Mar 10, 2026

Việt Nam không cần một luật về đảng cầm quyền

          Mới đây, trên trang Vietnamthoibao, Chu Tuấn Anh có bài viết: “Đảng trên luật hay đảng dưới luật?”, cho rằng: Việt Nam “Quyền lực tập trung nhanh, nhưng pháp quyền vẫn đứng yên”; “Tinh thần pháp lý cần có cho một Luật về Đảng cầm quyền”. Những lập luận này thoạt nghe có vẻ hợp lý, song nếu xem xét một cách tổng thể, có thể thấy đây là cách tiếp cận giản đơn, sao chép mô hình ngoại lai, thậm chí hàm chứa ý đồ chính trị nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần nêu cao cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc của Chu Tuấn Anh và luôn nhận thức sâu sắc rằng:

          Thứ nhất, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được hiến định và kiểm nghiệm bằng lịch sử. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực pháp lý cao nhất, là nền tảng tổ chức quyền lực nhà nước và đời sống chính trị - xã hội. Điều 4 Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025), khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội. Quy định này không phải là một tuyên bố chính trị trừu tượng, mà là sự khái quát hóa kết quả của cả một quá trình đấu tranh cách mạng, được lịch sử dân tộc và Nhân dân Việt Nam lựa chọn, thừa nhận và bảo vệ. Khi vai trò lãnh đạo của Đảng đã được hiến định, thì không tồn tại nhu cầu pháp lý nào phải ban hành một đạo luật có hiệu lực thấp hơn để “quy định lại” hay “xác lập lại” vai trò ấy.

       Từ góc độ khoa học pháp lý, nếu ban hành “luật về đảng cầm quyền”, câu hỏi đặt ra là luật đó sẽ điều chỉnh điều gì mà Hiến pháp chưa điều chỉnh? Nếu luật chỉ lặp lại các nguyên tắc đã được hiến định, thì đó là sự trùng lặp không cần thiết; còn nếu luật đặt ra những giới hạn, điều kiện hay cơ chế ràng buộc mới đối với vai trò lãnh đạo của Đảng, thì chẳng khác nào dùng luật để “sửa Hiến pháp”, làm suy giảm tính tối thượng của Hiến pháp. Cả hai khả năng đều không hợp lý và không phù hợp với nguyên tắc tổ chức hệ thống pháp luật.

       Quan trọng hơn, trong thực tiễn chính trị Việt Nam, vai trò lãnh đạo của Đảng không phải là sản phẩm của kỹ thuật lập pháp, mà là kết quả của lịch sử, của lòng tin xã hội và của hiệu quả lãnh đạo. Suốt gần một thế kỷ, từ đấu tranh giành độc lập dân tộc đến xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chứng minh năng lực lãnh đạo, khả năng quy tụ, tổ chức và dẫn dắt toàn dân tộc vượt qua những thử thách khắc nghiệt nhất. Một vai trò đã được lịch sử và nhân dân khẳng định như vậy không cần và không thể được bảo đảm thêm bằng một đạo luật hành chính hóa nào khác nữa.

       Thứ hai, đòi hỏi “luật về đảng cầm quyền” là sự sao chép máy móc mô hình đa đảng, không phù hợp với bản chất hệ thống chính trị Việt Nam. Những người cổ xúy cho việc ban hành luật về đảng cầm quyền thường viện dẫn kinh nghiệm quốc tế, đặc biệt là ở các nước có thể chế đa nguyên chính trị (đa đảng), nơi các đảng chính trị được điều chỉnh bởi luật đảng phái. Điều đáng chú ý là, họ cố tình bỏ qua điều khác biệt mang tính bản chất; ở các nước đó, đảng chính trị là các tổ chức cạnh tranh quyền lực nhà nước thông qua bầu cử, có thể luân phiên cầm quyền hoặc đối lập; còn ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là Đảng duy nhất lãnh đạo Nhà nước và xã hội, không tồn tại cạnh tranh quyền lực chính trị theo nghĩa đa đảng đối kháng.

       Việc áp đặt khuôn khổ pháp lý của mô hình đa đảng lên một hệ thống chính trị một đảng lãnh đạo không chỉ là sự miễn cưỡng áp đặt một cách máy móc về mặt lý luận, mà còn tiềm ẩn nguy cơ phá vỡ sự ổn định chính trị. “Luật về đảng cầm quyền”, nếu được xây dựng theo logic “kiểm soát - đối trọng - cạnh tranh”, sẽ từng bước làm suy giảm và mất đi vai trò lãnh đạo, biến Đảng từ lực lượng chính trị tiên phong có vai trò lãnh đạo xã hội thành một chủ thể pháp lý thuần túy, đứng ngang hàng với các tổ chức khác trong hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa. Đây chính là “cái bẫy” mà nhiều quốc gia từng lựa chọn dưới áp lực “cải cách thể chế”, để rồi rơi vào khủng hoảng chính trị, mâu thuẫn nội bộ và mất ổn định kéo dài.

        Thực tiễn Việt Nam cho thấy, ổn định chính trị là điều kiện tiên quyết cho phát triển. Trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp, nhiều quốc gia đa đảng lâm vào tình trạng chia rẽ, tê liệt chính sách, thì Việt Nam vẫn duy trì được sự ổn định, đồng thuận xã hội và khả năng ra quyết định chiến lược dài hạn. Đó là lợi thế thể chế quan trọng, gắn liền với vai trò lãnh đạo thống nhất của Đảng. Bất kỳ đề xuất nào làm xói mòn lợi thế này, dù được khoác áo “cải cách” hay “chuẩn mực quốc tế”, đều cần được nhìn nhận thận trọng và kiên quyết bác bỏ.

       Tóm lại, xét trên tất cả mọi phương diện có thể khẳng định, Việt Nam không cần một luật về đảng cầm quyền. Điều Việt Nam cần là tiếp tục quán triệt, cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, đó là: xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, toàn diện, văn minh; không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; kiên trì, kiên quyết xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; đồng thời, đổi mới tổ chức và bộ máy của hệ thống chính trị theo hướng tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đó mới là con đường đúng đắn, phù hợp với lịch sử, thực tiễn và lợi ích căn bản, lâu dài của đất nước./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Mar 9, 2026

Đập tan luận điệu xuyên tạc về bầu cử ở Việt Nam: Bản chất dân chủ không thể bị bóp méo

          Trước thềm cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, các thế lực thù địch gia tăng xuyên tạc, cho rằng bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh, không có tự do lựa chọn”. Đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình phủ nhận bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa; nếu không kịp thời vạch trần sẽ làm nhiễu loạn nhận thức xã hội, bào mòn niềm tin của một bộ phận cử tri, nhất là giới trẻ.

Hiệp thương - “bộ lọc xã hội” bảo đảm dân chủ có tổ chức, kỷ cương

Một trong những luận điểm xuyên tạc phổ biến nhất của các thế lực thù địch là phủ nhận vai trò của hiệp thương, cho rằng đây chỉ là “khâu sắp đặt trước”, “lọc cho có hình thức”. Chúng đưa ra luận điệu này nhằm cố tình lờ đi toàn bộ quy trình pháp lý được quy định rõ trong Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân.

Hiệp thương không phải sự sắp đặt khép kín mà là một quá trình nhiều vòng, nhiều chủ thể tham gia, do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì, với sự tham gia của các tổ chức chính trị-xã hội và đại diện cử tri. Từ thỏa thuận cơ cấu, giới thiệu ứng cử, lấy ý kiến nơi cư trú, nơi công tác đến công khai danh sách sơ bộ và chính thức, mỗi bước đều có cơ chế giám sát xã hội. Thực tế đã chứng minh: Không ít trường hợp ứng cử viên không đạt tín nhiệm của cử tri nơi cư trú đã không được đưa vào danh sách chính thức. Nếu đó chỉ là “thủ tục hợp thức hóa”, vì sao lại có việc rút tên, loại tên ngay trong quy trình?

PGS, TS Cao Văn Trọng, Thư ký khoa học Hội đồng Lý luận Trung ương phân tích: “Hiệp thương chính là cơ chế “tiền kiểm” về chính trị, đạo đức và “hậu kiểm” về tín nhiệm xã hội. Nếu không có hiệp thương, bầu cử rất dễ bị chi phối bởi tiền bạc, truyền thông hoặc các nhóm lợi ích. Hiệp thương của Việt Nam chính là nhằm hạn chế sự thao túng đó, bảo đảm cơ hội tương đối bình đẳng cho các ứng cử viên”.

Qua đó cho thấy, dân chủ không đồng nghĩa với buông lỏng; dân chủ phải đi cùng tổ chức, kỷ cương và trách nhiệm. Ở nhiều quốc gia, chi phí vận động tranh cử lên tới hàng triệu USD, tạo ra khoảng cách lớn giữa người có tiềm lực tài chính và người không có điều kiện vận động truyền thông. Sự “tự do tranh cử” trong môi trường đó liệu có bảo đảm bình đẳng thực chất? Hiệp thương của Việt Nam chính là cơ chế điều chỉnh để hạn chế sự chi phối của tiền bạc và truyền thông, đồng thời bảo đảm cơ cấu đại diện: phụ nữ, người dân tộc thiểu số, trí thức, công nhân, nông dân, lực lượng vũ trang, v.v. Dân chủ ở đây không phải cuộc cạnh tranh quảng cáo mà là lựa chọn người đại diện đủ phẩm chất và năng lực.

Không thể lấy cá biệt để quy chụp bản chất chế độ

Một thủ đoạn quen thuộc khác của các thế lực thù địch là phóng đại một vài trường hợp đại biểu vi phạm pháp luật rồi quy chụp toàn bộ hệ thống “thiếu dân chủ”. Đây là lối suy luận ngụy biện phổ biến: Lấy hiện tượng cá biệt thay cho bản chất. Trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, không thể loại trừ hoàn toàn sai phạm cá nhân. Điều quyết định không phải là có hay không sai phạm, mà là cơ chế xử lý có minh bạch, nghiêm minh hay không.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy: Khi có vi phạm, các cơ quan chức năng đã kịp thời xem xét, xử lý, kể cả bãi nhiệm tư cách đại biểu hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự. Chính việc xử lý công khai, minh bạch đó là minh chứng cho hiệu lực kiểm soát quyền lực.

PGS, TS Bùi Hoài Sơn, Ủy ban Văn hóa và Xã hội của Quốc hội cho rằng: “Không có nền dân chủ nào “miễn nhiễm” với sai phạm cá nhân. Điều làm nên bản chất dân chủ là khả năng tự sửa chữa, tự thanh lọc. Việt Nam đang từng bước hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường trách nhiệm giải trình của đại biểu trước cử tri. Điều đáng nói là việc công khai xử lý sai phạm không làm suy yếu nền dân chủ, mà củng cố niềm tin rằng quyền lực không đứng ngoài pháp luật”.

Từ thực tiễn địa phương, anh Nguyễn Văn Hùng, cử tri phường Hà Đông (Hà Nội) chia sẻ: “Chúng tôi không chỉ đi bầu cho đủ thủ tục. Ở khu dân cư, ứng cử viên đều được giới thiệu, lấy ý kiến công khai. Ai không đủ tín nhiệm là bị loại. Cử tri có quyền theo dõi, phản ánh nếu đại biểu làm chưa tròn trách nhiệm”.

Dân chủ thực chất, không phải “bản sao” mô hình khác

Sau khi phủ nhận hiệp thương và thổi phồng sai phạm cá nhân, các thế lực thù địch tiếp tục đánh tráo khái niệm khi so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây, từ đó kết luận rằng Việt Nam “không có cạnh tranh”. Đây là lối áp đặt tiêu chuẩn duy nhất cho khái niệm dân chủ. Thực tế không tồn tại một mô hình dân chủ “chuẩn mực tuyệt đối” áp dụng cho mọi quốc gia, mọi nền văn hóa.

PGS, TS Nguyễn Thế Kỷ, Chủ tịch Hội đồng Lý luận, Phê bình, Văn học nghệ thuật Trung ương nhận định: “Dân chủ không có một khuôn mẫu duy nhất. Việc lấy mô hình đa đảng phương Tây làm “chuẩn mực duy nhất” rồi phủ định mọi mô hình khác là cách tiếp cận phi khoa học. Dân chủ phải được đánh giá bằng mức độ người dân thực sự làm chủ, được tham gia, được giám sát và được hưởng thành quả phát triển”.

Ở Việt Nam, số người ứng cử luôn cao hơn số đại biểu được bầu; cử tri lựa chọn giữa nhiều ứng cử viên trong một đơn vị bầu cử; tỷ lệ tham gia nhiều nhiệm kỳ đạt hơn 99%. Những con số ấy phản ánh điều gì nếu không phải là ý thức chính trị và niềm tin xã hội? Cạnh tranh trong bầu cử ở Việt Nam không phải đối đầu đảng phái mà là sự lựa chọn giữa những cá nhân cụ thể, được cộng đồng thẩm định qua quá trình công tác, qua uy tín xã hội. Đó là cạnh tranh về năng lực, về phẩm chất, không phải về nguồn tài trợ hay kỹ thuật truyền thông.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa đặt trọng tâm vào hiệu quả thực chất của quyền làm chủ: Người dân có được tham gia không? Có được giám sát không? Có được hưởng thành quả phát triển không? Khi đời sống vật chất, tinh thần được nâng cao; khi quyền tiếp cận giáo dục, y tế, an sinh ngày càng mở rộng; khi tiếng nói cử tri được phản ánh qua các kỳ tiếp xúc, chất vấn, đó chính là thước đo cụ thể nhất.

Bảo vệ niềm tin, bảo vệ nền tảng chính trị

Luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch nhằm tạo hiệu ứng tâm lý gieo hoài nghi, làm mờ ranh giới đúng-sai, từ đó bào mòn niềm tin. Niềm tin chính trị không phải khái niệm trừu tượng, đó là sự đồng thuận xã hội, điều kiện cốt lõi để đất nước ổn định và phát triển. Một nền chính trị mất niềm tin sẽ rơi vào chia rẽ, tê liệt quyết sách.

Thực tiễn Việt Nam cho thấy, niềm tin không đến từ khẩu hiệu mà từ kết quả phát triển, từ ổn định chính trị, từ việc quyền lực được kiểm soát, sai phạm bị xử lý, đại biểu phải chịu trách nhiệm trước cử tri. Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 không chỉ là một thủ tục pháp lý mà là biểu hiện tập trung của quyền làm chủ trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Những luận điệu cho rằng bầu cử “không có cạnh tranh, không có tự do lựa chọn” thực chất là sự đánh tráo khái niệm có chủ ý. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không phải “bản sao” của bất kỳ mô hình nào, mà được hình thành từ lịch sử đấu tranh giành độc lập, từ đặc điểm văn hóa, xã hội của dân tộc và được hoàn thiện trong thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước.

Khi quyền lực thực sự thuộc về nhân dân; khi nhân dân trực tiếp lựa chọn, giám sát người đại diện của mình; khi cơ chế tự sửa chữa, tự thanh lọc được vận hành thì mọi sự xuyên tạc dù ồn ào đến đâu cũng không thể phủ nhận thực tế. Phản bác luận điệu sai trái không chỉ là bảo vệ một kỳ bầu cử mà là bảo vệ nền tảng chính trị, bảo vệ niềm tin-tài sản quý giá nhất của chế độ ta./.

 (Trích nguồn: qdnd.vn)

 

Mar 5, 2026

Luận điệu quy chụp vô căn cứ để chống phá bầu cử

          Tre Việt - Ngày 15/3 tới đây, cử tri cả nước sẽ chính thức tham gia vào Ngày Hội non sông - bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Đây là sự kiện chính trị quan trọng của đất nước, diễn ra ngay sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, là bước cụ thể hóa Nghị quyết, gắn liền với công tác cán bộ của Đảng, liên quan đến trách nhiệm của các cấp, các ngành; là nơi để cử tri phát huy quyền làm chủ của công dân, lựa chọn bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của mình trong Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ mới

Mọi công việc chuẩn bị cho “Ngày Hội của toàn dân” diễn ra theo đúng quy trình, bảo đảm chặt chẽ, chính xác theo luật định, nhằm lựa chọn ra những người đủ đức, đủ tài, xứng tầm, phục vụ Tổ quốc, phụng sự Nhân dân. Đặc biệt, để bảo đảm quyền bầu cử của những cử tri không thể tham gia bỏ phiếu trong ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 do đặc thù, như: thực hiện nhiệm vụ, công việc trên biển, hải đảo hoặc do các đặc thù khác, ngày 26/02, trên cả nước có 218 khu vực bỏ phiếu đã được tổ chức bầu cử sớm.

Thế nhưng, cũng như những Cuộc bầu cử trước, càng gần đến thời điểm bầu cử, lợi dụng mạng xã hội, các thế lực phản động, thù địch, chống đối càng tăng cường chống phá, tuyên truyền sai lệch nhằm mục đích gây hoang mang cho cử tri, chúng rêu rao rằng: “Bầu cử Quốc hội chỉ mang tính hình thức, cơ cấu nhân sự đã được định sẵn từ trước”.

Cần khẳng định rằng, đây là luận điệu quy chụp trắng trợn và vô căn cứ để chống phá ý nghĩa chính trị Cuộc bầu cử, gieo rắc sự hoang mang, kích động bất ổn xã hội và chia rẽ khối đoàn kết toàn xã hội. Theo báo cáo của Hội đồng Bầu cử quốc gia tại Hội nghị trực tuyến toàn quốc triển khai công tác bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 (sáng ngày 26/02), nhìn chung, công tác chuẩn bị nhân sự tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 được triển khai đồng bộ, chặt chẽ, bảo đảm đúng quy trình, đúng thẩm quyền, đúng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định. Dù thời gian ngắn, cận Tết Nguyên đán, nhưng công tác nhân sự phục vụ 3 Hội nghị hiệp thương được chuẩn bị kỹ lưỡng, bảo đảm cơ cấu, thành phần, tiêu chuẩn; chất lượng nguồn nhân sự được nâng lên, số dư bảo đảm hợp lý, đúng quy định.

Thực tế cho thấy, công tác bầu cử Quốc hội trong những nhiệm kỳ qua là dân chủ, tôn trọng đa số phiếu mà Nhân dân bầu ra. Có rất nhiều người trong danh sách bầu cử không phải đảng viên nhưng cũng vẫn trúng cử đại biểu Quốc hội, và cũng có nhiều đại biểu do Trung ương giới thiệu nhưng không trúng cử. Điều đó chứng minh, việc bầu cử Quốc hội ở Việt Nam là tôn trọng ý kiến của đa số cử tri, chứ không phải “cơ cấu nhân sự đã được định sẵn từ trước” như các đối tượng chống phá quy chụp trắng trợn, vô căn cứ.

Vì vậy, mỗi người dân yêu nước cần phải tỉnh táo trước những luận điệu xuyên tạc, quy chụp vô căn cứ; đồng thời, kiên quyết đấu tranh, vạch mặt những tổ chức, cá nhân có hoạt động chống phá Cuộc bầu cử, gây mất an ninh chính trị, trật tự xã hội, thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ công dân của mình trong Ngày Hội lớn của non sông./.

Mar 4, 2026

Không thể “đo” dân chủ bằng phép chia phần trăm: Nhận diện thủ đoạn xuyên tạc trước thềm bầu cử 2026

         Tre Việt - Trong bối cảnh toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đang khẩn trương chuẩn bị cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031, không gian mạng lại xuất hiện những thông tin sai lệch, xuyên tạc nhằm gây hoài nghi, làm nhiễu loạn nhận thức xã hội. Đáng chú ý, ngày 26/02/2026, trang “Luật khoa tạp chí” đưa ra nhận định: “Đảng viên Cộng sản chỉ chiếm khoảng 5,5% dân số nhưng lại chiếm hơn 92% ứng cử viên đại biểu Quốc hội”, từ đó suy diễn rằng quy trình bầu cử ở Việt Nam “thiếu dân chủ”. Nghe qua, lập luận này có vẻ dựa trên số liệu khách quan. Nhưng thực chất, đây là cách so sánh đơn giản, tách các con số khỏi bối cảnh chính trị và pháp lý cụ thể. Việc đặt hai tỷ lệ phần trăm cạnh nhau để tạo cảm giác “mất cân đối” không phải là phân tích khoa học, mà là cách cắt xén thông tin nhằm dẫn dắt dư luận, tác động tiêu cực đến cuộc Bầu cử.

Trước hết, cần khẳng định rõ: Hiến pháp và pháp luật Việt Nam không hề quy định chỉ đảng viên mới được ứng cử Quốc hội. Quyền ứng cử và bầu cử là quyền chính trị cơ bản của công dân. Bất kỳ công dân nào đủ điều kiện theo luật định đều có thể tham gia ứng cử, kể cả tự ứng cử. Quy trình hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì được tiến hành qua nhiều vòng, công khai, dân chủ, có sự tham gia của cử tri nơi cư trú và nơi công tác. Ứng cử viên phải trải qua lấy ý kiến tín nhiệm, thẩm tra tiêu chuẩn, bảo đảm cơ cấu đại diện hợp lý. Không tồn tại một “hàng rào pháp lý” nào loại trừ người ngoài Đảng. Do đó, nếu tỷ lệ đảng viên trong danh sách cao, đó là kết quả của quá trình sàng lọc theo tiêu chuẩn và yêu cầu nhiệm vụ, chứ không phải sự áp đặt hành chính như cách một số người cố tình quy kết.

Thứ hai, cần nhận diện rõ “thủ pháp so sánh” được sử dụng. Việc đặt “5,5% dân số” cạnh “92% ứng cử viên” nhằm tạo cảm giác mất cân đối, từ đó dẫn dắt người đọc đến một kết luận cảm tính. Nhưng Quốc hội không phải là một phép chia dân số thuần túy. Đại biểu Quốc hội không được lựa chọn theo tỷ lệ cơ học giữa các nhóm xã hội, mà theo tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và theo cơ cấu đại diện vùng miền, giới tính, dân tộc, lĩnh vực công tác. Nếu áp dụng tư duy “chia ghế theo tỷ lệ dân số” cho mọi tiêu chí, thì bản chất của đại diện chính trị sẽ bị giản lược thành một bài toán số học đơn giản, trong khi hoạt động lập pháp đòi hỏi trình độ và trách nhiệm ở mức cao nhất.

Thứ ba, cần phân biệt rõ giữa ứng cử và trúng cử. Danh sách ứng cử viên chỉ là bước đầu của quy trình bầu cử. Quyền quyết định cuối cùng thuộc về cử tri thông qua bầu cử trực tiếp và bỏ phiếu kín. Không có cơ chế nào bảo đảm một ứng cử viên đương nhiên trúng cử nếu không đạt đủ tỷ lệ phiếu theo luật định. Thực tiễn các kỳ bầu cử cho thấy có những ứng cử viên không trúng cử vì không đạt mức tín nhiệm cần thiết. Điều đó khẳng định rằng lá phiếu của Nhân dân mới là yếu tố quyết định.

Thứ tư, nhìn ra thế giới, ở các quốc gia có đảng cầm quyền, tỷ lệ nghị sĩ thuộc đảng đó thường cao hơn rất nhiều so với tỷ lệ đảng viên trong dân số. Ngay cả tại các nước đa đảng, phần lớn nghị sĩ cũng là thành viên của các chính đảng, bởi hoạt động lập pháp luôn gắn liền với cương lĩnh chính trị, chương trình hành động và kỷ luật tổ chức. Vì vậy, việc đa số ứng cử viên thuộc một đảng cầm quyền không phải là hiện tượng bất thường trong đời sống chính trị.

Ở Việt Nam, quyền đó đã được quy định rõ ràng. Điều 27 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân”. Điều 28 khẳng định: “Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước”. Đồng thời, Điều 2 xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”. Những quy định đó là nền tảng pháp lý cao nhất bảo đảm quyền ứng cử, quyền bầu cử và quyền làm chủ của Nhân dân.

Vì vậy, “con số 92%” tự thân không nói lên điều gì nếu bị tách khỏi bối cảnh hiến định và thực tiễn vận hành của hệ thống chính trị. Dân chủ không được đo bằng phép so sánh cơ học giữa hai tỷ lệ phần trăm, mà được khẳng định bằng việc quyền ứng cử được bảo đảm trên thực tế, quyền bầu cử được thực thi thông qua lá phiếu kín của cử tri và quyền lực Nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân theo đúng tinh thần Hiến pháp./.

 

Mar 2, 2026

Sự phi lý của luận điệu: bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh, không có tự do lựa chọn”

          Sau thành công rực rỡ của Đại hội XIV của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gia tăng hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên không gian mạng nhằm phá hoại việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và cản trở cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Luận điệu xuyên tạc bản chất dân chủ của chế độ ta, đặc biệt xoay quanh cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp lần này, đã và đang trở thành mũi nhọn tấn công trực diện vào tính chính danh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu không kịp thời nhận diện đúng và đấu tranh phản bác thấu đáo, những luận điệu sai trái ấy có cơ hội bùng phát, tiếp tục gieo rắc “nọc độc” vào tâm lý hoài nghi, nhất là trong một bộ phận thanh niên – lực lượng thường xuyên tiếp cận thông tin đa chiều nhưng chưa đủ trải nghiệm để “lọc nhiễu” sẽ gây tác hại vô cùng to lớn: “làm ô nhiễm những bộ óc non trẻ” với sự tổn thương lớn lao, khôn lường.

1. Lại luận điệu cũ: “bầu cử là hình thức”, “đảng cử dân bầu” và sự so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây.  Một trong những chiêu bài quen thuộc là gán ghép rằng, bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh”, “không có tự do lựa chọn”, rằng đó chỉ là “đảng cử dân bầu”, “việc làm hình thức, gây tốn tiền thuế của dân”, “chưa bầu đã biết các đại biểu gật”, v.v. Thực chất, đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất dân chủ với mô hình đa đảng phương Tây, rồi lấy đó làm thước đo duy nhất để la ó rùm beng.

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền ứng cử, tự ứng cử và bầu cử. Thực tế các kỳ bầu cử trước đây cho thấy, số lượng người ứng cử luôn cao hơn số đại biểu được bầu; danh sách chính thức được chốt qua nhiều vòng hiệp thương, bảo đảm cơ cấu nhưng vẫn có sự lựa chọn thực chất. Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử các nhiệm kỳ trước luôn đạt trên 99%. Đây là một con số biết nói về niềm tin và trách nhiệm chính trị của Nhân dân.

Những kẻ tung tin “không có cạnh tranh” đã “đội mũ ni che tai”, cố tình làm ngơ, bỏ qua thực tế rằng, cạnh tranh trong bầu cử ở Việt Nam không phải là sự đối đầu đảng phái, mà là sự lựa chọn giữa những cá nhân đủ đức, đủ sức, đủ tài, được Nhân dân tín nhiệm. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không đặt trọng tâm ở sự “đấu khẩu” hay vận động tranh cử tốn kém hàng triệu đô la, kéo dài vài tháng, mà ở quyền làm chủ thực chất của Nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Ai đó đã so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây là cách lập luận khiên cưỡng. Mỗi quốc gia, dân tộc có lịch sử, điều kiện chính trị - xã hội khác nhau; nhận thức, hiểu biết khác nhau. Dân chủ không phải là “đồng phục chính trị” - những bộ quần áo đã may sẵn một cỡ cho tất cả các nước; một cờ giầy cho tất cả các đôi chân. Lịch sử đã chứng minh, có những quốc gia đa đảng nhưng chia rẽ, bất ổn kéo dài; cũng có những quốc gia một đảng lãnh đạo nhưng xã hội ổn định, phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao. Vấn đề cốt lõi không phải “mấy đảng”, mà là quyền lực có thực sự thuộc về Nhân dân hay không, dân có thực sự làm chủ hay không.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Đó là tinh thần xuyên suốt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Quyền lực nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân ủy quyền thông qua bầu cử; không một tổ chức hay cá nhân nào đứng ngoài hay đứng trên nhân dân.

2. Phủ nhận vai trò hiệp thương và lấy ý kiến cử tri – sự bóp méo trắng trợn quy trình dân chủ. Một luận điệu khác là cố tình phủ nhận vai trò của hiệp thương, cho rằng, đó chỉ là “thủ tục hợp thức hóa”, “bịt mắt dân”. Thực chất, quy trình hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì là điểm đặc thù và là giá trị dân chủ sâu sắc của chế độ ta.

Hiệp thương không phải “đóng cửa bảo nhau”, mà diễn ra qua nhiều vòng: thỏa thuận cơ cấu, giới thiệu người ứng cử; lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; tổ chức hội nghị cử tri; tổng hợp, công khai danh sách sơ bộ và chính thức. Ở mỗi khâu, cử tri có quyền phát biểu, nhận xét thẳng thắn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của người ứng cử. Không ít trường hợp người ứng cử đã không đạt được tín nhiệm cần thiết và phải rút khỏi danh sách.

Việc lấy ý kiến cử tri nơi cư trú và nơi công tác chính là “bộ lọc xã hội” quan trọng, bảo đảm người được giới thiệu không chỉ “đúng quy trình” mà còn “hợp ý Đảng - lòng Dân”. Đó là cơ chế giám sát ngay từ đầu vào, phòng ngừa nguy cơ “lọt lưới” những người không đủ tiêu chuẩn.

Những người phủ nhận kết quả Hội nghị hiệp thương thường né tránh thực tế rằng, nếu không có quy trình này, danh sách ứng cử có thể bị chi phối bởi tiền bạc, truyền thông hoặc các nhóm lợi ích. Ở nhiều nước, vận động tranh cử gắn với tài trợ tài chính lớn, tạo ra khoảng cách giữa người có điều kiện và người không có điều kiện; kẻ giầu và người nghèo. Trong khi đó, mô hình hiệp thương ở Việt Nam hướng đến sự cân bằng giữa tiêu chuẩn, cơ cấu và tín nhiệm xã hội.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là cuộc thi “ai nói hay hơn”, “diễn thuyết hùng biện hơn”, mà là quá trình lựa chọn người đại diện xứng đáng thông qua sự thẩm định của công chúng, cộng đồng. Bản chất của nó là dân chủ có tổ chức, có kỷ cương, có nền nếp, chứ không phải dân chủ vô chính phủ, “nói một đằng, làm một nẻo”.

3. Thổi phồng cá biệt để quy chụp toàn hệ thống - thủ pháp quen thuộc cần vạch trần sự giả dối. Một chiêu thức nữa là thổi phồng, bóp méo một vài trường hợp cá biệt như khi có đại biểu vi phạm pháp luật, bị bãi nhiệm, rồi quy chụp rằng, toàn bộ hệ thống “thiếu dân chủ”, “thiếu minh bạch”. Đây là lối suy luận “vơ đũa cả nắm”, thiếu cơ sở khoa học và thiếu thiện chí; không thể chấp nhận.

Chúng ta đều biết, trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, không thể tránh khỏi sai sót cá nhân. Vấn đề quan trọng là cơ chế xử lý có nghiêm minh hay không; có hợp với lòng dân, vận nước hay không. Thực tế cho thấy, khi có vi phạm hoặc sai sót, các cơ quan có thẩm quyền đã xem xét, xử lý kịp thời, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu cần thiết, đúng với người, hợp với việc. Chính việc công khai xử lý sai phạm lại chứng tỏ cơ chế kiểm soát quyền lực đang vận hành thống nhất, hiệu quả.

Nếu lấy một vài hiện tượng tiêu cực để phủ định cả nền dân chủ, thì đó không phải “phản biện xây dựng”, mà là cố tình phá hoại niềm tin xã hội, gây rối lòng dân. Điều đó giống như thấy một chiếc lá úa mà kết luận cả khu rừng đã chết. Đó là cách nhìn phiến diện, một chiều, “thấy màu đỏ tưởng đã chín”, “nhìn gà hóa cuốc”.

Đấu tranh với những luận điệu sai trái, phản nhân văn, xuyên tạc về bầu cử không chỉ là trách nhiệm công dân trong bảo vệ một quy trình pháp lý, mà là bảo vệ nền tảng chính trị, bảo vệ niềm tin của Nhân dân vào chế độ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không rập khuôn máy móc theo mô hình nào, mà được hình thành từ thực tiễn cách mạng, từ tư tưởng “dân là gốc”,  “lấy Nhân dân làm trung tâm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.

Đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái; giữ vững và làm sáng rõ bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là cách tốt nhất để phản bác mọi luận điệu sai trái, chống phá bầu cử. Bởi lẽ, khi Nhân dân thực sự là chủ, làm chủ, tức là khi “bao nhiêu quyền hạn đều của dân, thuộc về dân”, thì mọi sự xuyên tạc, dù ồn ào đến đâu, xảo trá đến mức nào, cũng chỉ là tiếng vọng lạc lõng trước niềm tin và thực tiễn sống động của đất nước.

Kết luận: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, không chỉ là một sự kiện chính trị thường kỳ theo luật định, mà là biểu hiện tập trung của quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất dân chủ của chế độ thực chất nhằm đánh vào niềm tin - nền tảng chính trị - tinh thần của xã hội ta. Nhưng niềm tin của Nhân dân không được xây dựng bằng khẩu hiệu, mà bằng thực tiễn sinh động của mỗi kỳ bầu cử với tỷ lệ cử tri tham gia rất cao, bằng quy trình hiệp thương dân chủ, công khai, minh bạch và bằng trách nhiệm chính trị ngày càng được nâng cao của mỗi công dân.

Tính tất yếu khách quan của cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 nằm ở yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới. Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng, càng cần một Quốc hội và Hội đồng nhân dân đủ tâm, đủ tầm, đủ tuệ; được Nhân dân ủng hộ và tín nhiệm cao.

Thông điệp cốt lõi là: bảo vệ bầu cử chính là bảo vệ quyền làm chủ của chính mình, của gia đình mình, của quốc gia - dân tộc mình. Niềm tin của Nhân dân sẽ tiếp tục là sức mạnh vững chắc làm thất bại mọi sự xuyên tạc, gieo rắc hoài nghi, bi quan; sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

Nhận diện thủ đoạn bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam qua xung đột quân sự tại Iran

          Trong thời điểm diễn biến tại Trung Đông, đặc biệt xoay quanh xung đột quân sự liên quan tới Iran, một số luồng thông tin sai lệch đã xuất hiện nhằm so sánh lãnh đạo Việt Nam với lãnh tụ Iran. Những so sánh này được gắn với mục đích bôi nhọ, kích động cảm xúc tiêu cực, và đặt ra những ám chỉ sai lệch về đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhưng khi nhìn vào thực tiễn chính trị - đối ngoại của Việt Nam, nhận định ấy không chỉ phi lý mà còn chứng tỏ sự hiểu sai bản chất đường lối chính trị của dân tộc ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng so sánh lãnh đạo quốc gia một cách tùy tiện, đặc biệt trong bối cảnh nhạy cảm của xung đột quốc tế, là thao tác tuyên truyền thiếu trách nhiệm và dễ dẫn đến hiểu lầm trong dư luận. Lãnh đạo Việt Nam, được bầu chọn theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luôn được đặt trong hệ thống quyền lực tập thể của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và Chính phủ, dưới sự giám sát của nhân dân. Đây là mô hình chính trị khác xa với cấu trúc quyền lực cá nhân hoặc gia đình trị thường được ghi nhận trong một số nước Trung Đông.

Trong khi đó, Iran có một hệ thống chính trị đặc thù với vị trí người đứng đầu tôn giáo (Supreme Leader) nắm giữ quyền lực cực kỳ rộng lớn trong nhiều thập kỷ. Việc so sánh vai trò và tính chất lãnh đạo giữa hai hệ thống chính trị khác biệt này là thiếu cơ sở khoa học và dễ dẫn đến nhận thức sai lệch. Điều này không phải chỉ là vấn đề học thuật, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới hình ảnh và niềm tin xã hội vào lãnh đạo đất nước.

Một luận điệu phổ biến trên mạng là “Tổng Bí thư Việt Nam giống lãnh tụ Iran vì cả hai đều định hướng chiến lược quốc gia”. Đây là cách dựng chuyện lẫn lộn hai mô hình chính trị hoàn toàn khác nhau. Nước ta thực thi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đảm bảo quyền lực không bị tập trung vào một cá nhân duy nhất; đây là nguyên lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam. Ngược lại, trong hệ thống chính trị của Iran, chức danh Lãnh tụ Tối cao có quyền lực vượt trội và kéo dài trọn đời, không chịu sự giám sát và bầu cử phổ thông theo mô hình đa đảng.

Thực tế đối ngoại gần đây của Việt Nam cũng minh chứng đường lối lãnh đạo đúng đắn và chủ động. Trong bối cảnh xung đột Iran và căng thẳng khu vực Trung Đông leo thang, Việt Nam đã giữ thái độ cân bằng, tôn trọng luật pháp quốc tế và kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, phù hợp với nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và truyền thống đối ngoại lâu đời của dân tộc. Đây là biểu hiện của một đường lối lãnh đạo không dựa trên cá nhân mà là nguyên tắc tỉnh táo, phù hợp với lợi ích quốc gia. Những thông điệp chính thức từ Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh toàn diện, minh bạch quan điểm này trong nhiều tuyên bố gần đây, đặc biệt khi nói tới quyền chủ quyền và hòa bình trong khu vực.

Một số đối tượng lại cố tình sử dụng chiêu bài “so sánh lãnh đạo” nhằm gây hoang mang, đẩy nhận thức của người dân đi lệch khỏi thực tế. Họ cố tạo ra một tương quan giữa hai hình mẫu lãnh đạo mà thực chất không thể đặt cạnh nhau. Bởi một bên là nhà lãnh đạo trong hệ thống chính trị đa thành phần, được kiểm soát bởi luật pháp và phản ánh ý chí của nhân dân, còn bên kia là mô hình quyền lực tập trung và mang tính thần quyền. Việc ghép nối này chỉ nhằm mục đích tuyên truyền và hạ thấp hình ảnh lãnh đạo thực tế, không hề phản ánh bản chất chính trị, pháp lý hay đạo đức lãnh đạo.

Quan trọng hơn, những so sánh như vậy thường xuất hiện vào thời điểm nhạy cảm nhằm lợi dụng biến động quốc tế để gây bất ổn trong nhận thức xã hội. Từ đó lan truyền thông tin sai lệch về tính hiệu quả, bản lĩnh và trách nhiệm lãnh đạo trong việc đưa đất nước vượt qua khó khăn. Trên thực tế, qua các giai đoạn phát triển và hội nhập sâu rộng, Việt Nam luôn thể hiện sự nhất quán trong hoạch định chính sách: giữ vững hòa bình, bảo vệ quyền lợi quốc gia; tăng cường vai trò đối ngoại độc lập; và không để bị lôi kéo vào các liên minh mang tính đối đầu chiến lược.

So sánh giữa các hệ thống lãnh đạo quốc gia là một chủ đề nghiên cứu hay đối thoại chính trị, nhưng việc áp đặt, đặc biệt trong truyền thông thiếu kiểm chứng, là hành vi thiếu trách nhiệm và nguy hiểm. Đặc biệt trong kỷ nguyên thông tin với sự lan truyền nhanh của mạng xã hội, mỗi chúng ta cần cẩn trọng hơn trước những luận điệu đơn giản hóa, cố tình bóp méo thực tế để phục vụ mục tiêu tuyên truyền.

Nhìn từ xung đột Iran, chúng ta càng thấy rõ hơn sự khác biệt căn bản giữa những mô hình chính trị, đường lối lãnh đạo và cách thức điều hành đất nước. Nhận diện đúng bản chất sẽ giúp công chúng không bị cuốn theo các luận điệu sai lệch, mà giữ được cái nhìn thấu suốt về các vấn đề đối ngoại - chính trị. Một xã hội tỉnh táo thông tin là nền tảng để bảo vệ niềm tin vào lãnh đạo, đồng thời giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội.

Việc hiểu đúng, đánh giá đúng vai trò lãnh đạo của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu biến động là điều hết sức quan trọng. Chúng ta không thể, và không nên, mang những hình ảnh lãnh đạo từ những thể chế khác nhau ra để so sánh một cách thiếu căn cứ. Việc đó không chỉ sai lệch về mặt chính trị học, mà còn có nguy cơ đánh lừa nhận thức xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân vào hệ thống lãnh đạo đất nước - điều đang rất cần được củng cố trong thời đại cạnh tranh thông tin hiện nay./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Feb 24, 2026

“Tham gia Hội đồng Hòa bình là tham vọng cá nhân của lãnh đạo?” - Phản bác cách cá nhân hóa một quyết định chính sách quốc gia

         Trong các luận điệu công kích liên quan đến việc Việt Nam tham gia Hội đồng Hòa bình về Gaza (Board of Peace - BoP), một dạng xuyên tạc nổi bật là quy kết đây là “bước đi vì hình ảnh cá nhân”, “tham vọng quyền lực” hay “chiến lược đánh bóng tên tuổi” của lãnh đạo cấp cao. Thậm chí, có ý kiến suy diễn rằng chuyến công tác tham dự phiên họp khai mạc BoP tại Washington là “ưu tiên lợi ích cá nhân hơn lợi ích quốc gia”. Đây là một lối tiếp cận mang tính cá nhân hóa chính sách, đánh tráo bản chất tập thể của hệ thống hoạch định đối ngoại Việt Nam.

Trước hết, cần khẳng định rằng chính sách đối ngoại của Việt Nam không phải sản phẩm của quyết định cá nhân đơn lẻ. Theo quy định của hệ thống chính trị, các vấn đề đối ngoại chiến lược được thảo luận và quyết định tập thể trong Bộ Chính trị, Ban Bí thư và các cơ quan có thẩm quyền. Đường lối đối ngoại được xác định trong Văn kiện Đại hội Đảng, được triển khai nhất quán qua các nhiệm kỳ, bất kể thay đổi nhân sự lãnh đạo. Vì vậy, việc quy toàn bộ một quyết định ngoại giao về động cơ cá nhân là sự đơn giản hóa không phản ánh đúng cơ chế vận hành chính sách.

Luận điệu “đánh bóng cá nhân” thường dựa vào việc nhấn mạnh hình ảnh xuất hiện của lãnh đạo tại các diễn đàn quốc tế. Tuy nhiên, trong thông lệ ngoại giao, việc nguyên thủ hoặc lãnh đạo cấp cao tham dự hội nghị quốc tế là bình thường và thể hiện vai trò đại diện quốc gia. Việt Nam đã nhiều lần cử lãnh đạo cấp cao tham dự các diễn đàn như Đại hội đồng Liên hợp quốc, Hội nghị Cấp cao ASEAN, APEC, G20 mở rộng, v.v. Không ai coi những chuyến đi này là “tham vọng cá nhân”, bởi chúng nằm trong khuôn khổ chức trách quốc gia.

Việc Tổng Bí thư tham dự phiên khai mạc BoP và có các cuộc tiếp xúc với lãnh đạo Hoa Kỳ, các nghị sĩ, cộng đồng kiều bào cũng diễn ra theo thông lệ ngoại giao. Trong tài liệu tổng hợp dư luận được công bố, chuyến công tác bao gồm nhiều hoạt động song phương và đa phương, từ trao đổi thương mại đến hợp tác nghị viện. Nếu nhìn một cách toàn diện, đây là chuyến công tác tổng hợp chứ không chỉ là sự kiện đơn lẻ.

Một đặc điểm của luận điệu cá nhân hóa là bỏ qua bối cảnh chiến lược dài hạn. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ đã được nâng cấp lên Đối tác Chiến lược Toàn diện từ năm 2023, trước cả khi BoP được đề xuất. Quan hệ này được xây dựng trên nền tảng 30 năm bình thường hóa và nhiều năm hợp tác kinh tế, giáo dục, quốc phòng. Do đó, việc lãnh đạo Việt Nam tham dự một cơ chế có sự tham gia của Hoa Kỳ là sự tiếp nối lộ trình hợp tác, không phải bước đi đột biến nhằm phục vụ hình ảnh cá nhân.

Cũng cần phân biệt giữa việc xuất hiện trên trường quốc tế và việc thay đổi chính sách. Không có bằng chứng nào cho thấy Việt Nam đã điều chỉnh nguyên tắc đối ngoại để phục vụ lợi ích cá nhân của bất kỳ lãnh đạo nào. Việt Nam vẫn duy trì lập trường ủng hộ giải pháp hai nhà nước, vẫn tiếp tục tham gia các cơ chế Liên hợp quốc, vẫn giữ nguyên nguyên tắc “không liên minh quân sự, không đứng về bên này chống bên kia”. Nếu mục tiêu là “đánh bóng cá nhân”, thì việc phải chấp nhận rủi ro bị chỉ trích từ nhiều phía là điều không hợp lý.

Trong khoa học chính trị, cá nhân hóa chính sách thường xuất hiện ở các hệ thống nơi quyền lực tập trung tuyệt đối vào một người. Tuy nhiên, tại Việt Nam, cơ chế lãnh đạo tập thể và nguyên tắc tập trung dân chủ là đặc trưng tổ chức. Các quyết định chiến lược đều phải qua quy trình tham vấn nhiều cấp. Bởi vậy, việc quy kết một quyết định ngoại giao thành tham vọng cá nhân không phù hợp với cấu trúc thể chế hiện hành.

Một điểm đáng chú ý là những cáo buộc cá nhân hóa thường đi kèm với thuyết âm mưu như “bảo chứng chính danh” hay “thỏa thuận ngầm”. Tuy nhiên, các thuyết này không kèm theo bằng chứng tài liệu, nghị quyết hay tuyên bố chính thức. Trong khi đó, các văn bản công khai của Việt Nam về chính sách đối ngoại vẫn nhấn mạnh tính độc lập, tự chủ và đa phương hóa.

Thực tế cho thấy, trong nhiều trường hợp, chính việc lãnh đạo cấp cao tham gia diễn đàn quốc tế giúp củng cố vị thế quốc gia và mở rộng cơ hội hợp tác. Khi Việt Nam đảm nhiệm vai trò Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an LHQ, lãnh đạo Việt Nam đã trực tiếp tham dự và phát biểu tại các phiên họp quan trọng. Không ai coi đó là “tham vọng cá nhân”, mà là biểu hiện của trách nhiệm quốc gia.

Luận điệu cá nhân hóa cũng bỏ qua yếu tố dư luận trong nước. Theo tài liệu tổng hợp phản ánh, đa số ý kiến đánh giá chuyến công tác là dấu hiệu nâng cao vị thế quốc tế và thể hiện tinh thần chủ động đối ngoại. Chỉ một số ít ý kiến tiêu cực trên mạng xã hội tìm cách gán ghép động cơ. Điều này cho thấy bức tranh dư luận không đồng nhất với cách diễn giải cực đoan.

Trong môi trường truyền thông hiện đại, việc công kích cá nhân là chiến thuật phổ biến nhằm làm suy yếu tính chính danh của chính sách. Khi không thể bác bỏ nội dung chính sách bằng lập luận thực chứng, người ta chuyển sang tấn công người đại diện. Đây là phương thức tranh luận ad hominem - tập trung vào cá nhân thay vì bản chất vấn đề.

Đánh giá một quyết định ngoại giao cần dựa trên tác động chính sách và sự phù hợp với nguyên tắc quốc gia. Cho đến nay, chưa có bằng chứng nào cho thấy việc tham gia BoP làm thay đổi đường lối đối ngoại hoặc gây tổn hại lợi ích quốc gia. Do đó, việc quy kết thành “tham vọng cá nhân” là thiếu cơ sở.

Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược và thông tin phân cực, cần thận trọng với các diễn giải dựa trên động cơ suy đoán. Chính sách đối ngoại của Việt Nam là kết quả của quá trình hoạch định tập thể, dựa trên lợi ích quốc gia dài hạn. Cá nhân lãnh đạo có vai trò đại diện và triển khai, nhưng không phải là chủ thể duy nhất quyết định./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Feb 23, 2026

Tỉnh táo trước những suy diễn về chuyến công tác tới Mỹ của Tổng Bí thư Tô Lâm

           Nhân chuyến công tác tới Mỹ theo lời mời của Tổng thống Donald Trump để tham dự hội nghị hòa bình về Gaza do phía Mỹ khởi xướng, một số trang mạng nhanh chóng đưa ra hàng loạt lập luận mang tính suy diễn. Tựu trung có ba hướng chính: Việt Nam phải đóng 1 tỉ USD; Việt Nam “lệ thuộc Mỹ”; và chuyến đi nhằm củng cố vị thế cá nhân. Thoạt nghe có vẻ hợp lý, nhưng khi phân tích kỹ, những lập luận này bộc lộ nhiều điểm yếu, cần được phân tích làm rõ. 

1. Họ sử dụng luận điệu “Việt Nam đóng 1 tỉ USD” như một thông tin khẳng định, trong khi dữ kiện chính thức không cho thấy điều đó. Một số bài viết cho rằng nếu tham gia với tư cách thành viên sáng lập sáng kiến hòa bình, Việt Nam phải đóng góp 1 tỉ USD vào quỹ chung. Tuy nhiên, tại phiên bế mạc hội nghị, phía tổ chức đã công bố tổng mức đóng góp là 17 tỉ USD; trong đó Mỹ đóng 10 tỉ USD, 7 tỉ USD còn lại do một số quốc gia khác đóng góp. Danh sách công bố không có tên Việt Nam.

Như vậy, thông tin “Việt Nam đóng 1 tỉ USD” không chỉ thiếu cơ sở tại thời điểm lan truyền, mà còn không phù hợp với dữ kiện chính thức đã được công bố. Con số 1 tỉ USD được đưa ra trước khi có thông tin đầy đủ, rồi được lặp lại như một sự thật hiển nhiên.

Trong tranh luận nghiêm túc, giả định cần được đặt dưới dạng câu hỏi, không phải dưới dạng kết luận. Khi một con số chưa được xác thực được lặp đi lặp lại, nó dễ tạo cảm giác “có vẻ là thật”. Nhưng cảm giác không thể thay thế bằng chứng.

Ngay cả trong trường hợp một quốc gia tham gia với tư cách sáng lập và có đóng góp tài chính, điều đó cũng cần được nhìn trong tổng thể lợi ích và trách nhiệm quốc tế. Thành viên sáng lập không chỉ đóng góp nguồn lực mà còn có tiếng nói trong việc định hình cơ chế hoạt động. Tuy nhiên, trong trường hợp cụ thể này, việc quy kết Việt Nam đóng 1 tỉ USD đã không dựa trên dữ kiện thực tế.

2. Họ quy kết Việt Nam “lệ thuộc Mỹ” nhưng không đưa ra bằng chứng về việc mất độc lập chính sách. Trong thế giới toàn cầu hóa, các nền kinh tế đan xen lợi ích. Việt Nam là nền kinh tế có độ mở cao; Mỹ là một đối tác thương mại lớn. Biến động chính sách thuế của Mỹ có thể ảnh hưởng tới Việt Nam – điều đó phản ánh sự phụ thuộc lẫn nhau trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Nhưng phụ thuộc kinh tế không đồng nghĩa với lệ thuộc chính trị.

“Lệ thuộc” hàm ý mất quyền tự chủ, bị chi phối trong quyết sách chiến lược. Để chứng minh một quốc gia lệ thuộc, cần chỉ ra bằng chứng cụ thể: chính sách bị áp đặt, lợi ích cốt lõi bị hy sinh, hay định hướng đối ngoại bị dẫn dắt từ bên ngoài. Việc Việt Nam tham dự một hội nghị do Mỹ khởi xướng không đủ để đi tới kết luận đó.

Việt Nam nhiều năm qua theo đuổi đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa và đa dạng hóa quan hệ; thiết lập quan hệ với nhiều trung tâm kinh tế - chính trị khác nhau, không chọn bên, chỉ chọn chân lý, lẽ phải. Nếu chỉ vì một chuyến công tác mà quy chụp thành “lệ thuộc”, thì đó là cách nhìn phiến diện, tách một sự kiện khỏi toàn bộ bối cảnh chính sách.

Việc sử dụng từ “lệ thuộc” trong trường hợp này mang tính tạo ấn tượng hơn là phân tích. Nó đánh vào tâm lý lo ngại về chủ quyền, nhưng không cung cấp bằng chứng cụ thể cho cáo buộc.

3. Khi không tập trung vào nội dung chính sách, một số ý kiến chuyển sang suy đoán động cơ cá nhân. Trong hoạt động đối ngoại cấp cao, người đứng đầu tham dự sự kiện với tư cách đại diện quốc gia. Các chuyến công tác được chuẩn bị và thống nhất trong hệ thống chính trị, không phải quyết định mang tính cá nhân. Nếu muốn phản biện, cần phân tích hiệu quả cụ thể của chuyến đi, nội dung trao đổi, cam kết đạt được hay lợi ích mang lại.

Việc gán ghép động cơ mà không có bằng chứng không giúp làm rõ chính sách, mà chỉ làm tăng nghi ngờ. Phản biện chính sách là cần thiết; nhưng phỏng đoán chủ quan về ý đồ cá nhân không phải là phương pháp tranh luận nghiêm túc.

4. Điểm chung của ba luận điệu trên là họ đã thay thế dữ kiện bằng suy diễn và thay thế phân tích bằng cảm xúc. Một con số không phù hợp với thông tin công bố được lặp lại như sự thật; một sự kiện ngoại giao bị nâng lên thành bằng chứng “lệ thuộc”; một chuyến công tác quốc gia bị quy thành câu chuyện cá nhân.

Phản biện là cần thiết trong đời sống chính trị. Nhưng phản biện phải dựa trên dữ kiện, phải phân biệt giữa khả năng và khẳng định, giữa phân tích và suy đoán. Khi dữ kiện đã được công bố, việc tiếp tục lặp lại thông tin không phù hợp với thực tế không còn là đặt câu hỏi, mà là duy trì một ấn tượng sai lệch.

Trong thời đại mạng xã hội, thông tin lan truyền nhanh hơn quá trình kiểm chứng. Vì vậy, thái độ tỉnh táo là điều cần thiết. Không phải mọi câu hỏi đều là xuyên tạc; nhưng cũng không phải mọi lời khẳng định mạnh mẽ đều là sự thật. Điều phân biệt hai điều đó chính là bằng chứng và logic.

Chuyến công tác của Tổng Bí thư Tô Lâm tới Mỹ có thể được nhìn từ nhiều góc độ khác nhau. Nhưng nếu muốn tranh luận nghiêm túc, cần bắt đầu từ thông tin được kiểm chứng và phân tích chặt chẽ. Chỉ khi đó, phản biện mới góp phần làm sáng tỏ vấn đề, thay vì làm nhiễu thêm không gian thông tin./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Feb 22, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc dân chủ trong Đảng của Vũ Đức Khanh

          Trên Vietnamthoibao Vũ Đức Khanh có bài viết: “Dân chủ trong Đảng và nghịch lý chính danh quyền lực ở Việt Nam”. Bài viết chứa đựng các luận điệu xuyên tạc, suy diễn rằng “dân chủ trong Đảng” mang tính hình thức, “mị dân”, dùng để hợp thức hóa vai trò lãnh đạo độc tôn của Đảng, thực chất quyền lực đã được dàn xếp, thống nhất từ trước, bầu cử chỉ mang tính hình thức, đồng thời so sánh “dân chủ trong Đảng” với dân chủ nghị viện, kêu gọi giám sát của các tổ chức xã hội dân sự. Đây là âm mưu, thủ đoạn phủ nhận, bác bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ, chống phá công tác nhân sự, hạ thấp uy tín của Đảng, Nhà nước trong dịp tổ chức Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

1. Không thể phủ nhận, bác bỏ nguyên tắc tập trung dân chủ của Đảng. Cần khẳng định nguyên tắc tập trung dân chủ là vấn đề thuộc về bản chất của Đảng Cộng sản, do đó, xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ là xa rời bản chất của Đảng. Thực tiễn cho thấy, trong điều kiện nào cũng phải phát huy dân chủ; đồng thời phải dưới sự tập trung thống nhất. Ở mọi thời kỳ cách mạng, trong mọi điều kiện, hoàn cảnh đều phải thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, chỉ khác ở cách thực hiện nội dung và phạm vi áp dụng do tình hình, nhiệm vụ của Đảng trong mỗi thời kỳ quy định. Giữ vững tập trung dân chủ không chỉ nhằm mở rộng dân chủ, phát huy mạnh mẽ dân chủ mà còn phải giữ gìn tính tập trung thống nhất, tính kỷ luật chặt chẽ, nghiêm minh. Do vậy, việc đem dân chủ trong Đảng để suy diễn với vấn đề tự do, dân chủ và đối chiếu với dân chủ nghị viện ở một số nước phương tây là cố tình bóp méo nguyên tắc tập trung dân chủ, tìm cách quy chụp quan liêu, chuyên quyền, độc đoán. Trong 96 năm lãnh đạo cách mạng Việt Nam đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam là một tổ chức thống nhất ý chí và hành động, luôn thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, thường xuyên tự phê bình và phê bình, coi đây quy luật tồn tại và phát triển của Đảng.

2. Công tác nhân sự được thực hiện dân chủ, minh bạch, bài bản, chặt chẽ, thống nhất cao trong Đảng. Trước thềm Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV, công tác nhân sự luôn nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhân dân, chính vì vậy, các thế lực thù địch, phản động luôn tìm cách chống phá, cho rằng bầu cử trong Đảng là dân chủ hình thức, lá phiếu được hợp thức hóa, thực chất đã có chỉ đạo và phân chia quyền lực từ trước. Cần khẳng định, quá trình chuẩn bị Đại hội XIV cho thấy, công tác nhân sự của Đảng luôn được tiến hành một cách dân chủ, bài bản, chặt chẽ, thống nhất cao và tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của Điều lệ Đảng, điều này được thể hiện rõ trong các văn bản quy định về khung tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ, về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử,… qua đó, tạo hành lang pháp lý vững chắc, như một “chiếc lưới” nhiều tầng, nhiều lớp để sàng lọc. Nhân sự được giới thiệu tham gia Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư khóa mới không phải là sự “sắp đặt” của một vài cá nhân, mà là kết quả của một quy trình gồm 5 bước chặt chẽ, được thực hiện từ cơ sở lên Trung ương, lấy ý kiến rộng rãi từ tập thể lãnh đạo đến các cấp ủy trực thuộc. Bên cạnh đó, tính dân chủ thể hiện rõ nét qua việc lấy phiếu tín nhiệm. Đây là thước đo khách quan, công tâm về uy tín và năng lực của cán bộ. Việc Đảng ta kiên quyết đưa ra khỏi bộ máy những “con sâu làm rầu nồi canh” ngay trước thềm Đại hội không phải là đấu đá, mà chính là sự sàng lọc cần thiết để làm trong sạch đội ngũ, đảm bảo những người được lựa chọn phải thực sự là những cán bộ “vừa hồng, vừa chuyên”. Do đó, việc rêu rao rằng công tác nhân sự là phân chia quyền lực, đã được sắp đặt trước Đại hội là sự vu khống trắng trợn, thiếu căn cứ của các thế lực thù địch.

3. Xây dựng đất nước giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc là thước đo thực tiễn dân chủ ở Việt Nam. Thực tiễn chứng minh vấn đề dân chủ hay không dân chủ ở một quốc gia không phải do có nhiều đảng, mà đảng cầm quyền đó bảo vệ quyền và lợi ích cho ai. Đồng chí Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khi trả lời phỏng vấn báo chí nước ngoài đã khẳng định: “Không phải có nhiều đảng thì dân chủ hơn, ít đảng thì ít dân chủ hơn, mỗi nước có hoàn cảnh, điều kiện lịch sử cụ thể khác nhau, điều quan trọng là xã hội có phát triển không, nhân dân có được hưởng cuộc sống ấm no, hạnh phúc không và đất nước có ổn định để ngày càng phát triển đi lên không? Đó là tiêu chí quan trọng nhất”.

Tóm lại, Đảng ta luôn xác định, Nhân dân là trung tâm, là chủ thể, là mục tiêu, là động lực và là nguồn lực của phát triển. Mọi đường lối, chính sách phải hướng tới nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân; tôn trọng, lắng nghe và dựa vào Nhân dân. Đảng phải gắn bó mật thiết với Nhân dân, tận tâm phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về mọi quyết định của mình. Đó mới là thước đo chính xác nhất về dân chủ, chứ không phải bằng công thức đa đảng đối lập, tự do cạnh tranh như Vũ Đức Khanh nêu ra./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

 

Feb 18, 2026

Bóc trần luận điệu ngụy biện về dân quyền, tự do trong âm mưu chống, phá Việt Nam

          Trên trang Vietquoc, Lê Thành Nhân đăng tải bài viết: Dân quyền tự do là điều kiện cần thiết để đưa đất nước tiến lên”. Dưới vỏ bọc ngôn từ có vẻ “dân chủ”, “nhân quyền”, bài viết đã cố tình xuyên tạc bản chất chế độ chính trị Việt Nam, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, bóp méo thực tiễn dân chủ, quyền con người ở nước ta. Đây là thủ đoạn không mới, nằm trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về tư tưởng, chính trị. Việc nhận diện rõ và kiên quyết đấu tranh phản bác là yêu cầu cấp thiết hiện nay.

Thứ nhất, luận điệu cho rằng Việt Nam “không có dân quyền, tự do thực chất” là sự áp đặt phiến diện, phản khoa học và mang động cơ chính trị. Cần khẳng định rằng dân quyền và tự do không phải là những khái niệm trừu tượng, phi lịch sử, càng không tồn tại dưới một mô hình duy nhất mang tính “chuẩn mực phổ quát” như các thế lực thù địch thường rêu rao. Trong khoa học chính trị hiện đại, quyền con người, quyền công dân luôn gắn với điều kiện lịch sử - văn hóa - trình độ phát triển kinh tế - xã hội cụ thể của mỗi quốc gia.

Ở Việt Nam, ngay từ khi giành được độc lập, quyền con người, quyền công dân đã được xác lập một cách rõ ràng. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 trích dẫn và phát triển sáng tạo các giá trị tiến bộ của nhân loại, khẳng định quyền sống, quyền tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của dân tộc Việt Nam. Trải qua các thời kỳ, đặc biệt là trong công cuộc đổi mới, hệ thống pháp luật về quyền con người ngày càng hoàn thiện. Hiến pháp năm 2013 dành riêng một chương quy định về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, với phạm vi rộng, nội dung cụ thể, tiệm cận các chuẩn mực quốc tế.

Thực tiễn cho thấy, người dân Việt Nam được bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền cơ bản như quyền bầu cử, ứng cử; quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; quyền tự do ngôn luận, báo chí; quyền tiếp cận thông tin; quyền học tập, chăm sóc sức khỏe, an sinh xã hội. Việt Nam cũng là thành viên tích cực của nhiều công ước quốc tế quan trọng về quyền con người và nghiêm túc thực hiện các cam kết quốc tế đó. Việc Lê Thành Nhân cố tình tách rời dân quyền khỏi ổn định chính trị, độc lập dân tộc và phát triển bền vững để áp đặt một mô hình dân chủ phương Tây là sự ngụy biện có chủ ý. Lịch sử thế giới cho thấy không ít quốc gia sao chép máy móc mô hình dân chủ “đa đảng đối lập” đã rơi vào hỗn loạn chính trị, xung đột xã hội, thậm chí nội chiến kéo dài. Việt Nam lựa chọn con đường phát triển của mình là kết quả của lịch sử, là nguyện vọng và sự lựa chọn có ý thức của Nhân dân, chứ không phải sự “áp đặt” như luận điệu xuyên tạc đã bịa đặt.

Thứ hai, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam nhằm phủ nhận dân chủ xã hội chủ nghĩa là sự tráo khái niệm nguy hiểm. Luận điệu cho rằng “quyền lực chính trị tập trung vào một nhóm nhỏ trong Đảng Cộng sản” thực chất là sự đánh đồng cố ý giữa vai trò lãnh đạo của Đảng với việc tước bỏ quyền làm chủ của Nhân dân. Đây là một sự tráo khái niệm mang tính phá hoại. Ở Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam không đứng ngoài, càng không đứng trên Nhân dân, mà là lực lượng chính trị đại biểu cho lợi ích của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và cả dân tộc. Vai trò lãnh đạo của Đảng được xác lập không phải bằng đặc quyền, mà bằng uy tín chính trị, năng lực lãnh đạo và sự tín nhiệm của Nhân dân, được hiến định rõ ràng.

Dân chủ ở Việt Nam là dân chủ xã hội chủ nghĩa, trong đó Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua cả dân chủ đại diện và dân chủ trực tiếp, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Nhân dân tham gia bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp; tham gia thảo luận, góp ý vào các dự thảo luật, chiến lược, chính sách lớn; thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội thông qua Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội.

Thực tiễn qua 40 năm đổi mới là minh chứng thuyết phục nhất bác bỏ luận điệu của Lê Thành Nhân. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đời sống Nhân dân không ngừng được cải thiện, vị thế quốc tế ngày càng nâng cao. Những thành tựu đó không thể có được nếu “người dân mất quyền làm chủ” như các đối tượng chống phá rêu rao.

Tóm lại, luận điệu trong bài viết của Lê Thành Nhân không phải là dân quyền hay tự do, mà là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, từng bước làm suy yếu nền tảng tư tưởng của chế độ. Mỗi người dân cần nêu cao cảnh giác và kiến quyết đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet)