Aug 11, 2026

Phản bác việc chính trị hóa vấn đề nhân quyền trong quan hệ Việt - Australia

        Thời gian gần đây, xuất hiện một số thông tin mang tính suy đoán xung quanh chuyến công du của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Úc, trong đó cố tình thổi phồng sự phản đối của cái gọi là “cộng đồng người Việt tự do”, yêu cầu đặt các giá trị nhân quyền, tự do ngôn luận và tự do tôn giáo làm điều kiện tiên quyết trong các cuộc đàm phán hợp tác song phương. Quan điểm này không chỉ thiếu căn cứ thực tế mà còn cố tình bóp méo bản chất tốt đẹp của quan hệ ngoại giao hai nước, đi ngược lại lợi ích chung của đại đa số kiều bào Việt Nam đang sinh sống tại đây.
        Lịch sử và bối cảnh hiện tại đã chứng minh quan hệ Việt Nam - Úc đang ở giai đoạn phát triển rực rỡ và bền chặt nhất. Tháng 3/2024, hai nước đã chính thức nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược toàn diện - cấp độ hợp tác cao nhất trong chính sách đối ngoại của Việt Nam. Việc duy trì và xúc tiến các chuyến thăm cấp cao giữa lãnh đạo hai nước là hoạt động ngoại giao thể hiện sự tin cậy chính trị sâu sắc, sự tôn trọng lẫn nhau và cam kết hợp tác vì sự phát triển bền vững cũng như an ninh, ổn định tại khu vực.
        Những cáo buộc về tình hình tự do dân chủ, nhân quyền hoàn toàn bỏ qua thực tế rằng Việt Nam đã và đang đạt được những bước tiến quan trọng, mang tính đột phá trong việc bảo đảm quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và tinh thần Hiến pháp năm 2013. Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai hàng loạt chính sách cải cách sâu rộng: từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao chất lượng đời sống kinh tế - xã hội cho người dân, đến việc mở rộng không gian an ninh mạng cho giao lưu và phát triển. Việt Nam cũng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và duy trì định kỳ các diễn đàn đối thoại nhân quyền song phương với Úc trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, sự phát triển bùng nổ của hạ tầng giáo dục, y tế và sự tham gia chủ động của hơn 100 triệu người dân vào các quyết sách quốc gia chính là minh chứng sinh động nhất cho một hệ thống nhân quyền thực chất, vì con người.
        Bên cạnh đó, việc lấy danh nghĩa “cộng đồng người Việt” để cổ xúy cho các hoạt động chống phá hay cản trở ngoại giao là một hành vi đi ngược lại với tinh thần của kiều bào tại đây. Những bài viết này chỉ phản ánh góc nhìn và ý đồ của một nhóm nhỏ có xu hướng chính trị cực đoan, hoàn toàn không đại diện cho toàn thể hơn 350.000 người gốc Việt tại Úc. Đại đa số kiều bào đều có tinh thần hòa hợp, luôn hướng về quê hương với mong muốn đóng góp trí tuệ, nguồn lực cho sự phát triển của đất nước, đồng thời nỗ lực xây dựng hình ảnh người Việt hội nhập, văn minh và tuân thủ pháp luật tại nước sở tại. Dòng kiều hối ổn định cùng hàng trăm dự án đầu tư của doanh nhân kiều bào đã và đang trở thành nguồn sức mạnh thiết thực, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội trong nước cũng như mở đường cho nông sản, hàng hóa Việt Nam vươn xa ra thị trường quốc tế. 
        Bên cạnh đó, các tổ chức uy tín như Mạng lưới Tri thức và Chuyên gia Việt Nam tại Úc (VISA) hay Hội Doanh nhân Việt Nam tại Úc (VBAA) đã quy tụ hàng loạt giáo sư, bác sĩ, nhà khoa học gốc Việt hàng đầu để tham gia tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực tiên phong như trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp công nghệ cao và y tế. Tinh thần “tương thân tương ái” được phát huy qua những đợt quyên góp triệu đô hỗ trợ đồng bào miền Trung vượt qua bão lũ hay các quỹ học bổng tiếp sức cho trẻ em nghèo hiếu học. Không chỉ hướng về quê hương, kiều bào tại Úc luôn chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, đồng thời tích cực quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc qua các lễ hội Tết, các lớp dạy tiếng Việt. Những đóng góp thiết thực và hình ảnh văn minh đó mới chính là đại diện trung thực nhất cho tiếng nói của cộng đồng người Việt tại Úc.
        Tuy vậy, thay vì ghi nhận những tiến bộ thực chất và tinh thần đại đoàn kết đó, các phần tử cực đoan lại cố tình bỏ qua, tập trung khai thác các thông tin sai lệch để đưa ra kết luận phiến diện. Họ mạo danh “cộng đồng người Việt tự do” để tổ chức các hoạt động biểu tình, gây rối, nhưng thực chất chỉ phản ánh ý đồ chính trị hẹp hòi của một nhóm nhỏ. Đáng lo ngại hơn, việc họ kêu gọi chính quyền Úc dùng nhân quyền làm “vũ khí” để can thiệp trực tiếp vào chính sách đối ngoại và thể chế của Việt Nam là hành động trái ngược hoàn toàn với Hiến chương Liên hợp quốc, vốn khẳng định nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Những hành vi này không chỉ đe dọa đến nền tảng hợp tác giữa hai nước mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích thiết thực của nhân dân hai bên. Hiện nay, kim ngạch thương mại song phương Việt - Úc đã phát triển mạnh mẽ, hợp tác an ninh, giáo dục và giao lưu nhân dân ngày càng sâu sắc. Mọi hành động gây chia rẽ, kích động áp lực chính trị đều đi ngược lại xu thế phát triển chung, làm suy yếu sự ổn định khu vực và tổn hại đến chính hình ảnh của cộng đồng người Việt trong mắt bạn bè quốc tế.
        Thực chất, việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp chính trị không phải là bảo vệ quyền con người, mà là sử dụng “chiêu bài nhân quyền” nhằm phục vụ mưu đồ chống phá riêng. Mục tiêu cuối cùng không phải là vì sự phát triển của đất nước hay lợi ích của kiều bào, mà là gây bất ổn, hạ thấp uy tín quốc tế của Việt Nam và mở đường cho các chiến dịch chia rẽ sâu rộng hơn. Đây là cách tiếp cận hoàn toàn trái ngược với tinh thần hợp tác, tôn trọng lẫn nhau mà quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Úc hướng tới. 
        Nhân dân Việt Nam và Úc xứng đáng được hưởng một mối quan hệ hợp tác bền vững, dựa trên lòng tin và lợi ích chung, thay bị chia rẽ bởi những luận điệu xuyên tạc. Trong một thế giới đầy biến động, sự đoàn kết, tôn trọng và hợp tác chân thành giữa hai quốc gia mới là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ nhân quyền đúng nghĩa - một nền nhân quyền gắn liền với hòa bình, độc lập, ổn định và thịnh vượng cho tất cả mọi người./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

Aug 10, 2026

Nhận diện và bác bỏ luận điệu xuyên tạc về năng lực tự điều chỉnh của Việt Nam

         Trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh đăng bài viết: “Hội nghị Trung ương 3: Việt Nam còn đủ khả năng tự điều chỉnh?”; trong đó, đưa ra nhiều nhận định phiến diện, quy chụp về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Thông qua việc khai thác một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế, kỷ luật trong bộ máy, cải cách thể chế và những thách thức từ môi trường quốc tế, y cố tình tạo dựng một bức tranh tiêu cực, từ đó đi đến kết luận thiếu căn cứ rằng hệ thống chính trị Việt Nam đang “cạn kiệt khả năng tự điều chỉnh”, đứng trước nguy cơ mất khả năng tự sửa chữa. Đây là cách nhìn một chiều, mang nặng định kiến chính trị, không phản ánh đúng thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.

Thứ nhất, không thể lấy những suy diễn chủ quan về “tính chính danh”, “khế ước ngầm” để phủ nhận bản chất và năng lực lãnh đạo, quản lý, tự đổi mới của hệ thống chính trị Việt Nam. Trong bài viết, Vũ Đức Khanh cố tình cho rằng, trong một hệ thống chính trị tập trung quyền lực, “tăng trưởng không chỉ là chỉ tiêu kinh tế” mà còn là “nền tảng của tính chính danh”; đồng thời suy diễn rằng, do “không có cạnh tranh chính trị thực chất và cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả”, Nhà nước Việt Nam phải chứng minh sự tồn tại bằng kết quả kinh tế và đời sống xã hội. Cách lập luận này đã cố tình áp đặt một mô hình chính trị xa lạ để đánh giá thực tiễn Việt Nam, đồng thời đánh tráo khái niệm về tính chính danh của một nhà nước.

Thực tế cho thấy, tính chính danh của Nhà nước Việt Nam không thể được giản lược thành một “khế ước ngầm” theo kiểu người dân chấp nhận sự kiểm soát để đổi lấy tăng trưởng như cách Vũ Đức Khanh mô tả. Tính chính danh của chế độ được hình thành từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ nước, từ sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, từ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với đó là những thành tựu thực tế trong phát triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân, giữ vững độc lập, chủ quyền và ổn định chính trị - xã hội.

Việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao không phải là biểu hiện của một hệ thống đang “khủng hoảng tính chính danh”, mà là yêu cầu xuất phát từ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, nâng cao đời sống nhân dân và hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đã đề ra. Trong quá trình đó, Việt Nam không tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế mà luôn gắn phát triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.

Đáng chú ý, luận điệu cho rằng, Việt Nam “không có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả” cũng là sự xuyên tạc của Vũ Đức Khanh. Trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ, không có vùng cấm, không có ngoại lệ. Hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát của Đảng, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được hoàn thiện. Việc xử lý nhiều vụ án tham nhũng, tiêu cực lớn, kể cả đối với cán bộ giữ chức vụ cao, chính là minh chứng cho quyết tâm kiểm soát quyền lực và làm trong sạch bộ máy.

Mọi quốc gia đều phải đối mặt với những vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển. Điều quan trọng là khả năng nhận diện vấn đề, chủ động điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện. Thực tiễn Việt Nam cho thấy, quá trình đổi mới chưa bao giờ dừng lại; tư duy phát triển, mô hình kinh tế, phương thức quản trị và hệ thống pháp luật liên tục được bổ sung, hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu mới.

Thứ hai, luận điệu cho rằng, Việt Nam đang mất khả năng tự điều chỉnh, đứng trước nguy cơ khủng hoảng do “kiểm soát quá mức” là cách nhìn phiến diện, cố tình phủ nhận năng lực thích ứng và sức chống chịu của đất nước. Vũ Đức Khanh đưa ra một loạt giả định về cú sốc năng lượng, thương mại, an ninh, căng thẳng khu vực và chuỗi cung ứng, sau đó suy diễn rằng những biến động bên ngoài có thể khiến Việt Nam nhanh chóng rơi vào tình trạng thu hẹp dư địa chính sách và đối mặt với “gánh nặng chính trị”. Đây thực chất là phương pháp lập luận dựa trên giả định để tạo ra một kịch bản khủng hoảng, nhưng không đưa ra được cơ sở thuyết phục chứng minh Việt Nam đang mất khả năng ứng phó.

Thực tế, trong một thế giới đầy biến động, khả năng thích ứng và sức chống chịu của mỗi quốc gia không thể được đo bằng việc có hay không có những cú sốc, mà phải được đánh giá qua năng lực chủ động ứng phó, điều chỉnh chính sách và huy động nguồn lực. Việt Nam đã nhiều lần chứng minh năng lực đó trước những biến động lớn của khu vực và thế giới. Trong quá trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam chủ động đa dạng hóa quan hệ đối ngoại, mở rộng thị trường, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, tăng cường hợp tác quốc tế và từng bước nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế.

Đặc biệt, việc cho rằng “càng kiểm soát chặt chẽ, khả năng tự điều chỉnh càng suy giảm” là một nhận định mang tính áp đặt, đánh đồng giữa kỷ luật, kỷ cương với sự cứng nhắc trong quản trị. Một bộ máy hiệu lực, hiệu quả không thể thiếu kỷ luật, nhưng kỷ luật phải gắn với phân cấp, phân quyền, trách nhiệm, kiểm tra, giám sát và cơ chế khuyến khích cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây cũng chính là những vấn đề đang được Việt Nam quan tâm trong quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện thể chế và xây dựng đội ngũ cán bộ.

Không thể phủ nhận rằng, trong thực tiễn vẫn còn những hạn chế như tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm, thủ tục hành chính ở một số nơi còn rườm rà, chất lượng thực thi chính sách chưa đồng đều. Nhưng nhìn nhận đúng những hạn chế đó là để khắc phục, không phải là căn cứ để kết luận hệ thống đã “mất khả năng tự sửa chữa”. Ngược lại, việc thẳng thắn nhận diện những điểm nghẽn, xác định rõ nguyên nhân và đề ra giải pháp chính là biểu hiện của năng lực tự điều chỉnh.

Tóm lại, trước những suy diễn xuyên tạc, lấy một số vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển để phủ nhận toàn bộ những thành tựu và nỗ lực đổi mới của đất nước của Vũ Đức Khanh, mỗi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ. Việt Nam đang đứng trước những thời cơ và thách thức đan xen, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và năng lực chủ động hội nhập quốc tế, đất nước có đủ cơ sở để tiếp tục đổi mới, tự điều chỉnh và phát triển./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Aug 7, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Việt Tân về mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước

Tre Việt - “Hiện tại mịt mờ, giấc mơ xã hội chủ nghĩa phải chờ trăm năm” là tiêu đề bài viết được trang facebook Việt Tân đăng tải ngày 06/8, nhằm xuyên tạc mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước được Đảng ta xác định trong Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Hội nghị Trung ương lần thứ ba về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam. Trong bài viết, Việt Tân rêu rao: “Lãnh đạo Việt Nam tiếp tục đưa ra tầm nhìn đến năm 2130 xây dựng Việt Nam thành một quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh và hiện đại. Đây là một lời hứa hẹn kéo dài hơn 104 năm. Thay vì đưa ra những khẩu hiệu hay tầm nhìn xa, điều người dân hiện tại mong muốn là những bước đi cụ thể, khả thi và có thể kiểm chứng được trong tầm 10 năm”!
Như chúng ta đã biết, thực hiện Chương trình làm việc toàn khóa, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV họp từ ngày 20/7 đến ngày 24/7 tại Thủ đô Hà Nội. Tại Hội nghị, sau khi xem xét, thảo luận các tờ trình, báo cáo của Bộ Chính trị, Ban Chấp hành Trung ương đã thống nhất cao nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển và bảo vệ đất nước. Trong đó, Hội nghị đã ban hành Nghị quyết số 19-NQ/TW về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam, Nghị quyết xác định mục tiêu đến năm 2030, 2035, 2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130. Đó hoàn toàn không phải một mốc thời gian ngẫu nhiên.
        Không ngẫu nhiên bởi vì: hệ thống mục tiêu phát triển của Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam thiết kế theo một lộ trình phát triển nhiều nấc, gắn với những dấu mốc lịch sử quan trọng của Đảng và đất nước. Mốc 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Mốc 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tiếp nối lộ trình đó, tầm nhìn đến 2130, là thời điểm tròn 200 năm thành lập Đảng, xác định mục tiêu: “xây dựng Việt Nam trở thành “quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao… xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa đậm đà bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại”.
        Để xác định mục tiêu, tầm nhìn đó, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm. Trong khi đó, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ, thách thức lớn đan xen. Ở trong nước, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng; đặt ra nhiều vấn đề và yêu cầu mới rất cao, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030; từ đó, đòi hỏi phải có bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển đất nước.
        Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cần phải đổi mới mô hình phát triển đất nước với các mục tiêu cụ thể theo các mốc đến năm 2030/2035/2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của Châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.
        Hoạch định chiến lược phát triển quốc gia luôn đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Người dân có quyền kỳ vọng vào những chuyển biến thiết thực trong đời sống hằng ngày; đồng thời, cũng có quyền kỳ vọng đất nước có một tầm nhìn đủ xa để các thế hệ kế tiếp tiếp tục kế thừa và phát triển. Hai yêu cầu này không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau. Đánh giá một chiến lược phát triển vì thế cần căn cứ vào nội dung, lộ trình và kết quả thực hiện qua từng giai đoạn, thay vì chỉ nhìn vào mốc thời gian cuối cùng rồi quy kết đó là “lời hứa hẹn”.
        Với nội lực đã tích lũy, với vị thế quốc tế đang lên; với quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; với các giải pháp đột phá, có tính khả thi cao trong thực hiện chắc chắn các mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước mà Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Châp hành Trung ương (khóa XIV) về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra sẽ được thực hiện thành công; các luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch là không có cơ sở và nhất định thất bại./.

Aug 6, 2026

Nhận diện, vạch trần âm mưu kích động đối với tôn giáo

         Tre Việt - Ngày 05/8, trang facebook Chân Trời Mới Media có bài viết về công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ buông lỏng vòng kiểm soát đối với tôn giáo, và mọi đổi mới đều nhằm củng cố quyền kiểm soát ấy chứ không phải mở rộng tự do tín ngưỡng”. Đây là luận điệu xuyên tạc, chống phá hết sức nguy hiểm nhằm thực hiện âm mưu kích động các tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... cần được nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:

Thứ nhất, quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo là luôn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo đúng quy định của pháp luật. Quan điểm này được hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; được bổ sung, phát triển qua các kỳ Đại hội Đảng và các nghị quyết, nhất là Nghị quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo. Đồng thời, được ghi rõ trong Hiến pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, đã khẳng định: Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.

Trên thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của một bộ phận Nhân dân và sẽ còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây dựng, phát triển đất nước. Vì thế, Nhà nước tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và quyền không theo tôn giáo của mọi công dân theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, khẳng định đồng bào có đạo là bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng tinh thần đoàn kết giữa người có đạo và không có đạo, giữa các tôn giáo khác nhau, phát huy những giá trị đạo đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, bức tranh về đời sống tôn giáo ở Việt Nam đang phát triển rất đa dạng, phong phú, sôi động. Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Hiện nay, có 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động với hơn 40 tổ chức tôn giáo, khoảng 28 triệu tín đồ, chiếm gần 30% dân số cùng hàng chục nghìn chức sắc, chức việc các tôn giáo và trên 30.000 cơ sở thờ tự trên cả nước. Hằng năm, Việt Nam tổ chức nhiều lễ hội tôn giáo lớn, như: Phật đản, Lễ Giáng sinh, Lễ Ramadan của người Hồi giáo, Đại lễ Cao Đài, các lễ hội Công giáo,... thu hút đông đảo tín đồ và Nhân dân tham gia.

Những năm qua, các tín đồ tôn giáo đã có nhiều đóng góp tích cực cho xã hội, tham gia nhiều hoạt động từ thiện, nhân đạo, cứu trợ thiên tai; khám chữa bệnh, chăm sóc người già, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn; giáo dục đạo đức, lối sống, xây dựng đời sống văn hóa ở cộng đồng; tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và các phong trào thi đua yêu nước ở địa phương.

Bên cạnh đó, Việt Nam còn duy trì quan hệ với nhiều tổ chức, cá nhân tôn giáo quốc tế; trong đó, quan hệ với Tòa Thánh Vatican có nhiều bước phát triển tích cực, hai bên đã thống nhất việc cử Đại diện thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy đối thoại và hợp tác.

Thứ ba, Việt Nam kiên quyết đấu tranh, xử lý các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để; kích động bạo lực, ly khai; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, v.v. Thời gian qua, các cơ quan chức năng thực thi pháp luật của Việt Nam đã xử lý nghiêm minh một số công dân cố tình lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vấn đề này không riêng gì ở Việt Nam mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng sẽ làm như vậy.

Do đó, việc họ chỉ nhìn vào một số vụ việc đơn lẻ đó rồi đưa ra nhận định như trên là phiến diện, thiếu cơ sở với dụng ý xấu là phủ nhận chính sách tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam; tạo dư luận bất lợi về tình hình nhân quyền và tự do tôn giáo ở Việt Nam; gây nghi ngờ, chia rẽ giữa đồng bào có đạo với chính quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo nhận diện, vạch trần, đấu tranh làm thất bại âm mưu này./.

 

 

Aug 4, 2026

Lật tẩy chiêu trò lợi dụng tự do ngôn luận để chống phá đất nước

        Tre Việt - “Đàn áp quyền tự do ngôn luận: bà Hoàng Thị Hồng Thái bị tuyên 6 năm tù”, là tiêu đề bài viết được trang facebook Việt Tân đăng tải ngày 03/8. Trong bài viết, Việt Tân lu loa: “Sáu năm tù. Đó là mức án mà bà Hoàng Thị Hồng Thái vừa nhận trong phiên tòa diễn ra ngày 29/7… Bản án khép lại gần bảy tháng kể từ ngày bà bị bắt, nhưng cũng mở ra nhiều cuộc tranh luận về ranh giới giữa quyền bày tỏ quan điểm và những giới hạn mà pháp luật Việt Nam đặt ra đối với các phát ngôn trên mạng xã hội”!
        Đây là chiêu trò quen thuộc mà Việt Tân, cũng như các tổ chức thiếu thiện chí và phần tử chống đối vẫn thường sử dụng mỗi khi các cơ quan tố tụng Việt Nam đưa các đối tượng có hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để thực hiện hành vi chống Nhà nước ra tiến hành xét xử. Cũng chính vì lẽ đó, khẳng định ngay rằng, ở Việt Nam không có cái gọi là “đàn áp tự do ngôn luận” mà chỉ có xử lý hành vi vi phạm pháp luật. 
        Như thông tin được biết, quyết định khởi tố, tạm giam facebooker Hoàng Thị Hồng Thái, sinh năm 1980, (thường trú tại khu đô thị Thanh Hà, xã Bình Minh, Thành phố Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo Điều 117, Bộ luật Hình sự được Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội thực thi hôm 07/01/2026. Thái được biết đến là facebooker; trên nền tảng mạng xã hội, Hoàng Thị Hồng Thái có tài khoản facebook là “Hồng Thái Hoàng” với hơn 91.000 người theo dõi. Từ khoảng giữa năm 2015, tài khoản này, bắt đầu đăng lại bài viết từ nhiều trang chính trị đối lập, phản động, trong đó có trang của tổ chức khủng bố Việt Tân. Thái liên tục có hành động đăng lại nhiều đoạn video gây kích động, kèm theo lời bình hướng tuyên truyền chống, phá Đảng, Nhà nước. Thái cũng được biết đến là người có quan hệ với số đối tượng chống phá đất nước, trong đó có nhiều đối tượng đã từng phải vào tù vì các hoạt động vi phạm pháp luật. Thái còn tham gia vào cái gọi là “dân oan, dân chủ, nhân quyền”.
        Việt Nam cũng như ở mọi quốc gia có chủ quyền, tự do ngôn luận không đồng nghĩa với quyền đứng trên pháp luật. Tương đồng với quy định quốc tế, tại Việt Nam, các quyền con người; trong đó, có quyền tự do ngôn luận của công dân luôn được Đảng, Nhà nước tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, thực hiện các quyền công dân được pháp luật công nhận với việc vi phạm các quyền mà pháp luật cấm là hai hành vi khác nhau rõ rệt được quy định rõ ràng, cụ thể trong Hiến pháp, pháp luật. Do đó, những hành vi phát ngôn dù dưới ngôn ngữ và hình thức nào nếu không đúng sẽ được coi là vi phạm quy định và đều bị cấm. Tự do ngôn luận khác với phát ngôn tự do bởi tự do ngôn luận được giới hạn bởi những quy phạm pháp luật phù hợp với quy định và văn hóa của mỗi quốc gia, còn phát ngôn tự do là thứ tự do tuyệt đối, mang tính chủ nghĩa cá nhân không được chấp nhận. 
        Trên thực tế, việc thực thi pháp luật của nhiều nước trên thế giới không hề tồn tại cái được gọi là phát ngôn tự do. Chẳng hạn như: ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm và gây hấn, mà không bị xem là vi hiến. Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm: việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù. Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí. Tương tự như vậy, ở nhiều nước châu Âu khác cũng rất nghiêm khắc với phát ngôn tự do. Các nước này cũng đã ban hành các đạo luật nhằm ngăn chặn tình trạng lợi dụng quyền tự do ngôn luận để phát ngôn thù địch, tiêu cực trên Internet.
        Tại Việt Nam, từ năm 2018, Luật An ninh mạng đã được Quốc hội ban hành và áp dụng như là một trong những biện pháp hữu hiệu nhằm bổ sung và ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật; trong đó, có vi phạm quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng. Do vậy, chúng ta phải nắm vững cơ sở pháp lý, cơ sở thực tiễn về tự do ngôn luận và hết sức cảnh giác trước ý đồ thâm hiểm khi Việt Tân xuyên tạc: “việc xét xử Hoàng Thị Hồng Thái là đàn áp quyền tự do ngôn luận và mở ra nhiều tranh luận về ranh giới giữa quyền bày tỏ quan điểm và những giới hạn mà pháp luật Việt Nam đặt ra”. Đây chỉ là chiêu trò lợi dụng quyền tự do ngôn luận để chống phá đất nước, cần nhận diện đúng, kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.


Jul 28, 2026

Tỉnh táo trước những thông tin suy diễn, kích động của Việt Tân

         Tre Việt - Những ngày gần đây, các cơ quan chức năng của Việt Nam đang đẩy mạnh xác minh, điều tra, xử lý những sai phạm trong kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông quốc gia năm 2026 tại một số địa phương. Lợi dụng việc này, trên các trang mạng xã hội đã xuất hiện nhiều thông tin thiếu căn cứ, suy diễn, kích động dư luận xã hội. Đơn cử như bài viết: “Gian lận thi cử làm bùng phát biểu tình ở Ấn Độ có thể là “tiền lệ” của Việt Nam” đăng trên trang facebook Việt Tân, ngày 26/7.
        Trước hết, cần khẳng định rằng: quan điểm, chủ trương nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong tổ chức kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông là đúng hướng, phù hợp với yêu cầu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Kỳ thi được xây dựng trên nguyên tắc công bằng, khách quan, trung thực, minh bạch và lấy người học làm trung tâm, đồng thời kết hợp mục tiêu xét tốt nghiệp trung học phổ thông với cung cấp dữ liệu phục vụ tuyển sinh đại học và đánh giá chất lượng giáo dục. Theo Quy chế thi tốt nghiệp trung học phổ thông hiện hành, mục tiêu của kỳ thi không chỉ là xét công nhận tốt nghiệp mà còn đánh giá kết quả học tập theo Chương trình giáo dục phổ thông, cung cấp dữ liệu tin cậy để các cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp sử dụng trong tuyển sinh theo tinh thần tự chủ. Quy chế đã xác định rõ yêu cầu tổ chức kỳ thi phải an toàn, nghiêm túc, trung thực, khách quan và công bằng. Điều này cho thấy quan điểm của Việt Nam là xây dựng một kỳ thi có nhiều mục tiêu, vừa bảo đảm quyền lợi của người học, vừa nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục và giảm áp lực xã hội do phải tổ chức nhiều kỳ thi riêng.
        Cùng với đó, kỳ thi được đổi mới theo hướng đánh giá năng lực người học thay vì chỉ kiểm tra ghi nhớ. Những năm gần đây, việc đổi mới chương trình giáo dục phổ thông kéo theo sự đổi mới của kỳ thi tốt nghiệp trung học phổ thông. Đề thi được định hướng tăng cường đánh giá năng lực vận dụng, tư duy và giải quyết vấn đề, thay vì chỉ kiểm tra khả năng ghi nhớ kiến thức. Đây là xu hướng phù hợp với cải cách giáo dục và thông lệ quốc tế, đồng thời tạo động lực đổi mới phương pháp dạy học trong nhà trường. Điểm đáng chú ý trong chủ trương tổ chức kỳ thi này là sự kết hợp giữa phân cấp và giám sát. Theo đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế, hướng dẫn và chịu trách nhiệm chung; ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực tiếp tổ chức kỳ thi; các sở giáo dục, cơ sở giáo dục đại học cùng tham gia giám sát, phối hợp tổ chức. Cơ chế này đã phát huy trách nhiệm của địa phương, đồng thời vẫn duy trì sự thống nhất trong toàn quốc.
        Bên cạnh đó, sẽ kiên quyết xử lý nghiêm minh mọi hành vi gian lận. Thực tế nhiều năm qua cho thấy, khi phát hiện các vụ việc gian lận thi cử, các cơ quan chức năng đã tiến hành thanh tra, điều tra, xử lý kỷ luật hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các cá nhân vi phạm tùy theo tính chất, mức độ sai phạm. Điều này thể hiện chủ trương không dung túng cho tiêu cực, bảo đảm sự công bằng của kỳ thi nhằm củng cố niềm tin xã hội. Đối với các địa phương cần điều tra, xác minh, nhất là tại tỉnh Tuyên Quang đang được triển khai khẩn trương, quyết liệt. Cơ quan An ninh điều tra Bộ Công an đã quyết định rút hồ sơ vụ án liên quan đến điểm thi tại Trường Trung học phổ thông Chuyên Tuyên Quang để trực tiếp điều tra chính là khẳng định mạnh mẽ nguyên tắc “không có vùng cấm, không có ngoại lệ nếu có vi phạm pháp luật”. Việc đánh giá trách nhiệm, mức độ sai phạm sẽ có kết luận chính thức của cơ quan có thẩm quyền.
        Vì thế, những thông tin bài viết trên đưa ra là hoàn toàn thiếu căn cứ, mang tính suy diễn, sử dụng ngôn từ cảm tính, dẫn dắt cảm xúc khi so sánh hai sự việc xảy ra tại Ấn Độ và Việt Nam, nhằm thực hiện mưu đồ xấu là kích động, xúi giục những người nhẹ dạ, cả tin gây mất ổn định trật tự, an toàn xã hội. Do đó, mỗi chúng ta hãy luôn tỉnh táo, thông thái khi tiếp nhận, xử lý thông tin chưa được kiểm chứng trên mạng xã hội./.


Jul 27, 2026

Vạch trần chiêu trò lợi dụng sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ để phủ nhận thành quả cách mạng

          Trên trang VietNamThoiBao có bài viết: “Họ đã nằm xuống - để hôm nay chúng ta được gì?” của Nhật Ngôn. Bài viết cố tình lợi dụng sự hy sinh của các Anh hùng liệt sĩ để xuyên tạc chính sách “Đền ơn đáp nghĩa” của Đảng, Nhà nước ta; đồng thời, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc Việt Nam.

Thứ nhất, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa là sự phủ nhận trắng trợn đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” và bản chất nhân văn của chế độ ta. Trong lịch sử dân tộc Việt Nam, tri ân người có công không chỉ là một chính sách xã hội, mà trước hết là đạo lý, lương tâm, truyền thống văn hóa bền vững của một dân tộc luôn biết trân trọng quá khứ, biết ơn những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Từ sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đến nay, dù trong chiến tranh hay hòa bình, dù đất nước còn nhiều khó khăn, Đảng và Nhà nước ta luôn nhất quán quan điểm chăm lo thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Mẹ Việt Nam anh hùng, người có công với cách mạng là trách nhiệm chính trị, trách nhiệm pháp lý và trách nhiệm đạo nghĩa của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội.

Trên thực tế, chính sách ưu đãi người có công ngày càng được bổ sung, hoàn thiện, mở rộng cả về đối tượng, chế độ và phương thức thực hiện. Hàng triệu lượt người có công và thân nhân được hưởng trợ cấp, phụ cấp ưu đãi; nhiều gia đình chính sách được hỗ trợ nhà ở, chăm sóc sức khỏe, điều dưỡng phục hồi sức khỏe; hàng vạn Mẹ Việt Nam anh hùng được phụng dưỡng; các nghĩa trang liệt sĩ, công trình ghi công liệt sĩ được tu bổ, tôn tạo; công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ tiếp tục được triển khai với trách nhiệm và tình cảm sâu nặng. Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”, “Uống nước nhớ nguồn” đã trở thành hoạt động thường xuyên, lan tỏa rộng khắp trong đời sống xã hội.

Thứ hai, phủ nhận thành quả cách mạng của dân tộc là sự xuyên tạc lịch sử, xúc phạm sự hy sinh của các thế hệ đã ngã xuống vì Tổ quốc. Câu hỏi “họ đã nằm xuống để hôm nay chúng ta được gì?” của Nhật Ngôn nếu được đặt ra bằng thái độ nghiêm túc, trung thực, sẽ dẫn mỗi người Việt Nam đến một câu trả lời thiêng liêng, họ đã nằm xuống để đất nước được độc lập, dân tộc được tự do, non sông được thống nhất, Nhân dân được làm chủ vận mệnh của mình; để hôm nay chúng ta được sống trong hòa bình, được xây dựng, học tập, lao động, sáng tạo trên một đất nước có chủ quyền, có vị thế, có tương lai. Nhưng dưới ngòi bút xuyên tạc, câu hỏi ấy bị biến thành công cụ phủ định, nhằm làm cho người đọc hoài nghi về ý nghĩa của các cuộc kháng chiến, hoài nghi về con đường cách mạng mà dân tộc ta đã lựa chọn.

Sự thật lịch sử không thể bị đảo ngược. Các thế hệ người Việt Nam đã hy sinh trong các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc không phải vì những điều trừu tượng, xa vời, mà vì quyền sống của dân tộc, vì độc lập, tự do, thống nhất, vì cuộc sống bình yên của Nhân dân hôm nay và mai sau. Nếu không có Cách mạng Tháng Tám năm 1945, không có kháng chiến chống thực dân, đế quốc, không có đại thắng mùa Xuân năm 1975, không có những hy sinh trong bảo vệ biên giới, biển đảo, làm nhiệm vụ quốc tế cao cả, thì không thể có một Việt Nam thống nhất, độc lập, phát triển và hội nhập như hôm nay. Đó là chân lý lịch sử được đánh đổi bằng máu xương, không thể bị phủ nhận bởi vài lời lẽ hằn học, phiến diện.

Tóm lại, tri ân các anh hùng, liệt sĩ không phải là gieo rắc hoài nghi, bi quan, phủ định, mà là sống xứng đáng hơn, xây dựng đất nước tốt đẹp hơn, chăm lo tốt hơn người có công, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mọi luận điệu lợi dụng sự hy sinh của người đã khuất để phủ nhận hiện tại, xuyên tạc chính sách đền ơn đáp nghĩa, phủ nhận thành quả cách mạng đều cần được nhận diện và bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Không thể xuyên tạc hoạt động tri ân của Nhà nước Việt Nam

         Tri ân là hành động thể hiện sự trân trọng và biết ơn đối với những người đã mang lại những điều tốt đẹp cho Tổ quốc, cho dân tộc và sự hạnh phúc của nhân dân. Đây là một nét đẹp truyền thống văn hóa của loài người tiến bộ. Đối với dân tộc Việt Nam, tri ân đã ăn sâu vào tiềm thức và biến thành những hành động cụ thể, thiết thực; là truyền thống “đền ơn, đáp nghĩa”, là bản sắc văn hóa của dân tộc.

        Đất nước Việt Nam ngày nay có được độc lập, tự do, nhân dân có được hạnh phúc đã và đang vững bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, kỷ nguyên phát triển, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu là do sự hy sinh của biết bao Anh hùng liệt sĩ. Họ đã chiến đấu, hy sinh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân. Máu đào của họ đã thấm sâu vào đất mẹ để cho “Nước Việt Nam từ máu lửa/Rũ bùn đứng dậy sáng lòa!”. Vì vậy, nhân dân Việt Nam luôn biết ơn các anh hùng liệt sĩ. Truyền thống văn hoá tốt đẹp này là một chủ trương xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam và được Nhà nước Việt Nam cụ thế hóa thành những chính sách cụ thể, phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước.

Những năm qua, cả hệ thống chính trị, mọi giai tầng Việt Nam đã không ngừng tổ chức các hoạt động tri ân bằng hành động cụ thể. Các nghĩa trang liệt sĩ ở mọi miền đất nước Việt Nam ngày càng khang trang. Đời sống của các thương binh, bệnh binh, người bị nhiễm chất độc da cam/dioxin, thân nhân gia đình liệt sĩ, người có công với cách mạng ngày càng được nâng lên. Những đội tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ không quản thiên tai, dịch bệnh, vượt núi, băng rừng để đưa các liệt sĩ về với gia đình, quê hương. Những nhà khoa học đã kiên trì, tích cực áp dụng khoa học và công nghệ để trả lại danh tính cho những liệt sĩ còn chưa biết tên,… đã đạt được những kết quả rất quan trọng. Chỉ tính riêng từ năm 2021 - 2025, toàn quốc đã tìm kiếm, quy tập được 6.959 hài cốt liệt sĩ (ở trong nước 3.122, ở Lào 938, ở Campuchia 2.899); tiếp nhận 13.404 mẫu hài cốt liệt sĩ và mẫu sinh phẩm thân nhân liệt sĩ; phân tích, so sánh, đối khớp và trả kết quả giám định ADN đối với 1.094 trường hợp, và đã xác định được danh tính 103 hài cốt liệt sĩ; xác minh, kết luận, đính chính, bổ sung thông tin bằng phương pháp thực chứng đối với 2.560 mộ an táng trong các nghĩa trang liệt sĩ, v.v.

 Mặc dù vậy, đến nay, nhiệm vụ tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ còn thiếu thông tin vẫn rất nặng nề, toàn quốc hiện còn khoảng 175.000 hài cốt liệt sĩ chưa được tìm thấy và hơn 300.000 mộ liệt sĩ chưa xác định được danh tính. Trong khi đó, điều kiện thực hiện ngày càng khó khăn, nếu không hành động khẩn trương, quyết liệt, cùng cách làm khoa học và sự phối hợp, hiệp đồng chặt chẽ thì cơ hội tìm kiếm, quy tập hài cốt các liệt sĩ sẽ càng khó khăn hơn. Vì vậy, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ, Nhà nước Việt Nam đã phát động “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”. 

Mục tiêu chính của Chiến dịch là tăng cường tìm kiếm và quy tập các hài cốt liệt sĩ còn mất tích trong và ngoài nước, đồng thời tập trung vào việc thu thập mẫu sinh phẩm và ứng dụng công nghệ giải trình tự gen hiện đại để xác định danh tính, nhằm trả lại tên cho các Anh hùng liệt sĩ và bước đầu đạt kết quả rất đáng ghi nhận. 

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo quốc gia, Chiến dịch đã quy tập được hàng nghìn hài cốt liệt sĩ từ khắp các mặt trận và đẩy mạnh việc lưu trữ, đối chiếu ADN của thân nhân trên toàn quốc. Công tác này không chỉ mang ý nghĩa tri ân sâu sắc mà còn giúp xoa dịu nỗi đau của hàng vạn gia đình liệt sĩ. Riêng tại Công viên Lê Thị Riêng, tính đến hết ngày 18/7/2026, lực lượng tìm kiếm đã phát hiện 100 bộ hài cốt liệt sĩ và 02 mộ tập thể chứa hài cốt liệt sĩ (đang được phân tích, trả lại danh tính cho từng liệt sĩ). Như vậy, hoạt động tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ chưa biết tên đã được Nhà nước và nhân dân Việt Nam tổ chức thực hiện từ hơn 80 năm nay và “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh thực hiện tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ” là một hoạt động tri ân cụ thể, được đẩy mạnh hơn. Chiến dịch là nhiệm vụ chính trị quan trọng, là mệnh lệnh từ trái tim, là trách nhiệm thiêng liêng của cả hệ thống chính trị và toàn dân đối với những người đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của Nhân dân.

Đó là thực tiễn khách quan, bác bỏ sự xuyên tạc của một số tổ chức, cá nhân cho rằng, hoạt động tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ của Đảng, Nhà nước và nhân dân ta “đến kỷ nguyên này mới bùng nổ”; hoặc cho rằng: việc tổ chức tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ ở Công viên Lê Thị Riêng, thành phố Hồ Chí Minh là “nhằm cướp đất của dân”, v.v. Những tổ chức, cá nhân này, chắc chắn sẽ bị nhân dân Việt Nam và loài người tiến bộ trên thế giới phỉ nhổ, bị tòa án lương tâm trừng phạt. Hương hồn các Anh hùng liệt sĩ sẽ trừng phạt chúng./.

(https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Jul 24, 2026

Không thể nhân danh “nhân quyền” để bao che hành vi vi phạm pháp luật

           Tre Việt - Trong thời gian gần đây, Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW) lên tiếng yêu cầu Nhà nước ta thả ngay 5 nhân vật mà họ gọi là bất đồng chính kiến gồm: Nguyễn Thành Nam, Trần Việt Anh, Nguyễn Thúy Hằng, Đào Bá Đoàn, Nguyễn Văn Yên trong vụ án liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng”. Động thái này một lần nữa cho thấy cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan và không tôn trọng chủ quyền, pháp luật của Việt Nam. 

        Đây cũng không phải là lần đầu một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí cố tình khoác áo “nhân quyền” để xuyên tạc bản chất vụ việc, gây sức ép đối với Việt Nam và can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền, trái với nguyên tắc tôn trọng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc.

Cần nhìn nhận đúng bản chất vụ việc: theo thông tin công khai do cơ quan điều tra công bố, cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” cùng nhiều tài liệu liên quan có nội dung xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành quả cách mạng, xuyên tạc đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; xúc phạm Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp và một số lãnh đạo Đảng, Nhà nước. Những hành vi này được xem xét theo quy định của Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14, đặc biệt là Điều 117 về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Vì vậy, đây hoàn toàn không phải là việc trừng phạt quyền tự do ngôn luận.

Trước những luận điệu thiếu thiện chí từ Tổ chức Theo dõi Nhân quyền (Human Rights Watch - HRW), quan điểm của Việt Nam đã được nêu rõ và nhất quán. Chiều 23-7, tại cuộc họp báo thường kỳ của Bộ Ngoại giao, người phát ngôn Phạm Thu Hằng trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết quan điểm của Việt Nam về việc Tổ chức Theo dõi nhân quyền ra tuyên bố kêu gọi trả tự do cho 5 người bị khởi tố liên quan đến cuốn sách “Chuyện với Thanh - Lời kể mới về ánh sáng” đã bác bỏ dứt khoát đối với những nhận định thiếu căn cứ, đồng thời thể hiện rõ lập trường của Việt Nam: mọi hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đều được tiến hành theo đúng quy định của pháp luật.

Không chỉ dừng ở phát biểu ngoại giao, trình tự xử lý của các cơ quan chức năng Việt Nam trong vụ việc này cũng cho thấy sự thận trọng và tuân thủ pháp luật. Trước khi khởi tố vụ án hình sự, cơ quan quản lý nhà nước về xuất bản đã đình chỉ phát hành, thu hồi xuất bản phẩm, xử phạt nhà xuất bản và yêu cầu tiêu hủy số sách vi phạm theo quy định của Luật Xuất bản và Nghị định của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí, hoạt động xuất bản. Chỉ sau quá trình xác minh, thu thập chứng cứ và xác định có dấu hiệu tội phạm, cơ quan điều tra mới tiến hành các biện pháp tố tụng theo quy định. Điều đó khẳng định mọi quyết định đều dựa trên căn cứ pháp luật, không phải hành động tùy tiện như một số luận điệu xuyên tạc.

Từ vụ việc này có thể thấy rõ một thủ đoạn quen thuộc: Chúng cố tình đánh tráo khái niệm giữa quyền tự do biểu đạt với hành vi tuyên truyền thông tin chống Nhà nước, giữa việc thực thi pháp luật với cái gọi là “đàn áp tiếng nói đối lập”. Cách lập luận đó bỏ qua nguyên tắc cơ bản của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia: mọi quyền con người đều được thực hiện trong khuôn khổ pháp luật và gắn với trách nhiệm đối với xã hội.

Điều 25, Hiến pháp năm 2013 của Việt Nam quy định rất rõ: Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình; đồng thời Điều 14 khoản 2 xác định quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Vì vậy, không thể lấy danh nghĩa “nhân quyền” để phủ nhận quyền của mỗi quốc gia trong việc bảo vệ chế độ chính trị, bảo vệ trật tự pháp luật và lợi ích quốc gia.

Thực tiễn phát triển của Việt Nam là minh chứng thuyết phục bác bỏ những luận điệu sai trái. Quyền con người ở Việt Nam không chỉ được ghi nhận trong Hiến pháp mà còn được bảo đảm bằng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội, xóa đói giảm nghèo, mở rộng tiếp cận giáo dục, y tế, an sinh xã hội và bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân. Đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc không phải là phủ nhận quyền tự do ngôn luận, mà là bảo vệ sự thật, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ lợi ích quốc gia và tính nghiêm minh của pháp luật. Từ bối cảnh vụ việc, quan điểm nhất quán của cơ quan chức năng đến cơ sở pháp lý hiện hành đều cho thấy một điều rõ ràng: những luận điệu xuyên tạc sẽ không thể làm thay đổi bản chất vụ việc, càng không thể phủ nhận quyền và trách nhiệm của Nhà nước Việt Nam trong việc bảo vệ an ninh quốc gia, giữ vững ổn định chính trị, bảo vệ lợi ích của nhân dân và xây dựng một xã hội thượng tôn pháp luật.

Điều cần thiết hiện nay là mỗi cán bộ, đảng viên và công dân cần nâng cao bản lĩnh chính trị, tỉnh táo trước các nguồn thông tin sai lệch, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm xuyên tạc, góp phần giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng và củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước./.

Bác bỏ luận điệu “ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo” của Việt Tân

          Tre Việt - Mới đây, trang facebook Việt Tân đăng bài viết xuyên tạc, bóp méo tình hình đất nước dưới luận điệu “ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo” của Đình Long. Bài viết đã cố tình đưa ra những luận điệu lập lờ, đánh tráo khái niệm giữa việc Việt Nam hội nhập quốc tế với việc các cơ quan chức năng thực thi pháp luật, xử lý nghiêm minh các đối tượng vi phạm pháp luật trong nước. Đây là âm mưu thâm độc nhằm bôi nhọ thể chế, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, kích động tâm lý hoài nghi trong Nhân dân cần bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, cần khẳng định ngay rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa, chủ động hội nhập quốc tế. Vấn đề này được thể hiện rõ trong các văn kiện, chỉ thị, nghị quyết của Đảng, Nhà nước. Trải qua các kỳ Đại hội, Đảng ta luôn có sự bổ sung, hoàn chỉnh và có những bước phát triển mới về tư duy đối ngoại cho phù hợp với thực tiễn phát triển đất nước và bối cảnh quốc tế.

Qua 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước cho thấy, Việt Nam đã mở rộng quan hệ ngoại giao với gần như toàn bộ các quốc gia trên thế giới, tham gia nhiều tổ chức quốc tế và khu vực. Đồng thời, ký kết nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, như: Hiệp định Đối tác toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam - EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác Kinh tế toàn diện khu vực (RCEP),... đã khẳng định quan điểm hội nhập kinh tế sâu rộng và cam kết thúc đẩy môi trường đầu tư, thương mại theo các chuẩn mực quốc tế. Bên cạnh đó, Việt Nam đã thiết lập và nâng cấp nhiều khuôn khổ quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với nhiều nước trên thế giới và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của nhiều tổ chức và diễn đàn quốc tế lớn.

 Trong lĩnh vực an ninh quốc tế, Việt Nam tham gia lực lượng gìn giữ hòa bình Liên Hợp Quốc từ năm 2014, đã cử nhiều sĩ quan và đơn vị công binh, quân y làm nhiệm vụ tại các phái bộ. Đây là minh chứng cho việc thực hiện trách nhiệm quốc tế gắn với đường lối đối ngoại hòa bình, hợp tác và phát triển.

Thứ hai, Việt Nam đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội gắn với cải cách hành chính, giải quyết những nút thắt, điểm nghẽn. Trong nhiều năm qua, Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức tương đối cao trong khu vực (6 tháng đầu năm 2026, tốc độ tăng trưởng GDP khoảng 8,18%); tích cực mở rộng thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), phát triển hạ tầng giao thông, đẩy mạnh chuyển đổi số và cải cách hành chính. Chương trình chuyển đổi số quốc gia, việc mở rộng dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và định danh điện tử,... là những ví dụ về nỗ lực hiện đại hóa quản trị nhà nước. Trong lĩnh vực xã hội, tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đạt mức cao, tuổi thọ trung bình tăng, tỷ lệ nghèo đa chiều tiếp tục giảm theo chuẩn quốc gia, giáo dục phổ cập được duy trì, mạng lưới y tế cơ sở tiếp tục được củng cố, v.v.

Bên cạnh đó, Việt Nam đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xử lý những nút thắt, điểm nghẽn; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và tăng cường phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Như vậy, việc xử lý những hạn chế, tồn tại, điểm nghẽn thể chế không phải là dấu hiệu của sự thiếu nhất quán, mà phản ánh quá trình phát triển liên tục của đất nước, trong đó chính sách được điều chỉnh để thích ứng với yêu cầu thực tiễn phát triển và hội nhập quốc tế.

Thứ ba, Việt Nam kiên quyết xử lý nghiêm minh những công dân lợi dụng tự do, dân chủ để chống phá Đảng, Nhà nước. Quan điểm nhất quán của Việt Nam là tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân theo Hiến pháp và pháp luật; đồng thời, kiên quyết xử lý nghiêm minh, đúng trình tự, thủ tục pháp luật đối với mọi hành vi lợi dụng các quyền tự do, dân chủ để xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của Nhà nước, tổ chức và công dân. Việc xử lý các hành vi vi phạm pháp luật không nhằm hạn chế các quyền tự do chính đáng, mà nhằm bảo đảm nguyên tắc mọi quyền đều được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật, phù hợp với các chuẩn mực của luật pháp quốc tế về quyền con người.

Thực tế, một số công dân bị xử lý theo quy định của pháp luật trong thời gian qua đều có hành vi vi phạm pháp luật, được các cơ quan thực thi pháp luật bắt giữ, truy tố, điều tra, xét xử theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm khách quan, đúng người, đúng tội.

Vì thế, việc Đình Long và Việt Tân lợi dụng vào đó để suy diễn, quy chụp, xuyên tạc cho rằng: Việt Nam ngoại giao một đằng, nội trị một nẻo là nhằm thực hiện những dụng ý xấu, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.