Apr 27, 2026
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với truyền thông - bước đi tất yêu và đúng đắn
Tự do tôn giáo ở Việt Nam - sự thật không thể phủ nhận
Với đường lối, chủ trương nhất quán, Việt Nam ngày càng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân một cách thực chất. Thế nhưng, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành quả đó. Trong bài viết “Tự do tôn giáo tại Việt Nam: Một song đề nghịch lý” đăng trên Boxitvn, Trần Kiên Đoàn đã ngụy biện, bóp méo thực tiễn để rêu rao rằng Việt Nam “chưa có tự do tôn giáo trọn vẹn”. Đằng sau luận điệu này là mưu đồ chính trị rõ ràng, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào có đạo, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ.
1. Bức tranh sinh động về tự do tôn giáo ở Việt
Nam. Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trong suốt quá trình
lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng
và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo
đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Trên thực
tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã được khẳng định xuyên suốt từ
Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, theo đó “Mọi người có quyền tự do
tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình
đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn
giáo”. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tiếp tục cụ thể hóa quyền này, tạo
hành lang pháp lý thuận lợi để các tổ chức và cá nhân tôn giáo hoạt động. Với
những chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước, có thể dễ
dàng nhận thấy những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc
trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các
tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay.
Theo số liệu thống kê của Bộ Dân tộc và
Tôn giáo, hiện nay, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước;
hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Trong xu
thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt
Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, chức sắc và
tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi
tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật
chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các
ngày lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục
sinh của Công giáo và Tin lành,… được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo
không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Những thành tựu của Việt
Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc
tế thừa nhận, đánh giá cao. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được
các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện,
các lễ kỷ niệm như sự kiện Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019), Liên Hội
đồng Giám mục Á châu (2023), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2025. Những con
số trên đã phản ánh bức tranh đa sắc màu, tự do và hòa hợp về đời sống tôn giáo
tại Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động cho nỗ lực nhất quán của Việt
Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cũng là lời
đáp rõ ràng trước luận điệu xuyên tạc của Trần Kiên Đoàn.
2. Mưu đồ gì khi cổ súy khẩu hiệu “Dân tộc - Đạo
pháp - Giác ngộ”. Từ cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan về thực tiễn tự
do tôn giáo ở Việt Nam, Trần Kiên Đoàn đã đưa ra đề xuất chuyển đổi khẩu hiệu
tôn giáo từ “Dân tộc - Đạo pháp - Chủ nghĩa xã hội” sang “Dân tộc - Đạo
pháp - Giác ngộ”. Đây không phải là sự thay đổi ngôn từ đơn thuần, mà là một
toan tính chính trị có chủ đích. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, tôn giáo
luôn đồng hành cùng dân tộc, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và gắn bó chặt
chẽ với lợi ích quốc gia. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, nhưng là tự
do trong giới hạn pháp luật và đi đôi với trách nhiệm công dân. Đó mới là bản
chất của một nền tự do chân chính, không thể bị đánh tráo bằng thứ “tự do vô giới
hạn” để che đậy các hành vi lợi dụng tôn giáo phục vụ mục đích cá nhân, chống
phá gây nguy hại đến xã hội. Việc cố tình thay thế “chủ nghĩa xã hội” bằng
“giác ngộ” thực chất là thủ đoạn làm “mờ hóa” yếu tố pháp lý và chính trị, đẩy
tôn giáo về trạng thái thuần túy cá nhân, tách khỏi hệ quy chiếu của nhà nước
pháp quyền. Khi đó, một số đối tượng có thể vin vào danh nghĩa “tu hành”, “giác
ngộ” để né tránh nghĩa vụ công dân, biện minh cho các hành vi vi phạm pháp luật.
Nguy hiểm hơn, nó tạo tiền đề cho việc hình thành những hoạt động tôn giáo tự
phát, vượt ra ngoài khuôn khổ quản lý, dễ bị kích động, lợi dụng để gây rối trật
tự, khoét sâu chia rẽ cộng đồng. Xét đến cùng, đây là một bước đi tinh vi nhằm
làm suy yếu nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo, tiến tới
tách rời tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, từ đó tạo ra những khoảng trống
nguy hiểm về chính trị - xã hội.
Nhìn tổng thể, đời sống tôn giáo ở Việt
Nam là một bức tranh đa dạng nơi các tôn giáo cùng tồn tại, hoạt động trong
khuôn khổ pháp luật, gắn bó, đồng hành cùng sự phát triển đất nước. Thực tiễn
đó đã bác bỏ một cách thuyết phục những luận điệu sai trái, phiến diện như Trần
Kiên Đoàn./.
(Trích
nguồn: nhanvanviet.com)

