Tre Việt - Ngày 03/7, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Chính quyền cứ hô hào “hóa hổ, hóa rồng”...”; trong đó, cho rằng: Sau hơn 20 năm “mở cửa” thu hút vốn đầu tư nước ngoài (FDI), Việt Nam đã trở thành một “công xưởng” gia công hùng hậu; thực chất FDI vào Việt Nam chủ yếu là lắp ráp, chuyển giao công nghệ gần như bằng không; người dân Việt Nam chỉ mãi là làm thuê giá rẻ mà thôi, v.v. Đây là những nhận định phiến diện, suy diễn, không phản ánh đúng thực tế sự phát triển nền kinh tế của Việt Nam. Bởi vì:
Thứ nhất, Đảng, Nhà nước đã đề ra chủ trương đúng đắn khi mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài và mang lại nhiều lợi ích cho nền kinh tế Việt Nam. Kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài năm 1987, khu vực FDI đã trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế và đóng góp đáng kể vào tăng trưởng GDP, tạo việc làm cho hàng triệu lao động, thúc đẩy xuất khẩu, đưa Việt Nam hội nhập sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Thực tiễn cho thấy nhiều doanh nghiệp Việt Nam đã từng bước tham gia vào chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia trong lĩnh vực điện tử, cơ khí, ô tô, thiết bị công nghiệp, v.v. Những năm gần đây, Việt Nam thu hút nhiều dự án đầu tư vào các lĩnh vực điện tử, thiết kế chip, trung tâm nghiên cứu và phát triển (R&D), công nghệ số và bán dẫn. Một số doanh nghiệp trong nước đã từng bước tham gia vào các khâu có giá trị cao hơn, như: thiết kế sản phẩm, phát triển phần mềm, dịch vụ kỹ thuật và sản xuất linh kiện. Quá trình chuyển dịch này diễn ra từng bước, bắt đầu từ gia công, sau đó dần nâng cao năng lực công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Thứ hai, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế đang từng bước tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Những năm qua, đã có hàng chục nghìn kỹ sư, quản lý và công nhân kỹ thuật Việt Nam được đào tạo trong các doanh nghiệp FDI đã trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế; sau đó chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp trong nước hoặc tự khởi nghiệp, góp phần lan tỏa kinh nghiệm và tri thức.
Cùng với đó, Chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn vào giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng mới nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Nhờ đó, tiền lương bình quân của người lao động Việt Nam đã tăng cùng với sự phát triển kinh tế và năng suất lao động. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngày càng tăng.
Thứ ba, Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài. Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, xác định: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Đồng thời, ưu tiên lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao; khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam.
Chính vì vậy, việc mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, không thể phủ nhận. Việc làm này không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm, có chất lượng cao trong kỷ nguyên mới./.
Thứ hai, quá trình thu hút vốn đầu tư nước ngoài phát triển kinh tế đang từng bước tạo ra nguồn nhân lực chất lượng cao. Những năm qua, đã có hàng chục nghìn kỹ sư, quản lý và công nhân kỹ thuật Việt Nam được đào tạo trong các doanh nghiệp FDI đã trở thành nguồn nhân lực chất lượng cao cho nền kinh tế; sau đó chuyển sang làm việc cho doanh nghiệp trong nước hoặc tự khởi nghiệp, góp phần lan tỏa kinh nghiệm và tri thức.
Cùng với đó, Chính phủ và các doanh nghiệp quan tâm đầu tư phát triển nhiều hơn vào giáo dục nghề nghiệp, chuyển đổi số và đào tạo kỹ năng mới nhằm đáp ứng yêu cầu của nền sản xuất hiện đại. Nhờ đó, tiền lương bình quân của người lao động Việt Nam đã tăng cùng với sự phát triển kinh tế và năng suất lao động. Cơ cấu lao động đang chuyển dịch từ nông nghiệp sang công nghiệp và dịch vụ, với tỷ lệ lao động có trình độ chuyên môn, kỹ thuật ngày càng tăng.
Thứ ba, Việt Nam tiếp tục đổi mới tư duy, nâng cao chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài. Mới đây, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Trong đó, xác định: Phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phải gắn với nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, năng lực sản xuất, công nghệ và sức cạnh tranh của nền kinh tế. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương tiếp tục thống nhất nhận thức, đổi mới mạnh mẽ tư duy về đầu tư nước ngoài, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư có năng lực, công nghệ, trách nhiệm và cam kết đầu tư kinh doanh lâu dài tại Việt Nam. Đồng thời, ưu tiên lựa chọn các dự án có hàm lượng công nghệ cao; khuyến khích hoạt động nghiên cứu và phát triển; tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước; phát triển công nghiệp hỗ trợ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải thiện năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam.
Chính vì vậy, việc mở cửa thu hút vốn đầu tư nước ngoài là hoàn toàn đúng đắn, sáng suốt, không thể phủ nhận. Việc làm này không phải để thay thế nội lực, mà để làm mạnh nội lực, nâng cao tự chủ; không chỉ để tăng trưởng nhanh mà để phát triển bền vững, bao trùm, có chất lượng cao trong kỷ nguyên mới./.

0 comments:
Post a Comment