Sep 11, 2026

“Quân đội của Nhân dân” không đồng nghĩa với “phi chính trị hóa” Quân đội

        Tre Việt - Mới đây, trang facebook Chân Trời Mới Media tán phát bài viết: “Quân đội thuộc về Nhân dân không phải công cụ bảo vệ tư tưởng của bất kỳ đảng nào”; trong đó, đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bài viết cho rằng: Quân đội “đang phục vụ một Đảng cầm quyền chứ không phục vụ Nhân dân”; quy kết sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội có thể dẫn đến việc sử dụng vũ lực chống Nhân dân, v.v.

        Thoạt nhìn, những luận điệu này được khoác lên cái vỏ “bảo vệ Nhân dân”, “bảo vệ lợi ích quốc gia”, nhưng thực chất là một cách nhìn phiến diện, cố tình tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định làm nên bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguy hiểm hơn, thông qua việc đánh tráo khái niệm “Quân đội của Nhân dân”, bài viết hướng tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Vì vậy, cần nhận diện rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc này.

        Thứ nhất, không thể đối lập “Quân đội của Nhân dân” với sự lãnh đạo của Đảng. Cần khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc, đó là: Quân đội nhân dân Việt Nam là Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai nội dung này không hề đối lập, càng không thể lấy cái gọi là “Quân đội của Nhân dân” để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vì: 

        Ngay từ khi ra đời, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang bản chất của một lực lượng vũ trang cách mạng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân và lịch sử hơn 81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng minh điều đó.

        Điều này cũng được hiến định trong văn bản pháp luật cao nhất của nước ta. Hiến pháp năm 2013 xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đồng thời quy định rõ lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, Hiến pháp đã đặt các yếu tố Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ trong một chỉnh thể thống nhất, chứ không tạo ra sự đối lập giữa “Đảng” và “Nhân dân” như bài viết cố tình dựng lên.

        Thứ hai, việc phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng là phủ nhận nhân tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội. Bài viết cho rằng: Quân đội “phục vụ một Đảng cầm quyền chứ không phục vụ Nhân dân”. Đây là luận điệu vô cùng nguy hiểm, khi họ cố tình đồng nhất sự lãnh đạo của Đảng với việc sử dụng Quân đội như một công cụ phục vụ lợi ích riêng của một tổ chức chính trị.

        Cả lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội không phải là sự áp đặt mà được hình thành trong quá trình tổ chức, xây dựng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo Quân đội nhằm bảo đảm Quân đội giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; bảo đảm lực lượng vũ trang không bị phân hóa, “trung lập hóa” về chính trị hoặc trở thành công cụ của bất kỳ nhóm lợi ích nào. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân là yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần đặc biệt. Nếu tách Quân đội khỏi nền tảng chính trị, tư tưởng, thì cái bị suy yếu trước hết là khả năng giữ vững mục tiêu chiến đấu, ý chí, kỷ luật và sự thống nhất trong toàn quân.

        Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã chiến đấu, hy sinh không phải vì đặc quyền hay lợi ích riêng, mà vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của Nhân dân. Ngày nay, trong thời bình, hình ảnh người chiến sĩ có mặt ở nơi thiên tai, bão lũ, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh, giúp Nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo,... tiếp tục chứng minh bản chất “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, phục vụ” của Quân đội ta. 

        Thứ ba, không thể suy diễn “Đảng lãnh đạo Quân đội” thành “Quân đội chống Nhân dân”. Muốn đánh giá một thiết chế chính trị - pháp lý phải căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế tổ chức và thực tiễn hoạt động của thiết chế đó, chứ không thể lấy một kịch bản giả định để phủ nhận bản chất của nó. Trong Hiến pháp đã quy định rõ: bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân; lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp xác định lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ Nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa là nguồn sức mạnh của Quân đội. Vì thế, bảo vệ Nhân dân là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Hơn nữa, Quân đội hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Việc sử dụng lực lượng, phương tiện và vũ lực trong những tình huống cụ thể phải tuân thủ thẩm quyền, trình tự, quy định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền không cho phép bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào đứng ngoài pháp luật. Vì vậy, lấy nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội để suy diễn rằng Quân đội có thể tùy tiện sử dụng vũ lực chống Nhân dân là cố tình bỏ qua nguyên tắc pháp quyền và toàn bộ hệ thống tổ chức, chỉ huy, quản lý nhà nước đối với lực lượng vũ trang. 

        Như vậy, các luận điệu trong bài viết trên không phải những vấn đề rời rạc mà được liên kết với nhau nhằm thực hiện âm mưu vô cùng nguy hiểm, thâm độc là làm suy giảm niềm tin vào bản chất cách mạng của Quân đội ta, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội,... nên chúng ta cần hết sức tỉnh táo để nhận diện, đấu tranh bác bỏ./. 


Sep 10, 2026

Dấu ấn của Việt Nam trong Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa và Phát triển bền vững”, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, chống phá

         Tre Việt - Ngày 04/9, tại Trụ sở Liên hợp quốc ở New York (Mỹ), Đại hội đồng Liên hợp quốc khóa 80 đã thông qua Nghị quyết phát động “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững”, với 103 nước đồng bảo trợ. Đây là sáng kiến do Việt Nam khởi xướng, đánh dấu một bước tiến quan trọng trong nỗ lực thúc đẩy văn hóa trở thành một động lực thiết yếu của phát triển bền vững trên phạm vi toàn cầu.
Đại sứ Đỗ Hùng Việt, Trưởng Phái đoàn Việt Nam
tại Liên hợp quốc phát biểu tại Đại hội đồng Liên hợp quốc.
        Mục tiêu của Sáng kiến “Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững” là phát huy tốt hơn nữa vai trò hết sức quan trọng của văn hóa để đóng góp vào phát triển bền vững ở từng quốc gia và trên toàn cầu.
        Theo phái đoàn Việt Nam tại Liên hợp quốc, Nghị quyết xác định giai đoạn 2027 - 2036 là Thập kỷ quốc tế về Văn hóa vì Phát triển bền vững, tạo ra một khuôn khổ dài hạn để các quốc gia và cộng đồng quốc tế tăng cường hành động, lồng ghép ngày càng sâu rộng văn hóa vào các chính sách phát triển.
        Nghị quyết cũng xác định Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa Liên hợp quốc (UNESCO) giữ vai trò đầu mối triển khai Thập kỷ, phối hợp xây dựng các hoạt động, chương trình và kế hoạch hành động cụ thể cùng với các nước thành viên.
        Việc thông qua Nghị quyết tại Đại hội đồng Liên hợp quốc đánh dấu bước phát triển quan trọng trong nỗ lực đưa văn hóa ngày càng gắn kết chặt chẽ với chương trình nghị sự phát triển toàn cầu, khẳng định vai trò của văn hóa như một nguồn lực cho sáng tạo, tăng trưởng kinh tế, gắn kết xã hội và phát triển bền vững. Thập kỷ quốc tế sẽ tạo khuôn khổ để chuyển từ nhận thức sang hành động, huy động sự ủng hộ chính trị và các nguồn lực, thúc đẩy quan hệ đối tác, chia sẻ tri thức và kinh nghiệm, qua đó đưa văn hóa ngày càng giữ vị trí quan trọng trong chương trình nghị sự phát triển toàn cầu.
        Việc Sáng kiến được thông qua có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam. Đây là sáng kiến đầu tiên có quy mô lớn nhất do Việt Nam khởi xướng tại UNESCO sau nhiều năm tham gia Tổ chức, tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ trương nâng tầm đối ngoại đa phương. Thành công này cho thấy Việt Nam không chỉ là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, mà còn chủ động tham gia định hình các chương trình nghị sự, đóng góp những ý tưởng thiết thực vì lợi ích chung của nhân loại.
       Việt Nam đề xuất và thúc đẩy Sáng kiến cũng là hành động thiết thực góp phần triển khai đồng bộ các định hướng lớn của Đảng: Nghị quyết số 59-NQ/TW, ngày 24/01/2025 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về hội nhập quốc tế trong tình hình mới; trong đó, xác định hội nhập quốc tế là một động lực chiến lược; Nghị quyết số 80-NQ/TW, ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIII) về phát triển văn hóa Việt Nam, khẳng định văn hóa là nền tảng, nguồn lực nội sinh quan trọng và động lực cho sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước và Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV) về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng. Thể hiện tinh thần chủ động đóng góp, tham gia định hình các chương trình nghị sự quốc tế và phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại phục vụ phát triển. Qua đó, Sáng kiến kết nối chặt chẽ giữa ưu tiên phát triển của Việt Nam với nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế, phát huy thế mạnh văn hóa, tri thức và sáng tạo của Việt Nam trong tiến trình hội nhập sâu rộng.
      Với tư cách là quốc gia khởi xướng, Việt Nam sẽ tiếp tục phối hợp chặt chẽ với UNESCO, các cơ quan của Liên hợp quốc, các quốc gia thành viên và các đối tác liên quan trong quá trình xây dựng Kế hoạch hành động và triển khai Thập kỷ. Việt Nam mong muốn cùng cộng đồng quốc tế biến cam kết chính trị thành các chương trình và hoạt động cụ thể, thúc đẩy văn hóa thực sự trở thành nguồn lực nội sinh, động lực đổi mới sáng tạo và cầu nối hợp tác vì hòa bình và phát triển bền vững. Việc tích cực tham gia triển khai Thập kỷ cũng tạo điều kiện để Việt Nam phát huy các giá trị văn hóa, tri thức và sức sáng tạo của dân tộc, đóng góp thiết thực vào kho tàng văn hóa và sự phát triển của văn minh nhân loại.
        Sáng kiến là kết quả của quá trình chuẩn bị, tham vấn và vận động tích cực của Việt Nam tại UNESCO và Liên hợp quốc. Đây là minh chứng khẳng định vai trò, uy tín và dấu ấn ngày càng rõ nét của Việt Nam tại các cơ chế đa phương; thể hiện khả năng đóng góp những sáng kiến thiết thực, phù hợp với sự quan tâm chung của cộng đồng quốc tế. Đồng thời, chính là bằng chứng đanh thép, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, kích động của thế lực thù địch, phản động, phần tử chống đối, cơ hội chính trị nhằm hạ thấp vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế./.

Sep 9, 2026

Không có “thế kẹt” trong đối ngoại Việt Nam

          Tre Việt - Ngày 07/9/2026, trên trang Việt Tân, tác giả Hoàng Trường đăng bài viết: “Công du bốn cường quốc, Tô Lâm có thể phá ‘thế kẹt’ của Việt Nam đến đâu?”; trong đó, cố dựng lên một bức tranh về Việt Nam như đang bị “mắc kẹt’ giữa các trung tâm quyền lực lớn, mà chuyến công du Nga, Pháp, Mỹ và Canada được mô tả như một nỗ lực tìm kiếm lối thoát. Từ đó, tác giả đặt hàng loạt nghi vấn về đường lối đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là quan hệ với Mỹ, Trung Quốc và vấn đề “chọn phe”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
hội kiến Chủ tịch Đảng Nước Nga Thống nhất,
Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga
Dmitry Medvedev.

Cách đặt vấn đề ấy thoạt nhìn có vẻ là một phân tích địa - chính trị, nhưng thực chất lại xuất phát từ một tiền đề sai lệch: coi việc Việt Nam chủ động mở rộng quan hệ với các nước lớn là biểu hiện của một “thế kẹt”, rồi suy diễn rằng Việt Nam sớm muộn phải lựa chọn giữa các trung tâm quyền lực. Đây là cách nhìn phiến diện, không phản ánh bản chất đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam.

Không thể áp đặt “thế kẹt”

Bài viết cố tình xây dựng hình ảnh Việt Nam đứng giữa hai sức ép: một bên là Hoa Kỳ với chính sách được mô tả ngày càng thực dụng, một bên là Trung Quốc “đối tác lớn nhất vừa là sức ép địa - chính trị thường trực”. Từ đó, tác giả hàm ý Việt Nam đang phải lựa chọn giữa các trung tâm quyền lực. Đây là cách nhìn đơn giản hóa quan hệ quốc tế, đồng thời xa rời thực tiễn và đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Việt Nam không xây dựng quan hệ với các nước lớn theo logic “chọn bên”, cũng không coi quan hệ với nước này là công cụ để chống nước khác. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển.

Thực tế đó cho thấy, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn không đồng nghĩa Việt Nam bị đẩy vào thế phải lựa chọn. Ngược lại, chủ động mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác, nhất là các nước lớn và các trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, là cách Việt Nam gia tăng không gian chiến lược và dư địa phát triển. Đa phương hóa, đa dạng hóa không phải là “đi hàng hai”; giữ thế cân bằng không phải là thiếu lập trường; hợp tác với nhiều đối tác càng không đồng nghĩa với lệ thuộc vào bất kỳ đối tác nào. Đó là cách Việt Nam mở rộng lựa chọn, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và giữ vững quyền tự quyết đối với những vấn đề thuộc lợi ích quốc gia - dân tộc.

Mở rộng quan hệ, gia tăng không gian chiến lược

Tác giả bài viết gắn các chuyến công du của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với “vị thế cá nhân” của người đứng đầu, thậm chí suy diễn rằng thành quả đối ngoại có thể trở thành một nguồn “chính danh” trong nước. Cách nhìn này đã quy giản hoạt động đối ngoại của quốc gia thành công cụ phục vụ vị thế của một cá nhân, trong khi ngoại giao cấp cao là hoạt động triển khai đường lối đối ngoại của Đảng, phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn đối ngoại thời gian qua cho thấy, việc mở rộng quan hệ với các đối tác không phải để “xin” một vị trí hay tìm kiếm sự “thừa nhận”, mà nhằm củng cố tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục được thúc đẩy trên nhiều lĩnh vực, trong khi quan hệ với Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, Liên minh châu Âu và nhiều đối tác khác được mở rộng theo những lĩnh vực, mức độ và khuôn khổ phù hợp. Riêng với Trung Quốc, trong năm 2026 hai bên tiếp tục ký kết nhiều văn kiện hợp tác và duy trì các cơ chế đối thoại chiến lược, cho thấy hợp tác với nước láng giềng này được xử lý trên nền tảng lợi ích và các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập.

Bởi vậy, không thể từ việc Việt Nam phát triển quan hệ với nhiều nước lớn mà suy diễn Việt Nam đang bị “ràng buộc” hay phải lựa chọn giữa các trung tâm quyền lực. Chính việc duy trì nhiều kênh quan hệ, nhiều đối tác và nhiều hướng hợp tác tạo thêm khả năng thích ứng trước biến động bên ngoài, hạn chế nguy cơ phụ thuộc và nâng cao năng lực tự chủ. Đây là một lựa chọn chiến lược, thể hiện bản lĩnh Việt Nam luôn “chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Không có “thế kẹt” tất yếu từ địa - chính trị

Để củng cố lập luận về một Việt Nam đang “mắc kẹt”, tác giả cho rằng dù Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể đi nhiều thủ đô, địa lý chiến lược của Việt Nam vẫn không thay đổi. Nhận định địa lý là yếu tố khách quan là không sai, nhưng từ đó suy diễn Việt Nam tất yếu bị đặt vào một “thế kẹt” lại là cách nhìn giản đơn, tuyệt đối hóa tác động của địa lý và xem nhẹ vai trò của đường lối, năng lực quốc gia cũng như khả năng chủ động kiến tạo môi trường chiến lược.

Việt Nam nằm ở vị trí có ý nghĩa chiến lược tại Đông Nam Á và Biển Đông. Vị trí ấy đồng thời đặt ra những yêu cầu về bảo đảm an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, nhưng cũng tạo điều kiện để Việt Nam phát huy vai trò kết nối, tham gia định hình các cơ chế hợp tác khu vực và đóng góp vào giải quyết những vấn đề chung. Vì vậy, không thể nhìn địa - chính trị chỉ từ góc độ sức ép để kết luận về một “thế kẹt” tất yếu. Điều quan trọng là đất nước phải chủ động chuyển hóa điều kiện địa - chính trị thành lợi thế phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và tăng cường nội lực.

Cũng cần thấy rằng, môi trường chiến lược luôn vận động, không thể được quyết định hoàn toàn bởi vị trí địa lý. Quan hệ giữa các quốc gia chịu tác động đồng thời của tương quan lực lượng, lợi ích đan xen, chính sách của mỗi nước và các cơ chế hợp tác khu vực, quốc tế. Vì vậy, địa - chính trị tạo ra những điều kiện và thách thức khách quan, nhưng không quyết định một cách tất yếu cách ứng xử và kết quả chiến lược của mỗi quốc gia. Với Việt Nam, vấn đề đặt ra là chủ động phát huy lợi thế, hóa giải thách thức, tạo dựng môi trường thuận lợi cho phát triển và bảo vệ Tổ quốc, thay vì coi vị trí địa lý như một “định mệnh” dẫn đến thế bị động. Lấy vị trí địa lý làm căn cứ để khẳng định Việt Nam sớm muộn phải rơi vào thế đối đầu hoặc buộc phải lựa chọn giữa các nước lớn vì thế là cách nhìn giản đơn, tuyệt đối hóa yếu tố địa - chính trị và phủ nhận khả năng chủ động của Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng xác định: “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”. Đây không phải là hành trình tìm kiếm một “lối thoát” khỏi cái gọi là “thế kẹt”, mà là quá trình chủ động tạo dựng thế và lực mới, mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế và giữ vững quyền tự quyết chiến lược của đất nước trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc./.

 

Sep 7, 2026

Cảnh giác với chiêu trò xuyên tạc Nghị định số 333 của Chính phủ

         Tre Việt - Ngày 04/9, trang Chân Trời Mới Media có bài viết xuyên tạc Nghị định số 333/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng, họ xuyên tạc trắng trợn rằng: từ nay cơ quan chức năng có thể “khóa vĩnh viễn tài khoản”, qua đó “xóa quyền tự do internet”, “bịt miệng người bất đồng” hoặc biến mạng xã hội thành không gian chỉ được phép nói những điều “được chấp nhận”!.
        Như thông tin được biết, Nghị định số 333/2026/NĐ-CP được Chính phủ ban hành ngày 19/8/2026, có hiệu lực cùng ngày, nhằm quy định chi tiết các biện pháp thi hành Luật An ninh mạng, gồm 06 chương, 32 điều. Một trong những nội dung đáng chú ý tại Nghị định có tác động trực tiếp tới tài khoản người dùng là quy định về việc hạn chế hiển thị tại Việt Nam, hoặc khóa tạm thời tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội dung,… được sử dụng để đăng tải thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng.
        Theo đó, Điều 16, Chương III, quy định: trong 30 ngày, một tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung đăng tải từ 03 lần trở lên thông tin vi phạm pháp luật về an ninh thông tin mạng thì bị hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời với thời hạn tối đa 60 ngày. Trong 90 ngày, đăng tải từ 10 lần trở lên thông tin vi phạm thì bị hạn chế hiển thị tại Việt Nam hoặc khóa tạm thời với thời hạn tối đa 180 ngày.
        Đặc biệt, Nghị định còn quy định mức xử lý cao hơn với tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng hoặc kênh nội dung được sử dụng để thực hiện, tiếp tục thực hiện, phát tán, tổ chức, điều hành hoặc hỗ trợ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng.
        Cụ thể, tài khoản có thể bị hạn chế hiển thị vô thời hạn tại Việt Nam hoặc khóa vô thời hạn nếu đăng tải, phát tán thông tin xâm phạm an ninh quốc gia; đã bị khóa tạm thời từ 03 lần trở lên theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền nhưng tiếp tục vi phạm; hoặc có căn cứ xác định tài khoản cá nhân, trang, nhóm cộng đồng, kênh nội dung tiếp tục được sử dụng làm công cụ, phương tiện thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng và việc áp dụng biện pháp khóa tài khoản vô thời hạn là cần thiết, phù hợp với tính chất, mức độ vi phạm.
        Đáng chú ý là, Nghị định cũng quy định các tài khoản bị áp dụng biện pháp khóa tài khoản vô thời hạn được xem xét khôi phục trong trường hợp không còn căn cứ áp dụng biện pháp; có nhầm lẫn trong quá trình xác minh, xử lý; xuất hiện tình tiết mới làm thay đổi căn cứ áp dụng biện pháp; cơ quan có thẩm quyền xác định tài khoản không được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về an ninh mạng. Đồng thời, yêu cầu doanh nghiệp lưu trữ và quản lý nhật ký hệ thống phục vụ công tác quản lý nhà nước, bảo đảm an ninh thông tin mạng và xử lý hành vi vi phạm pháp luật.
        Internet là không gian của quyền tự do, nhưng tự do chỉ có giá trị bền vững khi quyền của người này không trở thành công cụ phá hủy quyền của người khác. Một môi trường internet tự do không phải môi trường vô luật. Nghị định số 333/2026/NĐ-CP của Chính phủ không thiết lập một quyền tùy nghi để khóa bất cứ tài khoản nào có quan điểm trái chiều. Do đó, cần phân biệt tài khoản nào bị khóa, vì hành vi gì và trong điều kiện nào?. Việc Chân Trời Mới Media xuyên tạc Nghị định số 333/2026/NĐ-CP của Chính phủ, bằng luận điệu quy chụp và đánh đồng: việc các cơ quan chức năng có thể “khóa vĩnh viễn tài khoản”, qua đó “xóa quyền tự do internet”, hoặc biến mạng xã hội thành không gian chỉ được phép nói những điều “được chấp nhận” là hết sức lố bịch, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn. Mỗi người dân Việt Nam cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.



Phản bác luận điệu xuyên tạc về công tác tư tưởng trong bối cảnh mới

        Trên mạng xã hội có nhiều ý kiến trái chiều về một số nội dung trong Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 22/8/2026 của Bộ Chính trị về Chiến lược công tác tư tưởng trong bối cảnh mới; trong đó, có mục tiêu đến năm 2030 sẽ xây dựng mạng lưới từ 15.000 đến 20.000 người có uy tín và ảnh hưởng làm công tác tư tưởng trên cả nước. 
        Một số người đặt câu hỏi tại sao Việt Nam lại cần một “lực lượng chuyên gia” đông đến như vậy để làm công tác tư tưởng, trong khi ở nước ngoài làm gì có lực lượng nào chuyên trách về tư tưởng. Họ lập luận rằng tư tưởng không phải là vấn đề mấu chốt, mà kết quả và hành động thực tế mới quyết định tư tưởng xã hội và lòng tin của người dân. Một số đối tượng vu khống lãnh đạo Việt Nam dùng tiền để “mua chuộc” hay “ép buộc” những người có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội làm công tác tư tưởng là nhằm bảo vệ chế độ độc tài trong nước, chứ không phải vì lợi ích của dân tộc. Chúng nói bừa rằng Đảng Cộng sản Việt Nam sợ sự thật sẽ làm chế độ trong nước hiện nay sụp đổ nên phải dùng một loạt hạ sách để che dấu, đánh lạc hướng dư luận nhằm che dấu sự thật.
        Phải khẳng định ngay rằng những ý kiến nói trên phản ánh hoàn toàn sai bản chất vấn đề. Sự thật là ở bất kỳ thể chế nào thì tư tưởng và ý thức hệ cũng là “vũ khí mềm” rất quan trọng để duy trì quyền lực nhà nước, tạo sự đồng thuận xã hội và bảo vệ an ninh của chế độ đó. Không có quốc gia nào trên thế giới dám lơ là lĩnh vực tư tưởng. Tùy theo hệ thống chính trị của của mỗi nước mà chức năng, tên gọi và hình thức tổ chức hoạt động liên quan đến lĩnh vực tư tưởng có thể khác nhau. 
        Chẳng hạn, ở nhiều nước phương Tây có thể không có thuật ngữ “công tác tư tưởng” theo nghĩa hành chính như ở các nước xã hội chủ nghĩa, nhưng họ luôn coi trọng việc định hình, truyền bá hệ tư tưởng của nước họ thông qua hệ thống các môn học, văn hóa đại chúng, phim ảnh, truyền thông, sách báo, v.v. Họ có hệ thống riêng để bảo vệ an ninh quốc gia của nước họ trước các mối đe dọa về “thông tin sai lệch”, không có lợi theo quan điểm của họ. Các cơ quan truyền thông được tài trợ như VOA, BBC, RFA,… phát sóng đa ngôn ngữ toàn cầu, truyền tải thông tin về tự do, nhân quyền và chỉ trích các mô hình mà họ gọi là “độc tài”. Phim ảnh Hollywood cũng lồng ghép văn hóa, quyền tự do và giấc mơ Mỹ vào đời sống toàn cầu. Khi hệ thống các nước phương Tây bị đe dọa bởi tin giả hoặc chiến dịch tuyên truyền từ các nước đối địch, họ sẽ sử dụng các đạo luật an ninh mạng và sử dụng các trung tâm chuyên trách để ngăn chặn những thông tin không có lợi cho họ. Nhiều quốc gia khác ở Trung Đông hoặc châu Á có những biện pháp cực kỳ cứng rắn để bảo vệ hệ thống tư tưởng của nước họ.
        Ở Việt Nam, công tác tư tưởng là một nội dung đặc biệt quan trọng trong toàn bộ hoạt động lãnh đạo của Đảng, giữ vai trò đi trước mở đường, tạo sự thống nhất cao trong Đảng, sự đồng thuận trong nhân dân, xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc vững mạnh, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu nhằm thực hiện thắng lợi các mục tiêu đề ra. Thực tế cách mạng Việt Nam trong suốt những năm qua đã chứng minh rằng công tác tư tưởng có vai trò vô cùng quan trọng trong việc xây dựng, củng cố niềm tin của các tầng lớp nhân dân, tạo động lực tinh thần to lớn cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần tạo dựng nên cơ đồ, uy tín và vị thế quốc tế của đất nước tốt đẹp như hiện nay.
        Hiện nay, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ cũng như nhiều khó khăn, thách thức khó lường cho mọi quốc gia. Sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin, đặc biệt là trí tuệ nhân tạo,  cùng với  sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch, phản động, đang tạo ra những thách thức khó lường về an ninh tư tưởng. Đảng ta đã xác định công tác tư tưởng trong bối cảnh mới cần phải tiếp tục đẩy mạnh và đổi mới theo phương châm “Chủ động - Sắc bén - Thuyết phục - Hiệu quả”, chuyển trọng tâm từ quản lý thông tin sang dẫn dắt nhận thức xã hội, tạo đồng thuận xã hội để tiếp tục giữ vững thành quả cách mạng, bảo vệ vững chắc môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Việc đặt ra mục tiêu hình thành mạng lưới 15.000 đến 20.000 người có uy tín, có ảnh hưởng tích cực tham gia công tác tư tưởng nhằm nhận diện sớm và phản bác kịp thời bằng luận cứ khoa học đối với các quan điểm sai trái, thù địch có tác động lớn đến đời sống xã hội, sớm ngăn chặn các nội dung vi phạm nghiêm trọng theo quy định của pháp luật Việt Nam là một bước đi công khai, chủ động, kịp thời.
        Những cá nhân có uy tín và ảnh hưởng tích cực trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội,… sẽ đóng vai trò cầu nối quan trọng trong việc định hướng, lan tỏa thông tin chính thống qua việc chia sẻ các thông tin chuẩn xác, chính thống từ cơ quan nhà nước và các nguồn uy tín đến đông đảo người theo dõi, qua đó góp phần bác bỏ tin đồn thất thiệt, giảm thiểu tình trạng hỗn loạn thông tin cả trên không gian thực và không gian mạng, đồng thời nâng cao hiểu biết pháp luật và văn hóa ứng xử cho cộng đồng mạng. 
        Sự tham gia của các cá nhân có uy tín và ảnh hưởng trong xã hội trong công tác tư tưởng là thể hiện ý thức trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc và sự tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng. Những luận điệu xuyên tạc của các đối tượng chống phá về công tác tư tưởng của Đảng trong bối cảnh mới là hoàn toàn không có cơ sở./. 

(Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

Sep 3, 2026

Xuyên tạc Tuyên ngôn Độc lập - sự đánh tráo lịch sử và phủ nhận giá trị của độc lập dân tộc

          Tre Việt - Mới đây, trang mạng facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài viết: “Tuyên ngôn độc lập hay là cái bánh vẽ mị dân tinh vi?” của Nhật Ngôn; trong đó, cho rằng: Tuyên ngôn Độc lập thực chất là một sản phẩm truyền thông chính trị mị dân tinh vi. Đây là những lời lẽ cố tình phủ nhận, xuyên tạc giá trị lịch sử, tầm vóc thời đại của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh soạn thảo, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, cần bị vạch trần, đấu tranh, bác bỏ.

Chúng ta đều biết rằng, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, trịnh trọng tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Đây là sự kiện có ý nghĩa đặc biệt trọng đại, đánh dấu bước ngoặt căn bản của lịch sử dân tộc: Nhân dân Việt Nam từ thân phận bị áp bức, nô lệ trở thành người làm chủ đất nước, tự quyết định vận mệnh của mình.

Có được thành quả đó là do dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Nhân dân ta đã tiến hành Tổng khởi nghĩa Tháng Tám, giành chính quyền trong cả nước, thành lập ra Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về logic lịch sử, Cách mạng Tháng Tám tạo lập cơ sở hiện thực của chính quyền cách mạng; Tuyên ngôn Độc lập là văn kiện chính thức tuyên bố trước quốc dân và thế giới về sự ra đời của Nhà nước độc lập. Đó là kết quả của cả một quá trình đấu tranh lâu dài chống chủ nghĩa thực dân, là sự tiếp nối của truyền thống yêu nước và các phong trào đấu tranh của dân tộc, được kết tinh thành thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Vì thế, bài viết cho rằng: Tuyên ngôn Độc lập “thực chất là một sản phẩm truyền thông chính trị mị dân tinh vi”, là sự suy diễn lịch sử không có cơ sở, cố tình đánh tráo khái niệm, xuyên tạc hiện thực, nhằm hạ thấp giá trị của một văn kiện lịch sử gắn liền với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, phủ nhận thành quả đấu tranh giành độc lập của dân tộc ta.

Hơn nữa, ngay trong phần mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những nguyên lý về quyền con người được nêu trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Nhưng Người không sao chép hay dừng lại ở việc viện dẫn những tư tưởng ấy. Người phát triển thành một luận đề có ý nghĩa sâu sắc đối với các dân tộc thuộc địa: các dân tộc cũng có quyền bình đẳng, có quyền sống, quyền tự do và quyền độc lập. Đặc biệt, Chủ tịch Hồ Chí Minh không chỉ khẳng định quyền độc lập bằng những tuyên bố mang tính nguyên tắc, mà còn đưa ra những căn cứ lịch sử để chứng minh; đồng thời, khẳng định Nhân dân Việt Nam đã đứng lên giành chính quyền và tự mình thành lập Nhà nước của mình. Như vậy: Tuyên ngôn Độc lập là sự kết hợp chặt chẽ giữa nguyên lý và thực tiễn, quyền con người và quyền dân tộc, lập luận chính trị và căn cứ lịch sử. Nên luận điệu Tuyên ngôn Độc lập chỉ là “sản phẩm truyền thông chính trị” đã thể hiện sự cố tình bỏ qua lập luận đặc sắc, chặt chẽ, khoa học của bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã soạn thảo.

Thực tiễn lịch sử cho thấy, nền độc lập của nước ta vừa giành được đã phải đứng trước những thử thách thù trong, giặc ngoài, tình thế “ngàn cân treo sợi tóc”. Nhân dân Việt Nam phải tiếp tục tiến hành cuộc đấu tranh lâu dài để bảo vệ thành quả Cách mạng Tháng Tám, giữ vững chính quyền cách mạng, bảo vệ chủ quyền và thống nhất đất nước. Biết bao thế hệ người Việt Nam đã chấp nhận gian khổ, hi sinh để bảo vệ độc lập, tự do và thống nhất Tổ quốc. Chính quá trình đấu tranh ấy đã chứng minh rằng độc lập được tuyên bố trong Tuyên ngôn không phải một khái niệm trừu tượng, càng không phải một lời hứa nhằm mị dân. Đó là mục tiêu chính trị được hiện thực hóa bằng hành động và được bảo vệ bằng sức mạnh của cả dân tộc. Đến nay, 81 năm đã trôi qua, nhưng bản Tuyên ngôn Độc lập vẫn giữ nguyên giá trị lịch sử, chính trị và tư tưởng, khẳng định chân lý của dân tộc Việt Nam. Đây là minh chứng thuyết phục nhất phản bác luận điệu Tuyên ngôn Độc lập chỉ là “bánh vẽ”.

Thông qua thực tiễn lịch sử, chứng cứ, lập luận khoa học là cơ sở vạch trần, đấu tranh với những luận điệu sai trái, xuyên tạc trên không gian mạng về Tuyên ngôn Độc lập. Đồng thời, thống nhất nhận thức, bảo vệ bản Tuyên ngôn Độc lập không phải chỉ là bảo vệ một văn kiện lịch sử mà sâu xa hơn là bảo vệ giá trị của độc lập, chủ quyền, thống nhất và quyền tự quyết của dân tộc - thành quả mà các thế hệ người Việt Nam đã phải đánh đổi bằng biết bao hy sinh mới giành được, gìn giữ đến hôm nay và cho mai sau./.

 

Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9 - mốc son không thể phủ nhận trong lịch sử dân tộc

          Trên trang Baotiengdan, Trương Nhân Tuấn đăng bài “Ngày “độc lập 2 tháng 9” nên dẹp bỏ”. Núp dưới cách diễn giải về lịch sử dựng nước, giữ nước và đề cao giá trị của Nam quốc sơn hà, tác giả đưa ra một loạt nhận định rằng dân tộc Việt Nam “đã độc lập hơn ngàn năm”, đã có “Tuyên ngôn độc lập từ ngàn năm trước”, vì thế không cần một bản tuyên ngôn độc lập mới; đồng thời xuyên tạc ý nghĩa của Ngày Quốc khánh 2/9/1945, phủ nhận vai trò của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc.

Thứ nhất, khẳng định truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc hoàn toàn không mâu thuẫn với việc khẳng định giá trị lịch sử và pháp lý đặc biệt của Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945. Sai lầm đầu tiên và cũng là nền tảng cho toàn bộ lập luận của Trương Nhân Tuấn nằm ở chỗ cố tình đặt Nam quốc sơn hà và Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vào quan hệ loại trừ đã có cái trước thì cái sau trở thành “dư thừa”. Đây là một phép suy luận phi lịch sử. Không ai phủ nhận Việt Nam là quốc gia có lịch sử hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo cùng nhiều văn kiện, sự kiện lịch sử khác là những cột mốc rực rỡ khẳng định ý chí độc lập, chủ quyền và bản lĩnh của dân tộc Việt Nam. Nghiên cứu của các học giả Việt Nam từ lâu cũng nhìn nhận Nam quốc sơn hà như bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên của dân tộc.

Chính vì vậy, Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 phải được nhìn nhận là sự kế thừa và phát triển truyền thống ấy trong một điều kiện lịch sử hoàn toàn mới, chứ không phải sự phủ nhận lịch sử trước đó. Trước Ngày 2/9/1945, Việt Nam đã trải qua hơn 80 năm dưới chế độ thuộc địa của thực dân Pháp; đến năm 1940 lại chịu sự thống trị của phát xít Nhật. Vì vậy, vấn đề đặt ra vào năm 1945 không phải là chứng minh “dân tộc Việt Nam có từ bao giờ”, mà là xác lập lại nền độc lập đã bị chủ nghĩa thực dân tước đoạt và tuyên bố sự ra đời của một nhà nước độc lập trong trật tự quốc tế mới. Tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ lâm thời tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tuyên ngôn đồng thời tuyên bố chấm dứt quan hệ thuộc địa với Pháp, xóa bỏ những đặc quyền của Pháp ở Việt Nam và khẳng định quyền của dân tộc Việt Nam được hưởng tự do, độc lập. Bởi vậy, lấy Nam quốc sơn hà để kết luận rằng Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là “dư thừa” chẳng khác nào cho rằng một dân tộc đã từng có độc lập trong lịch sử thì sau khi bị xâm lược, mất độc lập không cần tuyên bố khôi phục chủ quyền quốc gia. Đó không phải tư duy lịch sử mà là sự đánh đồng các thời đại, các chủ thể nhà nước và các hoàn cảnh pháp lý hoàn toàn khác nhau.

Thứ hai, phủ nhận Ngày Quốc khánh 2/9/1945 thực chất là tách Tuyên ngôn Độc lập khỏi thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám và xuyên tạc quá trình nhân dân Việt Nam giành lại quyền tự quyết của mình. Trương Nhân Tuấn còn cho rằng, không có chuyện Chủ tịch Hồ Chí Minh và Việt Minh giành độc lập ngày 2/9/1945; rằng Nhật đã đầu hàng Đồng minh, vì thế việc giành chính quyền chỉ là “chạy đua với Đồng minh”. Cách diễn giải sai lệch này đã giản lược một quá trình lịch sử phức tạp thành một sự chuyển giao quyền lực gần như tự nhiên. Nhật đầu hàng Đồng minh là điều kiện quốc tế thuận lợi, nhưng sự đầu hàng của Nhật không tự động tạo ra một Nhà nước Việt Nam độc lập. Khoảng trống quyền lực chỉ có thể trở thành cơ hội lịch sử khi có một lực lượng chính trị đủ khả năng tổ chức nhân dân, giành chính quyền và thiết lập một chính quyền mới trên thực tế. Cách mạng Tháng Tám chính là quá trình biến thời cơ đó thành hiện thực chính trị.

Tuyên ngôn Độc lập đã chỉ rõ một thực tế lịch sử quan trọng: Nhân dân Việt Nam giành lại đất nước từ tay Nhật; chế độ thuộc địa của Pháp và chế độ quân chủ đều bị chấm dứt, từ đó Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa được xác lập. Không thể chỉ viện dẫn việc Nhật đầu hàng để xóa bỏ vai trò chủ thể của hàng triệu người Việt Nam đã tham gia quá trình giành chính quyền. Điều cần phân biệt rất rõ là tôn vinh Ngày Quốc khánh 2/9/1945 không hề phủ nhận hàng nghìn năm lịch sử trước đó. Trái lại, Ngày mùng 2 tháng 9 là một mắt xích đặc biệt trong dòng chảy liên tục của ý chí độc lập dân tộc từ Nam quốc sơn hà, Bình Ngô đại cáo đến Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Một bên khẳng định chủ quyền trong điều kiện quốc gia quân chủ thời trung đại; một bên tuyên bố nền độc lập và xác lập nhà nước mới trong bối cảnh chính trị – pháp lý quốc tế của thế kỷ XX. Chính sự kế tục ấy làm nên chiều sâu của lịch sử Việt Nam. Vì thế, lời kêu gọi “dẹp bỏ” Ngày Mùng 2 tháng 9 không phải là cách “trả lại lịch sử” cho dân tộc như cách suy diễn xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn. Ngược lại, đó là cách cắt bỏ một mắt xích quan trọng khỏi chính lịch sử dân tộc, lấy một mốc son của quá khứ để phủ định một mốc son của thời đại sau.

Tóm lại, lập luận đòi “dẹp bỏ” Ngày Quốc khánh nùng 2 tháng 9 là cách nhìn phiến diện, phản động, đánh đồng các thời kỳ và hoàn cảnh lịch sử khác nhau. Truyền thống độc lập hàng nghìn năm của dân tộc không đối lập, mà được kế thừa và phát triển trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945. Tôn trọng lịch sử phải là nhìn nhận đầy đủ tính kế thừa của truyền thống độc lập và giá trị đặc biệt của Ngày Quốc khánh mùng 2 tháng 9, không như lập luận xuyên tạc của Trương Nhân Tuấn./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Nhìn đúng giá trị lịch sử của Tuyên ngôn Độc lập

        Có những dấu mốc của lịch sử càng được nhìn lại từ khoảng cách thời gian càng cho thấy rõ hơn ý nghĩa của nó. Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 là một dấu mốc như vậy. Sau hơn tám thập niên, giá trị của văn kiện không chỉ nằm ở thời khắc khai sinh một nhà nước độc lập, mà còn ở những tư tưởng về độc lập, tự do, quyền dân tộc và quyền con người mà nó đặt ra. Vì thế, nhìn đúng giá trị lịch sử của Tuyên ngôn không chỉ là nhớ lại một sự kiện, mà còn là đặt sự kiện ấy vào đúng hoàn cảnh lịch sử để hiểu đầy đủ hơn ý nghĩa của một bước ngoặt đối với dân tộc Việt Nam.
        Muốn làm được điều đó, trước hết cần nhìn Tuyên ngôn trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình, Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Tuyên ngôn Độc lập, tuyên bố trước quốc dân và thế giới sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về phương diện lịch sử, đây là sự xác lập bằng một văn kiện chính trị - pháp lý đối với thành quả của Cách mạng Tháng Tám, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận thuộc địa bước vào một thời kỳ mới: tự mình tuyên bố và khẳng định quyền độc lập.
        Ý nghĩa ấy càng rõ khi đặt trong bối cảnh quốc tế năm 1945. Chiến tranh thế giới thứ hai vừa kết thúc, chủ nghĩa thực dân vẫn tồn tại ở nhiều nơi và quyền tự quyết của các dân tộc chưa trở thành hiện thực phổ biến. Trong những thập niên sau đó, nguyên tắc bình đẳng về quyền và quyền tự quyết của các dân tộc ngày càng được khẳng định trong đời sống quốc tế. Nhìn từ tiến trình ấy, việc một dân tộc thuộc địa tuyên bố độc lập năm 1945 không chỉ là một sự kiện của riêng Việt Nam, mà còn nằm trong dòng chảy rộng lớn của lịch sử phi thực dân hóa.
        Từ bối cảnh đó có thể thấy một giá trị nổi bật của Tuyên ngôn: đặt quyền dân tộc trong mối liên hệ với những giá trị phổ quát về con người. Từ các nguyên lý về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc, Tuyên ngôn đi đến khẳng định quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam. Sự kết nối giữa quyền con người và quyền dân tộc vì thế không phải là hai vấn đề tách biệt, mà được đặt trong cùng một lập luận về quyền được sống tự do và tự quyết định tương lai.
        Cách tiếp cận này cũng tương thích với nhận thức phổ biến của khoa học xã hội hiện đại. Nhiều nghiên cứu về dân tộc và chủ nghĩa dân tộc cho rằng một cộng đồng chính trị không chỉ được hình thành bởi lãnh thổ hay những yếu tố nguồn gốc, mà còn bởi ký ức lịch sử, bản sắc, sự gắn kết xã hội và ý thức về một cộng đồng chung. Trong chính trị học, quyền tự quyết cũng được xem là một vấn đề quan trọng khi một cộng đồng xác định địa vị chính trị và khả năng tự quản của mình. Đặt trong cách nhìn đó, Tuyên ngôn Độc lập vừa phản ánh hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, vừa thể hiện một tư tưởng có ý nghĩa rộng hơn về quyền của các dân tộc.
        Chính vì vậy, khi đánh giá Tuyên ngôn, cần tránh cả hai thái cực: tuyệt đối hóa một cách giản đơn hoặc phủ nhận giá trị lịch sử của nó từ một vài chi tiết riêng lẻ. Lịch sử luôn cần được nghiên cứu lại khi xuất hiện tư liệu mới, phương pháp mới và những câu hỏi mới. Đó là yêu cầu bình thường của khoa học. Tuy nhiên, “đa chiều” không có nghĩa là mọi cách giải thích đều có giá trị ngang nhau; cũng không có nghĩa một chi tiết riêng lẻ có thể tự động phủ định cả một tiến trình lịch sử.
        Một cách tiếp cận lịch sử thuyết phục phải đặt sự kiện trong toàn bộ bối cảnh, xem xét quan hệ giữa nguyên nhân và kết quả, giữa văn kiện và thực tiễn, giữa hoàn cảnh trong nước và môi trường quốc tế. Khi tách một câu chữ khỏi hoàn cảnh ra đời, tách một sự kiện khỏi tiến trình đã tạo nên nó hoặc chỉ lựa chọn những dữ kiện phù hợp với một kết luận có sẵn, cái nhìn về lịch sử dễ trở nên phiến diện. Nghiên cứu lại lịch sử là nhu cầu bình thường của khoa học; nhưng nghiên cứu lại không đồng nghĩa với việc tùy ý viết lại lịch sử.
        Hơn tám thập niên đã trôi qua, thế giới và Việt Nam đều thay đổi sâu sắc. Tuy nhiên, những vấn đề mà Tuyên ngôn đặt ra vẫn còn ý nghĩa: độc lập, chủ quyền, quyền tự quyết, tự do và quyền được sống trong một cộng đồng có khả năng tự quyết định tương lai. Trong nhận thức hiện đại, độc lập không chỉ là thoát khỏi sự thống trị từ bên ngoài, mà còn là năng lực tự chủ trong lựa chọn con đường phát triển, bảo vệ lợi ích quốc gia và tạo điều kiện để con người thực hiện những quyền cơ bản của mình. Bởi vậy, giá trị của Tuyên ngôn Độc lập không nên chỉ được nhìn như một biểu tượng thuộc về quá khứ. Nó là dấu mốc cho thấy một dân tộc đã chuyển từ vị thế bị trị sang chủ thể tự quyết; đồng thời phản ánh một khát vọng có sức sống lâu dài: độc lập dân tộc gắn với tự do, quyền con người và mong muốn xây dựng một tương lai do chính mình lựa chọn.
        Nhìn lại Tuyên ngôn Độc lập từ hôm nay, điều cần thiết không phải là làm cho một văn kiện lịch sử trở nên xa cách với hiện tại, mà là nhận ra những giá trị đã giúp nó vượt qua giới hạn của một thời điểm cụ thể. Đó là khát vọng độc lập của một dân tộc, quyền tự quyết của một cộng đồng chính trị và mong muốn xây dựng một cuộc sống tự do, hạnh phúc cho con người.
        Lịch sử càng được nhìn trong đầy đủ bối cảnh, giá trị của những dấu mốc lớn càng hiện rõ. Với Tuyên ngôn Độc lập, giá trị ấy không chỉ thuộc về ngày 2/9/1945, mà còn nằm trong ý nghĩa lâu dài của độc lập, chủ quyền, tự do và quyền tự quyết đối với hành trình phát triển của đất nước. Nhìn đúng giá trị lịch sử của Tuyên ngôn, vì thế, cũng là nhìn rõ hơn ý nghĩa của một thời khắc mà dân tộc Việt Nam khẳng định vị thế của mình như một chủ thể độc lập, tự quyết định con đường đi tới tương lai.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

Aug 28, 2026

“Gen Z” cảnh giác trước những chiêu trò khai thác cảm xúc trên không gian mạng

        Tre Việt - Mạng xã hội là kênh tiếp nhận thông tin quan trọng của Gen Z, nơi cảm xúc lan truyền nhanh và dễ bị khai thác. Những câu chuyện giàu cảm xúc có thể bị cắt ghép, thổi phồng để tác động nhận thức, dẫn dắt hành vi. Vì vậy, người trẻ cần tỉnh táo, chủ động kiểm chứng, không để lòng trắc ẩn trở thành công cụ phục vụ những mục đích chống phá.
        Trên không gian mạng, người dùng không chỉ là người tiếp nhận mà còn có thể trở thành người phát tán, góp phần tạo sức lan tỏa của thông tin. Khi tốc độ lan truyền ngày càng nhanh, khoảng cách giữa “biết thông tin”, “hiểu thông tin” và “hành động theo thông tin” đôi khi bị rút ngắn chỉ bằng một vài cú nhấp chuột hay một vài câu bình luận. Điều này đặc biệt đáng lưu ý với Gen Z - thế hệ lớn lên cùng Internet, mạng xã hội và các nền tảng nội dung số. 
        Tại phiên thảo luận “Chinh phục độc giả Gen Z: Giải mã công thức thành công”, trong khuôn khổ Diễn đàn Báo chí toàn quốc lần thứ II năm 2025, Tiến sĩ Ngô Bích Ngọc, Trưởng khoa Truyền thông Đa phương tiện, Đại học Swinburne Việt Nam, cho biết 42 - 50% Gen Z tiếp nhận tin tức hằng ngày từ mạng xã hội, trong đó TikTok chiếm khoảng 21%. Chuyên gia cũng cho biết Gen Z ưa chuộng những nội dung nhanh, hấp dẫn, trực quan như video ngắn, meme, infographic; đồng thời, có xu hướng đọc tiêu đề và dựa vào phần bình luận để đánh giá tính xác thực của thông tin.
        Những con số ấy không phải để quy kết Gen Z là thế hệ dễ bị lừa dối hay thiếu khả năng phân biệt đúng, sai. Ngược lại, người trẻ có ưu thế về công nghệ, khả năng kết nối cộng đồng và phản ứng nhanh trước những vấn đề xã hội. Song, chính môi trường thông tin nhanh, ngắn, trực quan và giàu cảm xúc cũng tạo ra khoảng trống để những người muốn thao túng dư luận tìm cách tác động. Một nội dung càng dễ khơi dậy thương cảm, phẫn nộ, tò mò hoặc cảm giác bất công càng dễ thu hút sự chú ý; khi cảm xúc lấn át lý trí, người tiếp nhận có thể vội tin, chia sẻ hoặc hành động trước khi kịp kiểm chứng, từ đó dễ bị dẫn dắt theo hướng mà người tạo ra hoặc khuếch đại thông tin mong muốn.
        Ví dụ điển hình là trong thời gian qua, một số đối tượng cố tình khơi lại vụ tai nạn giao thông trên phố Nguyễn Huy Tự, Hà Nội. Vụ tai nạn xảy ra từ tháng 5/2025 đã được cơ quan chức năng xác minh, điều tra, làm rõ và xử lý theo quy định của pháp luật. Thế nhưng, hơn một năm sau, sự việc lại được một số đối tượng khơi lại trên mạng xã hội với những lời kêu gọi đặt hoa, “check-in”, gọi địa điểm xảy ra tai nạn là “gốc cây công lý”, sử dụng “nơ trắng”, hình ảnh giơ “ba ngón tay” và thậm chí xây dựng không gian tưởng niệm trực tuyến. Từ lòng thương cảm, nội dung dần được mở rộng thành câu chuyện về “công lý”, “bất công” và “quyền lợi của người dân”; dẫn dắt từ “hãy chia sẻ”, “hãy quan tâm”, “hãy tham gia”, “hãy cùng hành động” đến kêu gọi tập hợp đông người, “xuống đường”, “biểu tình” hoặc hướng người trẻ vào tâm thế đối đầu, biến một vụ việc dân sự cụ thể thành chất liệu kích thích tâm lý đám đông, tác động đến an ninh, trật tự xã hội.
        Bản chất của thủ đoạn này là lợi dụng những cảm xúc và giá trị chính đáng của con người để tác động, dẫn dắt nhận thức và hành vi theo ý đồ đã định. Từ sự thương cảm, đồng tình hoặc tò mò ban đầu, thông qua việc lặp lại, khuếch đại hình ảnh, biểu tượng và thông điệp, các đối tượng có thể tạo hiệu ứng đám đông, khiến người tiếp nhận dễ hành động theo số đông mà giảm sự cân nhắc, kiểm chứng. Vì vậy, trước những “chiếc bẫy cảm xúc” trên không gian mạng, Gen Z cần giữ sự tỉnh táo, không mắc bẫy của những kẻ thù địch, chống phá.
        Thứ nhất, hình thành thói quen kiểm chứng thông tin trước khi tin, bình luận hoặc chia sẻ; chú ý nguồn phát, thời điểm, bối cảnh và đối chiếu với các nguồn tin chính thống, đáng tin cậy, nhất là những nội dung gây xúc động, phẫn nộ hoặc tranh cãi.
        Thứ hai, giữ tư duy độc lập, không để hình ảnh, biểu tượng, lượt tương tác hay ý kiến số đông thay thế cho việc tự đánh giá sự việc; hiểu rằng thông tin được chia sẻ rộng rãi không đồng nghĩa với thông tin chính xác.
        Thứ ba, nhận diện mục đích phía sau mỗi lời kêu gọi, nhất là khi nội dung chuyển từ chia sẻ, bày tỏ cảm xúc sang thúc giục tham gia, tập hợp hoặc hành động, đồng thời cảnh giác với những ý đồ chống phá đất nước; không để bị lợi dụng.
        Thứ tư, sử dụng mạng xã hội có trách nhiệm, cân nhắc hệ quả của mỗi lượt thích, bình luận, chia sẻ; không tiếp tay khuếch đại thông tin chưa được kiểm chứng, nội dung kích động, cực đoan hoặc có nguy cơ ảnh hưởng đến an ninh, trật tự xã hội.
        Thứ năm, thể hiện sự quan tâm đến các vấn đề xã hội bằng những hành động tích cực, đúng pháp luật; biết lên tiếng trước cái sai nhưng đồng thời tôn trọng sự thật, pháp luật và quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.
        Qua đó, mỗi người trẻ có thể phát huy thế mạnh của công nghệ, đồng thời xây dựng bản lĩnh, tư duy độc lập và trách nhiệm của một công dân số, không để cảm xúc bị dẫn dắt trên không gian mạng./.

Aug 26, 2026

Giá trị lịch sử và cống hiến vĩ đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, bác bỏ mọi xuyên tạc

         Những ngày nay, cả dân tộc Việt Nam và bạn bè yêu chuộng hoà bình, độc lập, tự do trên thế giới đều đang hướng về Ngày Quốc khánh - Ngày Độc lập của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
        Đã trải qua gần 81 năm, kể từ khi bản Tuyên ngôn Độc lập ra đời và được tuyên bố, dân tộc Việt Nam dưới ánh sáng của lý luận Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh đã tập hợp, đoàn kết dưới ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên tiến hành giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân. Đất nước đã bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình, phát triển, thịnh vượng, hùng cường chúng ta càng thấy giá trị lịch sử và sự cống hiến vĩ đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 của dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
        Ấy thế mà, những kẻ chống cộng cực đoan, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để đưa ra những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam. Chúng cho rằng, bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là sự “sao chép” Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789 (!) hoặc “Bản Tuyên ngôn độc lập lời lẽ hằn học, lập luận ngoa ngôn hồ đồ, từ ngữ không chính xác. Không xứng đáng là một bản tuyên ngôn nghiêm túc”(!) Đây là những luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử, nhằm hạ thấp giá trị lịch sử và sự cống hiến của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và nhằm bôi nhọ tư tương, đạo đức, phương pháp, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
        Như chúng ta đã biết, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tổ chức Lễ Độc lập. Trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời và quốc dân đồng bào cả nước trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam và tuyên bố: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.
        Trong tiến trình đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng về nhân dân và hỏi rằng: Tôi nói đồng bào nghe rõ không! Lời Người vang dậy khắp năm Châu về ý chí, khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung về. Đến nay, đã gần 81 năm trôi qua, giá trị và sự cống hiến vĩ đại của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 ngày càng được thể hiện rõ ràng.
        Lịch sử đã ghi nhận, ngày 19/8/1945 Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội và viết bản Tuyên ngôn Độc lập tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang để công bố  trong Ngày Lễ tuyên bố độc lập. Với văn phong trong sáng, ngôn từ giản dị, ngắn, gọn, rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu trong 49 câu, 1.013 từ, Tuyên ngôn thực sự là “Áng văn lập quốc vĩ đại”, thể hiện nền văn hiến, trí tuệ, khí phách, tính văn nhân văn cao cả, ý chí và khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hội của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vì thế hàm chứa giá trị lịch sử bền vững và giá trị hiện thực sâu sắc.
        Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn lời trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và nhắc lại lời Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
        Vì sao, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu như vậy?
    Thực chất Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những câu thể hiện sự tiến bộ về tư tưởng chính trị, nhân văn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp làm câu mở đầu trong Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam, là nhằm khẳng định quyền tự do, dân chủ của mọi người dân trên thế giới, trong đó có người dân Việt Nam là không thể vi phạm. Đồng thời, chỉ rõ rằng, họ ra tuyên ngôn như vậy, nhưng chỉ nói, mà không làm; hơn nữa, còn đi ngược lại, khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và nhiều dân tộc khác. Đặc biệt, trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng và phát triển quyền của “tất cả mọi người” thành quyền của “tất cả các dân tộc trên thế giới”. Khi dẫn Tuyên ngôn Độc lập Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền  ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người đã suy rộng và khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
        Đây là cống hiến vĩ đại, thể hiện tính nhân văn triệt để của ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tiến hành đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Người luôn khẳng định, độc lập dân tộc là phải làm cho nhân dân được hưởng ấm no, hạnh phúc. Như vậy, độc lập dân tộc là điều kiện nền tảng, cơ bản đẻ quyền con người được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất và thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt Nam nói riêng, trong khu vực và trên thế giới nói chung đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam!
        Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, không chỉ là “Áng văn lập quốc” vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà còn thể hiện  tư tưởng nhân văn, nhân ái, trí tuệ, bản lĩnh văn hóa tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam văn hiến. Thực tế cho thấy, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, các thế lực phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn tìm mọi cách giấu mặt, giật dây lực lương phản động trong và ngoài nước Việt Nam chống phá, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ, thực hiện âm mưu nhảy vào thống trị các nước Đông Dương. Nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã anh dũng đứng lên thực hiện Lời thề độc lập, đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật cũng như đế quốc Mỹ can thiệp, xâm lược và bè lũ tay sai. Nhưng, Nhân dân Việt Nam là một dân tộc văn hiến, luôn yêu chuộng hoà bình, có lòng nhân ái, nhân đạo cao cả, luôn tôn trọng, đoàn kết với nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ và không bao giờ  hạ thấp, bác bỏ nền văn hóa Pháp, nền văn hóa Mỹ. Ngược lại, Nhân dân Việt Nam trân trọng và tiếp thu những giá trị văn hóa, chính trị mà nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ tạo ra; đồng thời đoàn kết cũng nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ đấu tranh vì hoà bình, công lý và sựu phát triển bền vững của nhân loại. 
        Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 là để cho nhân dân thế giới thấy rằng, dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc trên thế giới nói chung, đấu tranh chống xâm lược, phá cường quyền, áp bức để giành độc lập, tự do cho dân tộc là quyền chính đáng, thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm. Đó là tầm cao và cống hiến vĩ đại của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh!
        Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam ra đời gần 81 năm, nhưng những giá trị, công hiến vĩ đại của nó đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống cộng cự đoan, thù địch, cơ hội, bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; vu khống, xúc phạm, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và giá trị của Tuyên ngôn Độc lập./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)