May 25, 2026

Đại lễ Phật đản: Minh chứng sinh động cho chính sách tự do tín ngưỡng của Việt Nam

          Đại lễ Phật đản không chỉ là sự kiện văn hóa - tôn giáo lớn của tăng ni, Phật tử mà còn là dịp lan tỏa thông điệp nhân văn, hòa hợp và tôn trọng tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Lễ thả hoa đăng cầu nguyện hòa bình được tổ chức tối ngày 6/5/2025,
trong khuôn khổ Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc – Vesak 2025,
 thu hút khoảng 12.000 người tham dự.

Giữa không khí trang nghiêm của mùa Phật đản, từ những ngôi chùa cổ kính nơi đô thị đến các tự viện vùng sâu, vùng xa, hàng triệu tăng ni, phật tử và người dân cùng hướng về những giá trị từ bi, hòa hợp, nhân văn của đạo Phật.

Đại lễ Phật đản không chỉ là một lễ hội tôn giáo lớn ở Việt Nam mà còn trở thành biểu tượng sinh động của đời sống tín ngưỡng phong phú và chính sách nhất quán về tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và không tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta.

Nhưng cũng từ sự kiện mang đậm tinh thần hòa bình ấy, các thế lực thù địch lại cố tình bóp méo, xuyên tạc Việt Nam “thiên vị Phật giáo”, “hà khắc” với tôn giáo khác, từ đó kích động chia rẽ giữa các tôn giáo, phủ nhận thực tế đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Những luận điệu ấy không chỉ sai lệch bản chất, mà còn đi ngược các quy định hiến định về bình đảng tôn giáo và thực tiễn sinh động đang hiện hữu trong đời sống xã hội.

Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật


Theo số liệu của Ban Tôn giáo Chính phủ, cả nước có hơn 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước đã công nhận 40 tổ chức tôn giáo thuộc 16 tôn giáo khác nhau (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Đài, Phật giáo Hòa Hảo, Hồi giáo…), với khoảng 28 triệu tín đồ (tính đến tháng 6/2024).

Các tôn giáo cùng tồn tại, phát triển trong tinh thần đồng hành cùng dân tộc, gắn bó với cộng đồng và đóng góp cho xã hội. Mỗi năm, hàng nghìn lễ hội và sinh hoạt tôn giáo được tổ chức công khai, thu hút đông đảo tín đồ tham gia.

Trong bức tranh ấy, Phật giáo với lịch sử lâu đời đã ảnh hưởng sâu rộng trong đời sống văn hóa truyền thống của dân tộc. Chính vì vậy, Đại lễ Phật đản thường thu hút sự quan tâm lớn của xã hội và được tổ chức quy mô ở nhiều địa phương.

Năm 2026, theo Thông bạch của Giáo hội Phật giáo Việt Nam, Đại lễ Phật đản Phật lịch 2570 được tổ chức trên phạm vi cả nước, từ ngày 17/5 đến 31/5 (tức ngày 01/4 - 15/4 âm lịch).

Để tạo điều kiện cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam các cấp tổ chức tốt Đại lễ Phật đản, Bộ Dân tộc và Tôn giáo đã có Công văn 1121/BDTTG-TGCP ngày 30/4/2026 đề nghị các địa phương phối hợp giúp đỡ; quan tâm thăm hỏi, động viên, chúc mừng các tổ chức, chức sắc, chức việc, nhà tu hành, tín đồ Phật giáo tiêu biểu ở địa phương có nhiều đóng góp trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước.

Việc tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo hoạt động đúng pháp luật là trách nhiệm của Nhà nước pháp quyền, không phải sự “ưu ái” dành cho riêng bất cứ tôn giáo nào như luận điệu xuyên tạc cố tình quy chụp. Bằng cách bôi đen, xuyên tạc, tạo sự đối lập các tôn giáo, các thế lực thù địch đã cố tình phủ định chính sách bình đẳng giữa các tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta.

Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của người dân.

Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 (được sửa đổi, bổ sung năm 2026), đã cụ thể hóa quyền này bằng những quy định bảo đảm hoạt động tôn giáo diễn ra công khai, minh bạch, đúng pháp luật.

Thực tiễn đời sống tôn giáo bác bỏ mọi xuyên tạc

Nếu chỉ nhìn vào những luận điệu được tung ra trên mạng xã hội hay các trang thông tin chống phá, người ta có thể bị dẫn dắt tới nhận thức sai lầm rằng chỉ riêng Phật giáo được tạo điều kiện hoạt động. Nhưng thực tế đời sống tôn giáo ở Việt Nam lại cho thấy điều hoàn toàn ngược lại.

Những năm qua, nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức trọng thể, thành công ở Việt Nam và được dư luận quốc tế đánh giá cao như: Hội nghị Liên hội đồng Giám mục Á châu (2012); Tổng hội Dòng Đa minh thế giới (2019), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak…

Hằng năm, những ngày lễ trọng của các tôn giáo như: Lễ Phật đản, lễ Vu lan của Phật giáo; Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành; Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung của đạo Cao Đài; Lễ hội Katê của đồng bào Chăm hay tháng Ramadan của cộng đồng Hồi giáo,… được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự. Nhiều ngày lễ trọng đại của tôn giáo đã trở thành ngày lễ chung của cộng đồng.

Cùng với đó, các tổ chức tôn giáo được đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, sửa chữa cơ sở tôn giáo, tổ chức hoạt động từ thiện, giao lưu quốc tế.

Nhiều chức sắc tôn giáo còn tham gia cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội. Thực tiễn ấy là minh chứng rõ ràng bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam “phân biệt tôn giáo” hay “ưu ái riêng Phật giáo”.

Lan tỏa tinh thần hòa hợp, củng cố khối đại đoàn kết dân tộc

Trong dòng chảy lịch sử dân tộc, các tôn giáo ở Việt Nam luôn có truyền thống gắn bó với đất nước, đồng hành cùng nhân dân trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Từ hoạt động an sinh xã hội, chăm lo người nghèo, cứu trợ thiên tai đến giáo dục đạo đức, bảo tồn văn hóa,… các tổ chức tôn giáo đang góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của xã hội.

Trong xu thế đó, Đại lễ Phật đản không chỉ mang ý nghĩa tôn giáo đơn thuần, mà còn lan tỏa thông điệp về lòng khoan dung, tinh thần hòa hợp và trách nhiệm với cộng đồng. Trong một xã hội đa tín ngưỡng, đa văn hóa như Việt Nam, đó cũng chính là nền tảng để củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Đặc biệt, việc Việt Nam 4 lần đăng cai thành công Đại lễ Vesak Liên hợp quốc cho thấy sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với môi trường tự do tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam.

Nếu không có sự bảo đảm thực chất về quyền tự do tôn giáo, khó có thể tổ chức những sự kiện tôn giáo quốc tế quy mô lớn với sự tham gia của hàng nghìn đại biểu đến từ nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ.

Trong lần gần đây nhất, Đại lễ Vesak Liên hợp quốc năm 2025 tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh đón nhận hơn 1.000 bài tham luận đến từ các đại biểu trong và ngoài nước. Xuyên suốt các tham luận là hai yếu tố cốt lõi: Triết lý đoàn kết và bao dung, thể hiện tinh thần từ bi, trí tuệ và hướng đến hạnh phúc an lạc chung của cộng đồng, sự phát triển bền vững của mỗi quốc gia, dân tộc.

Đại lễ Phật đản và thông điệp đoàn kết giữa các tôn giáo

Đoàn kết và bao dung không chỉ là học thuyết đạo đức Phật giáo mà là kim chỉ nam cho những suy nghĩ, lời nói và hành động của con người để xây dựng xã hội an hòa, ít xung đột, tràn ngập thương yêu.

Tại lễ khai mạc Đại lễ Vesak (ngày 06/5/2025), Tổng thống Sri Lanka - ông Anura Kumara Dissanayaka, đã nhấn mạnh rằng, cách đây nhiều thiên niên kỷ, Đức Phật đã chủ trương phá bỏ những tư tưởng lạc hậu để kiến tạo một thế giới công bằng và không còn kỳ thị.

“Bình đẳng chiếm một vị trí trọng yếu trong những lời dạy căn bản của Đức Phật. Trên tinh thần đó, Việt Nam có thể được xem là minh chứng sống động cho một quốc gia vươn lên bằng tư tưởng bình đẳng”, ông Dissanayaka khẳng định.

Nhận xét ấy không chỉ là đánh giá dành cho thành công của một kỳ Vesak, mà còn phản ánh sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế đối với môi trường sinh hoạt tôn giáo cởi mở, ổn định và bình đẳng ở Việt Nam.

Từ những đại lễ tôn giáo diễn ra trang nghiêm trên khắp cả nước đến sự ghi nhận của cộng đồng quốc tế qua các kỳ Vesak Liên hợp quốc, tất cả đều là minh chứng sinh động cho chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam trong tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân.

Đại lễ Phật đản không chỉ là ngày lễ thiêng liêng của tăng ni, Phật tử mà còn lan tỏa thông điệp về đoàn kết, khoan dung và chung sống hòa hợp giữa các tôn giáo trong cộng đồng dân tộc Việt Nam.

Trong bối cảnh các thế lực thù địch vẫn tìm cách lợi dụng vấn đề tôn giáo để kích động chia rẽ, mỗi người dân càng cần tỉnh táo nhận diện bản chất sai trái của những luận điệu xuyên tạc, đồng thời tiếp tục vun đắp khối đại đoàn kết toàn dân tộc - nền tảng vững chắc để đất nước phát triển bền vững, nhân văn và nghĩa tình./.

(Trích nguồn: nhanquyenvm.org)

“Việt Nam tụt hậu vì chủ nghĩa xã hội” - luận điệu phi lịch sử và phản khoa học

          Những năm gần đây, cùng với các chiêu bài xuyên tạc về “dân chủ”, “nhân quyền”, các tổ chức phản động, phần tử cơ hội chính trị và nhiều tài khoản cực đoan trên không gian mạng liên tục tung ra luận điệu: “Việt Nam tụt hậu vì đi theo chủ nghĩa xã hội”, “muốn phát triển phải từ bỏ chủ nghĩa xã hội”, hay “mọi khó khăn của Việt Nam đều bắt nguồn từ mô hình xã hội chủ nghĩa”.

Thoạt nhìn, những phát ngôn này được ngụy trang dưới vỏ bọc “phân tích chính trị - kinh tế”, nhưng thực chất là kiểu lập luận phi lịch sử, phản khoa học và mang động cơ chính trị rõ rệt. Các đối tượng cố tình tách Việt Nam khỏi bối cảnh lịch sử cụ thể, phủ nhận những thành tựu to lớn sau 40 năm đổi mới, đồng thời đánh đồng những khó khăn khách quan của một quốc gia từng trải qua chiến tranh kéo dài với cái gọi là “thất bại của chủ nghĩa xã hội”.

Đây không phải thủ đoạn mới, nhưng đang được “làm mới” bằng các video ngắn, meme chính trị, nội dung “phân tích kiểu TikTok” nhằm tác động vào tâm lý, nhận thức, đặc biệt là giới trẻ.

Cố tình phủ nhận bối cảnh lịch sử và thành tựu đổi mới

Một trong những thủ đoạn xuyên tạc phổ biến hiện nay là lấy hình ảnh Việt Nam thời kỳ bao cấp khó khăn để quy kết đó là “bản chất tất yếu của chủ nghĩa xã hội”. Từ đó, các đối tượng so sánh phiến diện với một số quốc gia tư bản phát triển nhằm dẫn dắt dư luận đi đến kết luận rằng: “muốn giàu mạnh phải từ bỏ con đường xã hội chủ nghĩa”.

Đó là kiểu lập luận cố tình bỏ qua sự thật lịch sử. Việt Nam bước vào công cuộc xây dựng đất nước trong bối cảnh vừa trải qua nhiều thập niên chiến tranh tàn khốc; cơ sở hạ tầng bị tàn phá nặng nề; nền kinh tế có xuất phát điểm rất thấp; lại phải chịu bao vây, cấm vận kéo dài. Trong điều kiện ấy, những khó khăn của giai đoạn đầu phát triển là điều khó tránh khỏi.

Điều mà các luận điệu xuyên tạc cố tình lờ đi là: chính công cuộc đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đưa đất nước thoát khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội, từng bước vươn lên mạnh mẽ và đạt được nhiều thành tựu được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Từ một quốc gia nghèo nàn, thiếu lương thực, Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình, nằm trong nhóm nền kinh tế tăng trưởng nhanh ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Thành tựu giảm nghèo, mở rộng an sinh xã hội, nâng cao đời sống nhân dân là thực tế không thể phủ nhận.

Nhìn từ thực tiễn khách quan, không thể quy kết rằng Việt Nam “tụt hậu vì chủ nghĩa xã hội”. Ngược lại, thực tiễn cho thấy chính con đường phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, duy trì tăng trưởng kinh tế và từng bước bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội trong nhiều năm qua.

Xuyên tạc kinh tế thị trường để phủ nhận định hướng xã hội chủ nghĩa

Một thủ đoạn khác thường được sử dụng là cố tình đồng nhất “kinh tế thị trường” với “từ bỏ chủ nghĩa xã hội”. Theo cách lập luận này, hễ Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế, phát triển kinh tế tư nhân hay thu hút đầu tư nước ngoài thì lập tức bị quy chụp là “đang đi theo tư bản”, “xã hội chủ nghĩa chỉ còn là khẩu hiệu”. Đây là cách hiểu giản đơn, phiến diện và thiếu cơ sở lý luận, thực tiễn.

Kinh tế thị trường là thành tựu chung của văn minh nhân loại, không phải sản phẩm riêng có của chủ nghĩa tư bản. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng là kết quả của quá trình tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận qua 40 năm đổi mới, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện đất nước. Bản chất của mô hình này là phát triển kinh tế thị trường nhưng hướng tới mục tiêu cuối cùng là phát triển con người, bảo đảm công bằng xã hội và giữ vững ổn định quốc gia. Việt Nam thừa nhận vai trò của thị trường, nhưng không tuyệt đối hóa thị trường; phát triển kinh tế gắn với bảo đảm an sinh xã hội và lợi ích của đa số nhân dân. Tính ưu việt đó được thể hiện qua hàng loạt chính sách như giảm nghèo bền vững, bảo hiểm y tế toàn dân, giáo dục phổ cập, phát triển hạ tầng vùng sâu, vùng xa, hỗ trợ các nhóm yếu thế, v.v. Đại dịch Covid-19 là minh chứng rõ nét. Trong khi nhiều quốc gia phát triển rơi vào khủng hoảng y tế và bất ổn xã hội nghiêm trọng, Việt Nam dù nguồn lực còn hạn chế vẫn triển khai nhiều chính sách hỗ trợ người dân, bảo đảm an sinh xã hội và duy trì ổn định đời sống. Điều đó cho thấy bản chất nhân văn của mô hình phát triển mà Việt Nam kiên định theo đuổi.

Thủ pháp “lấy hiện tượng thay cho bản chất” và chiến tranh nhận thức trên không gian mạng

Các thế lực chống phá hiện nay còn thường xuyên sử dụng thủ pháp “lấy hiện tượng thay cho bản chất”. Mỗi khi xảy ra vụ việc tham nhũng, trì trệ hành chính hoặc khó khăn kinh tế, họ lập tức quy kết rằng: “Đó là hậu quả của chủ nghĩa xã hội”, “thể chế xã hội chủ nghĩa không thể phát triển”, hay “muốn chống tham nhũng phải đa đảng”.

Thực tế cho thấy tham nhũng, tiêu cực không phải vấn đề riêng của bất kỳ mô hình chính trị nào. Ngay tại nhiều quốc gia tư bản phát triển cũng liên tiếp xảy ra các vụ bê bối tài chính, thao túng quyền lực và tham nhũng chính trị. Từ các vụ vận động hành lang tại Mỹ đến những cuộc khủng hoảng ngân hàng toàn cầu đều cho thấy mô hình tư bản không phải “thiên đường hoàn hảo” như các luận điệu cực đoan cố tình tô vẽ. Nhiều báo cáo quốc tế cũng chỉ ra rằng bất bình đẳng giàu nghèo tại không ít nước tư bản đang gia tăng nghiêm trọng; khoảng cách tài sản giữa tầng lớp siêu giàu và người lao động ngày càng lớn. Trong khi đó, Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng kinh tế đi đôi với giảm nghèo, mở rộng tiếp cận các dịch vụ cơ bản và nâng cao chất lượng sống của người dân.

Tương tự, mỗi khi thị trường bất động sản gặp khó khăn, xuất khẩu suy giảm hay doanh nghiệp chịu áp lực, lập tức xuất hiện các video “phân tích” trên TikTok, YouTube quy kết rằng “kinh tế xã hội chủ nghĩa đã thất bại”. Tuy nhiên, các đối tượng này lại cố tình bỏ qua bối cảnh kinh tế toàn cầu đầy biến động, khi ngay cả những nền kinh tế lớn như Mỹ, Liên minh châu Âu (EU), Nhật Bản hay Hàn Quốc cũng chịu tác động nặng nề của lạm phát, suy thoái và bất ổn địa chính trị. Đó thực chất là thủ đoạn đánh tráo nguyên nhân nhằm dẫn dắt dư luận theo hướng tiêu cực.

Đáng chú ý, các luận điệu độc hại hiện nay được “đóng gói” tinh vi dưới dạng video ngắn, meme chính trị giật gân với những tiêu đề như: “Sự thật về chủ nghĩa xã hội”, “Vì sao Việt Nam không thể giàu?”, “Muốn phát triển phải bỏ CNXH”… nhằm đánh vào tâm lý hiếu kỳ của giới trẻ - những người chưa có nhiều trải nghiệm lịch sử và bản lĩnh nhận diện thông tin sai lệch. Nhiều nội dung sử dụng hình ảnh cắt ghép, số liệu thiếu kiểm chứng hoặc so sánh phiến diện để dẫn dắt người xem tới những kết luận sai lệch. Đây không còn đơn thuần là những tranh luận học thuật, mà là một dạng chiến tranh nhận thức trên không gian mạng, với mục tiêu làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với con đường phát triển mà Việt Nam đã lựa chọn.

Cần khẳng định rõ rằng, chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không phải mô hình giáo điều hay sao chép máy móc. Đó là quá trình vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và thực tiễn đất nước. Quan điểm phát triển nhanh, bền vững đi đôi với bảo đảm tiến bộ xã hội, bảo vệ môi trường và phát huy giá trị con người tiếp tục được khẳng định nhất quán trong các văn kiện của Đảng.

Một quốc gia phát triển bền vững không chỉ được đo bằng tốc độ tăng trưởng GDP, mà còn ở mức độ ổn định xã hội, chất lượng an sinh, sự đồng thuận cộng đồng và khả năng bảo đảm cuộc sống cho người dân. Vì vậy, luận điệu “Việt Nam tụt hậu vì chủ nghĩa xã hội” suy cho cùng chỉ là tiếng nói lạc lõng, đi ngược thực tiễn phát triển của đất nước, không thể phủ nhận những thành tựu to lớn mà Việt Nam đã đạt được trong suốt nhiều thập niên qua./.

                                       
     (Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)