Apr 27, 2026

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với truyền thông - bước đi tất yêu và đúng đắn

        Trên trang Viettan, Lý Thái Hùng đã phát tán bài viết “Từ Moscow đến Hà Nội: Khi quyền lực chọn con đường cô lập”, Y cho rằng: “Quyền lực không còn muốn bị giớ hạn. Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và hai cơ quan học thuật nằm dưới sự quản lý và chỉ huy của bộ máy đảng không phải là cải tổ. Đó là Thâu tóm…”. Thực chất, đây là những luận điệu xuyên tạc, sai trái của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội, phản động; phủ nhận vai trò, uy tín của Đảng Cộng sản Việt Nam. Bởi lẽ:
        1. Quyết định đưa các cơ quan truyền thông (VOV, VTV, TTXVN) và cơ quan Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và công nghệ Việt Nam thuộc chính phủ sang đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng là chủ trương hoàn toàn đúng đắn. Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV, Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã đồng ý chủ trương chuyển Đài Truyền hình Việt Nam (VTV), Đài Tiếng nói Việt Nam (VOV), Thông tấn xã Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam là các cơ quan thuộc Chính phủ sang là đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. 
        Sáng ngày 01/04/2026 tại trụ sở Trung ương Đảng đã diễn ra Hội nghị công bố quyết định của Bội chính trị về công tác cán bộ. Việc chuyển 3 cơ quan báo chí quốc gia sang đơn vị sự nghiệp của Ban Chấp hành Trung ương Đảng nhằm tăng cường sự lãnh đạo tập trung, trực tiếp, toàn diện và thống nhất của Đảng đối với các cơ quan truyền thông chủ lực; khẳng định sự đổi mới về tư duy, phương pháp và cách thức lãnh đạo của Đảng đối với công tác tư tưởng, chính trị và truyền thông trong kỷ nguyên mới.
        Những luận điệu cho rằng việc đưa các cơ quan truyền thông chủ lực trên đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là “thâu tóm quyền lực” thực chất là sự xuyên tạc bản chất của hệ thống chính trị  ở Việt Nam. Cần khẳng định rõ ràng rằng, ở Việt Nam, báo chí là một bộ phận cấu thành của hệ thống chính trị, thực hiện chức năng thông tin, định hướng dư luận xã hội và phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc. Điều này được quy định nhất quán trong Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Luật Báo chí năm 2016. Vì vậy, việc đặt các cơ quan truyền thông dưới sự lãnh đạo thống nhất của Đảng không phải là “thu hẹp tự do”, mà là bảo đảm báo chí hoạt động đúng tôn chỉ, mục đích, không bị lệch hướng hoặc bị chi phối bởi các lợi ích khác. Hơn nữa, việc tổ chức lại, tinh gọn hệ thống truyền thông còn là yêu cầu khách quan trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế hiện nay. Một hệ thống phân tán, chồng chéo sẽ dẫn đến lãng phí nguồn lực và giảm hiệu quả truyền thông. Do đó, việc thống nhất quản lý không phải là “thâu tóm”, mà là cải tổ theo hướng hiện đại, chuyên nghiệp, nâng cao năng lực cạnh tranh thông tin trong môi trường toàn cầu hóa, nhất là thời kỳ chuyển đổi số hiện nay.
        2. Thực tiễn đã chứng minh, dù ở bất cứ hoàn cảnh nào Đảng ta luôn quan tâm, phát triển; nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí, khoa học và công nghệ trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Thực tiễn công cuộc đổi mới đường lối phát triển của đất nước cho thấy Đảng Cộng sản Việt Nam luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo chặt chẽ và toàn diện đối với các cơ quan truyền thông, báo chí và khoa học trọng yếu. Các cơ quan chủ lực như Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam, Thông tấn xã Việt Nam không ngừng được củng cố tổ chức, hiện đại hóa công nghệ, mở rộng độ phủ và nâng cao chất lượng nội dung, giữ vai trò nòng cốt trong định hướng dư luận, thông tin đối nội, đối ngoại và đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái. Các cơ quan khoa học, như: Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam và Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam được đầu tư phát triển, từng bước nâng cao năng lực nghiên cứu, cung cấp luận cứ khoa học phục vụ hoạch định đường lối, chính sách và phát triển kinh tế -xã hội của đất nước. Hệ thống cơ chế, chính sách ngày càng hoàn thiện, đội ngũ cán bộ báo chí và trí thức khoa học được đào tạo bài bản, bản lĩnh chính trị vững vàng, trình độ chuyên môn cao. 
        Những kết quả đó khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng để các cơ quan này phát triển mạnh mẽ, nâng cao chất lượng hoạt động và đóng góp thiết thực vào sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Nhờ coi trọng nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan truyền thông, báo chí và khoa học, tạo sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.
        Tóm lại, việc đặt các cơ quan truyền thông chủ lực dưới sự lãnh đạo của Đảng không những không làm suy giảm vai trò của báo chí mà còn giúp nâng cao hiệu quả hoạt động, bảo đảm định hướng đúng đắn, phục vụ lợi ích quốc gia dân tộc. Những luận điệu cho rằng đó là “thâu tóm” thực chất là sự áp đặt phiến diện, thiếu hiểu biết về đặc thù chính trị - xã hội của Việt Nam. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước; đề cao cảnh giác, nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của Nhân dân./.
 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Tự do tôn giáo ở Việt Nam - sự thật không thể phủ nhận

          Với đường lối, chủ trương nhất quán, Việt Nam ngày càng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhân dân một cách thực chất. Thế nhưng, các thế lực thù địch, thiếu thiện chí vẫn cố tình xuyên tạc, phủ nhận thành quả đó. Trong bài viết “Tự do tôn giáo tại Việt Nam: Một song đề nghịch lý” đăng trên Boxitvn, Trần Kiên Đoàn đã ngụy biện, bóp méo thực tiễn để rêu rao rằng Việt Nam “chưa có tự do tôn giáo trọn vẹn”. Đằng sau luận điệu này là mưu đồ chính trị rõ ràng, gây chia rẽ giữa Đảng, Nhà nước với đồng bào có đạo, làm suy yếu khối đại đoàn kết toàn dân tộc và tạo cớ can thiệp vào công việc nội bộ.

1. Bức tranh sinh động về tự do tôn giáo ở Việt Nam. Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo. Trong suốt quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng, Nhà nước luôn thực hiện nhất quán chính sách tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, phát huy những giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp và nguồn lực của các tôn giáo cho sự phát triển đất nước. Trên thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã được khẳng định xuyên suốt từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, theo đó “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 tiếp tục cụ thể hóa quyền này, tạo hành lang pháp lý thuận lợi để các tổ chức và cá nhân tôn giáo hoạt động. Với những chủ trương, chính sách, pháp luật đúng đắn của Đảng, Nhà nước, có thể dễ dàng nhận thấy những năm qua, Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc trong việc đảm bảo tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân, chưa bao giờ các tôn giáo có điều kiện phát triển như hiện nay.

Theo số liệu thống kê của Bộ Dân tộc và Tôn giáo, hiện nay, Việt Nam có hơn 27 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước; hơn 54.000 chức sắc, hơn 144.000 chức việc và gần 30.000 cơ sở thờ tự. Trong xu thế phát triển của đất nước và xu thế chung của thời đại, các tôn giáo tại Việt Nam luôn được tạo điều kiện hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, chức sắc và tín đồ thuộc các tôn giáo đều được tự do sinh hoạt, tự do thực hành các lễ nghi tôn giáo, biểu hiện đức tin, được tạo điều kiện tốt nhất để mở mang cơ sở vật chất, tu sửa nơi thờ tự và mở mang, phát triển quan hệ giao lưu quốc tế. Các ngày lễ hội truyền thống như Lễ Phật đản của Phật giáo, Lễ Giáng sinh, Lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành,… được tổ chức trang nghiêm, thu hút đông đảo không chỉ tín đồ mà cả quần chúng nhân dân tham gia. Những thành tựu của Việt Nam về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo cho người dân được cộng đồng quốc tế thừa nhận, đánh giá cao. Trong nhiều năm qua, Việt Nam luôn là điểm đến được các tổ chức tôn giáo lớn trên thế giới lựa chọn làm nơi tổ chức các sự kiện, các lễ kỷ niệm như sự kiện Tổng hội dòng Đa Minh thế giới (năm 2019), Liên Hội đồng Giám mục Á châu (2023), Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc năm 2025. Những con số trên đã phản ánh bức tranh đa sắc màu, tự do và hòa hợp về đời sống tôn giáo tại Việt Nam. Đây là minh chứng sinh động cho nỗ lực nhất quán của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, đồng thời cũng là lời đáp rõ ràng trước luận điệu xuyên tạc của Trần Kiên Đoàn.

2. Mưu đồ gì khi cổ súy khẩu hiệu “Dân tộc - Đạo pháp - Giác ngộ”. Từ cách nhìn phiến diện, thiếu khách quan về thực tiễn tự do tôn giáo ở Việt Nam, Trần Kiên Đoàn đã đưa ra đề xuất chuyển đổi khẩu hiệu tôn giáo từ “Dân tộc - Đạo pháp - Chủ nghĩa xã hội” sang “Dân tộc - Đạo pháp - Giác ngộ”. Đây không phải là sự thay đổi ngôn từ đơn thuần, mà là một toan tính chính trị có chủ đích. Thực tiễn ở Việt Nam cho thấy, tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và gắn bó chặt chẽ với lợi ích quốc gia. Tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm, nhưng là tự do trong giới hạn pháp luật và đi đôi với trách nhiệm công dân. Đó mới là bản chất của một nền tự do chân chính, không thể bị đánh tráo bằng thứ “tự do vô giới hạn” để che đậy các hành vi lợi dụng tôn giáo phục vụ mục đích cá nhân, chống phá gây nguy hại đến xã hội. Việc cố tình thay thế “chủ nghĩa xã hội” bằng “giác ngộ” thực chất là thủ đoạn làm “mờ hóa” yếu tố pháp lý và chính trị, đẩy tôn giáo về trạng thái thuần túy cá nhân, tách khỏi hệ quy chiếu của nhà nước pháp quyền. Khi đó, một số đối tượng có thể vin vào danh nghĩa “tu hành”, “giác ngộ” để né tránh nghĩa vụ công dân, biện minh cho các hành vi vi phạm pháp luật. Nguy hiểm hơn, nó tạo tiền đề cho việc hình thành những hoạt động tôn giáo tự phát, vượt ra ngoài khuôn khổ quản lý, dễ bị kích động, lợi dụng để gây rối trật tự, khoét sâu chia rẽ cộng đồng. Xét đến cùng, đây là một bước đi tinh vi nhằm làm suy yếu nguyên tắc thượng tôn pháp luật trong lĩnh vực tôn giáo, tiến tới tách rời tôn giáo khỏi sự quản lý của Nhà nước, từ đó tạo ra những khoảng trống nguy hiểm về chính trị - xã hội.

Nhìn tổng thể, đời sống tôn giáo ở Việt Nam là một bức tranh đa dạng nơi các tôn giáo cùng tồn tại, hoạt động trong khuôn khổ pháp luật, gắn bó, đồng hành cùng sự phát triển đất nước. Thực tiễn đó đã bác bỏ một cách thuyết phục những luận điệu sai trái, phiến diện như Trần Kiên Đoàn./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)