Oct 16, 2026

Bác bỏ suy luận phiến diện về tự do và pháp luật ở Việt Nam

        Tre Việt - “Không có tự do thì luật pháp chỉ là mệnh lệnh của kẻ cướp” là tiêu đề bài viết của Nhật Ngôn đăng trên trang facebook Việt Nam Thời Báo mới đây. Trong đó, đưa ra những nhận định, như: pháp luật Việt Nam chỉ là “mệnh lệnh của một đảng được hợp thức hóa”, hay “Đảng vừa viết luật, vừa thi hành, vừa xét xử”, v.v. Đây là những suy luận hoàn toàn phiến diện, thiếu cơ sở, quy kết bản chất của pháp luật và tổ chức quyền lực nhà nước, nhằm chống phá sự nghiệp xây dựng, phát triển của Việt Nam, cần bị vạch trần, bác bỏ.
        Trước hết, cần khẳng định rằng tự do là giá trị quan trọng của con người, nhưng tự do không đồng nghĩa với việc cá nhân được hành động tùy ý, bất chấp quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích chung của cộng đồng. Trong bất kỳ xã hội nào, việc thực hiện quyền tự do của mỗi người đều diễn ra trong những quan hệ xã hội cụ thể. Nếu không có các quy tắc chung để điều chỉnh hành vi, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm thì tự do của người này có thể trở thành sự xâm phạm tự do của người khác.
        Vì vậy, pháp luật không chỉ là công cụ quản lý xã hội mà còn là phương tiện xác lập, bảo vệ và bảo đảm thực hiện các quyền tự do. Pháp luật quy định những giới hạn cần thiết đối với hành vi của mỗi chủ thể, đồng thời đặt ra trách nhiệm đối với cơ quan công quyền, tạo cơ sở để người dân bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Một hệ thống pháp luật có chất lượng phải vừa bảo đảm trật tự, kỷ cương, vừa tôn trọng quyền con người, quyền công dân; vừa xác định nghĩa vụ, trách nhiệm, vừa ngăn ngừa việc lạm dụng quyền lực.
        Ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 (được sửa đổi, bổ sung năm 2025) đã xác lập những nguyên tắc nền tảng về vấn đề này. Điều 2 khẳng định: Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân. Còn tại Điều 3 đã quy định: Nhà nước có trách nhiệm công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Đặc biệt, Điều 14 quy định: Các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật; việc hạn chế các quyền này chỉ được thực hiện theo quy định của luật trong những trường hợp cần thiết. 
        Những quy định trên cho thấy, trong khuôn khổ pháp lý Việt Nam, tự do không bị phủ nhận mà được hiến định, bảo vệ và gắn với trách nhiệm của Nhà nước. Do đó, đặt tự do đối lập tuyệt đối với pháp luật, hoặc coi sự tồn tại của những quy định bắt buộc là bằng chứng cho thấy tự do không hiện hữu, là cách tiếp cận thiếu khách quan, toàn diện. 
        Trong bài viết còn cho rằng: pháp luật Việt Nam chỉ là “mệnh lệnh của một đảng được hợp thức hóa”. Cách diễn giải này chưa phân biệt đầy đủ giữa vai trò lãnh đạo chính trị, thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật và cơ chế tổ chức thi hành pháp luật của Nhà nước. Bởi: Điều 4 của Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội; đồng thời, Hiến pháp quy định Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình; các tổ chức của Đảng và đảng viên hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. 
        Như vậy, việc xác định vai trò lãnh đạo của Đảng không đồng nghĩa với việc đồng nhất Đảng với toàn bộ hệ thống cơ quan nhà nước hoặc cho rằng mọi hoạt động xây dựng, ban hành và thực thi pháp luật đều do một chủ thể duy nhất trực tiếp tiến hành. Trong thực tiễn thể chế, chủ trương, đường lối của Đảng định hướng quá trình hoạch định chính sách; việc thể chế hóa thành pháp luật được thực hiện thông qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền, theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định. Các văn bản quy phạm pháp luật phải được xem xét theo thẩm quyền ban hành, hình thức, nội dung và trình tự, thủ tục tương ứng.
        Cùng với đó, trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2025, cùng các sửa đổi, bổ sung có liên quan đã quy định khuôn khổ pháp lý về xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành văn bản quy phạm pháp luật. Đây là cơ sở pháp lý để xem xét quá trình chuyển hóa chính sách thành quy tắc xử sự chung, thay vì chỉ dựa vào nhận định rằng pháp luật là sự hợp thức hóa ý chí của Đảng. 
        Mặt khác, cần đánh giá pháp luật qua nội dung và tác động thực tế của nó đối với đời sống xã hội: quyền và nghĩa vụ của người dân được xác lập ra sao; lợi ích hợp pháp được bảo vệ như thế nào; cơ quan công quyền phải chịu những ràng buộc gì; cơ chế khiếu nại, tố cáo, xét xử và giám sát được thực hiện đến đâu. Đây mới là những tiêu chí cụ thể để nhận diện chất lượng và hiệu lực của một hệ thống pháp luật. Thực tế trong xã hội Việt Nam, mọi công dân đều có quyền bình đẳng trước pháp luật, có quyền tham gia quản lý, giám sát, phản biện xã hội, quyền khiếu nại, tố cáo cùng nhiều quyền tự do cơ bản khác. 
        Như vậy, cả lý luận và thực tiễn đều chỉ rõ những suy luận trong bài viết trên là hoàn toàn phiến diện, không có cơ sở, quy chụp nên sẽ không dẫn dụ, lừa gạt được ai và những âm mưu, ý đồ chống phá của chúng nhất định sẽ thất bại./.


Tự do ngôn luận phải đi cùng trách nhiệm

         Nghị định số 367/2026/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực báo chí có hiệu lực từ ngày 26/9/2026. Ngay sau khi được ban hành, văn bản này trở thành mục tiêu công kích của một số tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí. Cùng với việc diễn giải suy diễn hòng làm sai lệch nội dung nghị định, có ý kiến còn vu cáo đây là biện pháp “bóp nghẹt tự do báo chí”. Tuy nhiên, muốn đánh giá đúng bản chất của một văn bản pháp luật, cần căn cứ những quy định cụ thể, đặt trong hệ thống pháp luật hiện hành và xem xét đầy đủ cả quyền, nghĩa vụ lẫn trách nhiệm của các chủ thể liên quan.

Ảnh: Phóng viên các cơ quan thông tấn, báo chí tác nghiệp
tại một sự kiện đối ngoại quốc phòng

Nghị định 367 quy định hành vi vi phạm, hình thức và mức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả, thẩm quyền xử phạt trong lĩnh vực báo chí. Văn bản này cụ thể hóa chế tài theo Luật Báo chí số 126/2025/QH15, được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025 và có hiệu lực từ ngày 1/7/2026.

Chi tiết đang bị các trang mạng phản động, thiếu thiện chí khai thác nhiều nhất là mức phạt tiền tối đa 500 triệu đồng đối với tổ chức, 250 triệu đồng đối với cá nhân cho mỗi hành vi vi phạm. Trang “Chân trời mới Media” vu cáo rằng Nghị định 367 là “công cụ mới” để bóp nghẹt tự do báo chí, biến báo chí thành kênh tuyên truyền một chiều. Một số đối tượng rêu rao mức phạt cao sẽ khiến các tòa soạn sợ hãi, tự kiểm duyệt; quy kết rằng quy định có thể dùng để xử lý tùy tiện những tiếng nói trái chiều. Có đối tượng còn đem chuẩn mực của nước ngoài ra làm thước đo để rồi kết luận Việt Nam đang siết chặt báo chí.

Điểm chung của các nhận định này là cố tình xoáy vào số tiền xử phạt mà phớt lờ các nội dung khác trong văn bản. Đối chiếu với chính nghị định, có thể thấy trước hết, 500 triệu đồng là mức trần, không phải mức phạt chung.

Điều 14 của Nghị định, quy định về vi phạm trong đăng, phát nội dung thông tin, chia thành 9 khung tiền phạt, thấp nhất từ 5 - 10 triệu đồng. Đăng, phát thông tin sai sự thật gây ảnh hưởng ít nghiêm trọng bị phạt 10 - 20 triệu đồng; gây ảnh hưởng nghiêm trọng 60 - 80 triệu đồng; rất nghiêm trọng 80 - 100 triệu đồng.

Khung 400 - 500 triệu đồng chỉ áp dụng cho 2 nhóm hành vi chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự: Thông tin gây ảnh hưởng đến độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; thông tin gây chia rẽ giữa các tầng lớp nhân dân, giữa nhân dân với chính quyền, xuyên tạc lịch sử, phủ nhận thành tựu cách mạng, xúc phạm dân tộc, anh hùng dân tộc.

Thứ hai, Nghị định không tự đặt ra điều cấm mới. Những hành vi chịu khung phạt cao nhất được dẫn chiếu trực tiếp đến Điều 8, Luật Báo chí năm 2025. Các quy định này phù hợp với Khoản 2, Điều 14, Hiến pháp năm 2013: Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng. Giới hạn cụ thể do Quốc hội xác lập bằng luật, nghị định quy định ra chế tài hành chính tương ứng. Người bị xử phạt có quyền giải trình, khiếu nại, khởi kiện theo Luật Xử lý vi phạm hành chính.

Thứ ba, trong danh mục hành vi bị xử phạt về nội dung thông tin, không có hành vi nào là phản biện chính sách, phản ánh tiêu cực, mà chỉ xử lý với việc bịa đặt, vu khống, đưa tin sai sự thật. Phát hiện bất cập, phản ánh điều người dân quan tâm là chức năng của báo chí. Dĩ nhiên, với những khái niệm có phạm vi diễn giải rộng, việc áp dụng phải dựa trên chứng cứ, đúng thẩm quyền và nhất quán giữa các vụ việc. Đó là đòi hỏi chính đáng đối với cơ quan thực thi, song không thể vin vào đó để xuyên tạc rằng văn bản được ban hành nhằm bịt miệng báo chí.

Thứ tư, có một phần trong Nghị định mà các đối tượng phản động, cực đoan cố tình không nhắc tới, đó là những quy định bảo vệ nhà báo và bảo vệ người dân trước sai phạm của báo chí. Tại Điều 13, hành vi cản trở trái pháp luật hoạt động nghề nghiệp của nhà báo, phóng viên bị phạt 20 - 30 triệu đồng; thu giữ trái phép phương tiện, tài liệu tác nghiệp 30 - 50 triệu đồng; xúc phạm nhà báo đang tác nghiệp, cố ý làm hư hỏng phương tiện 50 - 70 triệu đồng; đe dọa, uy hiếp tính mạng nhà báo, phóng viên 70 - 100 triệu đồng.

Theo Nghị định số 119/2020/NĐ-CP của Chính phủ trước đây, mức cao nhất cho nhóm hành vi này là 60 triệu đồng. Đồng thời tại Điều 14, cơ quan báo chí bị phạt nếu quy kết tội danh khi chưa có bản án có hiệu lực pháp luật của tòa án, không đăng ý kiến phản hồi của tổ chức, cá nhân liên quan, tiết lộ bí mật đời tư hoặc làm lộ danh tính người tố cáo.

Việc các đối tượng cố tình khai thác mức tiền phạt trong Nghị định 367, bị đẩy thành câu chuyện “đàn áp” tự do ngôn luận, tự do báo chí, trước hết nhằm gieo tâm lý e dè, đề phòng trong đội ngũ làm báo, tách người làm báo khỏi cơ quan quản lý. Tiếp đó là tạo cớ: mỗi lần Việt Nam ban hành một văn bản về báo chí hay không gian mạng, lập tức những đối tượng này lớn tiếng lu loa, xuyên tạc, dẫn ra như những “dẫn chứng” cụ thể, để rồi từ đó biến thành dữ liệu, căn cứ cho những bản phúc trình, bảng xếp hạng thiếu khách quan về tự do báo chí, làm căn cứ vận động gây sức ép từ bên ngoài. Sâu xa hơn, khi coi mọi chế tài đối với tin giả, xuyên tạc lịch sử là vi phạm tự do ngôn luận, họ đang đòi một vùng miễn trừ pháp lý cho chính loại thông tin ấy.

Trong khi đó, nhu cầu về thông tin chính xác chưa bao giờ lớn như hiện nay. Hình ảnh, giọng nói, video do trí tuệ nhân tạo (AI) tạo ra ngày càng khó phân biệt với tư liệu thật; một tin sai có thể làm tổn hại danh dự một con người, uy tín một doanh nghiệp trước khi sự thật kịp được làm rõ. Phóng viên bỏ hàng tháng trời điều tra, xác minh không thể bị đánh đồng với những nơi giật tít câu khách, dựng chuyện sai sự thật. Xử lý nghiêm vi phạm cũng là bảo vệ uy tín của những người làm nghề tử tế.

Khoản 3, Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị, mà Việt Nam gia nhập năm 1982, nêu rõ việc thực hiện quyền tự do ngôn luận kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt, có thể phải chịu một số hạn chế do luật định để tôn trọng quyền, uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức xã hội.

Ở Đức, Điều 130, Bộ luật Hình sự xử lý hành vi kích động thù hận, phủ nhận hoặc hạ thấp tội ác của chủ nghĩa quốc xã, với hình phạt đến 5 năm tù. Pháp có Luật Gayssot năm 1990 trừng phạt việc phủ nhận tội ác chống loài người. Luật An toàn trực tuyến năm 2023 của Anh cho phép phạt doanh nghiệp vi phạm đến 18 triệu bảng Anh hoặc 10% số doanh thu toàn cầu. Ngay tại Hoa Kỳ, nơi Tu chính án thứ nhất bảo vệ tự do ngôn luận rất mạnh, tháng 4/2023 Fox News vẫn phải chấp nhận trả 787,5 triệu USD để dàn xếp vụ kiện phỉ báng của Công ty Dominion Voting Systems liên quan thông tin sai về bầu cử.

Mỗi nước có hệ thống pháp luật riêng, nhưng các thí dụ nêu trên cho thấy không nơi nào coi tự do ngôn luận là quyền phát ngôn vô giới hạn.

Điều 25, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 ghi nhận quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin của công dân. Đó là quyền hiến định, không phải sự ban phát, và Nghị định 367 không thu hẹp quyền ấy. Người được lợi từ một nền báo chí có kỷ cương chính là công chúng, bởi họ được tiếp cận một môi trường thông tin văn minh, lành mạnh, nhân văn, được bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)