Tre Việt - Lợi dụng sự kiện Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đang có chuyến công tác, làm việc tại Hoa Kỳ và Canada, trang facebook Việt Nam Thời Báo đã tán phát bài viết: “Việt Nam: Tự chủ chiến lược hay quản trị sự lệ thuộc?”, đưa ra những nhận định suy diễn, quy chụp cho rằng Việt Nam thực chất chỉ đang “quản trị sự lệ thuộc”, qua đó phủ nhận quá trình xây dựng, củng cố năng lực tự chủ chiến lược của đất nước. Đây không những là cách nhìn phiến diện mà còn cố tình đánh tráo khái niệm, lấy những hạn chế, khó khăn trong quá trình phát triển để phủ nhận bản chất đường lối đối ngoại và phát triển của Việt Nam, cần bị vạch trần, bác bỏ. Bởi vì:
Thứ
nhất, đánh tráo khái niệm đa phương
hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại với “quản trị sự lệ thuộc”. Cần khẳng định rằng: Đường lối đối ngoại nhất
quán của Đảng, Nhà nước ta là độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp
tác và phát triển; đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; hội nhập quốc
tế sâu rộng, toàn diện, hiệu quả; bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia -
dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của Hiến chương Liên hợp quốc và luật
pháp quốc tế. Vì vậy, lấy việc Việt Nam mở rộng quan hệ với nhiều quốc gia,
tham gia nhiều cơ chế hợp tác và hội nhập quốc tế để kết luận rằng Việt Nam
đang “quản trị sự lệ thuộc” là đánh tráo bản chất vấn đề.
Thực tế cho thấy, nếu một quốc gia chỉ có một
thị trường, một nguồn cung, một đối tác công nghệ hoặc một kênh hợp tác duy nhất
mới dễ rơi vào bị động. Ngược lại, mở rộng quan hệ với nhiều đối tác, tham gia
nhiều cơ chế hợp tác, nhiều chuỗi giá trị và nhiều cơ chế hợp tác chính là tạo
thêm dư địa chiến lược, giảm thiểu rủi ro và nâng cao khả năng thích ứng trước
những biến động khó lường của môi trường quốc tế. Bởi vậy, quy kết chính sách
đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam là “quản trị sự lệ thuộc” thực chất đã
đảo ngược chân lý: chính việc mở rộng và đa dạng hóa các quan hệ đối ngoại đã tạo
thêm không gian cho tự chủ, chứ không phải mất đi sự tự chủ.
Thứ
hai, lấy một số hạn chế cần khắc phục
để phủ định quá trình nâng cao năng lực tự chủ của Việt Nam. Bài viết có đặt ra một số câu hỏi: Việt Nam
đã làm chủ được công nghệ nào? Có doanh nghiệp nào tiến lên trong chuỗi giá trị?
Có nguồn cung nào được đa dạng hóa?. Đây đều là những vấn đề đã được nhìn nhận
và đang tiếp tục giải quyết để nâng cao năng lực tự chủ. Theo đó, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 57-NQ/TW, ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số quốc gia. Trong đó, xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột
phá quan trọng hàng đầu. Đến nay, sau một thời gian triển khai thực hiện, Đảng
ta đã có đánh giá và tiếp tục yêu cầu tập trung nguồn lực làm chủ các công nghệ
chiến lược, hình thành sản phẩm cụ thể và nâng cao khả năng tự chủ quốc gia. Đồng
thời, chỉ rõ việc hợp tác quốc tế phải chuyển mạnh từ trọng tâm thu hút vốn
sang thu hút tri thức, công nghệ và chuyên gia, gắn với nâng cao năng lực
nghiên cứu, phát triển và làm chủ công nghệ trong nước. Điều đó cho thấy, Việt
Nam không coi thu hút nguồn lực bên
ngoài là đích đến cuối cùng mà mục tiêu là biến ngoại lực thành nội lực. Đó
chính là quá trình xây dựng tự chủ trong điều kiện hội nhập, chứ không phải “quản
trị sự lệ thuộc” như họ cố tình diễn giải.
Thứ ba,
xuyên tạc việc tích cực, chủ động hội nhập quốc
tế thành Việt Nam thiếu tự chủ chiến lược. Trong những năm qua, Việt Nam đã tích cực, chủ
động mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các quốc gia, tổ chức quốc tế và các cơ
chế hợp tác khu vực, toàn cầu. Song luôn giữ vững nguyên tắc, mở rộng quan hệ đối
ngoại nhưng luôn tự chủ trong hoạch định chính sách; tăng cường tiếp nhận công
nghệ của các nước nhưng vẫn chủ động xác định lĩnh vực nào cần ưu tiên, đối tác
nào phù hợp, mức độ hợp tác đến đâu, làm thế nào để từng bước nâng cao năng lực
trong nước, v.v.
Chính việc mở rộng quan hệ hợp tác với Canada, Hoa Kỳ,
Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Liên minh châu Âu và các đối tác khác đã thúc đẩy Việt
Nam phát triển toàn diện trên các lĩnh vực, nhất là thương mại, đầu tư, năng lượng,
công nghệ. Điều này thể hiện sự phát triển trong tư duy hội nhập, đó là: không
chỉ thu hút vốn mà phải thu hút tri thức, công nghệ và nhân lực chất lượng cao;
không chỉ tham gia chuỗi giá trị mà từng bước nâng cao vị trí trong chuỗi;
không chỉ mở rộng thị trường mà phải củng cố năng lực doanh nghiệp trong nước.
Đây là sự khẳng định rằng: Việt Nam
đang biến hội nhập quốc tế thành năng lực tự chủ, biến ngoại lực thành nội lực
và biến lợi thế quan hệ đối ngoại thành sức mạnh quốc gia, dân tộc.
Vì thế, không một thế lực nào có thể xuyên tạc,
nói xấu Việt Nam để phủ nhận quá trình xây dựng, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, tự lực, tự cường của
đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới./.
