Jan 28, 2026

Không ồn ào không có nghĩa là không đổi mới: Đại hội XIV và nghịch lý truyền thông!

          Trong không gian truyền thông hiện đại, nơi nhịp độ thông tin ngày càng nhanh và sự chú ý của công chúng bị phân mảnh bởi mạng xã hội, một hiện tượng đáng lo ngại đang hình thành: tâm lý “nghiện mới lạ” và “đòi hỏi cú sốc”. Không ít người tiếp nhận thông tin đã quen với việc đánh giá một sự kiện chính trị bằng mức độ gây chú ý tức thời, bằng những tuyên bố đột phá được trình bày như bước ngoặt kịch tính. Chính trong bối cảnh đó, các luận điệu xuyên tạc, chống phá Đại hội XIV đã tìm được mảnh đất để nảy nở, khi chúng vin vào sự thiếu kiên nhẫn của một bộ phận dư luận để gán ghép, quy chụp rằng “Đại hội không có gì mới”, từ đó hạ thấp ý nghĩa, vai trò và giá trị lịch sử của Đại hội.

Đây không phải là nhận định ngẫu nhiên, càng không phải đánh giá học thuật, mà là một thủ đoạn truyền thông được thiết kế có chủ ý nhằm đánh tráo bản chất của hoạt động lãnh đạo chính trị với sản phẩm giải trí ngắn hạn.

Thực chất, tâm lý “khát mới” không phải tự nhiên trở thành vấn đề chính trị, nhưng nó bị các đối tượng chống phá khai thác triệt để. Họ cố tình dựng lên một kỳ vọng sai lệch rằng Đại hội Đảng phải đưa ra những quyết định gây sốc, những thay đổi đột ngột, thậm chí những tuyên bố đảo chiều chính sách thì mới được coi là “đổi mới”. Khi Đại hội XIV được tổ chức đúng bản chất của một sự kiện chính trị - tư tưởng trọng đại, với sự điềm tĩnh, chặt chẽ và tính kế thừa cao, lập tức họ quay sang phủ nhận sạch trơn, coi sự ổn định là biểu hiện của trì trệ. Sự trượt giọng này không phải là nhầm lẫn trong nhận thức, mà là sự chuyển giọng có chủ đích: từ thổi phồng kỳ vọng sang gieo rắc thất vọng, từ đó tạo ra nghi ngờ về năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Nếu nhìn sâu vào bản chất, có thể thấy rõ rằng Đại hội Đảng chưa bao giờ được thiết kế để trở thành nơi tạo ra “cú sốc” truyền thông. Đại hội là nơi tổng kết một chặng đường phát triển, đánh giá toàn diện bối cảnh trong nước và quốc tế, xác lập những định hướng chiến lược lớn, bảo đảm tính liên tục trong lãnh đạo và quản lý xã hội. Trong khoa học chính trị, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển, sự ổn định và nhất quán không phải là dấu hiệu của bảo thủ, mà là điều kiện tiên quyết để cải cách dài hạn có thể triển khai thành công. Việc các đối tượng xuyên tạc cố tình đồng nhất đổi mới với xáo trộn cho thấy họ không quan tâm đến hiệu quả thực chất, mà chỉ nhằm tạo ra cảm giác bất mãn giả tạo trong dư luận.

Lịch sử các kỳ Đại hội Đảng đã chứng minh rất rõ một điều: giá trị của Đại hội không hiện hình ngay tại thời điểm diễn ra, mà chỉ bộc lộ đầy đủ qua nhiều năm triển khai. Đại hội VI mở ra công cuộc đổi mới không phải bằng những tuyên bố giật gân, mà bằng sự điều chỉnh có tính chiến lược về tư duy phát triển. Các Đại hội sau đó tiếp tục cụ thể hóa, hoàn thiện và mở rộng đổi mới trong từng lĩnh vực, từ kinh tế, xã hội đến xây dựng Đảng. Ngay cả những nội dung ngày nay được nhìn nhận là bước ngoặt lịch sử, tại thời điểm công bố cũng từng bị một số ý kiến hoài nghi vì không tạo ra “hiệu ứng tức thì”. Điều đó cho thấy, việc vội vàng kết luận Đại hội XIV “không có gì mới” không chỉ thiếu cơ sở khoa học, mà còn lặp lại đúng kiểu sai lầm nhận thức đã từng xuất hiện trong quá khứ.

Một yếu tố xuyên suốt làm nên thành công của các kỳ Đại hội trước đây chính là sự tuân thủ nghiêm ngặt quy trình, quy định trong Đảng, gắn liền với việc phát huy dân chủ nội bộ và giữ vững đoàn kết, thống nhất. Công tác chuẩn bị văn kiện, nhân sự, tổ chức thảo luận đều được tiến hành bài bản, chặt chẽ, trên cơ sở tổng hợp ý kiến từ nhiều cấp, nhiều lĩnh vực. Dân chủ trong Đảng không phải là sự tùy tiện hay tranh cãi vô nguyên tắc, mà là dân chủ gắn với kỷ luật, bảo đảm mọi quyết sách lớn đều là kết quả của trí tuệ tập thể. Chính nền tảng này đã giúp Đảng duy trì được sự thống nhất ý chí và hành động, tạo nên sức mạnh lãnh đạo đất nước trong những giai đoạn đầy biến động.

Các luận điệu chống phá thường xuyên bóp méo khái niệm dân chủ trong Đảng, cố tình mô tả quá trình này như sự áp đặt một chiều. Tuy nhiên, thực tiễn đã chứng minh điều ngược lại. Nếu không có cơ chế dân chủ nội bộ và kỷ luật chặt chẽ, Việt Nam khó có thể duy trì ổn định chính trị trong nhiều thập kỷ, vượt qua khủng hoảng kinh tế khu vực, toàn cầu, đại dịch và những biến động địa chính trị phức tạp. Sự ổn định đó không phải là trạng thái tĩnh, mà là nền tảng để thích ứng linh hoạt, điều chỉnh chính sách khi cần thiết mà không rơi vào hỗn loạn.

Lòng tin của Nhân dân chính là thước đo khách quan nhất đối với giá trị của Đại hội XIV. Lòng tin ấy không được xây dựng bằng khẩu hiệu hay những tuyên bố hoa mỹ, mà bằng kết quả cụ thể trong đời sống xã hội. Tăng trưởng kinh tế được duy trì trong bối cảnh thế giới nhiều bất ổn, an sinh xã hội được mở rộng, xóa đói giảm nghèo đạt kết quả bền vững, hạ tầng được đầu tư đồng bộ, vị thế quốc tế của Việt Nam ngày càng nâng cao – tất cả những điều đó là minh chứng sinh động cho hiệu quả của đường lối lãnh đạo. Trong bối cảnh ấy, những luận điệu xuyên tạc về việc Đại hội “không có gì mới” gần như không tạo được tác động xã hội đáng kể, bởi chúng va chạm trực tiếp với trải nghiệm thực tế của người dân.

Không phải ngẫu nhiên mà nhiều học giả và cơ quan báo chí quốc tế đánh giá cao con đường phát triển của Việt Nam, nhấn mạnh vai trò của ổn định chính trị và sự liên tục trong lãnh đạo. Các phân tích quốc tế thường chỉ ra rằng, trong khi nhiều quốc gia rơi vào vòng xoáy bất ổn do thay đổi chính sách đột ngột, Việt Nam duy trì được tính dự đoán và nhất quán, qua đó tạo niềm tin cho nhà đầu tư và xã hội. Những đánh giá này bác bỏ trực tiếp quan điểm cho rằng “không có gì mới” đồng nghĩa với “không có giá trị”. Trên thực tế, trong nghiên cứu phát triển, chính sự nhất quán và ổn định mới là điều kiện để cải cách sâu rộng phát huy hiệu quả lâu dài.

Trước bối cảnh đó, việc chính quyền kiên quyết xử lý các đối tượng tung tin giả, xuyên tạc, chống phá Đại hội XIV, dù ở trong hay ngoài nước, là yêu cầu khách quan để bảo vệ môi trường chính trị - xã hội lành mạnh. Tự do thông tin không thể bị lợi dụng để bịa đặt, bóp méo sự thật và gây tổn hại đến lợi ích quốc gia. Xử lý nghiêm thông tin giả không phải là hạn chế quyền tự do, mà là bảo vệ quyền được tiếp cận thông tin đúng đắn của đại đa số người dân, đồng thời ngăn chặn những hệ lụy xã hội nguy hiểm từ sự lan truyền của tin sai lệch.

Xét đến cùng, cái mới thực sự của Đại hội XIV không nằm ở sự ồn ào hay những khẩu hiệu gây chú ý, mà ở khả năng tiếp nối có chọn lọc, ở sự kiên định mục tiêu đi đôi với linh hoạt trong phương thức thực hiện, ở việc củng cố niềm tin xã hội trong một thế giới đầy biến động. Sự thiếu kiên nhẫn của một bộ phận dư luận và các thế lực chống phá không thể trở thành thước đo cho giá trị của một sự kiện chính trị có ý nghĩa lịch sử. Cải cách không phải là màn trình diễn, đổi mới không đồng nghĩa với xáo trộn, và Đại hội XIV, trong sự điềm tĩnh và nhất quán của mình, đang thể hiện đúng bản chất ấy./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

 

“Công dân số” - Sự thật bị bóp méo

         Lợi dụng việc Bộ Công an đang lấy ý kiến dự thảo Nghị quyết phát triển công dân số, trong đó có đề xuất triển khai hệ thống điểm công dân số trên VNeID, các thế lực thù địch lại “được đà” tung ra những luận điệu xuyên tạc với mưu đồ chống phá thâm độc. Điển hình như trên trang Saigonnhonews, dưới tiêu đề đầy tính kích động “Xếp hạng công dân: Đòn sinh tử của Bộ Công an trước đại hội”, Minh Hải đã rêu rao rằng “Bộ Công an ngày càng công khai từng bước thay thế vai trò của Chính phủ trong việc định hình phương thức quản trị xã hội bằng sữ liệu và kỹ thuật số” và coi đề xuất “chấm điểm công dân trên VNEID là chiến lược kiểm soát toàn bộ xã hội”. Phải khẳng định rằng, đây là một nhận định hoàn toàn vô căn cứ, một góc nhìn trái chiều, là thủ đoạn thâm độc nhằm chia rẽ khối đoàn kết trong hệ thống chính trị, gieo rắc sự hoang mang, hoài nghi trong nhân dân.

          1. Bộ Công an không thay thế vai trò của Chính phủ. Trong nguyên tắc vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, việc xây dựng chính sách, pháp luật là một quy trình khoa học, minh bạch và chặt chẽ. Trong quá trình đó, các bộ, ngành có trách nhiệm chủ động nghiên cứu, xây dựng dự thảo, đề xuất chính sách thuộc lĩnh vực được phân công quản lý, trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ xem xét, quyết định. Bộ Công an với tư cách là cơ quan quản lý nhà nước của Chính phủ, có chức năng tham mưu, thực thi và quản lý công tác bảo vệ an ninh quốc gia, đảm bảo trật tự an toàn xã hội, đấu tranh phòng, chống tội phạm, và các vi phạm pháp luật về an ninh quốc gia trật tự an toàn xã hội. Do đó, việc Bộ Công an chủ trì, phối hợp với các bộ ngành liên quan xây dựng, dự thảo Nghị quyết phát triển công dân số, trong đó có đề xuất triển khai hệ thống điểm công dân số trên VNeID hoàn toàn nằm trong khuôn khổ chức năng, nhiệm vụ được pháp luật quy định và Chính phủ phê duyệt.

        Cần phải hiểu rõ rằng, trong kỷ nguyên số, dữ liệu chính là “trái tim” của hệ điều hành quốc gia. Quản trị xã hội hiện đại không thể dựa trên những phương thức thủ công lỗi thời mà phải dựa trên dữ liệu thực, chính xác và được cập nhật liên tục. Việc các cơ quan Nhà nước nghiên cứu công cụ quản lý mới là một tất yếu khách quan nhằm tối ưu hóa việc phục vụ nhân dân và bảo vệ quyền lợi hợp pháp của mỗi công dân. Thực chất, Bộ Công an đang đóng vai trò là “kiến trúc sư hạ tầng”, nỗ lực xây dựng một nền tảng số dùng chung cho cả hệ thống chính trị. Khi “hạ tầng dữ liệu” được thông suốt, các bộ ngành từ Tài chính, Y tế đến Giáo dục mới có thể thực hiện chức năng chuyên ngành một cách hiệu quả, minh bạch và chính xác hơn. Do đó, chủ trương của Đảng, Nhà nước, Chính phủ đang được Bộ Công an triển khai, thực hiện chính là nỗ lực phụng sự cho cho Tổ quốc, phục sự Nhân dân. 

          Thực tế đã chứng minh, nhờ sự quyết liệt của Bộ Công an trong việc số hóa, hàng triệu người dân đã tiết kiệm được thời gian, công sức và chi phí khi thực hiện thủ tục hành chính. Bộ Công an “không thay thế vai trò của Chính phủ” hay “tự ý định hình phương thức quản trị xã hội bằng dữ liệu” mà được Chính phủ phê duyệt để cùng kiến tạo một diện mạo mới cho đất nước: Hiện đại hơn, an toàn hơn và minh bạch hơn.

        2. Vì mục tiêu bảo vệ quyền lợi và nâng cao năng lực số của người dân trong kỷ nguyên số. Luận điệu “Đề xuất chấm điểm công dân là chiến lược kiểm soát toàn bộ xã hội” và “là đòn quyền lực nhắm thẳng vào Đại hội XIV” của Minh Hải đã lộ rõ bản chất xuyên tạc, chống phá. Cần khẳng định rằng, đề xuất của Bộ Công an xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của công cuộc chuyển đổi số quốc gia, nhằm phục vụ người dân tốt hơn, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, đơn giản hóa thủ tục hành chính và bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong môi trường số; hướng tới đánh giá mức độ sẵn sàng, mức độ tham gia và khả năng thụ hưởng dịch vụ số của công dân, qua đó giúp Nhà nước có căn cứ khoa học để thiết kế chính sách phù hợp, thu hẹp khoảng cách số, hỗ trợ các nhóm yếu thế. 

         Trong tổng thể quản lý xã hội thời đại công nghệ số, việc đánh giá mức độ tham gia và năng lực số của công dân là một xu hướng tất yếu và khách quan, một số quốc gia như Trung Quốc, Singapore, Italia đã triển khai việc “chấm điểm” người dân, với nhiều hình thức khác nhau và đã đem lại kết quả tích cực. Hơn nữa, một sự thật mà những kẻ xuyên tạc cố tình lờ đi chính là: nội dung “chấm điểm và xếp hạng công dân” hiện mới chỉ dừng lại ở mức độ dự thảo đề xuất, đang trong quá trình lấy ý kiến rộng rãi để tìm kiếm phương án tối ưu. 

         Trong một xã hội dân chủ và pháp quyền, việc xuất hiện nhiều ý kiến, phương án khác nhau là biểu hiện của một quy trình xây dựng chính sách lành mạnh và khoa học. Thế nhưng, Minh Hải đã bất chấp thực tế đó để hiểu sai bản chất chất nhằm mục đích duy nhất là xuyên tạc, bóp méo sự thật gây hoài nghi trong Nhân dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

        Tóm lại, quản trị xã hội bằng công nghệ là xu thế tất yếu của thời đại. Mỗi công dân cần tỉnh táo, nhận diện rõ những luận điệu xuyên tạc. Chúng ta không chấp nhận sự kiểm soát vô lý, nhưng chúng ta ủng hộ sự minh bạch và tôn vinh những giá trị chuẩn mực của một “Công dân số” trách nhiệm./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Jan 26, 2026

Thành công của Đại hội XIV là sự phủ nhận đối với các luận điệu chống phá của các thế lực thù địch

            Ngay trước thềm Đại hội XIV của Đảng trong thời gian chỉ còn ít ngày diễn ra Đại hội, các thế lực thù địch, phản động vẫn lu loa lên rằng: “ mô hình lãnh đạo của Đảng là lỗi thời, cản trở phát triển, đi ngược lại lợi ích của nhân dân nên không cần tổ chức Đại hội Đảng”. Cách thời điểm diễn ra Đại hội hàng năm, các lực lượng chống phá Việt Nam đã mở các chiến dịch để tấn công vào nền tảng tư tưởng của Đảng, sự lãnh đạo của Đảng và vào các dự thảo văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII cũng như vào nội dung then chốt là việc chuẩn bị công tác nhân sự cho Đại hội XIV với mục đích phủ nhận toàn diện sự lãnh đạo của Đảng.

 Thế nhưng sau 05 ngày diễn ra, Đại hội XIV của Đảng đã thành công rất tốt đẹp - là Đại hội của tầm nhìn chiến lược dài hạn, của đột phá về tư duy, cách làm và của hành động, hướng về các kết quả cụ thể với thời hạn rõ ràng…Đồng thời được dư luận trong nước và quốc tế đánh giá cao về những kết quả đạt được và tựu trung Đại hội XIV được khẳng định có tầm vóc lịch sử do Đảng lãnh đạo đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh, văn minh và thịnh vượng. Thành công của Đại hội XIV là do sự lãnh đạo của Đảng đúng đắn và tài tình suốt 96 năm qua đã trải qua hai kỷ nguyên giành lại độc lập, tự do, thống nhất đất nước và tiến hành sự nghiệp đổi mới đạt được những thành tựu vĩ đại và có ý nghĩa lịch sử.

Những kỳ tích vĩ đại  giành được qua 96 năm là minh chứng hung hồn, thuyết phục về sự lãnh đạo của Đảng và càng khẳng định ở Việt Nam, không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách, đưa sự nghiệp cách mạng của dân tộc ta đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác trong thế kỷ XX cũng như 26 năm đầu của thế kỷ XXI. Đảng ta không ngừng đổi mới để đáp ứng những thực tiễn đòi hỏi phù hợp với tình hình quốc tế và trong nước. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức và tổ chức được đặc biệt quan tâm, triển khai tích cực và đạt được nhiều hiệu quả qua Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, XII), Kết luận số 21-KL/TW của Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII), Quy định số 37-QĐ/TW về “những điều đảng viên không được làm” đang từng bước đi vào cuộc sống. Đáng chú ý, công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực được triển khai quyết liệt, không ngừng nghỉ và thu được nhiều kết quả rõ nét, tăng thêm niềm tin của nhân dân với Đảng.

Kinh tế - xã hội nước ta trong nhiệm kỳ vừa qua diễn ra trong bối cảnh kinh tế thế giới đang phải đối mặt với nhiều thách thức lớn, biến động nhanh, khó lường và tính bất ổn cao; lạm phát của nhiều nước vẫn chưa giảm đáng kể. Cạnh tranh chiến lược, địa chính trị giữa các nước lớn, xung đột quân sự giữa Nga và Ucraina chưa có dấu hiệu kết thúc; thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu… làm gia tăng rủi ro đến thị trường tài chính, tiền tệ, an ninh năng lượng và lương thực trên phạm vi toàn cầu. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Nhà nước, GDP năm 2025 của Việt Nam tăng trên 8%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD. Về văn hóa, thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và phát biểu chỉ đạo của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc sinh thời tại Hội nghị Văn hóa toàn quốc ngày 24/11/2021, trong thời gian qua, các hoạt động văn hóa, văn nghệ đã có nhiều khởi sắc ngày càng xứng đáng là nền tảng tinh thần của xã hội. Với những thành tựu vĩ đại và có ý nghĩa lịch sử do Đảng lãnh đạo đã đạt được, chúng ta có niềm tin vững chắc vào sự khẳng định của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng lúc sinh thời: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế cũng như uy tín quốc tế như hiện nay”.

Hướng tới kỷ niệm 100 năm Ngày thành lập Đảng, Tổng Bí thư Tô Lâm đã khẳng định: “Thời điểm bắt đầu kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng là Đại hội XIV của Đảng”. Kỷ nguyên vươn mình hàm ý tạo sự chuyển động mạnh mẽ, dứt khoát, quyết liệt, tích cực, nỗ lực nội lực, tự tin để vượt qua thách thức, vượt qua chính mình, thực hiện khát vọng, vươn tới mục tiêu, đạt được những thành tựu vĩ đại. Đó cũng là kỷ nguyên phát triển, kỷ nguyên giàu mạnh dưới sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đích đến của kỷ nguyên vươn mình là dân giàu, nước mạnh, xã hội xã hội chủ nghĩa, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ưu tiên hàng đầu trong kỷ nguyên mới là thực hiện thắng lợi các mục tiêu chiến lược đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 trở thành nước xã hội chủ nghĩa phát triển, có thu nhập cao, khơi dậy hào khí dân tộc, tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc, khát vọng phát triển đất nước, kết hợp chặt chẽ sức mạnh đất nước với sức mạnh thời đại.

Trước Đại hội XIV của Đảng và chuẩn bị cho đất nước bước vào kỷ nguyên mới, Đảng đã lãnh đạo toàn bộ hệ thống chính trị tiến hành cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy. Đảng khẳng định: việc đẩy mạnh tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị không chỉ là nhiệm vụ trọng tâm trong giai đoạn hiện nay mà còn là đột phá mang tính chất chiến lược để đưa đất nước ta tiến xa hơn trên con đường phát triển toàn diện. Có thể nói, quan điểm của Tổng Bí thư Tô Lâm về “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả” đã trở thành sự chỉ đạo quyết liệt cho việc tổ chức bộ máy phù hợp với yêu cầu và những đòi hỏi bức thiết của thời đại. Đó là nguyên tắc quan trọng và tiền đề cho việc phát triển hơn nữa tri thức, công nghệ, lao động, nguồn vốn để không ngừng tạo ra của cải phục vụ xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân.

Từ những vấn đề trên, có thể thấy Đảng ta quyết định thời điểm Đại hội XIV đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng là hoàn toàn đúng đắn, bởi lẽ đây là thời điểm hội tụ tổng hòa các lợi thế, sức mạnh tiếp sau kỉ nguyên độc lập, tự do, xây dựng chủ nghĩa xã hội và kỷ nguyên đổi mới. Tổng Bí thư Tô Lâm đã nhấn mạnh rằng: “Việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là vấn đề cấp bách, bắt buộc phải làm, càng làm sớm càng có lợi cho dân, cho nước, phải coi đây là cuộc cách mạng về tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị”.

Chúng ta phải thấu hiểu một điều, cuộc cách mạng nào cũng có sự hy sinh, có sự đau đớn. Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy của hệ thống chính trị cũng không phải là ngoại lệ. Nhưng không có sự thay đổi sẽ không có sự phát triển khi mà 70% ngân sách để nuôi bộ máy và những hoạt động thường xuyên. Chúng ta đang hướng đến sự thay đổi để mọi thứ đều tốt đẹp hơn. Tinh gọn bộ máy - đó là mệnh lệnh của cuộc sống! Thế nhưng, các thế lực thù địch xuyên tạc cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy là “ không quan tâm đến lợi ích của nhân dân”, là “ phục vụ lợi ích nhóm”, là “ tốn kém tiền của của dân”…Song, trong một thời gian không dài, dưới sự lãnh đạo của Đảng và sự vào cuộc quyết liệt của hệ thống chính trị cũng như sự ủng hộ của cán bộ, nhân dân nên việc sắp xếp đã tiến hành theo đúng chương trình đề ra, tạo niềm tin trong Đảng và trong xã hội khi tổ chức Đại hội XIV.

Như vậy, Đại hội XIV của Đảng đã có sự chuẩn bị rất kỹ lưỡng về văn kiện, về chuẩn bị nhân sự cũng như công tác tuyên truyền tiến hành hiệu quả nên trong quá trình diễn ra rất tốt đẹp. Các đại biểu phát biểu tại Hội trường cũng như như khi thảo luận tại tổ đều phản ánh không khí dân chủ. Bầu Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV chỉ một lần là xong. Hội nghị lần thứ nhất khóa XIV bầu Bộ Chính trị, bầu Ban Bí thư và bầu Tổng Bí thư Tô Lâm tái cử Tổng Bí thư khóa XIV với số phiếu trúng tuyệt đối. Bầu Ủy ban Kiểm tra Trung ương với kết quả tốt đẹp. Đêm 23/1 đã diễn ra Chương trình chào mừng thành công Đại hội XIV tại Sân vận động quốc gia Mỹ Đình của Thủ đô Hà Nội và kết thúc bằng màn pháo hoa rất ấn tượng. Vì thế, thành công của Đại hội XIV đã phủ nhận tất cả những luận điệu, hoạt động của các thế lực thù địch đã tổ chức nhiều chiến dịch chống phá, với các hình thức đa dạng, nhất là tận dụng sự phát triển của công nghệ, của AI để tung ra nhiều chiêu trò trên không gian mạng nhằm phá hoại sự thành công của Đại hội. Nhưng thành công của Đại hội XIV là một minh chứng thuyết phục không có một thế lực đen tối nào có thể ngăn cản, phủ nhận được sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam!

Chúng ta tin tưởng rằng, với thành công của Đại hội XIV, với truyền thống và bản chất tốt đẹp của Đảng ta, với quyết tâm chính trị rất cao của toàn Đảng, toàn hệ thống chính trị, lại được nhân dân đặt nhiều kỳ vọng, hưởng ứng, đồng tình, ủng hộ, nhất định Đảng ta sẽ thực hiện thắng lợi sứ mệnh lịch sử của mình đưa Nghị quyết Đại hội XIV vào cuộc sống và cũng là thời điểm đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc phát triển giàu mạnh và thịnh vượng, sánh vai với các cường quốc năm châu như di nguyện của Chủ tịch Hồ Chí Minh lúc sinh thời./.

(Trích nguồn: https://ivanlevanlan.wordpress.com/)

 

Jan 22, 2026

Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng - bản thiết kế chiến lược cho giai đoạn mới

         Trong quá trình lấy ý kiến Nhân dân cho Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng, phần lớn dư luận trong và ngoài nước đều đánh giá cao tính cụ thể và khát vọng của bản dự thảo. Tuy nhiên, vẫn xuất hiện một số ý kiến cho rằng văn kiện mang tính “sáo rỗng, hình thức”. Đây là nhận định phiến diện, thiếu căn cứ khoa học và tách rời thực tiễn phát triển của đất nước. Xem xét các con số kinh tế và nhiệm vụ xây dựng Đảng trong dự thảo, có thể khẳng định, đây là một lộ trình hành động có tính khả thi cao, đáp ứng yêu cầu cấp bách của giai đoạn mới.

Trước hết, có thể khẳng định Văn kiện của Đảng không phải là một tập hợp các khẩu hiệu rời rạc mà là kết quả của quá trình tổng kết lý luận và thực tiễn sau 40 năm đổi mới. Những ý kiến cho rằng văn kiện “hình thức” thường lờ đi một thực tế quan trọng: Dự thảo lần này đã tích hợp các nội dung về kinh tế - xã hội và xây dựng Đảng vào một chỉnh thể thống nhất, nhằm triệt tiêu sự chồng chéo và tăng cường tính thực thi. Những mục tiêu được đưa ra không dựa trên mong muốn chủ quan mà dựa trên các dự báo kinh tế vĩ mô và nguồn lực quốc gia hiện có.

Điểm khác biệt lớn nhất của dự thảo báo cáo chính trị lần này là tính cụ thể hóa qua các con số. Việc đặt mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên cho giai đoạn 2026 - 2030 là một con số có tính toán kỹ lưỡng:

Về thu nhập: Dự thảo đặt mục tiêu GDP bình quân đầu người đạt khoảng 8.500 USD vào năm 2030. Đây là ngưỡng quan trọng để Việt Nam vượt qua bẫy thu nhập trung bình thấp, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao một cách bền vững.

Về cơ cấu nội lực: kinh tế số phải chiếm 30% GDP. Đây là con số phản ánh sự chuyển dịch từ thâm dụng lao động sang thâm dụng công nghệ. Để đạt được điều này, dự thảo tập trung vào các ngành công nghiệp nền tảng như bán dẫn và AI.

Về hiệu quả đầu tư: tổng vốn đầu tư toàn xã hội được xác định khoảng 40% GDP, trong đó đầu tư công giữ vai trò dẫn dắt (khoảng 20-22%). Chỉ tiêu đóng góp của năng suất nhân tố tổng hợp (TFP) đạt trên 55% là minh chứng cho việc chuyển đổi sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất và đổi mới sáng tạo thay vì khai thác tài nguyên.

Để hiện thực hóa các con số kinh tế, dự thảo đã vạch ra lộ trình thực thi chuyên biệt cho hai ngành mang tính xoay trục:

Ngành công nghiệp bán dẫn: Dự thảo xác định lộ trình trở thành trung tâm thiết kế và kiểm thử của khu vực. Trước đó, từ năm 2024, Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 1017/QĐ-TTg ngày 21/9/2024 phê duyệt Chương trình “Phát triển nguồn nhân lực ngành công nghiệp bán dẫn đến năm 2030, định hướng đến năm 2050”. Trong đó, xác định: đào tạo 50.000 kỹ sư chuyên ngành đến năm 2030 là nhiệm vụ trọng tâm. Đồng thời hình thành ít nhất 02 nhà máy chế tạo chip (Fab) và 10 nhà máy đóng gói, kiểm thử tại các khu công nghệ cao. Đây là giải pháp trực diện để Việt Nam tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu ở phân khúc cao hơn, thay vì chỉ dừng lại ở lắp ráp đơn thuần.

Ngành năng lượng sạch: để phục vụ tăng trưởng và cam kết khí hậu, lộ trình năng lượng được thiết lập mạch lạc thông qua phát triển điện gió ngoài khơi đạt quy mô 6.000 MW vào năm 2030; xây dựng hệ sinh thái Hydro xanh tại miền Trung và miền Nam để cung cấp năng lượng cho sản xuất thép và hóa chất; triển khai cơ chế mua bán điện trực tiếp (DPPA) để khơi thông nguồn vốn tư nhân vào hạ tầng năng lượng.

Bên cạnh đường lối và mục tiêu về kinh tế, Văn kiện lần này cũng chỉ ra nhiệm vụ hết sức quan trọng đó là công tác xây dựng Đảng trong giai đoạn mới: Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng.

Trong Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIV, một thông điệp mang tính cách mạng được khẳng định: kỷ luật không phải để răn đe một cách thụ động, mà là kỷ luật của sự hành động, của kết quả và của hiệu quả thực chất. Bước vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, Đảng ta xác định rằng, một hệ thống chính trị thực sự có kỷ cương khi mọi chủ trương, đường lối được chuyển hóa thành những giá trị thụ hưởng cụ thể cho nhân dân. Đây là bước chuyển tư duy quan trọng, đưa kỷ luật Đảng thoát khỏi những khuôn mẫu hành chính khô khan để hòa nhập vào dòng chảy của đời sống, lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo danh dự và năng lực của mỗi tổ chức đảng.

Để kỷ luật thực thi đạt được hiệu quả tối ưu, Đảng ta xác định phải gắn chặt với cơ chế kiểm soát quyền lực và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo. Đây là một mối quan hệ biện chứng tinh tế: Kỷ luật để kiểm soát quyền lực, tránh tha hóa; nhưng kỷ luật cũng phải tạo ra không gian để những tư tưởng đột phá không bị bóp nghẹt bởi nỗi sợ sai. Dự thảo văn kiện đặt ra yêu cầu phải có các quy định rõ ràng để phân định giữa sai sót do trình độ, do rủi ro khách quan với những sai phạm cố ý vì lợi ích nhóm. Sự minh bạch trong kỷ luật sẽ giải tỏa tâm lý lo ngại cho cán bộ, giúp họ tự tin hành động theo nguyên tắc “tự chủ, tự lực, tự cường”. Khi cán bộ dám bứt phá vì dân và Đảng có kỷ luật để bảo vệ họ, sẽ có một đội ngũ lãnh đạo vừa có tâm, vừa có tầm, đủ sức dẫn dắt quốc gia trong bối cảnh quốc tế đầy biến động.

Có thể nói, khi đi sâu phân tích từng nội dung của các Văn kiện, có thể khẳng định, các Dự thảo văn kiện trình Đại hội XIV với kết cấu, nội dung có nhiều đổi mới đã thể hiện tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, đánh giá khách quan tình hình, trên cơ sở đó đề ra hệ quan điểm chỉ đạo, mục tiêu phát triển đất nước, các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm và các giải pháp đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước, thể hiện khát vọng vươn mình mạnh mẽ của cả dân tộc trong kỷ nguyên mới một cách khoa học và có tính khả thi cao.

Dự thảo Báo cáo chính trị Đại hội XIV là một bản quy hoạch chiến lược có tính hệ thống cao, với những con số định lượng rõ ràng và lộ trình thực thi chuyên biệt cho giai đoạn mới. Sự chuyển dịch từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy kiến tạo phát triển; từ phòng chống tham nhũng sang cả phòng chống lãng phí và bảo vệ thực thi chính là những minh chứng sống động nhất cho tính thực tiễn của Văn kiện.

Những luận điệu xuyên tạc cho rằng Văn kiện mang tính “hình thức” thực chất là đang cố tình phớt lờ sức sống và nhịp đập phát triển hằng ngày của đất nước. Với các chỉ tiêu cụ thể và lộ trình khoa học, Đại hội XIV sẽ là cột mốc quan trọng, đưa hệ thống chính trị và nền kinh tế bước vào một kỷ nguyên phát triển thực chất, mạnh mẽ và tự chủ./.

(Trích nguồn: ivanlevanlan.wordpress.com)

 

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về công tác bảo đảm an ninh, trật tự cho Đại hội XIV của Đảng

       Tre Việt - Ngày 19/01, trang facebook Tiếng Dân New đăng bài viết của Trân Văn có tiêu đề: “Làm sao “diễu võ, giương oai” có thể sánh duyên với “tin yêu, kỳ vọng?”. Trong bài viết, Trân Văn xuyên tạc: “từ đầu tháng đến nay, các lực lượng vũ trang trên toàn Việt Nam từ Công an đến Quân đội, kể cả địa phương quân cùng ra sức chứng tỏ sẽ sử dụng bạo lực để đè bẹp, dọn dẹp tất cả trở ngại khiến đại hội lần thứ 14 của Đảng Cộng sản Việt Nam (từ 19/1/2026 đến 25/1/2026) không thể… “thành công tốt đẹp”. Không dừng lại ở đó, Trân Văn còn kích động: “xem thông tin, hình ảnh, các video clip hẳn có thể dễ dàng nhận ra, những hoạt động rầm rộ như vừa đề cập chẳng khác gì “răn đe” dân chúng, ngăn chặn ẩn họa. Đó cũng chính là bằng chứng cho thấy nhận thức của giới lãnh đạo đảng hiện nay lệch lạc tới mức đáng ngại”.

       Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng của đất nước, có ý nghĩa định hướng chiến lược đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Việc bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn tuyệt đối cho Đại hội không chỉ là yêu cầu tất yếu mà còn là trách nhiệm chính trị của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng Công an, Quân đội giữ vai trò nòng cốt. Do đó, để bảo đảm an ninh trật tự, an toàn trước, trong thời gian diễn ra Đại hội, việc tổ chức diễn tập, huy động lực lượng, phương tiện kỹ thuật và triển khai các phương án bảo vệ không phải là “thị uy” hay biểu hiện của bất ổn chính trị, mà là thông lệ quản trị an ninh bình thường ở bất kỳ quốc gia nào khi diễn ra sự kiện chính trị - xã hội quan trọng. Đây không phải là việc làm riêng có ở Việt Nam mà là thông lệ phổ biến ở tất cả các quốc gia trên thế giới, không phân biệt thể chế chính trị. Đây là biện pháp mang tính phòng ngừa, chủ động, nhằm bảo đảm an toàn cho đại biểu, khách mời, cũng như duy trì ổn định xã hội, chứ không phải hành vi “đàn áp” hay “sử dụng bạo lực” như Trân Văn cố tình gán ghép. 

       Việc gọi các biện pháp bảo vệ an ninh là “đè bẹp, dọn dẹp trở ngại” cho thấy sự suy diễn ác ý, thiếu căn cứ thực tiễn và pháp lý. Ở đây, Trân Văn đã cố ý đánh tráo khái niệm giữa bảo đảm an ninh, trật tự với đàn áp quần chúng, giữa thực thi pháp luật với bạo lực chính trị. Việc triển khai lực lượng không nhằm vào “đám đông” hay bất kỳ người dân nào, mà nhằm ngăn chặn, xử lý kịp thời các nguy cơ gây mất ổn định, phá hoại Đại hội, bao gồm cả những hành vi lợi dụng “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền” để vi phạm pháp luật. 

       Cần nhấn mạnh rằng khẩu hiệu: “bảo vệ Đại hội tuyệt đối an ninh, an toàn” không phải là biểu hiện của tư duy bạo lực, mà là yêu cầu chính trị - pháp lý chính đáng đối với một sự kiện có tầm quan trọng đặc biệt. “Tuyệt đối an ninh, an toàn” đồng nghĩa với việc không để xảy ra bất kỳ rủi ro nào, dù là nhỏ nhất, có thể ảnh hưởng đến Đại hội. Điều này thể hiện tinh thần trách nhiệm cao của Nhà nước đối với Đảng, với Nhân dân và với tương lai đất nước. Việc Trân Văn sử dụng các cụm từ như “đàn áp”, “tấn công đám đông”, “bạo lực” không phải là phản ánh khách quan tình hình, mà còn bóp méo bản chất của công tác bảo đảm an ninh, trật tự, tạo cảm giác bất an, từ đó gây hiểu lầm trong dư luận và làm suy giảm niềm tin của Nhân dân; kích động, gieo rắc tâm lý đối kháng giữa Nhân dân với lực lượng bảo vệ pháp luật. 

      Vì vậy, để góp phần vào thành công của Đại hội, mỗi người dân Việt Nam cần đề cao cảnh giác nhận diện rõ ràng và kiên quyết đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc, kích động nguy hiểm này./.


Jan 21, 2026

Bắt chữ để né sự thật, chiêu trò xuyên tạc quanh bài hát “Thưa Đảng”

        Tre Việt - Những ngày gần đây, quanh bài hát “Thưa Đảng” của ca sĩ Anh Tú, nổi lên một kiểu tranh luận nghe thì có vẻ “học thuật”, “chuẩn chỉnh”, “có văn hóa”, nhưng càng đọc càng thấy… quen. Quen cái thói bắt chữ để né nội dung. Quen kiểu không dám đối diện thông điệp chính, nên lôi tiểu tiết ra bấu víu, thổi phồng thành “sai phạm”, rồi từ đó phủ định một tác phẩm chính luận. Người ta không bàn bài hát nói gì, chạm vào cảm xúc nào, gợi lại điều gì trong ký ức dân tộc. Không! Người ta soi chữ “thưa”, bới mốc năm 1930, lật đi lật lại một vài cụm từ như “toàn quân dậy sóng”, “Bắc Nam chung một lòng”, rồi dựng lên một rừng lý sự để kết luận rằng… bài hát “sai”. Cái “sai” ấy, ngẫm kỹ, chẳng phải sai nghệ thuật, cũng không phải sai lịch sử theo nghĩa nghiêm túc. Nó chỉ “sai” vì bài hát nhắc lại lịch sử với thái độ trân trọng, và trớ trêu thay, có những người lại dị ứng đúng với điều đó.

       Người ta bám vào câu “1930 toàn quân dậy sóng” và lập tức nhảy dựng lên rằng năm 1930 làm gì đã có quân đội chính quy, làm gì có “toàn quân”. Đúng! Nhưng đúng kiểu gì? Đúng theo cách hiểu máy móc, hiểu chiết chữ. Còn đúng theo tinh thần lịch sử thì sao? Năm 1930, cái “dậy sóng” là dậy sóng của cả dân tộc, của phong trào công nhân, nông dân, của những đội tự vệ, những lực lượng cách mạng tiền thân, của khí thế đấu tranh khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, thống nhất ý chí và đường lối. “Toàn quân” ở đây là cách nói khái quát về sức mạnh tập hợp, về khí thế vùng lên, chứ không phải “một đơn vị cụ thể”. Người nghe bình thường, người Việt bình thường, hiểu rất rõ. Chỉ có những ai cố tình không hiểu mới giả vờ “không hiểu”.

       Cũng vậy với câu “Bắc Nam chung một lòng”. Người ta lại lôi chuyện năm 1930 đất nước bị thực dân chia thành “ba kỳ” để bắt lỗi. Xin hỏi: thực dân có chia được lòng dân không? Chia được ý chí người Việt không? Nếu “không chung một lòng” thì các tổ chức cộng sản ở cả ba miền có hợp nhất được thành một Đảng không? Nếu không có cái “chung lòng” từ rất sớm, lấy gì làm nền cho Cách mạng Tháng Tám, lấy gì làm sức mạnh để cả dân tộc đi qua hai cuộc kháng chiến trường kỳ, lấy gì để đi đến thống nhất? Bám vào một sự chia cắt hành chính do ngoại bang áp đặt rồi phủ định tinh thần thống nhất dân tộc, đó không phải là “chuẩn lịch sử”, đó là cố tình xuyên tạc lịch sử theo hướng vô cảm.

        Khi không phủ nhận được dòng chảy lịch sử và ý nghĩa của nó, người ta đổi bài. Từ soi sự kiện, họ chuyển sang soi chữ. Và khi soi chữ chưa đủ, họ bắt đầu viện dẫn “văn hóa xưng hô”, làm như mình là người giữ hồn tiếng Việt. Nào là chữ “thưa” phải đi với ai, phải nói thế nào mới đúng miền, đúng lễ, đúng vai. Nghe thì tưởng trọng văn hóa, nhưng thực chất là đang cố tình bóp méo chữ theo nghĩa hẹp nhất, thậm chí gán nghĩa xấu để gây nhiễu.

       Trong tiếng Việt, “thưa” không chỉ là một thủ tục giao tiếp. “Thưa” là thái độ. “Thưa” là sự kính trọng. “Thưa” là lời trình bày, lời bộc bạch, lời đối thoại. Người Việt nói “thưa Cha, thưa Mẹ” đâu phải để “kiện” cha mẹ. Học trò nói “thưa thầy, thưa cô” đâu phải để “tố” người dạy mình. Người dân miền Tây mở đầu câu chuyện bằng tiếng “thưa” là để thể hiện sự lễ phép, chứ có ai bảo đó là “đưa nhau ra tòa”. Vậy mà có người cố tình xoắn chữ “thưa” thành một thứ ám chỉ xấu xa, để rồi từ đó bẻ lái thông điệp của bài hát sang hướng tiêu cực. Không phải họ không hiểu. Họ đang diễn. Diễn cho đám đông thiếu bình tĩnh xem, để biến một lời tri ân thành cái cớ công kích.

       “Thưa Đảng” trong bài hát không phải gọi trống không. Càng không phải “đối chất”, “phản ánh”, “kêu oan” theo kiểu giật tít. “Thưa Đảng” là cách nói của một người con đứng trước một lý tưởng, trước một hành trình lịch sử, nói lời biết ơn và tự nhắc mình về trách nhiệm. Đó là sự tiếp nối mạch cảm xúc từng có trong nhiều tác phẩm chính luận và cách mạng: nói với Tổ quốc, nói với Bác Hồ, nói với những người đã hy sinh. Đây là truyền thống của nghệ thuật cách mạng Việt Nam: không khô cứng, không giáo điều, nhưng giàu biểu tượng và hàm nghĩa.

       Và chính vì bài hát chạm vào những giá trị lịch sử ấy nên mới có những kẻ khó chịu. Không khó chịu vì “sai niên biểu”. Không khó chịu vì “sai xưng hô”. Mà khó chịu vì bài hát nhắc lại điều họ không muốn nghe: rằng lịch sử Việt Nam có một dòng chảy rõ ràng, rằng vai trò lãnh đạo của Đảng không phải câu chuyện bịa đặt, càng không phải thứ có thể phủ nhận bằng vài trò vặn vẹo câu chữ. Khi người ta không thể đập vỡ một bức tường bằng búa, họ sẽ dùng kim châm, khoan nhặt từng chỗ, hy vọng bức tường tự nứt. Bắt chữ là cây kim của họ. Còn mục tiêu là làm rạn nứt niềm tin. Nhưng lịch sử không tồn tại nhờ câu chữ hoàn hảo. Lịch sử tồn tại nhờ máu, mồ hôi, nước mắt và lựa chọn của hàng triệu con người Việt Nam. Độc lập không rơi từ trên trời xuống. Thống nhất không phải quà tặng. Từng tấc đất, từng khoảnh khắc bình yên hôm nay đều phải trả bằng sự hy sinh. Cho nên viết về lịch sử, hát về lịch sử, nhắc về lịch sử bằng cảm xúc trân trọng không phải là “tuyên truyền rẻ tiền” như một số kẻ hay chụp mũ, mà là một cách gìn giữ ký ức dân tộc, giữ lửa cho thế hệ sau.

       Ai cũng có quyền thích hoặc không thích một bài hát. Nhưng biến sự “không thích” thành những lập luận ngụy biện, rồi khoác áo “chuẩn mực văn hóa” để tấn công, bôi nhọ, lái dư luận, thì đó không phải góp ý. Đó là phá! Nó là một mắt xích trong chuỗi thủ đoạn “diễn biến hòa bình” mà các thế lực thù địch vẫn dùng: từ chê một câu chữ, tiến tới phủ định cả tinh thần; từ phủ định tinh thần, tiến tới phủ định nền tảng; và từ phủ định nền tảng, họ kích động hoài nghi, chia rẽ.

       Nếu phải bẻ cong cả ngôn ngữ, bẻ cong cả bối cảnh, bẻ cong cả cách người Việt nói năng bao đời chỉ để chê một bài hát, thì vấn đề không nằm ở bài hát nữa. Vấn đề nằm ở động cơ của người chê. Và động cơ ấy, nói thẳng, không trong sáng. Mà vì có những điều… họ không muốn thế hệ trẻ được nghe nhắc lại. Nhưng càng tránh, lịch sử càng sáng. Càng xuyên tạc, sự thật càng đứng vững. Và càng bôi nhọ, Nhân dân càng hiểu ai thật lòng xây dựng, ai đang nhân danh “chuẩn mực” để phá hoại niềm tin của đất nước./.

 

 

Jan 19, 2026

“Tam quyền phân lập” - luận điệu cũ trong âm mưu mới chống phá Việt Nam

         Trên trang Baotiengdan, Lê Chí Thành có bài viết: “Tâm thư gửi tân Tổng Bí thư, người đứng đầu đảng và lực lượng quyền lực nhất đất nước”,cho rằng: “Việt Nam nên lựa chọn con đường tam quyền phân lập…”. Thực chất, đây là luận điệu xuyên tạc Hiến pháp, cường điệu hóa học thuyết “tam quyền phân lập” để thực hiện mục tiêu chống phá Việt Nam.

Thứ nhất, cần hiểu đúng Hiến pháp Việt Nam và tại sao Việt Nam không áp dụng “tam quyền phân lập” trong tổ chức bộ máy nhà nước. Ở Việt Nam, Hiến pháp phản ánh ý chí và nguyện vọng chung của dân tộc và toàn thể nhân dân lao động dưới sự lãnh đạo của Đảng, đội tiên phong của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của toàn dân tộc Việt Nam; là cơ sở pháp lý cho xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân.

Hiến pháp Việt Nam do Quốc hội nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành, theo một quy trình thủ tục chặt chẽ. Từ chủ trương xây dựng Hiến pháp đều được biểu thị bằng nghị quyết của Quốc hội; việc xây dựng Hiến pháp được tiến hành bằng một cơ quan do Quốc hội lập ra; dự thảo Hiến pháp được lấy ý kiến rộng rãi của nhiều tầng lớp nhân dân; việc thông qua Hiến pháp được tiến hành tại một kỳ họp của Quốc hội và chỉ được thông qua khi có ít nhất hai phần ba tổng số đại biểu Quốc hội biểu quyết tán thành. Việc sửa đổi Hiến pháp cũng được thực hiện theo một trình tự quy định tại Hiến pháp.

Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển năm 2011), cũng như Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) xác định rõ: Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp ở Việt Nam được giao cho các cơ quan khác nhau trong nhà nước, trong đó: Quốc hội Việt Nam là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng, cốt yếu của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Chỉ có Quốc hội mới có đủ thẩm quyền quyết định những vấn đề thuộc chủ quyền quốc gia, các vấn đề trọng đại của đất nước. Cùng với quyền lập hiến, Quốc hội cũng là cơ quan có quyền sửa đổi Hiến pháp. Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Quốc hội. Chính phủ chịu trách nhiệm trước Quốc hội và báo cáo công tác trước Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước. Các cơ quan tư pháp (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân) là cơ quan bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân.

Việc Việt Nam không lựa chọn “Tam quyền phân lập” trong tổ chức bộ máy nhà nước, bởi lẽ: Về phương diện lý luận, “tam quyền phân lập” là một học thuyết phức tạp, đa chiều, còn có nhiều ý kiến khác nhau. Ở mỗi kiểu nhà nước, phụ thuộc vào nhiều yếu tố, như trình độ dân chủ, truyền thống dân tộc, cũng như tình hình chính trị, kinh tế, xã hội của mỗi nước. Về bản chất và nguồn gốc của quyền lực nhà nước, quyền lực nhà nước là thống nhất; mọi quyền lực nhà nước đều thuộc về nhân dân, nhân dân là chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước. Khi quyền lực nhà nước là thống nhất và thuộc về nhân dân, thì về nguyên tắc, quyền lực nhà nước không thể phân chia (chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác); các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của nhân dân giao phó, ủy quyền. Điều này chứng tỏ rằng, dân chủ và pháp quyền không phụ thuộc vào việc có hay không tam quyền phân lập, mà phụ thuộc vào bản chất của quyền lực nhà nước và mục tiêu phục vụ nhân dân.

Thứ hai, thực tế xây dựng Hiến pháp và thực thi pháp luật ở Việt Nam được bảo đảm một cách tuyệt đối, quyền lực nhà nước là thống nhất. Từ khi thành lập nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đến nay, nước ta đã ban hành và sửa đổi bổ sung Hiến pháp, đó là: Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1992, (sửa đổi, bổ sung một số điều năm 2001), Hiến pháp năm 2013 (Sửa đổi bổ sung 2025). Quá trình xây dựng Hiến pháp ở Việt Nam luôn phát huy dân chủ rộng rãi trong nhân dân. Trong Hiến pháp năm 2013, xác định rõ mối quan hệ trong việc phân quyền, phân công, phối hợp và thực hiện kiểm soát quyền lực giữa Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân. Như vậy, bảo đảm tốt cho thực hiện kiểm soát, cân bằng, khống chế và kiềm chế quyền lực giữa các cơ quan nhà nước, qua đó ngăn ngừa được sự chuyên chế phát sinh ở xã hội lạm quyền. 

Thực tiễn, quá trình phát triển và tiến hành công cuộc đổi mới của đất nước, Việt Nam luôn coi trọng bổ sung, hoàn thiện Hiến pháp và hệ thống pháp luật, bảo đảm phù hợp với thực tiễn đất nước và sự phát triển của cách mạng Việt Nam, tạo được sức mạnh tổng hợp trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, thực hiện thắng lợi mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Việt Nam từ nền kinh tế kém phát triển, nay đã trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 – 2025 đạt bình quân khoảng 6,3%/năm, thuộc nhóm nước tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP năm 2025 ước đạt trên 510 tỉ USD, gấp 1,47 lần so với năm 2020, xếp thứ 32 trên thế giới, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 5.000 USD, gia nhập nhóm nước có thu nhập trung bình cao, được nhiều tổ chức quốc tế uy tín đánh giá cao.

Do vậy, luận điệu của Lê Chí Thành “khuyên” Việt Nam đi theo con đường “tam quyền phân lập” là phản khoa học và mang động cơ chính trị không trong sáng. Kiên định con đường xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự lựa chọn đúng đắn, hợp quy luật và hợp lòng dân, cần được bảo vệ và giữ vững. Chúng ta tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; quản lý của Nhà nước; đề cao cảnh giác, nhận diện chính xác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu sai trái, bảo vệ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa và cuộc sống bình yên của Nhân dân./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc về xử phạt vi phạm giao thông

          Tre Việt - Ngày 15/01/2026 trên trang facebook “Nhật Ký Yêu Nước” xuất hiện một bài đăng với giọng điệu cố tình giễu cợt và kích động: “Từ 1/1/2026: khấu trừ lương để đóng phạt vi phạm giao thông… Đảng đứng chỉ tay, Quốc hội ngồi vỗ tay, công an ra tay, nhân dân…”. Vài dòng chữ ngắn, nhưng đủ thấy thủ đoạn cũ rích: bịa ra cảm giác “Nhà nước tận thu”, rồi kéo theo loạt quy chụp bôi nhọ Đảng, Quốc hội và lực lượng Công an. Nếu gọi đúng tên, đây không phải “phản biện”, càng không phải “yêu nước”, mà là một mũi tên bẩn nhằm bắn vào nền tảng niềm tin của xã hội bằng ngôn ngữ chợ búa và sự thật bị cắt xén.

          Cần khẳng định ngay: “khấu trừ lương để nộp phạt” không phải “đẻ thêm quyền lực”, càng không phải “chủ trương bóc lột”. Đó là một biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính đã được luật hóa từ lâu trong hệ thống pháp luật Việt Nam. Luật số 88/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật xử lý vi phạm hành chính, ngày 25/6/2025 của Quốc hội quy định rõ các biện pháp cưỡng chế, trong đó có “khấu trừ một phần lương hoặc một phần thu nhập” và “khấu trừ tiền từ tài khoản” để bảo đảm người vi phạm chấp hành quyết định xử phạt. Nói nôm na: ai đã bị xử phạt hợp pháp mà cố tình không nộp, trốn tránh nghĩa vụ, thì Nhà nước có công cụ để buộc thực hiện. Đó là nguyên lý tối thiểu của nhà nước pháp quyền: phán quyết đã có hiệu lực thì phải được thi hành, không thể để “phạt cho có” rồi ai muốn nộp thì nộp, không muốn nộp thì thôi.

           Điều đáng nói là bài đăng kia cố tình đánh tráo bản chất. Nó làm như thể từ 01/01/2026, Nhà nước đột nhiên “thò tay vào túi dân”, muốn khấu trừ lương ai thì khấu trừ. Cách gieo cảm giác sợ hãi này rất thâm độc: chỉ cần đưa ra một mốc thời gian, gắn với cụm từ “khấu trừ lương”, rồi thêm vài câu “Đảng chỉ tay, Quốc hội vỗ tay, công an ra tay” là lập tức tạo ra ảo giác về một xã hội “bị bóp cổ”. Nhưng sự thật là khấu trừ lương không thể là chuyện “thích thì làm”, nó chỉ là biện pháp cưỡng chế trong trường hợp người vi phạm không tự giác chấp hành quyết định xử phạt. Pháp luật quy định rõ người bị phạt phải nộp trong thời hạn nhất định. Thực tế, thời hạn chấp hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính thường là 10 ngày kể từ khi nhận quyết định. Nếu quá thời hạn mà cố tình không nộp thì mới phát sinh cưỡng chế. Đây là logic pháp lý phổ biến: tự nguyện trước, cưỡng chế sau. Không có chuyện “vừa vi phạm là bị trừ lương ngay”. Ai chấp hành đúng thì kết thúc ở khâu nộp phạt.

          Bởi vậy, câu hỏi cần đặt ra không phải là “tại sao Nhà nước khấu trừ lương”, mà là “tại sao người vi phạm lại không nộp phạt đúng quy định”. Thử tưởng tượng một xã hội mà người vi phạm cứ chây ì, không nộp, không ai cưỡng chế được, thì kỷ cương nằm ở đâu? Khi đó, người tuân thủ pháp luật trở thành kẻ thiệt thòi, còn kẻ lươn lẹo thì ung dung. Một hệ thống như vậy không phải “dân chủ”, mà là hỗn loạn, nơi người nghiêm túc bị phạt bằng sự nguội lạnh của công lý. Và đất nước muốn phát triển thì không thể quản trị bằng những tờ giấy vô hồn.

         Chúng ta cũng cần nhìn thẳng vào thực tế: vi phạm giao thông ở Việt Nam vẫn còn phổ biến và gây ra nhiều hệ lụy. Ai cũng muốn đường sá an toàn, tai nạn giảm, văn hóa giao thông tiến bộ, nhưng lại có một bộ phận khi vi phạm bị xử phạt thì tìm cách né, lờ, hoặc “để đấy tính sau”. Chính hành vi coi thường pháp luật ấy làm suy yếu trật tự, tạo ra sự bất công với số đông người dân chấp hành nghiêm. Cơ chế cưỡng chế, trong đó có khấu trừ lương, đặt ra để xử lý nhóm chây ì này, nhằm bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật. Nó không nhắm vào người lao động lương thiện mà để sự lươn lẹo không còn chỗ trong suy nghĩ của một số người vi phạm.

          Điều thâm độc nhất trong bài đăng xuyên tạc kia nằm ở chỗ nó không nói về đúng-sai, mà nói về hằn học. Nó gieo cảm giác đối đầu với Đảng, Quốc hội và lực lượng Công an bằng lối nói bỉ ổi, hạ nhục. Đây là công thức quen thuộc của các trang chuyên kích động: cứ có một chính sách hay biện pháp quản lý xã hội nào, họ lập tức “chính trị hóa” theo kiểu bôi nhọ, quy chụp, gán động cơ xấu. Đến khi xã hội rối lên, niềm tin suy giảm, họ mới là kẻ hưởng lợi, vì mục tiêu của họ không phải góp ý xây dựng, mà là phá hoại từ gốc.

         Rõ ràng là: Quốc hội là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, ban hành luật. Chính phủ tổ chức thi hành pháp luật, ban hành nghị định để hướng dẫn thực hiện. Lực lượng Công an thực thi nhiệm vụ bảo đảm trật tự, an toàn xã hội, trong đó có trật tự an toàn giao thông. Mỗi khâu đều có chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Bôi nhọ cả hệ thống bằng vài câu vè là hành vi vừa vô trách nhiệm, vừa nguy hiểm, vì nó kích động tâm lý chống đối, làm xói mòn nền tảng pháp quyền. Người dân cần một xã hội ổn định để làm ăn, học tập, chăm lo gia đình. Không ai cần thứ “yêu nước bằng miệng” kiểu cười cợt rồi gieo rắc thù ghét, kích động bất mãn. Yêu nước thật sự là tôn trọng kỷ cương, góp ý đúng nơi đúng chỗ, bảo vệ cái đúng và phê phán cái sai bằng lý lẽ và chứng cứ. Còn “yêu nước” kiểu xuyên tạc luật pháp, bôi nhọ cơ quan nhà nước, kích động đám đông, thì đó là thứ “yêu nước giả tạo” khoác áo đạo đức để phá hoại niềm tin.

          Tóm lại, câu chuyện “khấu trừ lương nộp phạt giao thông từ 01/01/2026” nếu đặt đúng vào khuôn khổ pháp lý thì rất đơn giản: đây là biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt dành cho trường hợp không chấp hành, nhằm bảo đảm pháp luật được thực thi nghiêm minh. Người không vi phạm thì không bị phạt. Người bị phạt mà nộp đúng hạn thì chẳng ai động vào lương. Chỉ những ai vi phạm rồi chây ì mới bị cưỡng chế. Công bằng đến mức… không thể công bằng hơn! Một đất nước không thể bước lên hiện đại nếu luật pháp bị coi như trò đùa, nếu người vi phạm được quyền “đắc thắng” trước người tuân thủ và càng không thể để một vài trang mạng chuyên nghề xuyên tạc biến kỷ cương thành “tội ác”, biến sự nghiêm minh thành “đàn áp”./.

 

Jan 13, 2026

“Đại hội cuối cùng” - Lời tiên tri cũ kỹ trước sức sống thể chế và Đại hội XIV


Không phải những lời đồn đoán ồn ào trên không gian mạng, mà chính thực tiễn chính trị đang diễn ra hôm nay mới là thước đo đáng tin cậy nhất cho mọi nhận định. Trong bối cảnh ổn định chính trị được giữ vững, công tác cán bộ được triển khai theo đúng quy trình, các tiểu ban Đại hội vận hành nhịp nhàng, Hội nghị Trung ương 15 hoàn tất khối lượng công việc then chốt với tinh thần trách nhiệm cao, việc chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành trong trật tự, kỷ cương và minh bạch. Chính từ kết quả hiện tại ấy, có thể thấy rõ sự vô căn cứ của những luận điệu cố tình hạ thấp ý nghĩa Hội nghị Trung ương 15, bịa đặt rằng đây là “Đại hội cuối cùng”, là “hồi kết tất yếu” của một thể chế.

Đảo trục thời gian để nhìn về quá khứ, ta sẽ nhận ra một mô-típ quen thuộc: cứ trước mỗi kỳ Đại hội quan trọng, lại xuất hiện các “lời tiên tri tận diệt”. Từ cuối thập niên 1980, khi Việt Nam bước vào công cuộc đổi mới, đã có không ít đối tượng tung tin rằng Đảng sẽ “không trụ nổi sau đổi mới”, rằng cải cách kinh tế đồng nghĩa với “tự tan rã chính trị”. Đến trước Đại hội IX, họ lại phán đoán khủng hoảng tài chính khu vực sẽ “cuốn phăng” nền tảng lãnh đạo. Trước Đại hội XII và XIII, các trang chống đối tiếp tục rêu rao “đấu đá nội bộ không lối thoát”, “chuyển giao thất bại”. Tất cả đều được đóng gói bằng cùng một nhãn mác: lần này là “lần cuối”.

Đối chiếu từng dự báo với kết cục lịch sử, sự sai lầm lặp đi lặp lại hiện ra rõ ràng. Những “lần cuối” ấy đều trượt mục tiêu về thời điểm: Đại hội vẫn diễn ra đúng kỳ hạn. Chúng sai ngay từ nguyên nhân: thay vì “khủng hoảng không thể cứu vãn”, thực tế cho thấy Đảng chủ động nhận diện vấn đề và xử lý bằng cơ chế nội bộ. Và chúng sai ở hệ quả: thay vì “sụp đổ”, mỗi kỳ Đại hội lại đánh dấu một bước tiếp nối ổn định, với đường lối được điều chỉnh phù hợp hơn. Sau Đại hội VI là đổi mới toàn diện; sau các Đại hội từ XI đến XIII là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội, siết chặt kỷ luật, nâng cao năng lực lãnh đạo. Lịch sử không đứng về phía những lời đoán mò, mà đứng về phía các kết quả đo đếm được.

Phân tích sâu hơn, cần thấy sức sống thể chế chính là lời giải cho sự thất bại của các “lời tiên tri”. Sức sống ấy trước hết nằm ở khả năng tự điều chỉnh. Các hội nghị Trung ương, trong đó có Hội nghị Trung ương 15, không phải hình thức “đóng dấu sẵn”, mà là diễn đàn tập thể nơi các phương án được tranh luận, sàng lọc, hoàn thiện. Thứ hai là nguyên tắc kế thừa: chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV không phải sự đứt gãy, mà là tiếp nối có chọn lọc giữa các thế hệ lãnh đạo, bảo đảm vừa ổn định vừa đổi mới. Thứ ba là kỷ luật nội bộ được thực thi nghiêm minh, tạo nền tảng niềm tin xã hội. Chính ba trụ cột này làm nên khả năng tự tái tạo của hệ thống, khiến mọi dự báo “tận diệt” trở nên lạc lõng.

Nhìn ra bên ngoài để so sánh dài hạn, các đảng cầm quyền có khả năng duy trì ổn định đều dựa trên cơ chế tương tự. Tại Trung Quốc, Đảng Cộng sản Trung Quốc duy trì tính liên tục lãnh đạo thông qua các kỳ Đại hội đều đặn, song song với cải cách thể chế sâu rộng. Ở Singapore, Đảng Hành động Nhân dân nhiều thập kỷ cầm quyền nhờ kỷ luật tổ chức và chuẩn bị kế thừa sớm. Ngược lại, tại một số nước Đông Âu trước đây, sự sụp đổ không bắt nguồn từ “quy trình Đại hội”, mà từ việc buông lỏng kỷ luật và đánh mất năng lực tự điều chỉnh. So sánh ấy cho thấy: Đại hội không phải “điểm kết”, mà là cơ chế vận hành cốt lõi của một đảng chính trị có tổ chức.

Vậy vì sao những “lời tiên tri” thất bại ấy vẫn tái xuất trước thềm Đại hội XIV? Trước hết là nhu cầu gây sốc truyền thông. Các đối tượng chống đối hiểu rằng thông tin giật gân về “sụp đổ sắp tới” dễ thu hút chú ý hơn những phân tích dài hạn. Thứ hai là tạo hy vọng ảo cho một bộ phận bất mãn, nuôi dưỡng tâm lý chờ đợi thay đổi từ bên ngoài thay vì từ cải cách nội tại. Thứ ba là chiến thuật tâm lý chiến: lặp đi lặp lại cùng một thông điệp để tạo cảm giác “có khói thì phải có lửa”. Tuy nhiên, chiến thuật ấy chỉ có tác dụng ngắn hạn; về dài hạn, nó bị thực tế chính trị bác bỏ.

Hội nghị Trung ương 15, trong bức tranh ấy, trở thành mục tiêu bị xuyên tạc vì vai trò then chốt của nó trong chuẩn bị Đại hội XIV. Bằng cách hạ thấp ý nghĩa Hội nghị, các thế lực chống phá hy vọng gieo nghi ngờ về tính hợp pháp và năng lực lãnh đạo. Song chính việc Hội nghị hoàn thành các nội dung trọng yếu theo đúng quy trình, được công bố công khai, lại cho thấy sự minh bạch mà họ cố tình phủ nhận. Đặt Hội nghị Trung ương 15 trong chuỗi lịch sử các hội nghị tiền Đại hội, có thể thấy đây là mắt xích bình thường nhưng quan trọng, không phải “dấu hiệu khủng hoảng” như luận điệu xuyên tạc rêu rao.

Lịch sử là phép thử khắt khe nhất đối với mọi dự báo chính trị. Những ai từng nhiều lần tuyên bố “Đại hội cuối cùng” đã để lại một hồ sơ thất bại dài hơn bất kỳ lập luận nào. Trước thềm Đại hội XIV, khi thực tiễn ổn định chính trị, chuẩn bị nhân sự bài bản và đồng thuận xã hội tiếp tục được củng cố, lịch sử một lần nữa trả lời: không phải lời tiên tri giật gân, mà chính sức sống thể chế và quy trình lãnh đạo mới quyết định vận mệnh. Và câu trả lời ấy, như nhiều lần trước, vẫn rõ ràng./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Jan 12, 2026

Đa nguyên chính trị không phải con đường phát triển của Việt Nam

       Trong bài viết “Con đường Việt Nam thế kỷ XXI: Trở lại ánh sáng bằng tự do, giác ngộ và trách nhiệm”, Vũ Đức Khanh tiếp tục lặp lại một luận điệu quen thuộc của các thế lực chống phá: Phủ nhận con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam đã lựa chọn; xuyên tạc bản chất của chế độ chính trị ở Việt Nam; cổ xúy cho “xã hội dân sự”, “đa nguyên chính trị, đa nguyên tư tưởng” như một lối thoát duy nhất cho đất nước. Đây không phải là nhận thức học thuật mới mẻ, càng không phải là “giác ngộ”, mà là sự ngụy trang tinh vi của tư tưởng phản động, đi ngược lại lợi ích căn bản của dân tộc Việt Nam cần được nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

       1. Đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập không phải là “ánh sáng” mà là con đường dẫn tới bất ổn, lệ thuộc và đánh mất quyền tự quyết của dân tộc. Vũ Đức Khanh cố tình đánh tráo khái niệm khi cho rằng mở rộng “xã hội dân sự”, “đa nguyên chính trị, tư tưởng” sẽ đưa Việt Nam “trở lại ánh sáng”. Thực chất, đây là sự áp đặt mô hình phương Tây lên một quốc gia có lịch sử, văn hóa, thể chế và điều kiện phát triển hoàn toàn khác biệt. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ nhà nước và hệ thống chính trị luôn mang bản chất giai cấp, phản ánh tương quan lực lượng xã hội trong từng giai đoạn lịch sử cụ thể. Không tồn tại một mô hình chính trị “phi ý thức hệ”, “trung tính” hay “vì tất cả mọi người” như các thế lực phản động thường rêu rao. “Đa nguyên chính trị” trong xã hội tư bản không phải là sự bình đẳng về quyền lực, mà là đa đảng trong khuôn khổ thống trị của tư bản, nơi đồng tiền, tập đoàn tài phiệt và truyền thông thao túng đời sống chính trị. 

       Ở Việt Nam, sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản không phải là sự áp đặt chủ quan, mà là kết quả của lịch sử đấu tranh cách mạng, được nhân dân thừa nhận, kiểm nghiệm và trao quyền lãnh đạo thông qua thực tiễn. Đảng không đứng ngoài hay đứng trên dân tộc, mà là đội tiên phong chính trị của giai cấp công nhân, Nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam.

       Thực tiễn thế giới cho thấy, không ít quốc gia rơi vào bất ổn chính trị kéo dài, xung đột xã hội, thậm chí nội chiến sau khi áp dụng mô hình đa nguyên chính trị một cách giáo điều, thiếu nền tảng lịch sử, văn hóa, thể chế phù hợp. “Mùa xuân Ả Rập” từng được ca ngợi là “ánh sáng dân chủ”, nhưng hậu quả là sự tan rã nhà nước, khủng bố, nghèo đói và lệ thuộc sâu sắc hơn vào các thế lực bên ngoài. Ngay trong khu vực và trên thế giới, nhiều quốc gia đa đảng vẫn đối mặt với phân hóa xã hội gay gắt, khủng hoảng niềm tin, bạo loạn đường phố, suy giảm năng lực điều hành quốc gia. Điều đó cho thấy, đa nguyên không đồng nghĩa với tiến bộ, càng không phải là bảo chứng cho hạnh phúc của nhân dân. Ngược lại, Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, đã giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm độc lập, chủ quyền, duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống Nhân dân, mở rộng quan hệ đối ngoại, nâng cao vị thế quốc tế.

       2. Con đường cách mạng của Việt Nam là sự kế thừa và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin tư tưởng, Hồ Chí Minh. Vũ Đức Khanh cố tình dựng lên một sự đối lập giả tạo giữa “mô hình phương Tây”, “Khổng giáo truyền thống” và con đường mà Việt Nam đang đi, từ đó kết luận rằng Việt Nam cần một “con đường khác”. Đây là cách lập luận phi lịch sử, phi khoa học. Con đường phát triển của Việt Nam không phải là sự sao chép máy móc bất kỳ mô hình nào, mà là sự lựa chọn độc lập, tự chủ, dựa trên tổng kết sâu sắc thực tiễn dân tộc và tinh hoa nhân loại. Chủ nghĩa xã hội mà Việt Nam xây dựng là chủ nghĩa xã hội mang bản sắc Việt Nam, đặt con người ở vị trí trung tâm, gắn độc lập dân tộc với chủ nghĩa xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội. Tư tưởng Hồ Chí Minh khẳng định rõ tự do chân chính không tách rời độc lập dân tộc; dân chủ phải gắn với kỷ cương, pháp luật và lợi ích của nhân dân lao động. “Tự do” mà các thế lực phản động rao giảng thực chất là tự do vô chính phủ về chính trị, tạo điều kiện cho các nhóm lợi ích, thế lực bên ngoài chi phối vận mệnh quốc gia.

       Thực tiễn đổi mới 40 năm qua là minh chứng sinh động bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc. Việt Nam từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, hội nhập sâu rộng vào đời sống quốc tế, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ. Quyền con người, quyền công dân ngày càng được bảo đảm tốt hơn thông qua phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo, mở rộng giáo dục, y tế, an sinh xã hội. Những thành tựu đó không phải là sản phẩm của “đa nguyên chính trị”, mà là kết quả của sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, của một hệ thống chính trị thống nhất, vì lợi ích của Nhân dân. Việc kêu gọi thay đổi con đường phát triển trong bối cảnh hiện nay không phải là “trách nhiệm”, mà là hành động gây nhiễu loạn tư tưởng, làm suy yếu niềm tin xã hội, phục vụ mưu đồ chính trị phản động.

       Tóm lại, bài viết của Vũ Đức Khanh là sản phẩm tuyên truyền chính trị trá hình, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” từ bên trong. Những luận điệu đó cần được kiên quyết đấu tranh, bác bỏ bằng lập luận khoa học, bằng thực tiễn sinh động của cách mạng Việt Nam. Con đường Việt Nam trong thế kỷ XXI không nằm ở “đa nguyên chính trị” hay “xã hội dân sự kiểu phương Tây”, mà nằm ở kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, tiếp tục đổi mới sáng tạo, phát triển đất nước vì hạnh phúc của Nhân dân, vì tương lai bền vững của dân tộc./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)