Apr 27, 2014

Liệu có phải là "chân lý"?

Tre Việt - Kể từ sau 1975, ngày 30 tháng 4 hằng năm thường để lại những cảm xúc rất khác nhau trong những người con đất Việt. Đa phần là mừng vui, trong đó có không ít người đã từng đứng ở “phía bên kia của cách mạng”. Mừng vui, vì đó là ngày đất nước và dân tộc được thống nhất, được giải phóng khỏi ách thống trị, xâm lược của thực dân, đế quốc; và từ đây, đất nước không còn chiến tranh. Cố giáo sư Trần Trung Ngọc, người từng phục vụ trong quân đội Sài Gòn, sau này định cư ở Mỹ, còn coi “Ngày 30 - 4 - 1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào”.  Theo đó, ngày 30 tháng 4 hằng năm được xem là một ngày lễ trọng của đất nước. Nhưng cũng có những người vẫn hậm hực, nuối tiếc (nhất là những người đã từng có nhiều nợ máu với nhân dân Việt Nam, từng được hưởng lợi nhiều từ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do người Mỹ - chính xác hơn là đế quốc Mỹ - tiến hành), không chịu chấp nhận một thực tế lịch sử mang tính tất yếu: sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn (trong thực tế, đây là một thực thể tay sai, là kẻ thừa hành của chính quyền Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam), sự tháo chạy của Mỹ - người nuôi dưỡng chính quyền Sài Gòn, nên họ tự gọi đó là ngày “quốc hận”, và xem cuộc chiến tranh ở Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 là cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”, nên ngày 30 tháng 4 theo họ không phải là ngày “giải phóng”. Âu có lẽ đó cũng là thường tình, bởi độ lùi gần 40 năm của lịch sử cũng chưa hẳn đã là dài, nhất là đối với những người còn mang nặng đầu óc hận thù, còn nuôi hy vọng hão huyền về một sự trở lại của họ với lá cờ vàng 3 sọc (mà từ lâu dân ta vẫn gọi là cờ “3 que”). Thế nhưng, điều lạ là cái tay Tín họ Bùi – người còn muốn ghi danh vào thời khắc cuối của cuộc chiến, khi tự tô vẽ bản thân trong tác phẩm “Hoa xuyên tuyết” của mình – lại đi khóc thay cho cái thây ma Việt Nam Cộng hòa trong bài viết mới của y “Chân lý tháng tư” được VOA đăng tải hôm 21 tháng 4 vừa qua.
          Mượn lời của tay sinh viên Lê Vũ Cát Đằng nào đó, trong bài viết của mình, Bùi Tín xem luận điểm “Hoa Kỳ không phải là đế quốc,… Hành động của Hoa Kỳ ở Việt Nam do đó không thể nào gọi là xâm lược”, mà người sinh viên trẻ tuổi nọ đưa ra, là một “chân lý”!!. Thêm nữa, mượn cách nói của Huy Đức - tác giả cuốn “Bên thắng cuộc”, Bùi Tín còn xem ngày 30 tháng 4 hằng năm là “ngày vui của những người thắng cuộc, ngày buồn của những người thua cuộc”, với hàm ý coi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày kết thúc cuộc nội chiến của những người Việt Nam với nhau. Thật là một sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn và sự biện hộ cho kẻ xâm lược một cách bỉ ổi. Thử hỏi, Bùi Tín dựa vào cơ sở nào để coi kết luận của người sinh viên trẻ ít học kia là “chân lý”, hay đó chỉ là cách Tín nói liều, nói bừa để kiếm mấy đồng tiền bố thí của những kẻ “có tâm tưởng phi dân tộc”, như nhận định của cố giáo sư Trần Trung Ngọc.
          Có thể khẳng định ngay rằng, kết luận nói trên của người sinh viên thiếu kiến thức về lịch sử, và sự tán thưởng vô lối, có động cơ xấu của tay Bội Tín không phải là “chân lý”, mà đó là cái “lý giả” hay là “giả lý”. Chân lý chỉ có một, thực tiễn lịch sử đã diễn ra không thể xuyên tạc. Độ lùi của chiến tranh đã mấy chục năm, nhiều tài liệu mật đã được giải mã, nhiều nhân chứng lịch sử vẫn còn và đã lên tiếng về sự thật của cuộc chiến giai đoạn 1954 – 1975 ở Việt Nam, trong đó có nhiều học giả phương Tây và chính các chính trị gia từng phục vụ trong chính quyền Sài Gòn.
Để khách quan, xin hãy vào Wikipedia để xem mục từ “Chiến tranh Việt Nam”, trong đó, họ giải thích rất rõ rằng: “Không công nhận kết quả Hiệp định Geneva và thấy trước kết quả sẽ thiên về phe Cộng sản nếu tổng tuyển cử được tiến hành, Mỹ đã bắt đầu hoạt động tại Việt Nam, chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn”. Với ý đồ đó, trước tình huống thế và lực của chính quyền Sài Gòn (do Mỹ dựng lên) suy yếu đến mức không thể cứu vãn, Mỹ đã chính thức nhảy vào cuộc từ những năm 60 của thế kỷ XX, lần lượt áp dụng các chiến lược: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh với trên 8 triệu tấn bom đạn, gần 80 triệu lít chất độc hóa học đã sử dụng, cùng những loại vũ khí tối tân nhất (trừ bom hạt nhân) và một lực lượng lớn quân viễn chinh, gồm quân Mỹ và một số đồng minh (chỉ riêng số quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam, có lúc đã lên đến hơn nửa triệu người), để khuất phục nhân dân Việt Nam. Về chi phí cho cuộc chiến, theo thống kê chưa đầy đủ, Mỹ đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên tới 676 tỷ USD (nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới 920 tỷ USD), so với 341 tỷ USD trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỷ USD trong chiến tranh Triều Tiên. Từ các cứ liệu trên có thể khẳng định rằng, đây là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ chống Việt Nam. Do đó, không thể ngụy biện cho “hành động của Mỹ ở Việt Nam không phải là hành động xâm lược”. Ngay trong cuốn sách Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ (xuất bản tại Mỹ năm 1991), tác giả J.C.Rowe và R.Berg đã chỉ ra bản chất cuộc chiến tranh ở Việt Nam: “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương”. Học giả Giôn- Pra- đốt (thuộc cục Lưu trữ an ninh quốc gia và Đại học G.Oa-sinh-tơn) cũng cho ra mắt cuốn Lịch sử một cuộc chiến không thể thắng 1945 - 1975 vào năm 2009 ở Mỹ; trong đó, học giả này thừa nhận: “cuộc chiến này, đối với người Mỹ, là một sai lầm và không thể chiến thắng”. Chính ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ H. Kít-xinh-giơ trong một cuộc họp báo ngay sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ đã thừa nhận: “Chúng ta đã sai lầm khi biến Việt Nam thành một nơi thí nghiệm chính sách của chúng ta chứ không phải đối với chính sách của người Việt Nam”. Trong một bài viết, đăng ngày 29 tháng 9 năm 2011, trên báo mạng Treonline của người Việt ở hải ngoại, cố giáo sư Trần Chung Ngọc đã viết: “Với những hiểu biết mới về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của Mỹ… Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ, Mỹ xâm lăng vì cái thuyết Domino sai lầm… Đây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái”. Còn trong bài “Vài suy tư về ngày 30 tháng tư” (sachhiem.net/TCN/TCNs/TCNts065.php ngày 18 tháng 4 năm 2013), cố giáo sư  đã vạch trần bộ mặt tay sai của chính quyền Sài Gòn khi ông viết: “Muốn hiểu tại sao miền Nam lại có một kết cục như vậy, chúng ta cần nhắc lại vài nét về các chế độ ở miền Nam. Ai cũng biết là chế độ Ngô Đình Diệm cũng như miền Nam là do Mỹ dựng lên, không phải do người dân miền Nam bầu chọn hay muốn như vậy… Còn về những chế độ quân phiệt của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa thì chúng ta hãy đọc vài lời thú nhận của các vị lãnh đạo cao cấp nhất ở miền Nam, như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập; Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ: “Ông” Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê; Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa Cao Văn Viên: Chúng ta không có trách nhiệm chiến tranh (!) Trách nhiệm chiến đấu là của người Mỹ. Chính sách đó do Mỹ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi”. Chỉ cần dẫn ra một vài tư liệu như thế đã là quá đủ để khẳng định rằng, kết luận “về hành động của Mỹ ở Việt Nam không phải là hành động xâm lược” chỉ là một kết luận láo toét, là sự biện hộ lố bịch cho những hành động xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ ở Việt Nam trong thế kỷ XX, chứ đâu phải là một “chân lý” mà Bùi Tín vào hùa. Thực tiễn khách quan của lịch sử đã cho thấy: cuộc chiến từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc kháng chiến của toàn dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của Mỹ. Do đó, nếu có bên thắng cuộc và bên thua cuộc ở đây, thì cần phải nói rằng: toàn thể dân tộc Việt Nam là bên thắng cuộc và đế quốc Mỹ là bên thua cuộc, đúng như tuyên bố của Tướng Trần Văn Trà lúc tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh rằng: “Giữa chúng tôi và các anh, không có ai được, ai thua, chỉ có nhân dân Việt Nam là người chiến thắng”. Đó mới thực sự là chân lý.
Vào hùa với những kẻ nuôi dượng hận thù và có “tâm tưởng phi dân tộc”, Bùi Tín thực sự là một Trần Ích Tắc thời hiện đại, như cách gọi của nhiều người trong chính các nhóm “cờ vàng” ở hải ngoại thường sử dụng ./. 

Apr 7, 2014

Chỉ là "gắp lửa bỏ tay người"

         Tre Việt - Thứ bảy, ngày 05-4 vừa qua, BBC tiếng Việt đăng bài “Chính quyền nợ cha tôi một lời xin lỗi” đưa ý kiến của cô Đinh Phương Thảo, con gái đầu lòng của ông Đinh Đăng Định - người vừa qua đời hôm thứ sáu (04-4), sau một thời gian được đặc xá về nhà trị bệnh và ý kiến của Phạm Chí Dũng. Qua bài viết, thấy rõ sự suy diễn theo kiểu “Gắp lửa bỏ tay người” của cả người đưa ra ý kiến và người đưa tin.  

          1. Cô Đinh Phương Thảo cho rằng, “càng ngày khối u trong người càng lớn, nhưng chẳng được phát hiện ra, khi phát hiện ra rồi, thì khối u to đùng, lúc phát hiện ra khối u to, thì việc điều trị, họ cũng không chịu thả tự do cho bố tôi”. Theo Tre Việt được biết, ở Việt Nam, có nhiều trường hợp phát hiện ra bệnh ung thư đều ở giai đoạn cuối. Như vậy, không sớm phát hiện ra khối u của ông Đinh Đăng Định cũng không đáng ngạc nhiên. Cho nên, không vì thế mà suy diễn theo kiểu “Ngậm máu phun người”. Dẫu rằng, Thảo có nói: “Gia đình chưa dám khẳng định tại vì muốn cáo buộc ai thì mình phải cần có bằng chứng”. Song lại nói tiếp: “Nhưng bố tôi là một nhà giáo, bố tôi dạy hóa (học) nên bố tôi phát hiện ra được mùi hóa chất rất giỏi, thí dụ trong thức ăn, nước uống của bố tôi có những hóa chất lạ là bố tôi phát hiện ra liền”. Lại vẫn có ý ám chỉ, suy diễn “bụng ta ra bụng người”. Tre Việt có đọc bài viết của cha cô sau khi được đặc xá, không hề thấy ông Đinh Đăng Định viết rằng ông ngửi thấy mùi hóa chất lạ trong thức ăn, nước uống như cô suy diễn. Thế rồi, Thảo lại trách móc: “Họ vẫn cứ giam giữ bố tôi, thì thử hỏi, với điều kiện giam giữ trong tù như thế thì làm sao một người vừa trải qua cơn đại phẫu có thể hồi phục được?”. Ông cha ta có câu: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” Thảo ạ! Giá như cha cô không phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự để tòa phải xét xử tuyên phạt 6 năm tù vào năm 2013 thì đâu có chuyện như vậy. Ông Đinh Đăng Định - cha cô -  không nói, không viết như cô suy diễn, phải chăng cô quá thương tiếc cha mình nên nói vậy thôi.

          Cô Phương Thảo thừa nhận trong lễ tang của cha cô “gia đình chưa gặp sự cản trở nào của chính quyền”, nhưng vẫn lối suy diễn “tuy rằng có thể một số nhà hoạt động đến dự đám bị an ninh theo dõi”. Đúng là sự suy diễn hồ đồ, vô căn cứ, không đưa ra bằng chứng nào mà cố nói lấy được theo kiểu “Ăn ốc nói mò”.

          2. Cũng trong bài viết trên, BBC tiếng Việt còn đưa ý kiến của Phạm Chí Dũng rằng, chính quyền đã có “tính toán” khi thả ông Định về nhà trong tình trạng bệnh tật đã rất trầm trọng, được hiểu là ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Và “họ cho lệnh đặc xá với ông Đinh Đăng Định, đó là một việc lấy lòng quốc tế, cho là nhà nước Việt Nam có nhân quyền”. Ở trên, cô Phương Thảo trách móc “cứ giam giữ” khi bệnh đã nặng. Ở đây, khi Nhà nước đặc xá cho ông Định thì Phạm Chí Dũng lại cho rằng “tính toán” để lấy “lòng quốc tế, cho là nhà nước Việt Nam có nhân quyền”. Vậy là sao? Kiểu gì họ cũng nói được.

          BBC dẫn lời ông Dũng: “việc tổ chức một đám tang không hoàn toàn quá tốn kém so với khả năng của Nhà nước, nhưng trách nhiệm và chi phí này, có thể đã được tính toán để “chuyển sang” cho các đương sự và người nhà của các đương sự bị qua đời”. Đúng là “Làm phúc phải tội”. Theo phong tục tập quán văn hóa Việt Nam, những người ốm đau không thể qua được, thường thì các bệnh viện đều trả về để khi người bệnh “nhắm mắt xuôi tay” được ở trong ngôi nhà mình, hết sức tránh “chết đường, chết chợ”. Vậy là, việc ông Định qua đời tại tư gia là phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam. Hơn nữa, khi ông bị bạo bệnh, ông được gần người thân để chăm sóc ông, an ủi ông và cũng là an nủi gia đình ông Định. Việc làm đầy nhân văn như thế mà Phạm Chí Dũng lại chuyển sang bài toán kinh tế, lộ rõ chân tướng của kẻ chỉ coi trọng vật chất, coi nhẹ tình cảm và văn hóa dân tộc. Những kẻ như vậy luôn bị xã hội ta từ trước đến nay phê phán. Thật là đã sấu xa mà không biết đường đậy lại. 

          Các ý kiến trên của Đinh Phương Thảo, Phạm Chí Dũng và BBC tiếng Việt đều có ý phê phán thực thi quyền con người ở Việt Nam. Nhưng xin thưa, trong Hội thảo thông báo kết quả Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ II, diễn ra chiều 02-4 vừa qua tại Hà Nội, do Bộ Ngoại giao phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam tổ chức, bà P.Mê-ta (Pratibha Mehta), Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam cũng như nhiều đại biểu tham dự Hội thảo đều có chung nhận định: Việt Nam có nhiều tiến bộ trong bảo đảm quyền con người. Điều đó một lần nữa chứng tỏ những suy diễn của Thảo, Dũng và BBC tiếng Việt chỉ là trò: “Gắp lửa bỏ tay người” mà thôi./. 

Apr 4, 2014

VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM – LẤY TAY VẢ MIỆNG

         Tre Việt - 3/3/2014, nhà văn Nguyên Ngọc cùng 60 “nhân sĩ chấy thức” khác đã hùng hồn đăng tải tuyên bố vận động thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập Việt Nam” (VĐĐLVN). Cổ súy rùm beng cho “sự kiện này” (chẳng nói thì thiên hạ cũng đoán được) là một số cá nhân, tổ chức, trang mạng có “truyền thống đi ngược”, a dua và chống phá. Tuy mới chỉ là giai đoạn “vận động” chứ chưa thực sự được “thành lập” nhưng chỉ cần đặt bản tuyên bố ấy cạnh cái Danh sách Ban vận động thành lập do Nguyên Ngọc cầm đầu đã “hé lộ” ngay rất nhiều mâu thuẫn, rất nhiều vấn đề mà nhờ đó lật tẩy phần nào bộ mặt thật không lấy gì làm hay ho của VĐĐLVN. Như thế há chẳng phải là VĐĐLVN  “lấy tay vả miệng” hay sao?!
1. Nguyên Ngọc cùng những kẻ “đồng hội đồng thuyền”, một cách rất chuyên nghiệp, đã vận động thành lập “hội này” bằng một tuyên ngôn thoạt nghe có vẻ “đao to búa lớn” với những mục đích chính đáng, cao cả tưởng như không chỉ Việt Nam mà bất cứ nền văn học của dân tộc nào trên thế giới cũng mong muốn, ấy là “góp phần tích cực xây dựng và phát triển một nền văn học Việt Nam đích thực, nhân bản, dân chủ, hiện đại, hội nhập với thế giới”, ấy là “có thể đóng vai trò tiền phong đúng như nó phải có trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đang đòi hỏi”. Thế nhưng, cái mục đích “to đùng to đoàng” ấy lừa mị được ai khi mà soi vào bản Danh sách Ban vận động thành lập thì tòi ra vị trí thứ hai, nghĩa là chỉ sau vị trí thứ nhất (Trưởng ban Nguyên Ngọc), lại chính là Bùi Chát. Chắc thiên hạ không ai xa lạ gì, Bùi Chát – tác giả của “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa”, người sáng lập Mở Miệng với sản phẩm là thứ “quái thai lai quái dị”, tục tĩu, bệnh hoạn, nổi loạn, phản động (đối tượng nghiên cứu trong “luận văn thạc sĩ” mới bị thu hồi vì tính chất phi chính trị, phản văn hóa, phản khoa học mà Tre Việt từng đề cập đến trong một bài viết khác),… Nhìn vào bản danh sách không xếp theo thứ tự A, B, C,… cũng chẳng xếp theo thứ tự tuổi đời từ thấp đến cao hay từ cao xuống thấp mà lại bắt đầu bằng cái tên của Trưởng ban rồi đến cái tên của Bùi Chát ngồi “nghễu nghện” trên khá nhiều bô lão “mũ cao áo dài” trong làng văn thì đoán rằng có hai tình huống: 1. “Bố đẻ” của “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa” hẳn phải chiếm một ghế “tối quan trọng” trong VĐĐLVN, sản phẩm “quái thai lai quái dị” của anh ta chắc được VĐĐLVN đề cao!; 2. VĐĐLVN lợi dụng điều này để chứng minh cho bàn dân thiên hạ thấy hội của tôi là thế đấy, tham gia hội của tôi “quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm” của các bạn sẽ được khuyến khích, bảo đảm cho dù các vị có phóng uế ra phế thải của những đầu óc bệnh hoạn (Bùi Chát là tấm gương to đùng). Vì vậy, hãy thử hình dung xem trong một ngày đẹp giời nào đó, VĐĐLVN mang những thứ thơ tục tĩu, bệnh hoạn, nổi loạn của Mở Miệng bày lên đĩa và mời thiên hạ “xơi” thì không biết có “thức tỉnh lương tri và bồi đắp đạo đức xã hội” được tí nào như họ hùng hồn tuyên ngôn không, hay chỉ làm ô uế bầu khí quyển văn học nước nhà. Ấy thế mà họ còn cao giọng “văn hóa Việt Nam ngày càng suy thoái nghiêm trọng, lộ rõ nguy cơ đánh mất những giá trị nhân bản căn cốt nhất, uy hiếp đến cả sự tồn vong của dân tộc”. Thật đúng là “thùng rỗng kêu to”, “vừa ăn cắp, vừa la làng”, chi tiết “biết nói” (Bùi Chát đứng thứ hai trong Ban vận động thành lập) đã làm một việc mà Ban vận động thành lập không ngờ tới, ấy là “lột truồng” cái mặt nạ VĐĐLVN cho người ta biết bộ mặt thực chất của nó chỉ là nơi dung túng cho những phần tử “quái thai lai quái dị” mà thôi!
2. Trong Tuyên bố vận động thành lập, VĐĐLVN liệt kê ra ba nhiệm vụ cụ thể mà như Lâm Trực @ nhận xét thì: nhiệm vụ cao cả và đẹp long lanh nhưng chả có gì mới mẻ, vì những thứ đó đã được xác định trong Điều lệ Hội Nhà Văn Việt Nam theo Quyết định số 69, ngày 14/7/1005, thậm chí, Điều lệ Hội nhà văn Việt Nam còn cụ thể hơn nhiều. Vấn đề là “nói có đi đôi với làm”? Nếu lướt một loáng từ đầu đến cuối danh sách, 61 cái tên, chắc hẳn không ít người nhận ra rất nhiều người nằm trong danh sách ấy hiện vẫn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, chưa kể có vị còn giữ chức vụ khá “to”. Vậy, tại sao họ lại phải thừa hơi vận động thành lập VĐĐLVN mà không tập trung dốc lòng dốc sức xây dựng Hội nghề nghiệp của mình phát triển và đoàn kết? Điều này cho thấy, nhiệm vụ lớn thứ nhất “Đoàn kết tương trợ giữa những người viết văn tiếng Việt trong và ngoài nước” mà VĐĐLVN đặt vị trí đầu tiên cơ hồ chỉ là “nói cho hoành tá tràng” vậy thôi chứ thực chất của việc vận động thành lập VĐĐLVN, nói như Lâm Trực @, là làm chính trị và đối lập với Hội nhà văn Việt Nam. Như vậy, há chẳng phải lấy tay vả miệng hay sao, miệng thì nói đến đoàn kết nhưng chính VĐĐLVN sẽ là minh chứng cho sự kéo bè kết cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ văn nghệ sĩ. 

3. Chỉ ra thực trạng “văn học yếu kém” để rồi nêu lên nguyên nhân chủ quan lướt qua trong 2 dòng (nguyên nhân chủ quan trước tiên thuộc chính người cầm bút là sự thờ ơ đối với trách nhiệm xã hội, vô cảm trước thời cuộc, quan trọng hơn nữa là thiếu độc lập tư duy, từ đó mà tự hạn chế năng lực sáng tạo), nguyên nhân khách quan với dung lượng dài gấp 3 lần (một xã hội như chúng ta đang có, trong đó các quyền tự do cơ bản của con người thực tế bị vi phạm trầm trọng, đương nhiên đè nặng lên tâm lý sáng tạo của người cầm bút, làm mờ nhạt và tắt lụi các tài năng. Quyền tự do sáng tác và tự do công bố tác phẩm đang là đòi hỏi sống còn của từng nhà văn và của cả nền văn học. Không có những quyền tự do tối thiểu đó thì không thể có một nền văn học đàng hoàng. Một thể chế tổ chức đời sống văn học nặng tính quan liêu và bao cấp càng làm nặng nề thêm tình hình, đồng thời lại không tạo được mối liên kết lành mạnh giữa những người viết để nâng đỡ và thúc đẩy nhau trong công việc, hỗ trợ nhau trong khó khăn). Điều này bộc lộ nhận thức, nhãn quan “lệch lạc”, phiến diện của 61 thành viên Ban vận động, trong đó có không ít “lão làng” bởi văn học yếu kém mà đổ vấy cho thể chế, cho xã hội (ấy là chưa kể những gì họ liệt kê ra không phải là sự thật!), thì hẳn là buồn cười. Văn học yếu kém, nhà văn phải tự xem lại cái Tài, cái Tâm, cái Tầm của mình chứ! Hơn thế, cái danh của nhà văn là nằm ở tác phẩm. Giá mà họ dành thời gian tập trung để viết, để sáng tác chứ không phải để tụ tập, kết bè kết cánh làm những việc vô bổ, gây hại biết đâu lại có tác phẩm lớn cống hiến cho công cuộc “phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc”?! Trộm nghĩ như vậy nhưng nhìn vào Danh sách Ban vận động thì thấy ngay: Từ đầu đến cuối, từ trẻ đến già, từ người có danh tiếng đến kẻ vô danh tiểu tốt,… đều là những cái tên hiện không còn “hot” trên văn đàn, chắc vì biết mình “tài cạn”, “tâm tối” nên chỉ còn cách dùng chiêu PR hâm nóng tên tuổi thường thấy trong Showbis Việt. Cái danh sách này, với những cái tên như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang Lập, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Huệ Chi, Châu Diên,… nổi lên là những “chấy thức” thường xuyên có những hành động, phát ngôn  vu cáo, xuyên tạc hoặc đả kích chế độ thì tự nó cũng đã vạch áo cho người ta xem và khiến người ta không thể tin được những gì hoa mỹ, “đao to búa lớn” mà họ đã hùng hồn đăng tải trên mạng. Dư luận hoàn toàn có thể hoài nghi về mục đích thực sự của VĐĐLVN cũng như việc có hay không một tổ chức nào đó giật dây cho những con người háo danh hoạt động?


Mar 28, 2014

Kẻ lớn tiếng bảo vệ nhân quyền lại vi phạm nhân quyền

         Tre Việt - Thế giới đang chứng kiến những biến động mau lẹ ở U-crai-na. Qua đó cho thấy, Mỹ và phương Tây thường lớn tiếng về nhân quyền, nhưng chính họ đang vi phạm nhân quyền nhất. Tại sao lại kết luận như vậy?

          Chúng ta chứng kiến nhân dân Crưm, với quyền dân tộc tự quyết, chính quyền Crưm đã trưng cầu dân ý về việc tiếp tục ở lại U-crai-na hay tách ra để sáp nhập vào Liên bang Nga, thì đã có hơn 95% số phiếu (trong 81,3% số cử tri đi bỏ phiếu) đồng ý tách Crưm ra khỏi U-crai-na để sáp nhập vào Liêng bang Nga (ngày 16-3-2014). Điều đó thể hiện nguyện vọng chính đáng của người dân Crưm và được các cấp có thẩm quyền ở Crưm và Liên bang Nga đồng ý, thực hiện đúng trình tự thủ tục pháp lý theo luật pháp quốc tế và luật pháp của Liên bang Nga. Ấy thế mà Mỹ và phương Tây lại phản đối. Họ ra các quyết định chừng phạt Liên bang Nga, nào là “khai trừ” Nga ra khỏi G8, nào là phong tỏa tài khoản không chỉ của các quan chức Nga mà còn phong tỏa tài khoản của các nhà kinh tế Nga - những doanh nhân có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Nga,... Có phải Mỹ và phương Tây đã vì quyền lợi của ngườ dân Crưm? Không. Họ hành động như vậy chỉ vì quyền lợi của chính họ mà thôi. Bởi khi Crưm sáp nhập vào Liên bang Nga thì lợi ích kinh tế, chính trị, quân sự của Mỹ và phương Tây bị ảnh hưởng nên họ mới giẫy nảy tìm mọi cách ngăn cản Crưm sáp nhập vào Liên bang Nga. Khi sự ngăn cản không thành thì họ quay sang chừng phạt, hòng cô lập Liên bang Nga, làm suy yếu nước Nga. Việc làm đó của Mỹ và phương Tây chỉ cho người ta thấy rõ: họ là những kẻ ích kỷ, chẳng phải quyền lợi của nhân dân Crưm mà chỉ vì lợi ích của chính họ mà thôi.

          Còn nhớ ngày 17-2-2008, Nghị viện Cô-xô-vô tiến hành một cuộc họp khẩn cấp để ủng hộ quyền độc lập của vùng này, tách ra từ Cộng hòa Xéc-bi. Khi ấy chẳng có cuộc chưng cầu dân ý nào, nhưng Mỹ và phương Tây nhanh chóng ủng hộ và công nhận Cô-xô-vô vốn là vùng đất thuộc Cộng hòa Xéc-bi thành một thực thể độc lập. Cũng vì quyền lợi của Mỹ và phương Tây. Việc làm đó của Cô-xô-vô họ lại cho là phù hợp, còn nay, Crưm tiến hành chưng cầu dân ý hẳn hoi họ lại cho là không phù hợp. Điều ấy cho thấy, đối với Mỹ và phương Tây chẳng có nguyên tắc nào cả, chẳng có nhân quyền gì hết, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc của họ mà thôi. Khi lợi ích quốc gia, dân tộc của Mỹ và phương Tây được bảo đảm thì dù có sai cũng thành đúng luật pháp quốc tế và ngược lại. Họ đâu có thèm để ý đến quyền của người dân. Gần như tuyệt đại đa số người dân Crưm đồng ý tách Crưm ra khỏi U-crai-na để sáp nhập vào Liên bang Nga, nhưng Mỹ và phương Tây lại nói không được. Họ chẳng cần biết người dân Cô-xô-vô có đồng ý tách ra khỏi Cộng hòa Xéc-bi hay không đã vội vã công nhận Cô-xô-vô độc lập. Cùng một hiện tượng giống nhau, ở hai thời điểm khác nhau, vì lợi ích của Mỹ và phương Tây họ có hai thái độ trái ngược nhau. Thử hỏi đâu còn công lý? Đâu còn tôn trọng quyền con người của Mỹ và phương Tây? Với cách hành xử của Mỹ và phương Tây như vậy, chỉ cho người ta thấy rõ ràng rằng, kẻ luôn lớn tiếng bảo vệ nhân quyền, nhưng chớ chêu thay, chính họ lại vi phạm nhân quyền nhất!

Mar 14, 2014

Kẻ thù của internet lại như thế sao?

        Tre Việt  - Ngày 12-3-2014, VOA tiếng Việt lại đưa tin: Hôm 11 tháng 3, Tổ chức Ký giả không Biên giới (RSF) công bố báo cáo thường niên “Kẻ thù của internet năm 2014” tập trung chú ý vào những cơ quan, tổ chức của chính phủ thực hiện việc kiểm duyệt và do thám trên Internet. Bộ Thông tin và Truyền thông của Việt Nam là một trong những cơ quan được RSF đưa ra báo cáo cụ thể về việc theo dõi và kiểm duyệt nhà báo, blogger và những người cung cấp thông tin khác.
         RSF nói Chính phủ Việt Nam “trấn áp không thương tiếc” những người bất đồng chính kiến trên mạng bằng chính sách kiểm duyệt. RSF nhận xét như vậy là không có căn căn cứ.
        Trước hết, RSF cố tình hiểu sai lệch văn bản pháp lý quốc tế để vu cáo Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận. RSF vin cớ Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm” để biện hộ cho lý lẽ về tự do ngôn luận. Nhưng Điều 29 của bản Tuyên ngôn trên lại quy định: “Mọi người đều có nghĩa vụ với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ. Khi thực hiện các quyền tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền tự do của người khác cũng như đáp ứng những nhu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong xã hội dân chủ”. Như vậy, Tuyên ngôn Nhân quyền quy định rõ quyền tự do ngôn luận của mọi người, nhưng khi thực hiện quyền tự do của mình phải chịu những hạn chế do luật định. Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng quy định rõ việc thực hiện quyền tự do báo chí, ngôn luận,… phải đi kèm nghĩa vụ, trách nhiệm, phải chịu một số hạn chế nhất định để “tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, hoặc đạo đức của xã hội”. Qua đó cho thấy, các quy định pháp lý quốc tế một mặt thừa nhận quyền tự do dân chủ; mặt khác, cũng quy định các quyền tự do cũng có giới hạn do luật định mỗi nước quy định. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Do vậy, Việt Nam có các văn bản luật quy định về việc sử dụng internet, như Nghị định 72 thì có gì sai với văn bản pháp lý quốc tế và Hiến pháp Việt Nam.
Đồng bào dân tộc thiểu số truy cập internet (Nguồn: Internet)
        Thứ hai, thực tiễn internet phát triển sinh động ở Việt Nam đã bác bỏ cáo buộc sai trái của RSF đối với Việt Nam. Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử, gần 3 triệu người có blog, có 30,8 triệu người sử dụng internet (năm 2010 là 26 triệu), chiếm 34% dân số (trung bình của thế giới là 33%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 tại châu Á[1]. Ấy là chưa kể các loại phương tiện kỹ thuật hiện đại truy cập internet không dây, như: các loại máy tính xách tay, máy tính bảng, hệ thống USB 3G, máy điện thoại thế hệ mới rất phổ biến ở Việt Nam,… Với sự ra đời của VNSAT 1, hầu khắp lãnh thổ Việt Nam đều có thể truy cập được internet một cách dễ dàng bằng các phương tiện kết nối có dây và không cần dây. Đó là những con số biết nói, cho thấy cáo buộc của RSF rằng, Việt Nam hạn chế phát triển internet là hoàn toàn sai trái.
        Như vậy, cả về phương diện pháp lý quốc tế, Việt Nam và thực tiễn phát triển internet của Việt Nam cho thấy, RSF là tổ chức làm việc rất thiếu trách nhiệm, đưa ra nhận xét về phát triển internet của Việt Nam không có căn cứ. Thật đáng tiếc!




[1] Theo xếp hạng năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế ITU.

Mar 12, 2014

Bùi Tín lại nói lấy được

Tre Việt - Trong blog của mình, lại được mõ làng VOA tiếng Việt loan tin ngày 10-3 vừa qua, Bùi Tín có bài viết: Một ngày ở tù cũng là quá nhiều”. Đọc bài viết này thấy rõ sự trải lòng của Bùi Tín, nhưng rất tiếc đó là cách nói lấy được.
Bùi Tín
Trong bài viết, Bùi Tín cho rằng, ở Việt Nam không có tự do ngôn luận. Trước hết, xin lưu ý ông cần hiểu đúng thế nào là tự do ngôn luận. Vì ông là kẻ đào tẩu, bỏ hàng ngũ, bỏ đất nước, bỏ họ hàng chạy sang trời Tây những mong “liếm gót giầy Tây béo mập đầu” từ hơn 20 năm trước, nên đã quên mất văn hóa của người Việt: Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Những ai lợi dụng tự do ngôn luận để đại ngôn, ngoa ngôn đều không đúng với văn hóa Việt Nam. Không thể vin cớ tự do ngôn luận để chửi bới nhau vô tội vạ. Không thể vin cớ tự do ngôn luận để có ai đó có chút thành tích thì khen nhau đến giời và ngược lại có chút khuyết điểm lại dùng lời nói dìm họ xuống tận bùn đen. Khen cũng phải đúng mức, chê cũng phải đúng mực. Ấy là văn hóa Việt. Ông có dẫn ra trường hợp Trương Duy Nhất bị Tòa án nhân dân  thành phố Đà Nẵng xét xử phải đi tù 2 năm và Phạm Viết Đào tòa án sắp xét xử và cho rằng, những người này chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình mà phải đi tù thì ông đã hiểu không đúng hay cố tình hiểu không đúng về tự do ngôn luận. Bởi những trường hợp ông nhắc đến, rõ ràng họ đã lợi dụng tự do ngôn luận để nhằm mục đích chính trị, hòng tạo ra “cách mạng màu” ở Việt Nam. Họ đã vượt quá giới hạn của tự do ngôn luận rồi. Không ở đâu có thứ tự do ngôn luận tuyệt đối mà đều có giới hạn được quy định của pháp luật theo luật pháp quốc tế và luật pháp mỗi nước. Với Việt Nam, đó còn là văn hóa nữa như trên đã đề cập.  
Ông có nhắc tới một vài người có “thành tích” trước đây, như: Phạm Viết Đào tham gia quân đội từ năm 16 tuổi, từng dự các trận đánh ở đường 9, Nam Lào, là cựu chiến binh, lại là đảng viên Cộng sản từ khi 22 tuổi, từng là cán bộ thanh tra của Bộ Văn hóa, hiện là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Anh có em ruột là liệt sỹ Phạm Hữu Tạo, hy sinh do bị đạn pháo của bọn bành trướng Trung Quốc tại vùng núi Lão Sơn (Hà Tuyên) tháng 7/1984, nhưng như thế không có nghĩa là Phạm Viết Đào đứng ngoài vòng pháp luật. Ở Việt Nam, pháp luật không có vùng cấm nào cả. Những người hôm qua tốt, không có nghĩa ngày mai anh ta sẽ tốt nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, như chính Bùi Tín chẳng hạn. Những người trước đây phạm pháp, không có nghĩa mãi mai sau này họ là người phạm pháp, nếu họ nhận ra lỗi lầm và đã sửa chữa, khắc phục. Bởi thế,Việt Nam mới có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Còn nhân thân của anh tốt là yếu tố xem xét trong quá trình xét xử và có thể giảm tội, chứ không phải vô tội.  
Với cách nói lấy được của Bùi Tín, lần nữa càng chứng tỏ Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan Nhà nước và cán bộ viên chức chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép’’ là hoàn toàn đúng./.

Mar 9, 2014

Nhận xét hồ đồ về "tù chính trị ở Việt Nam"

Tre Việt - Ngày 06-3, Trà Mi trên VOA lại “ăn theo nói leo” Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH), cho rằng: “Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á”. Đọc bài viết thấy rõ sự nhận thức còn khác biệt giữa FIDH với Việt Nam. Những người vi phạm pháp luật Việt Nam, bị tòa án xét xử theo đúng trình tự pháp luật và trước tòa họ đều cúi đầu thừa nhận hành vi phạm pháp của mình, các luật sư bào chữa cho thân chủ của họ cũng thừa nhận tòa án xét xử và tuyên phạt đúng người đúng tội. Thế mà FIDH có nhận xét hồ đồ, lại được VOA đưa tin thiếu cân nhắc làm mất uy tín của mình rằng: Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á”. Trong bài viết, Trà Mi cũng dẫn rằng: “Việt Nam lâu nay vẫn tuyên bố tại Việt Nam không có tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm. Hà Nội nói chỉ có những người phạm pháp mới bị xử lý theo đúng pháp luật”. Thế nhưng có ý kiến phản bác: “Các luật lệ này rõ ràng không phù hợp với những tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế cho nên lập luận của Hà Nội hoàn toàn vô lý”. Vâng, tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế mà họ nhắc đến được ghi trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Xin nhắc lại Điều 19 Công ước trên ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Xin lưu ý khoản 3 của Điều 19 này, những tổ chức cá nhưng có ý kiến khác với Việt Nam là do họ đã bỏ qua khoản 3 của Điều 19 mà tuyệt đối hóa khoản 1 và 2 (Điều 19). Do cách xem xét phiến diện như vậy, nên giữa họ với Việt Nam có nhận thức khác nhau cũng là điều dễ hiểu.
Chúng ta hãy xem họ dẫn ra các trường hợp được gọi là tù chính sau đây để thấy rõ điều đó. Theo họ: Hồ sơ 17 tù nhân chính trị cần đặc biệt quan tâm bao gồm trường hợp của nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định; Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải; luật sư “nhân quyền” Lê Quốc Quân; “tiến sĩ luật” Cù Huy Hà Vũ; “nhà hoạt động công đoàn” Đỗ Thị Minh Hạnh; “nhà hoạt động dân chủ” Trần Huỳnh Duy Thức; nhạc sĩ Việt Khang; và nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình. Đọc những cái tên trên, chúng ta chẳng lạ gì họ phạm tội như thế nào. Ấy thế mà mấy tổ chức kia lại cố nói lấy được, gắn cho những người này là “tù chính trị”.
Họ còn dẫn lời của Đinh Đăng Định nào là, “Chế độ của trại giam vô cùng khốc liệt. Sự chăm sóc về ăn uống, về sức khỏe vô cùng giới hạn. Thuốc men không có”. Nào là, “trong môi trường tù tội, không hề có nhân quyền. Việc thực hiện tra tấn, họ không tra tấn một cách lộ liễu, mà họ tra tấn bằng cách chẳng hạn như ốm đau không được trị bệnh, ăn uống thiếu thốn, đời sống văn hóa không có. Đấy cũng là các hình thức tra tấnXin thưa, Việt Nam còn là nước có thu nhập trung bình, nhưng ở tốp dưới của mức này. Vì vậy, những người đang phải lao động sản xuất hằng ngày,cuộc sống cũng còn thiếu, chưa được sung túc nữa là. “Các bố” vi phạm pháp luật, cứ ngồi đấy để chúng tôi nai lưng ra làm được bao nhiêu đều cung phụng và phải “cơm bưng nước rót” cho “các bố” chắc. Một đòi hỏi thật phi lý. Đòi hỏi của “các bố” được thỏa mãn thì chúng tôi cũng xin đi tù như mấy “bố” cho sướng, khỏi phải ở ngoài tự do nhưng phải làm việc vất vả làm gì.
Bởi vậy, khi nói về nhân quyền cần gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể từng nơi, từng quốc gia nếu không thì sẽ phi thực tế để có những nhận xét, đánh giá hồ đồ chỉ làm mất uy tín của mình mà thôi./.




Mar 7, 2014

Comment

Để tiện cho các bác chia sẻ ý kiến, các bác comment theo các bước dưới đây nhé.





Các bác Click Xuất bản là ok!



Feb 17, 2014

Báo chí ở Việt Nam chẳng những được tự do mà còn được bảo vệ tốt hơn

          Tre Việt - Ngày 12-02-2014, VOA tiếng Việt có bài: “Quốc tế báo động tình hình tự do báo chí tại Việt Nam” của Trà Mi, đọc bài viết này thấy cách lý sự chẳng giống ai, đúng ra là trò ngụy biện, đọc qua thấy có lý, suy nghĩ một chút thấy rất vô lý.
         Trà Mi “ăn theo nói leo” hai tổ chức vốn không có thiện chí với Việt Nam. Đó là Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Pháp và Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) có trụ sở ở Mỹ. Theo đó, Trà Mi dẫn lời của hai tổ chức này, nào là:“Việt Nam là một trong những quốc gia đàn áp tự do báo chí tệ hại nhất trên toàn cầu, là nhà tù lớn thứ nhì trên thế giới giam cầm các blogger và những người thể hiện quan điểm bất đồng với nhà nước trên mạng…”. Nào là, khi chúng ta khẳng định quyền tự do báo chí được bảo vệ, không bị giới hạn tại Việt Nam, với hàng trăm tờ báo và hàng triệu blogger tự do viết blog trên mạng, thì họ lại cho rằng: “Đó không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá tự do báo chí mà chủ yếu là các chính sách của nhà nước và khung pháp lý liên quan đến quyền tự do thông tin và tự do báo chí mới là điều đáng nói. Anh cho phát triển về số lượng nhưng cùng lúc lại tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn. Các con số anh chứng minh phát triển về lượng này không có nghĩa là anh để cho báo chí phát triển tự do. Bằng chứng là Hà Nội liên tục ban hành các nghị định giới hạn quyền tự do báo chí như 72 hay 174 đối với người chia sẻ thông tin trên Facebook bên cạnh các điều luật hình sự về an ninh quốc gia vốn mơ hồ nhưng thường được dùng để bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước như Điều 88 “tuyên truyền chống nhà nước” hay Điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền”. Đọc qua thấy có phần có lý, suy nghĩ kỹ thấy trò ngụy biện mang rõ động cơ không trong sáng. Thật phi lý, không có tự do báo chí thì làm sao có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng? Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 997 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm (so với các con số tương ứng của năm 2009 là 676 và 700); gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; 01 hãng thông tấn, 67 đài phát thanh - truyền hình, 101 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh, 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử, gần 3 triệu người có blog. Người dân Việt Nam được tiếp cận với nhiều kênh truyền hình nước ngoài, nhiều hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới, như: CNN, TV5, DW, NHK, KBS, Australia, BBC, VOA, AFP, RFA,... Tính đến tháng 12-2013, ở Việt Nam đã có 30,8 triệu người sử dụng in-tơ-nét (năm 2010 là 26 triệu), chiếm 34% dân số (trung bình của thế giới là 33%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 tại châu Á[1]. Sự phát triển mạnh mẽ in-tơ-nét ở Việt Nam đã là một thực tế thuyết phục để bác bỏ mọi sự vu cáo, xuyên tạc về sự hạn chế của Chính phủ Việt Nam đối với người dân trong việc tiếp cận in-tơ-nét. Khi báo chí phát triển thì song hành với đó là phải quản lý để báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật mà bất kỳ quốc gia nào cũng làm thế, đâu chỉ có Việt Nam. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc pháp luật phải bảo vệ báo chí phát triển tự do và các tờ báo không vi phạm bản quyền của nhau, không làm tổn thương lẫn nhau. Cũng như người tham gia giao thông càng đông, càng nhiều thì đòi hỏi Luật Giao thông phải càng đầy đủ với các điều, khoản khoa học tạo cơ sở pháp lý cho người và các phương tiện tham gia giao thông chấp hành. Không thế thì dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy đi, không ai nhường ai để xảy ra tình trạng “quân hồi vô phèng” thì chính người và các phương tiện tham gia giao thông bị tổn thương, có khi còn ảnh hưởng đến tính mạng. Vậy, tại sao không có các luật với các điều, khoản cụ thể để điều chỉnh hành vi tham gia giao thông? Tương tự như vậy, báo chí phát triển mạnh với sự gia tăng nhanh chóng của số lượng cũng đòi hỏi phải có quy định với các hình thức khác nhau, như: Thông tư, Nghị định, luật,… để điều chỉnh hành vi tham gia hoạt động; đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của chính báo chí. Việc làm đó của Việt Nam thống nhất với thứ nhất, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, tại Điều 19 cũng đã ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Thứ hai, Công ước nhân quyền châu Âu (có hiệu lực từ ngày 03-9-1953) đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[2]. Rõ ràng, trong khi khoản 1 của Ðiều luật này quy định: ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới, thì khoản 2 lại quy định: việc thực thi các quyền đó gắn với các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Không có thứ tự do “tuyệt đối” mà không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, ở sự ổn định xã hội, mà thiếu nó thì mọi cố gắng của con người đều trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Công ước nhân quyền châu Âu nói trên.
          Họ còn dẫn các Điều 88 “tuyên truyền chống nhà nước” hay Điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền” trong Bộ luật Hình sự để nói rằng chúng ta “bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước”. Thật là phi lý, họ chỉ tuyệt đối hóa quyền công dân mà lảng tránh trách nhiệm công dân. Mọi người đều biết, đã là công dân của một nước thì phải chấp hành nghiêm mọi luật pháp của nước đó. Cho nên, một người, hay một hành động của công dân đều bị chế ước bởi cả hệ thống luật pháp của nước đó, chứ không chỉ có chấp hành luật này mà bỏ qua việc chấp hành luật khác. Bởi điều đó không nơi nào, nước nào trên hành tinh này lại như thế cả. Đòi hỏi đó của họ thật vô lý, không chấp nhận được.
          Vậy là báo chí ở Việt Nam chẳng những được tự do mà còn được bảo vệ tốt hơn chứ. Điều đó đồng nghĩa với cách nói của Trà Mi trên VOA tiếng Việt ngày 12-02 vừa qua cùng cách nói của Tổ chức Phóng viên Không biên giới và Ủy ban Bảo vệ Ký giả về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có căn cứ./.





[1] Theo xếp hạng năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế ITU.
[2] Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.

Feb 6, 2014

Sự hàm hồ của các "nhà nhân quyền"

Tre Việt - Ngày 05-02-2014, ngay trước khi Việt Nam đăng đàn tại phiên họp kiểm định định kỳ thứ 18 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, một số tổ chức, cá nhân tự nhận là “nhà nhân quyền” có các hoạt động hòng gây sức ép về nhân quyền đối với Việt Nam. Xem xét các hoạt động của họ cho thấy đó là những phát biểu hàm hồ. BBC tiếng Việt với bài “Vận động giờ chót trước UPR Việt Nam” của Nguyễn Hùng cho thấy rõ điều đó. Bài viết cho biết, các “nhà nhân quyền” tổ chức hội thảo mang tên “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc” hôm 04-02 vừa qua, tại Giơ-ne-vơ do PEN International, UN Watch và Đảng chính trị Việt Tân, đồng chủ trì. Hội thảo có hơn 100 người diễn ra trong 2 tiếng đồng hồ cho thấy đó là trò hề. Hai tiếng đồng hồ với từng ấy người thì hội thảo được những gì không cần trả lời mọi người cũng biết nó như thế nào rồi.
          Ông Leon Saltiel, Phó Giám đốc tổ chức UN Watch kêu gọi các nước thành viên Liên hợp quốc hãy “khai trừ Việt Nam ra khỏi Hội đồng Nhân quyền”. Không hiểu căn cứ vào đâu mà ông phát biểu hàm hồ đến vậy! Ai cũng biết, Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, thế mà ông Leon Saltiel lại bác bỏ lá phiếu của gần 200 thành viên Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Vậy, chẳng phải hàm hồ sao? Trơ chẽn hơn, khi phóng viên BBC chất vấn về chuyện Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, ông Saltiel lại nói: “chuyện các nước thành viên Liên hợp quốc dàn xếp và mặc cả với nhau để đổi chác sự ủng hộ là chuyện thường”. Tôi không hiểu gần 200 nước thành viên Liên hợp quốc “đổi chác” cái gì với Việt Nam? Có chăng, đó là nhân quyền không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà với tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam tích cực đóng góp vì nhân quyền cho cả nhân loại ngày càng được bảo đảm tốt hơn mà thôi.
          Đại diện của UN Watch, nói thêm Libya cũng đã từng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và đã bị khai trừ khỏi Hội đồng này. Nhưng họ lại “quên” tháng 5-2001, Liên hợp quốc bỏ phiếu loại Mỹ ra khỏi Ủy ban Nhân quyền quốc tế - tổ chức tương tự Hội đồng Nhân quyền ngày nay - nơi mà Mỹ là thành viên từ năm 1948, do những vi phạm của nước này xung quanh vấn đề dân chủ, nhân quyền.
          Ông Hà Huy Sơn, luật sư từ Việt Nam sang Giơ-ne-vơ tham gia các hoạt động trước phiên Kiểm định Định kỳ Phổ quát UPR cũng thừa nhận với BBC rằng, số vụ xử các tội liên quan đến Điều 88 và 79 của Bộ luật Hình sự về tội tuyên truyền chống Nhà nước và tội lật đổ chính quyền giảm xuống, nhưng lại hồ đồ cho rằng, “các nhà hoạt động giờ thường bị khép vào những tội khác”. À thế ra, kiểu gì các “nhà nhân quyền” cũng nói được. Thực chất giọng điệu của các “nhà nhân quyền” là họ phải đứng ngoài vòng pháp luật. Nhân quyền với họ là xã hội ai muốn làm gì thì làm, không có pháp luật gì hết, họ tuyệt đối hóa quyền con người mà lảnh tránh trách nhiệm công dân. Đó là điều phi lý và không thể. Hiện nay, trên hành tinh này, không có nơi nào có thứ nhân quyền như họ đòi hỏi. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị mà họ thường viện dẫn cũng cho thấy rõ điều đó. Điều 19, Công ước này quy định: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…”, nhưng khoản 3 lại quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
          Trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt,… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo,…[1]. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác, quyền con người luôn được gắn liền với quyền và nghĩa vụ công dân. Thật vậy, Công ước nhân quyền châu Âu có hiệu lực từ ngày 03-9-1953 đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, có quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10. Theo đó: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp[2]. Qua đó cho thấy, khoản 1 của Ðiều luật này quy định nguyên tắc chung về tự do ngôn luận (ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới), nhưng khoản 2 lại quy định việc thực thi các quyền đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Thực tiễn đã cho thấy, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác về nhân phẩm, danh dự. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ðó là quyền tự do ngôn luận phải nằm trong nguyên tắc bảo đảm “an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật, bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[3]. Chúng ta còn nhớ sự kiện họa sĩ Kút vẽ tranh châm biếm nhà Tiên tri Mohammed của Hồi giáo dẫn đến khủng hoảng xã hội vì bạo động ở Đan Mạch và vụ việc Mục sư Giôn ở bang Phlo-ri-đa, nước Mỹ có ý định đốt kinh Cô-ran đã để lại hậu quả nặng nề đối với xã hội khi người ta đã quan niệm không đúng quyền tự do của cá nhân. Những người có hành vi xúc phạm đạo Hồi ở Đan Mạch và ở Mỹ nói rằng, họ có cơ sở pháp lý để làm việc đó là “quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ”. Chúng ta cũng chưa quên việc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho Quân đội Hoa Kỳ. Và gần đây là vụ Edward Snowden tiết lộ bí mật hoạt động của cơ quan tình báo Mỹ, dẫn đến cựu nhân viên tình báo này phải tỵ nạn ở Nga trước sự truy bắt gắt gao của Chính phủ Mỹ, cũng chỉ vì tội tiết lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại có tình trạng đó? Vì những người này đã tuyệt đối hóa quyền con người mà không thấy nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Điều đó cho thấy, trong khi thực hiện quyền của mình, mỗi người là công dân nước nào cũng có bổn phận phải thực hiện nghĩa vụ công dân và luật pháp của nước đó. Công dân Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
          Đại diện của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ông Benjamin Ismail, cũng phát biểu rằng, tình hình nhân quyền Việt Nam đã tồi tệ thêm từ năm 2009 - năm Việt Nam lần đầu tiên kiểm điểm về nhân quyền. Xin thưa, Việt Nam được Liên hợp quốc xếp thứ 13 thế giới về kết quả thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Đấy vi phạm nhân quyền của Việt Nam là thế đấy!
          Rõ ràng, các “nhà nhân quyền” có những phát biểu hàm hồ, không dựa trên pháp luật, mà chỉ tuyệt đối quyền con người, lảng tránh trách nhiệm công dân. Xin nhắc lại, đó là điều phi lý và không thể.





[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
[2] , 3 - Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.