỗi văn kiện lịch sử, mỗi biểu tượng của đất nước là biết bao hy sinh, mất mát và khát vọng độc lập, tự do của nhiều thế hệ người Việt Nam. Đặc biệt, khi sự “giễu nhại”, “cợt nhả”, “xuyên tạc” này được in thành sách, lưu truyền trong Nhân dân, được nhiều người hưởng ứng và gọi đó là “văn hóa mới”, thì sự lệch chuẩn rất dễ được bình thường hóa và hình thành trong một bộ phận công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong chiến lược chống phá trên mặt trận tư tưởng của các thế lực thù địch, việc lợi dụng tiếng cười luôn là một phương thức tác động mềm nhưng rất nguy hiểm được họ sử dụng. Một thông tin sai trái nếu được tuyên truyền trực diện thường dễ bị cảnh giác và phản bác, nhưng nếu được bọc trong vỏ bọc của sự hài hước, châm biếm theo cái gọi là “diễn giải mới” thì nó lại dễ được chia sẻ, lan truyền và tiếp nhận hơn. Chính vì vậy, việc lợi dụng sự cợt nhả để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng hay làm méo mó hình tượng lãnh tụ không còn đơn thuần là câu chuyện ứng xử văn hóa, mà đã trở thành một phương thức dẫn dắt nhận thức xã hội theo hướng lệch lạc, thậm chí trở thành công cụ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Vụ việc của Nguyễn Thành Nam là minh chứng rõ nét cho điều đó. Theo kết quả điều tra ban đầu, cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” chứa nhiều nội dung xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của Đảng. Bản thân Nguyễn Thành Nam cũng đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là sai sự thật và công khai xin lỗi; đặc biệt, cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự đối với những sai phạm này. Điều đó cho thấy, không phải mọi thứ được nhân danh “hư cấu”, “sáng tạo” hay “góc nhìn mới” đều nằm ngoài giới hạn của pháp luật. Quyền tự do biểu đạt không đồng nghĩa với quyền xuyên tạc lịch sử, xúc phạm lãnh tụ hay phủ nhận những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, những nội dung gây sốc, cợt nhả hay xuyên tạc thường dễ thu hút sự chú ý hơn các giá trị tích cực. Nếu thế hệ trẻ không được trang bị nền tảng lịch sử, văn hóa và khả năng phân biệt đúng - sai, thì đó là điều rất nguy hiểm. Đảng ta nhiều lần khẳng định xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của sự phát triển đất nước. Điều đó không có nghĩa hạn chế tự do sáng tạo hay phủ nhận sự đổi mới. Ngược lại, mọi sự sáng tạo đều cần được khuyến khích, nhưng phải hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, bồi đắp lòng yêu nước, củng cố niềm tin xã hội và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chứ không thể lấy việc xuyên tạc lịch sử, xúc phạm những giá trị thiêng liêng hoặc phủ nhận thành quả cách mạng làm biểu hiện của tư duy đổi mới.

Việc xử lý Nguyễn Thành Nam và các đối tượng có liên quan thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng bài học rút ra không chỉ dành cho một cá nhân, mà cho tất cả những người sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận thông tin trong thời đại số: tự do biểu đạt luôn gắn với trách nhiệm; sáng tạo phải dựa trên nền tảng văn hóa và sự tôn trọng sự thật lịch sử. Mọi hành vi lợi dụng sáng tạo để xuyên tạc lịch sử, xúc phạm lãnh tụ, phủ nhận những giá trị cốt lõi của dân tộc, dù được ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào đều sẽ bị Nhân dân phát hiện, lên án và bị xử lý theo quy định của pháp luật./.


Jul 13, 2026

Cần lên án hành động sai trái của các tổ chức nhân quyền quốc tế

         Tre Việt - Ngày 12/7, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng bài: “18 tổ chức nhân quyền kêu gọi Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tù nhân lương tâm”. Theo đó, trong báo cáo chung của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) cùng 17 tổ chức vừa phát ra cảnh báo rằng: Bàn tay đàn áp của Hà Nội đã vươn sang tận Thái Lan, để nhắm vào các tù nhân chính trị. Đồng thời, kêu gọi Liên minh Châu Âu vào cuộc, dùng áp lực ngoại giao để buộc Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho 11 tù nhân chính trị đang bị giam giữ hà khắc, v.v. 
        Cần khẳng định rằng, đây là những thông tin sai sự thật, mang tính suy diễn, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam với dụng ý xấu, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:
        Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đề cao việc bảo đảm, thực thi quyền con người trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, được hiến định trong Hiến pháp và quy định rõ trong các văn bản pháp luật. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ các quyền cơ bản của công dân. Cụ thể: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đồng thời, quy định việc thực hiện các quyền này có thể bị hạn chế theo luật trong những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng. Quan điểm này hoàn toàn tương đồng với các điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là quốc gia thành viên. 
        Trên thực tế, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn cố gắng, nỗ lực bảo đảm thực thi các quyền này cho công dân; được thể hiện rõ trong thực hiện các quyền về dân chủ, đảm bảo đời sống, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, v.v. Ngoài ra, hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể,... rộng khắp trên cả nước từ Trung ương đến cơ sở, là cầu nối giữa Nhân dân với các tổ chức của Đảng, Nhà nước; nơi lắng nghe, tiếp thu, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. 
        Thứ hai, ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ các quyền của công dân. Việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ diễn ra với những công dân có hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự và trải qua quy trình điều tra, truy tố, xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, để pháp luật được thực thi nghiêm minh, triệt để, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các quốc gia, tổ chức quốc tế, trong đó có Thái Lan để đưa những công dân vi phạm pháp luật bỏ trốn ra nước ngoài về nước xét xử. Trên thực tế, những cái tên được bài viết nhắc đến như: Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Chí Tuyến, đều là những công dân có hành vi vi phạm pháp luật và đang phải thi hành bản án theo quy định của pháp luật. Và bản thân thân họ, đã nhận ra sai phạm, lỗi lầm của mình khi bị đưa ra xét xử.
        Thứ ba, việc làm này của 18 tổ chức quốc tế là cố tình vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Theo Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia có chủ quyền bình đẳng và có quyền tổ chức hệ thống pháp luật, tư pháp phù hợp với điều kiện của mình trên cơ sở thực hiện các nghĩa vụ quốc tế đã cam kết. Vì thế, mọi quốc gia, tổ chức quốc tế khi quan hệ với Việt Nam đều phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Do đó, việc 18 tổ chức quốc tế kêu gọi Liên minh Châu Âu vào cuộc, dùng áp lực ngoại giao để buộc Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho cái gọi là “tù nhân chính trị” là chưa tôn trọng tính độc lập của hệ thống tư pháp cũng như chủ quyền pháp lý của Việt Nam. 
        Đây không phải là lần đầu xuất hiện những kiến nghị như vậy. Những lời kêu gọi, lu loa tương tự đã được đưa ra nhiều lần trong khuôn khổ các cuộc đối thoại nhân quyền quốc tế cũng như các báo cáo thường niên của một số tổ chức phi chính phủ vốn có thâm thù với Đảng, Nhà nước, chế độ và Nhân dân Việt Nam. Đây là những hành động, việc làm với dụng ý xấu, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, cần bị nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ./.


Jul 9, 2026

Bóc trần luận điệu đòi giải tán Quân đội nhân dân Việt Nam

         Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh và chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội vẫn xuất hiện những luận điệu cho rằng các hội nghị quốc phòng chỉ là “màn kịch”, ngân sách quốc phòng bị lãng phí, thậm chí đòi “giải tán quân đội”. Những âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc ấy nếu không được nhận diện đầy đủ có thể làm suy giảm niềm tin của một bộ phận Nhân dân vào đường lối quốc phòng và ảnh hưởng đến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, cần khẳng định rằng chiến lược “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình, ngoại giao không phải là sự thỏa hiệp hay yếu hèn. Với một dân tộc từng trải qua nhiều cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, Việt Nam hiểu sâu sắc rằng xung đột vũ trang chưa bao giờ là lựa chọn tối ưu cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Sức mạnh quốc phòng hiện đại không chỉ nằm ở vũ khí, trang bị hay quân số, mà còn nằm ở khả năng dự báo chiến lược, ngăn ngừa nguy cơ từ sớm, xử lý mâu thuẫn từ xa, không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định nền quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ; Việt Nam kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đó là đường lối nhất quán, thể hiện bản lĩnh của một quốc gia có chủ quyền: không khiêu khích, không chạy đua vũ trang, nhưng cũng không buông lỏng khả năng tự vệ.

Từ góc độ đó, “ngoại giao cây tre” với tinh thần kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược chính là biểu hiện sinh động của nghệ thuật giữ nước trong thời bình. Một quốc gia biết tận dụng đối thoại, xây dựng lòng tin chiến lược, mở rộng quan hệ hợp tác và xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế không phải là quốc gia yếu thế, mà là quốc gia biết bảo vệ lợi ích của mình bằng phương thức ít tổn thất nhất. Trong hơn ba thập kỷ đổi mới, môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập, nâng cao vị thế quốc tế. Chính vì vậy, những quan điểm cố tình đánh đồng chủ trương hòa bình với sự nhu nhược thực chất là cách nhìn phiến diện, bỏ qua bản chất phòng ngừa chiến tranh của chính sách quốc phòng hiện đại.

Mặt khác, việc Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia giữ gìn ổn định đất nước hoàn toàn không phải để “duy trì quyền lực” cho bất kỳ cá nhân nào, mà xuất phát từ lợi ích tối cao của Nhân dân và quốc gia. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một đất nước muốn phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ hay nâng cao đời sống Nhân dân thì trước hết phải có hòa bình, an ninh và trật tự. Không thể có môi trường đầu tư ổn định nếu biên giới bất ổn; không thể có đời sống xã hội bình yên nếu vùng biển, vùng trời bị đe dọa; cũng không thể nói đến phát triển bền vững nếu nền quốc phòng bị xem nhẹ.

Trong thời bình, vai trò của Quân đội không chỉ thể hiện ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, quản lý biên giới, bảo vệ vùng biển, vùng trời, mà còn ở những nhiệm vụ gần gũi với đời sống Nhân dân như cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão lũ, hỗ trợ người dân trong dịch bệnh và làm điểm tựa cho ngư dân yên tâm bám biển, v.v. Hình ảnh người lính dầm mình trong lũ dữ, có mặt ở vùng sạt lở, tâm bão, tuyến đầu chống dịch hay trên các vùng biển xa không phải là khẩu hiệu, mà là minh chứng cụ thể cho mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và Nhân dân. Vì vậy, mọi mưu đồ tách rời quân đội khỏi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hoặc gắn mác “công cụ quyền lực” cho các hoạt động giữ gìn an ninh quốc gia, thực chất là luận điệu kích động nhằm chia rẽ quân với dân, làm suy yếu nền quốc phòng toàn dân.

Không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ trong nước, Việt Nam còn tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng và hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành cho thấy uy tín và sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 2014 và đã triển khai gần 1.400 lượt cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tới các phái bộ, đồng thời đăng ký thêm nhiều loại hình đơn vị mới trên hệ thống đánh giá năng lực sẵn sàng triển khai của Liên hợp quốc. Các đội hình như Bệnh viện dã chiến cấp 2, Đội Công binh cùng các sĩ quan làm nhiệm vụ tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và trụ sở Liên hợp quốc là minh chứng rõ ràng cho trách nhiệm quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một quân đội bị xuyên tạc là “không cần thiết” không thể đồng thời là lực lượng đang góp phần gìn giữ hòa bình ở những khu vực khó khăn, phức tạp trên thế giới.

Tương tự, luận điệu cho rằng ngân sách quốc phòng là lãng phí cũng cần được nhìn nhận một cách tỉnh táo. Quốc phòng và an ninh là lĩnh vực trọng yếu của mọi quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị hay trình độ phát triển. Trong điều kiện Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế mở, đường bờ biển dài, vị trí địa chiến lược quan trọng và chịu tác động trực tiếp từ các biến động khu vực, việc đầu tư nguồn lực phù hợp cho quốc phòng là yêu cầu tất yếu. Đầu tư quốc phòng không chỉ để mua sắm trang bị, mà còn để huấn luyện con người, hiện đại hóa lực lượng, nâng cao năng lực cảnh báo, bảo vệ chủ quyền, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo vệ không gian mạng và tham gia các nhiệm vụ quốc tế. Nói cách khác, chi cho quốc phòng là tất yếu và là một trong những điều kiện bảo đảm cho phát triển được ổn định và bền vững.

Đánh giá vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam và chính sách quốc phòng cần dựa trên chức năng, nhiệm vụ và những kết quả hoạt động thực tế, thay vì các nhận định cảm tính hoặc quy kết thiếu căn cứ.

 Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh là điều kiện để giữ vững hòa bình và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc về quân đội và chính sách quốc phòng không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Thượng tôn pháp luật

Vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” và Trần Việt Anh, người đã  xây dựng các nội dung của cuốn sách nêu trên, nhằm thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015.Ngay sau đó, không ít tổ chức, cá nhân phản động, cơ hội chính trị đã cho rằng: tác giả “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” đã sử dụng ngôn ngữ mới là nhằm tuyên truyền về các sự kiện lịch sử cách mạng Việt Nam, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,… và hành động bắt Nam “là hành vi không phù hợp, tạo ra một tiền lệ đáng lo ngại”; thậm chí cho rằng “Chế độ Việt Nam tăng cường bịt miệng, đàn áp dân chủ”(!)
        Cần phải nói ngay rằng, việc Cơ quan An ninh điều tra công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh là chính xác. Vì, hai cá nhân này đã vi phạm Điều 117, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nguyễn Thành Nam đã lợi dụng, núp bóng hoạt động văn học, nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời có nội dung xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nguyễn Thành Nam đã suy thoái về tư tưởng chính trị, có hành vi xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngay tại cơ quan công an, bản thân Nguyễn Thành Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” là sai sự thật, bày tỏ sự hối hận và xin lỗi bạn đọc. Còn Trần Việt Anh cũng thừa nhận là đã tham gia sản xuất, phát tán các video quảng bá cho cuốn sách trên các nền tảng số là nhằm làm kinh tế.
        Thực tế cho thấy, luật pháp là tổng thể các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Ở bất kỳ quốc gia nào, nhà nước đều ban hành những luật, bộ luật nhằm điều chính hành vi của công dân trong xã hội và được thực thi bởi nhà nước. Và ở quốc gia nào, luật pháp được tổ chức thực hiện nghiêm minh, người dân chấp hành nghiêm pháp luật, thì tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở quốc gia đó ổn định, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và ngược lại. Đó chính là “thượng tôn pháp luật”.
        Ở Việt Nam, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy xã hội phát triển, Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực thi minh bạch, hiệu quả các bộ luật, luật, trong đó có Bộ luật Hình sự, góp phần quan trọng để mọi tổ chức, cá nhân của Việt Nam hoặc hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thực hành phương châm “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.
        Như vậy, những tổ chức nào hoạt động theo đúng quy định của pháp luật sẽ được Nhà nước bảo hộ, tạo điều kiện thuận lợi, còn nếu tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị điều tra, xét xử và xử lý thích đáng theo quy định của pháp luật. Việc cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố vụ án, bắt giữ, điều tra hành vị vi phạm pháp luật của Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Nam Anh là đúng đắn, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của dân tộc Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Và tới đây, Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh sẽ được tòa án xét xử và bị xử lý một cách minh bạch theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đây là hành động thượng tôn pháp luật./.
 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Jul 6, 2026

Không thể phủ nhận sự đúng đắn của việc mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài

         Tre Việt - Ngày 03/7, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Chính quyền cứ hô hào “hóa hổ, hóa rồng”...”; trong đó, cho rằng: Sau hơn 20 năm “mở cửa” thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam đã trở thành một “công xưởng” gia công hùng hậu; thực chất FDI vào Việt Nam chủ yếu là lắp ráp, chuyển giao công nghệ gần như bằng không; người dân Việt Nam chỉ mãi là làm thuê giá rẻ mà thôi, v.v. Đây là những nhận định phiến diện, suy diễn, không phản ánh đúng thực tế sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bởi vì:
        Thứ nhất, Đảng, Nhà nước đã đề ra chủ trương đúng đắn khi mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực FDI đã trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, cơ khí, ô tô, thiết bị công nghiệp, v.v. Những năm gần đây, Việt Nam thu hút nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực điện tử, thiết kế chip, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ số và bán dẫn. Một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn, như: thiết kế sản phẩm, phát triển phần mềm, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất linh kiện. Quá trình chuyển dịch này diễn ra từng bước, bắt đầu từ gia công, sau đó dần nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo.
        Thứ hai, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế đang từng bước tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Những năm qua, đã có hàng chục nghìn kỹ sư, quản lý và công nhân kỹ thuật Việt Nam được đào tạo trong các doanh nghiệp FDI đã trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế; sau đó chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp trong nước hoặc tự khởi nghiệp, góp phần lan tỏa kinh nghiệm và tri thức. 
        Cùng với đó, Chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn vào giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng mới nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Nhờ đó, tiền lương bình quân của người lao động Việt Nam đã tăng cùng với sự phát triển kinh tế và năng suất lao động. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngày càng tăng. 
        Thứ ba, Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài. Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, xác định: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Đồng thời, ưu tiên lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao; khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam.
        Chính vì vậy, việc mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, không thể phủ nhận. Việc làm này không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm, có chất lượng cao trong kỷ nguyên mới./.

Jul 2, 2026

Việc làm cần thiết góp phần xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh

         Tre Việt - Ngày 01/7/2026, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, ngày 25/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành. Đây là bước tiến quan trọng, rất cần cần thiết nhằm làm sạch không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường thông tin số lãnh mạnh, bảo vệ an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. 
        Tuy nhiên, ngay lập tức, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã đẩy mạnh chiến dịch xuyên tạc, chống phá nội dung của Nghị định này. Điển hình là, trên trang facebook Việt Tân, đăng bài: “Chế độ gia tăng kiểm soát mạng xã hội với Nghị định 174”, họ rêu rao: “Nghị định 174/2026/NĐ-CP làm dấy lên lo ngại về tác động đối với quyền bày tỏ ý kiến của người dân”.
        Trước hết, cần khẳng định: Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, ngày 25/5/2026 của Chính phủ, gồm: 08 chương, 117 điều đã kế thừa, bổ sung và thay thế nhiều quy định của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 14/2022/NĐ-CP, ngày 27/01/2022 của Chính phủ và Nghị định số 211/2025/NĐ-CP, ngày 25/7/2025 của Chính phủ), với mức xử phạt cao hơn, biện pháp xử lý mạnh mẽ và đồng bộ hơn. Nội dung cốt lõi tập trung vào việc xử lý các hành vi vi phạm, như: đưa tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín tổ chức, cá nhân; vi phạm bản quyền; chia sẻ thông tin cấm lưu hành; lạm dụng thông tin cá nhân và các hành vi gây hại khác trên môi trường mạng. Mức phạt tiền có thể lên đến hàng chục triệu đồng đối với cá nhân và cao hơn đối với tổ chức, kèm theo các biện pháp bổ sung như buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm, khóa tài khoản, fanpage, nhóm, kênh truyền thông, thu hồi tên miền, số thuê bao, địa chỉ IP, v.v. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường mạng an toàn, lành mạnh hơn, giảm thiểu tin giả gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn và sự ổn định xã hội. Nghị định còn là sự cụ thể hóa Hiến pháp 2013, phù hợp với xu hướng quản lý không gian mạng của nhiều quốc gia trên thế giới.
        Sử dụng mạng xã hội là quyền của mỗi công dân nhưng phải đi kèm với trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Theo tinh thần Nghị định 174, mỗi người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản, là: 1).Kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải hoặc chia sẻ, tin tức cần có nguồn chính thống, tránh chia sẻ các bài viết giật tít, tin đồn thất thiệt, đặc biệt từ tài khoản ẩn danh hoặc trang web nước ngoài có động cơ xấu. 2). Việc bình luận, phê phán cần có cơ sở, mang tính xây dựng, không thêm thắt, bóp méo sự thật gây hiểu lầm. 3). Cần nắm rõ luật bản quyền khi sử dụng các sản phẩm báo chí, văn hóa, văn học - nghệ thuật.  4). Tuyệt đối không tham gia, ủng hộ hoặc lan truyền nội dung vi phạm an ninh quốc gia, chia rẽ dân tộc, xúc phạm lãnh tụ, cơ quan nhà nước.
        Điều này đòi hỏi người dân phải nâng cao nhận thức trong việc “đăng nội dung gì, chia sẻ nội dung gì trên mạng xã hội cũng phải nghĩ đến lợi ích dân tộc và hậu quả pháp lý có thể xảy ra”. Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp cá nhân tránh bị xử phạt mà còn góp phần xây dựng một không gian mạng văn minh, an toàn cho cộng đồng. Một môi trường mạng an toàn, lành mạnh là điều mà người dân mong muốn, ủng hộ.
        Nghị định số 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, được ví như lá chắn pháp lý cần thiết để bảo vệ không gian mạng Việt Nam trước những âm mưu chống phá tinh vi của các đối tượng phản động, thù địch. Các luận điệu xuyên tạc rằng “Nghị định 174/2026/NĐ-CP làm dấy lên lo ngại về tác động đối với quyền bày tỏ ý kiến của người dân” càng cho thấy bộ mặt thật của Việt Tân “có tật giật mình”, khi không gian mạng - công cụ quen thuộc để tung tin độc, kích động chia rẽ, bôi nhọ Đảng, Nhà nước bị siết chặt bởi pháp luật. Việc mỗi công dân Việt Nam thực hiện nghiêm Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, sáng suốt, tỉnh táo trong sử dụng mạng xã hội sẽ góp phần ngăn chặn tin giả, tin sai sự thật lan tràn trên mạng xã hội, góp phần lập lại trật tự trong môi trường nội dung số, tạo nên môi trường mạng trong sạch, an toàn; đồng thời, xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh./.