Trước, trong thời gian diễn ra Đại hội XIV của Đảng, mức độ và tính chất các hoạt động chống phá của các cá nhân, tổ chức thù địch, phản động có chiều hướng phức tạp, tinh vi hơn, đặc biệt là trên không gian mạng. Tuy nhiên, sự thành công của Đại hội là minh chứng thuyết phục bác bỏ những luận điệu sai trái.
Những ngày qua, nhân kỷ niệm 96 năm ngày
thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (3/2/1930 - 3/2/2026), các thế lực thù địch, tổ
chức phản động lưu vong, phần tử cơ hội chính trị lại tiếp tục luận điệu tuyên
truyền chống phá, bôi nhọ thành quả, vai trò lãnh đạo của Đảng.
Những
luận điệu xuyên tạc trên không gian mạng
Gần đây, một số bài viết đưa ra xu hướng
tư tưởng của những người tự xưng “đi tìm con đường cứu nguy cho dân tộc”, “tìm
con đường thứ 3”… và ngụy biện rằng, “Đảng Cộng sản Việt Nam chiếm quyền của
dân, vi phạm dân chủ, nhân quyền”; “Đảng không nên giữ vai trò lãnh đạo, không
nên và không thể lãnh đạo tuyệt đối”; “phải đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập
thì đất nước mới phát triển”, v.v.
Họ tìm cách ngụy tạo, cắt dán thông tin,
đổi trắng thay đen, bịa đặt những chi tiết không đúng sự thật hòng bôi nhọ danh
dự, uy tín, lịch sử hào hùng, vẻ vang của Đảng và các đồng chí lãnh đạo Đảng. Lợi
dụng mối quan hệ giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với các đảng cộng sản trên thế giới,
các thế lực thù địch đưa ra ý kiến bình luận, so sánh sai lệch về lịch sử Đảng
ta với lịch sử các đảng cộng sản anh em trên thế giới, quy chụp Đảng ta là “rập
khuôn”, “bắt chước”.
Từ đó, họ đánh tráo bản chất, xuyên tạc
về sự lựa chọn con đường XHCN tại Hội nghị thành lập Đảng năm 1930 là một “sai
lầm lịch sử”. Hướng lái, xuyên tạc từ sai lầm này đến sai lầm trong việc đưa ra
Chính cương, Sách lược vắn tắt là “giáo điều”, “sao chép” máy móc mô hình đấu
tranh giai cấp từ bên ngoài, gây ra sự chia rẽ dân tộc, đưa đất nước vào con đường
đấu tranh giai cấp cực đoan, trái với truyền thống dân tộc và là “nguyên nhân của
những đau thương trong lịch sử”. Qua đó, các thế lực thù địch, các tổ chức phản
động lưu vong, số đối tượng cơ hội chính trị phủ nhận tính tất yếu khách quan của
việc lựa chọn con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phủ nhận tính chính nghĩa,
thành công của Cách mạng Tháng Tám năm 1945, cho đây chỉ là cuộc “đảo chính”,
là “sự ăn may” tại thời điểm Nhật đảo chính Pháp và đầu hàng đồng minh tạo nên
một “khoảng trống quyền lực”. Xuyên tạc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và
đế quốc Mỹ xâm lược là sai lầm, ngụy biện rằng không nhất thiết phải tiến hành
chiến tranh cách mạng, không nhất thiết phải sử dụng bạo lực để “tránh việc gây
chết chóc cho người dân vô tội, cho đồng bào ở cả hai miền Nam - Bắc”. Họ phủ
nhận nỗ lực, thành tựu đạt được sau 40 năm đổi mới, miệt thị do Đảng lãnh đạo
nên Việt Nam ngày càng tụt hậu, đất nước lạc hậu, kinh tế kém phát triển, xã hội
không có tự do, dân chủ, v.v.
Những luận điệu này thực chất chỉ là “bổn
cũ soạn lại”, mang tính cũ mòn, sáo rỗng nhưng họ chỉ “hâm nóng” vào các dịp Việt
Nam kỷ niệm ngày thành lập Đảng hay tổ chức các sự kiện chính trị quan trọng. Về
bản chất, các luận điệu đó hoàn toàn sai trái và nguy hiểm bởi đánh tráo bản chất,
xuyên tạc về vai trò, ý nghĩa lịch sử sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, vai
trò của Đảng đối với công cuộc lãnh đạo dân tộc giải phóng đất nước, đánh đuổi
xâm lăng, lật đổ chế độ áp bức, bóc lột, đấu tranh bảo vệ Tổ quốc, thống nhất
giang sơn.
Hiện nay, dưới những vỏ bọc như “phản biện
xã hội”, “góp ý xây dựng”, “lo cho tương lai đất nước”,… nhiều đối tượng đã cố
tình bóp méo bản chất các chủ trương, chính sách lớn của Đảng trong đổi mới,
phát triển đất nước, xuyên tạc rằng đường lối phát triển đất nước “thiếu thực tế”,
“lệch hướng”, “không theo kịp thời đại”, làm méo mó những quan điểm có tầm nhìn
chiến lược của Đảng; gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân
tộc, cản trở sự phát triển của đất nước.
Những luận điệu sai trái, xuyên tạc của
các thế lực thù địch, phản động hòng làm thay đổi nhận thức, tâm lý, tình cảm của
cán bộ, đảng viên và quần chúng, gây hoài nghi, mất niềm tin vào lịch sử của Đảng,
phủ nhận công lao vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ đó làm suy yếu nền tảng
tư tưởng của Đảng, kích động tâm lý nghi ngờ trong nội bộ, gây chia rẽ giữa Đảng
với nhân dân. Một khi niềm tin bị xói mòn, sự đồng thuận xã hội bị phá vỡ thì
đó chính là mảnh đất màu mỡ để các thế lực chống phá thúc đẩy những kịch bản
chính trị nguy hiểm như đã từng diễn ra ở nhiều nước trên thế giới, được gọi là
“cách mạng màu”.
Lịch
sử đã chọn Đảng Cộng sản Việt Nam giữ vai trò lãnh đạo
Năm 1858, Pháp nổ súng xâm lược Việt
Nam, các cuộc khởi nghĩa chống thực dân Pháp theo tiếng gọi “Cần Vương” do các
văn thân, sĩ phu lãnh đạo đã nổ ra mạnh mẽ nhưng tất cả đều bị đàn áp và lần lượt
tan rã. Những năm đầu thế kỷ XX, phong trào yêu nước chống xâm lược Pháp lại
liên tục nổ ra như: Phong trào Đông Du (1905), Việt Nam Quang phục Hội (1912)
do Phan Bội Châu khởi xướng; phong trào Duy Tân do Phan Châu Trinh phát động
(1906-1908); phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục (1907) do Lương Văn Can, Nguyễn
Quyền và nhiều nhân sĩ yêu nước lãnh đạo. Tất cả các phong trào đều lần lượt thất
bại bởi sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù.
Cuối những năm 20 của thế kỷ XX, nhiều tổ
chức và đảng phái chính trị ở Việt Nam được thành lập và đều có khuynh hướng, mục
tiêu đấu tranh đòi độc lập dân tộc như Việt Nam Nghĩa đoàn, Hội Phục Việt, Đảng
Thanh niên Việt Nam, Việt Nam Quốc dân Đảng, Hội kín Nam Kỳ, v.v. Đặc biệt, nửa
cuối năm 1929, đầu năm 1930, ở Việt Nam xuất hiện 3 tổ chức cộng sản là Đông
Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên đoàn. Sự
ra đời của 3 tổ chức cộng sản đã tiếp tục thúc đẩy phong trào công nhân và
phong trào yêu nước phát triển mạnh mẽ. Tuy nhiên, 3 tổ chức cộng sản lại hoạt
động riêng rẽ, tranh giành ảnh hưởng lẫn nhau, tạo ra sự chia rẽ, mất đoàn kết,
làm phân tán sức mạnh chung của phong trào, điều này nếu để lâu sẽ không có lợi
cho cách mạng Việt Nam.
Ngày 3/2/1930, dưới sự lãnh đạo của đồng
chí Nguyễn Ái Quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam được thành lập trên cơ sở hợp nhất 3
tổ chức cộng sản nói trên. Sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam vừa tuân theo
quy luật chung, vừa tuân theo quy luật lịch sử đặc thù của Việt Nam đã giải quyết
triệt để cuộc khủng hoảng về đường lối giải phóng dân tộc vào cuối thế kỷ XIX,
đầu thế kỷ XX, mở ra một thời đại mới trong lịch sử xây dựng, phát triển đất nước.
Sứ mệnh và vai trò của Ðảng Cộng sản Việt
Nam đã được khẳng định ngay từ khi mới thành lập, được chỉ rõ trong Chính cương
vắn tắt, Sách lược vắn tắt và nay đang thực hiện công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Vai trò
lãnh đạo của Đảng đã được thể hiện trong những năm 30 của thế kỷ XX đến nay đã
đánh dấu bằng các mốc son chói lọi. Đảng đã lãnh đạo nhân dân giành thắng lợi
cuộc Tổng khởi nghĩa Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân
chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) – Nhà nước dân chủ
nhân dân đầu tiên ở khu vực Đông Nam châu Á; thắng lợi vang dội của hai cuộc
kháng chiến trường kỳ chống thực dân, đế quốc, giải phóng và thống nhất đất nước;
những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới
đất nước.
Khẳng
định vai trò lãnh đạo của Đảng trong bối cảnh mới
Trải qua 96 năm lãnh đạo cách mạng, Đảng
Cộng sản Việt Nam đã chứng minh vai trò lịch sử và bản lĩnh của một Đảng cầm
quyền chân chính: kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; đồng
thời, không ngừng đổi mới tư duy, phương thức lãnh đạo để đáp ứng yêu cầu phát
triển của đất nước trong từng giai đoạn lịch sử. Có thể khẳng định, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, trên nền tảng của chủ nghĩa Mác Lê nin, tư
tưởng Hồ Chí Minh, với hệ thống nghị quyết chiến lược mang tính kiến tạo, đất
nước ta đang đứng trước vận hội phát triển mới. Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc
không phải là sự thay đổi con đường, mà là sự phát triển ở tầm cao mới của con
đường mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân ta đã lựa chọn - con đường độc lập dân tộc gắn
liền với chủ nghĩa xã hội.
Từ nền móng vững chắc là thế và lực đã
được tạo dựng, Đại hội XIV đã vạch ra tầm nhìn dài hạn để dẫn dắt dân tộc ta vững
tin dưới lá cờ vinh quang của Đảng, chung sức, đồng lòng thực hiện thắng lợi mục
tiêu: Đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện
đại, thu nhập trung bình cao; đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập
cao.
Để có thể gánh vác sứ mệnh lớn lao ấy,
đòi hỏi Ban Chấp hành Trung ương khóa mới phải thật sự là một tập thể đoàn kết
và vững mạnh, trí tuệ và bản lĩnh; dám nghĩ, dám làm, dám đổi mới và dám chịu
trách nhiệm trước Đảng, trước Nhân dân. Sức mạnh của Đảng, được bồi đắp thông
qua quá trình lãnh đạo có tính hệ thống, kiên định về mục tiêu nhưng linh hoạt
trong phương thức, cùng sự đoàn kết của toàn dân tộc, sự đồng thuận và tham gia
ngày càng sâu của toàn xã hội trở thành động lực mạnh mẽ để Đảng Cộng sản Việt
Nam vững vàng gánh vác trọng trách lịch sử trong thời đại mới.
Trong bối cảnh thế giới biến động, cạnh
tranh chiến lược ngày càng gay gắt và tái cấu trúc chuỗi giá trị toàn cầu diễn
ra sâu rộng, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống đan xen, Đại
hội XIV thể hiện rõ bản lĩnh cầm quyền vững vàng của Đảng: Không dao động trước
biến động, không né tránh khó khăn, không thỏa hiệp với những lực cản của sự
phát triển. Đại hội nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá đúng tình hình đất nước,
chỉ rõ cả thành tựu và hạn chế, từ đó hoạch định con đường phát triển của đất
nước bằng tư duy tỉnh táo, tinh thần trách nhiệm cao và tầm nhìn cho một kỷ
nguyên mới.
Tổng Bí thư Tô Lâm khẳng định: “Thời điểm
bắt đầu kỷ nguyên mới là Đại hội XIV của Đảng, từ đây, mọi người dân Việt Nam,
hàng trăm triệu người như một, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đồng tâm hiệp lực,
chung sức đồng lòng, tranh thủ tối đa thời cơ, thuận lợi, đẩy lùi nguy cơ,
thách thức, đưa đất nước phát triển toàn diện, mạnh mẽ, bứt phá và cất cánh”.
Kỷ niệm 96 năm ngày thành lập Đảng, với
niềm tin mới và khí thế mới, toàn Đảng, toàn dân ta bày tỏ niềm tin vào kết quả
Đại hội XIV cũng như quyết tâm biến Nghị quyết Đại hội thành động lực hành động,
góp phần xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh mới. Thực
tiễn đó là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ các thông tin sai trái, các luận
điệu quy chụp, phủ nhận thành tựu trên các lĩnh vực, làm thất bại ý đồ chính trị
hòng hạ thấp hình ảnh, uy tín, danh dự đất nước và con người Việt Nam, chia rẽ
đại đoàn kết toàn dân tộc./.
(Trích
nguồn: huongsenviet.com)


.%20Ban%20Ch%E1%BA%A5p%20h%C3%A0nh%20Trung%20%C6%B0%C6%A1ng%20kh%C3%B3a%20XIV%20ra%20m%E1%BA%AFt%20%C4%90%E1%BA%A1i%20h%E1%BB%99i%20(ngu%E1%BB%93n%20baochinhphu.vn).jpg)






