Aug 28, 2026
“Gen Z” cảnh giác trước những chiêu trò khai thác cảm xúc trên không gian mạng
Aug 26, 2026
Giá trị lịch sử và cống hiến vĩ đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, bác bỏ mọi xuyên tạc
Ấy thế mà, những kẻ chống cộng cực đoan, phản động, cơ hội chính trị luôn tìm mọi cách để đưa ra những luận điệu cố tình bóp méo, xuyên tạc giá trị của bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam. Chúng cho rằng, bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là sự “sao chép” Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Cách mạng Pháp 1789 (!) hoặc “Bản Tuyên ngôn độc lập lời lẽ hằn học, lập luận ngoa ngôn hồ đồ, từ ngữ không chính xác. Không xứng đáng là một bản tuyên ngôn nghiêm túc”(!) Đây là những luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử, nhằm hạ thấp giá trị lịch sử và sự cống hiến của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 và nhằm bôi nhọ tư tương, đạo đức, phương pháp, phong cách của Chủ tịch Hồ Chí Minh!
Như chúng ta đã biết, ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình, Hà Nội, Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hoà đã tổ chức Lễ Độc lập. Trước hàng vạn đồng bào, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt Chính phủ lâm thời và quốc dân đồng bào cả nước trịnh trọng đọc bản Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam và tuyên bố: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập.
Trong tiến trình đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh hướng về nhân dân và hỏi rằng: Tôi nói đồng bào nghe rõ không! Lời Người vang dậy khắp năm Châu về ý chí, khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Nhân dân Việt Nam nói riêng, nhân loại nói chung về. Đến nay, đã gần 81 năm trôi qua, giá trị và sự cống hiến vĩ đại của bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 ngày càng được thể hiện rõ ràng.
Lịch sử đã ghi nhận, ngày 19/8/1945 Cách mạng Tháng Tám thành công, Chủ tịch Hồ Chí Minh về Hà Nội và viết bản Tuyên ngôn Độc lập tại căn nhà số 48 phố Hàng Ngang để công bố trong Ngày Lễ tuyên bố độc lập. Với văn phong trong sáng, ngôn từ giản dị, ngắn, gọn, rõ ràng, dễ đọc, dễ hiểu trong 49 câu, 1.013 từ, Tuyên ngôn thực sự là “Áng văn lập quốc vĩ đại”, thể hiện nền văn hiến, trí tuệ, khí phách, tính văn nhân văn cao cả, ý chí và khát vọng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội hội của dân tộc Việt Nam trong thời đại mới - thời đại Hồ Chí Minh. Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 vì thế hàm chứa giá trị lịch sử bền vững và giá trị hiện thực sâu sắc.
Mở đầu bản Tuyên ngôn Độc lập, Hồ Chủ tịch đã trích dẫn lời trong bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ: “Tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” và nhắc lại lời Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791: “Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi và phải luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.
Vì sao, Chủ tịch Hồ Chí Minh lại mở đầu như vậy?
Thực chất Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn những câu thể hiện sự tiến bộ về tư tưởng chính trị, nhân văn trong Tuyên ngôn Độc lập của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của nước Pháp làm câu mở đầu trong Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam, là nhằm khẳng định quyền tự do, dân chủ của mọi người dân trên thế giới, trong đó có người dân Việt Nam là không thể vi phạm. Đồng thời, chỉ rõ rằng, họ ra tuyên ngôn như vậy, nhưng chỉ nói, mà không làm; hơn nữa, còn đi ngược lại, khi tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam và nhiều dân tộc khác. Đặc biệt, trong bản Tuyên ngôn Độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã mở rộng và phát triển quyền của “tất cả mọi người” thành quyền của “tất cả các dân tộc trên thế giới”. Khi dẫn Tuyên ngôn Độc lập Mỹ: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”. Người đã suy rộng và khẳng định: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”.
Đây là cống hiến vĩ đại, thể hiện tính nhân văn triệt để của ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tiến hành đấu tranh giành độc lập, tự do cho dân tộc, hạnh phúc cho nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Người luôn khẳng định, độc lập dân tộc là phải làm cho nhân dân được hưởng ấm no, hạnh phúc. Như vậy, độc lập dân tộc là điều kiện nền tảng, cơ bản đẻ quyền con người được đảm bảo rộng rãi, đầy đủ, trọn vẹn nhất và thực tiễn lịch sử của dân tộc Việt Nam nói riêng, trong khu vực và trên thế giới nói chung đã khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng Cộng sản Việt Nam!
Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945, không chỉ là “Áng văn lập quốc” vĩ đại của dân tộc Việt Nam, mà còn thể hiện tư tưởng nhân văn, nhân ái, trí tuệ, bản lĩnh văn hóa tuyệt vời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của dân tộc Việt Nam văn hiến. Thực tế cho thấy, khi Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thành công, các thế lực phản động quốc tế, đứng đầu là đế quốc Mỹ luôn tìm mọi cách giấu mặt, giật dây lực lương phản động trong và ngoài nước Việt Nam chống phá, nhằm lật đổ chính quyền nhân dân non trẻ, thực hiện âm mưu nhảy vào thống trị các nước Đông Dương. Nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam đã anh dũng đứng lên thực hiện Lời thề độc lập, đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật cũng như đế quốc Mỹ can thiệp, xâm lược và bè lũ tay sai. Nhưng, Nhân dân Việt Nam là một dân tộc văn hiến, luôn yêu chuộng hoà bình, có lòng nhân ái, nhân đạo cao cả, luôn tôn trọng, đoàn kết với nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ và không bao giờ hạ thấp, bác bỏ nền văn hóa Pháp, nền văn hóa Mỹ. Ngược lại, Nhân dân Việt Nam trân trọng và tiếp thu những giá trị văn hóa, chính trị mà nhân dân Pháp và nhân dân Mỹ tạo ra; đồng thời đoàn kết cũng nhân dân Pháp, nhân dân Mỹ đấu tranh vì hoà bình, công lý và sựu phát triển bền vững của nhân loại.
Như vậy, Chủ tịch Hồ Chí Minh dẫn Tuyên ngôn Độc lập năm 1776 của nước Mỹ và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 là để cho nhân dân thế giới thấy rằng, dân tộc Việt Nam nói riêng, các dân tộc trên thế giới nói chung, đấu tranh chống xâm lược, phá cường quyền, áp bức để giành độc lập, tự do cho dân tộc là quyền chính đáng, thiêng liêng, không ai có thể xâm phạm. Đó là tầm cao và cống hiến vĩ đại của tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh!
Tuyên ngôn Độc lập của dân tộc Việt Nam ra đời gần 81 năm, nhưng những giá trị, công hiến vĩ đại của nó đã bác bỏ những luận điệu xuyên tạc của các thế lực chống cộng cự đoan, thù địch, cơ hội, bất mãn chính trị chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ; vu khống, xúc phạm, bôi nhọ Chủ tịch Hồ Chí Minh và giá trị của Tuyên ngôn Độc lập./.
(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)
Aug 25, 2026
Phê phán cách nhìn phiến diện, quy chụp về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở Việt Nam
Tre Việt - Sau khi, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XIV ban hành Kết luận số 76-KL/TW, ngày 28/7/2026 về “Tiếp tục hoàn thiện, vận hành hiệu quả mô hình tổ chức tổng thể của hệ thống chính trị, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp”, trên không gian mạng xuất hiện một số ý kiến thiếu thiện chí, cố tình xuyên tạc mục tiêu, ý nghĩa chủ trương này. Đáng chú ý, trang facebook Tiếng Dân đăng bài viết: “Vươn mình hay thu mình?”, cho rằng: bộ máy “không phải để phục vụ người dân mà để cai trị”; gắn quá trình sắp xếp tổ chức với “đấu đá nội bộ”, v.v. Đây là nhận định phiến diện, quy chụp về đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy ở Việt Nam, cần được nhận diện, phê phán, bác bỏ.
Trước
hết, cần khẳng định rằng:
việc đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước ta là chủ trương đúng
đắn, có ý nghĩa chiến lược, xuất phát từ yêu cầu khách quan của quá trình xây
dựng, phát triển đất nước. Trong bối cảnh nhiệm vụ quản trị quốc gia ngày càng
phức tạp, hội nhập quốc tế sâu rộng, chuyển đổi
số diễn ra mạnh mẽ và yêu cầu phục vụ người dân, doanh nghiệp ngày càng cao, bộ
máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả là điều kiện quan trọng để nâng cao
năng lực quản trị và phát triển đất nước. Việc sắp xếp tổ chức bộ máy không đơn
thuần là giảm đầu mối mà hướng tới khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng,
giảm tầng nấc trung gian, phân định rõ thẩm quyền và trách nhiệm, đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực.
Thực
tiễn cho thấy, mọi mô hình tổ chức đều cần được điều chỉnh phù hợp với điều kiện phát triển mới. Đây không chỉ là yêu
cầu trước mắt mà còn là quá trình lâu dài, cần được thực hiện khoa học, đồng
bộ, thận trọng, lấy hiệu lực, hiệu quả hoạt động và sự hài lòng của người dân
làm những thước đo hành động.
Thứ
hai, không thể lấy hạn chế, vướng mắc trong thực hiện
để phủ nhận chủ trương đúng đắn. Đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy là một quá trình có phạm vi
rộng, tác động đến nhiều cơ quan, tổ chức, địa phương và đội ngũ cán bộ. Trong
quá trình thực hiện, bên cạnh những kết quả quan trọng thì xuất hiện những khó
khăn, vướng mắc là điều khó tránh khỏi. Có thể có nơi việc phân định chức năng,
nhiệm vụ chưa thật rõ; sự phối hợp chưa đồng bộ; có cán bộ chưa kịp thích ứng
với yêu cầu mới; cơ sở vật chất, dữ liệu và nguồn lực ở một số địa bàn chưa đáp
ứng đầy đủ, v.v. Vì thế, Kết luận số 76-KL/TW đã yêu cầu “tiếp tục hoàn thiện,
vận hành hiệu quả” mô hình tổ chức mới. Điều này cho thấy, Đảng ta không nhìn
nhận quá trình đổi mới một cách giản đơn, một chiều mà luôn đặt trong yêu cầu
tổng kết thực tiễn, phát hiện những điểm nghẽn để tiếp tục điều chỉnh, hoàn
thiện. Do đó, bài viết trên chỉ dựa vào một số vướng mắc, bất cập để phủ nhận
toàn bộ chủ trương đúng đắn chính là sự đánh tráo giữa mục tiêu của đổi mới sắp xếp và những vấn đề phát sinh trong thực hiện.
Thứ ba, nhận định rằng bộ máy “không phải để
phục vụ người dân mà để cai trị” là sự quy chụp thiếu căn cứ. Nhà
nước là thiết chế thực hiện quyền lực công, quản lý xã hội bằng pháp luật, bảo
đảm trật tự, kỷ cương và tổ chức cung cấp các dịch vụ công. Đối với Nhà nước
pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân; Nhà
nước có trách nhiệm phục vụ lợi ích của Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân
và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Vấn đề cần quan tâm không phải
là Nhà nước có quyền lực hay không, mà là quyền lực được tổ chức, thực thi như
thế nào; trách nhiệm của cơ quan công quyền được xác định ra sao; quyền lực có
được kiểm soát hay không; người dân có được phục vụ ngày càng tốt hơn hay không?
Nhìn
vào mục tiêu của việc đổi mới tổ chức bộ máy, càng không có cơ sở để quy kết
việc sắp xếp bộ máy nhằm “cai trị”. Tinh gọn tổ chức nhằm giảm tầng nấc trung
gian, khắc phục chồng chéo chức năng, phân định rõ trách nhiệm, đẩy mạnh phân
cấp, phân quyền, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý và chất lượng phục vụ
người dân, doanh nghiệp. Thực tế đã chỉ ra, nếu bộ máy cồng kềnh, thủ tục phức
tạp, trách nhiệm không rõ thì chính người dân, doanh nghiệp phải chịu chi phí
xã hội lớn hơn. Vì vậy, cải cách tổ chức, cải cách hành chính và chuyển đổi
phương thức quản trị phải được nhìn nhận từ lợi ích của người dân và yêu cầu
phát triển đất nước.
Thứ tư, những thay
đổi về tổ chức, nhân sự trong
quá trình sắp xếp bộ máy không phải là “đấu đá nội bộ”. Bởi
vì, bất kỳ quá trình sắp xếp tổ chức nào cũng tác động đến vị trí việc làm,
chức năng, nhiệm vụ và con người. Vì vậy, không thể dựa vào một sự điều chuyển
cán bộ, một thay đổi tổ chức hay một quyết định nhân sự để đưa ra kết luận của
quá trình là “đấu đá nội bộ”. Cách suy diễn, quy chụp này chính là với dụng ý
xấu, tạo tâm lý hoài nghi, làm sai lệch nhận thức của xã hội về công tác tổ
chức, cán bộ cần được nhận diện, vạch trần.
Vì
vậy, trước những thông tin sai lệch, phiến diện, quy chụp trên không gian mạng,
chúng ta cần giữ thái độ tỉnh táo, khách quan để phân biệt rõ đúng - sai, bảo
vệ sự thật khách quan, củng cố đồng thuận xã hội, tạo cơ sở để chủ trương đổi
mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của Đảng, Nhà nước tiếp tục được triển khai thực
chất, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới./.
Aug 22, 2026
Đập tan âm mưu kêu gọi từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không” để trở thành đồng minh quân sự
Chúng ta cần
khẳng định rõ: chính sách quốc phòng “bốn không” là sự lựa chọn có tính nguyên
tắc, phù hợp với lợi ích quốc gia, dân tộc và truyền thống yêu chuộng hòa bình
của Việt Nam. Việt Nam không tham gia liên minh quân sự; không liên kết với nước
này để chống nước kia; không cho nước ngoài đặt căn cứ quân sự hoặc sử dụng
lãnh thổ Việt Nam để chống lại nước khác; không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng
vũ lực trong quan hệ quốc tế. Bản chất của “bốn không” không phải là “đóng cửa”, biệt lập hay tự tước bỏ khả năng bảo vệ Tổ quốc, mà nhằm
giữ vững độc lập, tự chủ, tránh bị cuốn vào đối đầu, cạnh tranh phe phái và
xung đột giữa các nước lớn.
Thực tiễn đã bác bỏ hoàn
toàn luận điệu cho rằng “bốn không” khiến Việt Nam bị cô lập. Không tham gia
liên minh quân sự không đồng nghĩa với không hợp tác quốc phòng. Việt Nam vẫn
chủ động, tích cực mở rộng quan hệ đối ngoại, quốc phòng, an ninh với nhiều quốc
gia, tổ chức quốc tế; thúc đẩy hợp tác về đào tạo, quân y, gìn giữ hòa bình
Liên hợp quốc, an ninh biển, tìm kiếm cứu nạn, phòng, chống tội phạm xuyên quốc
gia và nhiều lĩnh vực khác... Chính sách quốc phòng “bốn không” tạo
cho Việt Nam không gian chiến lược rộng mở, giúp đất nước duy trì quan hệ với
nhiều quốc gia, nhiều trung tâm quyền lực, đồng thời tránh bị ràng buộc bởi những
cam kết có thể làm hạn chế quyền tự quyết. Chính sách này cũng không phải sự
đóng khung cứng nhắc. Việt Nam chủ trương phát triển quan hệ quốc phòng với các
nước trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp
với luật pháp quốc tế. Đó là sự kiên định về nguyên tắc nhưng linh hoạt về sách
lược.
Kiên định chính sách quốc phòng
“bốn không” không phải là yếu mềm, càng không phải “đứng ngoài thế giới”. Đó là
bản lĩnh của một quốc gia biết hợp tác nhưng không lệ thuộc, hội nhập nhưng
không hòa tan, kiên trì hòa bình nhưng luôn sẵn sàng bảo vệ Tổ quốc. Vì vậy, mọi
luận điệu kêu gọi Việt Nam từ bỏ chính sách quốc phòng “bốn không” để trở thành đồng minh quân
sự cần được nhận diện đúng bản chất, kiên quyết đấu tranh bác bỏ. Giữ vững “bốn
không” chính là giữ vững quyền tự quyết chiến lược, bảo vệ lợi ích quốc gia,
dân tộc và tạo dựng môi trường hòa bình, ổn định để Việt Nam phát triển bền vững.
Chính
vì vậy, mỗi cán bộ, chiến
sĩ Quân đội nhân dân Việt Nam phải là một “lá chắn” trên mặt trận tư tưởng. Cần
nắm chắc bản chất, nội dung, cơ sở và giá trị của chính sách quốc phòng “bốn không”; nhận diện đúng những luận điệu xuyên tạc,
không dao động trước các thông tin phiến diện trên không gian mạng. Khi đấu
tranh phản bác, phải lấy lý luận, thực tiễn và bằng chứng thuyết phục làm cơ sở;
tránh tranh luận cực đoan, cảm tính, đồng thời chủ động lan tỏa thông tin chính
thống, góp phần định hướng nhận thức đúng đắn cho cán bộ, chiến sĩ và Nhân dân. Bên cạnh đó,
các cơ quan, đơn vị
cần tăng cường giáo dục, bồi dưỡng bản lĩnh chính trị, kiến thức quốc phòng, đối
ngoại và năng lực nhận diện thông tin xấu độc; chủ động cung cấp thông tin chính
xác về đường lối quốc phòng, đối ngoại của Đảng, Nhà nước./.
Aug 20, 2026
Đập tan luận điệu phủ nhận giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Trên trang mạng Thongluan, Phạm Trần có bài viết: “Lịch sử 1945″ xuyên tạc, phủ nhận giá trị và ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 và sự ra đời của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa. Qua đó, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng, Chủ tịch Hồ Chí Minh và phủ nhận sức mạnh của quần chúng nhân dân. Y cho rằng, thắng lợi chủ yếu là do “khoảng trống quyền lực” sau khi Nhật đầu hàng Đồng minh, thậm chí quy kết đó là một sự “ăn may” của cách mạng. Khẳng định, đây không phải là cách tiếp cận lịch sử khách quan, mà là thủ đoạn xuyên tạc, đánh tráo nguyên nhân, tuyệt đối hóa một yếu tố khách quan để phủ nhận cả một quá trình chuẩn bị lâu dài của cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám mở ra một thời đại mới ở Việt Nam,
thời đại nhân dân Việt Nam làm chủ đất nước,
làm chủ vận mệnh của chính mình (Ảnh TTXVN)
Thứ
nhất, lịch sử của cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc
đã chứng minh, để Cách mạng Tháng Tám giành thắng lợi trong mùa thu lịch sử
năm 1945, Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã sáng suốt, tài tình chèo lái con
thuyền cách mạng qua 15 năm gian khổ với 03 cao trào cách mạng vô cùng cam go,
khốc liệt, đó là: Cao trào cách mạng 1930 - 1931 với đỉnh cao là phong trào Xô
Viết Nghệ Tĩnh; Cao trào cách mạng đòi dân sinh, dân chủ (1936 - 1939) và Cao
trào cách mạng giải phóng dân tộc (1939 - 1945). Ngay từ năm 1939, Đảng ta đã
chuẩn bị cả về đường lối, căn cứ địa và lực lượng cách mạng để tiến tới khởi
nghĩa giành chính quyền khi thời cơ đến.
Hoàn cảnh lịch sử thời điểm tháng 8/1945
đã tạo ra “thời cơ vàng” để dân tộc Việt Nam đứng lên thực hiện một cuộc cách mạng
giành độc lập, tự do. Đó là thời điểm quân Nhật đã thất bại và tuyên bố đầu
hàng Đồng minh vào ngày 15/8/1945. Trong thời khắc quyết định của lịch sử dân tộc,
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi Tổng khởi nghĩa: “Giờ quyết định cho vận
mệnh dân tộc đã đến.Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng
cho ta…”. Người nhấn mạnh: “Đây là một thời cơ quý và hiếm, nếu bỏ qua thì
không bao giờ còn nữa”, “Dù có phải đốt cháy dãy Trường Sơn cũng phải giành cho
được độc lập dân tộc”.
Thứ
hai, khẳng định, thành công của Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 và sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa là thành
quả của sự đoàn kết, nỗ lực vượt qua mọi khó khăn, thử thách, không quản ngại
hi sinh, mất mát của toàn dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh; là kết quả của sự chuẩn bị kĩ lưỡng, chính
xác về chủ trương, đường lối, xây dựng lực lượng chính trị, xây dựng lực lượng
vũ trang, xây dựng căn cứ địa cách mạng, xác định, lựa chọn thời cơ khởi nghĩa;
là kết tinh sức mạnh đại đoàn kết của toàn dân tộc, là kết quả tất yếu của cuộc
đấu tranh giai cấp, đấu tranh dân tộc lâu dài, đầy hy sinh, gian khổ của Nhân
dân ta.
Tám
mươi mốt năm trôi qua nhưng tầm vóc, ý nghĩa cùng những bài học kinh nghiệm quý
báu của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục tỏa
sáng trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta. Đó là cuộc hồi sinh vĩ đại của
dân tộc, mở ra một thời kỳ phát triển rực rỡ của đất nước với những chiến công
oanh liệt như chiến thắng Điện Biên Phủ, đại thắng mùa xuân năm 1975, với những
thành tựu có tính lịch sử của công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước,
tạo dựng nên “cơ đồ, tiềm lực, vị thế, uy tín” của Tổ quốc Việt Nam hôm nay.
Tóm
lại, những
luận điệu xuyên tạc của Phạm Trần về Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thực chất là
sự đánh tráo điều kiện với nguyên nhân, tuyệt đối hóa yếu tố khách quan, phủ nhận
vai trò lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, đồng thời hạ thấp sức mạnh của
quần chúng nhân dân. Nhận diện đúng, chủ động đấu tranh bác bỏ những luận điệu
sai trái, xuyên tạc là góp phần bảo vệ sự thật lịch sử, củng cố niềm tin, bồi đắp
lòng tự hào dân tộc và giáo dục trách nhiệm của các thế hệ hôm nay đối với Tổ
quốc./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)
Aug 18, 2026
Hãy tỉnh táo để nhận diện, tiếp nhận thông tin trên mạng xã hội
Tuy nhiên, chính sự nhanh chóng, rộng lớn và khó kiểm soát của môi trường mạng đang đặt ra một yêu cầu cấp thiết đối với người dùng là cần tỉnh táo để nhận diện, kiểm chứng, tiếp nhận thông tin. Bởi, mỗi khi có thông tin gây tranh luận xuất hiện, tâm lý tò mò, muốn thể hiện quan điểm hoặc muốn trở thành người “biết chuyện” trước người khác có thể khiến một bộ phận người trẻ lập tức chia sẻ, bình luận. Vì thế, khi sự việc liên quan đến vụ tai nạn giao thông được đưa trở lại dòng chảy mạng xã hội, nhiều người đã vào bình luận, chia sẻ, phán xét dựa trên những thông tin chưa được kiểm chứng đầy đủ, thậm chí đưa ra kết luận, phán quyết đối với cá nhân, tổ chức. Lúc đó, ranh giới giữa quyền tự do ngôn luận với hành vi vi phạm pháp luật là rất mong manh.
Đến khi Đài Truyền hình Việt Nam (VTV) có phóng sự cung cấp thêm những thông tin, hình ảnh, phân tích về vụ việc của các cơ quan chức năng thực thi pháp luật, giới luật sư, ý kiến của gia đình nạn nhân,... đã giúp công chúng có cơ sở nhìn nhận toàn diện, đánh giá sự việc đầy đủ hơn.
Do vậy, mỗi chúng ta, nhất là các bạn trẻ cần hình thành một nguyên tắc khi lên mạng xã hội: đọc kỹ trước khi tin, kiểm chứng trước khi chia sẻ, suy nghĩ trước khi bình luận. Đặc biệt, cần tránh tâm lý “chia sẻ cho vui”, “thấy nhiều người đăng thì đăng theo” hoặc “cứ đăng rồi tính”. Không gian mạng không phải là nơi nằm ngoài đời sống thực. Mỗi tài khoản đều gắn với một chủ thể cụ thể, mỗi phát ngôn đều có thể tạo ra tác động xã hội và người đó phải chịu trách nhiệm tương ứng trước pháp luật.
Trong điều kiện hiện nay, nâng cao khả năng nhận diện thông tin của thế hệ trẻ không chỉ là kỹ năng sử dụng mạng xã hội mà cần xây dựng “sức đề kháng” trước những thông tin xấu, độc. “Sức đề kháng” ấy trước hết được hình thành từ tri thức. Người có kiến thức nền càng tốt thì càng khó bị dẫn dắt bởi những thông tin phiến diện. Cùng với đó là tư duy phản biện để có khả năng nhìn nhận một vấn đề từ nhiều chiều, nhận diện những điểm bất hợp lý, kiểm tra, đối chiếu bằng chứng. Đồng thời, cần có bản lĩnh trước những bình luận trái chiều, bởi nếu không có bản lĩnh, con người rất dễ thay đổi quan điểm chỉ vì sợ bị phản đối hoặc muốn được số đông công nhận.
Trong kỷ nguyên số, để trở thành những công dân thông thái, chúng ta cần có thái độ tiếp nhận thông tin hiện đại: cởi mở nhưng không dễ dãi, phản biện nhưng không cực đoan, chủ động nhưng không vội vàng, có chính kiến nhưng không định kiến. Đó là cách để mỗi người góp phần xây dựng môi trường thông tin số lành mạnh, an toàn./.
Aug 17, 2026
Lật tẩy chiêu trò xuyên tạc Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài
Tre Việt - Cách đây ít giờ, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng bài: “Điều gì ẩn giấu sau Nghị quyết 23 Bộ Chính trị”, rêu rao rằng: “Đằng sau cái vỏ bọc nhân văn đó chưa bao giờ là sự hòa hợp, hòa giải dân tộc, mà là một chiến lược thực dụng có tính toán. Bản chất của Nghị quyết này không gì khác ngoài việc chuyển trạng thái từ kiểm soát thụ động sang thâm nhập chủ động đối với cộng đồng người Việt hải ngoại”.
![]() |
| Đoàn kiều bào thăm Quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 Ảnh: Nguyễn Hồng/TGVN |
Đây là chiêu trò xuyên tạc trắng trợn nội
dung Nghị quyết số 23-NQ/TW, ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị (khóa XIV) về công
tác người Việt Nam ở nước ngoài, nhằm chống phá, phủ nhận chính sách hòa hợp, hòa
giải của Đảng, Nhà nước ta, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Như đã thông tin, ngày 02/8/2026, thay mặt
Bộ Chính trị, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết của Bộ
Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài (Nghị quyết số 23-NQ/TW), thay
cho Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 26/3/2004 của Bộ Chính trị (khóa IX) và các
văn bản chỉ đạo trước đó về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Việc Bộ Chính
trị (khóa XIV) ban hành Nghị quyết só 23-NQ/TW là rất cần thiết, được cán bộ, đảng
viên và dư luận trong các tầng lớp Nhân dân ở trong nước, cùng cộng đồng người
Việt Nam ở nước ngoài đồng tình ủng hộ, đánh giá cao.
Bởi vì: sau hơn 20 năm
thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW, công tác người Việt Nam ở nước ngoài có nhiều
chuyển biến căn bản, toàn diện, góp phần nâng cao nhận thức, thống nhất hành động
từ Trung ương đến địa phương, cả trong nước và nước ngoài. Cộng đồng người Việt
Nam ở nước ngoài đến nay với hơn 6,5 triệu người tại hơn 130 quốc gia và vùng
lãnh thổ không ngừng lớn mạnh, phát triển, có cuộc sống ngày càng ổn định. Tỷ lệ
chuyên gia, trí thức, nhà khoa học, doanh nhân và lao động kỹ thuật cao ngày
càng tăng, độ tuổi ngày càng trẻ; một số người đã nắm giữ vị trí quan trọng
trong hệ thống chính trị nước sở tại. Đại đa số đồng bào hội nhập tốt, luôn
tích cực gìn giữ truyền thống, bản sắc văn hóa dân tộc và hướng về Tổ quốc,
đóng góp quan trọng vào tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị giữa Việt Nam với
các nước, tích cực tham gia vào sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc
Việt Nam, v.v.
Tuy nhiên, một bộ phận nhỏ người Việt
Nam ở nước ngoài vẫn còn định kiến, nhận thức và hành động chưa phù hợp với lợi
ích quốc gia - dân tộc, thậm chí có hành động phá hoại mối quan hệ hợp tác hữu
nghị giữa Việt Nam và các nước sở tại, gây chia rẽ trong cộng đồng người Việt
Nam; địa vị pháp lý, đời sống của cộng đồng người Việt Nam ở một số nước còn
khó khăn; việc phát huy nguồn lực của cộng đồng phục vụ phát triển đất nước
chưa tương xứng với tiềm năng; cơ chế phối hợp liên ngành có lúc, có nơi còn
thiếu đồng bộ, v.v.
Để tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả
công tác người Việt Nam ở nước ngoài, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc,
tăng cường hợp tác quốc tế và tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh, bền vững
trong kỷ nguyên phát triển mới của đất nước. Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết
mới về công tác đối với người Việt Nam ở nước ngoài là rất đúng đắn và cần thiết.
Thông qua việc ban hành Nghị quyết mới,
khẳng định tư duy chiến lược trong công tác người Việt Nam ở nước ngoài của Đảng
và Nhà nước ta đã được nâng lên từ vận động, tập hợp, hỗ trợ sang đồng hành, kiến
tạo cơ chế để cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có thể tham gia sâu rộng
hơn vào quá trình hội nhập, xây dựng và phát triển đất nước; đồng thời, góp phần
củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tăng cường hợp tác quốc tế,
nâng cao sức mạnh tổng hợp quốc gia, tạo đột phá cho sự phát triển của đất nước
trong những năm tới. Tư duy đó hoàn toàn trái ngược với luận điệu mà Chân Trời
Mới Media quy chụp “là một chiến lược thực
dụng có tính toán” và “chuyển trạng
thái từ kiểm soát thụ động sang thâm nhập chủ động đối với cộng đồng người Việt
hải ngoại!”. Vì thế, luận điệu xuyên tạc, kích động lố bịch này cần phải bị
lật tẩy và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ./.
Aug 14, 2026
Sáp nhập trường học - chủ trương đúng đắn cần được nhìn nhận khách quan, tránh xuyên tạc
Tre Việt - Thời gian gần đây, việc sắp xếp, sáp nhập và tổ chức lại mạng lưới trường học đang nhận được sự quan tâm lớn của dư luận xã hội. Bên cạnh thông tin, dư luận tích cực, còn có thông tin cho rằng việc sáp nhập là “xóa trường”, “bỏ trường”, “cắt giảm giáo viên” hay “làm giảm chất lượng giáo dục”, v.v. Đây là cách diễn giải phiến diện, không phản ánh đầy đủ bản chất của chủ trương chiến lược này.
Có thể khẳng định,
chủ trương sắp xếp, sáp nhập các cơ sở giáo dục là một bước đi cần thiết trong
quá trình tổ chức lại mạng lưới trường học theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp
với yêu cầu phát triển giáo dục trong giai đoạn mới. Đây không phải là chủ
trương nhằm giảm số lượng trường hay cắt giảm nguồn lực giáo dục, mà là giải
pháp để khắc phục tình trạng đầu tư phân tán, tổ chức cồng kềnh và sử dụng chưa
hiệu quả các nguồn lực hiện có.
Bản chất của
sáp nhập là tổ chức lại các đơn vị có quy mô, điều kiện hoạt động hoặc địa bàn
phù hợp để hình thành một cơ cấu quản lý hợp lý hơn. Sau khi sáp nhập, nhiệm vụ
giáo dục không mất đi; mục tiêu phục vụ người học vẫn được duy trì, thậm chí có
thể được nâng cao nhờ việc tập trung đội ngũ, cơ sở vật chất và nguồn lực. Mỗi
địa phương cần căn cứ vào điều kiện thực tế để xác định trường nào cần sắp xếp,
trường nào cần duy trì và mô hình nào phù hợp.
Một hệ thống
có quá nhiều đầu mối, nguồn lực bị chia nhỏ thì việc bố trí giáo viên, cán bộ
quản lý, phòng học chức năng, thiết bị dạy học và kinh phí đầu tư có thể gặp
nhiều hạn chế. Vì vậy, việc sáp nhập những cơ sở phù hợp tạo điều kiện tập
trung nguồn lực vào những nơi thực sự cần thiết, nâng cao hiệu quả sử dụng ngân
sách và tạo điều kiện xây dựng môi trường giáo dục có chất lượng hơn. Đặc biệt,
một cơ sở giáo dục có quy mô hợp lý sẽ thuận lợi hơn trong tổ chức các tổ
chuyên môn, hoạt động ngoại khóa, thư viện, phòng thí nghiệm, giáo dục thể chất
và nhiều hoạt động giáo dục khác. Đây chính là mục tiêu cần được nhìn nhận khi
đánh giá chủ trương sáp nhập.
Do đó, việc cố
tình sử dụng những cách diễn đạt như “đóng cửa trường học hàng loạt” hoặc “xóa
bỏ hệ thống giáo dục cơ sở” là không chính xác, mang tính quy chụp, cần phải đấu
tranh bác bỏ, làm cho chủ trương đúng đắn của Đảng đi vào cuộc sống, được thực
hiện hiệu quả./.
Aug 12, 2026
Không thể lợi dụng quyền tự do báo chí để đòi miễn trừ trách nhiệm pháp lý
Thực tiễn đời sống báo chí Việt Nam hiện nay là một bức tranh rất đa dạng, với hệ thống báo chí hoạt động rộng khắp, gồm nhiều loại hình, như: báo in, báo điện tử, phát thanh, truyền hình và các nền tảng số, tham gia ngày càng sâu rộng vào đời sống xã hội. Báo chí không chỉ đưa tin về hoạt động của Đảng, Nhà nước mà còn phản ánh tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, đời sống dân sinh, phòng chống tham nhũng, tiêu cực, đấu tranh với vi phạm pháp luật,... chú trọng những vấn đề liên quan trực tiếp đến đời sống của Nhân dân. Vì thế, đánh giá khách quan, đầy đủ thì báo chí ở nước ta không chỉ tuyên truyền mà còn thực hiện chức năng thông tin, phản ánh, giám sát, phản biện xã hội, định hướng dư luận và góp phần phát hiện những vấn đề cần được các cơ quan chức năng giải quyết.
Đối với vụ việc của Đoàn Bảo Châu - người tự xưng cái gọi là “nhà báo”, đã sử dụng tài khoản Facebook “Chau Doan” và tham gia phát trực tiếp trên kênh YouTube “BBC Tiếng Việt” nhiều nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, bịa đặt gây hoang mang trong Nhân dân và gây chiến tranh tâm lý. Hành động, việc làm này đã vi phạm Điều 117 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Vì thế, các cơ quan chức năng đã truy tố, điều tra và có đủ bằng chứng kết luận Đoàn Bảo Châu đã lợi dụng quyền tự do báo chí phát tán thông tin không kiểm chứng, xuyên tạc, chống phá nên bị đưa ra xét xử nghiêm minh, đúng người, đúng tội.
Tuy nhiên, lợi dụng việc này, một số tổ chức quốc tế không có thiện chí, trong đó có CPJ đã suy diễn, lu loa rằng: Việt Nam không thừa nhận tự do báo chí, tự do ngôn luận và đòi miễn trừ trách nhiệm pháp lý cho Đoàn Bảo Châu, là hoàn toàn vô căn cứ và phi lý.
Vì vậy, chúng ta cần nhìn nhận, đánh giá vụ việc này với thái độ tỉnh táo, khách quan, dựa trên chứng cứ của các cơ quan chức năng thực thi pháp luật; kiên quyết đấu tranh, vạch trần hành động lợi dụng tự do báo chí để biến thành chiếc ô che chắn cho những hành vi vi phạm pháp luật./.
Aug 11, 2026
Phản bác việc chính trị hóa vấn đề nhân quyền trong quan hệ Việt - Australia
Những cáo buộc về tình hình tự do dân chủ, nhân quyền hoàn toàn bỏ qua thực tế rằng Việt Nam đã và đang đạt được những bước tiến quan trọng, mang tính đột phá trong việc bảo đảm quyền con người, phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và tinh thần Hiến pháp năm 2013. Trong những năm qua, Việt Nam đã triển khai hàng loạt chính sách cải cách sâu rộng: từ việc hoàn thiện hệ thống pháp luật, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, nâng cao chất lượng đời sống kinh tế - xã hội cho người dân, đến việc mở rộng không gian an ninh mạng cho giao lưu và phát triển. Việt Nam cũng là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và duy trì định kỳ các diễn đàn đối thoại nhân quyền song phương với Úc trên tinh thần thẳng thắn, xây dựng. Tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu, sự phát triển bùng nổ của hạ tầng giáo dục, y tế và sự tham gia chủ động của hơn 100 triệu người dân vào các quyết sách quốc gia chính là minh chứng sinh động nhất cho một hệ thống nhân quyền thực chất, vì con người.
Bên cạnh đó, việc lấy danh nghĩa “cộng đồng người Việt” để cổ xúy cho các hoạt động chống phá hay cản trở ngoại giao là một hành vi đi ngược lại với tinh thần của kiều bào tại đây. Những bài viết này chỉ phản ánh góc nhìn và ý đồ của một nhóm nhỏ có xu hướng chính trị cực đoan, hoàn toàn không đại diện cho toàn thể hơn 350.000 người gốc Việt tại Úc. Đại đa số kiều bào đều có tinh thần hòa hợp, luôn hướng về quê hương với mong muốn đóng góp trí tuệ, nguồn lực cho sự phát triển của đất nước, đồng thời nỗ lực xây dựng hình ảnh người Việt hội nhập, văn minh và tuân thủ pháp luật tại nước sở tại. Dòng kiều hối ổn định cùng hàng trăm dự án đầu tư của doanh nhân kiều bào đã và đang trở thành nguồn sức mạnh thiết thực, góp phần thúc đẩy kinh tế - xã hội trong nước cũng như mở đường cho nông sản, hàng hóa Việt Nam vươn xa ra thị trường quốc tế.
Bên cạnh đó, các tổ chức uy tín như Mạng lưới Tri thức và Chuyên gia Việt Nam tại Úc (VISA) hay Hội Doanh nhân Việt Nam tại Úc (VBAA) đã quy tụ hàng loạt giáo sư, bác sĩ, nhà khoa học gốc Việt hàng đầu để tham gia tư vấn chính sách, chuyển giao công nghệ trong các lĩnh vực tiên phong như trí tuệ nhân tạo, nông nghiệp công nghệ cao và y tế. Tinh thần “tương thân tương ái” được phát huy qua những đợt quyên góp triệu đô hỗ trợ đồng bào miền Trung vượt qua bão lũ hay các quỹ học bổng tiếp sức cho trẻ em nghèo hiếu học. Không chỉ hướng về quê hương, kiều bào tại Úc luôn chấp hành nghiêm chỉnh luật pháp nước sở tại, đồng thời tích cực quảng bá bản sắc văn hóa dân tộc qua các lễ hội Tết, các lớp dạy tiếng Việt. Những đóng góp thiết thực và hình ảnh văn minh đó mới chính là đại diện trung thực nhất cho tiếng nói của cộng đồng người Việt tại Úc.
Tuy vậy, thay vì ghi nhận những tiến bộ thực chất và tinh thần đại đoàn kết đó, các phần tử cực đoan lại cố tình bỏ qua, tập trung khai thác các thông tin sai lệch để đưa ra kết luận phiến diện. Họ mạo danh “cộng đồng người Việt tự do” để tổ chức các hoạt động biểu tình, gây rối, nhưng thực chất chỉ phản ánh ý đồ chính trị hẹp hòi của một nhóm nhỏ. Đáng lo ngại hơn, việc họ kêu gọi chính quyền Úc dùng nhân quyền làm “vũ khí” để can thiệp trực tiếp vào chính sách đối ngoại và thể chế của Việt Nam là hành động trái ngược hoàn toàn với Hiến chương Liên hợp quốc, vốn khẳng định nguyên tắc bình đẳng chủ quyền và không can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia. Những hành vi này không chỉ đe dọa đến nền tảng hợp tác giữa hai nước mà còn ảnh hưởng tiêu cực đến lợi ích thiết thực của nhân dân hai bên. Hiện nay, kim ngạch thương mại song phương Việt - Úc đã phát triển mạnh mẽ, hợp tác an ninh, giáo dục và giao lưu nhân dân ngày càng sâu sắc. Mọi hành động gây chia rẽ, kích động áp lực chính trị đều đi ngược lại xu thế phát triển chung, làm suy yếu sự ổn định khu vực và tổn hại đến chính hình ảnh của cộng đồng người Việt trong mắt bạn bè quốc tế.
Thực chất, việc lợi dụng dân chủ, nhân quyền để can thiệp chính trị không phải là bảo vệ quyền con người, mà là sử dụng “chiêu bài nhân quyền” nhằm phục vụ mưu đồ chống phá riêng. Mục tiêu cuối cùng không phải là vì sự phát triển của đất nước hay lợi ích của kiều bào, mà là gây bất ổn, hạ thấp uy tín quốc tế của Việt Nam và mở đường cho các chiến dịch chia rẽ sâu rộng hơn. Đây là cách tiếp cận hoàn toàn trái ngược với tinh thần hợp tác, tôn trọng lẫn nhau mà quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt - Úc hướng tới.
Nhân dân Việt Nam và Úc xứng đáng được hưởng một mối quan hệ hợp tác bền vững, dựa trên lòng tin và lợi ích chung, thay bị chia rẽ bởi những luận điệu xuyên tạc. Trong một thế giới đầy biến động, sự đoàn kết, tôn trọng và hợp tác chân thành giữa hai quốc gia mới là nền tảng vững chắc nhất để bảo vệ nhân quyền đúng nghĩa - một nền nhân quyền gắn liền với hòa bình, độc lập, ổn định và thịnh vượng cho tất cả mọi người./.
Aug 10, 2026
Nhận diện và bác bỏ luận điệu xuyên tạc về năng lực tự điều chỉnh của Việt Nam
Trên trang Vietnamthoibao, Vũ Đức Khanh đăng bài viết: “Hội nghị Trung ương 3: Việt Nam còn đủ khả năng tự điều chỉnh?”; trong đó, đưa ra nhiều nhận định phiến diện, quy chụp về tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Thông qua việc khai thác một số vấn đề về tăng trưởng kinh tế, kỷ luật trong bộ máy, cải cách thể chế và những thách thức từ môi trường quốc tế, y cố tình tạo dựng một bức tranh tiêu cực, từ đó đi đến kết luận thiếu căn cứ rằng hệ thống chính trị Việt Nam đang “cạn kiệt khả năng tự điều chỉnh”, đứng trước nguy cơ mất khả năng tự sửa chữa. Đây là cách nhìn một chiều, mang nặng định kiến chính trị, không phản ánh đúng thực tiễn đổi mới, xây dựng và phát triển đất nước.
Thứ
nhất,
không thể lấy những suy diễn chủ quan về
“tính chính danh”, “khế ước ngầm” để phủ nhận bản chất và năng lực lãnh đạo, quản
lý, tự đổi mới của hệ thống chính trị Việt Nam. Trong bài viết, Vũ Đức
Khanh cố tình cho rằng, trong một hệ thống chính trị tập trung quyền lực, “tăng
trưởng không chỉ là chỉ tiêu kinh tế” mà còn là “nền tảng của tính chính danh”;
đồng thời suy diễn rằng, do “không có cạnh tranh chính trị thực chất và cơ chế
kiểm soát quyền lực hiệu quả”, Nhà nước Việt Nam phải chứng minh sự tồn tại bằng
kết quả kinh tế và đời sống xã hội. Cách lập luận này đã cố tình áp đặt một mô
hình chính trị xa lạ để đánh giá thực tiễn Việt Nam, đồng thời đánh tráo khái
niệm về tính chính danh của một nhà nước.
Thực tế cho thấy, tính chính danh của
Nhà nước Việt Nam không thể được giản lược thành một “khế ước ngầm” theo kiểu người
dân chấp nhận sự kiểm soát để đổi lấy tăng trưởng như cách Vũ Đức Khanh mô tả.
Tính chính danh của chế độ được hình thành từ lịch sử đấu tranh dựng nước và giữ
nước, từ sự lựa chọn con đường phát triển của dân tộc, từ vai trò lãnh đạo của
Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và
quyền làm chủ của nhân dân. Cùng với đó là những thành tựu thực tế trong phát
triển kinh tế, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân,
giữ vững độc lập, chủ quyền và ổn định chính trị - xã hội.
Việc đặt mục tiêu tăng trưởng cao không
phải là biểu hiện của một hệ thống đang “khủng hoảng tính chính danh”, mà là
yêu cầu xuất phát từ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, nâng
cao đời sống nhân dân và hiện thực hóa các mục tiêu chiến lược đã đề ra. Trong
quá trình đó, Việt Nam không tuyệt đối hóa tăng trưởng kinh tế mà luôn gắn phát
triển kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc
phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân.
Đáng chú ý, luận điệu cho rằng, Việt Nam
“không có cơ chế kiểm soát quyền lực hiệu quả” cũng là sự xuyên tạc của Vũ Đức
Khanh. Trong những năm qua, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh
phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, đồng bộ, không có
vùng cấm, không có ngoại lệ. Hệ thống pháp luật, cơ chế kiểm tra, giám sát của
Đảng, hoạt động giám sát của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và
các tổ chức chính trị - xã hội ngày càng được hoàn thiện. Việc xử lý nhiều vụ
án tham nhũng, tiêu cực lớn, kể cả đối với cán bộ giữ chức vụ cao, chính là
minh chứng cho quyết tâm kiểm soát quyền lực và làm trong sạch bộ máy.
Mọi quốc gia đều phải đối mặt với những
vấn đề phát sinh trong quá trình phát triển. Điều quan trọng là khả năng nhận
diện vấn đề, chủ động điều chỉnh chính sách và tổ chức thực hiện. Thực tiễn Việt
Nam cho thấy, quá trình đổi mới chưa bao giờ dừng lại; tư duy phát triển, mô
hình kinh tế, phương thức quản trị và hệ thống pháp luật liên tục được bổ sung,
hoàn thiện nhằm đáp ứng yêu cầu mới.
Thứ
hai,
luận điệu cho rằng, Việt Nam đang mất khả
năng tự điều chỉnh, đứng trước nguy cơ khủng hoảng do “kiểm soát quá mức” là
cách nhìn phiến diện, cố tình phủ nhận năng lực thích ứng và sức chống chịu của
đất nước. Vũ Đức Khanh đưa ra một loạt giả định về cú sốc năng lượng,
thương mại, an ninh, căng thẳng khu vực và chuỗi cung ứng, sau đó suy diễn rằng
những biến động bên ngoài có thể khiến Việt Nam nhanh chóng rơi vào tình trạng
thu hẹp dư địa chính sách và đối mặt với “gánh nặng chính trị”. Đây thực chất
là phương pháp lập luận dựa trên giả định để tạo ra một kịch bản khủng hoảng,
nhưng không đưa ra được cơ sở thuyết phục chứng minh Việt Nam đang mất khả năng
ứng phó.
Thực tế, trong một thế giới đầy biến động,
khả năng thích ứng và sức chống chịu của mỗi quốc gia không thể được đo bằng việc
có hay không có những cú sốc, mà phải được đánh giá qua năng lực chủ động ứng
phó, điều chỉnh chính sách và huy động nguồn lực. Việt Nam đã nhiều lần chứng
minh năng lực đó trước những biến động lớn của khu vực và thế giới. Trong quá
trình hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, Việt Nam chủ động đa dạng hóa quan hệ
đối ngoại, mở rộng thị trường, tham gia nhiều hiệp định thương mại tự do, tăng
cường hợp tác quốc tế và từng bước nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế.
Đặc biệt, việc cho rằng “càng kiểm soát
chặt chẽ, khả năng tự điều chỉnh càng suy giảm” là một nhận định mang tính áp đặt,
đánh đồng giữa kỷ luật, kỷ cương với sự cứng nhắc trong quản trị. Một bộ máy hiệu
lực, hiệu quả không thể thiếu kỷ luật, nhưng kỷ luật phải gắn với phân cấp,
phân quyền, trách nhiệm, kiểm tra, giám sát và cơ chế khuyến khích cán bộ dám
nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Đây cũng chính là những vấn
đề đang được Việt Nam quan tâm trong quá trình cải cách hành chính, hoàn thiện
thể chế và xây dựng đội ngũ cán bộ.
Không thể phủ nhận rằng, trong thực tiễn
vẫn còn những hạn chế như tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm, thủ tục hành
chính ở một số nơi còn rườm rà, chất lượng thực thi chính sách chưa đồng đều.
Nhưng nhìn nhận đúng những hạn chế đó là để khắc phục, không phải là căn cứ để
kết luận hệ thống đã “mất khả năng tự sửa chữa”. Ngược lại, việc thẳng thắn nhận
diện những điểm nghẽn, xác định rõ nguyên nhân và đề ra giải pháp chính là biểu
hiện của năng lực tự điều chỉnh.
Tóm lại, trước những
suy diễn xuyên tạc, lấy một số vấn đề đang đặt ra trong quá trình phát triển để
phủ nhận toàn bộ những thành tựu và nỗ lực đổi mới của đất nước của Vũ Đức
Khanh, mỗi chúng ta cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ. Việt Nam đang đứng trước
những thời cơ và thách thức đan xen, nhưng với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý
của Nhà nước, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và năng lực chủ động hội nhập
quốc tế, đất nước có đủ cơ sở để tiếp tục đổi mới, tự điều chỉnh và phát triển./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)
Aug 7, 2026
Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Việt Tân về mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước
Không ngẫu nhiên bởi vì: hệ thống mục tiêu phát triển của Việt Nam được Đảng Cộng sản Việt Nam thiết kế theo một lộ trình phát triển nhiều nấc, gắn với những dấu mốc lịch sử quan trọng của Đảng và đất nước. Mốc 2030, kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng, đặt mục tiêu đưa Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao. Mốc 2045, kỷ niệm 100 năm thành lập nước, hướng tới mục tiêu trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tiếp nối lộ trình đó, tầm nhìn đến 2130, là thời điểm tròn 200 năm thành lập Đảng, xác định mục tiêu: “xây dựng Việt Nam trở thành “quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao… xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa đậm đà bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại”.
Để xác định mục tiêu, tầm nhìn đó, Ban Chấp hành Trung ương thống nhất đánh giá, qua 40 năm đổi mới, 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử; quy mô, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế không ngừng được nâng cao; trở thành nước có thu nhập trung bình cao; đời sống Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tuy nhiên, quá trình đổi mới mô hình phát triển đất nước còn chậm. Trong khi đó, thế giới đang trải qua những thay đổi mang tính thời đại, tạo ra nhiều thuận lợi, thời cơ, thách thức lớn đan xen. Ở trong nước, Đảng ta đã ban hành nhiều chủ trương, quyết sách chiến lược, mang tính cách mạng; đặt ra nhiều vấn đề và yêu cầu mới rất cao, nhất là mục tiêu phấn đấu tăng trưởng hai con số trong giai đoạn 2026 - 2030; từ đó, đòi hỏi phải có bước đột phá về đổi mới mô hình phát triển đất nước.
Để hiện thực hóa khát vọng đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, xác lập nền tảng cho tầm nhìn 100 năm phát triển tiếp theo của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng (2030 - 2130), Ban Chấp hành Trung ương thống nhất cần phải đổi mới mô hình phát triển đất nước với các mục tiêu cụ thể theo các mốc đến năm 2030/2035/2045 và định hướng tầm nhìn đến năm 2130, Việt Nam trở thành quốc gia xã hội chủ nghĩa phát triển trình độ cao, văn minh, hiện đại, bản sắc, có năng lực sáng tạo và sức sống trường tồn; là một trong những nền kinh tế xanh, sáng tạo, trung tâm sản xuất thông minh hàng đầu của Châu Á; có vị thế quan trọng trong trật tự toàn cầu về tri thức, công nghệ, kinh tế, quốc phòng, an ninh; xã hội văn minh, thịnh vượng, công bằng, bao trùm, hạnh phúc; văn hóa bản sắc, con người phát triển toàn diện; đủ năng lực thích ứng với mọi thay đổi của thời đại và có đóng góp xứng đáng cho nhân loại.
Hoạch định chiến lược phát triển quốc gia luôn đòi hỏi phải kết hợp hài hòa giữa mục tiêu trước mắt và mục tiêu lâu dài. Người dân có quyền kỳ vọng vào những chuyển biến thiết thực trong đời sống hằng ngày; đồng thời, cũng có quyền kỳ vọng đất nước có một tầm nhìn đủ xa để các thế hệ kế tiếp tiếp tục kế thừa và phát triển. Hai yêu cầu này không loại trừ nhau mà bổ sung cho nhau. Đánh giá một chiến lược phát triển vì thế cần căn cứ vào nội dung, lộ trình và kết quả thực hiện qua từng giai đoạn, thay vì chỉ nhìn vào mốc thời gian cuối cùng rồi quy kết đó là “lời hứa hẹn”.
Với nội lực đã tích lũy, với vị thế quốc tế đang lên; với quyết tâm chính trị cao của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta; với các giải pháp đột phá, có tính khả thi cao trong thực hiện chắc chắn các mục tiêu, tầm nhìn phát triển đất nước mà Nghị quyết số 19-NQ/TW, ngày 28/7/2026 của Ban Châp hành Trung ương (khóa XIV) về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam đề ra sẽ được thực hiện thành công; các luận điệu xuyên tạc, phá hoại của các thế lực thù địch là không có cơ sở và nhất định thất bại./.
Aug 6, 2026
Nhận diện, vạch trần âm mưu kích động đối với tôn giáo
Tre Việt - Ngày 05/8, trang facebook Chân Trời Mới Media có bài viết về công tác quản lý nhà nước về tôn giáo ở Việt Nam. Họ cho rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam chưa bao giờ buông lỏng vòng kiểm soát đối với tôn giáo, và mọi đổi mới đều nhằm củng cố quyền kiểm soát ấy chứ không phải mở rộng tự do tín ngưỡng”. Đây là luận điệu xuyên tạc, chống phá hết sức nguy hiểm nhằm thực hiện âm mưu kích động các tôn giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc,... cần được nhận diện, vạch trần, đấu tranh bác bỏ. Bởi vì:
Thứ nhất, quan
điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam về tôn giáo và công tác tôn giáo là
luôn bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng,
tôn giáo của công dân theo đúng quy định của pháp luật. Quan điểm này được
hình thành trên cơ sở chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; được bổ sung, phát triển qua các kỳ
Đại hội Đảng và các nghị quyết, nhất là Nghị
quyết số 25-NQ/TW, ngày 12/3/2003 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung
ương Đảng (khoá IX) về công tác tôn giáo. Đồng thời, được ghi rõ trong Hiến
pháp năm 2013, Luật Tín ngưỡng,
tôn giáo năm 2016 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Trong đó, đã khẳng định:
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; các tôn giáo bình đẳng trước pháp
luật; Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
Trên
thực tế, Đảng, Nhà nước ta luôn xác định tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính
đáng của một bộ phận Nhân dân và sẽ còn tồn tại lâu dài trong quá trình xây
dựng, phát triển đất nước. Vì thế, Nhà nước tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín
ngưỡng, tôn giáo và quyền không theo tôn giáo của mọi công dân theo quy định
của Hiến pháp và pháp luật. Đồng thời, khẳng định đồng bào có đạo là bộ phận
của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng tinh thần đoàn kết giữa người có
đạo và không có đạo, giữa các tôn giáo khác nhau, phát huy những giá trị đạo
đức, văn hóa tốt đẹp của các tôn giáo để góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Thứ hai,
bức tranh về đời sống tôn giáo ở Việt
Nam đang phát triển rất đa dạng, phong phú, sôi động. Việt Nam là quốc
gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Hiện nay, có 16 tôn giáo đã được Nhà nước công nhận, cấp đăng ký hoạt động với hơn 40 tổ chức tôn giáo, khoảng 28 triệu tín đồ, chiếm gần 30% dân số
cùng hàng chục nghìn chức sắc, chức việc các tôn giáo và trên 30.000 cơ sở thờ tự trên cả nước. Hằng
năm, Việt Nam tổ chức nhiều lễ hội tôn giáo lớn, như: Phật đản, Lễ Giáng sinh, Lễ
Ramadan của người Hồi giáo, Đại lễ Cao Đài, các lễ hội Công giáo,... thu hút
đông đảo tín đồ và Nhân dân tham gia.
Những
năm qua, các tín đồ tôn giáo đã có
nhiều đóng góp tích cực cho xã hội, tham gia nhiều hoạt động từ thiện,
nhân đạo, cứu trợ thiên tai; khám chữa bệnh, chăm sóc người già, trẻ em có hoàn
cảnh khó khăn; giáo dục đạo đức, lối sống, xây dựng đời sống văn hóa ở cộng
đồng; tham gia bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu và các phong trào
thi đua yêu nước ở địa phương.
Bên
cạnh đó, Việt Nam còn duy trì quan hệ với nhiều tổ chức, cá nhân tôn giáo quốc
tế; trong đó, quan hệ với Tòa Thánh Vatican có nhiều bước phát triển tích cực,
hai bên đã thống nhất việc cử Đại diện
thường trú của Tòa Thánh tại Việt Nam, góp phần thúc đẩy đối thoại và
hợp tác.
Thứ ba,
Việt Nam kiên quyết đấu tranh, xử lý các hành vi lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo
để; kích động bạo lực, ly khai; xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã
hội hoặc quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, v.v. Thời gian qua, các
cơ quan chức năng thực thi pháp luật của Việt Nam đã xử lý nghiêm minh một số
công dân cố tình lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật, chống phá Đảng,
Nhà nước, chế độ; chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Vấn đề này không riêng gì
ở Việt Nam mà bất cứ quốc gia nào trên thế giới cũng sẽ làm như vậy.
Do
đó, việc họ chỉ nhìn vào một số vụ việc đơn lẻ đó rồi đưa ra nhận định như trên
là phiến diện, thiếu cơ sở với dụng ý xấu là phủ nhận chính sách tự do tín
ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam; tạo dư luận bất lợi về tình hình nhân quyền và
tự do tôn giáo ở Việt Nam; gây nghi ngờ, chia rẽ giữa đồng bào có đạo với chính
quyền và khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo nhận
diện, vạch trần, đấu tranh làm thất bại âm mưu này./.












