Jun 26, 2026

Vạch trần âm mưu lợi dụng vấn đề báo chí để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

           Tre Việt - Nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của Nhân dân làm điểm xuất phát. Đây là sự khẳng định nhất quán quan điểm của Đảng về vai trò, trách nhiệm xã hội và sứ mệnh chính trị của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau phát biểu này, ngày 20/6 trên trang facebook Việt Tân, đã đưa ra quan điểm thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc rằng việc yêu cầu báo chí “tôn trọng sự thật” đồng nghĩa với việc báo chí Việt Nam lâu nay không được phản ánh sự thật; từ đó quy kết rằng muốn báo chí trung thực thì phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ cơ quan định hướng tư tưởng và cơ chế quản lý báo chí hiện hành. Đây là lập luận phiến diện, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, mang động cơ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí cách mạng.

Trước hết, cần khẳng định rằng “tôn trọng sự thật” là nguyên tắc nghề nghiệp phổ quát của báo chí trên toàn thế giới, không phải là sự thừa nhận tồn tại một nền báo chí “không trung thực” như các thế lực chống phá cố tình suy diễn. Trong bất kỳ quốc gia nào, báo chí cũng luôn được yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin, bảo đảm tính khách quan, chính xác và trách nhiệm xã hội. Việc người đứng đầu Đảng, Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu này thể hiện quyết tâm xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc và quyền lợi chính đáng của Nhân dân.

Lập luận cho rằng báo chí Việt Nam không được phản ánh sự thật vì chịu sự lãnh đạo của Đảng là sự đánh tráo khái niệm giữa “định hướng chính trị” với “kiểm duyệt sự thật”. Trên thực tế, mọi quốc gia đều có những cơ chế quản lý truyền thông phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, văn hóa và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Ngay tại các nước tự nhận có nền báo chí “hoàn toàn tự do”, hệ thống pháp luật vẫn đặt ra nhiều giới hạn liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, chống kích động bạo lực, chống khủng bố, chống thù hận sắc tộc, bảo vệ trẻ em và quyền riêng tư cá nhân.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo báo chí không nhằm hạn chế quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân mà nhằm bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ lợi ích quốc gia và định hướng dư luận xã hội trước những vấn đề phức tạp. Điều này được thể chế hóa bằng Hiến pháp năm 2013, Luật Báo chí 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

Thực tiễn cho thấy, báo chí Việt Nam đã và đang phản ánh sinh động mọi mặt của đời sống xã hội. Hàng loạt vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được báo chí phát hiện, đấu tranh và góp phần thúc đẩy các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn được dư luận biết đến có sự tham gia tích cực của báo chí trong việc phát hiện, phản ánh và giám sát xã hội.

Bên cạnh đó, cần nhận thức rằng quyền tự do báo chí không đồng nghĩa với tự do vô hạn. Báo chí chân chính phải gắn liền với trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và tuân thủ pháp luật. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, các thế lực thù địch thường lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” để phát tán thông tin sai sự thật, bóp méo bản chất vấn đề, gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá chế độ. Vì vậy, việc duy trì cơ chế quản lý, định hướng và bảo đảm môi trường thông tin lành mạnh không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là trách nhiệm của mỗi quốc gia có chủ quyền.

Đặc biệt, luận điệu đòi “dẹp bỏ Ban Tuyên giáo” và xóa bỏ vai trò định hướng tư tưởng đối với báo chí thực chất là nhằm từng bước phi chính trị hóa báo chí cách mạng, tách báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những thủ đoạn quen thuộc mà các thế lực cơ hội chính trị và phản động thường sử dụng để thúc đẩy cái gọi là “đa nguyên truyền thông”, tiến tới “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Lịch sử thế giới cho thấy ở nhiều quốc gia, khi truyền thông bị các nhóm lợi ích thao túng, thông tin không còn phục vụ lợi ích cộng đồng mà trở thành công cụ phục vụ lợi ích kinh tế hoặc mục tiêu chính trị của một số thế lực nhất định.

Đối với Việt Nam, báo chí cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện luôn mang bản chất cách mạng, tính nhân dân sâu sắc và tính chiến đấu mạnh mẽ. Trong suốt hơn một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc trong đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu đó khẳng định vai trò sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với báo chí, chứ không phải là trở ngại đối với việc phản ánh sự thật như một số người cố tình xuyên tạc.

Yêu cầu bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của Nhân dân làm điểm xuất phát là lời nhắc nhở về trách nhiệm nghề nghiệp cao cả của người làm báo trong giai đoạn mới. Điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn với vai trò lãnh đạo của Đảng, càng không thể bị lợi dụng để cổ súy cho những luận điệu phủ nhận nền tảng chính trị, pháp lý của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Bảo vệ sự thật không đồng nghĩa với từ bỏ định hướng; tôn trọng sự thật càng không đồng nghĩa với phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, phản ánh trung thực đời sống xã hội, đấu tranh chống cái xấu, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc và phục vụ ngày càng tốt hơn quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Vì vậy, với âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề báo chí để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn sai trái, cần đấu tranh bác bỏ./.

 

Jun 24, 2026

Nhận diện và đấu tranh với chiêu trò xuyên tạc mới của Việt Tân

Trên trang Viettan, tổ chức phản động Việt Tân đăng bài viết “Bản lên tiếng của đảng Việt Tân: Chế độ Tô Lâm đang khủng bố nội địa và khủng bố xuyên quốc gia”, tiếp tục tung ra những luận điệu cực đoan, sai trái nhằm vu cáo Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp đối lập”, “khủng bố người bất đồng chính kiến”, thậm chí xuyên tạc hoạt động bảo vệ an ninh quốc gia thành “khủng bố xuyên quốc gia”. Đây là luận điệu phản động, xuyên tạc bản chất Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động chống đối và tạo cớ gây sức ép đối với Việt Nam. Do đó, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Thứ nhất, Việt Nam không tồn tại cái gọi là “khủng bố nội địa” như luận điệu xuyên tạc của Việt Tân. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin và tham gia quản lý nhà nước, xã hội của công dân. Tuy nhiên, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, quyền tự do phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không thể bị lợi dụng để kích động chống phá Nhà nước, phát tán thông tin sai sự thật hay gây rối an ninh, trật tự xã hội.

Việt Tân cố tình đánh tráo khái niệm giữa “xử lý vi phạm pháp luật” với “đàn áp chính kiến”. Trên thực tế, không ai ở Việt Nam bị xử lý chỉ vì bày tỏ quan điểm cá nhân hay phản biện ôn hòa. Những trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều liên quan đến hành vi cụ thể như tuyên truyền chống Nhà nước, móc nối tổ chức phản động, kích động cực đoan hoặc gây mất ổn định xã hội.

Ngay tại nhiều nước phương Tây, các hành vi đe dọa an ninh quốc gia hay kích động cực đoan cũng bị xử lý nghiêm khắc. Hoa Kỳ từng truy tố hàng loạt đối tượng liên quan vụ bạo loạn Đồi Capitol năm 2021; nhiều quốc gia châu Âu tăng cường kiểm soát các tổ chức cực đoan và nội dung kích động trên không gian mạng. Vì vậy, việc Việt Nam xử lý hành vi vi phạm pháp luật nhằm bảo vệ ổn định xã hội hoàn toàn phù hợp với thông lệ quốc tế.

Thực tiễn cũng bác bỏ hoàn toàn luận điệu vu cáo của Việt Tân. Việt Nam hiện có khoảng 78 triệu người sử dụng internet và mạng xã hội; hàng trăm cơ quan báo chí, hàng nghìn trang thông tin điện tử hoạt động thường xuyên. Người dân có thể phản ánh, kiến nghị, tham gia phản biện xã hội trên nhiều nền tảng khác nhau. Nhiều vụ việc tiêu cực, tham nhũng lớn được phát hiện từ phản ánh của báo chí và Nhân dân, cho thấy dân chủ và minh bạch ở Việt Nam ngày càng được mở rộng.

Thứ hai, luận điệu vu cáo Việt Nam “khủng bố xuyên quốc gia” là sự bóp méo trắng trợn hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, tư pháp. Việt Tân cố tình lợi dụng một số vụ việc liên quan các đối tượng vi phạm pháp luật ở nước ngoài để dựng lên luận điệu “bắt cóc”, “trấn áp xuyên quốc gia”, nhằm quốc tế hóa vấn đề nội bộ và bôi nhọ hình ảnh Việt Nam. Nhưng ngược lại, chính các tổ chức phản động lưu vong như Việt Tân mới thường xuyên lợi dụng không gian mạng và lãnh thổ nước ngoài để phát tán thông tin sai lệch, kích động chống phá, móc nối các phần tử cực đoan chống Nhà nước Việt Nam dưới vỏ bọc “đấu tranh dân chủ”.

Trên thực tế, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, tham gia nhiều công ước về chống khủng bố, phòng chống tội phạm xuyên quốc gia, dẫn độ tội phạm và tương trợ tư pháp. Mọi hoạt động hợp tác quốc tế về an ninh, tư pháp đều được thực hiện trên cơ sở luật pháp Việt Nam và luật pháp quốc tế. Hơn nữa, thực tiễn phát triển của Việt Nam trong những năm qua là minh chứng thuyết phục bác bỏ các luận điệu xuyên tạc của Việt Tân. Việt Nam tiếp tục duy trì ổn định chính trị - xã hội, tăng trưởng kinh tế thuộc nhóm cao trong khu vực; đời sống Nhân dân không ngừng được nâng lên; quyền con người ngày càng được bảo đảm tốt hơn trên thực tế. Uy tín và vị thế quốc tế của Việt Nam tiếp tục được củng cố thông qua việc mở rộng quan hệ đối tác chiến lược, tham gia tích cực vào các cơ chế đa phương và đóng góp trách nhiệm vào các vấn đề toàn cầu. Việc kiên quyết đấu tranh với các hành vi lợi dụng dân chủ, nhân quyền để chống phá Nhà nước là yêu cầu tất yếu nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia và cuộc sống bình yên của Nhân dân. Không có quốc gia nào chấp nhận việc nhân danh “dân chủ”, “nhân quyền” để kích động chống nhà nước hay gây mất ổn định chính trị - xã hội. Bảo vệ an ninh quốc gia, giữ gìn trật tự an toàn xã hội là trách nhiệm chính đáng của mọi nhà nước.

Tóm lại, bài viết của Việt Tân là sự xuyên tạc có chủ đích nhằm vu cáo Việt Nam “đàn áp dân chủ”, “khủng bố nội địa”, “khủng bố xuyên quốc gia”, qua đó kích động chống phá và gây sức ép chính trị đối với Việt Nam. Những luận điệu sai trái này cần được nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh bác bỏ nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam./.

(nguồn: nhanvanviet.com)

 


Jun 22, 2026

Phản bác luận điệu “Việt Nam không có tự do báo chí”!

          1. Hằng năm, cứ vào dịp Ngày Tự do báo chí thế giới (03/5) hoặc dịp kỷ niệm Ngày Báo chí cách mạng Việt Nam (21/6), các thế lực chống phá cách mạng Việt Nam lại tung ra những quan điểm sai lệch, xuyên tạc về tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam. Điển hình cho những luận điệu sai lệch, xuyên tạc ấy phải kể đến tên đầu sỏ là Tổ chức Phóng viên không biên giới (RSF), tiếp đó là một số trang tiếng Việt ở hải ngoại thiếu thiện chí với Việt Nam, như: BBC, FRA, RFI, VOA,… gần đây là trang Nhật ký yêu nước cùng các đối tượng phản động, chống phá lại tung hứng với giọng điệu loạn ngôn, quy chụp, vu cáo quyền tự do báo chí ở Việt Nam.

Thủ đoạn của chúng thường theo các bước: 1- Tổ chức RSF công bố “Chỉ số Tự do Báo chí Thế giới”, trong đó xếp Việt Nam đứng thứ 174/180 quốc gia để quy kết rằng Việt Nam “không có tự do báo chí”, “đàn áp tiếng nói phản biện”, cố tình đánh tráo khái niệm giữa “tự do báo chí” với “tự do vô giới hạn”; 2- một số tổ chức, cá nhân chống đối tiếp tục viện dẫn cái gọi là “bảng xếp hạng tự do báo chí” để lấn sang mổ xẻ, xuyên tạc thêm.

Cụ thể là trang Nhật ký yêu nước hồ hởi đổ thêm dầu vào lửa, xuyên tạc vô lối rằng “các nhà báo quốc doạn suốt ngày chỉ đi tuyên truyền cho chế độ, ca tụng lãnh đạo, ca tụng Đảng - Nhà nước, bắt người dân yêu nước phải yêu Đảng. Trung Quốc xâm phạm lãnh thổ thì gọi là nước lạ, Cảnh sát giao thông đuổi em học sinh Đăk Lawk tử vong thì gọi là xe lạ. Đó là hậu quả của báo chí mà cứ làm theo chỉ đạo của Đảng Cộng sản”.

Còn BBC, FRA, VOA Tiếng Việt bám theo chỉ số vớ vẩn đó để xuyên tạc trắng trợn rằng: “Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do tư tưởng”, “Việt Nam trở thành nhà tù lớn thứ ba thế giới về tự do báo chí”, “Việt Nam là quốc gia không có tự do ngôn luận, không có tự do báo chí”; “ngoài đàn áp những người làm truyền thông độc lập, bộ máy kiểm duyệt còn thực hiện một số biện pháp khác để hạn chế tự do báo chí ở Việt Nam”; “Việt Nam tiến một bước dù bỏ tù thêm nhiều nhà báo và vẫn là một trong những quốc gia tồi tệ nhất thế giới”, v.v.

Các tổ chức, cá nhân chống phá cách mạng Việt Nam thường lợi dụng những bảng xếp hạng đó để tạo cảm giác rằng Việt Nam “bị quốc tế lên án”, từ đó kích động tâm lý hoài nghi và phủ nhận thành tựu bảo đảm quyền con người ở Việt Nam. Đây là thủ đoạn tuyên truyền quen thuộc: dùng danh nghĩa “quốc tế” để tạo vỏ bọc khách quan cho các luận điệu mang động cơ chính trị.

Thời gian qua, việc bắt giữ, xét xử những đối tượng có hoạt động lợi dụng vấn đề tự do báo chí, tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật như Phạm Thị Đoan Trang, Lê Trọng Hùng, Phạm Chí Dũng… mà họ gọi là “nhà báo độc lập”, “nhà báo công dân”, “nhà báo tự do” là đúng người, đúng tội. Những hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước của các đối tượng mượn danh nhà báo trên là hành vi vi phạm pháp luật, gây bất ổn định xã hội, đi ngược lại với lợi ích, nguyện vọng của nhân dân, của dân tộc. Như vậy, tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được pháp luật đảm bảo theo đúng thông lệ quốc tế.

2. Tự do báo chí ở Việt Nam là quyền hiến định, được bảo đảm bằng pháp luật và thực tiễn. Từ khi Báo Thanh Niên do lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc sáng lập ra số đầu tiên ngày 21/6/1925, nền Báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Cán bộ báo chí cũng là chiến sĩ cách mạng. Cây bút, trang giấy là vũ khí sắc bén”. Trải qua hơn một thế kỷ, báo chí cách mạng luôn là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn hóa, góp phần củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng và lợi ích quốc gia – dân tộc. Hơn 400 nhà báo đã anh dũng hy sinh, minh chứng cho truyền thống chiến đấu vẻ vang của báo chí cách mạng Việt Nam.

Cần khẳng định rõ rằng, ở Việt Nam, quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí là quyền hiến định, được pháp luật bảo vệ. Điều 25 Hiến pháp năm 2013 và Luật Báo chí năm 2016 quy định đầy đủ quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền phản ánh, kiến nghị và tham gia giám sát xã hội của công dân. Vì vậy, những luận điệu cho rằng Việt Nam “không có tự do báo chí” là hoàn toàn sai lệch, cố tình phủ nhận thực tế khách quan.

Bản chất của các luận điệu này là đánh tráo khái niệm giữa quyền tự do báo chí với việc lợi dụng tự do ngôn luận để xuyên tạc sự thật, phát tán tin giả, kích động chống phá Nhà nước và gây mất ổn định xã hội. Không một quốc gia nào cho phép tự do vô giới hạn. Ngay tại nhiều nước phương Tây, các hành vi tung tin sai sự thật, kích động bạo lực, xâm phạm an ninh quốc gia hoặc vu khống cá nhân đều bị xử lý nghiêm theo pháp luật. Do đó, yêu cầu báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật là nguyên tắc chung của mọi quốc gia có chủ quyền, không phải đặc thù riêng của Việt Nam.

Bên cạnh đó, quyền tiếp cận thông tin và bày tỏ chính kiến của người dân ngày càng được mở rộng. Thông qua báo chí và không gian mạng, người dân có thể phản ánh tâm tư, nguyện vọng, góp ý chính sách và tham gia thảo luận các vấn đề xã hội. Báo chí thực sự trở thành diễn đàn của Nhân dân, là cầu nối giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng, góp phần tăng cường dân chủ và đồng thuận xã hội.

Là thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế về quyền con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí. Những nỗ lực của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền biểu đạt, quyền tiếp cận thông tin và tạo điều kiện cho báo chí phát triển là thực tế không thể phủ nhận. Vì vậy, mọi sự xuyên tạc, bóp méo tình hình tự do báo chí ở Việt Nam đều nhằm mục đích hạ thấp uy tín đất nước, gây hoài nghi trong xã hội và phục vụ các ý đồ chống phá về chính trị, tư tưởng. Tự do báo chí ở Việt Nam là có thật, được pháp luật bảo vệ và ngày càng phát triển theo hướng công khai, minh bạch, trách nhiệm. Điều cần cảnh giác là việc lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí” để hợp thức hóa các hoạt động xuyên tạc, chống phá, phát tán thông tin sai sự thật, gây nhiễu loạn dư luận và xâm hại lợi ích quốc gia, dân tộc.

Thực tiễn đời sống báo chí Việt Nam hiện nay là minh chứng sinh động cho quyền tự do báo chí được bảo đảm ngày càng đầy đủ. Hệ thống báo chí phát triển mạnh mẽ trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh. Báo chí không chỉ tuyên truyền chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước mà còn tích cực phản biện xã hội, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và các hành vi vi phạm pháp luật. Nhiều vụ việc lớn liên quan đến quản lý đất đai, giáo dục, y tế, thị trường và đội ngũ cán bộ đã được báo chí phản ánh kịp thời, góp phần thúc đẩy các cơ quan chức năng vào cuộc xử lý. Đó là vai trò, đóng góp của báo chí không thể ai thay thế được, càng không thể xuyên tạc được./.

(Nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Jun 19, 2026

Lật tẩy luận điệu xuyên tạc nền báo chí cách mạng ở Việt Nam

        Tre Việt - Ngày 18/6, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài “Nhà báo, phóng viên nên làm “con chó” của ai!” của Nguyễn Đình Ấm, trong bài viết, họ rêu rao rằng: “Báo chỉ của ta do Đảng quản lý mà trực tiếp là Trưởng ban Tuyên giáo từ Trung ương đến tỉnh, thành, các bộ trưởng truyền thông, tổng biên tập. Vậy phóng viên của báo quốc doanh phải “trung thành” như con chó không?”
        Trước hết, cần khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu xuyên tạc của Nguyễn Đình Ấm và Việt Nam Thời Báo nhằm phủ nhận vai trò của nền báo chí Việt Nam trong đời sống xã hội. Đồng thời, đây còn là sự xúc phạm trắng trợn đến nhân phẩm, danh dự của đội ngũ nhà báo ở Việt Nam.
        Chúng ta đều biết, ở nước ta, từ khi báo chí cách mạng xuất hiện (21/6/1925) tới nay, mục tiêu ngày càng cao của nó là thiết thực phục vụ lợi ích ngày một nhiều của Nhân dân. Luật Báo chí (năm 2025) quy định: “Báo chí của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là báo chí cách mạng, gắn liền với công cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, hoạt động theo hướng chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại. Báo chí là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; cơ quan báo chí là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân”. 
        Báo chí nói chung và sứ mệnh của những người làm báo nói riêng có vai trò rất quan trọng trong sự nghiệp “phò chính, trừ tà”. Điều đó được hiểu: “phò chính”, tức là bảo vệ chính nghĩa, nói lên sự thật, đồng hành với lẽ phải. “trừ tà”, tức dám phản ánh cái xấu, cái ác, chống lại sự phi lý, bất công. Hiểu rộng ra theo nghĩa “phò chính, trừ tà” là phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân, bảo vệ chế độ, bảo vệ cuộc sống, quyền lợi của dân; vạch trần, phê phán và tẩy trừ những gì sai trái, làm tổn hại tới sự nghiệp cách mạng, tới lợi ích chung của xã hội, của Nhân dân.Vì thế, báo chí cũng là một đối tượng cần sự quản lý của Nhà nước. 
        Mục đích của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, bảo đảm quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận. Cũng như bất kỳ dạng quản lý xã hội nào khác, quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước - là công việc của bộ máy hành pháp. Nó là sự tác động của các tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy hành pháp từ Trung ương đến cơ sở, để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của Nhân dân. Quản lý nhà nước đối với báo chí là những hoạt động của bộ máy chính quyền hướng tới sự bảo đảm để báo chí hoạt động ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội.
        Trên thực tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những năm qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã thực hiện sứ mệnh, vai trò xung kích trên mặt trận tư tưởng - văn hóa, đồng hành cùng sự nghiệp cách mạng của Đảng, của dân tộc. Các cơ quan báo chí đã thể hiện tốt chức năng tuyên truyền chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước, là cầu nối của dân với Đảng, truyền đi thông điệp về một Việt Nam đang kiến tạo để phát triển trong kỷ nguyên mới; đồng thời tích cực triển khai nhiều hoạt động xã hội như: Chăm lo hỗ trợ đồng bào nghèo, trẻ em nghèo, phát hiện bồi dưỡng tài năng trẻ trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, thể dục thể thao, v.v. Cùng với cả hệ thống chính trị, báo chí cũng đang thực hiện nghiêm túc việc sắp xếp tổ chức bộ máy để bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đến nay, cả nước có 733 cơ quan báo chí (gồm 98 báo, 597 tạp chí, 38 đài, cơ quan hoạt động phát thanh, truyền hình), giảm 189 cơ quan báo chí.
        Tính đến hết năm 2025, Việt Nam có gần 21.000 nhà báo được cấp thẻ hành nghề, các nhà báo, phóng viên luôn là chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng - văn hóa; đấu tranh loại bỏ cái sai, cái xấu, bảo vệ cái đúng, lan tỏa người tốt việc tốt. Đảng và Nhà nước có có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đến đội ngũ những người làm báo trong quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy; có các giải pháp hỗ trợ phù hợp để ổn định đời sống, giữ chân đội ngũ nhân lực chất lượng cao và tạo động lực để người làm báo yên tâm công tác, gắn bó với nghề, cống hiến lâu dài.
        Điều đó cho thấy, luận điệu mà Nguyễn Đình Ấm và Việt Nam Thời Báo xuyên tạc về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam thực chất chỉ là chiêu bài chính trị của các thế lực thiếu thiện chí nhằm bôi nhọ hình ảnh đất nước, gây chia rẽ và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Tuy nhiên, mọi sự xuyên tạc đều không thể phủ nhận thực tế rằng Việt Nam đang có một nền báo chí phát triển mạnh mẽ, hiện đại, nhân văn và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng./.



Jun 16, 2026

Không thể xuyên tạc việc làm, hành động thiêng liêng trong “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”

         Tre Việt - Lợi dụng việc các cơ quan chức năng tiến hành khảo sát, khai quật khu vực Công viên Lê Thị Riêng (Thành phố Hồ Chí Minh), nhằm tìm kiếm vị trí chôn cất các liệt sĩ hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân 1968, trang facebook Chân Trời Mới Media ngày 15/6 đăng bài: “Công viên Lê Thị Riêng bị khai quật: Hố chôn liệt sĩ 1968 hay mỏ vàng đất đai?” trong đó suy diễn rằng: đây là chiêu bài chính trị lịch sử để hợp thức hóa việc nuốt khu đất công, biến thành dự án thương mại, khách sạn, trung tâm thương mại. Đảng viên và nhóm lợi ích có thể nhân danh tìm kiếm hài cốt liệt sĩ để di dời, giải tỏa, rồi chia chác quyền lợi, v.v.

Đây là thông tin xuyên tạc, hoàn toàn sai sự thật, đi ngược lại truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” tốt đẹp của dân tộc, xúc phạm sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ và phủ nhận những nỗ lực to lớn của Đảng, Nhà nước, Quân đội trong thực hiện chính sách hậu phương Quân đội. Bởi vì:

Thứ nhất, ngay sau khi đất nước thống nhất năm 1975, Đảng, Nhà nước ta đã khẩn trương bắt tay vào xây dựng, phát triển đất nước, khắc phục hậu quả chiến tranh để lại; trong đó có việc tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ đã anh dũng hy sinh vì nền độc lập tự do của Tổ quốc. Theo số liệu thống kê, đến năm 2025, cả nước đã quy tập, an táng được hơn 900.000 hài cốt liệt sĩ. Tuy nhiên, hiện vẫn còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm kiếm, quy tập, nằm ở cả trong và ngoài nước. Chính vì thế, để đẩy nhanh công tác tìm kiếm, quy tập các liệt sĩ còn nằm lại trên các chiến trường, đồng thời giám định ADN, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin, Ban Chỉ đạo quốc gia đã phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh, liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027). Đây là Chiến dịch có ý nghĩa chính trị, nhân văn sâu sắc, thể hiện sự tri ân, trách nhiệm thiêng liêng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta với những người con ưu tú đã cống hiến tuổi thanh xuân, hi sinh xương máu cho độc lập, tự do của Tổ quốc, được các cấp, ngành, địa phương và lực lượng vũ trang triển khai trên phạm vi cả nước với quyết tâm, trách nhiệm cao, dư luận Nhân dân cả nước đồng tình ủng hộ.

Thứ hai, việc khảo sát, khai quật tại Công viên Lê Thị Riêng để tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ hoàn toàn phù hợp với mục tiêu, yêu cầu của “Chiến dịch 500 ngày đêm” và dựa trên nhiều nguồn tài liệu lịch sử, lời kể của nhân chứng, cựu chiến binh, kết quả nghiên cứu chuyên môn. Theo khảo sát thực địa của Ban Chỉ đạo tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh, quá trình xác minh khu vực Công viên Lê Thị Riêng không phải là hoạt động đột xuất mà là kết quả của nhiều năm nghiên cứu, đối chiếu tư liệu lịch sử. Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp rà soát hồ sơ lưu trữ, nghiên cứu bản đồ quân sự, sơ đồ tác chiến, tài liệu giải mật, thu thập lời kể của nhiều nhân chứng lịch sử,... nhằm bảo đảm tính chính xác trước khi kết luận: Khu vực Công viên Lê Thị Riêng là nơi chôn cất tập thể cán bộ, chiến sĩ và đồng bào hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 tại khu vực Chợ Lớn, làm cơ sở báo cáo, tham mưu, đề xuất với Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai các bước tìm kiếm chuyên sâu.

Thứ ba, thực tế đã cho thấy “Chiến dịch 500 ngày đêm” đang được triển khai với tinh thần khẩn trương, bởi thời gian không chờ đợi khi các nhân chứng lịch sử ngày càng ít đi, thông tin về nơi chôn cất liệt sĩ có nguy cơ mai một theo thời gian nên mỗi địa điểm được khảo sát hôm nay có thể là cơ hội cuối cùng để tìm thấy dấu tích của những liệt sĩ đã ngã xuống vì Tổ quốc. Theo cơ quan chức năng, trong quá trình triển khai “Chiến dịch 500 ngày đêm”, các địa phương trên cả nước đã rà soát hàng nghìn địa điểm nghi có mộ liệt sĩ hoặc hố chôn tập thể; trong đó, nhiều khu vực hiện nay là khu dân cư, công trình công cộng, khu đô thị,... nhưng vẫn tiến hành khảo sát khi có căn cứ lịch sử xác đáng. Đầu tháng 6/2026, tỉnh Quảng Ngãi đã triển khai công tác khai quật, tìm kiếm và quy tập hài cốt liệt sĩ tại một số khu vực thuộc phường Đăk Cấm, như: Khu đất trống góc Tây Bắc, góc Đông Nam trong Nghĩa trang liệt sĩ; khu vực bên trái Đài Tổ quốc ghi công và dọc tuyến đường Trường Chinh. Điều đó cho thấy việc tìm kiếm hài cốt liệt sĩ không phụ thuộc vào giá trị kinh tế của khu đất mà xuất phát từ trách nhiệm chính trị và truyền thống, đạo lý của dân tộc ta. Đây chính là cơ sở thực tiễn đanh thép bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, phủ nhận ý nghĩa nhân văn của công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ.

Vì thế, việc trang facebook Chân Trời Mới Media cố tình bỏ qua thực tế đó, đăng tải thông tin xuyên tạc, dựng lên câu chuyện về “đất vàng”, nhằm gieo rắc nghi ngờ trong xã hội, gây hoài nghi về động cơ của các cơ quan chức năng, làm giảm ý nghĩa của công tác tìm kiếm, quy tập, xác định danh tính hài cốt liệt sĩ cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

Jun 12, 2026

Phê phán luận điệu xuyên tạc hình tượng lãnh tụ

           Tre Việt - Trang facebook Chân Trời Mới Media, ngày 11/6 đăng bài: “Phân tích hình tượng Hồ Chí Minh qua ngòi bút Nguyễn Thành Nam trong Chuyện của Thanh”, trong đó có đoạn: “Thay vì vị lãnh tụ vĩ đại, bất diệt, sách trình bày Nguyễn Tất Thành như một thanh niên 30 tuổi bình thường, lang thang vô định, không nghề nghiệp ổn định, không chỗ ở cố định”. Đây là luận điệu xuyên tạc lịch sử, cố tình hạ thấp hình tượng lãnh tụ Hồ Chí Minh, cần phải lên án, đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định ngay rằng: Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của Đảng và dân tộc Việt Nam. Người đã cống hiến trọn đời mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và xây dựng chủ nghĩa xã hội. Tư tưởng, đạo đức và phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh mãi là tài sản tinh thần vô giá, soi đường cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đây là chân lý, không thể phủ nhận.

Lịch sử đã chứng minh, năm 1911, người thanh niên Nguyễn Tất Thành đã ra đi tìm đường cứu nước trong bối cảnh dân tộc đang chìm trong ách thống trị của thực dân Pháp. Khác với nhiều nhà yêu nước đương thời lựa chọn con đường cầu viện bên ngoài hoặc tiến hành các cuộc khởi nghĩa vũ trang theo lối cũ, Nguyễn Tất Thành quyết tâm tự mình khảo nghiệm thực tiễn ở nhiều quốc gia khác nhau. Sau nhiều năm bôn ba, Người đã tìm ra con đường cứu nước, đấu tranh giải phóng dân tộc đúng đắn. Người đã sáng lập và rèn luyện Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo Nhân dân đứng lên khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Trong hành trình ấy, Người từng làm nhiều nhiều công việc khác nhau với vô vàn gian nan, vất vả nhưng không làm giảm đi tầm vóc vĩ đại của Người. Mà ngược lại, chính những gian khổ, thử thách ấy lại càng làm nổi bật ý chí, nghị lực, khát vọng cứu nước cháy bỏng của một người thanh niên Việt Nam yêu nước; là cơ sở để làm nên tầm vóc của vị lãnh tụ thiên tài, Anh hùng giải phóng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới.

Thực tiễn cho thấy, sự vĩ đại của Chủ tịch Hồ Chí Minh được tạo nên từ chính cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ, hy sinh và cống hiến. Những năm tháng lao động cực nhọc nơi đất khách, những lần bị theo dõi, truy nã, bắt giam, những lúc thiếu thốn vật chất đều là những minh chứng sinh động cho ý chí kiên cường của Người. Chính vì trải qua cuộc sống của những người lao động nghèo ở nhiều quốc gia mà Người càng thấu hiểu nỗi khổ của các dân tộc bị áp bức và tìm thấy con đường cách mạng đúng đắn.

Song, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh nhằm phủ nhận vai trò lãnh tụ của Người đối với cách mạng Việt Nam. Chúng thường dùng thủ đoạn cắt xén tư liệu, bóp méo sự thật lịch sử hoặc lợi dụng các tác phẩm văn học để đưa ra cách hiểu sai lệch, mơ hồ về cuộc đời hoạt động cách mạng của lãnh tụ Hồ Chí Minh. Mới đây nhất, lợi dụng việc trong tác phẩm “Chuyện của Thanh” của Nguyễn Thành Nam có chi tiết, nội dung chưa chuẩn mực, làm ảnh hưởng đến hình tượng vị lãnh tụ vĩ đại của dân tộc, các trang mạng xã hội đã đăng tải, chia sẻ những thông tin sai lệch. Điển hình như trang Facebook Chân Trời Mới Media chỉ dựa vào bề ngoài của hoàn cảnh sống của Nguyễn Tất Thành trong thời gian bôn ba tìm đường cứu nước rồi cho rằng: là người “lang thang vô định, không nghề nghiệp ổn định, không chỗ ở cố định”, chính là sự đánh tráo bản chất vấn đề, cách nhìn phiến diện, thiếu cơ sở khoa học và mang động cơ xuyên tạc lịch sử, cần phải vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

 

“Đàn áp xuyên quốc gia” - Luận điệu xuyên tạc nhằm bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam

  Tre Việt – Ngày 10/6, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Vận động Nghị viện châu Âu chế tài tình trạng đàn áp xuyên quốc gia của Việt Nam”, rêu rao rằng: “Trong hai ngày 09 - 10/6/2026, Việt Tân cùng các cơ quan và tổ chức quốc tế có cuộc vận động tại Nghị viện Châu Âu về tình trạng đàn áp xuyên quốc gia của Việt Nam”. Tại buổi vận động, họ đề cập đến ba trường hợp tiêu biểu liên quan đến hoạt động “đàn áp xuyên quốc gia” của chính quyền Việt Nam, là: Nguyễn Văn Đài, Lê Trung Khoa và Y Quynh Bdap. Đồng thời, kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao nhận thức của các nhà hoạch định chính sách châu Âu về thực trạng “đàn áp xuyên quốc gia”, thúc đẩy các biện pháp bảo vệ những người tị nạn chính trị và các nhà hoạt động nhân quyền đang sinh sống bên ngoài Việt Nam(!). 
        Trước hết cần khẳng định rõ: “đàn áp xuyên quốc gia” không phải là thuật ngữ pháp lý được thừa nhận trong luật pháp quốc tế. Việc một số tổ chức tự ý gán ghép, suy diễn khái niệm này cho Việt Nam thực chất là thủ đoạn đánh tráo khái niệm, cố tình biến các hoạt động hợp tác tư pháp, an ninh hợp pháp thành “vi phạm nhân quyền”.
        Theo Hiến chương Liên hợp quốc, mọi quốc gia đều có quyền bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia và trật tự, an toàn xã hội; đồng thời, có nghĩa vụ hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm, nhất là tội phạm xuyên biên giới, khủng bố. Việt Nam thực hiện các quyền và nghĩa vụ này trên cơ sở pháp luật, không có ngoại lệ và không nhắm tới bất kỳ cá nhân nào chỉ vì quan điểm chính trị.
        Việt Nam cũng là thành viên của nhiều công ước quốc tế quan trọng về quyền con người, như: Công ước về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR), Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa (ICESCR), Công ước chống tra tấn (CAT). Việc tham gia và thực hiện các công ước này cho thấy cam kết nghiêm túc của Việt Nam trong việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người.
        Gần đây, tòa án Thái Lan trục xuất, dẫn độ Y Quynh Bđăp về Việt Nam cho thấy một cá nhân từng tin rằng tấm hộ chiếu nước ngoài và giấy tị nạn sẽ là “tấm kim bài” bảo vệ mình, nhưng cuối cùng vẫn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, phá bỏ ảo tưởng “vùng an toàn” cho các đối tượng cực đoan. 
        Việc Việt Nam khởi tố, xét xử Lê Trung Khoa, Nguyễn Văn Đài,… và hợp tác với các tập đoàn công nghệ lớn, như: Meta (sở hữu nền tảng Facebook), Google (sở hữu nền tảng YouTube) gỡ bỏ các kênh chống phá Việt Nam, cô lập cộng đồng và cắt nguồn tài chính, minh chứng cho việc pháp luật Việt Nam có thể thực thi hiệu quả đối với các nền tảng xuyên biên giới. Những ví dụ này cho thấy, việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật của Việt Nam hoàn toàn tuân theo pháp luật, không phải hành vi đàn áp chính trị hay vi phạm nhân quyền.
        Luận điệu vu khống Việt Nam “đàn áp xuyên quốc gia” là sản phẩm của sự suy diễn chủ quan và động cơ chính trị không trong sáng. Thực thi pháp luật nghiêm minh, hợp tác quốc tế về tư pháp và chống khủng bố không những không vi phạm nhân quyền, mà còn thể hiện trách nhiệm của Việt Nam đối với người dân và cộng đồng quốc tế. 
        Vì vậy, cái gọi là “đàn áp xuyên quốc gia” của chính quyền Việt Nam mà Việt Tân rêu rao chỉ là chiêu trò lợi dụng vỏ bọc “nhân quyền”, cố tình được thêu dệt nhằm bóp méo các hoạt động thực thi pháp luật hợp pháp, hợp tác quốc tế chính đáng của Việt Nam; qua đó, gây sức ép chính trị, làm tổn hại và bôi nhọ hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Những luận điệu xuyên tạc, quy chụp lố bịch này không chỉ thiếu cơ sở pháp lý, mà còn đi ngược lại thông lệ và luật pháp quốc tế. Do đó, cần bị lên án và đấu tranh, bác bỏ./.




Jun 9, 2026

Đấu tranh, bác bỏ việc lợi dụng trí tuệ nhân tạo dàn dựng các hình ảnh, videoclip xuyên tạc, chống phá

        Tre Việt - Gần đây, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã và đang lợi dụng sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số và trí tuệ nhân tạo (AI) để tạo dựng, phát tán nhiều hình ảnh, video clip giả mạo, xuyên tạc sự thật nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ trên các nền tảng số, mạng xã hội. Đơn cử ngày 08/6, trang facebook Việt Tân đăng tải video clip có chủ đề: “Cùng một nội dung: chuyên viên đảng nói thì được, dân lập lại là... mời lên uống trà!” nhằm xuyên tạc việc đưa vào sử dụng rộng rãi xăng E10 trên cả nước. Đây là thủ đoạn mới, tinh vi, nguy hiểm, cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.
        Trước hết, cần khẳng định ngay rằng: việc lợi dụng AI để tạo dựng các hình ảnh, videoclip xuyên tạc là hành vi vi phạm pháp luật, đi ngược lại các chuẩn mực đạo đức và trách nhiệm xã hội trong môi trường số. Công nghệ AI bản thân nó không xấu, nhưng đang bị lợi dụng để phục vụ mục đích của những đối tượng xấu. Họ đưa ra những câu lệnh có nội dung xấu, tiêu cực, rồi dùng AI để tạo dựng những hình ảnh, videoclip giả mạo. Từ đó, suy diễn, lu loa rằng những nội dung sai trái, bịa đặt do AI tạo ra là “sự thật khách quan”, “bằng chứng không thể chối cãi”. Điều này là hoàn toàn phi lý và thiếu cơ sở khoa học. Thời gian qua, có nhiều hình ảnh, videoclip lan truyền trên mạng xã hội đã bị các cơ quan chức năng, các chuyên gia công nghệ chứng minh là sản phẩm cắt ghép, giả mạo hoặc được tạo dựng hoàn toàn bằng AI.
        Mục đích của việc làm, hành động này không đơn thuần là câu view hay thu hút sự chú ý trên không gian mạng, mà sâu xa hơn nhằm từng bước làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ; kích động tâm lý bất mãn, hoài nghi; chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tạo cớ để các thế lực thù địch can thiệp, chống phá, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Đặc biệt, trong những thời điểm diễn ra các sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, các đối tượng thường gia tăng tạo dựng, sản xuất và phát tán các hình ảnh, videoclip giả mạo để tác động đến nhận thức, tư tưởng, thu hút sự chú ý của người dân, dư luận xã hội.
        Trên thực tế, nội dung trong video clip mà trang facebook Việt Tân đăng tải đã cố tình xuyên tạc chủ trương đưa vào sử dụng rộng rãi xăng E10. Bởi, vấn đề này đã được các cơ quan chức năng đề cập từ lâu, có lộ trình thực hiện nhằm mục tiêu từng bước giảm khí thải, bảo vệ môi trường. Trước khi đưa vào sử dụng xăng E10, các cơ quan chức năng đã tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng; có hướng dẫn, triển khai thực hiện cụ thể và thường xuyên lắng nghe ý kiến phản hồi của người sử dụng để có sự điều chỉnh phù hợp với thực tiễn tình hình.
        Vì thế, cần nhận diện, kiên quyết đấu tranh bác bỏ việc lợi dụng AI để xuyên tạc, chống phá đất nước. Theo đó, cần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về nguy cơ của các sản phẩm truyền thông giả mạo do AI tạo ra. Mỗi người dân cần trang bị kỹ năng số, kỹ năng nhận diện thông tin sai lệch, không vội vàng tin tưởng hoặc chia sẻ những nội dung thông tin chưa được kiểm chứng. 
        Cùng với đó, các cơ quan báo chí, truyền thông cần phát huy vai trò định hướng, dẫn dắt dư luận xã hội, chủ động cung cấp thông tin chính thống, kịp thời, chính xác. Khi xuất hiện các hình ảnh, video clip xuyên tạc phải nhanh chóng xác minh, công bố kết quả kiểm chứng để bác bỏ các luận điệu xuyên tạc, sai trái, không để khoảng trống thông tin để các thế lực thù địch lợi dụng, dẫn dắt, kích động dư luận theo hướng tiêu cực.
        Các cơ quan chức năng tiếp tục rà soát, hoàn thiện các văn bản pháp luật, tạo hành lang pháp lý trong quản lý, sử dụng AI và xử lý kịp thời các hành vi lợi dụng công nghệ số vi phạm pháp luật. Tăng cường ứng dụng các giải pháp công nghệ nhằm phát hiện, nhận diện các hình ảnh, video clip giả mạo, truy vết nguồn phát tán và xử lý nghiêm các đối tượng vi phạm. 
        Đối với lực lượng chuyên trách bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, Ban Chỉ đạo 35 các cấp, lực lượng 47 chủ động nắm chắc tình hình, dự báo đúng xu hướng phát triển của công nghệ AI và các phương thức chống phá mới trên không gian mạng. Trên cơ sở đó, xây dựng các phương án đấu tranh phù hợp, hiệu quả, kết hợp chặt chẽ giữa biện pháp kỹ thuật, pháp lý và tuyên truyền nhằm vô hiệu hóa các thông tin sai trái, góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tạo môi trường, điều kiện thuận lợi cho sự phát triển bền vững của đất nước trong kỷ nguyên số./.


Jun 5, 2026

Gần 10.000 phạm nhân được đặc xá - Chính sách có ý nghĩa chính trị, pháp lý và nhân văn sâu sắc

         Tre Việt – Ngày 26/5/2026 vừa qua, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Quyết định số 751/QĐ-CTN,  quyết định đặc xá cho 9.950 phạm nhân đang chấp hành án phạt tù có đủ điều kiện được hưởng đặc xá năm 2026. Quyết định có hiệu lực từ ngày 01/6/2026. Chiều 30/5, Văn phòng Chủ tịch nước phối hợp cùng Bộ Công an, Bộ Ngoại giao, Tòa án nhân dân tối cao và các cơ quan liên quan tổ chức họp báo công bố Quyết định về đặc xá năm 2026 của Chủ tịch nước. 
Đại tá Trần Thanh Hiền, Phó Giám đốc Công an,
Thủ trưởng Cơ quan Thi hành án Công an Thành phố 
Hồ Chí Minh trao quyết định đặc xá cho các phạm nhân
        Cần khẳng định ngay rằng, đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị, pháp lý và nhân văn sâu sắc, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và truyền thống nhân văn của dân tộc; là biểu hiện sinh động của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, lấy con người làm trung tâm, vừa kiên quyết bảo vệ kỷ cương phép nước, vừa tạo cơ hội cho những người thực sự hối cải tái hòa nhập và cống hiến cho xã hội.
        Chúng ta cũng cần khẳng định, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước luôn nhất quán quan điểm: mọi hành vi vi phạm pháp luật đều phải được xử lý nghiêm minh, song mục tiêu cuối cùng của công lý không chỉ là trừng phạt mà còn là giáo dục, cảm hóa và phục hồi những giá trị tốt đẹp của con người. Nhất quán quan điểm đó, hằng năm, Đảng và Nhà nước ta đã tiến hành nhiều đợt đặc xá, tha tù trước thời hạn cho những phạm nhân có quá trình cải tạo, lao động, học tập tốt, trở về với cộng đồng, xã hội.
        Việc làm đó thể hiện rõ chính sách khoan hồng, nhân đạo, góp phần củng cố niềm tin của xã hội đối với tính nghiêm minh và công bằng của pháp luật. Đồng thời, khẳng định rõ cam kết của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân một cách công bằng, bình đẳng.
        Thực tiễn những năm qua cho thấy, chính sách đặc xá đã đem lại những kết quả tích cực; phần lớn những người được đặc xá đã nhanh chóng ổn định cuộc sống, tích cực lao động sản xuất, chấp hành tốt pháp luật và trở thành công dân mới. Qua đó, khẳng định hiệu quả của công tác giáo dục, cải tạo phạm nhân; đồng thời, củng cố niềm tin xã hội vào giá trị nhân văn của pháp luật Việt Nam và tính ưu việt của chế độ ta.
        Năm 2026, là năm có ý nghĩa đặc biệt quan trọng khi đất nước bước vào giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, chuẩn bị những nền tảng mới cho sự phát triển nhanh và bền vững, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Trong bối cảnh đó, việc thực hiện đặc xá năm 2026 tiếp tục khẳng định thông điệp nhất quán của Đảng và Nhà nước: không ai bị bỏ lại phía sau nếu thực sự quyết tâm sửa chữa lỗi lầm và nỗ lực vươn lên bằng ý chí của chính mình.
        Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của lãnh đạo Đảng, Nhà nước và Hội đồng tư vấn đặc xá, các bộ, ngành, địa phương và cơ sở giam giữ đã tổ chức thực hiện nghiêm túc, khách quan, công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp luật. Không có sự phân biệt đối xử, hoặc hạn chế với bất kỳ phạm nhân nào cho dù phạm nhân đó là người Việt Nam hay là người có quốc tịch nước ngoài, nếu có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật Việt Nam đều được xét đặc xá.
        Kết quả các đợt đặc xá đã bảo đảm các yêu cầu chính trị, pháp luật, đối ngoại được Nhân dân trong nước đồng tình và dư luận quốc tế đánh giá cao, tiếp tục khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong việc thúc đẩy và bảo vệ quyền con người một cách công bằng, bình đẳng cho tất cả mọi công dân, kể cả những người đang chấp hành án phạt tù. Đây cũng chính là bằng chứng đanh thép bác bỏ chiêu trò lợi dụng chính sách đặc xá của Đảng, Nhà nước ta để xuyên tạc, kích động kết quả thúc đẩy và bảo đảm quyền con người ở Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị./.


Không thể xuyên tạc bước đi tất yếu vì an ninh năng lượng quốc gia

Tre Việt - Từ ngày 01/6 xăng sinh học E10 được triển khai trên phạm vi toàn quốc, là bước đi chiến lược mang lại lợi ích cho môi trường và kinh tế đất nước. Tuy nhiên, bên cạnh sự đồng tình của đông đảo người dân và giới chuyên gia, một số đối tượng cơ hội chính trị, các trang mạng phản động và phần tử chống đối lại lợi dụng vấn đề này để tung ra nhiều luận điệu xuyên tạc, bóp méo bản chất của chủ trương. Chúng “mượn gió bẻ măng” cố tình lấy một vấn đề dân sinh, kinh tế thuần túy để lèo lái thành vấn đề chính trị nhằm kích động tâm lý hoài nghi, gây mất niềm tin vào đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước.
Những luận điệu như “Nhà nước ép dân sử dụng xăng E10”, “xăng E10 gây hỏng động cơ”, “triển khai E10 để phục vụ lợi ích nhóm”, hay “Việt Nam pha ethanol vào xăng để đổi lấy nguồn vốn quốc tế” thực chất không dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn nào nhằm gieo rắc tâm lý bất mãn, từng bước làm suy giảm niềm tin xã hội.

Cần khẳng định rõ rằng, việc đưa xăng E10 vào sử dụng không phải là quyết định đột ngột hay mang tính thử nghiệm. Đây là kết quả của một lộ trình dài đã được nghiên cứu, chuẩn bị và triển khai kỹ lưỡng. Từ Đề án phát triển nhiên liệu sinh học được Chính phủ phê duyệt năm 2007 đến các quyết định về lộ trình áp dụng nhiên liệu sinh học những năm tiếp theo, Việt Nam đã từng bước xây dựng cơ sở pháp lý, hạ tầng kỹ thuật và nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển đổi. Việc triển khai E10 hiện nay là bước phát triển tiếp theo của quá trình sử dụng xăng sinh học E5 đã được thực hiện ổn định trong nhiều năm qua.

Dưới góc độ khoa học, các luận điệu cho rằng xăng E10 làm hỏng động cơ là hoàn toàn thiếu căn cứ. Thực tế, ethanol là phụ gia sinh học đã được sử dụng rộng rãi trong ngành nhiên liệu thế giới nhiều thập niên. Với tỷ lệ phối trộn 10%, xăng E10 vẫn đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật về chất lượng nhiên liệu, bảo đảm an toàn cho phần lớn các phương tiện giao thông hiện nay. Nhiều nghiên cứu trong nước và quốc tế đã chứng minh E10 không gây ảnh hưởng tiêu cực đến động cơ khi được sử dụng đúng quy chuẩn. Hàng trăm triệu phương tiện tại Hoa Kỳ, châu Âu, Brazil, Australia, Thái Lan và nhiều quốc gia khác vẫn vận hành ổn định bằng loại nhiên liệu này.

Nhìn rộng hơn, việc phát triển nhiên liệu sinh học là xu thế tất yếu của thế giới. Trong bối cảnh nguồn nhiên liệu hóa thạch ngày càng cạn kiệt, giá dầu mỏ thường xuyên biến động và các yêu cầu về bảo vệ môi trường ngày càng cao, nhiều quốc gia đã lựa chọn nhiên liệu sinh học như một giải pháp quan trọng nhằm bảo đảm an ninh năng lượng và giảm phát thải khí nhà kính. Hơn 60 quốc gia trên thế giới hiện đang sử dụng xăng pha ethanol với nhiều tỷ lệ khác nhau. Điều đó cho thấy E10 không phải là một giải pháp riêng của Việt Nam mà là một xu hướng phát triển được cộng đồng quốc tế thừa nhận.

Đối với Việt Nam, xăng E10 còn mang ý nghĩa chiến lược trong bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Nghị quyết số 55-NQ/TW, ngày 11/02/2020 của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 đã xác định rõ yêu cầu đa dạng hóa nguồn cung năng lượng, tăng cường sử dụng năng lượng tái tạo và năng lượng sạch, giảm phụ thuộc vào nguồn nhiên liệu hóa thạch nhập khẩu. Việc sử dụng nhiên liệu sinh học góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương đó.

Bên cạnh lợi ích kinh tế, xăng E10 còn mang ý nghĩa quan trọng về môi trường. Giảm phát thải khí nhà kính, cải thiện chất lượng không khí và thực hiện các cam kết quốc tế về phát triển bền vững là trách nhiệm của mọi quốc gia. Chủ trương phát triển nhiên liệu sinh học thể hiện nhất quán quan điểm của Đảng và Nhà nước về phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng bằng mọi giá.

Điều đáng chú ý là các thế lực thù địch luôn tìm cách phủ nhận những lợi ích đó. Chúng không tranh luận bằng các số liệu khoa học hay bằng chứng thực tiễn mà chủ yếu khai thác tâm lý lo ngại của một bộ phận người dân trước những thay đổi mới. Thủ đoạn của chúng là lấy hiện tượng cá biệt để quy kết thành bản chất, lấy tin đồn thay cho chứng cứ, lấy cảm tính thay cho khoa học. Mục tiêu cuối cùng không phải là bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng như chúng rêu rao, mà là làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với các chủ trương, chính sách đúng đắn của Đảng và Nhà nước.

Trước những thông tin sai lệch đó, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao tinh thần cảnh giác, tiếp cận thông tin từ các nguồn chính thống, tin cậy; không chia sẻ, phát tán những thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội. Đồng thời, cần nhận thức đầy đủ rằng sử dụng nhiên liệu tiết kiệm, hiệu quả, thân thiện với môi trường không chỉ là trách nhiệm của cơ quan quản lý nhà nước mà còn là trách nhiệm của mỗi công dân đối với sự phát triển bền vững của đất nước.

Lịch sử đã chứng minh rằng mọi chủ trương đúng đắn đều phải trải qua quá trình kiểm nghiệm của thực tiễn. Xăng E10 cũng không nằm ngoài quy luật đó. Với những cơ sở khoa học, thực tiễn và kinh nghiệm quốc tế đã được khẳng định, có thể tin tưởng rằng việc triển khai xăng sinh học E10 sẽ góp phần quan trọng thực hiện mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, thúc đẩy tăng trưởng xanh, bảo vệ môi trường và xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ theo đúng định hướng mà Đảng và Nhà nước đã xác định.

Những luận điệu xuyên tạc rồi sẽ bị thực tiễn bác bỏ. Điều còn lại là sự đồng thuận của xã hội, niềm tin của Nhân dân và quyết tâm chung tay xây dựng một tương lai phát triển bền vững cho đất nước./.