Sep 23, 2026

Bác bỏ luận điệu đánh tráo khái niệm để xuyên tạc bản chất Nhà nước Việt Nam

            Trên trang Baotiengdan đăng bài viết của Bùi Anh Chiến với tựa đề “Bản án một chế độ thực dân”. Y đã gọi chế độ chính trị ở Việt Nam là một dạng “thực dân” không cần quân đội nước ngoài chiếm đóng, Bùi Anh Chiến đã cố tình đánh tráo khái niệm, phủ nhận bản chất tốt đẹp của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, kích động sự đối lập giữa Nhà nước với Nhân dân, qua đó làm suy giảm niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự quản lý của Nhà nước.

Thứ nhất, đánh đồng chế độ chính trị ở Việt Nam với chế độ thực dân là sự xuyên tạc lịch sử và đánh tráo bản chất chính trị. Thực dân là chế độ trong đó một thế lực ngoại bang sử dụng bạo lực xâm lược, tước đoạt độc lập, chủ quyền, áp đặt bộ máy cai trị và bóc lột nhân dân thuộc địa để phục vụ lợi ích của chính quốc. Dưới chế độ thực dân, nhân dân thuộc địa không được làm chủ đất nước, không có quyền quyết định vận mệnh dân tộc; tài nguyên bị vơ vét, sức lao động bị bóc lột, các quyền dân tộc cơ bản bị chà đạp. Dân tộc Việt Nam đã từng trải qua hơn 80 năm dưới ách đô hộ của thực dân Pháp và phải hy sinh biết bao xương máu mới giành lại được độc lập, tự do.

Chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo Nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ để xóa bỏ chế độ thực dân, giành chính quyền về tay Nhân dân, thống nhất đất nước và xây dựng chế độ mới. Bởi vậy, gọi Nhà nước do chính Nhân dân Việt Nam đấu tranh giành được, xây dựng, bảo vệ và tham gia quản lý là “chế độ thực dân” không chỉ hoàn toàn phi lý về phương diện khoa học mà còn xúc phạm sự hy sinh của hàng triệu đồng bào, chiến sĩ vì độc lập, tự do của Tổ quốc. Đây là thủ đoạn cố tình xóa nhòa ranh giới giữa bộ máy xâm lược phục vụ lợi ích ngoại bang với Nhà nước đại diện cho ý chí, quyền làm chủ và lợi ích của Nhân dân Việt Nam.

Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) khẳng định rõ, Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, hội đồng nhân dân và các cơ quan khác của Nhà nước. Mục tiêu của Nhà nước là bảo đảm và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Bản chất ấy được thể hiện bằng hệ thống pháp luật và các thiết chế bầu cử, tiếp xúc cử tri, tiếp công dân, khiếu nại, tố cáo, giám sát, phản biện xã hội và thực hiện dân chủ ở cơ sở.

Thứ hai, kích động sự đối lập giữa Nhà nước với Nhân dân là thủ đoạn nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc và làm xói mòn niềm tin của Nhân dân. Bài viết của Bùi Anh Chiến sử dụng hàng loạt câu chữ mang tính tuyệt đối hóa rằng: Người dân “phải làm việc để nuôi bộ máy”, “phải im lặng để tránh rắc rối”, thông tin chỉ là sản phẩm “tự chỉnh sửa, tự nghĩ ra và tự tô vẽ”. Y không đưa ra những căn cứ đầy đủ, không đánh giá toàn diện thực tiễn đất nước, mà gom nhặt một số vụ việc tiêu cực, những bất cập đang được xử lý rồi quy kết thành đặc trưng của toàn bộ hệ thống chính trị. Đây là thủ pháp quen thuộc nhằm khoét sâu tâm lý bức xúc, biến những mong muốn chính đáng của người dân về một nền hành chính tốt hơn thành sự phủ định Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa.

Trong chế độ ta, quan hệ giữa Nhà nước và Nhân dân không phải quan hệ giữa kẻ cai trị với người bị trị, mà là quan hệ giữa Nhà nước thực hiện quyền lực do Nhân dân trao và Nhân dân tham gia xây dựng, kiểm tra, giám sát quyền lực ấy. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” ngày càng được thể chế hóa cụ thể. Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở quy định người dân có quyền được công khai thông tin, đề xuất sáng kiến, tham gia ý kiến, bàn và quyết định những vấn đề liên quan trực tiếp đến cộng đồng; kiểm tra, giám sát, kiến nghị, phản ánh, khiếu nại, tố cáo và khởi kiện đối với những hành vi vi phạm pháp luật.

Bùi Anh Chiến cũng cố tình đánh đồng việc quản lý hoạt động thông tin, ngăn chặn thông tin giả, xuyên tạc, kích động bạo lực với “kiểm soát thông tin” và “cấm đoán phản biện”. Trong khi Hiến pháp Việt Nam ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội và biểu tình của công dân. Và, ở mọi quốc gia, việc thực hiện các quyền tự do phải tuân thủ pháp luật, không được xâm phạm lợi ích quốc gia, dân tộc, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác. Cho nên, phản biện có căn cứ, với động cơ xây dựng thì được tôn trọng, nhưng nếu lợi dụng phản biện để bịa đặt, vu khống, kích động chống đối, gây mất ổn định xã hội thì phải bị xử lý theo pháp luật.

Tóm lại, phản ánh hạn chế, góp ý chính sách và đấu tranh với sai phạm là quyền, đồng thời là trách nhiệm của công dân. Nhưng mượn danh phản biện để đánh tráo khái niệm, biến hạn chế thành bản chất, đồng nhất Nhà nước của Nhân dân với chế độ thực dân và kích động Nhân dân đối lập với Nhà nước là sự xuyên tạc. “Bản án” thực sự phải dành cho những luận điệu sai trái, cố tình chia rẽ Đảng, Nhà nước với Nhân dân của Bùi Anh Chiến./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

 

Phản bác các luận điệu xuyên tạc Việt Nam đàn áp xuyên quốc gia


Có những khái niệm ra đời để gọi tên một thực tế nghiêm trọng, rồi bị mượn đi phục vụ mục đích khác hẳn. “Đàn áp xuyên quốc gia” là một trường hợp như vậy. Gần đây, một số tổ chức phản động, chống phá lưu vong gắn cụm từ này vào những vụ án hình sự mà Việt Nam xử lý theo đúng trình tự pháp luật, nhằm khoác cho người phạm tội “chiếc áo nạn nhân”. Cần nói rõ ngay: nơi cư trú không làm thay đổi bản chất hành vi và càng không tạo ra quyền miễn trừ trước pháp luật.

Trước hết phải trả khái niệm về đúng chỗ của nó. Trong nghiên cứu và thực tiễn quan hệ quốc tế, đàn áp xuyên quốc gia chỉ việc một nhà nước dùng bạo lực, bắt cóc, thủ tiêu hoặc trả thù thân nhân để bịt miệng người đang ở nước ngoài. Đặc trưng của nó là cưỡng chế nằm ngoài khuôn khổ pháp luật: không qua tòa án, không thủ tục, không ai chịu trách nhiệm. Chính vì vậy mà nó bị lên án.

Trong khi đó, khởi tố, điều tra, truy tố và xét xử là chuyện khác hẳn. Đó là hoạt động tố tụng, có căn cứ pháp lý, có trình tự, có quyền bào chữa và có bản án công khai. Lấy các bản án hình sự rồi quy kết là đàn áp xuyên quốc gia không phải nhầm lẫn học thuật, đó là hành vi có chủ đích nhằm đổi vị thế: biến bị cáo thành nạn nhân, biến cơ quan tố tụng thành thủ phạm.

Thực chất, vấn đề mấu chốt nằm ở đối tượng chịu tác động của pháp luật và trả lời cho câu hỏi: pháp luật hình sự Việt Nam điều chỉnh những ai. Điều 117 Bộ luật Hình sự quy định về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là cấu thành tội phạm cụ thể, áp dụng cho mọi chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của bộ luật. Không điều khoản nào cho phép miễn trách nhiệm khi người vi phạm đang sinh sống bên ngoài biên giới Việt Nam.

Điều này càng đúng với hành vi trên không gian mạng. Một kênh thông tin đặt máy chủ ở nước ngoài nhưng sản xuất nội dung tiếng Việt, nhắm vào người đọc trong nước, thì tác động phát sinh trong nước. Theo luật, hậu quả nằm ở đâu hoặc vụ án xảy ra ở đâu/hành vi vi phạm thực hiện ở đâu thì thẩm quyền xử lý thuộc về nơi đó. Còn xét xử vắng mặt, vốn hay bị đem ra làm bằng chứng, thực ra là chế định được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và đang áp dụng ở nhiều quốc gia châu Âu. Một thủ tục mà chính các nước đang phê phán vẫn dùng thì không thể tự nó là đàn áp.

Các vụ việc gần đây cần được trình bày đúng từng giai đoạn tố tụng. Ngày 31/12/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội xét xử Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài, tuyên phạt mỗi bị cáo mười bảy năm tù. Trường hợp Đặng Thị Huê khác hẳn: ngày 22/10/2025, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Hưng Yên mới khởi tố bị can theo Điều 117, vụ án đang điều tra, chưa có phiên tòa. Mô tả một người mới bị khởi tố như thể đã bị kết án là cách hành xử của chính những người lớn tiếng nhất về tố tụng.

Câu chuyện Nguyễn Văn Đài càng bác bỏ cáo buộc theo một chiều khác. Đối tượng này từng được hưởng chính sách nhân đạo, được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xuất cảnh chữa bệnh. Một nhà nước muốn truy đuổi ai đó thì đã không mở cửa cho người ấy đi. Điều diễn ra sau đó mới là gốc rễ của vụ án: thay vì dừng lại, đối tượng lại tiếp tục con đường cũ bằng các tài khoản mạng xã hội và kênh video do chính mình quản lý. Bản án cuối năm 2025 vì thế là hệ quả của những hành vi mới, sau khi đã được khoan hồng.

Trường hợp Lê Trung Khoa cho thấy một chiều kích khác: việc chống phá đã bị thương mại hóa. Theo kết quả điều tra được công bố, nội dung xuyên tạc ở đây vận hành như một dây chuyền, trong đó khoảng 90% lượt xem đến từ trong nước, được quy đổi thành doanh thu quảng cáo và tài trợ. Khi thu nhập tỷ lệ thuận với mức độ gây sốc thì cái gọi là phản biện xã hội đã đổi bản chất từ lâu. Điều tra cũng cho thấy sự câu kết có tổ chức giữa nhiều đối tượng lưu vong, nên luận điệu cho rằng đó là “ý kiến cá nhân” không thể chấp nhận được.

Ngày 14/10/2025, Đại hội đồng Liên Hợp Quốc bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 - 2028 với 180 phiếu thuận, cao nhất trong nhóm các nước châu Á và Thái Bình Dương. Kết quả đó cho thấy, thành tựu nhân quyền Việt Nam đủ sức thuyết phục các nước trên thế giới và không hề có chuyện đàn án cả trong nước và xuyên biên giới. Con số 180 phiếu thuận không do Việt Nam tự công bố. Đó là kết quả bỏ phiếu của gần hai trăm quốc gia, gồm cả những nước còn khác biệt với Việt Nam. Lá phiếu ấy phản ánh đánh giá thực tế về nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, từ giảm nghèo, y tế, giáo dục đến quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Cũng cần nhắc rằng tự do ngôn luận, theo chính các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, luôn đi kèm giới hạn vì an ninh quốc gia và trật tự công cộng. Giới hạn ấy không đi ngược cam kết nhân quyền, bởi nó nằm ngay trong chuẩn mực quốc tế.

Một sự kiện khác ít ngày sau cũng đáng suy nghĩ. Trong hai ngày 25 và 26/10 /2025, Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, với 72 quốc gia đặt bút ký. Đây là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên của Liên hợp quốc trong lĩnh vực này và mang tên Công ước Hà Nội (do Việt Nam đề xuất). Nội dung cốt lõi của Công ước chính là câu trả lời cho luận điệu đang bàn. Cộng đồng quốc tế đã thống nhất rằng không gian mạng không phải vùng vô pháp và tội phạm vượt qua biên giới phải được xử lý bằng cơ chế hợp tác pháp lý giữa các nhà nước. Nói cách khác, nguyên tắc bị gọi là đàn áp xuyên quốc gia khi Việt Nam áp dụng lại chính là nguyên tắc mà 72 quốc gia vừa ghi vào một văn kiện của Liên hợp quốc. Và ở đó, Việt Nam không ngồi ghế bị cáo mà là nước đăng cai, một bên xây dựng luật chơi chung.

Suy cho cùng, cái được gọi là đàn áp xuyên quốc gia ở đây chỉ là pháp luật vận hành đúng chức năng của nó, theo một trình tự công khai. Người ta có quyền không đồng tình với một điều luật và có quyền nói ra. Nhưng gọi sai tên sự việc thì không còn là phản biện. Gọi đúng tên luôn là điều kiện đầu tiên của mọi đối thoại tử tế về quyền con người./.


 (Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)