Apr 27, 2026
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với truyền thông - bước đi tất yêu và đúng đắn
Tự do tôn giáo ở Việt Nam - sự thật không thể phủ nhận
Với đường lối, chủ trương nhất quán, Việt Nam ngày càng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân một cách thực chất. Thế nhưng, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành quả đó. Trong bài viết “Tự do tôn giáo tại Việt Nam: Một song đề nghịch lý” đăng trên Boxitvn, Trần Kiên Đoàn đã ngụy biện, bóp méo thực tiễn để rêu rao rằng Việt Nam “chưa có tự do tôn giáo trọn vẹn”. Đằng sau luận điệu này là mưu đồ chính trị rõ ràng, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào có đạo, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ.
1. Bức tranh sinh động về tự do tôn giáo ở Việt
Nam. Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trong suốt quá trình
lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng
và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo
đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Trên thực
tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã được khẳng định xuyên suốt từ
Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, theo đó “Mọi người có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình
đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo”. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tiếp tục cụ thể hóa quyền này, tạo
hành lang pháp lý thuận lợi để các tổ chức và cá nhân tôn giáo hoạt động. Với
những chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước, có thể dễ
dàng nhận thấy những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc
trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các
tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay.
Theo số liệu thống kê của Bộ Dân tộc và
Tôn giáo, hiện nay, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước;
hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Trong xu
thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt
Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, chức sắc và
tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi
tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật
chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các
ngày lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục
sinh của Công giáo và Tin lành,… được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo
không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Những thành tựu của Việt
Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc
tế thừa nhận, đánh giá cao. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được
các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện,
các lễ kỷ niệm như sự kiện Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019), Liên Hội
đồng Giám mục Á châu (2023), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2025. Những con
số trên đã phản ánh bức tranh đa sắc màu, tự do và hòa hợp về đời sống tôn giáo
tại Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động cho nỗ lực nhất quán của Việt
Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cũng là lời
đáp rõ ràng trước luận điệu xuyên tạc của Trần Kiên Đoàn.
2. Mưu đồ gì khi cổ súy khẩu hiệu “Dân tộc - Đạo
pháp - Giác ngộ”. Từ cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan về thực tiễn tự
do tôn giáo ở Việt Nam, Trần Kiên Đoàn đã đưa ra đề xuất chuyển đổi khẩu hiệu
tôn giáo từ “Dân tộc - Đạo pháp - Chủ nghĩa xã hội” sang “Dân tộc - Đạo
pháp - Giác ngộ”. Đây không phải là sự thay đổi ngôn từ đơn thuần, mà là một
toan tính chính trị có chủ đích. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, tôn giáo
luôn đồng hành cùng dân tộc, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và gắn bó chặt
chẽ với lợi ích quốc gia. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, nhưng là tự
do trong giới hạn pháp luật và đi đôi với trách nhiệm công dân. Đó mới là bản
chất của một nền tự do chân chính, không thể bị đánh tráo bằng thứ “tự do vô giới
hạn” để che đậy các hành vi lợi dụng tôn giáo phục vụ mục đích cá nhân, chống
phá gây nguy hại đến xã hội. Việc cố tình thay thế “chủ nghĩa xã hội” bằng
“giác ngộ” thực chất là thủ đoạn làm “mờ hóa” yếu tố pháp lý và chính trị, đẩy
tôn giáo về trạng thái thuần túy cá nhân, tách khỏi hệ quy chiếu của nhà nước
pháp quyền. Khi đó, một số đối tượng có thể vin vào danh nghĩa “tu hành”, “giác
ngộ” để né tránh nghĩa vụ công dân, biện minh cho các hành vi vi phạm pháp luật.
Nguy hiểm hơn, nó tạo tiền đề cho việc hình thành những hoạt động tôn giáo tự
phát, vượt ra ngoài khuôn khổ quản lý, dễ bị kích động, lợi dụng để gây rối trật
tự, khoét sâu chia rẽ cộng đồng. Xét đến cùng, đây là một bước đi tinh vi nhằm
làm suy yếu nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo, tiến tới
tách rời tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, từ đó tạo ra những khoảng trống
nguy hiểm về chính trị - xã hội.
Nhìn tổng thể, đời sống tôn giáo ở Việt
Nam là một bức tranh đa dạng nơi các tôn giáo cùng tồn tại, hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật, gắn bó, đồng hành cùng sự phát triển đất nước. Thực tiễn
đó đã bác bỏ một cách thuyết phục những luận điệu sai trái, phiến diện như Trần
Kiên Đoàn./.
(Trích
nguồn: nhanvanviet.com)
Apr 23, 2026
Quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc là vì mục tiêu cùng phát triển, không phải sự phụ thuộc
Tre Việt - Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm vừa qua đã thành công rất tốt đẹp, nâng tầm cao mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện này, các trang mạng xã hội đã có nhiều bài viết, chia sẻ có nội dung xuyên tạc, chia rẽ về quan hệ giữa hai nước là “lệ thuộc”, “mất tự chủ”, v.v. Đơn cử như trang facebook Việt Tân ngày 22/4 đăng bài: “Hợp tác Việt - Trung: lợi ích hay phụ thuộc?”.
Cần khẳng định ngày rằng: những luận điệu trên không
chỉ thiếu cơ sở khoa học mà còn xuyên tạc bản chất quan hệ hai nước, đi ngược
lại thực tiễn sinh động của đời sống quốc tế và đường lối đối ngoại nhất quán của
Việt Nam. Bởi vì:
Thứ nhất, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc được xây dựng trên nền
tảng các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và đường lối đối ngoại độc
lập, tự chủ của Việt Nam. Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách
đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, không liên minh quân sự, không phụ
thuộc vào bất kỳ một quốc gia nào. Đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc
tế toàn diện. Trong bối cảnh ấy, quan hệ hợp tác Việt Nam - Trung Quốc ngày
càng phát triển trên nhiều lĩnh vực; sự tin cậy chính trị giữa hai bên được
tăng cường, tiếp tục phát huy vai trò gắn kết, định hướng chiến lược và làm sâu
sắc hơn quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng
đồng chia sẻ tương lai trong thời kỳ mới.
Thứ hai, lâu nay chúng vẫn cho rằng: Việt Nam “phụ thuộc kinh
tế” vào Trung Quốc thông qua quy mô kim ngạch thương mại giữa hai nước. Tuy
nhiên, đây là nhìn nhận mang tính phiến diện, không phản ánh đúng bản chất quan
hệ kinh tế song phương. Trên thực tế, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Trung
Quốc luôn bổ sung, hỗ trợ lẫn nhau. Việt Nam nhập khẩu nhiều nguyên liệu, máy
móc phục vụ sản xuất, nhưng cũng xuất khẩu nhiều mặt hàng nông sản, điện tử,
hàng tiêu dùng,... sang thị trường rộng lớn này. Sự gia tăng kim ngạch thương
mại không phải là dấu hiệu của “lệ thuộc”, mà là kết quả của quá trình hội nhập
kinh tế, phù hợp với quy luật thị trường và lợi ích của cả hai bên.
Thứ ba, Việt Nam không chỉ có quan hệ kinh tế với Trung Quốc
mà còn thiết lập quan hệ thương mại, đầu tư với hầu hết các nền kinh tế lớn
trên thế giới. Việc tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp
định Đối tác toàn diện tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp
định Thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định thương mại tự
do giữa Việt Nam và Liên hiệp Vương quốc Anh,... đã
cho thấy rõ định hướng đa dạng hóa thị trường, đối tác, giảm thiểu rủi ro phụ
thuộc. Nếu thực sự “lệ thuộc”, Việt Nam khó có thể duy trì được mạng lưới quan
hệ kinh tế rộng lớn và cân bằng như hiện nay.
Thứ tư, trong quan hệ chính trị, việc duy trì trao đổi, hợp
tác giữa hai Đảng, hai Nhà nước Việt Nam và Trung Quốc là điều bình thường, phù
hợp với thông lệ quốc tế. Điều đó không đồng nghĩa với sự “chi phối” hay “lệ
thuộc”. Ngược lại, các kênh đối thoại chính trị giúp tăng cường hiểu biết, kiểm
soát bất đồng, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Quan hệ
giữa các quốc gia luôn tồn tại cả hợp tác và đấu tranh, việc có những khác biệt
là hoàn toàn khách quan. Vấn đề cốt lõi là xử lý những khác biệt đó trên cơ sở
tôn trọng lẫn nhau và luật pháp quốc tế.
Thực tiễn đã chứng minh: Việt Nam luôn giữ vững độc
lập, tự chủ trong mọi quyết sách đối nội, đối ngoại. Trong các vấn đề liên quan
đến chủ quyền, lợi ích quốc gia, Việt Nam kiên định lập trường, kiên quyết,
kiên trì đấu tranh bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với luật pháp quốc tế.
Không có bất kỳ bằng chứng nào cho thấy Việt Nam bị “chi phối” hay “mất tự chủ”
trong quan hệ với bất kỳ quốc gia nào.
Vì thế, những luận điệu xuyên tạc quan hệ Việt Nam -
Trung Quốc thực chất nhằm phục vụ mục tiêu chính trị xấu, kích động tư tưởng
cực đoan, gây chia rẽ quan hệ hai nước, làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối
với Đảng, Nhà nước cần bị vạch trần, lên án, bác bỏ./.
Lật tẩy chiêu trò xuyên tạc lịch sử thâm độc của “Nhật Ký Yêu Nước”
Tre Việt - Những ngày gần đây, trên trang facebook Nhật Ký Yêu Nước liên tục đăng các bài viết, hình ảnh xuyên tạc lịch sử, hạ thấp ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4. Họ trắng trợn đưa ra những luận điệu kích động lố bịch, rằng: “Đó chính là bi kịch lớn nhất của lịch sử Việt Nam hiện đại” và “May mắn cho Hàn Quốc không có ngày 30/4, bất hạnh cho Việt Nam khi có ngày ấy”.
Trước hết, cần khẳng định rõ, việc mô tả ngày 30/4/1975 của Việt Nam như là “bi kịch lớn” và “bất hạnh” cho Việt Nam, không chỉ sai về mặt logic, mà còn thể hiện sự phủ nhận thực tế lịch sử và những hy sinh của nhiều thế hệ người Việt Nam; là sự xuyên tạc trắng trợn lịch sử, hạ thấp ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4.
Bởi vì, về tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Ngày Chiến thắng 30/4/1975, tuyệt đại đa số nhân dân Việt Nam coi đó là một mốc son chói lọi trong lịch sử chống ngoại xâm của dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển mới, rực rỡ hơn cho đất nước. Đó là thắng lợi to lớn nhất, trọn vẹn nhất, vĩ đại nhất trong hành trình thực hiện mục tiêu cách mạng do Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo; là trang sử hào hùng và chói lọi trên con đường dựng nước và giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc. Kết thúc oanh liệt cuộc chiến đấu 30 năm giành độc lập tự do, thống nhất cho đất nước; chấm dứt ách thống trị hơn một thế kỷ của chủ nghĩa thực dân cũ và mới trên đất nước ta; hoàn thành về cơ bản cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước; mở ra thời kỳ phát triển mới của dân tộc - thời kỳ Tổ quốc ta được hoàn toàn độc lập, non sông thu về một mối, cả nước được sống trong hòa bình, tự do để xây dựng cuộc sống ấm no, hạnh phúc. Với thắng lợi này, Đảng và nhân dân ta có điều kiện tập trung mọi nguồn lực vật chất và tinh thần để tiến hành sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội trên phạm vi cả nước.
Có thể nói rằng, không có Chiến thắng 30/4, chúng ta không có công cuộc đổi mới hiện nay, không có điều kiện để tập trung tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa và đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 50 năm qua. Ngày nay, đất nước đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.
Đối với thế giới, thắng lợi ngày 30/4/1975 của Nhân dân ta là một thắng lợi tiêu biểu của lực lượng cách mạng thế giới, đập tan cuộc phản công chiến lược lớn nhất (kể từ sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai) của chủ nghĩa đế quốc vào ba trào lưu cách mạng của thời đại, làm đảo lộn chiến lược toàn cầu phản cách mạng của chủ nghĩa đế quốc, phá vỡ phòng tuyến quan trọng của đế quốc Mỹ ở Đông Nam châu Á; góp phần thúc đẩy mạnh mẽ cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì mục tiêu của thời đại là độc lập dân tộc, hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội; cổ vũ, động viên các dân tộc đang tiến hành công cuộc giải phóng dân tộc, chống chủ nghĩa đế quốc.
Mỗi quốc gia có hoàn cảnh riêng, lựa chọn riêng và phải đối mặt với những thách thức riêng. Một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc, đã trực tiếp mang lại hòa bình và chủ quyền quốc gia thống nhất của dân tộc Việt Nam không thể bị quy kết là “bi kịch lớn” của lịch sử và “bất hạnh” cho Việt Nam.
Việc Nhật Ký Yêu Nước đưa ra so sánh giữa Việt Nam với Hàn Quốc là một sự so sánh sai lệch, khập khiễng, mang tính kích động, chống phá rất thâm độc; gieo vào người dân một cảm giác tiếc nuối, so sánh và thậm chí là phủ nhận giá trị lịch sử của chính dân tộc mình. Do đó, mỗi người dân cần phải tỉnh táo nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ mọi sự xuyên tạc, phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị Ngày Chiến thắng 30/4 của Nhân dân ta./.
Apr 20, 2026
Bác bỏ luận điệu cố tình xuyên tạc của HRW
Tre Việt - Mới đây, trong Báo cáo thế giới năm 2026 (World Report 2026), tổ chức Human Rights Watch (HRW) tiếp tục đưa ra những đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền tại Việt Nam, nhất là trong lĩnh vực tự do ngôn luận, báo chí và không gian mạng. Với việc viện dẫn một số vụ án hình sự liên quan đến phát ngôn trên mạng xã hội và gọi các bị cáo là “nhà hoạt động”, “nhà báo độc lập” hoặc “tù nhân chính trị”, HRW cho rằng Việt Nam “hình sự hóa tự do ngôn luận”. Đây là luận điệu cố tình xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam, cần đấu tranh bác bỏ.
%20v%C3%A0%20Qu%E1%BB%91c%20kh%C3%A1nh%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20C%E1%BB%99ng%20h%C3%B2a%20x%C3%A3%20h%E1%BB%99i%20ch%E1%BB%A7%20ngh%C4%A9a%20Vi%E1%BB%87t%20Nam%20(0291945-%200292025)..jpg)
Niềm vui của Nhân dân tại Lễ kỷ niệm 80 năm
Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công
và Quốc khánh 02/9
Trước hết, cần khẳng định rằng: quyền con người, trong
đó có quyền tự do ngôn luận, luôn được Đảng, Nhà
nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm bằng hệ thống pháp luật ngày
càng hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: công dân có quyền tự do
ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Đồng
thời, Việt Nam đã phê chuẩn, gia nhập hầu hết các công ước cơ bản của Liên hợp
quốc về quyền con người, trong đó có Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị. Những cam kết của Việt Nam đã được
cụ thể hóa bằng nhiều đạo luật và chính sách phù hợp với điều kiện của đất
nước.
Thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua
đã minh chứng rõ nét cho việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền tự do
ngôn luận, luôn gắn liền với ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội và
nâng cao đời sống Nhân dân. Những thành tựu về xóa đói, giảm nghèo, mở rộng tiếp
cận giáo dục, y tế, thông tin,… đã tạo nền tảng vững chắc để người dân được thụ
hưởng đầy đủ hơn các quyền cơ bản của mình.
Bên cạnh đó, với gần 780 cơ quan báo chí đang hoạt
động thường xuyên, đóng vai trò quan trọng trong phản biện xã hội và giám sát
quyền lực. Nhiều vụ việc tiêu cực, sai phạm nghiêm trọng bị phát hiện, xử lý kỷ
luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự từ báo chí và dư luận xã hội. Mặt khác, không
gian mạng tại Việt Nam hiện nay đang phát triển hết sức năng động, với hàng trăm
triệu tài khoản sử dụng mạng xã hội
trong nước sử dụng các nền tảng số để trao đổi thông tin, bày tỏ ý kiến,
sáng tạo nội dung. Hàng loạt ý kiến đa chiều về các vấn đề chính trị, kinh tế,
xã hội được đăng tải công khai trên báo chí, mạng xã hội, diễn đàn trực tuyến.
Điều này cho thấy quyền tự do ngôn luận không chỉ được ghi nhận trên giấy tờ mà
còn được thực thi rộng rãi trong đời sống xã hội.
Với những kết quả, thành tựu đó, Việt Nam đã tái đắc cử lần 3 trở thành thành
viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 (lần 1 trúng cử
nhiệm kỳ 2014 - 2016, lần 2 trúng cử nhiệm kỳ 2023 - 2025). Điều này cho thấy
sự ghi nhận và đánh giá cao của cộng đồng quốc tế đối với những cam kết, nỗ lực
và thành tựu của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người,
bảo đảm an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân.
Đồng thời, đó còn là sự thừa nhận vai trò và đóng góp của Việt Nam trong thúc
đẩy hợp tác về bảo đảm quyền con người trên phạm vi thế giới.
Tuy nhiên, không riêng ở Việt Nam mà bất kỳ quốc gia
nào, quyền tự do ngôn luận không phải là quyền tuyệt đối, không bị giới hạn.
Việc thực thi quyền này phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, nhằm bảo đảm hài
hòa giữa quyền cá nhân với lợi ích của cộng đồng, quốc gia, dân tộc. Đây là
nguyên tắc phổ quát, được chính Công ước quốc tế
về các quyền dân sự và chính trị thừa nhận khi cho phép các quốc gia áp
dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng,
đạo đức xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác. Thực tế cho thấy,
những trường hợp bị xử lý theo pháp luật tại Việt Nam thời gian qua không phải
vì họ “bày tỏ quan điểm” một cách ôn hòa, mà vì đã lợi dụng quyền tự do ngôn luận
để thực hiện các hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng, như tuyên truyền chống
Nhà nước, kích động bạo lực, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, hoặc phát
tán thông tin sai sự thật gây hoang mang trong xã hội.
Vì vậy, việc HRW
quy kết Việt Nam “hình sự hóa tự do ngôn luận” thực chất là sự đánh tráo khái
niệm, cố tình đồng nhất giữa hành vi vi phạm pháp luật với việc thực thi quyền
tự do ngôn luận. Đây không chỉ là sự xuyên tạc thực tế, mà còn nhằm mục đích
gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, phục
vụ ý đồ vận động quốc tế với mục đích đen tối, cần bị vạch trần, bác bỏ./.
Tự do báo chí, hay tự do xuyên tạc?
Trên trang Baoquocdan, bút danh Lê Phi có bài viết: “Cái bẫy vô minh thể chế”, từ đó đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng: Việt Nam tuy có hệ thống báo chí nhưng “không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”, dẫn tới hạn chế nhận thức xã hội; sự “thiếu hiểu biết” trở thành đặc điểm cấu trúc do hệ thống thông tin bị kiểm soát, từ đó kìm hãm phát triển dài hạn. Nhìn bề ngoài, lập luận có vẻ logic, “khoa học”. Nhưng đi sâu sẽ thấy, thực chất đây là sự xuyên tạc trắng trợn, vu khống theo kiểu lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm và suy diễn chủ quan.
Thứ
nhất, Lê Phi vu khống “Việt Nam không có tự
do báo chí”. Lê Phi cố tình sử dụng con số “hơn 880 cơ quan báo chí, hơn 70 đài phát thanh - truyền hình” như
một tiền đề, rồi phủ định toàn bộ bằng kết luận “không có tự do”. Đây là thủ pháp quen thuộc: đưa ra một thực tế hiển
nhiên, sau đó gán cho nó một ý nghĩa hoàn toàn trái ngược để tạo cảm giác “nghịch lý”. Thực chất, là sự ngụy biện
trơ tráo, Lê Phi đã cố tình đánh tráo giữa “tự
do có trách nhiệm” và “tự do vô điều
kiện”, rồi lấy cái không tồn tại để phủ định cái đang tồn tại.
Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: tự do báo chí
không đồng nghĩa với tự do vô chính phủ, bỏ qua việc quản lý, kiểm duyệt thông
tin. Ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả những nước được coi là “chuẩn mực tự do”, báo chí vẫn vận hành trong khuôn khổ pháp luật,
chuẩn mực đạo đức và lợi ích quốc gia. Không có một mô hình “tự do tuyệt đối” nào tồn tại ngoài lý
thuyết. Ở Việt Nam, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của
Nhân dân. Điều này không phải là hạn chế, mà là định hướng chính trị - xã hội
phù hợp với đặc thù chế độ.
Thực tiễn cho thấy, báo chí Việt Nam
không hề “câm lặng” như cách Lê Phi
ám chỉ trong bài viết. Ngược lại, hàng loạt vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai
phạm trong quản lý đã được báo chí phản ánh, góp phần thúc đẩy xử lý kỷ luật và
hoàn thiện thể chế. Nếu “không có tự do”,
liệu những vụ án lớn, những sai phạm trong bộ máy có được phanh phui công khai?
Hay chính điều đó lại chứng minh rằng tự do báo chí ở Việt Nam là tự do trong
khuôn khổ, có trách nhiệm, chứ không phải tự do vô pháp, vi phạm đạo đức, quy tắc
xã hội dẫn tới hỗn loạn thông tin.
Thứ
hai,
Lê Phi huyễn hoặc về cái gọi là “vô minh
thể chế”. Lê Phi đã mượn ý tưởng, khái niệm về thể chế và thông tin để đưa
ra kết luận rằng xã hội Việt Nam bị hạn chế nhận thức do “cấu trúc thông tin”, do thể chế. Nhưng Y đã cố tình lờ đi thực tế
rằng nhận thức xã hội không chỉ phụ thuộc vào kênh cung cấp thông tin chính thức,
mà còn đến từ nhiều nguồn đa dạng.
Trong bối cảnh hiện nay, internet, mạng
xã hội, nền tảng xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, người dân Việt Nam có thể
tiếp cận thông tin từ khắp nơi trên thế giới. Chính Lê Phi cũng thừa nhận điều
này trong bài viết, nhưng lại rơi vào một nghịch lý: vừa nói “thông tin bị hạn chế”, vừa thừa nhận “ai cũng có thể đọc báo quốc tế, xem
YouTube”, v.v. Vậy rốt cuộc là thiếu thông tin hay thừa thông tin?
Thực tế cho thấy, vấn đề của thời đại
không phải là thiếu thông tin, mà là thừa thông tin, nhiễu thông tin và thông
tin sai lệch. Khi đó, vai trò của hệ thống báo chí chính thống và quản lý thông
tin không phải là “làm nghèo nhận thức”,
mà là định hướng, sàng lọc và bảo đảm độ tin cậy của thông tin. Nếu buông lỏng
hoàn toàn, cái gọi là “đa dạng thông tin”
rất dễ biến thành “hỗn loạn thông tin”,
nơi tin giả, tin độc hại lấn át sự thật. Khi đó, “vô minh” không phải do thể chế tạo ra, mà do thiếu cơ chế kiểm chứng
và dẫn dắt thông tin. Nói cách khác, Lê Phi đã nhìn nhận một chiều khi coi mọi
sự quản lý là hạn chế, mà không thấy rằng chính sự thiếu quản lý mới là mảnh đất
màu mỡ cho sự sai lệch nhận thức.
Những luận điểm xuyên tạc, vu khống của
Lê Phi về vấn đề “không có tự do báo chí”
và “vô minh thể chế” thực chất dựa
trên những tiền đề phiến diện và cách suy luận thiếu toàn diện. Chúng cố tình bỏ
qua đặc thù chế độ chính trị - xã hội, đánh tráo khái niệm “tự do” và đơn giản hóa một vấn đề phức tạp thành những kết luận
đơn giản dễ gây hiểu lầm. Cái đáng nói không phải là việc đặt vấn đề bởi phản
biện luôn là điều cần thiết. Nhưng phản biện mà dựa trên cách nhìn một chiều,
phiến diện, quy chụp, vu khống như Lê Phi thì rất cần lên án, đấu tranh, bác bỏ./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)
Thành công chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là không thể xuyên tạc, phủ nhận
Chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thành công tốt đẹp. Một tầm cao mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc đã mở ra sau chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử này. Đồng thời, khẳng định sự tin cậy chính trị giữa hai bên được tăng cường, tiếp tục phát huy vai trò gắn kết, định hướng chiến lược và tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới, “đóng góp tích cực cho phát huy truyền thống hữu nghị Việt - Trung, đẩy nhanh xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển, phồn vinh của khu vực và thế giới” như Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc đã công bố ngày 17/4/2026 (Tuyên bố chung năm 2026).
Thành công là không thể phủ nhận và kết
quả đạt được từ chuyến thăm Trung Quốc này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô
Lâm thể hiện qua lễ đón trọng thị cấp Nhà nước; hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch
Trung Quốc Tập Cận Bình và hội kiến với các lãnh đạo khác của Trung Quốc; các
hoạt động dày đặc; chứng kiến Lễ ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác trên các
lĩnh vực (kênh Đảng, quốc phong, an ninh, tư pháp, kinh tế, khoa học công nghệ,
chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, dân sinh, truyền thông và địa phương,…) không
chỉ thể hiện thành quả toàn diện mà hai bên đạt được trong chuyến thăm này, mà
còn đồng thời bác bỏ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt của tổ chức Việt Tân, Hội
anh em dân chủ; tài khoản fb “Hạt Lúa Kẻ Gai”, “Nhật ký yêu nước”, Trân Văn, Lê
Anh, Nguyễn Văn Đài,… khi cố tình kích động dư luận bằng những luận điệu phản động,
như: “Tô Lâm lệ thuộc Trung Quốc” nên đã vội đi “bái kiến thiên triều”, “chầu họ
Tập”, “nhận sắc phong”, “đi xin chỉ thị”, v.v.
Thứ
nhất, khẳng định chắc chắn rằng, chuyến thăm
cấp Nhà nước đến pTrung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu
nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không phải vì “lệ thuộc” mà là chủ động
“lựa chọn”; không phải đi “bái kiến” mà là “thăm cấp Nhà nước”; không phải “xin
chỉ thị” mà là “hội đàm và ký kết”. Bởi thực tế cho thấy, việc lựa chọn thăm
Trung Quốc sau khi được Đại hội XIV và Quốc hội khóa XVI bầu làm Tổng Bí thư,
Chủ tịch nước không chỉ thể hiện rõ tầm nhìn, bản lĩnh, quan điểm ưu tiên đối
ngoại, phản ánh xu hướng tăng cường quan hệ giữa hai nước của người đứng đầu Đảng,
Nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh thế giới
nhiều diễn tiến phức tạp và đất nước vươn mình bước vào kỷ nguyên mới, mà còn
là hiện thực hóa Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới
và đường lối đối ngoại của Đại hội XIV. Đồng thời, chuyến thăm này không chỉ củng
cố và đưa quan hệ song phương Việt Nam - Trung Quốc lên một tầm cao mới, hiệu
quả, thiết thực, sâu sắc hơn, mà còn thêm một lần khẳng định: “Việt Nam luôn
coi việc phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, lựa chọn
chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ,
tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; ủng hộ các sáng kiến toàn cầu của Trung
Quốc về phát triển, an ninh, văn minh và quản trị; nhất quán thực hiện chính
sách “một Trung Quốc” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại
cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 15/4/2026.
Thứ
hai, việc bóp méo sự thật, xuyên tạc bản chất
quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nói chung, những chuyến thăm Trung Quốc của
các đồng lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, có Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm nói riêng là thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, các phần tử
bất mãn, cơ hội chính trị, phản động, như: tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ;
tài khoản fb “Hạt Lúa Kẻ Gai”, “Nhật ký yêu nước”, Trân Văn, Lê Anh, Nguyễn Văn
Đài,… ưa dùng để tuyên truyền có chủ đích nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng,
Nhà nước, chế độ. Tuy nhiên, thủ đoạn tuyên truyền, chống phá đen tối, xảo
quyệt, kích động dư luận với tâm lý “bài Trung” cũng không thể bôi đen được sự
thật và càng không thể phủ nhận được sự đón tiếp trọng thị; tình hữu nghị truyền
thống lâu đời giữa hai Đảng, hai nước; sự gắn bó của tình anh em giữa hai dân tộc
“có núi liền núi, sông liền sông”, có mối tình hữu nghị đặc biệt được Chủ tịch
Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, bao thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và
nhân dân hai dân tộc dày công vun đắp.
Việc Tuyên bố chung năm 2026 khẳng
định “hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc cùng nỗ lực thúc đẩy sự nghiệp
xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước phát triển mạnh mẽ, thể hiện với thế giới sức sống
mạnh mẽ và triển vọng tươi sáng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai bên cần kiên
trì lý tưởng và ý chí, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên trì đi theo
con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình của mỗi nước, thúc đẩy kinh tế
xã hội phát triển chất lượng cao, tăng cường đoàn kết, hợp tác, học hỏi lẫn
nhau, không ngừng làm sâu sắc nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản,
quy luật về xây dựng chủ nghĩa xã hội, quy luật phát triển của nhân loại, cùng
bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa của hai nước, cùng chung tay nỗ lực vì sự
nghiệp cao cả cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại, luôn đi tiên phong trước
thời đại, tiến về phương hướng đúng đắn trong tiến trình lịch sử với sự thay đổi
sâu sắc của tình hình thế giới” đã cho thấy cả Trung Quốc và Việt Nam cùng coi
trọng chuyến thăm này.
Thứ
ba,
báo chí Trung Quốc, Việt Nam đưa tin đậm
nét chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc, nhất là nội dung toàn diện,
sâu sắc của Tuyên bố chung năm 2026; trong đó, có việc cho rằng “Việt Nam -
Trung Quốc cùng chung chí hướng và con đường, chia sẻ tương lai chung, phát triển
tốt quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, toàn cục và lịch sử,
là sự lựa chọn chiến lược chung của hai nước. Trung Quốc nhấn mạnh kiên trì
chính sách hữu nghị với Việt Nam, luôn coi Việt Nam là phương hướng ưu tiên
trong chính sách ngoại giao láng giềng” và “hai bên nhất trí tăng cường kết nối
chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối
giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường;
thúc đẩy thương mại song phương gắn với kết nối hạ tầng, kết nối logistics và kết
nối thị trường, phát triển mạnh xây dựng các hành lang kinh tế qua biên giới,
các trung tâm logistics, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, cụm công nghiệp tại
khu vực biên giới và các tuyến vận tải đa phương thức”,… chính là minh chứng
cho thấy lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
đặt lên trên hết, trước hết, chứ không phải “chọn” đi thăm Trung Quốc để bảo vệ
“lợi ích nhóm cầm quyền” và quên đi “Hoàng Sa, Trường Sa”; là góp phần vào việc
giữ gìn hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực và trên thế giới, chứ không
phải Việt Nam lún sâu vào quỹ đạo, vòng xoáy “lệ thuộc Bắc Kinh” như bịa đặt.
Vì thế, kết quả đạt được của chuyến thăm
này đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc vô căn cứ, bịa đặt trắng trợn, kích động tâm lý
“bài Trung” cực đoan và bẻ cong sự thật về mối quan hệ ngoại giao Việt Nam -
Trung Quốc cũng như chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam./.
(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)
Apr 16, 2026
Tính chính danh của Đảng Cộng sản Việt Nam qua thực tiễn lịch sử và hiện tại
1. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng duy nhất có tính chính danh ở Việt Nam, hiện nay. Đảng Cộng sản Việt Nam là đảng cầm quyền duy nhất, lãnh đạo Nhà nước và xã hội, với tính chính danh được khẳng định qua lịch sử đấu tranh giành độc lập và sự tin tưởng của Nhân dân. Đảng đã lãnh đạo thành công Cách mạng Tháng Tám 1945, giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa Việt Nam phát triển trong thời kỳ mới. Hiện nay, cơ sở chính danh cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam là tính pháp lý, lịch sử và nguyên tắc hoạt động được ghi rõ trong Điều 4 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quy định: Đảng là đội tiên phong của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và dân tộc, là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Đảng được sự thừa nhận của nhân dân, vai trò cầm quyền không phải tự thân mà được nhân dân lựa chọn thông qua thực tiễn cách mạng hơn 90 năm qua và Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng, và là đầy tớ trung thành của Nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng dựa trên nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Sự lãnh đạo của Đảng đã được lịch sử thừa nhận, được Nhân dân ghi nhận, quốc tế công nhận. Đó không chỉ là tính chính danh, mà còn là chính đáng, chính nghĩa của Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền.
2. Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng cầm quyền có đủ uy tín và vai trò to lớn để lãnh đạo đất nước trong kỷ vươn mình của dân tộc. Từ khi thành lập đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước qua các thời kỳ, có lúc đổi tên gọi nhưng bản chất vẫn là đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Lãnh đạo dân tộc giành độc lập, đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, từng bước đem lại cuộc sống ấm no cho nhân dân. Ba tiêu ngữ dưới tên gọi của đất nước “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” chính là sự cam kết của chính quyền, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Nhân dân. Không có nước nào trên thế giới mà người dân gọi là “Đảng ta”, tức là Đảng của chúng ta.
Trong suốt quá trình lãnh đạo, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích của quốc gia, dân tộc. Sự phát triển của đất nước gắn rất chặt với vai trò lãnh đạo của Đảng, ngược lại sự phát triển của quốc gia, của dân tộc khẳng định uy tín, vị thế cho Đảng. Nhìn lại 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế duy trì tốc độ phát triển tương đối nhanh, trở thành nước đang phát triển thu nhập trung bình. Các lĩnh vực văn hóa, xã hội có nhiều tiến bộ, đời sống nhân dân được cải thiện một cách căn bản và toàn diện. Quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội được bảo đảm, tiềm lực của nền quốc phòng toàn dân được xây dựng khá toàn diện. Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân với Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa. Việt Nam đã chủ động, tích cực đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu, rộng và toàn diện; tích cực tham gia vào nỗ lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, là thành viên có uy tín, trách nhiệm, phát huy vai trò tích cực tại các thể chế khu vực và quốc tế.
Tóm lại, bài viết của Ngô Tràng An là luận điệu phản động, xuyên tạc, cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Những quan điểm sai trái đó hoàn toàn không có cơ sở, suy diễn thiếu căn cứ, không phù hợp với tình hình thực tiễn hiện nay ở Việt Nam. Chúng ta luôn tin tưởng, với uy tín lãnh đạo, niềm tin của Nhân dân và những thành tựu to lớn đạt được của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, mọi luận điệu xuyên tạc trên nhất định sẽ bị đấu tranh bác bỏ./.
Apr 15, 2026
Bác bỏ quan điểm xuyên tạc của Việt Tân về chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
Tre Việt - Ngày 14/4, trang facebook Việt Tân đăng bài “Quan điểm của Việt Tân về chuyến thăm Trung Quốc của Tô Lâm”. Trong bài viết, Việt Tân đưa ra luận điệu lố bịch rằng: “Chuyến đi của Tô Lâm là minh chứng cho sự thắt chặt sợi dây xích lệ thuộc vào Bắc Kinh, gắn chặt tương lai dân tộc vào một mô hình độc tài khét tiếng. Vì vậy, Việt Tân phản đối chuyến thăm Trung Quốc của Tô Lâm”. Không chỉ vậy, họ còn diễn trò hề khi đưa ra lời kêu gọi “hãy lên án Đảng Cộng sản Việt Nam thắt chặt mối quan hệ với Trung Quốc”.
Cần khẳng định ngay, đây là chiêu trò
như là “bình mới rượu cũ” lố bịch của Việt Tân, cũng như các thế lực thù địch,
phản động, chống đối chính trị vẫn thường sử dụng mỗi dịp lãnh đạo Đảng, Nhà nước
Việt Nam có chuyến thăm cấp cao tới Trung Quốc, hoặc ngược lại; chiêu trò này lại
tiếp tục tái diễn để xuyên tạc chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc của Tổng
Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm lần này.
Như thông tin từ Bộ Ngoại giao, từ ngày
14 - 17/4, nhận lời mời của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình
và Phu nhân, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm, cùng Phu nhân và đoàn đại
biểu cấp cao Việt Nam sẽ thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc. Đây là chuyến thăm cấp
Nhà nước đầu tiên của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm trên cương vị lãnh
đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước, diễn ra đúng một năm sau chuyến thăm cấp Nhà
nước đến Việt Nam của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình (từ ngày
14 - 15/4/2025); đồng thời, là lần thứ ba trong thời gian ngắn chưa đầy hai
năm, hai đồng chí lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước tiến hành thăm song
phương. Chuyến thăm lần này mang 3 ý nghĩa rất đặc biệt:
Trước
hết,
chuyến thăm đánh dấu một khởi đầu mới
trong quan hệ song phương khi cả hai nước đều bước vào giai đoạn phát triển mới.
Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới sau thành công rất tốt đẹp của Đại hội
Đảng toàn quốc lần thứ XIV, Trung Quốc khởi đầu triển khai Quy hoạch phát triển
kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 15. Việc hai bên sớm tổ chức chuyến thăm thể hiện
sự coi trọng hàng đầu và quyết tâm cao của hai bên đối với việc phát triển mối
quan hệ “vừa là đồng chí, vừa là anh em” ngày càng bền vững hơn, ổn định, thực
chất hơn trong thời gian tới.
Thứ
hai, chuyến
thăm là dịp rất quan trọng để nâng tầm gắn kết chiến lược và xác lập tầm cao mới
cho cho quan hệ hai Đảng, hai nước. Lãnh đạo cao nhất của hai Đảng, hai nước
sẽ cùng xác định những định hướng mới, đột phá mới trong hợp tác kinh tế -
thương mại, đầu tư và du lịch, hợp tác chuỗi cung ứng, chuỗi sản xuất, giáo dục
đào tạo, khoa học công nghệ, nỗ lực cùng hiện thực hóa mục tiêu, khát vọng phát
triển của mỗi nước.
Thứ
ba,
chuyến thăm sẽ góp phần tăng cường tin cậy
chính trị, thúc đẩy các giải pháp tháo gỡ một số vấn đề còn khác biệt, vướng mắc,
tăng cường giao lưu nhân dân và hợp tác địa phương, từ đó góp phần làm cho
mối quan hệ hai nước ngày càng ổn định, bền vững, góp phần tích cực vào hòa
bình, ổn định, hợp tác trong khu vực và trên thế giới.
Có thể thấy, mối quan hệ ngày càng ổn định,
hiệu quả và thực chất giữa hai nước sẽ góp phần đắc lực cho việc hiện thực hóa
các mục tiêu tăng trưởng, phát triển của cả Việt Nam và Trung Quốc trong kỷ
nguyên mới, góp phần giữ vững ổn định, an ninh, hợp tác và phát triển trong bối
cảnh tình hình thế giới, khu vực bất ổn, bất định hiện nay. Chính vì vậy, chuyến
thăm lần này được kỳ vọng sẽ là chuyến thăm có ý nghĩa đặc biệt, tạo dấu ấn, tạo
xung lực mới cho quan hệ song phương.
Chúng ta tin tưởng rằng, những thành tựu
đạt được thời gian qua không chỉ góp phần làm sâu sắc hơn quan hệ hai Đảng, hai
nước, mà còn đóng vai trò quan trọng đối với ổn định và phát triển của khu vực.
Đây là nền tảng vững chắc để hai bên tiếp tục đưa quan hệ song phương phát triển
theo hướng ổn định, lành mạnh, bền vững và lâu dài trong thời gian tới, đồng thời
cũng là tiền đề quan trọng để mở ra những đột phá, đưa quan hệ hai nước bước
vào giai đoạn phát triển ở tầm cao mới, với động lực và không gian hợp tác mới
nhân chuyến thăm cấp Nhà nước tới Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô
Lâm.
Vì vậy, cái gọi là “Quan điểm của Việt Tân về chuyến thăm Trung Quốc của Tô Lâm”, mà
Việt Tân rêu rao chỉ là trò hề lố bịch vì chẳng lừa bịp, kích động được ai và
nhất định sẽ bị đấu tranh bác bỏ, làm phá sản./.
Apr 14, 2026
Việc nhất thể hóa Tổng Bí thư và Chủ tịch nước có phải là “thu gom quyền lực” không?
Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XVI đã tiến hành bầu Chủ tịch Quốc hội, Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ và các chức danh lãnh đạo Nhà nước, Quốc hội và Chính phủ cho nhiệm kỳ mới. Lợi dụng sự kiện này, các thế lực thù địch và phản động tập trung xuyên tạc, nhất là chức danh Chủ tịch nước được nhất thể hóa với Tổng Bí thư là “thu gom quyền lực”, “biểu hiện độc tài”,… để kích động sự chống đối và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng. Do vậy, người viết có đôi điều trao đổi để làm rõ vấn đề này.
Đại hội XIV của Đảng và cuộc bầu cử đại
biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 -
2031 diễn ra trong bối cảnh đất nước bước sang kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn
mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng. Tình hình thế giới có những
biến chuyển mau lẹ, nhanh chóng và khó lường. Bởi vậy, trong bối cảnh đó việc
nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước do đồng chí Tô Lâm đảm
nhiệm là phù hợp với tình hình thực tiễn của đất nước và thế giới hiện nay chứ
không phải là “thu gom quyền lực” hay “biểu hiện độc tài”. Những luận điệu
xuyên tạc, công kích này bất chấp thực tiễn tất yếu xuất phát từ yêu cầu nội tại
của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy theo hướng ngày càng thống nhất và
hiệu quả.
Việc nhất thể hóa đã có tiền lệ trong
quá trình xây dựng đất nước ta. Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời, Người đảm
nhiệm vai trò Chủ tịch Đảng và Chủ tịch nước để cùng Trung ương Đảng lãnh đạo
nhân dân ta lập nên những kỳ tích vang dội trong sự nghiệp đấu tranh và bảo vệ
Tổ quốc, Ngày 2-9-1969, Người về với “thế giới người hiền” đã để lại cho toàn Đảng,
toàn dân ta Bản Di chúc bất hủ mang tầm vóc chiến lược của thời đại. Thực hiện
Di chúc của Người, Đảng ta đã lãnh đạo toàn dân, toàn quân “đánh cho Mỹ cút,
đánh cho ngụy nhào”, đưa non sông thống nhất, cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội
và tiến hành sự nghiệp đổi mới 40 năm qua đã đạt được nhiều thành tựu to lớn và
có ý nghĩa lịch sử. Tháng 9/2018, sau khi Chủ tịch nước Trần Đại Quang từ trần,
Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã được Quốc hội khóa XIV bầu giữ chức Chủ tịch nước
và Đồng chí cùng một lúc giữ hai chức danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước đến
tháng 4/2021 đều hoàn thành xuất sắc các nhiệm vụ trước Đảng và nhân dân giao
phó.
Việc nhất thể hóa hai chức danh Tổng Bí
thư và Chủ tịch nước để thực hiện vai trò lãnh đạo toàn diện, sâu sắc với Nhà
nước như Hiến pháp đã quy định. Đồng thời, thể hiện một cách đầy đủ nhất vai
trò nguyên thủ quốc gia trong hệ thống chính trị có một Đảng duy nhất cầm quyền,
nhất là trong bối cảnh Đảng lãnh đạo hệ thống chính trị vừa tiến hành thành
công cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy từ Trung ương đến địa phương theo
phương châm tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả để đưa đất nước bước
vào kỷ nguyên mới.
Về đối ngoại việc nhất thể hóa hai chức
danh Tổng Bí thư và Chủ tịch nước sẽ thể hiện nâng tầm đại diện quốc gia trên
trường quốc tế; tạo sự tương thích với thông lệ quốc tế và phát huy cao nhất
truyền thống ngoại giao “cây tre Việt Nam”, triển khai nhất quán đường lối đối
ngoại của Đảng và Nhà nước ta theo Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng là “Thực hiện
nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và
phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại…Bảo đảm cao nhất lợi
ích quốc gia – dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp
quốc và luật pháp quốc tế…”. Chúng ta cũng thấy rằng, các nước có chế độ chính
trị tương thích với Việt Nam từ lâu đã thể hiện việc nhất thể hóa hai chức danh
trên, như: Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân
dân Trung hoa Tập Cận Bình; Tổng Bí thư Đảng Nhân dân Cách mạng Lào, Chủ tịch
nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào Thongloun Sisoulith, v.v. Còn các nước có chế độ
chính trị khác nhưng trong bối cảnh hội nhập toàn cầu sâu rộng như hiện nay thì
người đứng đầu Đảng, người đứng đầu nhà nước cùng đứng đầu một chức danh sẽ phù
hợp và thuận lợi hơn khi thay mặt cho quốc gia đối ngoại. Do vậy, việc nhất thể
hóa hai chức danh trên bảo đảm các quyết sách đối ngoại được triển khai nhất
quán, hiệu quả.
Như vậy, trên cương vị Tổng Bí thư, Chủ
tịch nước, đồng chí Tô Lâm sẽ thực hiện vai trò lãnh đạo một cách chính danh
trong công tác đối nội và đối ngoại, tăng tính thông suốt trong chỉ đạo, điều
hành, chịu trách nhiệm trước Đảng và nhân dân về các quyết sách lớn và nâng tầm
đại diện quốc gia trong quan hệ quốc tế. Chúng ta tin tưởng việc nhất thể hóa
hai chức danh lãnh lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước là một chủ trương
đúng đắn, một dấu mốc mới thể hiện tư duy đổi mới đột phá của Đảng đảm bảo cơ sở
khoa học và thực tiễn để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc,
chứ không phải như những luận điệu xuyên tạc, bôi đen, vu cáo của các thế lực
thù địch, phản động là nhất thể hóa ở Việt Nam nhằm “thu gom quyền lực” và càng
không phải là “biểu hiện độc tài”. Điều đó hoàn toàn sai với bản chất của chế độ
xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.
(Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)








