May 25, 2026

Đại lễ Phật đản: Minh chứng sinh động cho chính sách tự do tín ngưỡng của Việt Nam

          Đại lễ Phật đản không chỉ là sự kiện văn hóa - tôn giáo lớn của tăng ni, Phật tử mà còn là dịp lan tỏa thông điệp nhân văn, hòa hợp và tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Lễ thả hoa đăng cầu nguyện hòa bình được tổ chức tối ngày 6/5/2025,
trong khuôn khổ Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc – Vesak 2025,
 thu hút khoảng 12.000 người tham dự.

Giữa không khí trang nghiêm của mùa Phật đản, từ những ngôi chùa cổ kính nơi đô thị đến các tự viện vùng sâu, vùng xa, hàng triệu tăng ni, phật tử và người dân cùng hướng về những giá trị từ bi, hòa hợp, nhân văn của đạo Phật.

Đại lễ Phật đản không chỉ là một lễ hội tôn giáo lớn ở Việt Nam mà còn trở thành biểu tượng sinh động của đời sống tín ngưỡng phong phú và chính sách nhất quán về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Nhưng cũng từ sự kiện mang đậm tinh thần hòa bình ấy, các thế lực thù địch lại cố tình bóp méo, xuyên tạc Việt Nam “thiên vị Phật giáo”, “hà khắc” với tôn giáo khác, từ đó kích động chia rẽ giữa các tôn giáo, phủ nhận thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Những luận điệu ấy không chỉ sai lệch bản chất, mà còn đi ngược các quy định hiến định về bình đảng tôn giáo và thực tiễn sinh động đang hiện hữu trong đời sống xã hội.

Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật


Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, cả nước có hơn 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước đã công nhận 40 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo…), với khoảng 28 triệu tín đồ (tính đến tháng 6/2024).

Các tôn giáo cùng tồn tại, phát triển trong tinh thần đồng hành cùng dân tộc, gắn bó với cộng đồng và đóng góp cho xã hội. Mỗi năm, hàng nghìn lễ hội và sinh hoạt tôn giáo được tổ chức công khai, thu hút đông đảo tín đồ tham gia.

Trong bức tranh ấy, Phật giáo với lịch sử lâu đời đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa truyền thống của dân tộc. Chính vì vậy, Đại lễ Phật đản thường thu hút sự quan tâm lớn của xã hội và được tổ chức quy mô ở nhiều địa phương.

Năm 2026, theo Thông bạch của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 được tổ chức trên phạm vi cả nước, từ ngày 17/5 đến 31/5 (tức ngày 01/4 - 15/4 âm lịch).

Để tạo điều kiện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp tổ chức tốt Đại lễ Phật đản, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã có Công văn 1121/BDTTG-TGCP ngày 30/4/2026 đề nghị các địa phương phối hợp giúp đỡ; quan tâm thăm hỏi, động viên, chúc mừng các tổ chức, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ Phật giáo tiêu biểu ở địa phương có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Việc tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng pháp luật là trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền, không phải sự “ưu ái” dành cho riêng bất cứ tôn giáo nào như luận điệu xuyên tạc cố tình quy chụp. Bằng cách bôi đen, xuyên tạc, tạo sự đối lập các tôn giáo, các thế lực thù địch đã cố tình phủ định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (được sửa đổi, bổ sung năm 2026), đã cụ thể hóa quyền này bằng những quy định bảo đảm hoạt động tôn giáo diễn ra công khai, minh bạch, đúng pháp luật.

Thực tiễn đời sống tôn giáo bác bỏ mọi xuyên tạc

Nếu chỉ nhìn vào những luận điệu được tung ra trên mạng xã hội hay các trang thông tin chống phá, người ta có thể bị dẫn dắt tới nhận thức sai lầm rằng chỉ riêng Phật giáo được tạo điều kiện hoạt động. Nhưng thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam lại cho thấy điều hoàn toàn ngược lại.

Những năm qua, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công ở Việt Nam và được dư luận quốc tế đánh giá cao như: Hội nghị Liên hội đồng Giám mục Á châu (2012); Tổng hội Dòng Đa minh thế giới (2019), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak…

Hằng năm, những ngày lễ trọng của các tôn giáo như: Lễ Phật đản, lễ Vu lan của Phật giáo; Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành; Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung của đạo Cao Đài; Lễ hội Katê của đồng bào Chăm hay tháng Ramadan của cộng đồng Hồi giáo,… được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều ngày lễ trọng đại của tôn giáo đã trở thành ngày lễ chung của cộng đồng.

Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo được đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, sửa chữa cơ sở tôn giáo, tổ chức hoạt động từ thiện, giao lưu quốc tế.

Nhiều chức sắc tôn giáo còn tham gia cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Thực tiễn ấy là minh chứng rõ ràng bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam “phân biệt tôn giáo” hay “ưu ái riêng Phật giáo”.

Lan tỏa tinh thần hòa hợp, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam luôn có truyền thống gắn bó với đất nước, đồng hành cùng nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ hoạt động an sinh xã hội, chăm lo người nghèo, cứu trợ thiên tai đến giáo dục đạo đức, bảo tồn văn hóa,… các tổ chức tôn giáo đang góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của xã hội.

Trong xu thế đó, Đại lễ Phật đản không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo đơn thuần, mà còn lan tỏa thông điệp về lòng khoan dung, tinh thần hòa hợp và trách nhiệm với cộng đồng. Trong một xã hội đa tín ngưỡng, đa văn hóa như Việt Nam, đó cũng chính là nền tảng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đặc biệt, việc Việt Nam 4 lần đăng cai thành công Đại lễ Vesak Liên hợp quốc cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với môi trường tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.

Nếu không có sự bảo đảm thực chất về quyền tự do tôn giáo, khó có thể tổ chức những sự kiện tôn giáo quốc tế quy mô lớn với sự tham gia của hàng nghìn đại biểu đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trong lần gần đây nhất, Đại lễ Vesak Liên hợp quốc năm 2025 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh đón nhận hơn 1.000 bài tham luận đến từ các đại biểu trong và ngoài nước. Xuyên suốt các tham luận là hai yếu tố cốt lõi: Triết lý đoàn kết và bao dung, thể hiện tinh thần từ bi, trí tuệ và hướng đến hạnh phúc an lạc chung của cộng đồng, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc.

Đại lễ Phật đản và thông điệp đoàn kết giữa các tôn giáo

Đoàn kết và bao dung không chỉ là học thuyết đạo đức Phật giáo mà là kim chỉ nam cho những suy nghĩ, lời nói và hành động của con người để xây dựng xã hội an hòa, ít xung đột, tràn ngập thương yêu.

Tại lễ khai mạc Đại lễ Vesak (ngày 06/5/2025), Tổng thống Sri Lanka - ông Anura Kumara Dissanayaka, đã nhấn mạnh rằng, cách đây nhiều thiên niên kỷ, Đức Phật đã chủ trương phá bỏ những tư tưởng lạc hậu để kiến tạo một thế giới công bằng và không còn kỳ thị.

“Bình đẳng chiếm một vị trí trọng yếu trong những lời dạy căn bản của Đức Phật. Trên tinh thần đó, Việt Nam có thể được xem là minh chứng sống động cho một quốc gia vươn lên bằng tư tưởng bình đẳng”, ông Dissanayaka khẳng định.

Nhận xét ấy không chỉ là đánh giá dành cho thành công của một kỳ Vesak, mà còn phản ánh sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với môi trường sinh hoạt tôn giáo cởi mở, ổn định và bình đẳng ở Việt Nam.

Từ những đại lễ tôn giáo diễn ra trang nghiêm trên khắp cả nước đến sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế qua các kỳ Vesak Liên hợp quốc, tất cả đều là minh chứng sinh động cho chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.

Đại lễ Phật đản không chỉ là ngày lễ thiêng liêng của tăng ni, Phật tử mà còn lan tỏa thông điệp về đoàn kết, khoan dung và chung sống hòa hợp giữa các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch vẫn tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chia rẽ, mỗi người dân càng cần tỉnh táo nhận diện bản chất sai trái của những luận điệu xuyên tạc, đồng thời tiếp tục vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng vững chắc để đất nước phát triển bền vững, nhân văn và nghĩa tình./.

(Trích nguồn: nhanquyenvm.org)

“Việt Nam tụt hậu vì chủ nghĩa xã hội” - luận điệu phi lịch sử và phản khoa học

          Những năm gần đây, cùng với các chiêu bài xuyên tạc về “dân chủ”, “nhân quyền”, các tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị và nhiều tài khoản cực đoan trên không gian mạng liên tục tung ra luận điệu: “Việt Nam tụt hậu vì đi theo chủ nghĩa xã hội”, “muốn phát triển phải từ bỏ chủ nghĩa xã hội”, hay “mọi khó khăn của Việt Nam đều bắt nguồn từ mô hình xã hội chủ nghĩa”.

Thoạt nhìn, những phát ngôn này được ngụy trang dưới vỏ bọc “phân tích chính trị - kinh tế”, nhưng thực chất là kiểu lập luận phi lịch sử, phản khoa học và mang động cơ chính trị rõ rệt. Các đối tượng cố tình tách Việt Nam khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể, phủ nhận những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới, đồng thời đánh đồng những khó khăn khách quan của một quốc gia từng trải qua chiến tranh kéo dài với cái gọi là “thất bại của chủ nghĩa xã hội”.

Đây không phải thủ đoạn mới, nhưng đang được “làm mới” bằng các video ngắn, meme chính trị, nội dung “phân tích kiểu TikTok” nhằm tác động vào tâm lý, nhận thức, đặc biệt là giới trẻ.

Cố tình phủ nhận bối cảnh lịch sử và thành tựu đổi mới

Một trong những thủ đoạn xuyên tạc phổ biến hiện nay là lấy hình ảnh Việt Nam thời kỳ bao cấp khó khăn để quy kết đó là “bản chất tất yếu của chủ nghĩa xã hội”. Từ đó, các đối tượng so sánh phiến diện với một số quốc gia tư bản phát triển nhằm dẫn dắt dư luận đi đến kết luận rằng: “muốn giàu mạnh phải từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”.

Đó là kiểu lập luận cố tình bỏ qua sự thật lịch sử. Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh vừa trải qua nhiều thập niên chiến tranh tàn khốc; cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề; nền kinh tế có xuất phát điểm rất thấp; lại phải chịu bao vây, cấm vận kéo dài. Trong điều kiện ấy, những khó khăn của giai đoạn đầu phát triển là điều khó tránh khỏi.

Điều mà các luận điệu xuyên tạc cố tình lờ đi là: chính công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước vươn lên mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Từ một quốc gia nghèo nàn, thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, nằm trong nhóm nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thành tựu giảm nghèo, mở rộng an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân là thực tế không thể phủ nhận.

Nhìn từ thực tiễn khách quan, không thể quy kết rằng Việt Nam “tụt hậu vì chủ nghĩa xã hội”. Ngược lại, thực tiễn cho thấy chính con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, duy trì tăng trưởng kinh tế và từng bước bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội trong nhiều năm qua.

Xuyên tạc kinh tế thị trường để phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa

Một thủ đoạn khác thường được sử dụng là cố tình đồng nhất “kinh tế thị trường” với “từ bỏ chủ nghĩa xã hội”. Theo cách lập luận này, hễ Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tư nhân hay thu hút đầu tư nước ngoài thì lập tức bị quy chụp là “đang đi theo tư bản”, “xã hội chủ nghĩa chỉ còn là khẩu hiệu”. Đây là cách hiểu giản đơn, phiến diện và thiếu cơ sở lý luận, thực tiễn.

Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại, không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận qua 40 năm đổi mới, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện đất nước. Bản chất của mô hình này là phát triển kinh tế thị trường nhưng hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển con người, bảo đảm công bằng xã hội và giữ vững ổn định quốc gia. Việt Nam thừa nhận vai trò của thị trường, nhưng không tuyệt đối hóa thị trường; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội và lợi ích của đa số nhân dân. Tính ưu việt đó được thể hiện qua hàng loạt chính sách như giảm nghèo bền vững, bảo hiểm y tế toàn dân, giáo dục phổ cập, phát triển hạ tầng vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ các nhóm yếu thế, v.v. Đại dịch Covid-19 là minh chứng rõ nét. Trong khi nhiều quốc gia phát triển rơi vào khủng hoảng y tế và bất ổn xã hội nghiêm trọng, Việt Nam dù nguồn lực còn hạn chế vẫn triển khai nhiều chính sách hỗ trợ người dân, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì ổn định đời sống. Điều đó cho thấy bản chất nhân văn của mô hình phát triển mà Việt Nam kiên định theo đuổi.

Thủ pháp “lấy hiện tượng thay cho bản chất” và chiến tranh nhận thức trên không gian mạng

Các thế lực chống phá hiện nay còn thường xuyên sử dụng thủ pháp “lấy hiện tượng thay cho bản chất”. Mỗi khi xảy ra vụ việc tham nhũng, trì trệ hành chính hoặc khó khăn kinh tế, họ lập tức quy kết rằng: “Đó là hậu quả của chủ nghĩa xã hội”, “thể chế xã hội chủ nghĩa không thể phát triển”, hay “muốn chống tham nhũng phải đa đảng”.

Thực tế cho thấy tham nhũng, tiêu cực không phải vấn đề riêng của bất kỳ mô hình chính trị nào. Ngay tại nhiều quốc gia tư bản phát triển cũng liên tiếp xảy ra các vụ bê bối tài chính, thao túng quyền lực và tham nhũng chính trị. Từ các vụ vận động hành lang tại Mỹ đến những cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn cầu đều cho thấy mô hình tư bản không phải “thiên đường hoàn hảo” như các luận điệu cực đoan cố tình tô vẽ. Nhiều báo cáo quốc tế cũng chỉ ra rằng bất bình đẳng giàu nghèo tại không ít nước tư bản đang gia tăng nghiêm trọng; khoảng cách tài sản giữa tầng lớp siêu giàu và người lao động ngày càng lớn. Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế đi đôi với giảm nghèo, mở rộng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Tương tự, mỗi khi thị trường bất động sản gặp khó khăn, xuất khẩu suy giảm hay doanh nghiệp chịu áp lực, lập tức xuất hiện các video “phân tích” trên TikTok, YouTube quy kết rằng “kinh tế xã hội chủ nghĩa đã thất bại”. Tuy nhiên, các đối tượng này lại cố tình bỏ qua bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, khi ngay cả những nền kinh tế lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản hay Hàn Quốc cũng chịu tác động nặng nề của lạm phát, suy thoái và bất ổn địa chính trị. Đó thực chất là thủ đoạn đánh tráo nguyên nhân nhằm dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực.

Đáng chú ý, các luận điệu độc hại hiện nay được “đóng gói” tinh vi dưới dạng video ngắn, meme chính trị giật gân với những tiêu đề như: “Sự thật về chủ nghĩa xã hội”, “Vì sao Việt Nam không thể giàu?”, “Muốn phát triển phải bỏ CNXH”… nhằm đánh vào tâm lý hiếu kỳ của giới trẻ - những người chưa có nhiều trải nghiệm lịch sử và bản lĩnh nhận diện thông tin sai lệch. Nhiều nội dung sử dụng hình ảnh cắt ghép, số liệu thiếu kiểm chứng hoặc so sánh phiến diện để dẫn dắt người xem tới những kết luận sai lệch. Đây không còn đơn thuần là những tranh luận học thuật, mà là một dạng chiến tranh nhận thức trên không gian mạng, với mục tiêu làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với con đường phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn.

Cần khẳng định rõ rằng, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải mô hình giáo điều hay sao chép máy móc. Đó là quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và thực tiễn đất nước. Quan điểm phát triển nhanh, bền vững đi đôi với bảo đảm tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát huy giá trị con người tiếp tục được khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng.

Một quốc gia phát triển bền vững không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, mà còn ở mức độ ổn định xã hội, chất lượng an sinh, sự đồng thuận cộng đồng và khả năng bảo đảm cuộc sống cho người dân. Vì vậy, luận điệu “Việt Nam tụt hậu vì chủ nghĩa xã hội” suy cho cùng chỉ là tiếng nói lạc lõng, đi ngược thực tiễn phát triển của đất nước, không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong suốt nhiều thập niên qua./.

                                       
     (Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

May 21, 2026

Không thể xuyên tạc, phủ nhận “lý luận về đường lối đổi mới” ở Việt Nam

         Tre Việt - Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đã xác định: “lý luận về đường lối đổi mới” là bộ phận hợp thành nền tảng tư tưởng của Đảng. Đây là dấu mốc khẳng định sự phát triển tư duy lý luận sáng tạo của Đảng. Tuy nhiên, lợi dụng vấn đề này, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động đã triệt để lợi dụng mạng xã hội để đăng tải, chia sẻ thông tin công kích, xuyên tạc, chống phá. Họ cố tình đánh đồng sự phát triển, bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” của Đảng là “sự thay đổi tùy tiện”, “tiền hậu bất nhất”; từ đó, kích động tâm lý hoài nghi, nhận thức lệch lạc trong xã hội, cần bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ.

        Trước hết, cần khẳng định rằng: “lý luận về đường lối đổi mới” là sự kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện cụ thể của Việt Nam; là đột phá lý luận có tính lịch sử, kết tinh trí tuệ và bản lĩnh của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta. Tính “đột phá lịch sử” của lý luận này đã tháo gỡ những ràng buộc, rào cản của tư duy cũ, mở ra không gian phát triển mới cho đất nước. Chúng ta đều biết, trước đổi mới, mô hình kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp đã bộc lộ nhiều hạn chế, kìm hãm lực lượng sản xuất. Việc chuyển sang phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là bước ngoặt mang tính cách mạng về nhận thức. Đây không phải là sự “xa rời” chủ nghĩa xã hội, mà là sự nhận thức đúng đắn hơn về quy luật phát triển, phù hợp với điều kiện cụ thể của một quốc gia đi lên từ nền sản xuất nhỏ, bị tàn phá nặng nề bởi chiến tranh. 

        Thực tế cho thấy, “lý luận về đường lối đổi mới” không ngừng được bổ sung, phát triển, hoàn thiện trong suốt thời kỳ đổi mới đất nước. Đây là sự tuân thủ quy luật khách quan, bởi theo quan điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, lý luận không phải là hệ thống giáo điều bất biến, mà là “kết tinh của kinh nghiệm lịch sử”, được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển thông qua thực tiễn. Việc “lý luận về đường lối đổi mới” của Đảng ta không ngừng được bổ sung, hoàn thiện chính là biểu hiện sinh động của quy luật thống nhất giữa lý luận và thực tiễn - quy luật mang tính phổ quát của nhận thức khoa học. 

        Trên phương diện bản chất cách mạng, khoa học, việc không ngừng bổ sung, phát triển lý luận chính là tiêu chí phản ánh năng lực cầm quyền và trình độ trí tuệ của Đảng ta. Một đảng cách mạng chân chính không thể tự “trói mình” trong những khuôn mẫu cứng nhắc mà phải luôn tự đổi mới, tự chỉnh đốn, nâng cao năng lực lý luận để đáp ứng yêu cầu lãnh đạo, cầm quyền. Do đó, sự phát triển của “lý luận về đường lối đổi mới” không chỉ là tất yếu khách quan, mà còn là biểu hiện của bản lĩnh chính trị, tư duy độc lập, sáng tạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

        Thực tiễn 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước là minh chứng sinh động, thuyết phục nhất để bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc “lý luận về đường lối đổi mới”. Từ một nước có xuất phát điểm thấp, chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, bao vây, cấm vận, Việt Nam đã từng bước vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định, đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện. Nhiều tổ chức quốc tế đã nhìn nhận, đánh giá Việt Nam như một “câu chuyện thành công” về đổi mới, phát triển và hội nhập. Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định: “Việt Nam đã chuyển đổi từ một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới trở thành quốc gia thu nhập trung bình”; “hiện là một trong những nền kinh tế năng động nhất trong khu vực Đông Á”. Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IFM) đánh giá: “Tăng trưởng bình quân đầu người của Việt Nam thuộc nhóm cao nhất thế giới” nhờ “kinh tế duy trì đà tăng trưởng ổn định” cùng khả năng điều hành kinh tế vĩ mô linh hoạt, hiệu quả. Liên hợp quốc ghi nhận: “Việt Nam đã đạt được tiến bộ đáng kể trong thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững (SDGs)”, tỷ lệ nghèo đa chiều giảm mạnh, hệ thống y tế, giáo dục, hạ tầng được cải thiện rõ rệt,... thuộc nhóm “các quốc gia có mức phát triển con người cao”, v.v. 

        Vì thế, luận điệu xuyên tạc cho rằng sự phát triển, bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” của Đảng là “tiền hậu bất nhất” thực chất phản ánh nhận thức phiến diện, thiếu khách quan về tình hình thực tiễn, bức tranh phát triển của Việt Nam với mưu đồ xấu cần bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ./.


Có phải chỉ có đối lập chính trị mới kiểm soát được quyền lực?

         Mới đây, trang Xin Bánh Mì có bài viết phê phán chế độ xã hội ta. Tác giả sử dụng nhiều từ ngữ cảm xúc đòi thực hiện chế độ đa nguyên. Theo họ, có đối lập mới giám sát lẫn nhau, tránh nảy sinh tiêu cực. Đồng thời, cho rằng thực hiện chế độ nhất nguyên, thì quyền con người không được bảo đảm. Đó cũng là hai vấn đề mà bài viết này sẽ tập trung làm rõ.

Tác giả đòi đa nguyên, đối lập như điều kiện duy nhất để kiểm soát quyền lực là sự đánh tráo khái niệm. Bài viết đã ngầm đồng nhất “kiểm soát quyền lực” với “đa đảng đối lập”, từ đó suy ra rằng chỉ cần không có đối lập thì tất yếu dẫn đến lạm quyền. Đây là cách lập luận thiếu cơ sở. Kiểm soát quyền lực là mục tiêu mà bất kỳ nhà nước nào cũng hướng tới, nhưng cách thức thực hiện lại rất đa dạng. Không có một mô hình duy nhất áp dụng cho mọi quốc gia. Việc lấy mô hình đa đảng làm “chuẩn” rồi quy chiếu ngược lại để phủ định các mô hình khác là cách nhìn đơn giản, thiếu tính so sánh thực tiễn.

Thực tế, ngay trong các quốc gia đa đảng, cơ chế đối lập không phải lúc nào cũng vận hành hiệu quả như lý thuyết. Không hiếm trường hợp các đảng phái đối đầu, làm tê liệt quá trình ra quyết định hoặc khiến chính sách bị chi phối bởi lợi ích nhóm. Chính phủ Mỹ đã nhiều lần bị đóng cửa do xung đột giữa các đảng phái. Điều đó cho thấy cơ chế đối lập không phải lúc nào cũng giúp hệ thống vận hành trơn tru, thậm chí có lúc còn làm gián đoạn hoạt động của nhà nước. Điều đó cho thấy bản thân đa đảng không phải là “bảo chứng” cho minh bạch hay hiệu quả. Vì vậy, việc tuyệt đối hóa mô hình này là thiếu thuyết phục.

Ngược lại, nhận định rằng ở Việt Nam “một đảng là một mình một ngựa, không chịu sự giám sát của ai” là sự xuyên tạc. Quyền lực nhà nước không vận hành theo kiểu khép kín, mà có sự phân công và kiểm soát giữa các cơ quan. Quốc hội thực hiện giám sát tối cao, các cơ quan thanh tra, kiểm toán hoạt động thường xuyên, báo chí và dư luận xã hội ngày càng đóng vai trò phản ánh và giám sát. Đặc biệt, cơ chế kiểm tra, kỷ luật trong nội bộ được thực hiện nghiêm minh.

Minh chứng rõ nhất là công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian qua. Nhiều vụ việc lớn đã được đưa ra ánh sáng, nhiều cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao, bị xử lý. Nếu thực sự “không ai giám sát ai”, thì những sai phạm đó đã không thể bị phát hiện và xử lý. Thực tế này cho thấy cơ chế kiểm soát quyền lực không phải là hình thức, mà có hiệu lực cụ thể.

Từ đó có thể thấy, vấn đề không nằm ở “một đảng hay nhiều đảng”, mà ở việc cơ chế kiểm soát có thực chất hay không. Đánh giá một mô hình chính trị cần dựa trên kết quả vận hành, chứ không thể dựa trên định kiến hay khuôn mẫu áp đặt.

Tác giả cũng cho rằng chế độ nhất nguyên khiến “quyền con người không được bảo hộ” là sự cường điệu hóa cực đoan. Cách diễn đạt kiểu “không được bảo hộ” mang tính phủ định sạch trơn, dễ gây ấn tượng nhưng lại không đứng vững trước thực tế. Nếu quyền con người thực sự không được bảo hộ, thì đời sống xã hội không thể vận hành bình thường như hiện nay. Người dân vẫn học tập, làm việc, kinh doanh, sáng tạo và tham gia các hoạt động xã hội. Nếu quyền con người không được bảo hộ, thì vì sao xã hội vẫn vận hành bình thường, người dân vẫn học tập, làm việc, kinh doanh và sáng tạo?

Nguyên nhân của sự sai lệch này nằm ở cách hiểu phiến diện về quyền con người. Bài viết dường như chỉ nhìn quyền con người dưới góc độ chính trị hẹp, mà bỏ qua các quyền cơ bản khác. Trong khi đó, quyền con người bao gồm nhiều phương diện thiết thực như quyền được sống an toàn, quyền học tập, quyền làm việc, quyền phát triển kinh tế và tiếp cận các dịch vụ xã hội. Những quyền này gắn trực tiếp với đời sống của đại đa số người dân và đang được bảo đảm trên thực tế.

Bên cạnh đó, lập luận cho rằng chế độ hiện nay “không tạo động lực cống hiến” cũng không phù hợp với thực tiễn. Một xã hội thiếu động lực sẽ không thể có sự phát triển năng động như những gì đang diễn ra. Sự lớn mạnh của khu vực kinh tế tư nhân, sự gia tăng của các doanh nghiệp khởi nghiệp và những đóng góp của đội ngũ trí thức, người lao động là minh chứng rõ ràng. Động lực không chỉ đến từ cạnh tranh chính trị, mà còn đến từ cơ hội phát triển, môi trường ổn định và niềm tin vào tương lai. Thực tế đó cho thấy, nói rằng xã hội “không có động lực cống hiến” là nhận định xa rời đời sống.

Cuối cùng, việc quy kết rằng pháp luật không nghiêm minh, tư pháp không độc lập cũng là nhận định thiếu căn cứ. Hệ thống pháp luật đang từng bước hoàn thiện, nhiều vụ án lớn được xét xử công khai. Dù vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục khắc phục, nhưng không thể vì thế mà phủ nhận toàn bộ. Cách nhìn “phủ định sạch trơn” không giúp làm rõ vấn đề, mà chỉ làm méo mó thực tế.

Nhìn chung bài viết của trang Xin Bánh Mì đã dùng cảm xúc thay cho căn cứ lý luận và thực tiễn. Ông cha ta nói “giận quá mất khôn”, nhưng trong tranh luận khoa học, vấn đề không phải là cảm xúc mạnh hay yếu, mà là lập luận có căn cứ hay không. Khi lý trí bị thay bằng cảm tính, thì kết luận khó có thể thuyết phục./.

(https://ivanlevanlan.wordpress.com)

May 19, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về thân thế, di sản và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh

          Tre Việt – Ngày 19/5, trên trang facebook cá nhân, Nguyễn Văn Đài đăng bài “Hồ Chí Minh và di sản độc tài: Biến Nhân dân thành nô lệ gần một thế kỷ”. Trong bài viết, Nguyễn Văn Đài đã quy chụp trắng trợn rằng: “di sản chính trị mà Hồ Chí Minh để lại không phải là tự do, mà là một hệ thống độc tài toàn trị đã biến hàng chục triệu người Việt thành những “nô lệ hiện đại” dưới ách cai trị của một đảng duy nhất, kéo dài gần một thế kỷ”.

Đây là luận điệu Nguyễn Văn Đài xuyên tạc một cách trắng trợn về thân thế, di sản và sự nghiệp cách mạng vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Mục đích của Y khi công kích xuyên tạc, bóp méo về thân thế, di sản và sự nghiệp cách mạng của Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhằm bôi nhọ hình ảnh của Người trong đời sống chính trị tư tưởng của Nhân dân Việt Nam; phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, phủ nhận, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với cách mạng Việt Nam. Kích động, làm suy giảm lòng tin vào cá nhân lãnh tụ, vào chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành quả to lớn, có ý nghĩa lịch sử mà chúng ta đã đạt được trong gần 1 thế kỷ qua, nhất là trong gần 40 năm đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo. Sâu xa hơn, muốn hướng lái đất nước ta đi theo mục tiêu con đường khác, không chấp nhận chế độ chính trị hiện hành; kêu gọi “một sự thay đổi” về thể chế chính trị ở nước ta theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Có thể khẳng định, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã cống hiến trọn vẹn cuộc đời cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của Nhân dân Việt Nam và nhân dân thế giới; Người đã thay đổi vận mệnh của cả dân tộc ta từ thân phận một dân tộc nô lệ thành một đất nước độc lập, tự do. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tìm ra con đường duy nhất đúng để cứu nước và giải phóng dân tộc, đó là con đường cách mạng vô sản, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân gắn liền với cách mạng xã hội chủ nghĩa. Thân thế, sự nghiệp của Chủ tịch Hồ Chí Minh được khẳng định và ghi dấu cùng những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam. Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch và chính Người đã làm rạng rỡ dân tộc ta, Nhân dân ta, non sông đất nước ta.

Điều rất đáng tự hào là Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ được yêu quý, kính trọng ở Việt Nam mà Người cũng được Nhân dân thế giới nể phục, tôn vinh. Năm 1987, tại khóa họp lần thứ 24, Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) đã tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là “Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất”. Với Nghị quyết này, UNESCO đã ghi nhận những đóng góp to lớn, quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ đối với dân tộc Việt Nam mà còn đối với cả nhân loại, đồng thời tôn vinh Chủ tịch Hồ Chí Minh là một trong những “nhân vật lỗi lạc đã để lại dấu ấn trong tiến trình phát triển của nhân loại”.

Từ đó đến nay, hoạt động vinh danh Người đã được tổ chức ở nhiều quốc gia trên thế giới. Theo thông tin từ Bộ Ngoại giao Việt Nam cho biết, đến nay, đã có 37 tượng/tượng đài, 13 khu tưởng niệm, 06 trường lớp và 21 đại lộ, đường phố, công viên mang tên Hồ Chí Minh được xây dựng ở nhiều quốc gia trên thế giới. Những hoạt động đó xuất phát từ sự yêu mến, lòng kính trọng và công nhận của cộng đồng quốc tế đối với những đóng góp của Hồ Chí Minh. Ngày 12/11/2013, trong chuyến thăm chính thức Việt Nam, Tổng thống Nga V. Putin đã đến thăm nơi ở của Chủ tịch Hồ Chí Minh và viết trong sổ lưu niệm: “Nhân loại đã bước sang thế kỷ XXI, thế kỷ hòa bình tiến bộ và phồn vinh. Nhưng giá trị tư tưởng, đạo đức của Hồ Chí Minh vẫn là ngọn đuốc, là biểu tượng cho một nền văn hóa tương lai…Và vì thế lịch sử mãi mãi nhắc tới Người như một bậc thánh nhân”.

Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi xa, nhưng Người để lại cho chúng ta di sản tư tưởng vĩ đại, tấm gương, đạo đức cách mạng sáng ngời và phong cách Hồ Chí Minh được cả thế giới ngợi ca. Thực tiễn cách mạng hơn 96 năm qua, từ những thắng lợi vĩ đại của dân tộc ta kể từ khi có Đảng đã cho thấy, tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh luôn là chỉ dẫn quý báu giúp toàn Đảng, toàn quân và toàn dân vượt qua mọi khó khăn, thách thức. Vì vậy, luận điệu xuyên tạc, kích động lố bịch của Nguyễn Văn Đài sẽ chẳng lừa bịp được ai và nhất định sẽ bị lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

May 18, 2026

Thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam là không thể xuyên tạc, phủ nhận

        Tre Việt – Mới đây, trên trang facebook Tiếng Dân New, đăng bài viết: “Giàu nghèo Việt Nam hôm nay thật lố bịch”, trong bài viết, tác giả Lâm Văn Bé rêu rao rằng: “tỷ số người nghèo cùng cực vẫn còn rất cao”, “Việt Nam đứng hạng gần với Phi Châu là các quốc gia nghèo, độc tài, chậm tiến”, v.v.

        Cần khẳng định ngay, đây là luận điệu quy chụp sai trái, xuyên tạc tình hình phát triển kinh tế, xã hội của Việt Nam. Mục tiêu thực sự của luận điệu xuyên tạc này là nhằm kích động, gieo rắc hoài nghị của các tầng lớp Nhân dân, nhằm hạ thấp uy tín, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhà nước và xã hội; cổ súy cho “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập” ở Việt Nam. Sâu xa hơn, là nhằm xóa bỏ mọi thành quả cách mạng và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của nhân dân ta; hướng lái sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước hiện nay theo con đường tư bản chủ nghĩa.

        Sự thật là, những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, vươn tới những thành tựu to lớn, toàn diện trên tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội. Từ một nền kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, hàng năm phải nhập khẩu lương thực, đến giai đoạn 2021 - 2025 tăng trưởng kinh tế nước ta đạt bình quân khoảng 6,2%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới, đặc biệt tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, xếp thứ 32 trên thế giới. GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức uy tín quốc tế đánh giá cao. 

        Đặc biệt, với những chủ trương và giải pháp đúng đắn, cùng với sự quyết tâm, đoàn kết, nỗ lực phi thường của toàn dân tộc, chính sách giảm nghèo ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, tỷ lệ hộ nghèo giảm dần theo từng năm. Năm 1993, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn quốc gia là 58,1%; năm 2002, tỷ lệ này là 28,9%; năm 2012 là 9,6%. Đặc biệt, năm 2006, Việt Nam đã hoàn thành Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ về xóa bỏ tình trạng nghèo đói cùng cực và thiếu đói, về đích trước 10 năm so với thời hạn (2015). Từ năm 2016, Việt Nam đã tiếp cận theo chuẩn nghèo đa chiều, nghèo không chỉ được xác định bằng thu nhập, mà còn là mức hưởng thụ các dịch vụ y tế, giáo dục, nhà ở, nước sạch - vệ sinh và tiếp cận thông tin. Đây không chỉ là một thay đổi kỹ thuật, mà là một cuộc cách mạng về tư duy, thể hiện tầm nhìn nhân văn, toàn diện của Đảng và Nhà nước ta. Theo chuẩn nghèo đa chiều thì đến cuối năm 2025, tỷ lệ hộ nghèo ở Việt Nam là 1,3%. Với những kết quả đạt được, Việt Nam được cộng đồng quốc tế đánh giá là điểm sáng trên thế giới trong cuộc chiến chống đói nghèo và là một trong những quốc gia tiên phong trong tiếp cận và áp dụng phương pháp giảm nghèo đa chiều.

        Từ những con số biết nói và nhận xét, đánh giá của các tổ chức quốc tế cho thấy hoạt động xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần thực hiện mục tiêu an sinh xã hội toàn dân và giảm nghèo bền vững, chứ không phải “tỷ số người nghèo cùng cực vẫn còn rất cao” như những gì Tiếng Dân New và Lâm Văn Bé xuyên tạc, kích động phủ nhận./.


May 13, 2026

Không thể xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển và những thành tựu của Việt Nam

           Tre Việt - Mới đây, trang Facebook Việt Tân đăng bài viết: “Thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội: sự trâng tráo không giới hạn” của Trân Văn. Trong bài viết Trân Văn lấy dẫn chứng về cuộc sống, hình ảnh của những người bán vé số dạo, rồi tự suy diễn, đưa ra những câu hỏi nghi vấn về chế độ, về thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, như: Sau bao nhiêu hy sinh, đóng góp và chịu đựng trong “thời kỳ quá độ”, người dân thực sự nhận lại được những gì? Và liệu lời hứa về một xã hội công bằng, hạnh phúc cho mọi người đã trở thành hiện thực đến đâu?

Cần khẳng định ngay rằng, đây là cách nhìn phiến diện, cố tình xuyên tạc, phủ nhận con đường phát triển và những thành tựu của Việt Nam; thể hiện sự thiếu hiểu biết về lý luận, thực tiễn lịch sử và quy luật phát triển của xã hội loài người. Bởi vì:

Thứ nhất, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là một tất yếu khách quan đã được các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin luận giải một cách khoa học. Theo đó, quá trình phát triển từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội không thể diễn ra ngay lập tức mà phải trải qua một giai đoạn chuyển tiếp lâu dài, phức tạp với nhiều hình thức tổ chức kinh tế - xã hội đan xen. Đây là quá trình cải biến sâu sắc trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm xây dựng những tiền đề về vật chất, chính trị, văn hóa, con người,... cho chế độ xã hội mới. Vì vậy, việc Việt Nam xác định phải trải qua thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn phù hợp với quy luật khách quan và điều kiện lịch sử cụ thể của đất nước.

Thứ hai, lịch sử dân tộc Việt Nam đã cho thấy, chính sự áp bức, bóc lột chủ nghĩa thực dân, đế quốc là nguyên nhân khiến dân tộc Việt Nam chìm trong đói nghèo, lạc hậu suốt nhiều thế kỷ. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, Nhân dân ta đã đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945; đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước năm 1975, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Do đó, việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội không phải là sự áp đặt chủ quan mà là kết quả của cả quá trình đấu tranh cách mạng lâu dài mà là sự lựa chọn của Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhằm giữ vững độc lập dân tộc, hạnh phúc của Nhân dân và tiến bộ công bằng xã hội. 

Thứ ba, thực tiễn 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước đã chứng minh tính đúng đắn của con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia có thu nhập trung bình, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại, không ngừng nâng cao đời sống của Nhân dân, khẳng định được uy tín, vị thế trên trường quốc tế. Việt Nam là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế ổn định trong nhiều năm liên tiếp, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về thành tựu phát triển bền vững.

Cụ thể: tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh (theo kết quả rà soát đầu năm 2026, cả nước hiện còn khoảng 480.000 hộ nghèo và gần 609.000 hộ cận nghèo, chiếm 2,95% tổng số hộ dân. Hệ thống giáo dục, y tế, an sinh xã hội ngày càng được hoàn thiện; quyền con người được bảo đảm ngày càng tốt hơn. Đảng, Nhà nước đã quyết định thực hiện miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ mầm non đến hết trung học phổ thông công lập trên phạm vi cả nước từ đầu năm học mới 2025 - 2026 và từ năm 2026, người dân được khám sức khỏe định kỳ hoặc khám sàng lọc miễn phí ít nhất mỗi năm 01 lần, được lập sổ sức khỏe điện tử để quản lý sức khỏe theo vòng đời, từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế, v.v. Đây là minh chứng sống động về những thành tựu, sự phát triển của Việt Nam trong những năm qua.

Tuy nhiên, cần thấy rằng, thời kỳ quá độ ở Việt Nam diễn ra trong bối cảnh đặc biệt phức tạp. Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội từ một nền sản xuất nhỏ, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, lại chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh và bao vây, cấm vận kéo dài. Vì vậy, thời kỳ quá độ tất yếu sẽ tồn tại nhiều khó khăn, hạn chế, cần tiếp tục phải giải quyết để ngày càng cải thiện, nâng cao đời sống của Nhân dân, trong đó có những người bán vé số dạo. Song, đây không thể là căn cứ để phủ nhận con đường phát triển, tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và những thành tựu to lớn của Việt Nam.

Vì thế, việc Trân Văn đưa ra luận điệu “Thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội: sự trâng tráo không giới hạn” là cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, phủ nhận thành quả của công cuộc đổi mới, nhằm kích động tâm lý hoài nghi, dao động trong xã hội, nhằm chống phá chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, cần bị vạch trần, đấu tranh, bác bỏ./.

 

May 12, 2026

Những đánh giá thiếu khách quan và sai sự thật

           “Đến hẹn lại lên”, hằng năm, nhân Ngày tự do báo chí thế giới (03/5), tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF) công bố cái gọi là “Chỉ số tự do báo chí thế giới”. Năm 2026, Việt Nam bị xếp ở nhóm cuối, đứng thứ 174/180 quốc gia.

Đây không phải lần đầu RSF đưa ra những đánh giá thiếu khách quan về Việt Nam, nhưng sự lặp đi lặp lại các thông tin cũ của các báo cáo này cho thấy một cách tiếp cận mang tính áp đặt, nặng định kiến, phiến diện, thiếu tôn trọng sự khác biệt về mô hình chính trị, lịch sử và văn hóa của các quốc gia.

Phóng viên báo chí tác nghiệp tại một sự kiện lớn

Quan sát phương pháp đánh giá của RSF nhiều năm qua có thể thấy tổ chức này chủ yếu dựa vào các cuộc khảo sát mang tính một chiều, lấy ý kiến từ một số nhóm, cá nhân và tổ chức vốn có định kiến chính trị với Việt Nam.

Nhiều nội dung trong báo cáo được xây dựng trên nguồn tin thứ cấp, thiếu kiểm chứng độc lập, thậm chí sử dụng lại thông tin không chính xác của các tổ chức phản động lưu vong. Vì thế, thay vì phản ánh trung thực môi trường báo chí, bảng xếp hạng của RSF ngày càng bộc lộ dấu hiệu của một công cụ áp đặt quan điểm chính trị phương Tây lên các quốc gia còn lại.

Đáng chú ý, RSF thường cố tình đánh tráo khái niệm giữa “tự do báo chí” với hành vi vi phạm pháp luật. Trong báo cáo năm 2026, tổ chức này tiếp tục gọi một số đối tượng chống Nhà nước, tuyên truyền xuyên tạc, kêu gọi biểu tình gây bất ổn xã hội là “nhà báo độc lập”.

Cách quy kết ấy thiếu cơ sở pháp lý và nguy hiểm ở chỗ cố tình xóa nhòa ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận với hành vi lợi dụng tự do để xâm hại lợi ích quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác.

Thực tế, không có quốc gia nào trên thế giới chấp nhận việc nhân danh “tự do báo chí” để kích động bạo loạn, tuyên truyền lật đổ hay đe dọa an ninh quốc gia. Ngay tại Hoa Kỳ và nhiều nước phương Tây, hệ thống pháp luật về chống khủng bố, bảo vệ bí mật quốc gia, kiểm soát thông tin sai lệch trên không gian mạng đều được áp dụng rất nghiêm ngặt.

Chính báo cáo của RSF năm nay cũng thừa nhận môi trường báo chí ở nhiều quốc gia phương Tây đang đối mặt hàng loạt sức ép như cắt giảm ngân sách truyền thông, hạn chế tiếp cận thông tin, gia tăng bạo lực đối với phóng viên, sự chi phối ngày càng lớn của các tập đoàn công nghệ và tài phiệt truyền thông.

Thế nhưng khi các nước phương Tây áp dụng biện pháp quản lý, RSF xem đó là “điều chỉnh cần thiết”; còn khi Việt Nam thực thi pháp luật, tổ chức này lập tức quy kết là “đàn áp tự do báo chí”. Cách đánh giá theo “tiêu chuẩn kép” ấy khiến tính khách quan trong các báo cáo của RSF ngày càng bị nghi ngờ.

Sự phi lý còn nằm ở chính hệ quy chiếu mà RSF sử dụng. Tổ chức này mặc nhiên coi mô hình báo chí tư nhân đa đảng kiểu phương Tây là chuẩn mực duy nhất của tự do báo chí, từ đó phủ nhận các mô hình báo chí khác phù hợp với điều kiện lịch sử và thể chế chính trị riêng của từng quốc gia.

Song thực tế báo chí chưa bao giờ tồn tại ngoài môi trường chính trị-xã hội cụ thể. Báo chí phương Tây cũng phải vận hành trong quỹ đạo lợi ích của các tập đoàn truyền thông và hệ giá trị chính trị phương Tây. Do đó, cái gọi là “tự do báo chí tuyệt đối” chưa bao giờ tồn tại như cách một số tổ chức phương Tây thường rao giảng.

Trái ngược với bức tranh méo mó mà RSF mô tả, thực tiễn báo chí ở Việt Nam những năm qua cho thấy một đời sống truyền thông sôi động, cởi mở và ngày càng chuyên nghiệp. Sau quá trình sắp xếp, tinh gọn theo Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25/10/2017 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “Một số vấn đề tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”, đến cuối năm 2025 cả nước có 778 cơ quan báo chí, gần 21.000 nhà báo được cấp thẻ trong cả lĩnh vực báo chí in, báo chí điện tử và phát thanh, truyền hình.

Nhiều cơ quan báo chí đã hình thành mô hình báo - phát thanh - truyền hình, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu quả tuyên truyền. Nhiều nhà báo được Nhà nước tạo điều kiện đi học tập, trao đổi kinh nghiệm chuyên môn, tác nghiệp báo chí tại nhiều quốc gia trên thế giới. Đối với các cơ quan báo chí quốc tế đến Việt Nam tác nghiệp và đưa tin, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo điều kiện thuận lợi, không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào.

Báo chí Việt Nam tham gia mạnh mẽ vào phản biện xã hội, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, giám sát thực thi chính sách, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Tiêu biểu như trong đại dịch Covid-19, hàng nghìn nhà báo đã có mặt tại tâm dịch, bệnh viện dã chiến, khu cách ly để truyền tải thông tin chính xác, chống tin giả và lan tỏa tinh thần đoàn kết cộng đồng. Trong những đợt thiên tai, bão lũ, đội ngũ phóng viên luôn hiện diện ở tuyến đầu, phản ánh kịp thời đời sống nhân dân, tích cực tham gia các hoạt động cứu trợ. Đó là hình ảnh của một nền báo chí nhân văn, gắn bó mật thiết với quyền, lợi ích của đất nước và nhân dân.

Cùng với đó, nhiều vụ việc tiêu cực lớn đã được báo chí phát hiện. Các vấn đề nóng như thực phẩm bẩn, lừa đảo công nghệ cao, sai phạm đất đai, ô nhiễm môi trường, bạo lực học đường hay bất cập trong quản lý công đều được đưa ra công luận một cách công khai, thẳng thắn. Không ít vụ việc sau phản ánh của báo chí đã được cơ quan chức năng vào cuộc xử lý nghiêm minh.

Ở Việt Nam, quyền tự do báo chí được quy định rõ trong Hiến pháp năm 2013 và được cụ thể hóa bằng Luật Báo chí năm 2016 cùng nhiều văn bản pháp luật liên quan, hoàn toàn không tồn tại một nền báo chí bị “đàn áp” mà các đối tượng cực đoan ra sức rêu rao.

Các báo cáo thiếu khách quan của RSF đang bị một số tổ chức phản động, thiếu thiện chí lợi dụng như công cụ để xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam, gây sức ép trong quan hệ quốc tế và tạo ra nhận thức sai lệch trong dư luận nước ngoài. Khi một thông tin thiếu chính xác được lặp đi lặp lại nhiều lần sẽ dễ tạo cảm giác như một “sự thật hiển nhiên”, dù thực tế hoàn toàn trái ngược.

Những năm gần đây, chuyển đổi số báo chí ở Việt Nam diễn ra mạnh mẽ, tạo động lực để hoạt động báo chí ngày càng thiết thực, hiệu quả hơn. Nhiều cơ quan báo chí ứng dụng trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, đa nền tảng để mở rộng khả năng tiếp cận công chúng. Các diễn đàn báo chí quốc gia, giải báo chí lớn, chương trình đào tạo quốc tế cho nhà báo được tổ chức thường xuyên, góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp và năng lực cạnh tranh của báo chí Việt Nam trong môi trường truyền thông số toàn cầu.

Dĩ nhiên, cũng như bất kỳ nền báo chí nào trên thế giới, báo chí Việt Nam vẫn còn những vấn đề cần tiếp tục hoàn thiện như nâng cao chất lượng phản biện, xử lý tin giả, bảo vệ bản quyền số, thích ứng với truyền thông đa nền tảng và tăng cường chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp. Nhưng đó là yêu cầu phát triển nội tại của nền báo chí cách mạng Việt Nam, hoàn toàn khác với những quy chụp mang động cơ chính trị từ bên ngoài.

Điều quan trọng nhất không nằm ở những bảng xếp hạng đầy định kiến, mà ở sự kiểm chứng từ thực tiễn. Hàng chục triệu người dân Việt Nam đang tiếp cận báo chí mỗi ngày qua báo in, phát thanh, truyền hình, báo điện tử và thông tin báo chí lan tỏa trên mạng xã hội. Niềm tin của công chúng dành cho báo chí chính thống, vai trò tiên phong và trách nhiệm xã hội của báo chí là minh chứng sinh động nhất cho hiệu lực, hiệu quả cũng như sức sống vững bền của nền báo chí cách mạng Việt Nam./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)

 

May 8, 2026

Bác bỏ luận điệu kích động, xuyên tạc chức năng của Quân đội ta

        Tre Việt - “Khi Quân đội mang “hai vai”: làm kinh tế hay thực hiện nhiệm vụ?” là tiêu đề bài viết được trang facebook Việt Tân đăng tải ngày 06/5, nhằm kích động, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ, nhất là chức năng “đội quân lao động sản xuất” của Quân đội ta. Trong bài viết, họ rêu rao rằng: Một bên là nhiệm vụ quốc phòng, vốn mang tính đặc thù, ưu tiên tuyệt đối và khó có thể đo đếm bằng lợi nhuận. Một bên là hoạt động kinh doanh, nơi mọi quyết định đáng lẽ phải dựa trên hiệu quả, cạnh tranh và rủi ro thị trường. Khi hai vai trò này cùng tồn tại trong một tổ chức, câu hỏi đặt ra là: ranh giới nằm ở đâu?

Sản phẩm công nghệ do Tập đoàn Viettel thiết kế, sản xuất
trưng bày tại triển lãm thành tựu đất nước
“80 năm hành trình Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”

Cần khẳng định ngay rằng: quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về chức năng của Quân đội được thể hiện nhất quán trong các chỉ thị, nghị quyết của Đảng. Ngay từ những ngày đầu thành lập đến nay, dù trong bất cứ điều kiện, hoàn cảnh nào, cùng với thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác”, Quân đội ta luôn nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, chủ động, tích cực tham gia lao động sản xuất, xây dựng kinh tế bằng các hình thức, biện pháp sáng tạo, phù hợp, góp phần quan trọng vào những thắng lợi vĩ đại của dân tộc.

Đặc biệt, bước vào thời kỳ đổi mới đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, toàn quân đã quán triệt, thực hiện có hiệu quả các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng về thực hiện chức năng quan trọng này. Việc tham gia sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng của toàn quân được lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ, có bước phát triển toàn diện, đi vào chiều sâu, phù hợp với chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh của Đảng trong giai đoạn mới và đạt nhiều kết quả quan trọng.

Đến nay, Quân đội đã xây dựng hàng chục khu kinh tế - quốc phòng trên các địa bàn chiến lược, vùng sâu, vùng xa, biên giới, ven biển và hải đảo. Các đoàn kinh tế - quốc phòng đã phối hợp với cấp ủy, chính quyền địa phương tổ chức quy hoạch, bố trí lại dân cư, tạo việc làm, sinh kế bền vững cho hàng trăm nghìn hộ dân, hình thành hàng trăm điểm, cụm dân cư tập trung trên vành đai biên giới, địa bàn xung yếu. Đồng thời, tích cực hỗ trợ, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, phát triển sản xuất, kết hợp thực hiện công tác dân vận, xây dựng cơ sở chính trị, “thế trận lòng dân” vững chắc, tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, tạo nền tảng bảo vệ Tổ quốc “từ sớm, từ xa”. Các doanh nghiệp Quân đội không ngừng đổi mới, hội nhập, xung kích thực hiện nhiều dự án phát triển kinh tế - xã hội kết hợp với quốc phòng, an ninh, nhất là ở địa bàn khó khăn, phức tạp; năng lực và hiệu quả sản xuất, kinh doanh kết hợp với thực hiện nhiệm vụ quốc phòng được nâng cao, ngày càng khẳng định uy tín, vị thế trong nền kinh tế, đóng góp tích cực vào sự ổn định, phát triển kinh tế vĩ mô, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và bảo đảm an sinh xã hội, tăng cường nguồn lực cho đất nước.

Trên thực tế, đã có nhiều doanh nghiệp Quân đội năng động, sáng tạo, vượt khó vươn lên, mở rộng thị trường đầu tư, trở thành đối tác kinh tế có uy tín cả ở trong và ngoài nước. Đáng chú ý, một số doanh nghiệp Quân đội đã tiên phong tham gia phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ chủ quyền biển, đảo, làm chỗ dựa tin cậy cho ngư dân và các lực lượng hoạt động trên biển, nhất là ở các vùng biển, đảo xa bờ. Các doanh nghiệp ngành Công nghiệp quốc phòng hòa nhập sâu hơn vào công nghiệp quốc gia; làm chủ nhiều công nghệ lõi, công nghệ nền, lưỡng dụng tiên tiến, hiện đại; nghiên cứu thiết kế, chế tạo, sản xuất được nhiều sản phẩm có chất lượng cao phục vụ quốc phòng và đời sống dân sinh, tạo sự kết hợp giữa kinh tế với quốc phòng, quốc phòng với kinh tế trên từng địa bàn và cả nước. Cùng với đó, các đơn vị thường trực trong toàn quân đã nêu cao tinh thần “tự lực, tự cường”, phát huy tiềm năng, thế mạnh, đẩy mạnh tăng gia sản xuất, cải thiện đời sống bộ đội, xây dựng tiềm lực hậu cần trên địa bàn đóng quân,… được Đảng, Nhà nước và Nhân dân ghi nhận, đánh giá cao.

Trước yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, cùng với thực hiện tốt chức năng “đội quân chiến đấu, đội quân công tác”, bám sát chức năng, nhiệm vụ được giao, Quân đội cần tiếp tục đẩy mạnh và thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ lao động sản xuất, xây dựng kinh tế kết hợp với quốc phòng, an ninh bằng hình thức, biện pháp phù hợp, đúng mục tiêu, định hướng của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Vì thế, cần đề cao cảnh giác, chủ động nhận diện, đấu tranh làm phá sản âm mưu chống phá, xuyên tạc chức năng, nhiệm vụ của Quân đội mà Việt Tân và các thế lực thù địch, phản động rêu rao, kích động./.

May 6, 2026

Các nghị quyết “trụ cột” - nền tảng vững chắc cho đất nước phát triển nhanh, bền vững

Trên một số trang mạng phản động, các thế lực thù địch đẩy mạnh xuyên tạc, chống phá việc thực hiện các nghị quyết “trụ cột” của Đảng ta. Cụ thể, trên trang Thoibao, Hoàng Phúc cho rằng: “trong bối cảnh thể chế không minh bạch, 4 nghị quyết này vẫn chỉ là khẩu hiệu suông, kết quả thực hiện chắc chắn sẽ thất bại”. Đây là luận điệu sai trái, suy diễn vô căn cứ, nhằm gây hoài nghi trong dư luận, làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, bốn nghị quyết 57, 59, 66, 68 được ban hành, là cơ sở chính trị quan trọng cho triển khai đồng bộ, phát triển đất nước nhanh, bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam hội nhập quốc tế, để phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực trong nước, tận dụng thời cơ, thuận lợi, các nguồn lực từ bên ngoài, Đảng ta đã kịp thời ban hành các nghị quyết, trong đó, nghị quyết 57, 59, 66 và 68 được xem là những “trụ cột” quan trọng, nhằm đón kịp sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, khơi thông những điểm nghẽn, đưa đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới.

Nội dung Nghị quyết số 57-NQ/TW, xác định rõ: Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá chiến lược, là động lực chủ yếu thúc đẩy hiện đại hóa đất nước, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững. Bảo đảm tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với sự nghiệp phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo; phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của doanh nghiệp, doanh nhân, đội ngũ trí thức và toàn dân trong công cuộc này.

Nghị quyết số 59-NQ/TW, xác định những định hướng chiến lược về kinh tế: Đẩy mạnh hội nhập gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, hiện đại; phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn; nâng cao năng lực cạnh tranh dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Về chính trị, quốc phòng, an ninh: Hội nhập đi đôi với củng cố quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, tăng cường tin cậy chính trị, giữ vững độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình, ổn định. Về khoa học công nghệ, giáo dục, y tế, môi trường: Tận dụng hội nhập để nâng cao trình độ quốc gia, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao và hội nhập sâu vào chuỗi giá trị toàn cầu.

Nghị quyết số 66-NQ/TW, xác định đổi mới căn bản công tác xây dựng và thi hành pháp luật là nội dung cốt lõi, nền tảng cho tiến trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên mới. Đây là cơ sở, nền tảng vững chắc cho việc tổ chức, vận hành quyền lực nhà nước, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và là đòn bẩy thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội. Đổi mới căn bản tư duy xây dựng pháp luật; chuyển từ tư duy “quản lý” sang “phục vụ”, từ bị động sang chủ động, kiến tạo sự phát triển.

Nghị quyết số 68-NQ/TW, xác định rõ các yêu cầu cải cách mạnh mẽ về hoàn thiện thể chế; khơi thông nguồn lực; thúc đẩy đổi mới sáng tạo; phát triển mạnh hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo. Cơ sở quan trọng bảo đảm thực hiện tốt việc bảo vệ quyền tài sản, quyền tự do kinh doanh, tạo dựng môi trường đầu tư – kinh doanh công bằng, minh bạch, ổn định cho đất nước; mở rộng tiếp cận đất đai, tín dụng, thị trường, công nghệ cho khu vực tư nhân; tháo gỡ tận gốc các điểm nghẽn thể chế và chính sách; hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào nghiên cứu phát triển, tham gia sâu vào mạng lưới sáng tạo và chuỗi giá trị toàn cầu. Đặt nền móng cho sự chuyển biến toàn diện về chính sách phát triển kinh tế tư nhân.

Như vậy, bốn nghị quyết là chỉnh thể thống nhất, đồng bộ, thể hiện tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược của Đảng, Nhà nước ta, nhằm mục tiêu: Xây dựng nền tảng vững chắc để Việt Nam phát triển nhanh, bền vững và trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước ta đã và đang đẩy mạnh hoàn thiện các thể chế minh bạch, bảo đảm cho hiện thực hóa các nghị quyết trong kỷ nguyên mới. Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang tăng cường ban hành đồng bộ các nghị quyết, hoàn thiện các thể chế phát triển. Đổi mới phương thức và nâng cao hiệu quả hoạt động của Quốc hội, xây dựng hoàn thiện đồng bộ cả về thể chế chính trị, thể chế kinh tế, thể chế xã hội, thể chế môi trường sinh thái và các cơ chế quản lý, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước và giữa nhà nước với các chủ thể xã hội, trong đó chủ thể chính trị giữ vai trò quyết định.

Công tác lập pháp được đẩy mạnh nhằm xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Trọng tâm là xây dựng hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách tháo gỡ kịp thời, dứt điểm các nút thắt, điểm nghẽn, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh bảo đảm thuận lợi, công khai, minh bạch, giải phóng sức sản xuất, huy động mọi nguồn lực và tạo động lực mới cho phát triển. Phát triển toàn diện con người Việt Nam cả về đạo đức, trí tuệ, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật. Xây dựng nền quản trị quốc gia hiện đại, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và hoạt động hiệu lực, hiệu quả của hệ thống Tàn án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân; xây dựng nền tư pháp chuyên nghiệp, hiện đại, công bằng, nghiêm minh, liêm chính, phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân.

Tóm lại, những luận điệu cho rằng các nghị quyết “trụ cột” của Đảng chỉ là khẩu hiệu suông là hoàn toàn sai trái, thiếu căn cứ và mang động cơ chống phá. Do đó, cần kiên quyết đấu tranh, bảo vệ niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng./.