Tre Việt - Từ năm nay, ngày 24/11 hằng năm, người lao động trên cả nước sẽ được nghỉ, hưởng nguyên lương để tham gia các hoạt động kỷ niệm, tôn vinh văn hóa Việt Nam. Tuy nhiên, mới đây trên trang Bauxite Việt Nam đăng bài viết: “Không có văn hóa vong nô, chỉ có kẻ nô lệ làm văn hóa”, đưa ra nhiều nhận định quy kết về quá trình phát triển văn hóa Việt Nam, cho rằng: “80 năm là văn hóa chính trị”, văn học, điện ảnh và nếp sống xã hội đều “định sẵn”; đồng thời, lấy mức độ phổ biến của văn hóa ngoại quốc và khả năng xuất khẩu sản phẩm làm tiêu chí đánh giá giá trị văn hóa dân tộc. Đây là lập luận phiến diện, đánh đồng hiện tượng với bản chất, từ đó xuyên tạc đường lối xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam, cần bị nhận diện, bác bỏ.
Thứ nhất, không thể
đồng nhất định hướng chính trị với sự áp đặt, phủ nhận tính độc lập và sáng tạo
của văn hóa. Về lý luận, văn hóa là tổng
thể những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo trong lịch sử;
vừa phản ánh điều kiện tồn tại xã hội, vừa tác động trở lại đối với sự phát
triển của xã hội. Văn hóa luôn gắn với lịch sử, lợi ích cộng đồng và hệ giá trị
mà mỗi dân tộc lựa chọn. Vì vậy, không có nền văn hóa nào hoàn toàn tách rời
bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội; nhưng cũng không thể vì có mối quan hệ ấy
mà quy kết văn hóa thành công cụ chính trị.
Văn
hóa Việt Nam có cội nguồn từ hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, kết tinh
trong tiếng Việt, văn học dân gian, tín ngưỡng, phong tục, nghệ thuật truyền
thống, lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và đạo lý nhân nghĩa. Cách mạng Tháng
Tám năm 1945 mở ra thời kỳ phát triển mới, tạo điều kiện để Nhân dân từng bước
tiếp cận rộng rãi hơn với giáo dục, văn hóa và đời sống tinh thần. Trong kháng
chiến, văn học, nghệ thuật gắn bó với sự nghiệp giải phóng dân tộc; trong hòa
bình, thống nhất và đổi mới, hoạt động sáng tạo tiếp tục mở rộng về đề tài,
hình thức và phương thức biểu đạt.
Nghị
quyết số 33-NQ/TW, ngày 9/6/2014 của Hội nghị Trung ương 9, khóa XI xác định
nhiệm vụ xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu
phát triển bền vững đất nước. Mục tiêu ấy không chỉ là tuyên truyền một hệ tư
tưởng, mà còn hướng đến hoàn thiện nhân cách, xây dựng môi trường văn hóa lành
mạnh, phát huy sức sáng tạo và tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Tại Điều 40,
Điều 41 Hiến pháp năm 2013 đã ghi nhận quyền sáng tạo văn học, nghệ thuật,
nghiên cứu khoa học và quyền hưởng thụ, tiếp cận các giá trị văn hóa. Những căn
cứ đó cho thấy, không thể lấy một số hạn chế trong thực tiễn để kết luận toàn
bộ đời sống văn hóa Việt Nam bị áp đặt, thiếu tự do sáng tạo.
Thứ hai,
thực tiễn bác bỏ nhận định cho rằng văn học, điện ảnh và nếp sống xã hội đều bị
“định sẵn”. Nếu văn học chỉ là sản phẩm của một khuôn mẫu duy nhất thì
khó có thể lý giải sự đa dạng về đề tài, phong cách và cách tiếp cận hiện thực
trong văn học Việt Nam hiện đại. Bên cạnh những tác phẩm viết về chiến tranh
cách mạng, lòng yêu nước và chủ nghĩa anh hùng cách mạng, nhiều tác phẩm đi sâu
vào đời sống cá nhân, gia đình và các vấn đề đạo đức xã hội trong quá trình đổi
mới. Sự vận động của văn học cho thấy quan hệ giữa định hướng giá trị và sáng
tạo nghệ thuật không phải quan hệ đồng nhất, máy móc.
Điện
ảnh Việt Nam cũng trải qua quá trình chuyển biến từ chủ yếu phục vụ nhiệm vụ
kháng chiến, kiến quốc sang phản ánh đa dạng hơn đời sống xã hội, tâm lý con
người và những biến đổi của thời đại. Mặc dù điện ảnh trong nước còn những hạn
chế về kịch bản, chất lượng sản xuất, quảng bá và sức cạnh tranh,... song đó là
những vấn đề cần được phân tích bằng tiêu chí nghề nghiệp, dữ liệu thị trường
và từng tác phẩm cụ thể. Nếu chỉ dùng việc phim nước ngoài chiếm ưu thế ở một
số thời điểm là không đủ căn cứ để kết luận điện ảnh Việt Nam “chết lâm sàng”,
càng không chứng minh mọi sáng tạo nghệ thuật trong nước đều bị định đoạt.
Thứ ba,
hội nhập văn hóa không đồng nghĩa với từ bỏ bản sắc, càng không thể lấy sự công
nhận từ bên ngoài làm thước đo duy nhất. Văn hóa Việt Nam trong lịch
sử đã có sự tiếp thu từ bên ngoài, đồng thời chọn lọc, cải biến và sáng tạo để
hình thành bản sắc riêng. Vì vậy, học ngoại ngữ, thưởng thức âm nhạc quốc tế,
tiếp nhận công nghệ mới hay sử dụng trang phục hiện đại không đồng nghĩa với quên gốc rễ của mình, không nghĩ gì đến tổ
tiên, nòi giống. Vấn đề cốt yếu là năng lực lựa chọn, tiếp thu có phê
phán và giữ vững những giá trị nền tảng của dân tộc.
Bài
viết đưa ra câu hỏi: Vì sao áo dài, nón lá không được người nước ngoài sử dụng
phổ biến? Vì sao chèo, ca trù, hát xoan có nguy cơ mai một, trong khi âm nhạc và
phim ảnh nước ngoài thu hút công chúng. Cách so sánh này đã đồng nhất giá trị
văn hóa với mức độ phổ biến và sức tiêu thụ thương mại. Trên thực tế, việc
UNESCO ghi danh một di sản không có nghĩa di sản ấy tự động được bảo tồn bền
vững; muốn duy trì sức sống, phải có cộng đồng thực hành, truyền dạy, công
chúng tiếp nhận và chính sách hỗ trợ phù hợp. Ngược lại, một sản phẩm ngoại
quốc được ưa chuộng cũng không mặc nhiên có giá trị cao hơn mọi sản phẩm trong
nước.
Phát
triển công nghiệp văn hóa cần hướng đến chất lượng, sức cạnh tranh và khả năng
tiếp cận thị trường, nhưng doanh thu hay xuất khẩu không phải tiêu chí duy nhất
đánh giá giá trị văn hóa. Bản sắc dân tộc phải được phát huy trong sáng tạo
hiện đại, còn hội nhập phải góp phần nâng cao năng lực tự chủ, chứ không phải
sao chép hoặc khép kín trước thế giới.
Như
vậy, nhận định “80 năm là văn hóa chính trị” và cho rằng văn học, điện ảnh, nếp
sống xã hội đều bị “định sẵn” là những suy luận phiến diện, xuyên tạc, không
phản ánh đúng lịch sử và thực tiễn văn hóa Việt Nam. Ngược lại, nền văn hóa
tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc đang là nền tảng tinh thần quan trọng để củng
cố sức mạnh nội sinh, tăng cường đồng thuận xã hội, góp phần xây dựng, bảo vệ
vững chắc Tổ quốc trong kỷ nguyên mới./.
