Trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh đăng bài viết: “Hội nghị Trung ương 3: Việt Nam còn đủ khả năng tự điều chỉnh?”; trong đó, đưa ra nhiều nhận định phiến diện, quy chụp về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Thông qua việc khai thác một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế, kỷ luật trong bộ máy, cải cách thể chế và những thách thức từ môi trường quốc tế, y cố tình tạo dựng một bức tranh tiêu cực, từ đó đi đến kết luận thiếu căn cứ rằng hệ thống chính trị Việt Nam đang “cạn kiệt khả năng tự điều chỉnh”, đứng trước nguy cơ mất khả năng tự sửa chữa. Đây là cách nhìn một chiều, mang nặng định kiến chính trị, không phản ánh đúng thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ
nhất,
không thể lấy những suy diễn chủ quan về
“tính chính danh”, “khế ước ngầm” để phủ nhận bản chất và năng lực lãnh đạo, quản
lý, tự đổi mới của hệ thống chính trị Việt Nam. Trong bài viết, Vũ Đức
Khanh cố tình cho rằng, trong một hệ thống chính trị tập trung quyền lực, “tăng
trưởng không chỉ là chỉ tiêu kinh tế” mà còn là “nền tảng của tính chính danh”;
đồng thời suy diễn rằng, do “không có cạnh tranh chính trị thực chất và cơ chế
kiểm soát quyền lực hiệu quả”, Nhà nước Việt Nam phải chứng minh sự tồn tại bằng
kết quả kinh tế và đời sống xã hội. Cách lập luận này đã cố tình áp đặt một mô
hình chính trị xa lạ để đánh giá thực tiễn Việt Nam, đồng thời đánh tráo khái
niệm về tính chính danh của một nhà nước.
Thực tế cho thấy, tính chính danh của
Nhà nước Việt Nam không thể được giản lược thành một “khế ước ngầm” theo kiểu người
dân chấp nhận sự kiểm soát để đổi lấy tăng trưởng như cách Vũ Đức Khanh mô tả.
Tính chính danh của chế độ được hình thành từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước, từ sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, từ vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với đó là những thành tựu thực tế trong phát
triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân,
giữ vững độc lập, chủ quyền và ổn định chính trị - xã hội.
Việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao không
phải là biểu hiện của một hệ thống đang “khủng hoảng tính chính danh”, mà là
yêu cầu xuất phát từ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, nâng
cao đời sống nhân dân và hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đã đề ra. Trong
quá trình đó, Việt Nam không tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế mà luôn gắn phát
triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc
phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Đáng chú ý, luận điệu cho rằng, Việt Nam
“không có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả” cũng là sự xuyên tạc của Vũ Đức
Khanh. Trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ, không có
vùng cấm, không có ngoại lệ. Hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát của
Đảng, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được hoàn thiện. Việc xử lý nhiều vụ
án tham nhũng, tiêu cực lớn, kể cả đối với cán bộ giữ chức vụ cao, chính là
minh chứng cho quyết tâm kiểm soát quyền lực và làm trong sạch bộ máy.
Mọi quốc gia đều phải đối mặt với những
vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển. Điều quan trọng là khả năng nhận
diện vấn đề, chủ động điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện. Thực tiễn Việt
Nam cho thấy, quá trình đổi mới chưa bao giờ dừng lại; tư duy phát triển, mô
hình kinh tế, phương thức quản trị và hệ thống pháp luật liên tục được bổ sung,
hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu mới.
Thứ
hai,
luận điệu cho rằng, Việt Nam đang mất khả
năng tự điều chỉnh, đứng trước nguy cơ khủng hoảng do “kiểm soát quá mức” là
cách nhìn phiến diện, cố tình phủ nhận năng lực thích ứng và sức chống chịu của
đất nước. Vũ Đức Khanh đưa ra một loạt giả định về cú sốc năng lượng,
thương mại, an ninh, căng thẳng khu vực và chuỗi cung ứng, sau đó suy diễn rằng
những biến động bên ngoài có thể khiến Việt Nam nhanh chóng rơi vào tình trạng
thu hẹp dư địa chính sách và đối mặt với “gánh nặng chính trị”. Đây thực chất
là phương pháp lập luận dựa trên giả định để tạo ra một kịch bản khủng hoảng,
nhưng không đưa ra được cơ sở thuyết phục chứng minh Việt Nam đang mất khả năng
ứng phó.
Thực tế, trong một thế giới đầy biến động,
khả năng thích ứng và sức chống chịu của mỗi quốc gia không thể được đo bằng việc
có hay không có những cú sốc, mà phải được đánh giá qua năng lực chủ động ứng
phó, điều chỉnh chính sách và huy động nguồn lực. Việt Nam đã nhiều lần chứng
minh năng lực đó trước những biến động lớn của khu vực và thế giới. Trong quá
trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam chủ động đa dạng hóa quan hệ
đối ngoại, mở rộng thị trường, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, tăng
cường hợp tác quốc tế và từng bước nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Đặc biệt, việc cho rằng “càng kiểm soát
chặt chẽ, khả năng tự điều chỉnh càng suy giảm” là một nhận định mang tính áp đặt,
đánh đồng giữa kỷ luật, kỷ cương với sự cứng nhắc trong quản trị. Một bộ máy hiệu
lực, hiệu quả không thể thiếu kỷ luật, nhưng kỷ luật phải gắn với phân cấp,
phân quyền, trách nhiệm, kiểm tra, giám sát và cơ chế khuyến khích cán bộ dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây cũng chính là những vấn
đề đang được Việt Nam quan tâm trong quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện
thể chế và xây dựng đội ngũ cán bộ.
Không thể phủ nhận rằng, trong thực tiễn
vẫn còn những hạn chế như tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm, thủ tục hành
chính ở một số nơi còn rườm rà, chất lượng thực thi chính sách chưa đồng đều.
Nhưng nhìn nhận đúng những hạn chế đó là để khắc phục, không phải là căn cứ để
kết luận hệ thống đã “mất khả năng tự sửa chữa”. Ngược lại, việc thẳng thắn nhận
diện những điểm nghẽn, xác định rõ nguyên nhân và đề ra giải pháp chính là biểu
hiện của năng lực tự điều chỉnh.
Tóm lại, trước những
suy diễn xuyên tạc, lấy một số vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển để
phủ nhận toàn bộ những thành tựu và nỗ lực đổi mới của đất nước của Vũ Đức
Khanh, mỗi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ. Việt Nam đang đứng trước
những thời cơ và thách thức đan xen, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và năng lực chủ động hội nhập
quốc tế, đất nước có đủ cơ sở để tiếp tục đổi mới, tự điều chỉnh và phát triển./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)
