Showing posts with label CHUYỆN LÀNG - CHUYỆN NƯỚC. Show all posts
Showing posts with label CHUYỆN LÀNG - CHUYỆN NƯỚC. Show all posts

Oct 24, 2026

Bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về văn hóa Việt Nam

            Tre Việt - Từ năm nay, ngày 24/11 hằng năm, người lao động trên cả nước sẽ được nghỉ, hưởng nguyên lương để tham gia các hoạt động kỷ niệm, tôn vinh văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, mới đây trên trang Bauxite Việt Nam đăng bài viết: “Không có văn hóa vong nô, chỉ có kẻ nô lệ làm văn hóa”, đưa ra nhiều nhận định quy kết về quá trình phát triển văn hóa Việt Nam, cho rằng: “80 năm là văn hóa chính trị”, văn học, điện ảnh và nếp sống xã hội đều “định sẵn”; đồng thời, lấy mức độ phổ biến của văn hóa ngoại quốc và khả năng xuất khẩu sản phẩm làm tiêu chí đánh giá giá trị văn hóa dân tộc. Đây là lập luận phiến diện, đánh đồng hiện tượng với bản chất, từ đó xuyên tạc đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, cần bị nhận diện, bác bỏ.

Thứ nhất, không thể đồng nhất định hướng chính trị với sự áp đặt, phủ nhận tính độc lập và sáng tạo của văn hóa. Về lý luận, văn hóa là tổng thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong lịch sử; vừa phản ánh điều kiện tồn tại xã hội, vừa tác động trở lại đối với sự phát triển của xã hội. Văn hóa luôn gắn với lịch sử, lợi ích cộng đồng và hệ giá trị mà mỗi dân tộc lựa chọn. Vì vậy, không có nền văn hóa nào hoàn toàn tách rời bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội; nhưng cũng không thể vì có mối quan hệ ấy mà quy kết văn hóa thành công cụ chính trị.

Văn hóa Việt Nam có cội nguồn từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kết tinh trong tiếng Việt, văn học dân gian, tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật truyền thống, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và đạo lý nhân nghĩa. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 mở ra thời kỳ phát triển mới, tạo điều kiện để Nhân dân từng bước tiếp cận rộng rãi hơn với giáo dục, văn hóa và đời sống tinh thần. Trong kháng chiến, văn học, nghệ thuật gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc; trong hòa bình, thống nhất và đổi mới, hoạt động sáng tạo tiếp tục mở rộng về đề tài, hình thức và phương thức biểu đạt.

Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9, khóa XI xác định nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu ấy không chỉ là tuyên truyền một hệ tư tưởng, mà còn hướng đến hoàn thiện nhân cách, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, phát huy sức sáng tạo và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tại Điều 40, Điều 41 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật, nghiên cứu khoa học và quyền hưởng thụ, tiếp cận các giá trị văn hóa. Những căn cứ đó cho thấy, không thể lấy một số hạn chế trong thực tiễn để kết luận toàn bộ đời sống văn hóa Việt Nam bị áp đặt, thiếu tự do sáng tạo.

Thứ hai, thực tiễn bác bỏ nhận định cho rằng văn học, điện ảnh và nếp sống xã hội đều bị “định sẵn”. Nếu văn học chỉ là sản phẩm của một khuôn mẫu duy nhất thì khó có thể lý giải sự đa dạng về đề tài, phong cách và cách tiếp cận hiện thực trong văn học Việt Nam hiện đại. Bên cạnh những tác phẩm viết về chiến tranh cách mạng, lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhiều tác phẩm đi sâu vào đời sống cá nhân, gia đình và các vấn đề đạo đức xã hội trong quá trình đổi mới. Sự vận động của văn học cho thấy quan hệ giữa định hướng giá trị và sáng tạo nghệ thuật không phải quan hệ đồng nhất, máy móc.

Điện ảnh Việt Nam cũng trải qua quá trình chuyển biến từ chủ yếu phục vụ nhiệm vụ kháng chiến, kiến quốc sang phản ánh đa dạng hơn đời sống xã hội, tâm lý con người và những biến đổi của thời đại. Mặc dù điện ảnh trong nước còn những hạn chế về kịch bản, chất lượng sản xuất, quảng bá và sức cạnh tranh,... song đó là những vấn đề cần được phân tích bằng tiêu chí nghề nghiệp, dữ liệu thị trường và từng tác phẩm cụ thể. Nếu chỉ dùng việc phim nước ngoài chiếm ưu thế ở một số thời điểm là không đủ căn cứ để kết luận điện ảnh Việt Nam “chết lâm sàng”, càng không chứng minh mọi sáng tạo nghệ thuật trong nước đều bị định đoạt.

Thứ ba, hội nhập văn hóa không đồng nghĩa với từ bỏ bản sắc, càng không thể lấy sự công nhận từ bên ngoài làm thước đo duy nhất. Văn hóa Việt Nam trong lịch sử đã có sự tiếp thu từ bên ngoài, đồng thời chọn lọc, cải biến và sáng tạo để hình thành bản sắc riêng. Vì vậy, học ngoại ngữ, thưởng thức âm nhạc quốc tế, tiếp nhận công nghệ mới hay sử dụng trang phục hiện đại không đồng nghĩa với quên gốc rễ của mình, không nghĩ gì đến tổ tiên, nòi giống. Vấn đề cốt yếu là năng lực lựa chọn, tiếp thu có phê phán và giữ vững những giá trị nền tảng của dân tộc.

Bài viết đưa ra câu hỏi: Vì sao áo dài, nón lá không được người nước ngoài sử dụng phổ biến? Vì sao chèo, ca trù, hát xoan có nguy cơ mai một, trong khi âm nhạc và phim ảnh nước ngoài thu hút công chúng. Cách so sánh này đã đồng nhất giá trị văn hóa với mức độ phổ biến và sức tiêu thụ thương mại. Trên thực tế, việc UNESCO ghi danh một di sản không có nghĩa di sản ấy tự động được bảo tồn bền vững; muốn duy trì sức sống, phải có cộng đồng thực hành, truyền dạy, công chúng tiếp nhận và chính sách hỗ trợ phù hợp. Ngược lại, một sản phẩm ngoại quốc được ưa chuộng cũng không mặc nhiên có giá trị cao hơn mọi sản phẩm trong nước.

Phát triển công nghiệp văn hóa cần hướng đến chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng tiếp cận thị trường, nhưng doanh thu hay xuất khẩu không phải tiêu chí duy nhất đánh giá giá trị văn hóa. Bản sắc dân tộc phải được phát huy trong sáng tạo hiện đại, còn hội nhập phải góp phần nâng cao năng lực tự chủ, chứ không phải sao chép hoặc khép kín trước thế giới.

Như vậy, nhận định “80 năm là văn hóa chính trị” và cho rằng văn học, điện ảnh, nếp sống xã hội đều bị “định sẵn” là những suy luận phiến diện, xuyên tạc, không phản ánh đúng lịch sử và thực tiễn văn hóa Việt Nam. Ngược lại, nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đang là nền tảng tinh thần quan trọng để củng cố sức mạnh nội sinh, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới./.

 

Oct 21, 2026

Nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người là không thể xuyên tạc, phủ nhận

        Tre Việt - Vẫn như hằng năm, Hoa Kỳ tự xem mình là “chuẩn mực về nhân quyền”, tự cho mình quyền đưa ra các phán xét về chính trị, kinh tế - xã hội các quốc gia, đặc biệt là vấn đề dân chủ, nhân quyền. Mới đây, ngày 08/10, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo về tình hình mua bán người trên thế giới năm 2026 (Báo cáo TIP 2026). Trong phần đánh giá dành riêng cho Việt Nam, họ tiếp tục xếp Việt Nam ở Nhóm 2 (Tier 2) với nhận định quen thuộc rằng: “Chính phủ Việt Nam chưa đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu về xóa bỏ nạn buôn người”, với những thông tin, nhận định không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình và nỗ lực của Việt Nam trong công tác phòng, chống mua bán người.
Lực lượng chức năng Việt Nam
 tiếp nhận một em bé bị bán sang Trung Quốc
        Trước hết, cần nhìn nhận công tác phòng, chống mua bán người thể hiện rõ nét qua chính sách nhất quán và quyết tâm chính trị xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Ở Việt Nam, đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người không phải là những biện pháp tình thế nhằm đối phó với sự chấm điểm hay xếp hạng từ bên ngoài, mà xuất phát từ bản chất nhân văn của chế độ xã hội chủ nghĩa, coi con người là trung tâm, lấy việc bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm và quyền tự do của công dân làm nhiệm vụ tối thượng và được xác định là nhiệm vụ thường xuyên của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. 
        Những thành tựu của Việt Nam trong giai đoạn 2025 - 2026 được chứng minh bằng những bước đột phá về thể chế và các con số thực thi pháp luật biết nói. Về mặt lập pháp, Luật Phòng, chống mua bán người số 53/2024/QH15 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, cùng hệ thống các nghị định, hướng dẫn thi hành đã tạo ra một hành lang pháp lý hiện đại, tiệm cận hoàn toàn với Nghị định thư Palermo của Liên hợp quốc. Lần đầu tiên, khái niệm “người đang trong quá trình xác định là nạn nhân” được luật hóa, cho phép mọi cá nhân có dấu hiệu bị mua bán được lập tức tiếp cận các dịch vụ bảo vệ, chăm sóc y tế, tư vấn tâm lý, nơi tạm trú và trợ giúp pháp lý miễn phí mà không phải chờ đợi hoàn tất các thủ tục xác minh hành chính phức tạp. 
        Tiếp nối bước tiến đó, tháng 01/2026, Chính phủ đã ban hành Chương trình phòng, chống mua bán người giai đoạn 2026 - 2030, định hình tư duy quản trị rủi ro chủ động và đặt ra lộ trình rà soát, hài hòa hóa toàn diện các quy định của Bộ luật Hình sự. Về nguồn lực, bất chấp những thách thức kinh tế chung, kinh phí phân bổ riêng cho Bộ Công an trong công tác này đã tăng từ 12,4 tỉ đồng lên 15,95 tỉ đồng (tăng khoảng 28,6%); đồng thời, hệ thống phòng điều tra thân thiện với trẻ em trên toàn quốc đã tăng vọt lên 107 phòng, nhiều hơn 42 phòng (tăng 64,6%) so với kỳ báo cáo trước.
        Trên mặt trận đấu tranh trấn áp tội phạm, sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam là điều không thể phủ nhận. Ngay trong số liệu được chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ dẫn lại, năm 2025, các tòa án tại Việt Nam đã xét xử và kết án 288 đối tượng phạm tội mua bán người, tăng 17,1% so với mức 246 đối tượng của năm 2024, với tuyệt đại đa số bản án là phạt tù giam nghiêm khắc. Bước sang năm 2026, chỉ tính riêng trong 6 tháng đầu năm, lực lượng chức năng đã khởi tố, điều tra 65 vụ với 155 bị can về tội mua bán người và 55 vụ với 168 bị can về tội mua bán người dưới 16 tuổi; Viện kiểm sát nhân dân các cấp đã truy tố 64 vụ, với 206 bị can; Tòa án nhân dân các cấp thụ lý theo thủ tục sơ thẩm 101 vụ, với 379 bị cáo và đã đưa ra xét xử 53 vụ, với 172 bị cáo. 
        Không dừng lại ở những con số, hiệu quả bảo vệ Nhân dân còn hiển hiện qua hàng loạt chiến công nối tiếp nhau ngay trong tháng 9 và tháng 10/2026, từ việc Công an tỉnh Bắc Ninh phối hợp Cục Cảnh sát hình sự triệt phá hai đường dây mua bán trẻ em dưới 16 tuổi; Công an Thành phố Hồ Chí Minh đập tan vụ khống chế trực tuyến giải cứu sinh viên, cho đến những nỗ lực thầm lặng của lực lượng Công an cấp xã tại Sơn La, Tuyên Quang, Điện Biên, Lai Châu,… kịp thời ngăn chặn các vụ dụ dỗ thanh thiếu niên vùng cao qua biên giới. Thế nhưng, trước bức tranh nỗ lực toàn diện ấy, Báo cáo TIP 2026 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại rút ra kết luận rằng Chính phủ Việt Nam “đã giảm bớt các nỗ lực bảo vệ nạn nhân”(!)
        Đấu tranh phòng, chống mua bán người đòi hỏi sự hợp tác quốc tế thực chất, chia sẻ thông tin tình báo, phối hợp triệt phá các mạng lưới tài chính ngầm và tôn trọng nỗ lực thực tế của mỗi quốc gia, chứ không phải là những bảng xếp hạng đơn phương mang đậm tiêu chuẩn kép. Những thành tựu không thể phủ nhận của Việt Nam trong việc hoàn thiện pháp luật, trừng trị tội phạm và bảo vệ từng sinh mệnh người dân sẽ là câu trả lời đanh thép và thuyết phục nhất trước mọi luận điệu xuyên tạc và đánh giá thiếu khách quan, nhằm hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế./.




Oct 18, 2026

Sự hy sinh của liệt sĩ không thể bị lợi dụng để xuyên tạc!

         Tre Việt - Ngày 02/4/2026, Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ được phát động, thể hiện quyết tâm thực hiện đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, đáp lại mong mỏi của những gia đình có người thân hy sinh nhưng chưa tìm được nơi an nghỉ. 
        Theo số liệu công bố ngày 13/10/2026, Chiến dịch đã tìm kiếm, quy tập được 3.611 hài cốt liệt sĩ, đạt 51,59% chỉ tiêu; trong đó, 2.374 hài cốt được tìm thấy trong nước, 217 hài cốt tại Lào và 1.020 hài cốt tại Campuchia. Riêng tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng, Thành phố Hồ Chí Minh, 731 bộ hài cốt liệt sĩ đã được tìm kiếm, quy tập. Ngày 14/10, lễ viếng, truy điệu và an táng được tổ chức trang nghiêm, thành kính, đưa các liệt sĩ hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Xuân Mậu Thân năm 1968 về nơi an nghỉ. Đằng sau kết quả ấy là nhiều tháng kiên trì nghiên cứu tư liệu, xác minh thông tin và khai quật thực địa, cùng nỗ lực của các lực lượng tìm kiếm và niềm mong đợi suốt hàng chục năm của thân nhân liệt sĩ.
        Thế nhưng, ngày 16/10, Việt Nam Thời Báo chia sẻ bài viết gọi lễ an táng các liệt sĩ là một “gánh xiếc”, cho rằng những người hy sinh là “người phá vỡ lời hứa ngừng bắn được gọi liệt sĩ”, nghi vấn việc tìm thấy hài cốt tại công viên và viện dẫn những nạn nhân dân thường trong Tết Mậu Thân để công kích hoạt động truy điệu, an táng. Những lời lẽ ấy không đơn thuần thể hiện sự khác biệt trong cách nhìn nhận lịch sử, mà  sử dụng lối lập luận đánh tráo vấn đề, lấy suy diễn thay cho chứng cứ, đặt những nỗi đau đối lập với nhau, qua đó gieo rắc hoài nghi và hạ thấp ý nghĩa của hoạt động tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc.
        Thứ nhất, gọi lễ truy điệu, an táng các liệt sĩ là “gánh xiếc” là sự xúc phạm đối với người đã khuất và đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Đây là hoạt động tri ân những người đã hy sinh vì Tổ quốc, được tìm kiếm, quy tập sau gần sáu thập kỷ, thể hiện trách nhiệm và lòng biết ơn sâu sắc của người đang sống đối với những người đã ngã xuống. Mỗi bộ hài cốt là một con người có quê hương, gia đình, đồng đội; việc tìm kiếm, quy tập và đưa các liệt sĩ về nơi an nghỉ vùa thể hiện ý nghĩa nhân văn sâu sắc, vừa đáp ứng mong mỏi của thân nhân và đồng đội.
        Việc cố tình ví lễ truy điệu, an táng các liệt sĩ với “gánh xiếc” là luận điệu nhằm hạ thấp, bôi nhọ ý nghĩa thiêng liêng của hoạt động tri ân. Lối diễn đạt miệt thị gieo rắc hoài nghi về công tác tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ làm tổn thương những gia đình vẫn đau đáu mong tìm được người thân. Đằng sau cách ví von đầy ác ý ấy là ý đồ phủ nhận giá trị nhân văn của công tác đền ơn đáp nghĩa, bóp méo ý nghĩa của sự hy sinh vì Tổ quốc, từ đó làm phai nhạt lòng biết ơn đối với những người đã hiến dâng cuộc đời cho độc lập, tự do của dân tộc.
        Thứ hai, luận điệu quy kết những người hy sinh trong cuộc đấu tranh thống nhất đất nước là “người vi phạm thỏa thuận ngừng bắn” đã cố tình tách rời sự kiện lịch sử khỏi bối cảnh dân tộc Việt Nam sau Hiệp định Giơnevơ năm 1954. Đất nước tạm thời bị chia cắt, khát vọng độc lập, thống nhất non sông vẫn luôn cháy bỏng trong trái tim mỗi người dân Việt Nam. Bác Hồ kính yêu của chúng ta đã khẳng định: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Đó là chân lý về độc lập, chủ quyền và thống nhất Tổ quốc, cũng là ý chí bền bỉ của dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh để Bắc - Nam sum họp một nhà. Bởi vậy, mọi sự kiện liên quan đến chiến tranh giai đoạn này phải được xem xét trong bối cảnh lịch sử cụ thể, không thể bị cắt xén, diễn giải phiến diện để áp đặt những kết luận thiếu căn cứ.
        Những người lính đã hy sinh trong cuộc đấu tranh ấy đã hiến dâng tuổi xuân, xương máu vì khát vọng thống nhất non sông, để đất nước được độc lập, toàn vẹn, Nhân dân được sum họp. Dùng luận điệu xuyên tạc để quy kết, phủ nhận sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ là đánh tráo bản chất lịch sử, nhằm phủ nhận tính chính nghĩa của cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, hạ thấp sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ và làm sai lệch nhận thức lịch sử. Vì vậy, cần kiên quyết bác bỏ những luận điệu quy chụp, xuyên tạc; bảo vệ sự thật lịch sử và trân trọng những người đã hy sinh vì độc lập, thống nhất Tổ quốc.
        Thứ ba, lấy việc khu vực nghĩa địa cũ được cải tạo thành công viên để nghi ngờ kết quả tìm kiếm hài cốt liệt sĩ là suy luận thiếu cơ sở. Việc một địa điểm thay đổi công năng sử dụng không đồng nghĩa với việc mọi dấu tích lịch sử dưới lòng đất đã mất đi. Kết quả tìm kiếm, quy tập đã được đánh giá trên cơ sở tư liệu lịch sử, thông tin nhân chứng, quá trình khảo sát và kết quả khai quật thực địa, không thể bị phủ nhận chỉ bằng suy đoán từ diện mạo hiện tại của khu đất. Việc tìm kiếm 731 bộ hài cốt tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng là kết quả của quá trình triển khai kéo dài nhiều tháng, không phải sự việc “bỗng dưng” xuất hiện như hàm ý của bài viết. 
        Nhìn tổng thể, những luận điệu trên là thủ đoạn lợi dụng vấn đề lịch sử để xuyên tạc bản chất cuộc đấu tranh thống nhất đất nước, phủ nhận sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ, gieo rắc hoài nghi và làm phai nhạt đạo lý “Uống nước nhớ nguồn” của dân tộc. Cần nhận diện rõ bản chất, mục đích của những luận điệu ấy, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ những thông tin sai lệch, xuyên tạc; đồng thời khẳng định ý nghĩa nhân văn sâu sắc của Chiến dịch 500 ngày đêm và các lễ truy điệu, an táng hài cốt liệt sĩ trên cả nước. Đó là biểu hiện sinh động của trách nhiệm và lòng tri ân của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân đối với những người đã hy sinh vì Tổ quốc; góp phần xoa dịu nỗi đau chiến tranh, đáp ứng mong mỏi của thân nhân, đồng đội và gìn giữ ký ức lịch sử dân tộc./.



Oct 17, 2026

Trách nhiệm, lương tri, tình cảm và sự tri ân sâu nặng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với các Anh hùng liệt sĩ

        Tre Việt - Ngày 15/10, trên trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng tải status với những lời lẽ xuyên tạc về Lễ viếng, truy điệu và an táng 731 hài cốt liệt sĩ được tìm kiếm, quy tập tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh. Họ kích động đó chỉ là: “gánh xiếc trên quê hương nhỏ”, phủ nhận sự hy sinh của các anh hùng, liệt sĩ, nhằm hạ thấp ý nghĩa lịch sử của các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, xuyên tạc mục đích, ý nghĩa chính trị và giá trị nhân văn sâu sắc của Đảng, Nhà nước ta trong công tác tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ; làm suy giảm lòng tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và chế độ.

Thủ tướng Chính phủ Lê Minh Hưng cùng các đồng chí lãnh đạo,
nguyên lãnh đạo dâng hoa tưởng niệm Cố Tổng Bí thư Trần Phú
cùng các Anh hùng liệt sĩ tại công viên Lê Thị Riêng 

Như thông tin, thực hiện “Chiến dịch 500 ngày đêm đẩy mạnh tìm kiếm, quy tập và xác định danh tính hài cốt liệt sĩ”, hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày Thương binh - liệt sĩ (27/7/1947 - 27/7/2027); quán triệt thực hiện Thông báo Kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ tại Hội thảo xác minh kết luận thông tin liệt sĩ, mộ liệt sĩ của các đơn vị hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968 được chôn cất tại khu vực công viên Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng, Thành phố Hồ Chí Minh, bằng tất cả trách nhiệm, mệnh lệnh từ trái tim của người lính, các lực lượng tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ của Bộ Tư lệnh Quân khu 7, Bộ Tư lệnh Thành phố Hồ Chí Minh, cùng với sự vào cuộc quyết liệt, quyết tâm chính trị cao nhất của các cấp, các ngành và Ủy ban nhân dân phường Hòa Hưng, sau hơn 03 tháng các lực lượng đã tìm kiếm, quy tập được 731 hài cốt liệt sĩ tại Công viên Lê Thị Riêng.

Sáng 14/10, Thành ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố Hồ Chí Minh, Đảng ủy, Bộ Tư lệnh Quân khu 7 long trọng tổ chức Lễ viếng, truy điệu và an táng 731 hài cốt liệt sĩ mộ liệt sĩ của các đơn vị hy sinh trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu thân năm 1968 được tìm kiếm, quy tập tại Công viên văn hóa Lê Thị Riêng, phường Hòa Hưng về an táng tại Nghĩa trang Liệt sĩ Thành phố Hồ Chí Minh.

Gần 60 năm cho một cuộc trở về! các anh, chị - những chiến sĩ Giải phóng quân, Biệt động thành, những người hoạt động cách mạng kiên trung đã không kịp nhìn thấy ngày đất nước thống nhất, đã phải nằm lại giữa lòng đô thị Sài Gòn; âm thầm chứng nhân cho những thăng trầm và chuyển mình đi lên của Thành phố Hồ Chí Minh. Ký ức Mậu Thân của các anh chị vùi sâu trong khu đất nghĩa trang đô thành năm nào; nay được muôn triệu trái tim, trí tuệ và tâm sức hướng về, khơi dậy tâm thức lịch sử bi hùng và làm ấm lên mảnh đất Công viên Lê Thị Riêng. Nơi đây, dưới những bàn tay của cán bộ, chiến sĩ, lực lượng chuyên môn, cựu chiến binh ngày ngày tỉ mẩn, nhẹ khẽ gạt lớp đất lẫn vào xương, ráp mối, định hình hài cốt,… nhưng do điều kiện chiến tranh ác liệt và lớp bụi thời gian kéo dài, phần lớn hài cốt của các liệt sĩ đợt này, chưa xác định được tên, tuổi, quê quán; song dù quê quán ở đâu, thì hương hồn các liệt sĩ đã xem quê hương Thành phố Hồ Chí Minh là nơi đất lành để các anh, các chị yên nghỉ.

Chiến tranh đã lùi xa, nhưng trách nhiệm đối với các Anh hùng liệt sĩ chưa bao giờ được phép nguôi quên. Mỗi việc làm hôm nay không chỉ để tri ân quá khứ mà còn góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, lý tưởng cách mạng cho thế hệ hôm nay và mai sau; củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và Quân đội.

Lễ viếng, truy điệu và an táng 731 hài cốt liệt sĩ thể hiện lòng biết ơn sâu sắc của Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân đối với những Anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Không thể xuyên tạc lố bịch đây là “gánh xiếc trên quê hương nhỏ”, mà là việc mang ý nghĩa chính trị, nhân văn sâu sắc; thể hiện trách nhiệm, lương tri, tình cảm và sự tri ân sâu nặng của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân đối với các Anh hùng liệt sĩ. Sự thật đó không thể xuyên tạc, phủ nhận và kích động./.

 

Oct 16, 2026

Bác bỏ suy luận phiến diện về tự do và pháp luật ở Việt Nam

        Tre Việt - “Không có tự do thì luật pháp chỉ là mệnh lệnh của kẻ cướp” là tiêu đề bài viết của Nhật Ngôn đăng trên trang facebook Việt Nam Thời Báo mới đây. Trong đó, đưa ra những nhận định, như: pháp luật Việt Nam chỉ là “mệnh lệnh của một đảng được hợp thức hóa”, hay “Đảng vừa viết luật, vừa thi hành, vừa xét xử”, v.v. Đây là những suy luận hoàn toàn phiến diện, thiếu cơ sở, quy kết bản chất của pháp luật và tổ chức quyền lực nhà nước, nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng, phát triển của Việt Nam, cần bị vạch trần, bác bỏ.
        Trước hết, cần khẳng định rằng tự do là giá trị quan trọng của con người, nhưng tự do không đồng nghĩa với việc cá nhân được hành động tùy ý, bất chấp quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích chung của cộng đồng. Trong bất kỳ xã hội nào, việc thực hiện quyền tự do của mỗi người đều diễn ra trong những quan hệ xã hội cụ thể. Nếu không có các quy tắc chung để điều chỉnh hành vi, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm thì tự do của người này có thể trở thành sự xâm phạm tự do của người khác.
        Vì vậy, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là phương tiện xác lập, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền tự do. Pháp luật quy định những giới hạn cần thiết đối với hành vi của mỗi chủ thể, đồng thời đặt ra trách nhiệm đối với cơ quan công quyền, tạo cơ sở để người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Một hệ thống pháp luật có chất lượng phải vừa bảo đảm trật tự, kỷ cương, vừa tôn trọng quyền con người, quyền công dân; vừa xác định nghĩa vụ, trách nhiệm, vừa ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực.
        Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập những nguyên tắc nền tảng về vấn đề này. Điều 2 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Còn tại Điều 3 đã quy định: Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt, Điều 14 quy định: Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; việc hạn chế các quyền này chỉ được thực hiện theo quy định của luật trong những trường hợp cần thiết. 
        Những quy định trên cho thấy, trong khuôn khổ pháp lý Việt Nam, tự do không bị phủ nhận mà được hiến định, bảo vệ và gắn với trách nhiệm của Nhà nước. Do đó, đặt tự do đối lập tuyệt đối với pháp luật, hoặc coi sự tồn tại của những quy định bắt buộc là bằng chứng cho thấy tự do không hiện hữu, là cách tiếp cận thiếu khách quan, toàn diện. 
        Trong bài viết còn cho rằng: pháp luật Việt Nam chỉ là “mệnh lệnh của một đảng được hợp thức hóa”. Cách diễn giải này chưa phân biệt đầy đủ giữa vai trò lãnh đạo chính trị, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế tổ chức thi hành pháp luật của Nhà nước. Bởi: Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đồng thời, Hiến pháp quy định Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 
        Như vậy, việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng không đồng nghĩa với việc đồng nhất Đảng với toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước hoặc cho rằng mọi hoạt động xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật đều do một chủ thể duy nhất trực tiếp tiến hành. Trong thực tiễn thể chế, chủ trương, đường lối của Đảng định hướng quá trình hoạch định chính sách; việc thể chế hóa thành pháp luật được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Các văn bản quy phạm pháp luật phải được xem xét theo thẩm quyền ban hành, hình thức, nội dung và trình tự, thủ tục tương ứng.
        Cùng với đó, trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, cùng các sửa đổi, bổ sung có liên quan đã quy định khuôn khổ pháp lý về xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý để xem xét quá trình chuyển hóa chính sách thành quy tắc xử sự chung, thay vì chỉ dựa vào nhận định rằng pháp luật là sự hợp thức hóa ý chí của Đảng. 
        Mặt khác, cần đánh giá pháp luật qua nội dung và tác động thực tế của nó đối với đời sống xã hội: quyền và nghĩa vụ của người dân được xác lập ra sao; lợi ích hợp pháp được bảo vệ như thế nào; cơ quan công quyền phải chịu những ràng buộc gì; cơ chế khiếu nại, tố cáo, xét xử và giám sát được thực hiện đến đâu. Đây mới là những tiêu chí cụ thể để nhận diện chất lượng và hiệu lực của một hệ thống pháp luật. Thực tế trong xã hội Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia quản lý, giám sát, phản biện xã hội, quyền khiếu nại, tố cáo cùng nhiều quyền tự do cơ bản khác. 
        Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ những suy luận trong bài viết trên là hoàn toàn phiến diện, không có cơ sở, quy chụp nên sẽ không dẫn dụ, lừa gạt được ai và những âm mưu, ý đồ chống phá của chúng nhất định sẽ thất bại./.


Oct 9, 2026

Vạch trần sự đánh tráo khái niệm, phủ nhận giá trị của Tuyên ngôn Độc lập

         Tre Việt - Ngày 05/10, trang Facebook Việt Nam Thời Báo tán phát bài viết: “Suy rộng ra - cú lừa vĩ đại nhất trong lịch sử dân tộc” của Nhật Ngôn. Trong bài viết có đoạn: Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 không phải là văn bản giải phóng con người, giành tự do, độc lập cho cá nhân. Nó là một cuộc lừa đảo được tính toán tinh vi, v.v. Đây là hành động đánh tráo khái niệm, cố tình xuyên tạc lịch sử, phủ nhận giá trị của Tuyên ngôn Độc lập, cần bị vạch trần, đấu tranh bác bỏ.
Thứ nhất, về cơ sở lý luận. Cần khẳng định rằng quan điểm nhất quát, xuyên suốt trong đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, mang lại tự do, hạnh phúc cho Nhân dân; trong đó, độc lập dân tộc chính là điều kiện tiên quyết để một dân tộc và mỗi con người thực hiện quyền tự do, quyền dân chủ của mình. Nhưng độc lập dân tộc không đồng nghĩa với việc ngay lập tức giải quyết đầy đủ mọi vấn đề về quyền cá nhân, mà cần căn cứ vào điều kiện, hoàn cảnh cụ thể của đất nước. 
        Trên thực tế, sau khi giành được độc lập, đất nước ta phải đối mặt với thù trong, giặc ngoài, tình thế như “ngàn cân treo sợi tóc”. Vì thế, cách suy luận: “Độc lập mà người dân vẫn làm nô lệ - đó không phải độc lập” của Nhật Ngôn là cố tình nhìn nhận thiếu khách quan về tình hình đất nước tại thời điểm; cố tình xuyên tạc, lấy một tiêu chí về mức độ thực hiện quyền và tự do trong đời sống xã hội để phủ định chủ quyền quốc gia và quyền tự quyết của dân tộc.
Thứ hai, về cơ sở lịch sử. Kể từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời (1930), đã lãnh đạo Nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh chống lại sự áp bức, bóc lột, cai trị của chủ nghĩa thực dân, phong kiến, giành độc lập, tự do cho dân tộc, được đánh dấu mốc là Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công, mà Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 02/9/1945 chính là văn kiện tuyên bố sự ra đời của một quốc gia độc lập; đồng thời, khẳng định quyền tự quyết của dân tộc Việt Nam. Việc Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn lại những tư tưởng về quyền con người trong Tuyên ngôn Độc lập của Hoa Kỳ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp là một lập luận chính trị - pháp lý có tính phổ quát: nếu các dân tộc Mỹ, Pháp được thừa nhận quyền tự do, bình đẳng thì dân tộc Việt Nam cũng có quyền ấy. 
        Trong bài viết, Nhật Ngôn dùng từ “Suy rộng ra” là cố tình tách riêng với mạch lập luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong Tuyên ngôn Độc lập để suy diễn đó là “cú lừa” là hoàn toàn xuyên tạc, phi lý.
        Thứ ba, về cơ sở pháp lý. Quyền dân tộc tự quyết là sự khẳng định độc lập, chủ quyền, là điều kiện bảo đảm quyền con người, cơ sở bảo đảm tự do, hạnh phúc của Nhân dân. Trên thực tế, Hiến pháp, hệ thống pháp luật của Việt Nam cũng như các văn kiện của Đảng, đều quy định rõ về quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế. Trong suốt quá trình phát triển đất nước, Việt Nam luôn khẳng định và thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc gắn với xây dựng xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.
        Mặt khác, quyền dân tộc tự quyết cũng không phải khái niệm do Việt Nam tự đặt ra. Đây là một nguyên tắc quan trọng của luật pháp quốc tế, được ghi nhận trong Hiến chương Liên hợp quốc và nhiều văn kiện quốc tế. Bởi vậy, việc Chủ tịch Hồ Chí Minh gắn quyền con người với quyền dân tộc trong Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 không những không trái với tư tưởng tiến bộ của nhân loại mà còn thể hiện tầm nhìn chính trị sâu sắc về mối quan hệ giữa quyền của cá nhân và quyền của cộng đồng dân tộc.
        Thứ tư, về cơ sở thực tiễn. Sau hơn 81 năm kể từ ngày 02/9/1945, khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc Bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đưa nước ta từ nước thuộc địa trở thành một quốc gia độc lập, có chủ quyền. Nhân dân Việt Nam trực tiếp tham gia Tổng tuyển cử, bầu Quốc hội và xây dựng Nhà nước của dân, do dân, vì dân. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân ta đã đồng cam, cộng khổ thực hiện thắng lợi cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xâm lược, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt, sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện, đất nước đã thu được những thành tự to lớn, đời sống kinh tế - xã hội, văn hóa, giáo dục, y tế, hội nhập quốc tế,... ngày càng phát triển, đời sống Nhân dân được nâng cao, khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. 
        Cùng với đó, Đảng, Nhà nước luôn quan tâm bảo đảm và thực thi các quyền dân sự, chính trị của công dân. Thực tiễn đời sống xã hội ở Việt Nam là một bức tranh sinh động, mọi công dân đều được tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tín ngưỡng,... được pháp luật tôn trọng và bảo vệ. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao và là minh chứng đanh thép khẳng định rằng: Ở Việt Nam, độc lập dân tộc đã trở thành nền tảng để phát triển con người, chứ không phải là “khẩu hiệu được dựng lên để lừa dân”.
        Vì thế, luận điệu mà Nhật Ngôn đã đề cập trong bài viết là cố tình đánh tráo khái niệm để xuyên tạc, chống phá, cần bị vạch trần, bác bỏ./.

Oct 8, 2026

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Trần Đông A về Nghị quyết số 23

         Tre Việt – Ngày 24/9, trên các trang mạng phản động, như: Tiếng Dân, Việt Tân, Việt Nam Thời Báo,… đồng loạt đăng bài viết của Trần Đông A với tiêu đề: “Nghị quyết 23: Bình cũ, rượu càng cũ hơn?”, kích động, rêu rao rằng: “một chính sách được xây dựng trên những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới”. Đây là chiêu trò xuyên tạc trắng trợn nội dung Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV); xuyên tạc chính sách hòa hợp, hòa giải của Đảng, Nhà nước ta, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói chuyện
với các kiều bào tiêu biểu về dự Hội nghị người Việt Nam
ở nước ngoài toàn thế giới lần thứ IV và Diễn đàn Tri thức,
chuyên gia Việt Nam ở nước ngoài 

Cần khẳng định, Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV) về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (viết gọn là Nghị quyết 23) đã kế thừa và phát triển Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) về công tác người Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời, có sự gắn kết, liên thông với các văn bản chỉ đạo chiến lược khác trong lĩnh vực đối ngoại và hội nhập quốc tế, phù hợp với bối cảnh mới, phản ánh đầy đủ hơn vị thế, tiềm lực, trí tuệ, uy tín và khả năng đóng góp ngày càng lớn của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đối với sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Nội dung Nghị quyết 23 không thay đổi nền tảng tư tưởng của Nghị quyết, mà kế thừa toàn diện tinh thần đại đoàn kết dân tộc và phát triển lên một bước mới. Tư tưởng bao trùm của Nghị quyết 23 khẳng định: người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ là bộ phận không tách rời của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và nhấn mạnh, là một trong những nguồn lực chiến lược quan trọng, góp phần nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Đây là bước phát triển mới trong nhận thức khi cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài được nhìn nhận là một cấu phần quan trọng tạo nên sức mạnh tổng hợp quốc gia. Sức mạnh của Việt Nam giờ đây không chỉ được đo bằng những nguồn lực hiện hữu trong lãnh thổ quốc gia mà còn bao gồm nguồn lực trí tuệ, kinh tế, khoa học - công nghệ, văn hóa và quan hệ quốc tế của hơn 6,5 triệu đồng bào trên khắp thế giới. Với vị thế đó, người Việt Nam ở nước ngoài vừa là cầu nối giữa Việt Nam với thế giới, vừa là lực lượng đồng hành và tham gia trực tiếp vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc.

Bên cạnh đó, Nghị quyết 23 đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, nâng tầm tư duy từ “vận động, tập hợp, chăm lo” lên thành đồng hành, kiến tạo cơ chế để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu hơn vào hành trình hội nhập, xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Nghị quyết đặc biệt nhấn mạnh vai trò kiến tạo của Nhà nước, Chính phủ trong việc hoàn thiện các thể chế, cơ chế và chính sách để thu hút và phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài.

Về mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết 23 có 03 điểm mới, nhấn mạnh nhiệm vụ phát huy hiệu quả nguồn lực của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển nhanh, bền vững đất nước.

Về mục tiêu, Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy các nguồn lực chiến lược của người Việt Nam ở nước ngoài phục vụ phát triển đất nước, đặc biệt trong các lĩnh vực khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, trí tuệ nhân tạo (AI), bán dẫn, công nghệ sinh học và hệ sinh thái khởi nghiệp, v.v.

Về phương thức huy động nguồn lực, thay vì chủ yếu vận động, thu hút các cá nhân riêng lẻ, Nghị quyết yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu, mạng lưới và hệ sinh thái toàn cầu để kết nối chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài. Việc đóng góp của kiều bào cũng được mở rộng và linh hoạt hơn, không chỉ thông qua trở về nước làm việc trực tiếp mà còn thể hiện từ xa dưới nhiều hình thức phù hợp, hiệu quả.

Về mức độ tham gia của kiều bào, Nghị quyết chuyển từ định hướng khuyến khích đồng bào đóng góp xây dựng quê hương, đất nước sang tạo điều kiện để người Việt Nam ở nước ngoài tham gia sâu rộng hơn vào quá trình phát triển đất nước thông qua góp ý xây dựng chủ trương, chính sách, tham gia các chương trình phát triển quốc gia, tổ chức chính trị - xã hội phù hợp cũng như các hoạt động khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số.

Bên cạnh đó, Nghị quyết đề cao vai trò của cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; không chỉ là cầu nối hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam với các nước mà còn là lực lượng góp phần bảo vệ lợi ích quốc gia - dân tộc. Nghị quyết khẳng định, kiều bào là lực lượng trực tiếp tham gia đấu tranh phản bác quan điểm sai trái, thù địch, các hoạt động lợi dụng người Việt Nam ở nước ngoài để chống phá đất nước.

Nghị quyết nhấn mạnh việc phát huy vai trò của người Việt Nam ở nước ngoài là “đại sứ văn hóa, đất nước và con người Việt Nam”, góp phần nâng cao vị thế, uy tín của cộng đồng tại nước sở tại, quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và tăng cường quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế. Đây là bước phát triển mới trong tư duy khi chuyển từ mục tiêu chủ yếu gìn giữ bản sắc văn hóa, ngôn ngữ mẹ đẻ, sang phát huy văn hóa như một nguồn lực và công cụ của sức mạnh mềm quốc gia.

Nghị quyết cũng khuyến khích, hỗ trợ người Việt Nam có năng lực tham gia các tổ chức quốc tế, qua đó góp phần nâng cao vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Đồng thời, Nghị quyết dành sự quan tâm đặc biệt, hỗ trợ thế hệ trẻ người Việt Nam ở nước ngoài hiểu biết sâu sắc và gắn bó bền vững với quê hương, đất nước thông qua công tác giáo dục, các hoạt động trải nghiệm, về nguồn, học tập, khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo, tình nguyện và giao lưu nhân dân.

Như vậy, Nghị quyết 23 là một quyết sách lớn của Đảng, có ý nghĩa rất quan trọng, thể hiện tầm nhìn chiến lược, tư duy đổi mới và sự quan tâm sâu sắc của Đảng, Nhà nước đối với đồng bào Việt Nam ở nước ngoài; đồng thời cụ thể hóa các chủ trương, định hướng lớn của Đại hội XIV về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và huy động mọi nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đó không phải “bình cũ, rượu càng cũ hơn”, và cũng hoàn toàn trái ngược với luận điệu “một chính sách được xây dựng trên những tiền đề cũ rất khó tạo ra một kết quả mới” của Trần Đông A xuyên tạc, rêu rao.

Vì thế, luận điệu xuyên tạc, kích động trắng trợn này cần bị lật tẩy và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.

 

Oct 2, 2026

Không thể phủ nhận việc thực thi quyền giám sát của Nhân dân

        Tre Việt - Mới đây, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng tải bài viết: “Nói đi đôi với làm và câu chuyện giám sát người đứng đầu”, trong đó cố tình đồng nhất hoạt động “dân giám sát” với việc “tiếp nhận thông tin một chiều từ dưới lên”, “nghe để đó”, “lắng nghe hình thức”. Đây là cách nhìn phiến diện, đánh tráo giữa một khâu của quá trình giám sát với bản chất của cơ chế giám sát, giữa hạn chế trong tổ chức thực hiện với chủ trương, pháp luật về phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, cần bị vạch trần, bác bỏ. 

        Trước hết, cần khẳng định rằng: Đảng, Nhà nước ta luôn tôn trọng, lắng nghe ý kiến của Nhân dân, phát huy vai trò giám sát của Nhân dân để không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành đất nước, phục vụ Nhân dân ngày càng tốt hơn. Hiến pháp năm 2013 đã xác định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện. Đáng chú ý, tại Điều 8 đã quy định rõ: cơ quan nhà nước, cán bộ, công chức, viên chức phải tôn trọng Nhân dân, tận tụy phục vụ Nhân dân, liên hệ chặt chẽ với Nhân dân, lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của Nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp cũng xác định Mặt trận Tổ quốc Việt Nam có chức năng giám sát, phản biện xã hội.

        Trong Quyết định số 217-QĐ/TW, ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị đã chỉ rõ, mục đích của giám sát là góp phần phát hiện sai sót, khuyết điểm, yếu kém và kiến nghị sửa đổi, bổ sung chính sách; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, góp phần xây dựng Đảng, Nhà nước trong sạch, vững mạnh. 

        Như vậy, với quy trình chặt chẽ, từ theo dõi - phát hiện - xem xét - đánh giá - kiến nghị không thể đồng nhất thành “tiếp nhận thông tin một chiều”. Càng không thể vì một số ít trường hợp giải quyết kiến nghị chưa kịp thời rồi quy chụp toàn bộ cơ chế “dân giám sát” chỉ là “nghe để đó”(!).

        Thứ hai, pháp luật đã quy định Nhân dân được góp ý, kiểm tra, kiến nghị và giám sát. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 xác định thực hiện dân chủ ở cơ sở là phương thức phát huy quyền làm chủ của Nhân dân, trong đó công dân được thông tin, thể hiện ý chí, nguyện vọng, chính kiến thông qua thảo luận, tham gia ý kiến, quyết định và kiểm tra, giám sát các vấn đề ở cơ sở. Luật đã quy định công dân có quyền kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo, khởi kiện đối với những quyết định, hành vi vi phạm pháp luật về thực hiện dân chủ ở cơ sở. Đồng thời, quy định chính quyền cấp xã có trách nhiệm xem xét, giải quyết, trả lời kịp thời khiếu nại, tố cáo, kiến nghị của công dân cũng như kiến nghị của Ban Thanh tra Nhân dân, Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng, Mặt trận và các tổ chức chính trị - xã hội. Mặt trận có trách nhiệm tiếp nhận, tổng hợp phản ánh, kiến nghị của Nhân dân, chuyển đến cơ quan có thẩm quyền và giám sát quá trình giải quyết. 

        Như vậy, bài viết cho rằng chỉ có “tiếp nhận thông tin một chiều”, rồi nghi ngờ việc “dân giám sát” chỉ là “nghe để đó” là phiến diện, thiếu cơ sở.

        Thứ ba, chúng ta luôn nhìn thẳng vào sự thật, có biện pháp để thực hiện giám sát thực chất, hiệu quả hơn. Thực tế cho thấy, thời gian qua ở một số nơi, có thời điểm, việc tiếp nhận, xử lý ý kiến của Nhân dân còn chậm; đối thoại chưa sâu; việc phản hồi có lúc chưa kịp thời; hoạt động giám sát, phản biện xã hội có nơi còn hình thức. Tuy nhiên, từ Trung ương đến các địa phương đã nhìn nhận rõ hạn chế, bất cập và có sự điều chỉnh, khắc phục kịp thời. Vừa qua, Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 09-CT/TW, ngày 20/7/2026 về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc thực hiện dân chủ ở cơ sở trong giai đoạn mới. Trong đó, tiếp tục nhấn mạnh quan điểm “Dân là gốc”, xác định Nhân dân là chủ thể, là trung tâm của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời, đặt yêu cầu tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách, pháp luật để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân.

        Cùng với đó, Quốc hội đang tiếp tục xem xét sửa đổi Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở trong năm 2026 đã cho thấy đây là lĩnh vực luôn được hoàn thiện để quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện thực chất hơn. Ở nhiều địa phương, hoạt động của Ban Giám sát đầu tư của cộng đồng đã được triển khai đối với nhiều công trình, dự án; các ban giám sát phát hiện vấn đề, gửi kiến nghị đến các cơ quan liên quan. Hoạt động giám sát, phản biện xã hội còn được gắn với việc theo dõi kết quả giải quyết kiến nghị, v.v. Đây chính là minh chứng khẳng định rằng, giám sát hoàn toàn không phải là cơ chế dân chủ “hình thức”, ngược lại, Đảng, Nhà nước ta thường xuyên bổ sung, hoàn thiện, nâng cao hiệu quả hoạt động này.

        Như vậy, giám sát thực chất không phải là người dân nói càng nhiều càng tốt, cũng không phải cán bộ nghe càng nhiều càng thể hiện dân chủ. Cốt lõi nằm ở việc ý kiến của Nhân dân được tiếp nhận đúng quy định, được xem xét bằng trách nhiệm, được phản hồi, theo dõi việc giải quyết; qua đó, góp phần kiểm soát quyền lực, phòng ngừa sai phạm, củng cố niềm tin và tăng cường đồng thuận xã hội. Bởi vậy, không thể từ một số hạn chế trong thực hiện để phủ nhận cơ chế đã được Hiến pháp, pháp luật và các quy định của Đảng xác lập. Càng không thể đánh tráo giữa “lắng nghe” với “giám sát”, giữa một khâu của quy trình với toàn bộ quy trình, rồi quy kết rằng quyền giám sát của Nhân dân chỉ là “tiếp nhận thông tin một chiều”, “nghe để đó”./.


Sep 30, 2026

Việc làm rất cần thiết để siết chặt kỷ cương hoạt động báo chí

        Tre Việt - Ngày 30/9, trang facebook Việt Nam Thời Báo đăng bài viết của Lê Tự Do với tiêu đề: “Đưa tin tiêu cực có phải là “làm ảnh hưởng hình ảnh quốc gia”?”. Trong bài viết, Lê Tự Do đặt câu hỏi: “Ranh giới nào giữa việc phản ánh trung thực bất cập xã hội để xây dựng và hành vi “làm xấu hình ảnh quốc gia”?”, rồi quy chụp: “Dần dần, tiếng nói phản biện xã hội của báo chí sẽ yếu đi. Một nền báo chí chỉ toàn đưa tin “màu hồng”, né tránh góc khuất sẽ vô tình đánh mất lòng tin của độc giả”, mục đích chính là nhằm kích động, xuyên tạc nội dung Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ.

       Như thông tin được biết, ngày 25/9/2026, Chính phủ đã chính thức ban hành Nghị định số 367/2026/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí, gồm 4 Chương, 41 Điều, có hiệu lực từ ngày 26/9/2026.

Nghị định mới điều chỉnh toàn diện các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt, mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền lập biên bản và thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động báo chí in, báo điện tử, phát thanh và truyền hình, v.v.

Trong đó, Nghị định đã quy định mức phạt tiền tối đa và nguyên tắc xử phạt rất nghiêm minh. Căn cứ theo Điều 5 của Nghị định, mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực báo chí được ấn định ở mức, như sau: tổ chức vi phạm: phạt tiền tối đa lên đến 500 triệu đồng; cá nhân vi phạm: phạt tiền tối đa lên đến 250 triệu đồng. Trường hợp cá nhân thực hiện cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức. Đồng thời, theo quy định tại Điều 4, thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính đối với toàn bộ các hành vi vi phạm trong lĩnh vực báo chí là 02 năm kể từ ngày hành vi vi phạm chấm dứt hoặc được phát hiện.

Một nội dung quan trọng là Nghị định đã quy định xử lý nghiêm hành vi thông tin sai sự thật và “giật tít”, câu view làm sai lệch bản chất. Một trong những điểm trọng tâm nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội và giới làm nghề là chế tài xử lý nghiêm khắc đối với các hành vi phát tán thông tin không đúng sự thật. Theo Điều 14, các khung phạt tiền được phân cấp rõ ràng theo mức độ ảnh hưởng của hành vi. Phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng: áp dụng đối với hành vi đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng. Phạt tiền từ 60.000.000 đồng đến 80.000.000 đồng: áp dụng khi hành vi đăng tải thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống, trật tự xã hội hoặc uy tín, danh dự của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Phạt tiền từ 80.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng: áp dụng đối với trường hợp thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng rất nghiêm trọng.

Đặc biệt, để ngăn chặn triệt để tình trạng “bẫy bạn đọc” bằng các chiêu trò giật gân, thiếu chuẩn mực, quy định xử phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với hành vi minh họa, đặt tiêu đề bài viết không phù hợp với nội dung thông tin làm cho người đọc hiểu sai nội dung thực tế. Ngoài phạt tiền, cơ quan báo chí vi phạm còn buộc phải thực hiện các biện pháp khắc phục hậu quả nghiêm ngặt như cải chính, xin lỗi công khai và gỡ bỏ ngay thông tin vi phạm.

Các quy định trong Nghị định còn thể hiện sự mạnh tay để xử phạt báo chí “chui” và quản lý chặt chẽ mạng lưới liên kết. Theo đó, nhằm thiết lập trật tự kỷ cương hành chính và ngăn chặn các hành vi lách luật, giả mạo cơ quan truyền thông, khoản 5 Điều 11 của Nghị định quy định mức phạt tiền rất nặng từ 300.000.000 đồng đến 400.000.000 đồng đối với hành vi hoạt động báo chí in, báo chí điện tử, phát thanh hoặc truyền hình mà không có giấy phép hoạt động báo chí do cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền cấp theo luật định.

Bên cạnh đó, mô hình liên kết sản xuất nội dung trên các nền tảng mạng xã hội và không gian mạng cũng được đưa vào khuôn khổ giám sát chặt chẽ. Cụ thể, khoản 1 Điều 25 quy định mức phạt từ 10.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng đối với kênh liên kết không hiển thị rõ ràng tên gọi, biểu tượng (logo) của cơ quan báo chí hoặc thông tin về hợp đồng liên kết sản xuất nội dung.

Cùng với đó, Nghị định cũng xác định rõ các  quy định nhằm bảo vệ hoạt động tác nghiệp hợp pháp, trừng trị việc mạo danh, trục lợi nghề nghiệp. Văn bản thể hiện rõ tính công bằng và toàn diện khi vừa bảo vệ quyền tác nghiệp chính đáng của nhà báo, vừa siết chặt đạo đức nghề nghiệp. Theo Điều 12, cá nhân mạo danh nhà báo, phóng viên sẽ bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Hành vi lợi dụng danh nghĩa, tư cách nhà báo, phóng viên để sách nhiễu, trục lợi phi pháp mà chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự sẽ bị xử phạt từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Ngược lại, Điều 13 quy định mức phạt từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng đối với bất kỳ tổ chức, cá nhân nào có hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của phóng viên, nhà báo; mức phạt nâng lên từ 30.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng nếu có hành vi thu giữ trái phép phương tiện, trang thiết bị tác nghiệp hoặc tài liệu hoạt động báo chí.

          Như vậy, văn bản pháp lý quan trọng này được ban hành là rất cần thiết, kịp thời, nhằm cụ thể hóa và triển khai đồng bộ cùng các quy định tiến bộ tại Luật Báo chí năm 2025, cũng như Nghị định số 237/2026/NĐ-CP, ngày 26/6/2026 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Báo chí. Với hàng loạt quy định điều chỉnh thực tế, văn bản này được xem là công cụ pháp lý sắc bén để siết chặt kỷ cương hoạt động báo chí, góp phần chuẩn hóa hoạt động báo chí, nâng cao trách nhiệm giải trình và bảo đảm môi trường thông tin minh bạch, lành mạnh./.

 

 

Sep 24, 2026

Vạch trần luận điệu phủ nhận sự tự chủ chiến lược của Việt Nam

          Tre Việt - Lợi dụng sự kiện Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang có chuyến công tác, làm việc tại Hoa Kỳ và Canada, trang facebook Việt Nam Thời Báo đã tán phát bài viết: “Việt Nam: Tự chủ chiến lược hay quản trị sự lệ thuộc?”, đưa ra những nhận định suy diễn, quy chụp cho rằng Việt Nam thực chất chỉ đang “quản trị sự lệ thuộc”, qua đó phủ nhận quá trình xây dựng, củng cố năng lực tự chủ chiến lược của đất nước. Đây không những là cách nhìn phiến diện mà còn cố tình đánh tráo khái niệm, lấy những hạn chế, khó khăn trong quá trình phát triển để phủ nhận bản chất đường lối đối ngoại và phát triển của Việt Nam, cần bị vạch trần, bác bỏ. Bởi vì:

Thứ nhất, đánh tráo khái niệm đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với “quản trị sự lệ thuộc”. Cần khẳng định rằng: Đường lối đối ngoại nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; hội nhập quốc tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả; bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp quốc tế. Vì vậy, lấy việc Việt Nam mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia, tham gia nhiều cơ chế hợp tác và hội nhập quốc tế để kết luận rằng Việt Nam đang “quản trị sự lệ thuộc” là đánh tráo bản chất vấn đề.

Thực tế cho thấy, nếu một quốc gia chỉ có một thị trường, một nguồn cung, một đối tác công nghệ hoặc một kênh hợp tác duy nhất mới dễ rơi vào bị động. Ngược lại, mở rộng quan hệ với nhiều đối tác, tham gia nhiều cơ chế hợp tác, nhiều chuỗi giá trị và nhiều cơ chế hợp tác chính là tạo thêm dư địa chiến lược, giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động khó lường của môi trường quốc tế. Bởi vậy, quy kết chính sách đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam là “quản trị sự lệ thuộc” thực chất đã đảo ngược chân lý: chính việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại đã tạo thêm không gian cho tự chủ, chứ không phải mất đi sự tự chủ.

Thứ hai, lấy một số hạn chế cần khắc phục để phủ định quá trình nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam. Bài viết có đặt ra một số câu hỏi: Việt Nam đã làm chủ được công nghệ nào? Có doanh nghiệp nào tiến lên trong chuỗi giá trị? Có nguồn cung nào được đa dạng hóa?. Đây đều là những vấn đề đã được nhìn nhận và đang tiếp tục giải quyết để nâng cao năng lực tự chủ. Theo đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu. Đến nay, sau một thời gian triển khai thực hiện, Đảng ta đã có đánh giá và tiếp tục yêu cầu tập trung nguồn lực làm chủ các công nghệ chiến lược, hình thành sản phẩm cụ thể và nâng cao khả năng tự chủ quốc gia. Đồng thời, chỉ rõ việc hợp tác quốc tế phải chuyển mạnh từ trọng tâm thu hút vốn sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước. Điều đó cho thấy, Việt Nam không coi thu hút nguồn lực bên ngoài là đích đến cuối cùng mà mục tiêu là biến ngoại lực thành nội lực. Đó chính là quá trình xây dựng tự chủ trong điều kiện hội nhập, chứ không phải “quản trị sự lệ thuộc” như họ cố tình diễn giải.

Thứ ba, xuyên tạc việc tích cực, chủ động hội nhập quốc tế thành Việt Nam thiếu tự chủ chiến lược. Trong những năm qua, Việt Nam đã tích cực, chủ động mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế và các cơ chế hợp tác khu vực, toàn cầu. Song luôn giữ vững nguyên tắc, mở rộng quan hệ đối ngoại nhưng luôn tự chủ trong hoạch định chính sách; tăng cường tiếp nhận công nghệ của các nước nhưng vẫn chủ động xác định lĩnh vực nào cần ưu tiên, đối tác nào phù hợp, mức độ hợp tác đến đâu, làm thế nào để từng bước nâng cao năng lực trong nước, v.v.

Chính việc mở rộng quan hệ hợp tác với Canada, Hoa Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Liên minh châu Âu và các đối tác khác đã thúc đẩy Việt Nam phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, nhất là thương mại, đầu tư, năng lượng, công nghệ. Điều này thể hiện sự phát triển trong tư duy hội nhập, đó là: không chỉ thu hút vốn mà phải thu hút tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao; không chỉ tham gia chuỗi giá trị mà từng bước nâng cao vị trí trong chuỗi; không chỉ mở rộng thị trường mà phải củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước. Đây là sự khẳng định rằng: Việt Nam đang biến hội nhập quốc tế thành năng lực tự chủ, biến ngoại lực thành nội lực và biến lợi thế quan hệ đối ngoại thành sức mạnh quốc gia, dân tộc.

Vì thế, không một thế lực nào có thể xuyên tạc, nói xấu Việt Nam để phủ nhận quá trình xây dựng, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới./.

 

Sep 18, 2026

Bác bỏ luận điệu của RFA về cái gọi là “Tân Cương Việt Nam”

        Tre Việt - Ngày 15/9, RFA Tiếng Việt lấy chuyến thăm Khu tự trị Tân Cương của Bộ trưởng Bộ Công an Lương Tam Quang làm điểm dẫn để đăng bài viết, trong đó đặt câu hỏi: “Một số khu vực như Tây Nguyên, Tây Bắc và Miền Tây Nam Bộ có thể sẽ trở thành Tân Cương Việt Nam?”.
        Đây không phải câu hỏi vô thưởng vô phạt, mà là một cách gán ghép chính trị đáng chú ý. RFA lấy chuyến thăm Tân Cương làm điểm xuất phát, kéo Tây Nguyên, Tây Bắc và miền Tây Nam Bộ vào cùng một phép so sánh, rồi đặt ra một “kịch bản” về “Tân Cương Việt Nam”. Một sự liên tưởng khiên cưỡng được khoác lên vỏ bọc câu hỏi, dễ tạo ra cách nhìn sai lệch về những vấn đề dân tộc, vùng miền và phát triển ở Việt Nam.
        Đáng chú ý là RFA lựa chọn ba địa bàn có vị trí chiến lược, đông đồng bào dân tộc thiểu số và có những đặc điểm riêng về dân cư, văn hóa, địa lý, tôn giáo, biên giới và điều kiện phát triển. Từ những đặc điểm đó, RFA tách một số yếu tố riêng biệt khỏi bối cảnh lịch sử, chính trị, pháp lý và thực tiễn chung của đất nước, lấy cái bộ phận thay cho toàn thể, khu biệt hóa các địa bàn này như những không gian có “sự khác biệt” về chính trị. Cách đặt vấn đề ấy dễ dẫn dắt dư luận từ nhận diện khác biệt về địa lý, dân cư, văn hóa sang suy diễn về khác biệt chính trị, từ đó tiếp tục hướng tới ý niệm “tự trị” và gán ghép với mô hình “Tân Cương”. Đây chính là sự đánh tráo giữa khác biệt về điều kiện tự nhiên, xã hội với khác biệt về chế độ, chủ quyền và cấu trúc quốc gia; một cách xuyên tạc cần được nhận diện và đấu tranh kịp thời.
        Cần khẳng định dứt khoát rằng, Tây Nguyên, Tây Bắc và miền Tây Nam Bộ là những bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ Việt Nam, nơi các dân tộc cùng sinh sống, gắn bó và xây dựng đất nước. Điều 1, Hiến pháp năm 2013, khẳng định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập, có chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, hải đảo, vùng biển và vùng trời”; Khoản 1, Điều 5, xác định: “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là quốc gia thống nhất của các dân tộc cùng sinh sống trên đất nước Việt Nam”; Khoản 2, Điều 5 tiếp tục, khẳng định: “Các dân tộc bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và giúp nhau cùng phát triển; nghiêm cấm mọi hành vi kỳ thị, chia rẽ dân tộc”. Hiến pháp đồng thời quy định Nhà nước thực hiện chính sách phát triển toàn diện, tạo điều kiện để các dân tộc thiểu số phát huy nội lực, cùng phát triển với đất nước. 
        Những quy định đó xác lập rõ hai vấn đề không thể đánh tráo: Việt Nam là một quốc gia thống nhất, toàn vẹn về lãnh thổ; các dân tộc bình đẳng, đoàn kết và cùng phát triển trong quốc gia thống nhất ấy. Vì vậy, việc RFA lấy mô hình “khu tự trị Tân Cương” làm khuôn mẫu để gán ghép cho các vùng của Việt Nam là không có cơ sở hiến định, pháp lý và thực tiễn.
        Trên nền tảng Hiến định đó, quan điểm nhất quán, xuyên suốt qua các kỳ Đại hội của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm bình đẳng giữa các dân tộc, thu hẹp khoảng cách phát triển, nâng cao đời sống Nhân dân tiếp tục được Đại hội XIV nhấn mạnh và cụ thể hóa; trong đó chú trọng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, gắn phát triển kinh tế - xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Đó là định hướng xử lý những khác biệt giữa các vùng, các dân tộc bằng phát triển, công bằng và đồng thuận xã hội, chứ không phải bằng việc tạo ra “khoảng cách chính trị” hay đặt vấn đề “tự trị”.
        Những định hướng đó đang được thể chế hóa bằng các chương trình, chính sách cụ thể. Mới đây nhất, Nghị quyết số 46/2026/QH16, ngày 24/8/2026 của Quốc hội phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển văn hóa - xã hội, nông thôn, dân tộc và miền núi giai đoạn 2026 - 2035, xác định rõ mục tiêu phát triển toàn diện vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, thu hẹp chênh lệch giữa các vùng, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống, giữ gìn bản sắc văn hóa, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quyết định số 16/2026/QĐ-TTg, ngày 15/4/2026 tiếp tục quy định cơ chế phân bổ nguồn lực thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2026 - 2030, v.v. Những chính sách đó cho thấy rất rõ cách Việt Nam xử lý những khác biệt về địa lý, dân cư, văn hóa và trình độ phát triển: bằng đầu tư, an sinh, phát triển sinh kế, bảo tồn văn hóa và bảo đảm quyền bình đẳng. Vì vậy không có căn cứ để thành một “vấn đề Tân Cương” hay một yêu cầu “tự trị” ở Việt Nam.
        Thực tiễn phát triển ở chính những địa bàn trên cho thấy sự gán ghép của RFA là không phản ánh đúng đời sống Việt Nam. Theo Báo cáo số 812/BC-BDTTG, ngày 31/3/2026 của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, giai đoạn 2021 - 2025, kinh tế vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi tại Tây Bắc tăng trên 08%/năm, Tây Nguyên khoảng 7,5%/năm và Tây Nam Bộ trên 07%; tỷ lệ hộ nghèo vùng đồng bào dân tộc thiểu số giảm bình quân 3,4%/năm, thu nhập bình quân năm 2024 đạt 43,4 triệu đồng/người/năm, tăng 3,1 lần so với năm 2020. Những kết quả đó cho thấy các chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế, giảm nghèo, cải thiện hạ tầng và nâng cao đời sống Nhân dân đạt hiệu quả cao. Vì vậy, lấy những khó khăn, khác biệt vùng miền hoặc vấn đề còn cần giải quyết để dựng lên hình ảnh “Tân Cương Việt Nam” là sự suy diễn không phù hợp với thực tiễn.
        Từ những căn cứ trên, cần nhận diện rõ “Tân Cương Việt Nam” chỉ là một cách gán ghép nhằm tạo ra liên tưởng sai lệch về vấn đề dân tộc, vùng miền và chủ quyền quốc gia. Trước những luận điệu như vậy, cần tỉnh táo nhận diện âm mưu, thủ đoạn, làm rõ bản chất xuyên tạc, nâng cao cảnh giác, kịp thời đấu tranh, bác bỏ thông tin sai lệch, không để những cách đặt vấn đề thiếu căn cứ làm sai lệch nhận thức, khoét sâu chia rẽ, tác động đến khối đại đoàn kết toàn dân tộc./.

Sep 17, 2026

Không thể đồng nhất Việt Nam với mô hình Xô viết để xuyên tạc, chống phá

Tre Việt - Vừa qua, trang mạng xã hội facebook Việt Nam Thời Báo đăng tải bài viết: “Sao chép nguyên xi - thành công đến kinh ngạc của mô hình độc tài” của Nhật Ngôn. Nội dung bài viết cho rằng, một số nước trong đó có Việt Nam đã sao chép nguyên xi khuôn mẫu mô hình nhà nước độc tài toàn trị kiểu Liên Xô và tất cả đều thành công rực rỡ trong mục tiêu cốt lõi: duy trì quyền lực tuyệt đối cho một đảng duy nhất trong nhiều thập kỷ, v.v. Đây là sự đánh tráo khái niệm, xuyên tạc thực tiễn ở Việt Nam cần bị nhận diện, vạch trần, bác bỏ. Bởi vì:
Thứ nhất, muốn đánh giá một mô hình nhà nước phải căn cứ vào lịch sử hình thành, thể chế pháp lý, cơ cấu tổ chức và thực tiễn vận hành của chính quốc gia đó. Đối với Việt Nam, Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời năm 1945 là kết quả của quá trình đấu tranh lâu dài giành độc lập, tự do của toàn dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Sau đó, tiếp tục đấu tranh giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước năm 1975. Trong bối cảnh chịu sự tàn phá nặng nề của chiến tranh, bước vào quá trình tái thiết, phát triển đất nước, Đảng, Nhà nước ta đã học hỏi, vận dụng kinh nghiệm tổ chức nhà nước, phát triển kinh tế của Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa. 
Tuy nhiên, trong suốt quá trình phát triển, Đảng, Nhà nước luôn nghiên cứu, tìm tòi, phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn để xây dựng mô hình phát triển phù hợp với Việt Nam. Việc tham khảo, học hỏi kinh nghiệm quốc tế là hoàn toàn bình thường, không đồng nghĩa với sao chép, rập khuôn bất kỳ mô hình nào.
Thực tiễn công cuộc đổi mới toàn diện đất nước bắt đầu từ Đại hội Đảng VI, năm 1986 là minh chứng rõ ràng, sinh động về vấn đề này. Đến nay, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã thu được những thành tựu to lớn trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội và xây dựng, ngày càng hoàn thiện lý luận đường lối đổi mới đất nước.
        Thứ hai, không thể dùng những đặc điểm, như: công hữu hóa, nhà nước kiểm soát toàn bộ nguồn lực,... để đồng nhất mô hình Xô viết với Việt Nam. Điều 51, Hiến pháp năm 2013 xác định rõ: “Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế”. Các thành phần kinh tế là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật. Đồng thời quy định Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nhân, doanh nghiệp, cá nhân và tổ chức đầu tư, sản xuất, kinh doanh; tài sản hợp pháp được pháp luật bảo hộ. Chính Ngân hàng Thế giới đánh giá Việt Nam đã chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và nhấn mạnh tiến trình đổi mới của Việt Nam không phải là sự bắt chước, rập khuôn từ một mô hình kinh tế có sẵn.
        Thứ ba, không thể đánh đồng việc Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội để suy diễn rằng Việt Nam sao chép toàn bộ mô hình Xô viết. Hiến pháp năm 2013 đã xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội, đồng thời quy định Đảng hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Cùng với đó, Hiến pháp xác định Nhà nước bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp cũng quy định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.
        Ngay trong quá trình xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, yêu cầu kiểm soát quyền lực, hoàn thiện pháp luật, cải cách tư pháp, bảo đảm quyền con người và quyền công dân được đặt ra rõ hơn. Đây chính là tiền đề quan trọng để đất nước ngày càng phát triển, đời sống Nhân dân ngày càng được cải thiện, nâng cao; qua đó, củng cố niềm tin, sự đồng thuận của các tầng lớp Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý điều hành của Nhà nước.
        Như vậy, cần khẳng định rằng: Việt Nam có lịch sử, điều kiện phát triển, con đường lựa chọn riêng phù hợp để đất nước ngày càng phát triển, khẳng định được vị thế, uy tín trên trường quốc tế. Do đó, bài viết trên đã cố tình suy diễn, xuyên tạc nhằm thực hiện dụng ý xấu là chống phá cách mạng Việt Nam, cần bị vạch trần, bác bỏ./.

Sep 11, 2026

“Quân đội của Nhân dân” không đồng nghĩa với “phi chính trị hóa” Quân đội

        Tre Việt - Mới đây, trang facebook Chân Trời Mới Media tán phát bài viết: “Quân đội thuộc về Nhân dân không phải công cụ bảo vệ tư tưởng của bất kỳ đảng nào”; trong đó, đưa ra nhiều luận điệu xuyên tạc bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Quân đội nhân dân Việt Nam. Bài viết cho rằng: Quân đội “đang phục vụ một Đảng cầm quyền chứ không phục vụ Nhân dân”; quy kết sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội có thể dẫn đến việc sử dụng vũ lực chống Nhân dân, v.v.

        Thoạt nhìn, những luận điệu này được khoác lên cái vỏ “bảo vệ Nhân dân”, “bảo vệ lợi ích quốc gia”, nhưng thực chất là một cách nhìn phiến diện, cố tình tách Quân đội khỏi sự lãnh đạo của Đảng - nhân tố quyết định làm nên bản chất cách mạng, sức mạnh chiến đấu của Quân đội nhân dân Việt Nam. Nguy hiểm hơn, thông qua việc đánh tráo khái niệm “Quân đội của Nhân dân”, bài viết hướng tới phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, thúc đẩy “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang. Vì vậy, cần nhận diện rõ bản chất và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những quan điểm sai trái, luận điệu xuyên tạc này.

        Thứ nhất, không thể đối lập “Quân đội của Nhân dân” với sự lãnh đạo của Đảng. Cần khẳng định vấn đề có tính nguyên tắc, đó là: Quân đội nhân dân Việt Nam là Quân đội của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân, được đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hai nội dung này không hề đối lập, càng không thể lấy cái gọi là “Quân đội của Nhân dân” để phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng. Bởi vì: 

        Ngay từ khi ra đời, Quân đội nhân dân Việt Nam đã mang bản chất của một lực lượng vũ trang cách mạng, được Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức, giáo dục, rèn luyện và lãnh đạo nhằm thực hiện mục tiêu giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân và lịch sử hơn 81 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội ta đã chứng minh điều đó.

        Điều này cũng được hiến định trong văn bản pháp luật cao nhất của nước ta. Hiến pháp năm 2013 xác định: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đồng thời quy định rõ lực lượng vũ trang nhân dân tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, Nhà nước và Nhân dân; có nhiệm vụ bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội; bảo vệ Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Như vậy, Hiến pháp đã đặt các yếu tố Tổ quốc, Đảng, Nhà nước, Nhân dân và chế độ trong một chỉnh thể thống nhất, chứ không tạo ra sự đối lập giữa “Đảng” và “Nhân dân” như bài viết cố tình dựng lên.

        Thứ hai, việc phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng là phủ nhận nhân tố quyết định bản chất cách mạng của Quân đội. Bài viết cho rằng: Quân đội “phục vụ một Đảng cầm quyền chứ không phục vụ Nhân dân”. Đây là luận điệu vô cùng nguy hiểm, khi họ cố tình đồng nhất sự lãnh đạo của Đảng với việc sử dụng Quân đội như một công cụ phục vụ lợi ích riêng của một tổ chức chính trị.

        Cả lý luận và thực tiễn đã chỉ ra, sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội không phải là sự áp đặt mà được hình thành trong quá trình tổ chức, xây dựng và lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Đảng lãnh đạo Quân đội nhằm bảo đảm Quân đội giữ vững mục tiêu, lý tưởng chiến đấu, bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân và tính dân tộc; bảo đảm lực lượng vũ trang không bị phân hóa, “trung lập hóa” về chính trị hoặc trở thành công cụ của bất kỳ nhóm lợi ích nào. Đối với Quân đội nhân dân Việt Nam, bản lĩnh chính trị, lòng trung thành với Tổ quốc, với Nhân dân là yếu tố tạo nên sức mạnh tinh thần đặc biệt. Nếu tách Quân đội khỏi nền tảng chính trị, tư tưởng, thì cái bị suy yếu trước hết là khả năng giữ vững mục tiêu chiến đấu, ý chí, kỷ luật và sự thống nhất trong toàn quân.

        Trong các cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc, cán bộ, chiến sĩ Quân đội đã chiến đấu, hy sinh không phải vì đặc quyền hay lợi ích riêng, mà vì độc lập, thống nhất của Tổ quốc, vì cuộc sống bình yên của Nhân dân. Ngày nay, trong thời bình, hình ảnh người chiến sĩ có mặt ở nơi thiên tai, bão lũ, cứu hộ, cứu nạn, phòng, chống dịch bệnh, giúp Nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo,... tiếp tục chứng minh bản chất “từ Nhân dân mà ra, vì Nhân dân mà chiến đấu, phục vụ” của Quân đội ta. 

        Thứ ba, không thể suy diễn “Đảng lãnh đạo Quân đội” thành “Quân đội chống Nhân dân”. Muốn đánh giá một thiết chế chính trị - pháp lý phải căn cứ vào Hiến pháp, pháp luật, chức năng, nhiệm vụ, cơ chế tổ chức và thực tiễn hoạt động của thiết chế đó, chứ không thể lấy một kịch bản giả định để phủ nhận bản chất của nó. Trong Hiến pháp đã quy định rõ: bảo vệ Tổ quốc là sự nghiệp của toàn dân; lực lượng vũ trang nhân dân là nòng cốt của nền quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân. Đồng thời, Hiến pháp xác định lực lượng vũ trang có nhiệm vụ bảo vệ Nhân dân. Nhân dân vừa là chủ thể của sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, vừa là nguồn sức mạnh của Quân đội. Vì thế, bảo vệ Nhân dân là một trong những mục tiêu, nhiệm vụ cơ bản của Quân đội nhân dân Việt Nam.

        Hơn nữa, Quân đội hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Việc sử dụng lực lượng, phương tiện và vũ lực trong những tình huống cụ thể phải tuân thủ thẩm quyền, trình tự, quy định của pháp luật. Nhà nước pháp quyền không cho phép bất kỳ cơ quan, tổ chức hay cá nhân nào đứng ngoài pháp luật. Vì vậy, lấy nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội để suy diễn rằng Quân đội có thể tùy tiện sử dụng vũ lực chống Nhân dân là cố tình bỏ qua nguyên tắc pháp quyền và toàn bộ hệ thống tổ chức, chỉ huy, quản lý nhà nước đối với lực lượng vũ trang. 

        Như vậy, các luận điệu trong bài viết trên không phải những vấn đề rời rạc mà được liên kết với nhau nhằm thực hiện âm mưu vô cùng nguy hiểm, thâm độc là làm suy giảm niềm tin vào bản chất cách mạng của Quân đội ta, đòi “phi chính trị hóa” Quân đội,... nên chúng ta cần hết sức tỉnh táo để nhận diện, đấu tranh bác bỏ./.