Feb 14, 2026

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc: không phải “món ăn hàm thụ”

         Mỗi dịp đầu năm, khi xã hội cần sự bình tâm để nhìn lại và hướng tới tương lai, tại trang Baotiengdan lại xuất hiện bài viết mượn danh “suy nghĩ về đất nước” để phủ nhận những giá trị nền tảng đã làm nên Việt Nam hiện đại. Bài “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” của Trần Trung Đạo là một trường hợp như vậy. Từ phủ nhận ý nghĩa của “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc”, bôi nhọ vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam, cho tới cổ vũ tuổi trẻ noi theo các phong trào bất ổn ở nước ngoài. Trong đó, đáng chú ý trong bài viết có lập luận cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam giữ nguyên tên gọi “Cộng sản” để “cảnh báo nhân dân rằng nhà tù, súng đạn và trừng phạt vẫn còn đó”. Đây không chỉ là một suy diễn ác ý, mà còn là sự bóp méo thô bạo lịch sử, phủ nhận lựa chọn chính trị của dân tộc Việt Nam. 

Trước hết, cần khẳng định, tên gọi của một chính đảng là sự xác nhận công khai về cội nguồn lịch sử, nền tảng tư tưởng và mục tiêu chính trị mà đảng đó theo đuổi. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời trong bối cảnh dân tộc mất nước, tồn tại và phát triển gắn liền với những bước ngoặt có ý nghĩa sống còn của lịch sử: giành độc lập năm 1945, lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống xâm lược, thống nhất đất nước, tiến hành công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế. Việc Đảng từng mang tên Đảng Lao động Việt Nam trong một giai đoạn nhất định là sự lựa chọn phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, không phải là hành vi “đổi tên cho dễ nghe” hay “che giấu bản chất” như cách Trần Trung Đạo cố tình xuyên tạc.

Tên gọi “Đảng Cộng sản Việt Nam” vì thế không phải là để hù dọa bất kỳ ai, mà là sự tiếp nối nhất quán về tư tưởng, mục tiêu và trách nhiệm lịch sử. Trong đời sống chính trị hiện đại, không có chính đảng nào tồn tại lâu dài chỉ nhờ vào tên gọi, càng không thể duy trì vai trò cầm quyền nếu tách rời lợi ích dân tộc và sự thừa nhận của xã hội. Việc quy kết rằng giữ tên “Cộng sản” là để “cảnh báo nhân dân” phản ánh một cách nhìn đầy định kiến, đánh tráo bản chất giữa quyền lực chính trị của Đảng và quyền lực nhà nước với những tưởng tượng mang màu sắc tuyên truyền.

Luận điệu cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại nhờ “lý luận, tuyên truyền, khủng bố và chia chác” tiếp tục cho thấy cách tiếp cận cực đoan và phiến diện của tác giả. Một chính quyền nếu chỉ dựa vào trấn áp không thể duy trì ổn định xã hội trong nhiều thập kỷ, càng không thể tiến hành những cải cách sâu rộng về kinh tế - xã hội, đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng và ngày càng phát triển, mở rộng quan hệ đối ngoại và cải thiện đời sống nhân dân như thực tiễn Việt Nam đã chứng minh. Quyền lực nhà nước ở Việt Nam là quyền lực của nhân dân, được hiến định trong Hiến pháp, pháp luật và hệ thống thiết chế quản lý, chứ không vận hành bằng “nỗi sợ” gắn với tên gọi của một đảng chính trị như cách Trần Trung Đạo áp đặt.

Hai là, lập luận của tác giả tự mâu thuẫn với chính tiền đề mà ông ta đưa ra. Nếu “chủ nghĩa cộng sản đã bị văn minh nhân loại đào thải” như Trần Trung Đạo khẳng định, thì việc một đảng cầm quyền công khai mang tên Cộng sản, tồn tại hợp hiến, hợp pháp và giữ vai trò trung tâm trong đời sống chính trị quốc gia lại càng không thể bị giải thích bằng thứ ngôn ngữ kiểu “nhà tù và súng đạn”. Thực tế cho thấy, trên thế giới hiện nay vẫn tồn tại nhiều đảng cộng sản hoặc các đảng cánh tả tham gia cầm quyền với những mô hình phát triển khác nhau. Việc gán nhãn “bị đào thải” không phải là kết luận khoa học, mà là phán xét cảm tính, phi lịch sử.

Không dừng lại ở đó, Trần Trung Đạo còn phủ nhận toàn bộ chặng đường lịch sử kể từ năm 1945, cho rằng người dân Việt Nam chỉ “nghe, đọc” về độc lập, tự do, hạnh phúc chứ chưa từng “nếm mùi”, coi những giá trị này như một “món ăn hàm thụ”. Đây là cách nói vừa khiên cưỡng, vừa xúc phạm lịch sử dân tộc. Độc lập không phải là mỹ từ trừu tượng, mà là quyền tự quyết của một dân tộc từng mất nước, từng bị ngoại bang đô hộ. Tự do không phải là khẩu hiệu sáo rỗng, mà là quyền được sống trong hòa bình, lao động, học tập, sáng tạo trên chính mảnh đất của mình. Hạnh phúc không phải là trạng thái hoàn hảo tuyệt đối, mà là những thành quả cụ thể, tích lũy qua thời gian: Xóa nạn mù chữ, phổ cập giáo dục, mở rộng chăm sóc y tế, nâng cao tuổi thọ, giảm nghèo bền vững và gia tăng cơ hội phát triển cho người dân.

Gọi tất cả những thành tựu đó là “hàm thụ” chỉ có thể xuất phát từ cái nhìn của những người đứng ngoài lịch sử, chứ không phải từ trải nghiệm của một dân tộc đã đi qua chiến tranh, đói nghèo và tái thiết. Sự phủ nhận trắng trợn này không chỉ bóp méo thực tế phát triển của đất nước, mà còn xúc phạm tới hàng triệu người Việt Nam đã hy sinh xương máu cho độc lập, tự do của dân tộc.

Tóm lại, bài viết “Đầu năm suy nghĩ về đất nước” là một chuỗi phủ định có chủ đích: Phủ định giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc, phủ định vai trò lịch sử của Đảng Cộng sản Việt Nam và phủ định con đường phát triển mà dân tộc đã lựa chọn. Những luận điệu này càng cho thấy cách nhìn phiến diện của những kẻ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân, nên bị đấu tranh bác bỏ là lẽ đương nhiên./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Nhìn nhận khách quan về công tác nhân sự sau Đại hội XIV của Đảng

         Ngày 31/01/2026, Nguyễn Thiều Quang đăng tải bài viết trên trang Baotiengdan.com với tiêu đề: “Những cú ‘Sốc Hàng’ ở Việt Nam hậu Đại hội XIV”, trong đó đưa ra những nhận định mang tính quy chụp, suy diễn về công tác cán bộ của Đảng và Nhà nước ta. Đáng chú ý, bài viết xuất hiện ngay thời điểm sau 1 tuần chúng ta vừa tổ chức thành công Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng - một sự kiện chính trị trọng đại của đất nước. Việc đưa ra những luận điệu thiếu khách quan, ám chỉ tiêu cực về công tác nhân sự không chỉ làm sai lệch bản chất vấn đề mà còn dễ gây hoài nghi trong dư luận.

Trong bài viết, Nguyễn Thiều Quang nêu quan điểm “Con lãnh đạo làm lãnh đạo - Tập quyền, chính danh và giới hạn chịu đựng của xã hội”, viện dẫn câu “Con vua rồi lại làm vua” và cho rằng “quyền lực, khi đã lên cao, thường có xu hướng tự tái sản sinh trong phạm vi gia đình và mạng lưới thân cận”; đồng thời, dẫn ra một số trường hợp con của nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước tham gia Ban Chấp hành Trung ương hoặc giữ vị trí quan trọng. Từ đó, tác giả ngầm quy kết rằng ở Việt Nam tồn tại hiện tượng “cha truyền con nối” trong công tác cán bộ. Đây là cách lập luận phiến diện, thiếu toàn diện và chưa phản ánh đúng cơ chế lựa chọn, bổ nhiệm cán bộ ở nước ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng, công tác cán bộ ở Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ về tiêu chuẩn, điều kiện, quy trình và sự giám sát nhiều cấp. Việc bổ nhiệm, giới thiệu nhân sự vào các vị trí lãnh đạo không dựa trên yếu tố quan hệ gia đình, mà phải đáp ứng các tiêu chí về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực chuyên môn, kinh nghiệm công tác và uy tín trong tập thể. Quy trình này bao gồm nhiều bước như quy hoạch, đào tạo, luân chuyển, đánh giá, lấy ý kiến tập thể và bỏ phiếu tín nhiệm. Không có quy định nào mặc nhiên trao quyền lãnh đạo chỉ vì là “con của lãnh đạo”.

Câu hỏi đặt ra là: chẳng lẽ con của lãnh đạo thì không được tham gia bộ máy lãnh đạo? Trong một xã hội pháp quyền, mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và có quyền phấn đấu, cống hiến nếu đáp ứng đủ tiêu chuẩn. Việc một cá nhân có xuất thân là con của lãnh đạo không đồng nghĩa với việc họ đương nhiên được ưu ái; đồng thời cũng không thể vì lý do xuất thân mà tước đi cơ hội chính đáng nếu họ có đủ năng lực và phẩm chất. Đánh giá một cán bộ cần dựa trên quá trình công tác, kết quả thực hiện nhiệm vụ và sự tín nhiệm của tổ chức, thay vì quy kết dựa trên quan hệ gia đình. Bài viết chỉ viện dẫn một vài trường hợp cá biệt để khái quát thành bản chất của cả hệ thống là cách lập luận thiếu khách quan. Nếu nhìn tổng thể đội ngũ lãnh đạo cấp cao của Việt Nam qua nhiều nhiệm kỳ, có thể thấy phần lớn có xuất thân từ gia đình nông dân, công nhân hoặc cán bộ, công chức bình thường. Nhiều lãnh đạo trưởng thành từ cơ sở, trải qua quá trình rèn luyện lâu dài trong thực tiễn. Điều này phản ánh tính mở và sự cạnh tranh trong công tác cán bộ, chứ không phải mô hình “cha truyền con nối”.

Ngay cả ở các quốc gia phát triển, việc các thành viên trong cùng một gia đình tham gia chính trường cũng không phải là hiện tượng hiếm gặp. Ví dụ, Hoa Kỳ từng có hai cha con đều giữ cương vị Tổng thống. Tuy nhiên, không vì thế mà có thể khẳng định đó là cơ chế “cha truyền con nối”, bởi mỗi cá nhân đều phải trải qua bầu cử, cạnh tranh chính trị và đáp ứng các yêu cầu pháp lý. Như vậy, việc có quan hệ gia đình với người từng giữ chức vụ cao không phải là bằng chứng tự thân của tập quyền hay tái sản sinh quyền lực. Trong xã hội hiện đại, cả ở Việt Nam và nhiều quốc gia khác, yếu tố quyết định để một cá nhân trở thành lãnh đạo vẫn là năng lực, uy tín và sự tín nhiệm của tổ chức hoặc cử tri. Hệ thống chính trị Việt Nam đang tiếp tục hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, tăng cường minh bạch, phòng chống tham nhũng và tiêu cực trong công tác cán bộ. Nhiều vụ việc sai phạm, kể cả liên quan đến cán bộ có vị trí cao, đã bị xử lý nghiêm minh, thể hiện quyết tâm không có “vùng cấm” hay ngoại lệ. Điều đó cho thấy hệ thống không dung túng cho việc lợi dụng vị trí gia đình để trục lợi hay thao túng quyền lực.

Có thể khẳng định rằng, việc suy diễn từ một số trường hợp cụ thể để kết luận tồn tại hiện tượng “con lãnh đạo làm lãnh đạo” như một quy luật phổ biến là cách tiếp cận thiếu căn cứ và mang tính quy chụp. Trong một xã hội pháp quyền, điều quan trọng không phải là xuất thân của cá nhân, mà là họ có đáp ứng đầy đủ tiêu chuẩn và hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao hay không. Đại hội XIV của Đảng được tổ chức trên tinh thần dân chủ, kỷ cương, đoàn kết và phát triển. Công tác nhân sự được chuẩn bị công phu, bảo đảm nguyên tắc tập trung dân chủ và sự lựa chọn những người đủ đức, đủ tài để lãnh đạo đất nước trong giai đoạn mới. Những luận điệu xuyên tạc, quy kết thiếu cơ sở không thể phủ nhận nỗ lực hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ của Đảng và Nhà nước ta./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)