Có những khái niệm ra đời để gọi tên một
thực tế nghiêm trọng, rồi bị mượn đi phục vụ mục đích khác hẳn. “Đàn áp xuyên
quốc gia” là một trường hợp như vậy. Gần đây, một số tổ chức phản động, chống
phá lưu vong gắn cụm từ này vào những vụ án hình sự mà Việt Nam xử lý theo đúng
trình tự pháp luật, nhằm khoác cho người phạm tội “chiếc áo nạn nhân”. Cần nói
rõ ngay: nơi cư trú không làm thay đổi bản chất hành vi và càng không tạo ra
quyền miễn trừ trước pháp luật.
Trước hết phải trả khái niệm về đúng chỗ
của nó. Trong nghiên cứu và thực tiễn quan hệ quốc tế, đàn áp xuyên quốc gia chỉ
việc một nhà nước dùng bạo lực, bắt cóc, thủ tiêu hoặc trả thù thân nhân để bịt
miệng người đang ở nước ngoài. Đặc trưng của nó là cưỡng chế nằm ngoài khuôn khổ
pháp luật: không qua tòa án, không thủ tục, không ai chịu trách nhiệm. Chính vì
vậy mà nó bị lên án.
Trong khi đó, khởi tố, điều tra, truy tố
và xét xử là chuyện khác hẳn. Đó là hoạt động tố tụng, có căn cứ pháp lý, có
trình tự, có quyền bào chữa và có bản án công khai. Lấy các bản án hình sự rồi
quy kết là đàn áp xuyên quốc gia không phải nhầm lẫn học thuật, đó là hành vi
có chủ đích nhằm đổi vị thế: biến bị cáo thành nạn nhân, biến cơ quan tố tụng
thành thủ phạm.
Thực chất, vấn đề mấu chốt nằm ở đối tượng
chịu tác động của pháp luật và trả lời cho câu hỏi: pháp luật hình sự Việt Nam
điều chỉnh những ai. Điều 117 Bộ luật Hình sự quy định về tội làm, tàng trữ,
phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Đây là cấu thành tội phạm cụ thể, áp dụng cho mọi
chủ thể thuộc phạm vi điều chỉnh của bộ luật. Không điều khoản nào cho phép miễn
trách nhiệm khi người vi phạm đang sinh sống bên ngoài biên giới Việt Nam.
Điều này càng đúng với hành vi trên
không gian mạng. Một kênh thông tin đặt máy chủ ở nước ngoài nhưng sản xuất nội
dung tiếng Việt, nhắm vào người đọc trong nước, thì tác động phát sinh trong nước.
Theo luật, hậu quả nằm ở đâu hoặc vụ án xảy ra ở đâu/hành vi vi phạm thực hiện ở
đâu thì thẩm quyền xử lý thuộc về nơi đó. Còn xét xử vắng mặt, vốn hay bị đem
ra làm bằng chứng, thực ra là chế định được Bộ luật Tố tụng hình sự quy định và
đang áp dụng ở nhiều quốc gia châu Âu. Một thủ tục mà chính các nước đang phê
phán vẫn dùng thì không thể tự nó là đàn áp.
Các vụ việc gần đây cần được trình bày
đúng từng giai đoạn tố tụng. Ngày 31/12/2025, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội
xét xử Lê Trung Khoa và Nguyễn Văn Đài, tuyên phạt mỗi bị cáo mười bảy năm tù.
Trường hợp Đặng Thị Huê khác hẳn: ngày 22/10/2025, Cơ quan An ninh điều tra
Công an tỉnh Hưng Yên mới khởi tố bị can theo Điều 117, vụ án đang điều tra,
chưa có phiên tòa. Mô tả một người mới bị khởi tố như thể đã bị kết án là cách
hành xử của chính những người lớn tiếng nhất về tố tụng.
Câu chuyện Nguyễn Văn Đài càng bác bỏ
cáo buộc theo một chiều khác. Đối tượng này từng được hưởng chính sách nhân đạo,
được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù để xuất cảnh chữa bệnh. Một nhà nước muốn
truy đuổi ai đó thì đã không mở cửa cho người ấy đi. Điều diễn ra sau đó mới là
gốc rễ của vụ án: thay vì dừng lại, đối tượng lại tiếp tục con đường cũ bằng
các tài khoản mạng xã hội và kênh video do chính mình quản lý. Bản án cuối năm
2025 vì thế là hệ quả của những hành vi mới, sau khi đã được khoan hồng.
Trường hợp Lê Trung Khoa cho thấy một
chiều kích khác: việc chống phá đã bị thương mại hóa. Theo kết quả điều tra được
công bố, nội dung xuyên tạc ở đây vận hành như một dây chuyền, trong đó khoảng
90% lượt xem đến từ trong nước, được quy đổi thành doanh thu quảng cáo và tài
trợ. Khi thu nhập tỷ lệ thuận với mức độ gây sốc thì cái gọi là phản biện xã hội
đã đổi bản chất từ lâu. Điều tra cũng cho thấy sự câu kết có tổ chức giữa nhiều
đối tượng lưu vong, nên luận điệu cho rằng đó là “ý kiến cá nhân” không thể chấp
nhận được.
Ngày 14/10/2025, Đại hội đồng Liên Hợp
Quốc bầu Việt Nam làm thành viên Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2026 - 2028 với
180 phiếu thuận, cao nhất trong nhóm các nước châu Á và Thái Bình Dương. Kết quả
đó cho thấy, thành tựu nhân quyền Việt Nam đủ sức thuyết phục các nước trên thế
giới và không hề có chuyện đàn án cả trong nước và xuyên biên giới. Con số 180
phiếu thuận không do Việt Nam tự công bố. Đó là kết quả bỏ phiếu của gần hai
trăm quốc gia, gồm cả những nước còn khác biệt với Việt Nam. Lá phiếu ấy phản
ánh đánh giá thực tế về nỗ lực bảo đảm quyền con người ở Việt Nam, từ giảm
nghèo, y tế, giáo dục đến quyền của các nhóm dễ bị tổn thương. Cũng cần nhắc rằng
tự do ngôn luận, theo chính các công ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên,
luôn đi kèm giới hạn vì an ninh quốc gia và trật tự công cộng. Giới hạn ấy
không đi ngược cam kết nhân quyền, bởi nó nằm ngay trong chuẩn mực quốc tế.
Một sự kiện khác ít ngày sau cũng đáng
suy nghĩ. Trong hai ngày 25 và 26/10 /2025, Lễ mở ký Công ước của Liên hợp quốc
về chống tội phạm mạng được tổ chức tại Thủ đô Hà Nội, với 72 quốc gia đặt bút
ký. Đây là điều ước quốc tế đa phương đầu tiên của Liên hợp quốc trong lĩnh vực
này và mang tên Công ước Hà Nội (do Việt Nam đề xuất). Nội dung cốt lõi của
Công ước chính là câu trả lời cho luận điệu đang bàn. Cộng đồng quốc tế đã thống
nhất rằng không gian mạng không phải vùng vô pháp và tội phạm vượt qua biên giới
phải được xử lý bằng cơ chế hợp tác pháp lý giữa các nhà nước. Nói cách khác,
nguyên tắc bị gọi là đàn áp xuyên quốc gia khi Việt Nam áp dụng lại chính là
nguyên tắc mà 72 quốc gia vừa ghi vào một văn kiện của Liên hợp quốc. Và ở đó,
Việt Nam không ngồi ghế bị cáo mà là nước đăng cai, một bên xây dựng luật chơi
chung.
Suy cho cùng, cái được gọi là đàn áp
xuyên quốc gia ở đây chỉ là pháp luật vận hành đúng chức năng của nó, theo một
trình tự công khai. Người ta có quyền không đồng tình với một điều luật và có
quyền nói ra. Nhưng gọi sai tên sự việc thì không còn là phản biện. Gọi đúng
tên luôn là điều kiện đầu tiên của mọi đối thoại tử tế về quyền con người./.

0 comments:
Post a Comment