Mar 31, 2026

Nền dân chủ Mỹ chẳng qua chỉ là những ngôn từ giả dối

           Các cuộc biểu tình “No Kings” (không vua) diễn ra rầm rộ vào ngày 28/3/2026 tại 50 bang của Mỹ thu hút hàng triệu người tham gia. Những người tham gia biểu tình giương cao các khẩu hiệu phản đối cuộc xung đột ở Trung Đông do Mỹ phát động, các chính sách của ông Trump về nhập cư, an ninh quốc gia và các biện pháp hành pháp mà họ cho là lạm dụng quyền lực, đe dọa nền dân chủ ở Mỹ.

Đây là lần thứ 3 các cuộc biểu tình phản đối tổng thống Trump diễn ra ở Mỹ kể từ khi ông chính thức nhậm chức vào tháng 01/2025. Những người tổ chức biểu tình nói: “Ông Trump muốn cai trị chúng ta như một bạo chúa, nhưng đây là nước Mỹ, và quyền lực thuộc về người dân, chứ không phải những kẻ muốn làm vua hay những tay chân tỷ phú của họ”. Một số người biểu tình gọi ông Trump là “phát xít” và “tội phạm chiến tranh”, kêu gọi luận tội và phế truất ông Trump và các quan chức khác trong chính quyền. Họ thất vọng về việc chính quyền tổng thống Donald Trump đã coi thường hệ thống tư pháp và báo chí, sử dụng các biện pháp đối ngoại bất chấp luật pháp trong nước và quốc tế, đặc biệt là việc Mỹ đưa quân vào Venezuela bắt giữ tổng thống nước này và gây ra cuộc xung đột ở Trung Đông hiện nay. Cộng đồng người Việt ở Mỹ cũng bày tỏ sự lo ngại về nền dân chủ đang bị xói mòn dưới thời ông Donald Trump, trong đó có những chính sách cứng rắn đối với những người nhập cư.

Điều trớ trêu là trước đây chính ông Donald Trump đã từng nhiều lần công kích nền dân chủ của Mỹ. Còn nhớ, tháng 12/2019, ông Trump đã kịch liệt phê phán cuộc điều tra luận tội của đảng Dân chủ nhắm vào ông, cáo buộc bà Pelosi khi đó là Chủ tịch Hạ viện Mỹ và Đảng Dân chủ đã can thiệp vào bầu cử Mỹ, hủy hoại nền dân chủ Mỹ. Năm 2024, trong thời gian vận động tranh cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ 2025 - 2029 ông Trump cũng đã nhiều lần chỉ trích gay gắt thể chế dân chủ Mỹ, lên án tòa án Mỹ đưa ra những bản án bất công đối với cá nhân ông vì động cơ chính trị.

Thực ra, những dấu hiệu suy thoái của nền dân chủ của Mỹ đã xuất hiện từ khá lâu, nhưng trong những năm gần đây đang trở nên ngày càng trầm trọng hơn. Đại dịch Covid và đặc biệt cuộc bầu cử Tổng thống Mỹ năm hai nhiệm kỳ gần đây không chỉ là những lời cảnh báo, mà thực sự là những cú đánh mạnh vào nền dân chủ của Mỹ và phương Tây nói chung. Trong thời gian đại dịch bùng phát, ở Mỹ và nhiều nước phương Tây khác đã xảy ra rất nhiều những câu chuyện cho thấy nền dân chủ phương Tây đang thực sự bị suy yếu. Những cảnh tượng tranh cướp mua khẩu trang, thực phẩm; đập phá cướp bóc các cửa hàng; bỏ mặc nhiều người bị nhiễm Covid không được chữa trị, kỳ thị người da màu,… thì cả thế giới đều biết. Các vụ xả súng, đâm dao nơi công cộng liên tục xảy ra ở Mỹ và một số nước phương Tây từ nhiều năm nay. Nền dân chủ Mỹ đang đối mặt với những thách thức lớn trong việc duy trì sự đồng thuận và niềm tin của người dân nước họ và nhiều quốc gia khác trên thế giới do những chính sách đối nội và đối ngoại thay đổi liên tục, lòng tin vào giới truyền thông bị lung lay, các chuẩn mực đạo đức và quyền lợi của người dân bị coi thường.

Ấy vậy mà từ nhiều năm nay Mỹ và nhiều nước phương Tây vẫn luôn tự hào về thiết chế dân chủ của mình, tự coi nền dân chủ phương Tây là “mô hình mẫu mực, có tính phổ quát”. Họ tìm mọi cách xuất khẩu mô hình dân chủ của họ ra khắp thế giới và tự cho mình cái quyền đi dạy bảo các nước khác về tự do, dân chủ, nhân quyền. Một số tổ chức nhân quyền do phương Tây bảo trợ và cơ quan truyền thông phương Tây thường xuyên sử dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền làm cái cớ để thông tin sai sự thật, đưa ra những nhận định, đánh giá thiếu khách quan về tình hình tôn giáo, dân chủ, nhân quyền ở những nước không đi theo hình mẫu dân chủ của họ, trong đó có Việt Nam.

Các đối tượng chống phá ra sức nói xấu, xuyên tạc về tình hình ở Việt Nam, tố cáo Việt Nam vi phạm quyền con người, xâm phạm tự do báo chí, tự do internet, tự do tôn giáo. Chúng tôn vinh, cố súy các đối tượng vi phạm pháp luật mà chúng gọi là “những người bất đồng chính kiến” bị chính quyền Việt Nam bắt giữ; kích động dư luận nhằm gây mất ổn định an ninh, trật tự; hạ thấp uy tín, vị thế của Việt Nam; làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, phục vụ cho chiến lược “diễn biến hòa bình”, chuyển hóa chế độ trong nước.

Mới đây nhất, Báo cáo Nhân quyền 2026 của Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (HRW) lại tiếp tục đưa ra những đánh giá tiêu cực về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Vẫn là những luận điệu vu khống quen thuộc như: Việt Nam không có tự do ngôn luận, tự do báo chí; những người phản biện bị “bịt miệng”, những người bất đồng chính kiến bị “đàn áp có hệ thống”. Những nhận định này hết sức lạc lõng, hoàn toàn không đúng với thực tiễn tại Việt Nam, đồng thời cũng cho thấy tiêu chuẩn kép của phương Tây về dân chủ.

Dân chủ là một phạm trù chính trị, pháp lý, lịch sử, văn hóa, xã hội gắn liền với mỗi hình thái kinh tế - xã hội, với mỗi chế độ chính trị và mỗi quốc gia khác nhau. Không thể có hình mẫu dân chủ giống nhau cho mọi quốc gia, vì thế không thể đem áp dụng mô hình dân chủ của phương Tây cho tất cả các nước trên thể giới. Thực trạng nền dân chủ của Mỹ trong nhiều năm qua và gần đây nhất là dưới thời của Tổng thống Donald Trump thêm một lần nữa làm bộc lộ những lỗ hổng chết người trong hệ thống được coi là hình mẫu dân chủ phương Tây. Rõ ràng là những ngôn từ hoa mỹ thường được gán cho cho nền dân chủ của họ chẳng qua chỉ là sáo rỗng./.

(https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Mar 30, 2026

Nhân quyền ở Việt Nam: Sự thật không thể bị bóp méo

          Tre Việt - Trong những ngày đầu năm 2026, một số tổ chức nhân danh “bảo vệ nhân quyền”, tiêu biểu như Tổ chức theo dõi nhân quyền (Human Rights Watch), tiếp tục công bố các báo cáo với những nhận định phiến diện về tình hình nhân quyền tại Việt Nam. Dù được trình bày với cách thức có phần tinh vi hơn, nhấn mạnh vào từng trường hợp cụ thể nhằm tạo hiệu ứng dư luận, song về bản chất, các báo cáo này vẫn lặp lại một khuôn mẫu quen thuộc với những cáo buộc như “hạn chế tự do ngôn luận”, “đàn áp người bất đồng chính kiến” hay “thiếu tự do tôn giáo”.

Niềm vui của Nhân dân tại Lễ kỷ niệm 80 năm
Cách mạng Tháng Tám thành công (19/8/1945 - 19/8/2025)
 và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
 (02/9/1945 - 02/9/2025).

Cách tiếp cận đó bộc lộ rõ tính phiến diện khi thường bắt đầu từ một số trường hợp cá biệt, tách rời khỏi bối cảnh pháp lý và điều kiện xã hội cụ thể, rồi suy diễn thành nhận định mang tính khái quát. Việc đánh đồng giữa hành vi vi phạm pháp luật với việc thực hiện quyền con người chính là điểm cốt lõi dẫn đến sai lệch. Không thể lấy những trường hợp vi phạm pháp luật để phủ nhận cả một quá trình bảo đảm và thúc đẩy quyền con người của một quốc gia.

Thực tiễn Việt Nam cho thấy một bức tranh hoàn toàn khác. Về thể chế, quyền con người được hiến định rõ ràng trong Hiến pháp năm 2013. Trong đó Khoản 1, Điều 14 của Hiến pháp xác định: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Trên nền tảng đó, hệ thống pháp luật không ngừng được hoàn thiện theo hướng đồng bộ, thống nhất và ngày càng tiệm cận với các chuẩn mực quốc tế. Quan trọng hơn, các quyền ấy không chỉ dừng lại trên văn bản, mà được hiện thực hóa bằng những chính sách cụ thể và kết quả rõ ràng trong đời sống xã hội.

Những năm qua, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng về phát triển con người. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt 514 tỷ USD, tăng 5 bậc, vươn lên vị trí thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.026 USD, gấp 1,4 lần năm 2020, đưa Việt Nam vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao, vượt mục tiêu đề ra. Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt trên 95,5%; tỷ lệ người biết chữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 đạt khoảng 98%; tuổi thọ trung bình đạt 74,5 tuổi; chỉ số phát triển con người (HDI) đạt mức 0,766, thuộc nhóm các nước có chỉ số phát triển con người cao. Những con số đó không phải là khẩu hiệu, mà là minh chứng sinh động cho việc quyền con người được bảo đảm trên thực tế.

Trên lĩnh vực tự do tín ngưỡng, tôn giáo, Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo, đa tín ngưỡng với hơn 27 triệu tín đồ, sinh hoạt trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm. Các chính sách xã hội và chính sách tôn giáo luôn hướng tới tạo điều kiện để đồng bào có đạo thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, đồng thời phát huy các giá trị tích cực của tôn giáo trong đời sống xã hội. Thực tiễn sinh động của các hoạt động tôn giáo trên khắp cả nước là minh chứng rõ ràng bác bỏ những luận điệu cho rằng Việt Nam “hạn chế tự do tôn giáo”.

Về quyền tiếp cận thông tin, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ số, người dân Việt Nam ngày càng có điều kiện tiếp cận thông tin nhanh chóng, đa chiều. Tỷ lệ người sử dụng internet ở mức cao trong khu vực, hệ thống báo chí, truyền thông phát triển mạnh, phản ánh đầy đủ các lĩnh vực của đời sống xã hội. Không gian thông tin ngày càng mở rộng, tạo điều kiện để người dân tham gia, giám sát và thụ hưởng các quyền của mình một cách thiết thực.

Một yếu tố quan trọng không thể tách rời khi nói đến nhân quyền là môi trường ổn định để con người phát triển. Những nỗ lực của Việt Nam được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao. Việt Nam đã tham gia đầy đủ các cơ chế nhân quyền của Liên hợp quốc, là thành viên của 7/9 công ước quốc tế cơ bản về quyền con người, đồng thời tích cực đóng góp nhiều sáng kiến tại các diễn đàn quốc tế. Năm 2025, Việt Nam đã tái đắc cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 với số phiếu cao nhất nhóm châu Á - Thái Bình Dương là minh chứng rõ ràng cho uy tín và sự tín nhiệm quốc tế. Đó là sự thật mà không thế lực thù địch nào có thể phủ nhận và xuyên tạc. 

Nhìn một cách toàn diện, có thể thấy các báo cáo nhân quyền năm 2026 của Tổ chức theo dõi nhân quyền không phản ánh đúng thực tiễn, mà chủ yếu lặp lại một cách tiếp cận định kiến, phiến diện và có chọn lọc. Trong khi đó, những thành tựu cụ thể, những chuyển biến rõ rệt trong đời sống xã hội và sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế chính là câu trả lời thuyết phục nhất. Sự thật không cần tô vẽ, và cũng không thể bị bóp méo bởi những luận điệu xuyên tạc./.

Mar 29, 2026

Nhận diện và bác bỏ luận điệu xuyên tạc về công tác quản lý, điều hành xăng dầu ở Việt Nam

           Thời gian gần đây, lợi dụng những biến động của thị trường năng lượng thế giới, một số đối tượng, trang mạng thiếu thiện chí đã tung ra nhiều thông tin sai lệch, xuyên tạc về công tác quản lý, điều hành thị trường xăng dầu của Nhà nước Việt Nam. Các luận điệu này cho rằng Chính phủ “bất lực trong bình ổn giá xăng dầu”, hoặc cố tình quy kết rằng việc điều hành giá xăng dầu “thiếu minh bạch, gây khó khăn cho người dân và doanh nghiệp”. Những nhận định phiến diện đó không chỉ bóp méo sự thật mà còn bỏ qua toàn bộ nỗ lực của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô và bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia. Cần phải nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, toàn diện để thấy rõ sự sai trái của các luận điệu xuyên tạc này.

Thứ nhất, phủ nhận nỗ lực của Chính phủ trong bình ổn giá xăng dầu là luận điệu thiếu căn cứ, cố tình bóp méo thực tiễn. Xăng dầu là mặt hàng chiến lược, có ảnh hưởng trực tiếp đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế - xã hội. Giá xăng dầu trong nước chịu tác động mạnh mẽ từ thị trường thế giới, đặc biệt trong bối cảnh địa chính trị phức tạp, chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu nhiều lần bị gián đoạn, giá dầu thô biến động mạnh. Trong điều kiện đó, việc giữ giá xăng dầu ổn định tuyệt đối là điều không quốc gia nào có thể thực hiện. Vì vậy, nhiệm vụ của Chính phủ không phải là “đóng băng giá”, mà là điều hành linh hoạt để hạn chế tối đa tác động tiêu cực đối với nền kinh tế và đời sống nhân dân.

Thực tế cho thấy, Nhà nước Việt Nam đã triển khai cơ chế điều hành giá xăng dầu theo nguyên tắc thị trường có sự quản lý của Nhà nước, bảo đảm hài hòa lợi ích giữa Nhà nước, doanh nghiệp và người tiêu dùng. Giá xăng dầu được điều chỉnh định kỳ dựa trên biến động giá thế giới, qua đó bảo đảm tính minh bạch và phù hợp với thực tiễn thị trường.

Bên cạnh đó, một trong những công cụ quan trọng được sử dụng là Quỹ bình ổn giá xăng dầu. Thông qua quỹ này, Nhà nước có thể chủ động trích lập hoặc chi sử dụng để giảm bớt mức tăng giá khi thị trường thế giới biến động mạnh, qua đó góp phần kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô. Thực tiễn cho thấy, trong nhiều thời điểm giá dầu thế giới tăng cao, việc sử dụng Quỹ bình ổn đã giúp giảm áp lực tăng giá trong nước, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp. Ngoài ra, Chính phủ còn triển khai nhiều chính sách tài khóa nhằm giảm bớt gánh nặng chi phí xăng dầu, như điều chỉnh giảm thuế bảo vệ môi trường đối với xăng dầu, xem xét giảm một số loại thuế, phí liên quan. Những quyết sách này thể hiện rõ nỗ lực của Nhà nước trong việc chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp trước áp lực giá năng lượng tăng cao trên toàn cầu.

Do vậy, việc cho rằng Chính phủ “không có biện pháp bình ổn giá xăng dầu” là một nhận định hoàn toàn sai lệch. Thực chất, đây chỉ là chiêu trò tuyên truyền nhằm kích động tâm lý hoài nghi trong xã hội, phủ nhận những nỗ lực điều hành của Nhà nước.

Thứ hai, trước những bất ổn của tình hình thế giới, Chính phủ đã thực hiện nhiều biện pháp đồng bộ để bảo đảm nguồn cung xăng dầu cho nền kinh tế. Bên cạnh vấn đề giá cả, một trong những nội dung xuyên tạc thường được các đối tượng đưa ra là cho rằng Nhà nước “không kiểm soát được nguồn cung xăng dầu”, dẫn đến nguy cơ thiếu hụt. Tuy nhiên, thực tế hoàn toàn ngược lại.

Trong những năm gần đây, thị trường năng lượng toàn cầu liên tục biến động mạnh do nhiều nguyên nhân như xung đột địa chính trị, đứt gãy chuỗi cung ứng, chính sách cắt giảm sản lượng của các nước sản xuất dầu mỏ. Những yếu tố này tác động trực tiếp đến nguồn cung và giá cả xăng dầu trên thế giới. Trước bối cảnh đó, Chính phủ Việt Nam đã chủ động triển khai nhiều giải pháp đồng bộ để bảo đảm nguồn cung xăng dầu trong nước. Theo đó, Chính phủ tăng cường chỉ đạo các bộ, ngành liên quan theo dõi sát diễn biến thị trường quốc tế để kịp thời điều chỉnh kế hoạch nhập khẩu và sản xuất trong nước. Hai nhà máy lọc dầu lớn trong nước được yêu cầu duy trì hoạt động ổn định, tối ưu công suất nhằm bảo đảm nguồn cung cho thị trường.

Nhà nước cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu mối chủ động nhập khẩu xăng dầu từ nhiều nguồn khác nhau, đa dạng hóa thị trường cung ứng, hạn chế phụ thuộc vào một khu vực nhất định. Việc duy trì hệ thống dự trữ xăng dầu và tăng cường quản lý hệ thống phân phối cũng góp phần quan trọng trong việc bảo đảm nguồn cung ổn định. Ngoài ra, các cơ quan chức năng còn tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động kinh doanh xăng dầu nhằm ngăn chặn tình trạng găm hàng, đầu cơ, trục lợi khi thị trường có biến động. Việc xử lý nghiêm các hành vi vi phạm không chỉ bảo đảm kỷ cương thị trường mà còn góp phần bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng.

Nhờ những biện pháp đồng bộ đó, thị trường xăng dầu Việt Nam về cơ bản vẫn được duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng của xã hội. Những khó khăn cục bộ nếu có chủ yếu mang tính tạm thời và đã được các cơ quan chức năng nhanh chóng xử lý.

Tóm lại, những luận điệu phủ nhận nỗ lực của Chính phủ trong quản lý, điều hành thị trường xăng dầu thực chất là sự xuyên tạc có chủ ý, nhằm gây hoang mang dư luận và làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào chính sách điều hành kinh tế của Nhà nước. Thực tế đã chứng minh, trong bối cảnh thị trường năng lượng thế giới biến động phức tạp, Chính phủ Việt Nam đã chủ động, linh hoạt triển khai nhiều giải pháp nhằm bình ổn giá cả, bảo đảm nguồn cung và giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô.

Do đó, mỗi người dân cần tỉnh táo trước những thông tin sai lệch, nhận diện rõ các luận điệu xuyên tạc để không bị lợi dụng, từ đó góp phần củng cố niềm tin và sự đồng thuận xã hội đối với các chính sách phát triển kinh tế của đất nước./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Mar 26, 2026

Bồi dưỡng thanh niên trở thành lực lượng kế cận xuất sắc của Đảng

         Hiện nay, nước ta có khoảng 22 triệu thanh niên, chiếm hơn 21% dân số. Đây là lực lượng xã hội đông đảo, giàu tiềm năng, đang kế thừa và phát huy những phẩm chất tốt đẹp của dân tộc như lòng yêu nước, tinh thần cần cù, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm. Đặc biệt, thế hệ trẻ hôm nay là “công dân số”, sinh ra và lớn lên trong hòa bình, sớm tiếp cận với những thành tựu vượt bậc của khoa học và công nghệ.
        Trong bối cảnh đất nước đứng trước những vận hội và thách thức đan xen, việc giáo dục, bồi dưỡng thanh niên cả về đạo đức, trí tuệ và thể lực trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Đây không chỉ là nhiệm vụ xây dựng con người mới xã hội chủ nghĩa mà còn là yếu tố quyết định thành công trong thực hiện các mục tiêu chiến lược mà Đại hội XIV của Đảng đề ra.
        Lực lượng xung kích, vai trò quan trọng
        Được thành lập ngày 26/3/
1931, dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh qua 95 năm xây dựng, chiến đấu, cống hiến và trưởng thành luôn khẳng định là lực lượng xung kích cách mạng, đội dự bị tin cậy của Đảng, trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam. Hiện nay, thanh niên Việt Nam có nhiều ưu điểm nổi bật: Năng động, sáng tạo, có khát vọng vươn lên mạnh mẽ, hội nhập sâu rộng với thế giới, luôn thể hiện niềm tin son sắt với Đảng. Thực tiễn cho thấy, ở những nơi khó khăn, gian khổ, ở những nhiệm vụ cấp bách của đất nước, đều có dấu ấn xung kích của tuổi trẻ. Hình ảnh hàng triệu đoàn viên, thanh niên tình nguyện tham gia phòng, chống đại dịch Covid-19; dấn thân trong mưa lũ cứu trợ đồng bào miền Trung, miền núi phía Bắc; hay miệt mài trên các công trình trọng điểm quốc gia đã trở thành minh chứng sinh động cho tinh thần trách nhiệm, ý chí cống hiến và lòng yêu nước của thế hệ trẻ.
        Tuy nhiên, trong bối cảnh toàn cầu hóa và bùng nổ thông tin, thanh niên cũng đang đối mặt với không ít thách thức. Một bộ phận dễ bị tác động bởi những giá trị ngoại lai, chưa quan tâm đúng mức đến truyền thống dân tộc; tình trạng vi phạm pháp luật, tệ nạn xã hội ở giới trẻ có chiều hướng phức tạp. Điều đó đặt ra yêu cầu phải tăng cường giáo dục, bồi dưỡng toàn diện cho thế hệ trẻ. Trong bài viết “Tương lai cho thế hệ vươn mình”, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Xây dựng và nuôi dưỡng một thế hệ thanh niên mạnh mẽ, trí tuệ và văn minh chính là nền tảng vững chắc để Việt Nam không ngừng vươn lên, trở thành quốc gia phát triển, biểu tượng của khát vọng, sức mạnh và ý chí dân tộc”.
        Chăm lo xây dựng nền tảng đất nước vững chắc
        Để thanh niên Việt Nam phát huy hết sức mạnh, tiềm năng, khẳng định được vai trò, vị trí đặc biệt quan trọng, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới, được biết, trong các nghị quyết, chương trình hành động, Trung ương Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xác định tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện nội dung, phương thức giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh niên. Trọng tâm là thực hiện “3 thống nhất”: Lý tưởng của thanh niên gắn với lý tưởng của Đảng; mục tiêu phấn đấu của thanh niên đồng hành với mục tiêu của dân tộc; hành động của thanh niên góp phần xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, xây dựng đất nước phát triển bền vững.
        Trong đó, công tác giáo dục tiếp tục được triển khai linh hoạt, phù hợp với đặc điểm của thời đại số. Tổ chức đoàn các cấp sẽ đẩy mạnh chuyển đổi số, đổi mới phương thức tuyên truyền theo hướng đa chiều, tăng tương tác. Các nền tảng mạng xã hội tiếp tục được khai thác hiệu quả để lan tỏa thông tin tích cực, định hướng tư tưởng, hình thành các trào lưu tốt đẹp trong thanh niên. Hiện nay, tổ chức đoàn đang quản lý hàng nghìn trang, nhóm trên không gian mạng, trong đó có nhiều chuyên trang bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia, góp phần định hướng dư luận trong giới trẻ hết sức hiệu quả. 
        Bên cạnh đó, tổ chức đoàn các cấp sẽ chú trọng nắm bắt tâm tư, nguyện vọng của thanh niên, chủ động cung cấp thông tin kịp thời, giúp các bạn trẻ tiếp cận sớm để tránh bị tác động bởi tin xấu, tin giả, tin độc hại. Đồng thời, tích cực tổ chức các phong trào hành động cách mạng, qua đó góp phần bồi đắp lý tưởng cách mạng, tình yêu quê hương, đất nước cho thanh niên. Thực tiễn cho thấy, các phong trào hành động cách mạng chính là môi trường hiệu quả nhất để giáo dục, rèn luyện thanh niên. Trong bối cảnh Đảng ta đang đẩy mạnh sắp xếp tổ chức bộ máy, vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp và ban hành nhiều nghị quyết chiến lược, công tác Đoàn sẽ tiếp tục được đổi mới mạnh mẽ. Trong đó, các phong trào hoạt động của Đoàn Thanh niên sẽ hướng tới hiệu quả thực chất, có khả năng nhân rộng, mang lại lợi ích thiết thực cho xã hội.
        Ngoài các nội dung trên, tổ chức đoàn các cấp tích cực tạo nguồn, bồi dưỡng đoàn viên ưu tú để giới thiệu xem xét, kết nạp vào Đảng. Công tác này sẽ được thực hiện thông qua thực tiễn phong trào, chú trọng các đối tượng đặc thù như thanh niên công nhân, nông dân, trí thức trẻ, sinh viên, lực lượng vũ trang, thanh niên dân tộc thiểu số, tôn giáo và khu vực kinh tế tư nhân. Đồng thời, làm tốt công tác bồi dưỡng, cung cấp nguồn cán bộ trẻ chất lượng cho hệ thống chính trị; tham mưu cơ chế, chính sách để thu hút, phát huy tài năng trẻ. Cùng với đó, coi trọng việc xây dựng tổ chức đoàn trong sạch, vững mạnh toàn diện, bảo đảm tổ chức đoàn thực sự là hạt nhân chính trị của phong trào thanh niên.
        Bồi dưỡng thanh niên trở thành lực lượng kế cận xuất sắc của Đảng không chỉ là nhiệm vụ trước mắt mà còn là chiến lược lâu dài của đất nước ta. Khi được giáo dục toàn diện, định hướng đúng đắn và tạo môi trường rèn luyện phù hợp, thanh niên Việt Nam sẽ phát huy tối đa tiềm năng, trí tuệ và nhiệt huyết, góp phần quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa./.

(Trich nguồn: huongsenviet.com)

Mar 25, 2026

Báo cáo “tự do tôn giáo” của Hoa Kỳ về Việt Nam - Sự áp đặt phiến diện cần được bác bỏ

Tre Việt - Ngày 4/3/2026, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) tiếp tục công bố “Báo cáo thường niên về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2025” với những đánh giá tiêu cực về tình hình tự do tôn giáo tại Việt Nam. Việc USCIRF tiếp tục đưa Việt Nam vào danh sách các quốc gia bị cho là “vi phạm tự do tôn giáo” không phải là điều bất ngờ, nhưng lại thêm một lần cho thấy rõ một thực tế: những bản báo cáo này ngày càng bộc lộ sự phiến diện, áp đặt và xa rời thực tiễn. Đằng sau những dòng chữ tưởng như “khách quan” ấy không phải là sự thật, mà là cách nhìn bị dẫn dắt bởi định kiến và động cơ chính trị.
Hàng nghìn người tập trung tại Nhà thờ Lớn Hà Nội
 trong đêm Giáng sinh năm 2025
Không khó để nhận ra, các báo cáo kiểu này được xây dựng trên những nguồn thông tin một chiều, lặp đi lặp lại từ một số tổ chức, cá nhân vốn mang sẵn thái độ đối lập với Nhà nước Việt Nam. Những trường hợp cá biệt, những thông tin chưa được kiểm chứng, thậm chí bị bóp méo, lại được thổi phồng, khái quát thành “tình hình chung”. Cách tiếp cận đó không phải là nghiên cứu, càng không phải là đánh giá khoa học, mà là sự áp đặt chủ quan dưới vỏ bọc “nhân quyền”.
        Nhưng thực tiễn thì không thể bị phủ nhận bằng những dòng báo cáo. Việt Nam hôm nay là một bức tranh sinh động về đời sống tôn giáo: hàng triệu tín đồ thuộc nhiều tôn giáo khác nhau đang sinh hoạt bình thường; các cơ sở tôn giáo được xây dựng, trùng tu; các lễ hội tôn giáo diễn ra công khai, thu hút đông đảo người dân. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, mà còn được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật ngày càng hoàn thiện và bằng chính đời sống thực tiễn phong phú, ổn định.
        Thế nhưng, trong con mắt của một số tổ chức như USCIRF, những điều hiển nhiên đó dường như không tồn tại. Thay vào đó, họ cố tình đánh đồng giữa quản lý nhà nước với “hạn chế tự do”, giữa xử lý vi phạm pháp luật với “đàn áp tôn giáo”, v.v. Đây là sự ngụy biện nguy hiểm. Bởi ở bất kỳ quốc gia nào, quyền tự do - bao gồm cả tự do tôn giáo đều phải được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật. Không có thứ tự do vô giới hạn, càng không thể cho phép lợi dụng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của cộng đồng, phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc.
        Sự thật cần được gọi đúng tên: những trường hợp bị xử lý không phải vì “niềm tin tôn giáo”, mà vì hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng tôn giáo để chống phá. Việc cố tình đánh tráo bản chất đó không chỉ là sai lệch về nhận thức, mà còn là sự xuyên tạc có chủ đích.
        Điều đáng nói hơn, việc lặp đi lặp lại các đánh giá tiêu cực bất chấp thực tiễn cho thấy phía sau những bản báo cáo này không đơn thuần là “quan ngại”, mà là một logic chính trị quen thuộc: gây sức ép, can thiệp vào công việc nội bộ, áp đặt mô hình và tiêu chuẩn riêng lên các quốc gia có hệ thống chính trị khác biệt. Khi “tự do tôn giáo” bị sử dụng như một công cụ, thì bản thân khái niệm đó đã bị biến dạng.
        Việt Nam không né tránh đối thoại, nhưng kiên quyết bác bỏ mọi đánh giá thiếu khách quan, không phản ánh đúng thực tế. Thực tiễn đời sống tôn giáo ở Việt Nam: ổn định, hài hòa, phát triển chính là câu trả lời rõ ràng và thuyết phục nhất. Không một bản báo cáo nào có thể phủ nhận được những gì đang diễn ra hằng ngày trong đời sống của hàng triệu người dân.
        Vì vậy, điều cần thiết không chỉ là phản bác, mà còn là làm rõ bản chất vấn đề: tự do tôn giáo ở Việt Nam là hiện thực sống động, không phải là khái niệm bị áp đặt từ bên ngoài; còn những bản báo cáo như của USCIRF, nếu tiếp tục dựa trên định kiến và thông tin sai lệch, sẽ chỉ làm suy giảm chính uy tín của nó./.

Mar 23, 2026

Phản bác mưu đồ xuyên tạc “Nhân quyền Việt Nam là một con số không”

          Gần đây, trên trang Baoquocdan có bài viết cho rằng “Nhân quyền Việt Nam là con số không” và kêu gọi “xây dựng một Nhà nước Việt Nam tam quyền phân lập”. Đây là những luận điệu bóp méo sự thật về tình hình nhân quyền ở Việt Nam, đồng thời cường điệu hóa học thuyết “tam quyền phân lập” nhằm thực hiện mục tiêu chống phá chế độ.

1. Mục đích của các thế lực thù địch là xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam, thúc đẩy “xã hội dân sự” đối lập. Các luận điệu xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam thường tập trung phủ nhận các giá trị lý luận và thực tiễn về dân chủ, nhân quyền; lợi dụng các hiệp định, chương trình hợp tác quốc tế để gây sức ép chính trị, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường ở Việt Nam. Chúng kích động các vấn đề dân tộc, tôn giáo; xuyên tạc rằng Nhà nước Việt Nam hạn chế tự do ngôn luận, tự do hội họp, tự do bày tỏ chính kiến; đồng thời bóp méo việc áp dụng pháp luật, đặc biệt là Bộ luật Hình sự. Bên cạnh đó, chúng còn thúc đẩy quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” bằng cách đòi Việt Nam phải áp dụng ngay các tiêu chuẩn về quyền dân sự, chính trị theo mô hình phương Tây mà không tính đến điều kiện lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của đất nước. Chúng gắn vấn đề dân chủ, nhân quyền với các hoạt động hợp tác phát triển, tôn giáo, tiếp cận thông tin và hoạt động của các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp nhằm gây sức ép thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam.

Một thủ đoạn đáng chú ý nữa là, chúng lợi dụng danh nghĩa các tổ chức “xã hội dân sự”. Dưới vỏ bọc phản biện xã hội, một số tổ chức trá hình tìm cách định hướng hoạt động theo chiều hướng đối lập với Nhà nước, thúc đẩy xu hướng thoát ly sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước. Chúng tăng cường móc nối với các đối tượng chống đối trong nước, hậu thuẫn tài chính, vật chất nhằm hình thành các nhóm “bất đồng chính kiến”, từ đó hướng tới xây dựng các tổ chức chính trị đối lập, thúc đẩy mô hình “đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập”. Ngoài ra, các thế lực thù địch còn lợi dụng diễn đàn quốc tế, đặc biệt là các cơ chế của Liên hợp quốc, để vu cáo Việt Nam vi phạm quyền con người; trao giải thưởng cho một số đối tượng chống đối nhằm tạo dựng “ngọn cờ” chống phá Nhà nước Việt Nam. Thông qua đó, chúng kích động, lôi kéo và tập hợp lực lượng chính trị đối lập trong nước.

2. Các thế lực thù địch cố tình đồng nhất Nhà nước pháp quyền với mô hình “tam quyền phân lập”. Một số quan điểm sai trái cho rằng Nhà nước pháp quyền phải gắn với mô hình “tam quyền phân lập tuyệt đối”, coi đây là chuẩn mực chung của mọi quốc gia. Từ đó, họ cho rằng Việt Nam chưa xây dựng đúng Nhà nước pháp quyền vì không tổ chức quyền lực nhà nước theo mô hình phân lập ba quyền: lập pháp, hành pháp và tư pháp. Đây là cách nhìn phiến diện, không tính đến đặc thù lịch sử, văn hóa và điều kiện chính trị của Việt Nam.

Thực tế cho thấy, “tam quyền phân lập” là một học thuyết chính trị – pháp lý được hình thành trong những điều kiện lịch sử cụ thể của phương Tây và có nhiều cách vận dụng khác nhau ở mỗi quốc gia. Việc tổ chức quyền lực nhà nước ở mỗi nước phụ thuộc vào nhiều yếu tố như truyền thống chính trị, trình độ phát triển kinh tế – xã hội và đặc điểm văn hóa của từng dân tộc.

Ở Việt Nam, quyền lực nhà nước có nguồn gốc từ nhân dân và thuộc về nhân dân. Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, thông qua Hiến pháp và pháp luật để trao quyền cho các cơ quan nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp và tư pháp. Vì vậy, quyền lực nhà nước về nguyên tắc là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp và kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Hiến pháp năm 2013 khẳng định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo đảm công khai, minh bạch và kiểm soát quyền lực trên cơ sở nguyên tắc: Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ.

Trong thực tiễn, cơ chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Việt Nam được thực hiện thông qua nhiều hình thức như: hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp; hoạt động chất vấn của đại biểu dân cử; công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán nhà nước; vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội; cũng như sự tham gia giám sát của nhân dân. Những cơ chế này góp phần bảo đảm quyền lực nhà nước được thực hiện đúng pháp luật, tránh lạm quyền và phục vụ lợi ích của nhân dân. Mô hình “quyền lực nhà nước thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát” phù hợp với điều kiện chính trị, lịch sử và văn hóa của Việt Nam, đồng thời bảo đảm hiệu quả quản lý nhà nước và sự ổn định chính trị - xã hội.

Những năm qua, Việt Nam không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách bộ máy nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của nhân dân. Điều này góp phần tạo nên sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hội chủ nghĩa.

Tóm lại, nhận diện, đấu tranh và phản bác các quan điểm sai trái về nhân quyền và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin của nhân dân và giữ vững định hướng phát triển của đất nước. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân cần nâng cao bản lĩnh chính trị, tỉnh táo trước các luận điệu xuyên tạc, đồng thời góp phần khẳng định những thành tựu của Việt Nam trong bảo đảm quyền con người và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Mar 19, 2026

Tự do ngôn luận không phải là quyền bất khả xâm phạm

        Trên Bloger của Anhemdanchu, Phạm Minh Hạnh có bài viết: “Không tồn tại “giới hạn pháp luật” đối với quyền tự do ngôn luận”, cho rằng nhà cầm quyền độc tài cộng sản Việt Nam thường sử dụng các Điều 117 và Điều 331, Bộ luật Hình sự để bỏ tù người dân, nhà báo độc lập, nhà hoạt động xã hội khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận. Thực tế, Phạm Minh Hạnh đang cố tình không hiểu, vu cáo, xuyên tạc Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và tự do ngôn luận ở Việt Nam.
          Thứ nhất, cần khẳng định rằng quyền tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người được ghi nhận trong nhiều văn bản luật quốc tế. Điều 29 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 của Liên hợp quốc nêu rõ: “Mỗi người đều có nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
          Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”, nếu xâm phạm lợi ích quốc gia - dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác sẽ bị pháp luật nghiêm trị. Quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp bảo đảm, cho phép tự do tìm kiếm, tiếp nhận, và truyền đạt thông tin, quan điểm qua lời nói, văn bản, hoặc mạng xã hội. Tuy nhiên, quyền này phải thực hiện trong khuôn khổ pháp luật, không được xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, hoặc lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Theo đó, có thể hiểu Hiến pháp quy định “quyền tự do ngôn luận” của mọi công dân là quyền được tự do trong giới hạn mà pháp luật quy định, phù hợp với các giá trị đạo đức, văn hóa, truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam. Tự do ngôn luận khác với việc tùy tiện vu khống, bôi nhọ, xâm hại đến cá nhân, tổ chức. 
        Cơ sở pháp lý về quyền tự do ngôn luận tại Việt Nam được quy định rõ tại Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), Luật Báo chí, Luật An ninh mạng và các văn bản pháp luật liên quan, khẳng định quyền này đi đôi với nghĩa vụ thượng tôn pháp luật. Về phạm vi thực hiện: Công dân có quyền bày tỏ quan điểm, ý kiến về mọi lĩnh vực xã hội, bao gồm cả việc phản biện, đóng góp ý kiến thông qua các phương tiện truyền thông đại chúng và mạng xã hội. Về giới hạn pháp lý: Quyền tự do ngôn luận không phải là tuyệt đối, nó bị hạn chế khi xâm phạm an ninh quốc gia, quốc phòng, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức, cá nhân khác. Về hành vi bị cấm: Cấm xuyên tạc chính quyền, bịa đặt gây hoang mang, cổ súy hủ tục, hoặc sử dụng không gian mạng để phá hoại, chống phá Đảng và Nhà nước. Về xử lý vi phạm: Việc lạm dụng quyền tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích nhà nước, cá nhân có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự tùy theo mức độ nghiêm trọng. 
       Thứ hai, theo Điều 331, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), việc lợi dụng quyền tự do dân chủ xâm phạm đến lợi ích của nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức sẽ bị xử phạt như sau: Người nào lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do hội họp, lập hội và các quyền tự do dân chủ khác xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, thì bị phạt cảnh cáo, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm; Phạm tội gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), quy định về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là tội danh đặc biệt nghiêm trọng xâm phạm an ninh quốc gia, với khung hình phạt cao nhất lên đến 20 năm tù. Thực tiễn cho thấy, tự do ngôn luận tại Việt Nam luôn được Đảng, Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để hoạt động; được luật pháp bảo vệ, việc Phạm Minh Hạnh cho rằng, Việt Nam bỏ tù một số người dân, nhà báo độc lập, nhà hoạt động xã hội khi họ thực hiện quyền tự do ngôn luận là hoàn toàn bịa đặt, vu khống. Thực tế, những người này bị xử lý bằng pháp luật là do vi phạm Điều 117, Điều 331 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
        Tóm lại, việc hiểu đúng tự do ngôn luận không chỉ là tôn trọng quyền lợi cá nhân mà còn là sự nhận thức về trách nhiệm đạo đức và pháp luật trong việc sử dụng quyền này. Tự do ngôn luận không phải là tự do tùy tiện phát ngôn mà là một trách nhiệm được thực hiện theo các chuẩn mực pháp lý và đạo lý, qua đó góp phần bảo đảm an ninh tư tưởng - văn hóa và giữ vững ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội. Việc Phạm Minh Hạnh cố tình xuyên tạc, vu khống, bịa đặt tự do ngôn luận ở Việt Nam là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, quyền và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của Nhân dân. Chúng ta cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn./.
(Trích nguon: nhanvanviet.com)


Mar 16, 2026

Bác bỏ luận điệu phá hoại Ngày hội lớn của toàn dân

            Tre Việt - Ngày 15/3, trang facebook BBC Tiếng Việt New đăng bài: “Dân chủ tượng trưng”, xuyên tạc rằng: “Hàng chục triệu cử tri Việt Nam sẽ đi bỏ phiếu vào Chủ nhật để bầu ra 500 đại biểu Quốc hội từ danh sách ứng cử viên gần như hoàn toàn do Đảng Cộng sản cầm quyền đề cử”.

Cần khẳng định ngay rằng, đây là chiêu trò lợi dụng dân chủ, nhân quyền quen thuộc mà các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị sử dụng để chống phá cách mạng Việt Nam trong thời điểm diễn ra các sự kiện trọng đại, như cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân nhiệm kỳ 2026 - 2031

Như chúng ta đều biết, Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, diễn ra ngay sau thành công Đại hội XIV của Đảng. Đây cũng là sinh hoạt chính trị sâu rộng, là ngày hội lớn của toàn dân, nơi cử tri thực hiện quyền và nghĩa vụ làm chủ thông qua việc bỏ phiếu lựa chọn đại biểu tiêu biểu bầu vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp. Vì vậy, công tác chuẩn bị bầu cử đã được Hội đồng Bầu cử Quốc gia, các cơ quan ở Trung ương và địa phương triển khai đồng bộ, chặt chẽ, bảo đảm theo tiến độ theo luật định. Trong đó, công tác nhân sự được xác định là yếu tố then chốt, quyết định thành công của Cuộc bầu cử; chính vì thế mà công tác quan trọng này triển khai bài bản, chặt chẽ, được chuẩn bị “từ sớm, từ xa”, tuân thủ nghiêm ngặt Hiến pháp, Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, cũng như các hướng dẫn của Trung ương.

Việc lựa chọn người ứng cử được thông qua quy trình hiệp thương ba vòng do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, kết hợp với việc lấy ý kiến tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân. Quá trình chuẩn bị nhân sự được được tiến hành thận trọng, khách quan, dân chủ, thể hiện rõ trách nhiệm chính trị và sự vào cuộc nghiêm túc của các cấp, các ngành trong công tác cán bộ.

Đối với đại biểu Quốc hội khóa XVI, trên cơ sở kết quả Hội nghị hiệp thương lần thứ ba, ngày 14/2/2026, Hội đồng bầu cử quốc gia đã ban hành Nghị quyết số 151/NQ-HĐBCQG công bố danh sách chính thức 864 người ứng cử ở 182 đơn vị bầu cử trong cả nước (sớm hơn 12 ngày so với quy định). Trong đó, số người ứng cử đại biểu Quốc hôi khóa XVI do Trung ương giới thiệu là 217 người; địa phương có 647 người, đạt tỷ lệ 1,73 người ứng cử trên một đại biểu được bầu; bảo đảm số dư theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, đúng định hướng về cơ cấu, thành phần; trong đó chú trọng tỷ lệ đại biểu chuyên trách, đại biểu nữ, đại biểu là người dân tộc thiểu số.

Công tác nhân sự đặc biệt chú trọng kết hợp hài hòa giữa tiêu chuẩn chất lượng và cơ cấu đại biểu. Đối với đại biểu Quốc hội khóa XVI, cơ cấu ứng cử viên cơ bản bảo đảm định hướng về đại diện xã hội, cụ thể: tỷ lệ nữ giới đạt 45,37%; tỷ lệ trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) đạt 21,64%; tỷ lệ người dân tộc thiểu số đạt 21,76%; tỷ lệ người ngoài Đảng đạt 7,41%; tỷ lệ đại biểu tái cử đạt 27,31%; tỷ lệ người tự ứng cử đạt 0,46%.

Đối với Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, cơ cấu kết hợp gồm: tỷ lệ nữ giới đạt 44,20%); tỷ lệ trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) đạt 27,65%); tỷ lệ dân tộc thiểu số đạt 18,05%; tỷ lệ ngoài Đảng đạt 12,35%; tỷ lệ tái cử đạt 30,73%; tỷ lệ người tự ứng cử đạt 0,24%.

Đối với đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, cơ cấu kết hợp gồm: tỷ lệ nữ giới đạt 38,60%; tỷ lệ trẻ tuổi (dưới 40 tuổi) đạt 31,88%; tỷ lệ dân tộc thiểu số đạt 20,42%; tỷ lệ ngoài Đảng đạt 13,08%; tỷ lệ đại biểu tái cử đạt 33,88%); tỷ lệ người tự ứng cử đạt 0,05%.

Điểm nổi bật của Cuộc bầu cử lần này là quy trình sàng lọc, lựa chọn người ứng cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp được điều chỉnh theo hướng nâng cao tiêu chuẩn, chất lượng của người ứng cử; đồng thời, tăng tỷ lệ đại biểu hoạt động chuyên trách lên so với nhiềm kỳ trước. Theo đó, tỷ lệ đại biểu Quốc hội hoạt động chuyên trách tăng từ 133 đại biểu ở khóa XV lên 145 đại biểu ở khóa XVI, nhằm xây dựng một Quốc hội chuyên nghiệp và hiện đại hơn. Nhiệm kỳ này cũng tăng cường các nhân sự có trình độ chuyên môn cao, các nhà khoa học, chuyên gia, trí thức và doanh nhân tiêu biểu, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Trong danh sách chính thức những người ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI có 05 người tự ứng cử. Những người này đã thực hiện đầy đủ các thủ tục về hồ sơ, kê khai tài sản và nhận được sự tín nhiệm của cử tri nơi cư trú. Các ứng cử viên tự ứng cử được tạo mọi điều kiện thuận lợi và bảo đảm bình đẳng như các ứng cử viên khác trong việc tiếp xúc cử tri và vận động bầu cử.

Danh sách cử tri được niêm yết công khai từ sớm để Nhân dân kiểm tra, đối chiếu theo quy định của pháp luật. Ngay sau khi công bố danh sách chính thức những người ứng cử, các địa phương đã đồng loạt ban hành kế hoạch tổ chức hội nghị tiếp xúc cử tri để các ứng cử viên trình bày chương trình hành động.

Với sự chuẩn bị tích cực, trách nhiệm của các cấp, các ngành và sự hưởng ứng của đông đảo cử tri và Nhân dân, ngày 15/3/2026, cử tri khắp trên khắp mọi miền của Tổ quốc đã nô nức tham dự Ngày bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Công tác bầu cử được triển khai nghiêm túc, đồng bộ và đúng tiến độ theo quy định. Ngày bầu cử đã thật sự trở thành Ngày hội lớn của đất nước, nơi thể hiện tình đoàn kết, niềm tin tưởng, ý chí và khát vọng vươn lên trong kỷ nguyên mới. Điều đó khẳng định, công tác chuẩn bị nhân sự cho Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, bảo đảm tiến độ theo luật định. Đó cũng chính là minh chứng hùng hồn nhất khẳng định, dù BBC Tiếng Việt New có lợi dung chiêu bài dân chủ, xuyên tạc lố bịch về công tác nhân sự của Cuộc bầu cử lần này cũng không thể phá hoại Ngày hội lớn của toàn dân./.

Mar 15, 2026

Bảo vệ cuộc bầu cử trước các luồng tin giả

         Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XVI và HĐND các cấp ở Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt khẳng định quyền làm chủ thật sự, quyền của mỗi người dân tham gia trực tiếp vào xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh nhằm đưa đất nước phát triển mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới. Thế nhưng, trong khi đa số người dân phấn khởi, hào hứng, trách nhiệm tham gia chuẩn bị cho ngày hội non sông, với tinh thần tìm hiểu kỹ lưỡng để chọn ra người xứng đáng đại diện cho mình tham gia vào cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất và cơ quan quyền lực ở địa phương, thì một số đối tượng ra sức xuyên tạc, tạo nên các chiến dịch truyền thông sai lệch để chống phá. 

       Trong bối cảnh hiện nay, thông tin có thể lan truyền với tốc độ chóng mặt, chỉ trong vài phút, một bài viết, một video hay thậm chí một câu bình luận ngắn có thể tiếp cận hàng triệu người. Các đối tượng cơ hội tung ra những luận điệu như “bầu cử hình thức”, “kết quả đã định sẵn” hay “cử tri không có lựa chọn thực sự” trên một số nền tảng mạng xã hội, nhằm cố tình tạo nên một làn sóng thông tin hoài nghi, gây nhiễu. Thủ đoạn, cách thức lan truyền của những thông tin này là cố tình tạo ra làn sóng truyền thông thao túng theo “quy trình”, bắt đầu là tạo các tin giả, thao túng cảm xúc, buồng vang thông tin, bot ẩn danh và hiệu ứng lặp lại, v.v. Các bài viết kiểu này thường mở đầu bằng những câu như “ai cũng biết bầu cử chỉ là hình thức” hoặc “mọi kết quả đã được sắp đặt”. Đây là kỹ thuật thông tin áp đặt với việc đưa ra luận điệu sai trái trước, rồi dẫn chứng kiểu nguỵ biện, suy diễn đi đến điều chúng muốn là phủ nhận bản chất dân chủ của chế độ, cổ súy các mô hình chính trị phương Tây.

        Bên cạnh tin giả, một kỹ thuật khác thường được những kẻ chống phá sử dụng là thao túng cảm xúc. Nhiều bài viết không tập trung vào lập luận mà cố tình khơi gợi sự phẫn nộ, hoài nghi hoặc thất vọng. Chẳng hạn, thay vì phân tích quy trình hiệp thương và lựa chọn ứng cử viên, các bài viết này chỉ nhấn mạnh những từ khóa như “áp đặt”, “thiếu cạnh tranh” hay “độc quyền”. Mục tiêu không phải là thuyết phục bằng lý lẽ mà là kích hoạt phản ứng cảm xúc. Khi người đọc bị cuốn vào trạng thái bức xúc hoặc nghi ngờ, họ có xu hướng chia sẻ thông tin mà không kiểm chứng. Chính sự lan truyền cảm tính này tác động làm cho tin giả lan rộng nhanh chóng.

        Hiện tượng “echo chamber”, hay còn gọi là buồng vang thông tin, cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình này. Trên mạng xã hội, người dùng thường theo dõi và tương tác với những người có quan điểm giống mình. Khi một thông tin sai lệch xuất hiện trong cộng đồng đó, nó sẽ được lặp lại liên tục bởi những tài khoản cùng quan điểm. Dần dần, người trong nhóm cảm thấy như thể “ai cũng nghĩ như vậy”, tạo nên hiệu ứng “niềm tin xã hội giả”. Thực chất, đó chỉ là hiệu ứng của một không gian thông tin khép kín. Khi những bài viết xuyên tạc về bầu cử được chia sẻ trong các nhóm này, chúng dễ dàng được củng cố và khuếch đại.

        Một yếu tố khác làm tăng tốc độ lan truyền của thông tin sai lệch là sự xuất hiện của các bot và tài khoản ẩn danh. Trong nhiều trường hợp, một bài viết tiêu cực về bầu cử được chia sẻ đồng loạt bởi hàng chục tài khoản có đặc điểm giống nhau như ảnh đại diện mơ hồ, lịch sử hoạt động ngắn và nội dung đăng tải gần như trùng lặp. Đây là dấu hiệu thường thấy của các mạng lưới bot. Mục tiêu của chúng là tạo ra cảm giác rằng một quan điểm nào đó đang được rất nhiều người ủng hộ. Khi người dùng bình thường nhìn thấy hàng loạt bình luận giống nhau, họ dễ tin rằng đó là “ý kiến chung của xã hội”.

        Tuy nhiên, yếu tố quan trọng nhất trong chiến dịch thông tin sai lệch chính là hiệu ứng lặp lại. Một thông tin dù sai lệch nhưng nếu được lặp đi lặp lại nhiều lần có thể trở nên “bán tín bán nghi”, dần tạo nên một sự mặc nhiên quen thuộc và đôi khi nó bị nhầm lẫn với tính xác thực.

        Những chiến thuật này không phải là hiện tượng chỉ có ở Việt Nam. Ở nhiều nước trên thế giới, nhiều cuộc bầu cử cũng từng trở thành mục tiêu của các chiến dịch thông tin sai lệch. Cuộc bầu cử tổng thống Mỹ năm 2020 là một ví dụ điển hình. Sau khi kết quả được công bố, hàng loạt tin giả về gian lận bầu cử lan truyền mạnh mẽ trên mạng xã hội, dù nhiều cơ quan chức năng và tòa án đã bác bỏ các cáo buộc đó. Sự lan truyền của những thông tin sai lệch đã góp phần làm gia tăng phân cực chính trị trong xã hội Mỹ và gây ra nhiều tranh cãi kéo dài. Trường hợp này cho thấy truyền thông sai lệch có thể tác động mạnh mẽ đến nhận thức xã hội, tác động tiêu cực nhiều mặt, gây nên những phản ứng trái chiều và thậm chí cản trở sự phát triển dân chủ cũng như sự phát triển toàn diện của một quốc gia.

        Trước những thách thức đó, việc phát hiện và xử lý thông tin sai lệch ngày càng trở nên quan trọng. Công nghệ trí tuệ nhân tạo đang được nhiều quốc gia sử dụng để phát hiện các dấu hiệu bất thường trong mạng lưới thông tin, chẳng hạn như hoạt động đồng loạt của bot hoặc sự lan truyền bất thường của một nội dung nào đó. Các thuật toán phân tích dữ liệu có thể giúp nhận diện những chiến dịch truyền thông có tổ chức, từ đó hỗ trợ cơ quan chức năng và các nền tảng mạng xã hội xử lý kịp thời.

        Bên cạnh công nghệ, giáo dục truyền thông và giáo dục việc tiếp nhận thông tin đóng vai trò hết sức quan trọng. Khi người dùng internet hiểu rõ cách thức tin giả được tạo ra và lan truyền, họ sẽ có khả năng nhận diện và phản biện thông tin sai lệch tốt hơn. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh bầu cử, khi mỗi cử tri không chỉ là người tiếp nhận thông tin mà còn là người lan truyền thông tin thông qua các hành vi chia sẻ, bình luận…

        Cuộc bầu cử Quốc hội khóa XVI vì thế không chỉ là một sự kiện chính trị lớn mà đây còn là dịp phép thử đối với khả năng nhận diện và xử lý thông tin sai lệch trong xã hội số. Khi cử tri hiểu rõ các chiêu trò truyền thông thao túng – từ tin giả, bot đến hiệu ứng lặp lại - họ sẽ không dễ bị dẫn dắt bởi những thông tin thiếu căn cứ. Và khi sự tỉnh táo của người dân kết hợp với các biện pháp công nghệ và giáo dục truyền thông, những chiến dịch xuyên tạc sẽ bị bóc tách và ngăn chặn.

        Với thực tế đông đảo người dân đi bầu cử ngày 15/3/2026, đã và đang tạo nên không chí chính trị thực sự là một Ngày hội non sông, ngày hội của toàn dân, với kỳ vọng vào các đại biểu xứng đáng với sự tin tưởng của cử tri cả nước, bằng chương trình hành động và sự nỗ lực không ngừng, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển, nâng cao đời sống toàn diện mọi người dân Việt Nam./.
(Trích nguồn://ivanlevanlan.wordpress.com/)


Mar 13, 2026

Vạch trần luận điệu vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam là “chế độ hai mặt”

        Mới đây, trên trang Baoquocdan xuất hiện bài viết “Lương tri dân chủ, hãy cảnh giác!” của bút danh Quê Hương. Bài viết đã cố tình vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam là một “chế độ hai mặt”: bên ngoài tận dụng trật tự và tự do của thế giới để duy trì tăng trưởng và tính chính danh, còn bên trong vận hành một hệ thống “phi tự do”, nơi pháp luật bị bóp méo thành công cụ đàn áp và các giá trị phổ quát bị coi là mối đe dọa. Đây là luận điệu xuyên tạc có chủ đích, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân, tiến tới kích động tư tưởng chống đối và gây bất ổn xã hội. Do đó, cần được vạch trần và đấu tranh phản bác.

Thứ nhất, vu cáo Đảng Cộng sản Việt Nam“tận dụng thế giới dân chủ để duy trì tính chính danh quốc tế”. Cần khẳng định, luận điệu này đã cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, đánh tráo bản chất vấn đề khi cho rằng sự phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam không xuất phát từ nội lực và sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc, mà chỉ là hành vi “tận dụng” hệ thống quốc tế để duy trì quyền lực. Đây là cách lập luận phi logic và mang tính xuyên tạc có chủ đích. Bởi lẽ, hiện nay trong thế giới hiện đại, hội nhập quốc tế là xu thế tất yếu và là quyền bình đẳng của mọi quốc gia có chủ quyền. Không có quốc gia nào phát triển được nếu tự cô lập mình khỏi các dòng chảy kinh tế, thương mại và khoa học toàn cầu.

Thực tiễn chứng minh, những thành tựu đạt được trong 40 đổi mới của Việt Nam là kết quả của đường lối đúng đắn, phù hợp với quy luật phát triển và nguyện vọng của nhân dân. Từ một nền kinh tế lạc hậu, thiếu thốn, Việt Nam đã vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế năng động, có quan hệ thương mại với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ. Hàng triệu người dân thoát khỏi đói nghèo, đời sống vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Bên cạnh đó, tính chính danh của một chế độ không phải do bên ngoài “ban phát”, mà được khẳng định bằng sự ủng hộ của nhân dân và hiệu quả quản trị đất nước. Đảng Cộng sản Việt Nam giành được vai trò lãnh đạo không phải bằng áp đặt, mà bằng lịch sử đấu tranh giành độc lập dân tộc, bằng sự hy sinh to lớn và bằng chính những thành quả xây dựng đất nước. Sự phát triển kinh tế, ổn định xã hội và vị thế quốc tế ngày càng nâng cao chính là minh chứng rõ ràng nhất cho tính chính danh đó.

Do vậy, luận điệu cho rằng Việt Nam chỉ “tận dụng thế giới dân chủ để duy trì tính chính danh quốc tế” thực chất là sự phủ nhận vai trò của chính nhân dân Việt Nam; là cố tình hạ thấp năng lực tự chủ của đất nước, bóp méo thực tiễn, nhằm tạo ra nhận thức sai lệch rằng sự phát triển của Việt Nam không bền vững và không chính đáng.

Thứ hai, cáo buộc hệ thống pháp luật Việt Nam chỉ là công cụ để duy trì quyền lực, không phải để bảo vệ công lý. Đây là luận điệu cố ý quy chụp, đánh đồng việc thực thi pháp luật với “đàn áp”, nhằm làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với hệ thống bảo vệ pháp luật.

Có thể khẳng định, pháp luật Việt Nam không phải là công cụ đàn áp, mà là nền tảng để bảo đảm trật tự, ổn định và quyền lợi của nhân dân. Nhờ có hệ thống pháp luật và bộ máy thực thi, xã hội được vận hành trong khuôn khổ, quyền và lợi ích hợp pháp của người dân được bảo vệ. Người dân có quyền học tập, lao động, kinh doanh, tự do đi lại, tiếp cận thông tin và tham gia vào đời sống xã hội. Một xã hội mà hàng triệu doanh nghiệp hoạt động, hàng chục triệu người sử dụng không gian mạng để trao đổi thông tin và bày tỏ quan điểm không thể bị gọi là một xã hội “đàn áp” hay “bị bóp nghẹt tự do” được.

Với thủ đoạn tinh vi, bài viết đã cố tình đánh đồng việc thực thi pháp luật với cái gọi là “đàn áp”, nhằm tạo ra tâm lý hoài nghi và đối kháng. Nhưng cần thấy rõ rằng, ở bất kỳ quốc gia nào, pháp luật đều được sử dụng để xử lý các hành vi vi phạm, bảo vệ lợi ích chung của xã hội. Không có quốc gia nào cho phép các hành vi lợi dụng tự do để phá hoại an ninh quốc gia hoặc gây rối trật tự xã hội. Việc xử lý những hành vi vi phạm không phải là biểu hiện của sự phi tự do, mà là biểu hiện của sự thượng tôn pháp luật. Cùng với đó, việc gán ghép rằng Việt Nam “coi các giá trị phổ quát là mối đe dọa” thực chất là một chiêu bài nhằm áp đặt hệ tiêu chuẩn chính trị của họ lên một quốc gia có chủ quyền. Việt Nam luôn tiếp thu các giá trị tiến bộ của nhân loại, nhưng đồng thời bảo vệ độc lập, ổn định và lợi ích dân tộc. Không có cái gọi là “giá trị phổ quát” nếu nó bị sử dụng như một công cụ để can thiệp, gây bất ổn hoặc phục vụ mục tiêu chính trị bên ngoài.

Tóm lại, bài viết trên trang Baoquocdan của bút danh Quê Hương về cái gọi là “chế độ hai mặt” không phải là sự thật khách quan, mà là sự vu khống có chủ ý nhằm hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Mọi sự xuyên tạc, dù được ngụy trang dưới chiêu bài “dân chủ”, “lương tri” hay bất kỳ núp bóng dưới chiêu trò nào cũng không thể che lấp được sự thật. Điều quan trọng là phải luôn tỉnh táo nhận diện, đấu tranh và bác bỏ các luận điệu sai trái, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng, sự ổn định và con đường phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới của dân tộc./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)