Mar 2, 2026

Sự phi lý của luận điệu: bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh, không có tự do lựa chọn”

          Sau thành công rực rỡ của Đại hội XIV của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động không ngừng gia tăng hoạt động “diễn biến hòa bình”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trên không gian mạng nhằm phá hoại việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XIV và cản trở cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031.

Luận điệu xuyên tạc bản chất dân chủ của chế độ ta, đặc biệt xoay quanh cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp lần này, đã và đang trở thành mũi nhọn tấn công trực diện vào tính chính danh của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Nếu không kịp thời nhận diện đúng và đấu tranh phản bác thấu đáo, những luận điệu sai trái ấy có cơ hội bùng phát, tiếp tục gieo rắc “nọc độc” vào tâm lý hoài nghi, nhất là trong một bộ phận thanh niên – lực lượng thường xuyên tiếp cận thông tin đa chiều nhưng chưa đủ trải nghiệm để “lọc nhiễu” sẽ gây tác hại vô cùng to lớn: “làm ô nhiễm những bộ óc non trẻ” với sự tổn thương lớn lao, khôn lường.

1. Lại luận điệu cũ: “bầu cử là hình thức”, “đảng cử dân bầu” và sự so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây.  Một trong những chiêu bài quen thuộc là gán ghép rằng, bầu cử ở Việt Nam “không có cạnh tranh”, “không có tự do lựa chọn”, rằng đó chỉ là “đảng cử dân bầu”, “việc làm hình thức, gây tốn tiền thuế của dân”, “chưa bầu đã biết các đại biểu gật”, v.v. Thực chất, đây là sự đánh tráo khái niệm, cố tình đồng nhất dân chủ với mô hình đa đảng phương Tây, rồi lấy đó làm thước đo duy nhất để la ó rùm beng.

Theo Hiến pháp năm 2013 và Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, mọi công dân đủ điều kiện đều có quyền ứng cử, tự ứng cử và bầu cử. Thực tế các kỳ bầu cử trước đây cho thấy, số lượng người ứng cử luôn cao hơn số đại biểu được bầu; danh sách chính thức được chốt qua nhiều vòng hiệp thương, bảo đảm cơ cấu nhưng vẫn có sự lựa chọn thực chất. Tỷ lệ cử tri tham gia bầu cử các nhiệm kỳ trước luôn đạt trên 99%. Đây là một con số biết nói về niềm tin và trách nhiệm chính trị của Nhân dân.

Những kẻ tung tin “không có cạnh tranh” đã “đội mũ ni che tai”, cố tình làm ngơ, bỏ qua thực tế rằng, cạnh tranh trong bầu cử ở Việt Nam không phải là sự đối đầu đảng phái, mà là sự lựa chọn giữa những cá nhân đủ đức, đủ sức, đủ tài, được Nhân dân tín nhiệm. Dân chủ xã hội chủ nghĩa không đặt trọng tâm ở sự “đấu khẩu” hay vận động tranh cử tốn kém hàng triệu đô la, kéo dài vài tháng, mà ở quyền làm chủ thực chất của Nhân dân đối với Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.

Ai đó đã so sánh máy móc với mô hình đa đảng phương Tây là cách lập luận khiên cưỡng. Mỗi quốc gia, dân tộc có lịch sử, điều kiện chính trị - xã hội khác nhau; nhận thức, hiểu biết khác nhau. Dân chủ không phải là “đồng phục chính trị” - những bộ quần áo đã may sẵn một cỡ cho tất cả các nước; một cờ giầy cho tất cả các đôi chân. Lịch sử đã chứng minh, có những quốc gia đa đảng nhưng chia rẽ, bất ổn kéo dài; cũng có những quốc gia một đảng lãnh đạo nhưng xã hội ổn định, phát triển, đời sống nhân dân được nâng cao. Vấn đề cốt lõi không phải “mấy đảng”, mà là quyền lực có thực sự thuộc về Nhân dân hay không, dân có thực sự làm chủ hay không.

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”. Đó là tinh thần xuyên suốt của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Quyền lực nhà nước là của Nhân dân, do Nhân dân ủy quyền thông qua bầu cử; không một tổ chức hay cá nhân nào đứng ngoài hay đứng trên nhân dân.

2. Phủ nhận vai trò hiệp thương và lấy ý kiến cử tri – sự bóp méo trắng trợn quy trình dân chủ. Một luận điệu khác là cố tình phủ nhận vai trò của hiệp thương, cho rằng, đó chỉ là “thủ tục hợp thức hóa”, “bịt mắt dân”. Thực chất, quy trình hiệp thương do Mặt trận Tổ quốc Việt Nam chủ trì là điểm đặc thù và là giá trị dân chủ sâu sắc của chế độ ta.

Hiệp thương không phải “đóng cửa bảo nhau”, mà diễn ra qua nhiều vòng: thỏa thuận cơ cấu, giới thiệu người ứng cử; lấy ý kiến nhận xét, tín nhiệm của cử tri nơi cư trú và nơi công tác; tổ chức hội nghị cử tri; tổng hợp, công khai danh sách sơ bộ và chính thức. Ở mỗi khâu, cử tri có quyền phát biểu, nhận xét thẳng thắn về phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống, năng lực công tác của người ứng cử. Không ít trường hợp người ứng cử đã không đạt được tín nhiệm cần thiết và phải rút khỏi danh sách.

Việc lấy ý kiến cử tri nơi cư trú và nơi công tác chính là “bộ lọc xã hội” quan trọng, bảo đảm người được giới thiệu không chỉ “đúng quy trình” mà còn “hợp ý Đảng - lòng Dân”. Đó là cơ chế giám sát ngay từ đầu vào, phòng ngừa nguy cơ “lọt lưới” những người không đủ tiêu chuẩn.

Những người phủ nhận kết quả Hội nghị hiệp thương thường né tránh thực tế rằng, nếu không có quy trình này, danh sách ứng cử có thể bị chi phối bởi tiền bạc, truyền thông hoặc các nhóm lợi ích. Ở nhiều nước, vận động tranh cử gắn với tài trợ tài chính lớn, tạo ra khoảng cách giữa người có điều kiện và người không có điều kiện; kẻ giầu và người nghèo. Trong khi đó, mô hình hiệp thương ở Việt Nam hướng đến sự cân bằng giữa tiêu chuẩn, cơ cấu và tín nhiệm xã hội.

Dân chủ xã hội chủ nghĩa không phải là cuộc thi “ai nói hay hơn”, “diễn thuyết hùng biện hơn”, mà là quá trình lựa chọn người đại diện xứng đáng thông qua sự thẩm định của công chúng, cộng đồng. Bản chất của nó là dân chủ có tổ chức, có kỷ cương, có nền nếp, chứ không phải dân chủ vô chính phủ, “nói một đằng, làm một nẻo”.

3. Thổi phồng cá biệt để quy chụp toàn hệ thống - thủ pháp quen thuộc cần vạch trần sự giả dối. Một chiêu thức nữa là thổi phồng, bóp méo một vài trường hợp cá biệt như khi có đại biểu vi phạm pháp luật, bị bãi nhiệm, rồi quy chụp rằng, toàn bộ hệ thống “thiếu dân chủ”, “thiếu minh bạch”. Đây là lối suy luận “vơ đũa cả nắm”, thiếu cơ sở khoa học và thiếu thiện chí; không thể chấp nhận.

Chúng ta đều biết, trong bất kỳ hệ thống chính trị nào, không thể tránh khỏi sai sót cá nhân. Vấn đề quan trọng là cơ chế xử lý có nghiêm minh hay không; có hợp với lòng dân, vận nước hay không. Thực tế cho thấy, khi có vi phạm hoặc sai sót, các cơ quan có thẩm quyền đã xem xét, xử lý kịp thời, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự nếu cần thiết, đúng với người, hợp với việc. Chính việc công khai xử lý sai phạm lại chứng tỏ cơ chế kiểm soát quyền lực đang vận hành thống nhất, hiệu quả.

Nếu lấy một vài hiện tượng tiêu cực để phủ định cả nền dân chủ, thì đó không phải “phản biện xây dựng”, mà là cố tình phá hoại niềm tin xã hội, gây rối lòng dân. Điều đó giống như thấy một chiếc lá úa mà kết luận cả khu rừng đã chết. Đó là cách nhìn phiến diện, một chiều, “thấy màu đỏ tưởng đã chín”, “nhìn gà hóa cuốc”.

Đấu tranh với những luận điệu sai trái, phản nhân văn, xuyên tạc về bầu cử không chỉ là trách nhiệm công dân trong bảo vệ một quy trình pháp lý, mà là bảo vệ nền tảng chính trị, bảo vệ niềm tin của Nhân dân vào chế độ. Dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không rập khuôn máy móc theo mô hình nào, mà được hình thành từ thực tiễn cách mạng, từ tư tưởng “dân là gốc”,  “lấy Nhân dân làm trung tâm” của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng ta.

Đấu tranh bác bỏ quan điểm sai trái; giữ vững và làm sáng rõ bản chất dân chủ xã hội chủ nghĩa chính là cách tốt nhất để phản bác mọi luận điệu sai trái, chống phá bầu cử. Bởi lẽ, khi Nhân dân thực sự là chủ, làm chủ, tức là khi “bao nhiêu quyền hạn đều của dân, thuộc về dân”, thì mọi sự xuyên tạc, dù ồn ào đến đâu, xảo trá đến mức nào, cũng chỉ là tiếng vọng lạc lõng trước niềm tin và thực tiễn sống động của đất nước.

Kết luận: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031, không chỉ là một sự kiện chính trị thường kỳ theo luật định, mà là biểu hiện tập trung của quyền làm chủ của Nhân dân trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân ở Việt Nam. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận bản chất dân chủ của chế độ thực chất nhằm đánh vào niềm tin - nền tảng chính trị - tinh thần của xã hội ta. Nhưng niềm tin của Nhân dân không được xây dựng bằng khẩu hiệu, mà bằng thực tiễn sinh động của mỗi kỳ bầu cử với tỷ lệ cử tri tham gia rất cao, bằng quy trình hiệp thương dân chủ, công khai, minh bạch và bằng trách nhiệm chính trị ngày càng được nâng cao của mỗi công dân.

Tính tất yếu khách quan của cuộc Bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026-2031 nằm ở yêu cầu xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân trong kỷ nguyên phát triển mới. Khi đất nước bước vào thời kỳ hội nhập sâu rộng, càng cần một Quốc hội và Hội đồng nhân dân đủ tâm, đủ tầm, đủ tuệ; được Nhân dân ủng hộ và tín nhiệm cao.

Thông điệp cốt lõi là: bảo vệ bầu cử chính là bảo vệ quyền làm chủ của chính mình, của gia đình mình, của quốc gia - dân tộc mình. Niềm tin của Nhân dân sẽ tiếp tục là sức mạnh vững chắc làm thất bại mọi sự xuyên tạc, gieo rắc hoài nghi, bi quan; sự chống phá của các thế lực thù địch, phản động và bọn cơ hội chính trị./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

Nhận diện thủ đoạn bôi nhọ lãnh đạo Việt Nam qua xung đột quân sự tại Iran

          Trong thời điểm diễn biến tại Trung Đông, đặc biệt xoay quanh xung đột quân sự liên quan tới Iran, một số luồng thông tin sai lệch đã xuất hiện nhằm so sánh lãnh đạo Việt Nam với lãnh tụ Iran. Những so sánh này được gắn với mục đích bôi nhọ, kích động cảm xúc tiêu cực, và đặt ra những ám chỉ sai lệch về đường lối lãnh đạo của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhưng khi nhìn vào thực tiễn chính trị - đối ngoại của Việt Nam, nhận định ấy không chỉ phi lý mà còn chứng tỏ sự hiểu sai bản chất đường lối chính trị của dân tộc ta.

Trước hết, cần khẳng định rằng so sánh lãnh đạo quốc gia một cách tùy tiện, đặc biệt trong bối cảnh nhạy cảm của xung đột quốc tế, là thao tác tuyên truyền thiếu trách nhiệm và dễ dẫn đến hiểu lầm trong dư luận. Lãnh đạo Việt Nam, được bầu chọn theo Hiến pháp và pháp luật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, luôn được đặt trong hệ thống quyền lực tập thể của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội và Chính phủ, dưới sự giám sát của nhân dân. Đây là mô hình chính trị khác xa với cấu trúc quyền lực cá nhân hoặc gia đình trị thường được ghi nhận trong một số nước Trung Đông.

Trong khi đó, Iran có một hệ thống chính trị đặc thù với vị trí người đứng đầu tôn giáo (Supreme Leader) nắm giữ quyền lực cực kỳ rộng lớn trong nhiều thập kỷ. Việc so sánh vai trò và tính chất lãnh đạo giữa hai hệ thống chính trị khác biệt này là thiếu cơ sở khoa học và dễ dẫn đến nhận thức sai lệch. Điều này không phải chỉ là vấn đề học thuật, mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới hình ảnh và niềm tin xã hội vào lãnh đạo đất nước.

Một luận điệu phổ biến trên mạng là “Tổng Bí thư Việt Nam giống lãnh tụ Iran vì cả hai đều định hướng chiến lược quốc gia”. Đây là cách dựng chuyện lẫn lộn hai mô hình chính trị hoàn toàn khác nhau. Nước ta thực thi nguyên tắc tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách, đảm bảo quyền lực không bị tập trung vào một cá nhân duy nhất; đây là nguyên lý “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý” thể hiện trong Hiến pháp Việt Nam. Ngược lại, trong hệ thống chính trị của Iran, chức danh Lãnh tụ Tối cao có quyền lực vượt trội và kéo dài trọn đời, không chịu sự giám sát và bầu cử phổ thông theo mô hình đa đảng.

Thực tế đối ngoại gần đây của Việt Nam cũng minh chứng đường lối lãnh đạo đúng đắn và chủ động. Trong bối cảnh xung đột Iran và căng thẳng khu vực Trung Đông leo thang, Việt Nam đã giữ thái độ cân bằng, tôn trọng luật pháp quốc tế và kêu gọi giải quyết tranh chấp bằng con đường hòa bình, phù hợp với nguyên tắc của Hiến chương Liên hợp quốc và truyền thống đối ngoại lâu đời của dân tộc. Đây là biểu hiện của một đường lối lãnh đạo không dựa trên cá nhân mà là nguyên tắc tỉnh táo, phù hợp với lợi ích quốc gia. Những thông điệp chính thức từ Bộ Ngoại giao Việt Nam nhấn mạnh toàn diện, minh bạch quan điểm này trong nhiều tuyên bố gần đây, đặc biệt khi nói tới quyền chủ quyền và hòa bình trong khu vực.

Một số đối tượng lại cố tình sử dụng chiêu bài “so sánh lãnh đạo” nhằm gây hoang mang, đẩy nhận thức của người dân đi lệch khỏi thực tế. Họ cố tạo ra một tương quan giữa hai hình mẫu lãnh đạo mà thực chất không thể đặt cạnh nhau. Bởi một bên là nhà lãnh đạo trong hệ thống chính trị đa thành phần, được kiểm soát bởi luật pháp và phản ánh ý chí của nhân dân, còn bên kia là mô hình quyền lực tập trung và mang tính thần quyền. Việc ghép nối này chỉ nhằm mục đích tuyên truyền và hạ thấp hình ảnh lãnh đạo thực tế, không hề phản ánh bản chất chính trị, pháp lý hay đạo đức lãnh đạo.

Quan trọng hơn, những so sánh như vậy thường xuất hiện vào thời điểm nhạy cảm nhằm lợi dụng biến động quốc tế để gây bất ổn trong nhận thức xã hội. Từ đó lan truyền thông tin sai lệch về tính hiệu quả, bản lĩnh và trách nhiệm lãnh đạo trong việc đưa đất nước vượt qua khó khăn. Trên thực tế, qua các giai đoạn phát triển và hội nhập sâu rộng, Việt Nam luôn thể hiện sự nhất quán trong hoạch định chính sách: giữ vững hòa bình, bảo vệ quyền lợi quốc gia; tăng cường vai trò đối ngoại độc lập; và không để bị lôi kéo vào các liên minh mang tính đối đầu chiến lược.

So sánh giữa các hệ thống lãnh đạo quốc gia là một chủ đề nghiên cứu hay đối thoại chính trị, nhưng việc áp đặt, đặc biệt trong truyền thông thiếu kiểm chứng, là hành vi thiếu trách nhiệm và nguy hiểm. Đặc biệt trong kỷ nguyên thông tin với sự lan truyền nhanh của mạng xã hội, mỗi chúng ta cần cẩn trọng hơn trước những luận điệu đơn giản hóa, cố tình bóp méo thực tế để phục vụ mục tiêu tuyên truyền.

Nhìn từ xung đột Iran, chúng ta càng thấy rõ hơn sự khác biệt căn bản giữa những mô hình chính trị, đường lối lãnh đạo và cách thức điều hành đất nước. Nhận diện đúng bản chất sẽ giúp công chúng không bị cuốn theo các luận điệu sai lệch, mà giữ được cái nhìn thấu suốt về các vấn đề đối ngoại - chính trị. Một xã hội tỉnh táo thông tin là nền tảng để bảo vệ niềm tin vào lãnh đạo, đồng thời giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội.

Việc hiểu đúng, đánh giá đúng vai trò lãnh đạo của mỗi quốc gia trong bối cảnh toàn cầu biến động là điều hết sức quan trọng. Chúng ta không thể, và không nên, mang những hình ảnh lãnh đạo từ những thể chế khác nhau ra để so sánh một cách thiếu căn cứ. Việc đó không chỉ sai lệch về mặt chính trị học, mà còn có nguy cơ đánh lừa nhận thức xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến niềm tin của nhân dân vào hệ thống lãnh đạo đất nước - điều đang rất cần được củng cố trong thời đại cạnh tranh thông tin hiện nay./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)