Jul 16, 2026

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc giá trị của Tuyên ngôn độc lập năm 1945

         Tre Việt - Ngày 14/7, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài:  “Tuyên ngôn độc lập hay là cái bánh vẽ mị dân tinh vi?” của tác giả Nhật Ngôn. Trong bài viết, Nhật Ngôn sử dụng ngôn từ hết sức phản động, nhằm xuyên tạc nội dung và hạ thấp giá trị lịch sử của Tuyên ngôn độc lập năm 1945, khi kết luận rằng: “Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 là bản copy phong cách tuyên ngôn 4/7/1776 nhằm mục đích mị dân và hiệu triệu quần chúng… biến hàng triệu người dân thành công cụ đẩy lùi các thế lực ngoại bang, trong khi các quyền lợi dân chủ thực chất của người dân thì không có bất cứ sự bảo đảm nào. Từ đó về sau, mọi cam kết, khẩu hiệu hứa hẹn các mục tiêu theo kế hoạch 5 năm đều chỉ là cái bánh vẽ mị dân được vẽ ra liên tục”.

Cần khẳng định ngay rằng, Tuyên ngôn Độc lập được Bác Hồ tuyên đọc tại Quảng trường Ba Đình ngày 02/9/1945 là Tuyên ngôn lập quốc của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh, thể hiện sâu sắc ý chí, khát vọng của Nhân dân ta về độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

Việc lãnh tụ Hồ Chí Minh dẫn lời Tuyên ngôn của nước Mỹ và nước Pháp thể hiện bản lĩnh văn hóa tuyệt vời của vị lãnh tụ cách mạng. Từ việc dẫn Tuyên ngôn của Mỹ, Hồ Chí Minh muốn cho nhân dân thế giới thấy rằng, Nhân dân Việt Nam đấu tranh chống xâm lược để giành độc lập, tự do cho dân tộc mình là quyền chính đáng, thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm. Việc dẫn Tuyên ngôn của nước Pháp, Hồ Chí Minh cũng muốn để nhân dân thế giới hiểu rõ rằng, nước Pháp đã từng giương cao ngọn cờ đấu tranh chống chế độ phong kiến để thực hiện dân chủ và tiến bộ. Cả hai bản Tuyên ngôn này, đều ghi dấu ấn tích cực và tiến bộ trong sự phát triển tư tưởng chính trị, nhân văn của nhân loại. Điều đáng tiếc là, sau khi giai cấp tư sản ở Mỹ và Pháp giành được quyền thống trị, họ đã đi ngược lại những giá trị văn hóa, nhân văn đó khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và nhiều dân tộc khác. Vì thế, mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã trích dẫn lời bất hủ trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ, rằng: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Đồng thời, Người nhắc lại lời Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”. Không chỉ có thế, trong Tuyên ngôn độc lập, Hồ Chí Minh đã mở rộng và phát triển quyền của con người thành quyền tự do, độc lập của dân tộc. Vì lẽ đó, không thể xuyên tạc: “Tuyên ngôn Độc lập là bản copy phong cách tuyên ngôn 4/7/1776 nhằm mục đích mị dân và hiệu triệu quần chúng”!.

80 năm qua, kể từ khi bản Tuyên ngôn độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời, dân tộc ta đã trải qua nhiều thời kỳ lịch sử gắn với những biến động của tình hình chính trị khu vực và thế giới. Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong xây dựng chủ nghĩa xã hội mà Tuyên ngôn độc lập đã chỉ lối, nhất là trong gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới đã khẳng định sự phát triển mạnh mẽ, tính hiện thực và bản chất tốt đẹp của chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Độc lập, chủ quyền và môi trường hòa bình được giữ vững, chính trị - xã hội ổn định, kinh tế ngày càng phát triển, quốc phòng, an ninh được bảo đảm vững chắc, quan hệ đối ngoại, hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, đời sống Nhân dân không ngừng được nâng cao.

Từ một nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam đã thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước thiếu lương thực, đến nay Việt Nam đã không những bảo đảm được an ninh lương thực. Tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt 8,02%, tạo nền tảng vững chắc cho mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên từ năm 2026 và các năm tiếp theo. Quy mô GDP năm 2025 đạt trên 514 tỉ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020, GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD (mục tiêu Đại hội XIII đề ra là 4.700 USD - 5.000 USD), gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao. Chỉ số phát triển con người HDI liên tục được cải thiện qua các năm (năm 2025, tăng 14 bậc, đạt 0,766 điểm, thuộc nhóm nước phát triển con người cao). Chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021.

Đặc biệt, Đảng, Nhà nước huy động nguồn lực, tập trung thực hiện hiệu quả các chính sách bảo đảm an sinh, phúc lợi xã hội, giảm nghèo bền vững, không ngừng nâng cao đời sống tinh thần, vật chất của nhân dân. Việt Nam được đánh giá là hình mẫu thành công trong thực hiện các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ (MDGs), hoàn thành mục tiêu xóa đói, giảm nghèo trước thời hạn 10 năm, v.v. Thành tựu đó có được từ những định hướng đúng đắn mà Tuyên ngôn độc lập đã vạch lối, để “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Thành tựu đó là sự thật, được các tầng lớp Nhân dân ghi nhận và cộng đồng quốc tế đánh giá cao, chứ không như luận điệu: “mọi cam kết, khẩu hiệu hứa hẹn các mục tiêu theo kế hoạch 5 năm đều chỉ là cái bánh vẽ mị dân được vẽ ra liên tục” mà Việt Nam Thời Báo rêu rao!.

Tuyên ngôn độc lập ra đời đã hơn 80 năm, song tinh thần, giá trị của nó vẫn đang tỏa sáng và tiếp tục sẽ là kim chỉ nam cho cách mạng Việt Nam trong giai đoạn phát triển mới. Mọi mưu đồ xuyên tạc, hạ thấp giá trị của bản Tuyên ngôn độc lập sẽ thất bại trước lý tưởng cao đẹp của bản Tuyên ngôn đó./.

Khi sự “cợt nhả” trở thành công cụ xuyên tạc lịch sử

         Tre Việt - Không phải mọi tiếng cười đều vô hại. Có những tiếng cười giúp con người gần nhau hơn, xua tan áp lực và làm cho cuộc sống trở nên nhẹ nhàng hơn. Nhưng cũng có những tiếng cười được tạo ra bằng sự giễu nhại lịch sử, xúc phạm những điều thiêng liêng và hạ thấp những giá trị đã được cả dân tộc gìn giữ bằng biết bao máu xương. Khi đó, tiếng cười không còn là biểu hiện của sự hài hước, mà trở thành dấu hiệu của sự lệch chuẩn trong nhận thức và văn hóa ứng xử, thậm chí bị các thế lực thù địch sử dụng làm công cụ để xuyên tạc lịch sử và thành quả cách mạng.

Bị can Nguyễn Thành Nam tại cơ quan điều tra.
(Ảnh: Công an Hà Nội)

Việc Cơ quan An ninh điều tra khởi tố, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam để điều tra về hành vi tuyên truyền chống Nhà nước liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” phần nào đã đáp ứng sự mong đợi của dư luận về việc xử lý nghiêm những hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng vượt lên trên câu chuyện trách nhiệm của một cá nhân, vụ việc còn gióng lên hồi chuông cảnh báo về một hiện tượng đã âm ỉ trong xã hội từ nhiều năm qua: khi sự cợt nhả, giễu nhại, phá bỏ chuẩn mực được một số người ngộ nhận là biểu hiện của cá tính, trí tuệ hay sáng tạo.

Thực tế cho thấy, đây không phải là hiện tượng mới. Gần hai thập niên trước, dư luận từng nhiều lần bày tỏ sự bức xúc khi một số ấn phẩm nội bộ của FPT, như: “Sách đỏ FPT”, “FPT ca”, “FPT - Sử ký 20 năm” được báo chí phản ánh có nội dung chế lời nhiều ca khúc cách mạng, nổi bật nhất là: bài “FPT ca”, chế từ ca khúc cách mạng “Đoàn Vệ quốc quân” của nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu; bài viết “Tuyên ngôn của những con dân FHO” của tác giả Vũ BM - Thịnh HD trong “FPT - Sử ký 20 năm” đã nhại Tuyên ngôn độc lập; xuyên tạc ca khúc “Hà Nội, niềm tin và hi vọng” của Nhạc sĩ Phan Nhân và một số tác phẩm, văn kiện có ý nghĩa đặc biệt đối với lịch sử dân tộc. Khi đó, báo chí đã đặt câu hỏi về ranh giới giữa sáng tạo và sự phản cảm, giữa văn hóa doanh nghiệp và trách nhiệm đối với những giá trị chung của xã hội. Cố nhạc sĩ Phan Huỳnh Điểu từng đau xót đặt ra câu hỏi: “Liệu những thanh niên ấy có còn xứng đáng là thanh niên Việt Nam nữa không?”

Điều chúng ta lo ngại không phải ở một vài câu nói đùa, mà là những giá trị lịch sử, xã hội, biểu tượng của dân tộc bị kéo xuống thành “chất liệu” để mua vui, tiêu khiển. Đây là điều hết sức nguy hiểm, bởi vì đằng sau mỗi ca khúc cách mạng, mỗi văn kiện lịch sử, mỗi biểu tượng của đất nước là biết bao hy sinh, mất mát và khát vọng độc lập, tự do của nhiều thế hệ người Việt Nam. Đặc biệt, khi sự “giễu nhại”, “cợt nhả”, “xuyên tạc” này được in thành sách, lưu truyền trong Nhân dân, được nhiều người hưởng ứng và gọi đó là “văn hóa mới”, thì sự lệch chuẩn rất dễ được bình thường hóa và hình thành trong một bộ phận công chúng, nhất là thế hệ trẻ.

Chúng ta cần nhận thức rõ rằng, trong chiến lược chống phá trên mặt trận tư tưởng của các thế lực thù địch, việc lợi dụng tiếng cười luôn là một phương thức tác động mềm nhưng rất nguy hiểm được họ sử dụng. Một thông tin sai trái nếu được tuyên truyền trực diện thường dễ bị cảnh giác và phản bác, nhưng nếu được bọc trong vỏ bọc của sự hài hước, châm biếm theo cái gọi là “diễn giải mới” thì nó lại dễ được chia sẻ, lan truyền và tiếp nhận hơn. Chính vì vậy, việc lợi dụng sự cợt nhả để xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng hay làm méo mó hình tượng lãnh tụ không còn đơn thuần là câu chuyện ứng xử văn hóa, mà đã trở thành một phương thức dẫn dắt nhận thức xã hội theo hướng lệch lạc, thậm chí trở thành công cụ chống phá nền tảng tư tưởng của Đảng.

Vụ việc của Nguyễn Thành Nam là minh chứng rõ nét cho điều đó. Theo kết quả điều tra ban đầu, cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” chứa nhiều nội dung xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và một số lãnh đạo tiền bối của Đảng. Bản thân Nguyễn Thành Nam cũng đã thừa nhận nhiều nội dung trong cuốn sách là sai sự thật và công khai xin lỗi; đặc biệt, cơ quan chức năng đã khởi tố hình sự đối với những sai phạm này. Điều đó cho thấy, không phải mọi thứ được nhân danh “hư cấu”, “sáng tạo” hay “góc nhìn mới” đều nằm ngoài giới hạn của pháp luật. Quyền tự do biểu đạt không đồng nghĩa với quyền xuyên tạc lịch sử, xúc phạm lãnh tụ hay phủ nhận những giá trị cốt lõi của dân tộc.

Trong bối cảnh mạng xã hội phát triển mạnh mẽ, những nội dung gây sốc, cợt nhả hay xuyên tạc thường dễ thu hút sự chú ý hơn các giá trị tích cực. Nếu thế hệ trẻ không được trang bị nền tảng lịch sử, văn hóa và khả năng phân biệt đúng - sai, thì đó là điều rất nguy hiểm. Đảng ta nhiều lần khẳng định xây dựng và phát huy giá trị văn hóa, con người Việt Nam là nền tảng tinh thần, sức mạnh nội sinh của sự phát triển đất nước. Điều đó không có nghĩa hạn chế tự do sáng tạo hay phủ nhận sự đổi mới. Ngược lại, mọi sự sáng tạo đều cần được khuyến khích, nhưng phải hướng đến các giá trị chân, thiện, mỹ; góp phần làm phong phú đời sống tinh thần, bồi đắp lòng yêu nước, củng cố niềm tin xã hội và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc, chứ không thể lấy việc xuyên tạc lịch sử, xúc phạm những giá trị thiêng liêng hoặc phủ nhận thành quả cách mạng làm biểu hiện của tư duy đổi mới.

Việc xử lý Nguyễn Thành Nam và các đối tượng có liên quan thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật. Nhưng bài học rút ra không chỉ dành cho một cá nhân, mà cho tất cả những người sáng tạo, phổ biến và tiếp nhận thông tin trong thời đại số: tự do biểu đạt luôn gắn với trách nhiệm; sáng tạo phải dựa trên nền tảng văn hóa và sự tôn trọng sự thật lịch sử. Mọi hành vi lợi dụng sáng tạo để xuyên tạc lịch sử, xúc phạm lãnh tụ, phủ nhận những giá trị cốt lõi của dân tộc, dù được ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào đều sẽ bị Nhân dân phát hiện, lên án và bị xử lý theo quy định của pháp luật./.


Jul 13, 2026

Cần lên án hành động sai trái của các tổ chức nhân quyền quốc tế

         Tre Việt - Ngày 12/7, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng bài: “18 tổ chức nhân quyền kêu gọi Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho tù nhân lương tâm”. Theo đó, trong báo cáo chung của Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH) cùng 17 tổ chức vừa phát ra cảnh báo rằng: Bàn tay đàn áp của Hà Nội đã vươn sang tận Thái Lan, để nhắm vào các tù nhân chính trị. Đồng thời, kêu gọi Liên minh Châu Âu vào cuộc, dùng áp lực ngoại giao để buộc Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho 11 tù nhân chính trị đang bị giam giữ hà khắc, v.v. 
        Cần khẳng định rằng, đây là những thông tin sai sự thật, mang tính suy diễn, xuyên tạc tình hình thực tế ở Việt Nam với dụng ý xấu, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:
        Thứ nhất, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đề cao việc bảo đảm, thực thi quyền con người trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật. Điều này được thể hiện rõ trong các văn kiện, nghị quyết của Đảng, được hiến định trong Hiến pháp và quy định rõ trong các văn bản pháp luật. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ các quyền cơ bản của công dân. Cụ thể: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đồng thời, quy định việc thực hiện các quyền này có thể bị hạn chế theo luật trong những trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội hoặc sức khỏe cộng đồng. Quan điểm này hoàn toàn tương đồng với các điều ước quốc tế về quyền con người, trong đó có Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là quốc gia thành viên. 
        Trên thực tế, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn cố gắng, nỗ lực bảo đảm thực thi các quyền này cho công dân; được thể hiện rõ trong thực hiện các quyền về dân chủ, đảm bảo đời sống, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, v.v. Ngoài ra, hệ thống các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể,... rộng khắp trên cả nước từ Trung ương đến cơ sở, là cầu nối giữa Nhân dân với các tổ chức của Đảng, Nhà nước; nơi lắng nghe, tiếp thu, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân. 
        Thứ hai, ở Việt Nam không có cái gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị”. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước Hiến pháp và pháp luật, được pháp luật tôn trọng, bảo vệ các quyền của công dân. Việc bị truy cứu trách nhiệm hình sự chỉ diễn ra với những công dân có hành vi vi phạm pháp luật được quy định trong Bộ luật Hình sự và trải qua quy trình điều tra, truy tố, xét xử theo Bộ luật Tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, để pháp luật được thực thi nghiêm minh, triệt để, Việt Nam đã phối hợp chặt chẽ với các quốc gia, tổ chức quốc tế, trong đó có Thái Lan để đưa những công dân vi phạm pháp luật bỏ trốn ra nước ngoài về nước xét xử. Trên thực tế, những cái tên được bài viết nhắc đến như: Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Trịnh Bá Phương, Nguyễn Chí Tuyến, đều là những công dân có hành vi vi phạm pháp luật và đang phải thi hành bản án theo quy định của pháp luật. Và bản thân thân họ, đã nhận ra sai phạm, lỗi lầm của mình khi bị đưa ra xét xử.
        Thứ ba, việc làm này của 18 tổ chức quốc tế là cố tình vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Theo Hiến chương Liên hợp quốc, các quốc gia có chủ quyền bình đẳng và có quyền tổ chức hệ thống pháp luật, tư pháp phù hợp với điều kiện của mình trên cơ sở thực hiện các nghĩa vụ quốc tế đã cam kết. Vì thế, mọi quốc gia, tổ chức quốc tế khi quan hệ với Việt Nam đều phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng chủ quyền quốc gia và không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau. Do đó, việc 18 tổ chức quốc tế kêu gọi Liên minh Châu Âu vào cuộc, dùng áp lực ngoại giao để buộc Việt Nam trả tự do ngay lập tức và vô điều kiện cho cái gọi là “tù nhân chính trị” là chưa tôn trọng tính độc lập của hệ thống tư pháp cũng như chủ quyền pháp lý của Việt Nam. 
        Đây không phải là lần đầu xuất hiện những kiến nghị như vậy. Những lời kêu gọi, lu loa tương tự đã được đưa ra nhiều lần trong khuôn khổ các cuộc đối thoại nhân quyền quốc tế cũng như các báo cáo thường niên của một số tổ chức phi chính phủ vốn có thâm thù với Đảng, Nhà nước, chế độ và Nhân dân Việt Nam. Đây là những hành động, việc làm với dụng ý xấu, nhằm chống phá cách mạng Việt Nam, cần bị nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ./.


Jul 9, 2026

Bóc trần luận điệu đòi giải tán Quân đội nhân dân Việt Nam

         Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp, nhiệm vụ xây dựng Quân đội nhân dân Việt Nam vững mạnh và chủ động bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên, trên một số trang mạng xã hội vẫn xuất hiện những luận điệu cho rằng các hội nghị quốc phòng chỉ là “màn kịch”, ngân sách quốc phòng bị lãng phí, thậm chí đòi “giải tán quân đội”. Những âm mưu và thủ đoạn xuyên tạc ấy nếu không được nhận diện đầy đủ có thể làm suy giảm niềm tin của một bộ phận Nhân dân vào đường lối quốc phòng và ảnh hưởng đến sức mạnh bảo vệ Tổ quốc.

Trước hết, cần khẳng định rằng chiến lược “bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa” bằng biện pháp hòa bình, ngoại giao không phải là sự thỏa hiệp hay yếu hèn. Với một dân tộc từng trải qua nhiều cuộc kháng chiến bảo vệ độc lập, Việt Nam hiểu sâu sắc rằng xung đột vũ trang chưa bao giờ là lựa chọn tối ưu cho sự phát triển lâu dài của đất nước. Sức mạnh quốc phòng hiện đại không chỉ nằm ở vũ khí, trang bị hay quân số, mà còn nằm ở khả năng dự báo chiến lược, ngăn ngừa nguy cơ từ sớm, xử lý mâu thuẫn từ xa, không để đất nước rơi vào thế bị động, bất ngờ. Sách trắng Quốc phòng Việt Nam 2019 khẳng định nền quốc phòng Việt Nam mang tính chất hòa bình, tự vệ; Việt Nam kiên quyết, kiên trì giải quyết tranh chấp, bất đồng bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Đó là đường lối nhất quán, thể hiện bản lĩnh của một quốc gia có chủ quyền: không khiêu khích, không chạy đua vũ trang, nhưng cũng không buông lỏng khả năng tự vệ.

Từ góc độ đó, “ngoại giao cây tre” với tinh thần kiên định về nguyên tắc, linh hoạt về sách lược chính là biểu hiện sinh động của nghệ thuật giữ nước trong thời bình. Một quốc gia biết tận dụng đối thoại, xây dựng lòng tin chiến lược, mở rộng quan hệ hợp tác và xử lý hài hòa các mối quan hệ quốc tế không phải là quốc gia yếu thế, mà là quốc gia biết bảo vệ lợi ích của mình bằng phương thức ít tổn thất nhất. Trong hơn ba thập kỷ đổi mới, môi trường hòa bình, ổn định là điều kiện quan trọng để Việt Nam phát triển kinh tế, mở rộng hội nhập, nâng cao vị thế quốc tế. Chính vì vậy, những quan điểm cố tình đánh đồng chủ trương hòa bình với sự nhu nhược thực chất là cách nhìn phiến diện, bỏ qua bản chất phòng ngừa chiến tranh của chính sách quốc phòng hiện đại.

Mặt khác, việc Quân đội Nhân dân Việt Nam tham gia giữ gìn ổn định đất nước hoàn toàn không phải để “duy trì quyền lực” cho bất kỳ cá nhân nào, mà xuất phát từ lợi ích tối cao của Nhân dân và quốc gia. Quân đội là lực lượng nòng cốt trong bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; đồng thời góp phần bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và lợi ích quốc gia - dân tộc. Một đất nước muốn phát triển kinh tế, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ hay nâng cao đời sống Nhân dân thì trước hết phải có hòa bình, an ninh và trật tự. Không thể có môi trường đầu tư ổn định nếu biên giới bất ổn; không thể có đời sống xã hội bình yên nếu vùng biển, vùng trời bị đe dọa; cũng không thể nói đến phát triển bền vững nếu nền quốc phòng bị xem nhẹ.

Trong thời bình, vai trò của Quân đội không chỉ thể hiện ở trạng thái sẵn sàng chiến đấu, quản lý biên giới, bảo vệ vùng biển, vùng trời, mà còn ở những nhiệm vụ gần gũi với đời sống Nhân dân như cứu hộ, cứu nạn, phòng chống thiên tai, khắc phục hậu quả bão lũ, hỗ trợ người dân trong dịch bệnh và làm điểm tựa cho ngư dân yên tâm bám biển, v.v. Hình ảnh người lính dầm mình trong lũ dữ, có mặt ở vùng sạt lở, tâm bão, tuyến đầu chống dịch hay trên các vùng biển xa không phải là khẩu hiệu, mà là minh chứng cụ thể cho mối quan hệ máu thịt giữa quân đội và Nhân dân. Vì vậy, mọi mưu đồ tách rời quân đội khỏi nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc hoặc gắn mác “công cụ quyền lực” cho các hoạt động giữ gìn an ninh quốc gia, thực chất là luận điệu kích động nhằm chia rẽ quân với dân, làm suy yếu nền quốc phòng toàn dân.

Không chỉ thực hiện tốt nhiệm vụ trong nước, Việt Nam còn tích cực tham gia các cơ chế hợp tác quốc phòng và hoạt động gìn giữ hòa bình quốc tế. Việc Việt Nam trúng cử Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2020 - 2021 với 192/193 phiếu tán thành cho thấy uy tín và sự tín nhiệm cao của cộng đồng quốc tế đối với Việt Nam. Trong lĩnh vực gìn giữ hòa bình Liên hợp quốc, Việt Nam bắt đầu tham gia từ năm 2014 và đã triển khai gần 1.400 lượt cán bộ, sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp tới các phái bộ, đồng thời đăng ký thêm nhiều loại hình đơn vị mới trên hệ thống đánh giá năng lực sẵn sàng triển khai của Liên hợp quốc. Các đội hình như Bệnh viện dã chiến cấp 2, Đội Công binh cùng các sĩ quan làm nhiệm vụ tại Nam Sudan, Cộng hòa Trung Phi, khu vực Abyei và trụ sở Liên hợp quốc là minh chứng rõ ràng cho trách nhiệm quốc tế của Quân đội Nhân dân Việt Nam. Một quân đội bị xuyên tạc là “không cần thiết” không thể đồng thời là lực lượng đang góp phần gìn giữ hòa bình ở những khu vực khó khăn, phức tạp trên thế giới.

Tương tự, luận điệu cho rằng ngân sách quốc phòng là lãng phí cũng cần được nhìn nhận một cách tỉnh táo. Quốc phòng và an ninh là lĩnh vực trọng yếu của mọi quốc gia, không phân biệt thể chế chính trị hay trình độ phát triển. Trong điều kiện Việt Nam là quốc gia đang phát triển, có nền kinh tế mở, đường bờ biển dài, vị trí địa chiến lược quan trọng và chịu tác động trực tiếp từ các biến động khu vực, việc đầu tư nguồn lực phù hợp cho quốc phòng là yêu cầu tất yếu. Đầu tư quốc phòng không chỉ để mua sắm trang bị, mà còn để huấn luyện con người, hiện đại hóa lực lượng, nâng cao năng lực cảnh báo, bảo vệ chủ quyền, ứng phó thiên tai, cứu hộ cứu nạn, bảo vệ không gian mạng và tham gia các nhiệm vụ quốc tế. Nói cách khác, chi cho quốc phòng là tất yếu và là một trong những điều kiện bảo đảm cho phát triển được ổn định và bền vững.

Đánh giá vai trò của Quân đội nhân dân Việt Nam và chính sách quốc phòng cần dựa trên chức năng, nhiệm vụ và những kết quả hoạt động thực tế, thay vì các nhận định cảm tính hoặc quy kết thiếu căn cứ.

 Trong bối cảnh thế giới còn nhiều bất ổn, xây dựng nền quốc phòng vững mạnh là điều kiện để giữ vững hòa bình và bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Vì vậy, nhận diện và phản bác những luận điệu xuyên tạc về quân đội và chính sách quốc phòng không chỉ góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, mà còn củng cố niềm tin của Nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa./.

 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Thượng tôn pháp luật

Vừa qua, Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam, tác giả cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” và Trần Việt Anh, người đã  xây dựng các nội dung của cuốn sách nêu trên, nhằm thu hút người xem, tăng tương tác và tối đa hóa lợi ích kinh tế trên các nền tảng số để điều tra về hành vi “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015.Ngay sau đó, không ít tổ chức, cá nhân phản động, cơ hội chính trị đã cho rằng: tác giả “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” đã sử dụng ngôn ngữ mới là nhằm tuyên truyền về các sự kiện lịch sử cách mạng Việt Nam, ca ngợi lãnh tụ Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp,… và hành động bắt Nam “là hành vi không phù hợp, tạo ra một tiền lệ đáng lo ngại”; thậm chí cho rằng “Chế độ Việt Nam tăng cường bịt miệng, đàn áp dân chủ”(!)
        Cần phải nói ngay rằng, việc Cơ quan An ninh điều tra công an thành phố Hà Nội đã khởi tố vụ án, bắt tạm giam Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh là chính xác. Vì, hai cá nhân này đã vi phạm Điều 117, Bộ luật Hình sự nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam 2015: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Nguyễn Thành Nam đã lợi dụng, núp bóng hoạt động văn học, nghệ thuật để xuyên tạc lịch sử các cuộc cách mạng, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; đồng thời có nội dung xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Nguyễn Thành Nam đã suy thoái về tư tưởng chính trị, có hành vi xuyên tạc lịch sử cách mạng Việt Nam, đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Ngay tại cơ quan công an, bản thân Nguyễn Thành Nam đã thừa nhận nhiều nội dung trong sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” là sai sự thật, bày tỏ sự hối hận và xin lỗi bạn đọc. Còn Trần Việt Anh cũng thừa nhận là đã tham gia sản xuất, phát tán các video quảng bá cho cuốn sách trên các nền tảng số là nhằm làm kinh tế.
        Thực tế cho thấy, luật pháp là tổng thể các quy tắc xử sự chung có tính bắt buộc do nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội và được đảm bảo thực hiện bằng quyền lực nhà nước. Ở bất kỳ quốc gia nào, nhà nước đều ban hành những luật, bộ luật nhằm điều chính hành vi của công dân trong xã hội và được thực thi bởi nhà nước. Và ở quốc gia nào, luật pháp được tổ chức thực hiện nghiêm minh, người dân chấp hành nghiêm pháp luật, thì tình hình an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở quốc gia đó ổn định, tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững và ngược lại. Đó chính là “thượng tôn pháp luật”.
        Ở Việt Nam, nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân, thúc đẩy xã hội phát triển, Nhà nước đã ban hành và tổ chức thực thi minh bạch, hiệu quả các bộ luật, luật, trong đó có Bộ luật Hình sự, góp phần quan trọng để mọi tổ chức, cá nhân của Việt Nam hoặc hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam thực hành phương châm “Sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật”.
        Như vậy, những tổ chức nào hoạt động theo đúng quy định của pháp luật sẽ được Nhà nước bảo hộ, tạo điều kiện thuận lợi, còn nếu tổ chức, cá nhân nào có hành vi vi phạm pháp luật sẽ bị điều tra, xét xử và xử lý thích đáng theo quy định của pháp luật. Việc cơ quan an ninh điều tra Công an thành phố Hà Nội khởi tố vụ án, bắt giữ, điều tra hành vị vi phạm pháp luật của Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Nam Anh là đúng đắn, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của dân tộc Việt Nam, Nhà nước Việt Nam, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Và tới đây, Nguyễn Thành Nam và Trần Việt Anh sẽ được tòa án xét xử và bị xử lý một cách minh bạch theo quy định của pháp luật Việt Nam. Đây là hành động thượng tôn pháp luật./.
 (Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Jul 6, 2026

Không thể phủ nhận sự đúng đắn của việc mở cửa, thu hút vốn đầu tư nước ngoài

         Tre Việt - Ngày 03/7, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Chính quyền cứ hô hào “hóa hổ, hóa rồng”...”; trong đó, cho rằng: Sau hơn 20 năm “mở cửa” thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam đã trở thành một “công xưởng” gia công hùng hậu; thực chất FDI vào Việt Nam chủ yếu là lắp ráp, chuyển giao công nghệ gần như bằng không; người dân Việt Nam chỉ mãi là làm thuê giá rẻ mà thôi, v.v. Đây là những nhận định phiến diện, suy diễn, không phản ánh đúng thực tế sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bởi vì:
        Thứ nhất, Đảng, Nhà nước đã đề ra chủ trương đúng đắn khi mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực FDI đã trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, cơ khí, ô tô, thiết bị công nghiệp, v.v. Những năm gần đây, Việt Nam thu hút nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực điện tử, thiết kế chip, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ số và bán dẫn. Một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn, như: thiết kế sản phẩm, phát triển phần mềm, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất linh kiện. Quá trình chuyển dịch này diễn ra từng bước, bắt đầu từ gia công, sau đó dần nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo.
        Thứ hai, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế đang từng bước tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Những năm qua, đã có hàng chục nghìn kỹ sư, quản lý và công nhân kỹ thuật Việt Nam được đào tạo trong các doanh nghiệp FDI đã trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế; sau đó chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp trong nước hoặc tự khởi nghiệp, góp phần lan tỏa kinh nghiệm và tri thức. 
        Cùng với đó, Chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn vào giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng mới nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Nhờ đó, tiền lương bình quân của người lao động Việt Nam đã tăng cùng với sự phát triển kinh tế và năng suất lao động. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngày càng tăng. 
        Thứ ba, Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài. Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, xác định: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Đồng thời, ưu tiên lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao; khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam.
        Chính vì vậy, việc mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, không thể phủ nhận. Việc làm này không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm, có chất lượng cao trong kỷ nguyên mới./.

Jul 2, 2026

Việc làm cần thiết góp phần xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh

         Tre Việt - Ngày 01/7/2026, Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, ngày 25/5/2026 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, giao dịch điện tử và công nghệ thông tin, sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành. Đây là bước tiến quan trọng, rất cần cần thiết nhằm làm sạch không gian mạng, góp phần xây dựng môi trường thông tin số lãnh mạnh, bảo vệ an ninh quốc gia, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân. 
        Tuy nhiên, ngay lập tức, các tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam đã đẩy mạnh chiến dịch xuyên tạc, chống phá nội dung của Nghị định này. Điển hình là, trên trang facebook Việt Tân, đăng bài: “Chế độ gia tăng kiểm soát mạng xã hội với Nghị định 174”, họ rêu rao: “Nghị định 174/2026/NĐ-CP làm dấy lên lo ngại về tác động đối với quyền bày tỏ ý kiến của người dân”.
        Trước hết, cần khẳng định: Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, ngày 25/5/2026 của Chính phủ, gồm: 08 chương, 117 điều đã kế thừa, bổ sung và thay thế nhiều quy định của Nghị định số 15/2020/NĐ-CP, ngày 03/02/2020 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bưu chính, viễn thông, tần số vô tuyến điện, công nghệ thông tin, an toàn thông tin mạng và giao dịch điện tử (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 14/2022/NĐ-CP, ngày 27/01/2022 của Chính phủ và Nghị định số 211/2025/NĐ-CP, ngày 25/7/2025 của Chính phủ), với mức xử phạt cao hơn, biện pháp xử lý mạnh mẽ và đồng bộ hơn. Nội dung cốt lõi tập trung vào việc xử lý các hành vi vi phạm, như: đưa tin giả mạo, sai sự thật, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm uy tín tổ chức, cá nhân; vi phạm bản quyền; chia sẻ thông tin cấm lưu hành; lạm dụng thông tin cá nhân và các hành vi gây hại khác trên môi trường mạng. Mức phạt tiền có thể lên đến hàng chục triệu đồng đối với cá nhân và cao hơn đối với tổ chức, kèm theo các biện pháp bổ sung như buộc gỡ bỏ nội dung vi phạm, khóa tài khoản, fanpage, nhóm, kênh truyền thông, thu hồi tên miền, số thuê bao, địa chỉ IP, v.v. Điều này sẽ giúp tạo ra một môi trường mạng an toàn, lành mạnh hơn, giảm thiểu tin giả gây hoang mang dư luận, ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn và sự ổn định xã hội. Nghị định còn là sự cụ thể hóa Hiến pháp 2013, phù hợp với xu hướng quản lý không gian mạng của nhiều quốc gia trên thế giới.
        Sử dụng mạng xã hội là quyền của mỗi công dân nhưng phải đi kèm với trách nhiệm pháp lý và đạo đức. Theo tinh thần Nghị định 174, mỗi người dân cần tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc cơ bản, là: 1).Kiểm chứng thông tin trước khi đăng tải hoặc chia sẻ, tin tức cần có nguồn chính thống, tránh chia sẻ các bài viết giật tít, tin đồn thất thiệt, đặc biệt từ tài khoản ẩn danh hoặc trang web nước ngoài có động cơ xấu. 2). Việc bình luận, phê phán cần có cơ sở, mang tính xây dựng, không thêm thắt, bóp méo sự thật gây hiểu lầm. 3). Cần nắm rõ luật bản quyền khi sử dụng các sản phẩm báo chí, văn hóa, văn học - nghệ thuật.  4). Tuyệt đối không tham gia, ủng hộ hoặc lan truyền nội dung vi phạm an ninh quốc gia, chia rẽ dân tộc, xúc phạm lãnh tụ, cơ quan nhà nước.
        Điều này đòi hỏi người dân phải nâng cao nhận thức trong việc “đăng nội dung gì, chia sẻ nội dung gì trên mạng xã hội cũng phải nghĩ đến lợi ích dân tộc và hậu quả pháp lý có thể xảy ra”. Việc tuân thủ pháp luật không chỉ giúp cá nhân tránh bị xử phạt mà còn góp phần xây dựng một không gian mạng văn minh, an toàn cho cộng đồng. Một môi trường mạng an toàn, lành mạnh là điều mà người dân mong muốn, ủng hộ.
        Nghị định số 174/2026/NĐ-CP có hiệu lực, được ví như lá chắn pháp lý cần thiết để bảo vệ không gian mạng Việt Nam trước những âm mưu chống phá tinh vi của các đối tượng phản động, thù địch. Các luận điệu xuyên tạc rằng “Nghị định 174/2026/NĐ-CP làm dấy lên lo ngại về tác động đối với quyền bày tỏ ý kiến của người dân” càng cho thấy bộ mặt thật của Việt Tân “có tật giật mình”, khi không gian mạng - công cụ quen thuộc để tung tin độc, kích động chia rẽ, bôi nhọ Đảng, Nhà nước bị siết chặt bởi pháp luật. Việc mỗi công dân Việt Nam thực hiện nghiêm Nghị định số 174/2026/NĐ-CP, sáng suốt, tỉnh táo trong sử dụng mạng xã hội sẽ góp phần ngăn chặn tin giả, tin sai sự thật lan tràn trên mạng xã hội, góp phần lập lại trật tự trong môi trường nội dung số, tạo nên môi trường mạng trong sạch, an toàn; đồng thời, xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh./.


Jun 29, 2026

Nguyễn Thành Nam - kẻ lật sử

         Tre Việt - Ngày 15/6/2026, Cục Xuất bản, In và Phát hành đã ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nhà xuất bản Hội Nhà văn vì xuất bản cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” của tác giả Nguyễn Thành Nam có nội dung sai sự thật nghiêm trọng.

Theo thông tin được công bố, cơ quan chức năng xác định cuốn sách chứa nhiều nội dung sai lệch về dữ liệu lịch sử, đưa ra các nhận định thiếu căn cứ và sử dụng cách diễn đạt làm lệch chuẩn hình tượng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng một số nhân vật lịch sử. Một trong những biểu hiện đáng chú ý là việc đánh tráo hệ quy chiếu khi diễn giải hành trình hơn ba mươi năm bôn ba tìm đường cứu nước của Nguyễn Tất Thành bằng các thuật ngữ kinh doanh như “khởi nghiệp”, “người sáng lập”, “chuyển hướng mô hình”, thậm chí ví như một chuyến “phượt”. Đây không phải là sự hiện đại hóa ngôn ngữ lịch sử, mà là sự áp đặt cách hiểu thiếu cơ sở khoa học, làm biến dạng bản chất của một hành trình cách mạng. Hành trình ấy không phải quá trình thử - sai theo logic thị trường, càng không phải một chuyến phiêu lưu hay trải nghiệm cá nhân, mà là quá trình bền bỉ khảo nghiệm thực tiễn, tìm kiếm con đường giải phóng dân tộc và lựa chọn con đường cách mạng trên cơ sở tiếp cận chủ nghĩa Mác - Lênin như một tất yếu của lịch sử Việt Nam.

Việc quy giản một quá trình lịch sử mang tầm vóc dân tộc và thời đại thành ngôn ngữ kinh doanh, diễn đạt bằng văn phong “cợt nhã” đã làm hạ thấp giá trị thiêng liêng của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc. Nguy hiểm hơn, đây là một dạng tác động mềm, không phủ nhận trực diện nhưng làm lệch dần nhận thức thông qua việc thay đổi cách kể và hệ ngôn ngữ tiếp cận. Khi sự lệch chuẩn này lặp lại, sẽ dẫn đến sự “bình thường hóa” nhận thức sai lệch, đặc biệt trong giới trẻ, từ đó từng bước bào mòn nền tảng hiểu biết đúng đắn về lịch sử và các giá trị đã được khẳng định.

Phải khẳng định rằng, trong dòng chảy lịch sử dân tộc, Chủ tịch Hồ Chí Minh là lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, anh hùng giải phóng dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới, biểu tượng kết tinh khát vọng độc lập, tự do và ý chí quật cường của dân tộc Việt Nam. Cuộc đời và sự nghiệp cách mạng của Người đã được kiểm chứng bằng thực tiễn lịch sử, được khẳng định qua hàng nghìn công trình nghiên cứu trong và ngoài nước, được minh chứng bằng những thành tựu to lớn mà dân tộc Việt Nam giành được trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hình ảnh và tư tưởng của Người luôn được các thế hệ Nhân dân Việt Nam tôn kính, được bạn bè quốc tế và nhân loại tiến bộ ghi nhận, ngưỡng mộ đối với một nhân cách lớn, một biểu tượng của hòa bình, độc lập dân tộc và khát vọng giải phóng con người.

Chính vì vậy, việc tên Nam xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lộ rõ bản chất kẻ phản động, lật sử nhằm phủ nhận những giá trị lịch sử đã được kiểm chứng, làm sai lệch nhận thức lịch sử, gieo rắc tâm lý hoài nghi, bào mòn niềm tin của Nhân dân và từng bước làm suy giảm sự đồng thuận xã hội đối với con đường phát triển mà Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn.

Chính vì vậy, bảo vệ sự thật lịch sử là yêu cầu cấp thiết trong bối cảnh chuyển đổi số và bùng nổ truyền thông hiện nay. Mọi hành vi xuyên tạc lịch sử, xuyên tạc thân thế, sự nghiệp và tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh phải được kịp thời nhận diện và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ. Đó là trách nhiệm của các cơ quan quản lý, giới nghiên cứu, đội ngũ làm công tác báo chí, xuất bản, văn hóa và của mỗi công dân. Bảo vệ lịch sử là bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và bồi đắp niềm tin vào những giá trị đã được lịch sử và thực tiễn khẳng định. Đó cũng là cách gìn giữ sức mạnh tinh thần của dân tộc, tạo nền tảng vững chắc để đất nước phát triển trong kỷ nguyên mới./.


Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về chính sách dân tộc, tôn giáo của Việt Nam

        Tre Việt - Ngày 26/6, trang facebook Việt Nam Thời báo đăng bài: “Tây Nguyên: Máu và nước mắt”, trong đó đưa ra luận điệu vu cáo: “Chính quyền Việt Nam đã thực hiện những chính sách tàn bạo nhằm xóa bỏ lịch sử, văn hóa, tôn giáo và buôn làng của người bản địa Tây Nguyên”, đồng thời, lu loa rằng: “nhiều người Thượng Công giáo đã phải đối mặt với các cuộc đàn áp về các quyền tự do tôn giáo và cũng chịu chung số phận với người Thượng theo đạo Tin Lành”. Đây là nhận định phiến diện, xuyên tạc sự thật, cần được nhận diện, đấu tranh bác bỏ.
        Trước hết, cần khẳng định ngay rằng chính sách dân tộc của Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán, dựa trên nguyên tắc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển giữa các dân tộc. Quan điểm này được xác định xuyên suốt trong các văn kiện của Đảng và được thể chế hóa trong Hiến pháp, pháp luật của Nhà nước. Điều 5, Hiến pháp năm 2013 quy định rõ: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”; “Ngôn ngữ quốc gia là tiếng Việt. Các dân tộc có quyền dùng tiếng nói, chữ viết, giữ gìn bản sắc dân tộc, phát huy phong tục, tập quán, truyền thống và văn hóa tốt đẹp của mình”. Đồng thời, Nhà nước đã có chính sách phát huy nội lực, cùng với sự phát triển của đất nước chăm lo nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào dân tộc thiểu số.
        Với Tây Nguyên, đây là địa bàn chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế, quốc phòng, an ninh và đối ngoại của đất nước; là không gian sinh tồn lâu đời của nhiều dân tộc anh em với những giá trị văn hóa độc đáo, giàu bản sắc. Nhận rõ điều đó, những năm qua, Đảng, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm đầu tư nguồn lực phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội cho vùng đất này. Hàng loạt chương trình, dự án phát triển kinh tế - xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đã được triển khai với nguồn lực đầu tư rất lớn. Hệ thống giao thông, điện, trường học, trạm y tế, công trình thủy lợi ngày càng hoàn thiện, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào phát triển sản xuất, nâng cao đời sống. Tỷ lệ hộ nghèo ở các địa phương Tây Nguyên giảm đáng kể, trình độ dân trí không ngừng được nâng lên, điều kiện tiếp cận các dịch vụ y tế, giáo dục ngày càng tốt hơn.
        Đặc biệt, những giá trị văn hóa truyền thống của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên không những không bị xóa bỏ mà còn được quan tâm gìn giữ, phục hồi và phát huy. Không gian văn hóa cồng chiêng Tây Nguyên được UNESCO ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Nhiều lễ hội truyền thống, nghề thủ công, sử thi, dân ca, dân vũ được sưu tầm, bảo tồn và truyền dạy cho thế hệ trẻ. Hàng nghìn bộ cồng chiêng được cấp phát cho các buôn làng; nhiều nghệ nhân được phong tặng danh hiệu và hỗ trợ kinh phí để truyền dạy văn hóa dân gian. Các địa phương Tây Nguyên đã đầu tư xây dựng nhà văn hóa cộng đồng, khôi phục các lễ hội truyền thống và tổ chức các ngày hội văn hóa dân tộc, v.v. Những việc làm thiết thực đó là minh chứng sinh động cho chủ trương bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc của Đảng, Nhà nước ta.
        Vì thế, những phần tử phản động cho rằng Việt Nam “xóa bỏ lịch sử, văn hóa và buôn làng người bản địa” là cố tình xuyên tạc tình hình ở Tây Nguyên, đánh tráo khái niệm, đồng nhất những biến đổi tất yếu của xã hội trong quá trình phát triển với cái gọi là “chính sách xóa bỏ buôn làng”. Trên thực tế, quá trình đô thị hóa, phát triển kinh tế, dịch chuyển lao động và tiếp cận khoa học công nghệ đã làm thay đổi phương thức sinh hoạt truyền thống của nhiều cộng đồng dân cư không chỉ ở Việt Nam mà trên toàn thế giới. Sự thay đổi về mô hình cư trú, nghề nghiệp hay tập quán sản xuất không đồng nghĩa với việc có một chủ trương mang tính cưỡng bức nhằm đồng hóa hay xóa bỏ bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số.
        Về vấn đề tôn giáo, luận điệu cho rằng người Thượng theo Công giáo và Tin Lành bị “đàn áp” về quyền tự do tín ngưỡng là sự bóp méo sự thật. Bởi, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Hiến pháp và pháp luật bảo đảm. Hiện nay, có hàng triệu tín đồ theo Công giáo, Tin Lành, Phật giáo và các tôn giáo khác đang sinh hoạt bình thường tại hàng nghìn cơ sở thờ tự trên địa bàn Tây Nguyên. Nhiều nhà thờ, nhà nguyện được xây dựng mới, sửa chữa, nâng cấp; các hoạt động mục vụ, đào tạo chức sắc, tổ chức lễ hội tôn giáo được tiến hành công khai theo quy định pháp luật. Các chức sắc, chức việc và tín đồ tham gia tích cực vào các phong trào thi đua yêu nước, hoạt động từ thiện nhân đạo, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc. 
        Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa hoạt động tôn giáo thuần túy với việc lợi dụng tôn giáo để thực hiện các mục đích chính trị chống phá Đảng, Nhà nước. Thực tế cho thấy, nhiều năm qua, một số tổ chức phản động lưu vong đã lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo để tuyên truyền tư tưởng ly khai, kích động thành lập “Nhà nước Đề-ga độc lập”, lôi kéo quần chúng tham gia các hoạt động trái pháp luật, gây mất ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội ở Tây Nguyên. Việc các cơ quan chức năng xử lý những hành vi vi phạm pháp luật là nhằm bảo vệ lợi ích quốc gia, giữ gìn an ninh, trật tự và bảo đảm cuộc sống bình yên của Nhân dân, hoàn toàn không phải là hành vi đàn áp tôn giáo như các đối tượng chống đối rêu rao. Chúng cố tình đồng nhất việc xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật với việc đàn áp tín đồ tôn giáo, từ đó tạo dựng hình ảnh sai lệch về tình hình nhân quyền, tự do tôn giáo ở Việt Nam nhằm gây sức ép từ bên ngoài. 
        Do đó, chúng ta cần nhận diện đúng bản chất, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc, vu cáo về tình hình dân tộc, tôn giáo ở Tây Nguyên. Đồng thời, tiếp tục đẩy mạnh thực hiện hiệu quả các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, bảo tồn văn hóa dân tộc, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của đồng bào, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, làm thất bại mọi âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, phản động đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.


Jun 26, 2026

Vạch trần âm mưu lợi dụng vấn đề báo chí để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng

           Tre Việt - Nhân dịp kỷ niệm 101 năm Ngày Báo chí Cách mạng Việt Nam, phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu: Báo chí phải bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của Nhân dân làm điểm xuất phát. Đây là sự khẳng định nhất quán quan điểm của Đảng về vai trò, trách nhiệm xã hội và sứ mệnh chính trị của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Tuy nhiên, ngay sau phát biểu này, ngày 20/6 trên trang facebook Việt Tân, đã đưa ra quan điểm thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc rằng việc yêu cầu báo chí “tôn trọng sự thật” đồng nghĩa với việc báo chí Việt Nam lâu nay không được phản ánh sự thật; từ đó quy kết rằng muốn báo chí trung thực thì phải xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng, xóa bỏ cơ quan định hướng tư tưởng và cơ chế quản lý báo chí hiện hành. Đây là lập luận phiến diện, thiếu cơ sở lý luận và thực tiễn, mang động cơ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí cách mạng.

Trước hết, cần khẳng định rằng “tôn trọng sự thật” là nguyên tắc nghề nghiệp phổ quát của báo chí trên toàn thế giới, không phải là sự thừa nhận tồn tại một nền báo chí “không trung thực” như các thế lực chống phá cố tình suy diễn. Trong bất kỳ quốc gia nào, báo chí cũng luôn được yêu cầu nâng cao chất lượng thông tin, bảo đảm tính khách quan, chính xác và trách nhiệm xã hội. Việc người đứng đầu Đảng, Nhà nước nhấn mạnh yêu cầu này thể hiện quyết tâm xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại, phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc và quyền lợi chính đáng của Nhân dân.

Lập luận cho rằng báo chí Việt Nam không được phản ánh sự thật vì chịu sự lãnh đạo của Đảng là sự đánh tráo khái niệm giữa “định hướng chính trị” với “kiểm duyệt sự thật”. Trên thực tế, mọi quốc gia đều có những cơ chế quản lý truyền thông phù hợp với thể chế chính trị, điều kiện lịch sử, văn hóa và yêu cầu bảo vệ lợi ích quốc gia của mình. Ngay tại các nước tự nhận có nền báo chí “hoàn toàn tự do”, hệ thống pháp luật vẫn đặt ra nhiều giới hạn liên quan đến an ninh quốc gia, bí mật nhà nước, chống kích động bạo lực, chống khủng bố, chống thù hận sắc tộc, bảo vệ trẻ em và quyền riêng tư cá nhân.

Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo báo chí không nhằm hạn chế quyền tiếp cận thông tin của Nhân dân mà nhằm bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo vệ lợi ích quốc gia và định hướng dư luận xã hội trước những vấn đề phức tạp. Điều này được thể chế hóa bằng Hiến pháp năm 2013, Luật Báo chí 2025 (có hiệu lực từ ngày 01/7/2026) và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

Thực tiễn cho thấy, báo chí Việt Nam đã và đang phản ánh sinh động mọi mặt của đời sống xã hội. Hàng loạt vụ việc tiêu cực, tham nhũng, lãng phí, vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân đã được báo chí phát hiện, đấu tranh và góp phần thúc đẩy các cơ quan chức năng xử lý nghiêm minh. Nhiều vụ án kinh tế, tham nhũng lớn được dư luận biết đến có sự tham gia tích cực của báo chí trong việc phát hiện, phản ánh và giám sát xã hội.

Bên cạnh đó, cần nhận thức rằng quyền tự do báo chí không đồng nghĩa với tự do vô hạn. Báo chí chân chính phải gắn liền với trách nhiệm xã hội, đạo đức nghề nghiệp và tuân thủ pháp luật. Trong bối cảnh bùng nổ thông tin hiện nay, các thế lực thù địch thường lợi dụng chiêu bài “tự do báo chí”, “tự do ngôn luận” để phát tán thông tin sai sự thật, bóp méo bản chất vấn đề, gây hoang mang dư luận, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc và chống phá chế độ. Vì vậy, việc duy trì cơ chế quản lý, định hướng và bảo đảm môi trường thông tin lành mạnh không chỉ là yêu cầu khách quan mà còn là trách nhiệm của mỗi quốc gia có chủ quyền.

Đặc biệt, luận điệu đòi “dẹp bỏ Ban Tuyên giáo” và xóa bỏ vai trò định hướng tư tưởng đối với báo chí thực chất là nhằm từng bước phi chính trị hóa báo chí cách mạng, tách báo chí khỏi sự lãnh đạo của Đảng. Đây là một trong những thủ đoạn quen thuộc mà các thế lực cơ hội chính trị và phản động thường sử dụng để thúc đẩy cái gọi là “đa nguyên truyền thông”, tiến tới “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”. Lịch sử thế giới cho thấy ở nhiều quốc gia, khi truyền thông bị các nhóm lợi ích thao túng, thông tin không còn phục vụ lợi ích cộng đồng mà trở thành công cụ phục vụ lợi ích kinh tế hoặc mục tiêu chính trị của một số thế lực nhất định.

Đối với Việt Nam, báo chí cách mạng được Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập và rèn luyện luôn mang bản chất cách mạng, tính nhân dân sâu sắc và tính chiến đấu mạnh mẽ. Trong suốt hơn một thế kỷ qua, báo chí cách mạng Việt Nam đã đồng hành cùng dân tộc trong đấu tranh giải phóng đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Những thành tựu đó khẳng định vai trò sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với báo chí, chứ không phải là trở ngại đối với việc phản ánh sự thật như một số người cố tình xuyên tạc.

Yêu cầu bám sát thực tiễn, tôn trọng sự thật, lấy lợi ích của Nhân dân làm điểm xuất phát là lời nhắc nhở về trách nhiệm nghề nghiệp cao cả của người làm báo trong giai đoạn mới. Điều đó hoàn toàn không mâu thuẫn với vai trò lãnh đạo của Đảng, càng không thể bị lợi dụng để cổ súy cho những luận điệu phủ nhận nền tảng chính trị, pháp lý của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

Bảo vệ sự thật không đồng nghĩa với từ bỏ định hướng; tôn trọng sự thật càng không đồng nghĩa với phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng. Ngược lại, dưới sự lãnh đạo của Đảng, báo chí Việt Nam tiếp tục phát huy truyền thống vẻ vang, phản ánh trung thực đời sống xã hội, đấu tranh chống cái xấu, bảo vệ lợi ích của quốc gia, dân tộc và phục vụ ngày càng tốt hơn quyền lợi chính đáng của Nhân dân. Vì vậy, với âm mưu của các thế lực thù địch, phản động lợi dụng vấn đề báo chí để phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng là hoàn toàn sai trái, cần đấu tranh bác bỏ./.