Apr 20, 2026

Tự do báo chí, hay tự do xuyên tạc?

           Trên trang Baoquocdan, bút danh Lê Phi có bài viết: “Cái bẫy vô minh thể chế”, từ đó đưa ra những luận điệu xuyên tạc rằng: Việt Nam tuy có hệ thống báo chí nhưng “không có tự do ngôn luận, tự do báo chí”, dẫn tới hạn chế nhận thức xã hội; sự “thiếu hiểu biết” trở thành đặc điểm cấu trúc do hệ thống thông tin bị kiểm soát, từ đó kìm hãm phát triển dài hạn. Nhìn bề ngoài, lập luận có vẻ logic, “khoa học”. Nhưng đi sâu sẽ thấy, thực chất đây là sự xuyên tạc trắng trợn, vu khống theo kiểu lập luận phiến diện, đánh tráo khái niệm và suy diễn chủ quan.

Thứ nhất, Lê Phi vu khống “Việt Nam không có tự do báo chí”. Lê Phi cố tình sử dụng con số “hơn 880 cơ quan báo chí, hơn 70 đài phát thanh - truyền hình” như một tiền đề, rồi phủ định toàn bộ bằng kết luận “không có tự do”. Đây là thủ pháp quen thuộc: đưa ra một thực tế hiển nhiên, sau đó gán cho nó một ý nghĩa hoàn toàn trái ngược để tạo cảm giác “nghịch lý”. Thực chất, là sự ngụy biện trơ tráo, Lê Phi đã cố tình đánh tráo giữa “tự do có trách nhiệm”“tự do vô điều kiện”, rồi lấy cái không tồn tại để phủ định cái đang tồn tại.

Nhưng vấn đề nằm ở chỗ: tự do báo chí không đồng nghĩa với tự do vô chính phủ, bỏ qua việc quản lý, kiểm duyệt thông tin. Ở bất kỳ quốc gia nào, kể cả những nước được coi là “chuẩn mực tự do”, báo chí vẫn vận hành trong khuôn khổ pháp luật, chuẩn mực đạo đức và lợi ích quốc gia. Không có một mô hình “tự do tuyệt đối” nào tồn tại ngoài lý thuyết. Ở Việt Nam, báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước và diễn đàn của Nhân dân. Điều này không phải là hạn chế, mà là định hướng chính trị - xã hội phù hợp với đặc thù chế độ.

Thực tiễn cho thấy, báo chí Việt Nam không hề “câm lặng” như cách Lê Phi ám chỉ trong bài viết. Ngược lại, hàng loạt vụ việc tiêu cực, tham nhũng, sai phạm trong quản lý đã được báo chí phản ánh, góp phần thúc đẩy xử lý kỷ luật và hoàn thiện thể chế. Nếu “không có tự do”, liệu những vụ án lớn, những sai phạm trong bộ máy có được phanh phui công khai? Hay chính điều đó lại chứng minh rằng tự do báo chí ở Việt Nam là tự do trong khuôn khổ, có trách nhiệm, chứ không phải tự do vô pháp, vi phạm đạo đức, quy tắc xã hội dẫn tới hỗn loạn thông tin.

Thứ hai, Lê Phi huyễn hoặc về cái gọi là “vô minh thể chế”. Lê Phi đã mượn ý tưởng, khái niệm về thể chế và thông tin để đưa ra kết luận rằng xã hội Việt Nam bị hạn chế nhận thức do “cấu trúc thông tin”, do thể chế. Nhưng Y đã cố tình lờ đi thực tế rằng nhận thức xã hội không chỉ phụ thuộc vào kênh cung cấp thông tin chính thức, mà còn đến từ nhiều nguồn đa dạng.

Trong bối cảnh hiện nay, internet, mạng xã hội, nền tảng xuyên biên giới phát triển mạnh mẽ, người dân Việt Nam có thể tiếp cận thông tin từ khắp nơi trên thế giới. Chính Lê Phi cũng thừa nhận điều này trong bài viết, nhưng lại rơi vào một nghịch lý: vừa nói “thông tin bị hạn chế”, vừa thừa nhận “ai cũng có thể đọc báo quốc tế, xem YouTube”, v.v. Vậy rốt cuộc là thiếu thông tin hay thừa thông tin?

Thực tế cho thấy, vấn đề của thời đại không phải là thiếu thông tin, mà là thừa thông tin, nhiễu thông tin và thông tin sai lệch. Khi đó, vai trò của hệ thống báo chí chính thống và quản lý thông tin không phải là “làm nghèo nhận thức”, mà là định hướng, sàng lọc và bảo đảm độ tin cậy của thông tin. Nếu buông lỏng hoàn toàn, cái gọi là “đa dạng thông tin” rất dễ biến thành “hỗn loạn thông tin”, nơi tin giả, tin độc hại lấn át sự thật. Khi đó, “vô minh” không phải do thể chế tạo ra, mà do thiếu cơ chế kiểm chứng và dẫn dắt thông tin. Nói cách khác, Lê Phi đã nhìn nhận một chiều khi coi mọi sự quản lý là hạn chế, mà không thấy rằng chính sự thiếu quản lý mới là mảnh đất màu mỡ cho sự sai lệch nhận thức.

Những luận điểm xuyên tạc, vu khống của Lê Phi về vấn đề “không có tự do báo ch픓vô minh thể chế” thực chất dựa trên những tiền đề phiến diện và cách suy luận thiếu toàn diện. Chúng cố tình bỏ qua đặc thù chế độ chính trị - xã hội, đánh tráo khái niệm “tự do” và đơn giản hóa một vấn đề phức tạp thành những kết luận đơn giản dễ gây hiểu lầm. Cái đáng nói không phải là việc đặt vấn đề bởi phản biện luôn là điều cần thiết. Nhưng phản biện mà dựa trên cách nhìn một chiều, phiến diện, quy chụp, vu khống như Lê Phi thì rất cần lên án, đấu tranh, bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Thành công chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là không thể phủ nhận

            Chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam đã thành công tốt đẹp. Một tầm cao mới trong quan hệ hữu nghị, hợp tác giữa Việt Nam và Trung Quốc đã mở ra sau chuyến thăm có ý nghĩa lịch sử này. Đồng thời, khẳng định sự tin cậy chính trị giữa hai bên được tăng cường, tiếp tục phát huy vai trò gắn kết, định hướng chiến lược và tiếp tục làm sâu sắc quan hệ Đối tác hợp tác Chiến lược Toàn diện, thúc đẩy xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai có ý nghĩa chiến lược ở mức độ cao hơn trong thời kỳ mới, “đóng góp tích cực cho phát huy truyền thống hữu nghị Việt - Trung, đẩy nhanh xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, thúc đẩy hòa bình, ổn định và phát triển, phồn vinh của khu vực và thế giới” như Tuyên bố chung Việt Nam – Trung Quốc đã công bố ngày 17/4/2026 (Tuyên bố chung năm 2026).

Thành công là không thể phủ nhận và kết quả đạt được từ chuyến thăm Trung Quốc này của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm thể hiện qua lễ đón trọng thị cấp Nhà nước; hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình và hội kiến với các lãnh đạo khác của Trung Quốc; các hoạt động dày đặc; chứng kiến Lễ ký kết các văn bản thỏa thuận hợp tác trên các lĩnh vực (kênh Đảng, quốc phong, an ninh, tư pháp, kinh tế, khoa học công nghệ, chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng, dân sinh, truyền thông và địa phương,…) không chỉ thể hiện thành quả toàn diện mà hai bên đạt được trong chuyến thăm này, mà còn đồng thời bác bỏ những thông tin xuyên tạc, bịa đặt của tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ; tài khoản fb “Hạt Lúa Kẻ Gai”, “Nhật ký yêu nước”, Trân Văn, Lê Anh, Nguyễn Văn Đài,… khi cố tình kích động dư luận bằng những luận điệu phản động, như: “Tô Lâm lệ thuộc Trung Quốc” nên đã vội đi “bái kiến thiên triều”, “chầu họ Tập”, “nhận sắc phong”, “đi xin chỉ thị”, v.v. 

Thứ nhất, khẳng định chắc chắn rằng, chuyến thăm cấp Nhà nước đến pTrung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và Phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam không phải vì “lệ thuộc” mà là chủ động “lựa chọn”; không phải đi “bái kiến” mà là “thăm cấp Nhà nước”; không phải “xin chỉ thị” mà là “hội đàm và ký kết”. Bởi thực tế cho thấy, việc lựa chọn thăm Trung Quốc sau khi được Đại hội XIV và Quốc hội khóa XVI bầu làm Tổng Bí thư, Chủ tịch nước không chỉ thể hiện rõ tầm nhìn, bản lĩnh, quan điểm ưu tiên đối ngoại, phản ánh xu hướng tăng cường quan hệ giữa hai nước của người đứng đầu Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với sự phát triển của Việt Nam trong bối cảnh thế giới nhiều diễn tiến phức tạp và đất nước vươn mình bước vào kỷ nguyên mới, mà còn là hiện thực hóa Nghị quyết số 59-NQ/TW về hội nhập quốc tế trong tình hình mới và đường lối đối ngoại của Đại hội XIV. Đồng thời, chuyến thăm này không chỉ củng cố và đưa quan hệ song phương Việt Nam - Trung Quốc lên một tầm cao mới, hiệu quả, thiết thực, sâu sắc hơn, mà còn thêm một lần khẳng định: “Việt Nam luôn coi việc phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, lựa chọn chiến lược, ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa; ủng hộ các sáng kiến toàn cầu của Trung Quốc về phát triển, an ninh, văn minh và quản trị; nhất quán thực hiện chính sách “một Trung Quốc” như Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã nhấn mạnh tại cuộc hội đàm với Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình ngày 15/4/2026.

Thứ hai, việc bóp méo sự thật, xuyên tạc bản chất quan hệ Việt Nam -Trung Quốc nói chung, những chuyến thăm Trung Quốc của các đồng lãnh đạo Đảng, Nhà nước Việt Nam; trong đó, có Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nói riêng là thủ đoạn thâm độc mà các thế lực thù địch, các phần tử bất mãn, cơ hội chính trị, phản động, như: tổ chức Việt Tân, Hội anh em dân chủ; tài khoản fb “Hạt Lúa Kẻ Gai”, “Nhật ký yêu nước”, Trân Văn, Lê Anh, Nguyễn Văn Đài,… ưa dùng để tuyên truyền có chủ đích nhằm phục vụ âm mưu chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Tuy nhiên, thủ đoạn tuyên truyền,  chống phá đen tối, xảo quyệt, kích động dư luận với tâm lý “bài Trung” cũng không thể bôi đen được sự thật và càng không thể phủ nhận được sự đón tiếp trọng thị; tình hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai Đảng, hai nước; sự gắn bó của tình anh em giữa hai dân tộc “có núi liền núi, sông liền sông”, có mối tình hữu nghị đặc biệt được Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, bao thế hệ lãnh đạo Đảng, Nhà nước và nhân dân hai dân tộc dày công vun đắp.

Việc Tuyên bố chung năm 2026 khẳng định “hai Đảng, hai nước Việt Nam - Trung Quốc cùng nỗ lực thúc đẩy sự nghiệp xã hội chủ nghĩa ở mỗi nước phát triển mạnh mẽ, thể hiện với thế giới sức sống mạnh mẽ và triển vọng tươi sáng của chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai bên cần kiên trì lý tưởng và ý chí, kiên trì sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, kiên trì đi theo con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp với tình hình của mỗi nước, thúc đẩy kinh tế xã hội phát triển chất lượng cao, tăng cường đoàn kết, hợp tác, học hỏi lẫn nhau, không ngừng làm sâu sắc nhận thức về quy luật cầm quyền của Đảng Cộng sản, quy luật về xây dựng chủ nghĩa xã hội, quy luật phát triển của nhân loại, cùng bảo vệ sự nghiệp xã hội chủ nghĩa của hai nước, cùng chung tay nỗ lực vì sự nghiệp cao cả cho hòa bình và tiến bộ của nhân loại, luôn đi tiên phong trước thời đại, tiến về phương hướng đúng đắn trong tiến trình lịch sử với sự thay đổi sâu sắc của tình hình thế giới” đã cho thấy cả Trung Quốc và Việt Nam cùng coi trọng chuyến thăm này.

Thứ ba, báo chí Trung Quốc, Việt Nam đưa tin đậm nét chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc, nhất là nội dung toàn diện, sâu sắc của Tuyên bố chung năm 2026; trong đó, có việc cho rằng “Việt Nam - Trung Quốc cùng chung chí hướng và con đường, chia sẻ tương lai chung, phát triển tốt quan hệ Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược, toàn cục và lịch sử, là sự lựa chọn chiến lược chung của hai nước. Trung Quốc nhấn mạnh kiên trì chính sách hữu nghị với Việt Nam, luôn coi Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong chính sách ngoại giao láng giềng” và “hai bên nhất trí tăng cường kết nối chiến lược phát triển, thực hiện tốt Kế hoạch hợp tác cùng nhau thúc đẩy kết nối giữa khuôn khổ Hai hành lang, Một vành đai với Sáng kiến Vành đai và Con đường; thúc đẩy thương mại song phương gắn với kết nối hạ tầng, kết nối logistics và kết nối thị trường, phát triển mạnh xây dựng các hành lang kinh tế qua biên giới, các trung tâm logistics, khu hợp tác kinh tế qua biên giới, cụm công nghiệp tại khu vực biên giới và các tuyến vận tải đa phương thức”,… chính là minh chứng cho thấy lợi ích quốc gia - dân tộc luôn được Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đặt lên trên hết, trước hết, chứ không phải “chọn” đi thăm Trung Quốc để bảo vệ “lợi ích nhóm cầm quyền” và quên đi “Hoàng Sa, Trường Sa”; là góp phần vào việc giữ gìn hòa bình, hợp tác, phát triển của khu vực và trên thế giới, chứ không phải Việt Nam lún sâu vào quỹ đạo, vòng xoáy “lệ thuộc Bắc Kinh” như bịa đặt.

Vì thế, kết quả đạt được của chuyến thăm này đã bác bỏ mọi sự xuyên tạc vô căn cứ, bịa đặt trắng trợn, kích động tâm lý “bài Trung” cực đoan và bẻ cong sự thật về mối quan hệ ngoại giao Việt Nam - Trung Quốc cũng như chuyến thăm cấp nhà nước đến Trung Quốc của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com/)