Aug 30, 2017

Vô liêm sỉ

Tre Việt - Mới đây, Cộng đồng người Việt Quốc gia tại Mỹ đã ra “Thỉnh nguyện thư” kêu gọi mọi người ký tên phản đối, ngăn cản quá trình ứng cử vào chức Tổng giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc (UNESCO) của ông Phạm Sanh Châu. Đó là việc làm vô liêm sỉ!

          Vậy, ông Phạm Sanh Châu là người như thế nào mà Cộng đồng người Việt Quốc gia tại Mỹ lại có việc làm ngớ ngẩn trên? Ông sinh năm 1961, bắt đầu sự nghiệp ngoại giao từ năm 1983, từng làm Đại sứ Việt Nam tại các nước: Bỉ, Lúc-xăm-bua và đã có nhiều năm làm việc tại UNESCO Việt Nam. Ông sử dụng thành thạo tiếng Anh và tiếng Pháp. Hiện nay, Ông đang là Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao nước ta, Đặc phái viên của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam về các vấn đề UNESCO, Tổng Thư ký Ủy ban Quốc gia UNESCO của Việt Nam. Ông có đầy đủ các tiêu chí để ứng cử vào chức Tổng giám đốc UNESCO của Liên hợp quốc. Do vậy, ông Phạm Sanh Châu đã được UNESCO chấp nhận là một trong những ứng viên ứng cử vào chức vụ danh giá này. Đó là niềm vui, niềm tự hào và kiêu hãnh của người Việt Nam dù sinh sống ở trong hay ngoài nước. Chưa biết kết quả cuối cùng thế nào vì việc lựa chọn chức Tổng Giám đốc UNESCO phải trải qua các khâu, các bước theo một quy trình chặt chẽ để lựa chọn người xứng đáng nhất. Ông Phạm Sanh Châu đã qua 02 vòng phỏng vấn, nhận được nhiều phản hồi tích cực và đang được phỏng vấn vòng 3. Là người Việt Nam có lương tri tất thảy đều mong ông Phạm Sanh Châu vượt qua ngoạn mục đòi hỏi của quy trình lựa chọn chức vụ Tổng Giám đốc UNESCO, vượt qua các ứng viên khác để là người Việt Nam đầu tiên đảm nhiệm chức vụ cao quý này! Ấy thế mà cái gọi là Cộng đồng người Việt Quốc gia tại Mỹ lại có việc làm vô liêm sỉ đưa ra cái “Thỉnh nguyện thư” điên rồ kia là sao? Họ luôn kêu gọi, hô hào Việt Nam phải thế nọ, thế kia để bằng bạn bằng bè, thế mà giờ đây lại có việc làm ngược lại. Lời nói và việc làm của họ sao cách nhau xa thế?
Cho nên, việc ngăn cản ông Phạm Sanh Châu ứng cử vào chức Tổng Giám đốc Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc của Cộng đồng người Việt Quốc gia tại Mỹ là việc làm vô liêm sỉ quả không sai./.

Aug 29, 2017

Không thể tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế

Tre Việt - Sau khi có Nghị quyết Trung ương 5 (khóa XII), câu chuyện về tư nhân hóa nền kinh tế nước ta lại nổi lên. Một số đối tượng tự nhóm họp và bàn thảo về kinh tế Việt Nam. Họ cho rằng, chúng ta phải tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế thì mới giải quyết được những khuyết tật trong quá trình phát triển kinh tế đất nước (!)
Sau hơn hai mươi năm chuyển đổi cơ cấu kinh tế, khu vực kinh tế tư nhân nước ta đã hồi phục và phát triển nhanh chóng, có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế nước ta thể hiện qua các yếu tố sau: thứ nhất, kinh tế tư nhân phát triển làm cho các quan hệ sở hữu của nền kinh tế trở nên đa dạng, quan hệ sản xuất linh hoạt, phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vốn còn thấp và không đều giữa các vùng, các ngành trong cả nước. Nhờ vậy đã khơi dậy và phát huy tiềm năng về vốn, đất đai, lao động, kinh nghiệm sản xuất của các tầng lớp nhân dân. Quyền làm chủ của nhân dân về kinh tế được phát huy, tạo cơ sở để mở rộng quyền làm chủ về chính trị, văn hóa, xã hội. Thứ 2, kinh tế tư nhân góp phần quan trọng thu hút vốn nhàn rỗi của xã hội và sử dụng tối ưu các nguồn lực của địa phương; đóng góp quan trọng vào tốc độ tăng trưởng GDP (xấp xỉ với tốc độ tăng GDP của toàn bộ nền kinh tế), chiếm tỉ trọng 39% - 40% GDP; tạo lập sự cân đối trong phát triển giữa các vùng, khai thác được tiềm năng, thế mạnh của vùng sâu, vùng xa, vùng nông thôn; tạo ra sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế và rút ngắn khoảng cách chênh lệch về trình độ kinh tế, văn hóa giữa các vùng, miền. Thứ ba, kinh tế tư nhân thu hút một bộ phận lớn lực lượng lao động (khoảng 85%), đào tạo nguồn nhân lực mới đông đảo, đa dạng, phong phú cả về số lượng và chất lượng, từ lao động thủ công đến lao động chất lượng cao ở mọi vùng, miền, ngành kinh tế của đất nước,... góp phần đào tạo đội ngũ lao động có kỹ năng và tác phong công nghiệp. Thứ tư, kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy đất nước hội nhập kinh tế quốc tế. Kinh tế tư nhân chủ động liên doanh với nước ngoài, tích cực đổi mới, lựa chọn công nghệ thích hợp để giảm chi phí sản xuất, mở rộng thị trường, tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm, v.v. Từ đó, kinh tế tư nhân góp phần thúc đẩy chuyển giao công nghệ, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực và tiếp thu kinh nghiệm quản lý; thúc đẩy thương mại Việt Nam phát triển và hội nhập nhanh vào nền kinh tế thế giới.

Bên cạnh đó, kinh tế tư nhân thường có quy mô nhỏ, trình độ công nghệ, trình độ quản trị, năng lực tài chính thấp; kinh doanh mang tính tự phát nên cơ cấu ngành nghề còn bất hợp lý, thiếu liên kết với nhau và với các thành phần kinh tế khác. Điều đó dẫn tới sức cạnh tranh thấp, năng lực hội nhập kinh tế quốc tế hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của các chuỗi giá trị sản xuất khu vực và toàn cầu. Đồng thời, do chạy theo lợi nhuận, kinh tế tư nhân dễ dàng vi phạm pháp luật, gian lận thương mại, trốn thuế và cạnh tranh không lành mạnh; sản xuất hàng hóa ồ ạt gây khủng hoảng thừa, gây ô nhiễm môi trường, không bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm; nhiều doanh nghiệp của tư nhân không bảo đảm lợi ích của người lao động, sẵn sàng ngừng hoạt động, giải thể, phá sản, v.v.
Mặt khác, trong thời kỳ quá độ lên xã hội chủ nghĩa, nền kinh tế có sự pha trộn nhiều thành phần, vừa có thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa (đại diện là kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể), vừa có thành phần kinh tế tư bản chủ nghĩa (đại diện là kinh tế tư nhân). Sự đúng đắn của điều này đã được kiểm chứng qua thực tiễn phát triển kinh tế của các quốc gia trên thế giới, tuyệt đối hóa thành phần kinh tế nào cũng sẽ dẫn tới thất bại hoặc khủng hoảng. Tuyệt đối hóa thị trường tự do và kinh tế tư nhân, tư bản dẫn tới sự khủng hoảng chu kỳ của chủ nghĩa tư bản. Hiện nay, hầu hết các quốc gia xây dựng nền kinh tế hỗn hợp theo học thuyết kinh tế “Trường phái chính hiện đại” của P.A.Samuelson, đây là mô hình kinh tế kết hợp giữa kinh tế tư nhân và kinh tế nhà nước, hoạt động theo cơ chế thị trường có sự điều tiết của nhà nước.

Việt Nam là nước đi sau, đã chắt lọc tinh hoa, học hỏi, kế thừa một cách sáng tạo những thành tựu chung của thế giới, để “Xây dựng nền kinh tế nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đảng, Nhà nước ta chủ trương giải phóng mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế để phát triển đất nước vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, nên đã ban hành Nghị quyết 10/NQ-TW (khóa XII), khẳng định: kinh tế tư nhân cùng với kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể là 3 trụ cột để phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ. Đây là một bước đột phá đưa kinh tế tư nhân phát triển nhanh, bền vững, đa dạng với tốc độ tăng trưởng cao cả về số lượng, quy mô, chất lượng và tỷ trọng trong GDP, góp phần đẩy nhanh quá trình chuyển sang kinh tế thị trường đầy đủ theo các cam kết quốc tế. Nhưng kinh tế nhà nước phải đi tiên phong trong thực hiện các chương trình phúc lợi xã hội, quốc phòng, an ninh và các chương trình mà tư nhân không làm hoặc khó làm; đóng vai trò chủ đạo trên một số lĩnh vực trọng yếu như viễn thông, năng lượng, đào tạo nhân lực, v.v. Đó là điều kiện để kinh tế nhà nước có khả năng can thiệp, điều tiết, hướng dẫn, giúp đỡ, liên kết, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác cùng phát triển, bảo đảm an sinh xã hội.
Như vậy, vấn đề tuyệt đối hóa kinh tế tư nhân và kêu gọi tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế là không có cơ sở khoa học, pháp lý. Nếu tư nhân hóa toàn bộ nền kinh tế thì sẽ đưa nước ta đi theo con đường tư bản chủ nghĩa, xấu hơn nữa là làm sụp đổ kinh tế và chính trị sẽ sụp đổ theo, Đảng ta mất vai trò cầm quyền. Đó là mục tiêu mà các thế lực thù định muốn hướng tới.

Aug 23, 2017

Quy định vi phạm pháp luật


           Tre Việt - Tối ngày 08-8-2017, Hội đồng Mục vụ Giáo xứ Cồn Sẻ, xã Quảng Lộc, thị xã Ba Đồn, tỉnh Quảng Bình theo sự chỉ đạo của linh mục Nguyễn Thanh Tịnh, quản xứ Cồn Sẻ đã tổ chức cuộc họp, thống nhất thành lập “Đội bảo an” gồm 30 người; trong đó, có 10 người là thành viên “Hội anh em dân chủ”. “Đội bảo an” này đã đưa ra những quy định vừa lạm quyền, vừa vi phạm quyền con người và trái với pháp luật. Cụ thể là:
“Đội bảo an” quy định: đội này có trách nhiệm can thiệp, ngăn ngừa, lập biên bản hiện trường đối với những vụ xung đột giữa người dân, sau đó đưa về nhà thờ xứ để giải quyết. Quy định này đã vi phạm pháp luật. Việc giữ gìn an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội là trách nhiệm của chính quyền và lực lượng chức năng của địa phương. Nếu ai và ở đâu cũng hành xử như “Đội  tự quản” nói trên thì sẽ tạo nên các cát cứ, mỗi nơi có quy định riêng và hành xử theo quy định của mình đặt ra. Điều đó không còn sự thống nhất của nhà nước pháp quyền. Đó là cách hành xử của xã hội đen, xử theo quy định của riêng mình, bất tuân luật pháp. Như vậy, việc xử như thế nào là theo ý muốn chủ quan của người phán xử, không căn cứ vào điều luật nào cả, làm mất đi tính trung thực, khách quan của luật pháp. Quy định ấy tạo điều kiện cho cách làm tùy tiện, muốn bắt ai là bắt, muốn xử ai như thế nào là được thế ấy. Vô cùng nguy hiểm cho người dân Giáo xứ Cồn Sẻ trong thực hiện quyền công dân của mình.

“Đội bảo an” quy định: những người lạ quá 22 giờ nếu không phận sự không được vào Giáo xứ Cồn Sẻ, nếu có việc quan trọng phải thông báo cho người thân và người thân có trách nhiệm thông báo qua ban thường trực hoặc liên hệ với “Đội bảo an” mới được vào Giáo xứ. Những người dân của Cồn Sẻ nếu cố tình đi lại quá giờ quy định, vi phạm các quy định của Giáo xứ và của “Đội bảo an” đã đưa ra đều bị trừng phạt. Quy định này đã lạm quyền, vi phạm quyền con người, quyền công dân. Trong khi họ luôn hô hào phải tôn trọng quyền tự do của cá nhân, thế mà, chính họ lại đặt ra quy định ngặt nghèo làm hạn chế quyền con người, quyền tự do đi lại của công dân. Với danh nghĩa bảo vệ trị an để đưa ra quy định tùy tiện, trái với luật pháp, tạo cơ sở cho việc làm vi pháp của “Đội bảo an” với danh nghĩa thực hiện các quy định của đội này đã đặt ra. Đó là quy định theo luật rừng của xã hội đen, của các băng đảng thật nguy hiểm! Phải dừng ngay việc làm vi pháp này ở Giáo xứ Cồn Sẻ nếu không muốn biến mình thành băng đảng, xã hội đen. Việc làm đó không những vi phạm pháp luật mà còn đi ngược lại lời răn dạy của Chúa! 

Aug 22, 2017

Định Kiến

Tre Việt - Bạn Minh Quân gửi đến Tre Việt bài viết Định kiến tỏ sự đồng tình với bài “Bản phúc trình mới, nội dung cũ” của Tre Việt đăng ngày 17-8-2017. Xin giới thiệu với bạn đọc và cảm ơn bạn Minh Quân.

ĐỊNH KIẾN

                                                                           Minh Quân

Việt Nam là một nước đa tôn giáo, với sự hiện diện, hoạt động của nhiều tôn giáo lớn, như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao Đài, Hòa Hảo, v.v. Mặc dù nguồn gốc hình thành khác nhau, từ nội tại nhu cầu văn hóa tâm linh của đất nước hay du nhập từ nước ngoài bằng những con đường khác nhau, nhưng cộng đồng các tôn giáo ở Việt Nam đều luôn đoàn kết, thực hiện mục tiêu sống “tốt đời đẹp đạo”, gắn bó, phục vụ lợi ích của dân tộc, góp phần xây dựng nền văn hóa Việt Nam phong phú, đa dạng, đặc sắc; tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước. Hiện nay, ở Việt Nam, việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân được thể hiện rõ trong Hiến pháp, hệ thống luật pháp và bảo đảm trên thực tế. Theo thống kê chưa đầy đủ, tính đến đầu năm 2017, Việt Nam có 40 tổ chức tôn giáo thuộc 14 tôn giáo khác nhau được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động, với 25 triệu tín đồ, 53 nghìn chức sắc, hơn 133 nghìn chức việc, 2 nghìn cơ sở thờ tự. Các tôn giáo ở Việt Nam đã có hệ thống đào tạo quy mô từ đại học, cao đẳng, trung cấp và hệ thống báo, tạp chí, nhà xuất bản, bản tin riêng phù hợp với từng tôn giáo. Đặc biệt, không chỉ được tạo điều kiện cho hoạt động trong nước, việc mở rộng giao lưu, hợp tác quốc tế của các tôn giáo cũng được Nhà nước hết sức quan tâm tạo điều kiện thuận lợi. Điều đó được các tín đồ tôn giáo và nhân dân trong nước cũng như cộng động quốc tế đánh giá cao.

Nhân đây cũng nói thêm rằng, bên cạnh đại đa số những tín đồ tôn giáo chân chính luôn phấn đấu để “sống tốt đời đẹp đạo”, “nước vinh, đạo sáng”,.. thì không ít kẻ núp bóng tôn giáo có những hành vi gây mất trật tư, an toàn xã hội, vi phạm pháp luật, thậm chí mưu đồ chống đối chế độ, chống đối sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý, điều hành của Nhà nước Việt Nam. Trong số này, có những chức sắc, chức việc tôn giáo. Điển hình như, trong đạo Phật, có “hòa thượng” Thích Không Tánh, chống đối quyết liệt việc Nhà nước giải tỏa khu “chùa” Liên Trì để lấy đất phục vụ cho lợi ích của công đồng, sự phát triển của thành phố Hồ Chí Minh. “Hòa thượng” này cho rằng Chùa Liên Trì là cơ sở của Phật giáo, nhưng thực chất đây chỉ là khu đất thờ tự, do họ tự xây dựng trái phép, không phải là cơ sở thờ tự được các cấp có thẩm quyền cấp phép cho Giáo hội Phật giáo Việt Nam xây dựng cơ sở thờ tự. Mặc dù đã nhiều lần được cơ quan chức năng giải thích rõ, làm như vậy là vi phạm pháp luật, nhưng Thích Không Tánh cố tình không chấp hành, khi bị tiến hành giải tỏa thì cố tình dựng chuyện để “tố cáo chính quyền Việt Nam vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Hành động đó đã đi ngược lại giáo lý của đạo Phật, vi phạm pháp luật. Trong Công giáo, có: Nguyễn Thái Hợp, Trần Đình Lai, Phan Văn Lợi, Đặng Hữu Mai,… những kẻ đã sử dụng “quyền năng” chức sắc tôn giáo để trực tiếp xuyên tạc tình hình ô nhiễm môi trường biển ở 04 tỉnh: Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế do Công ty Formosa gây ra và chính sách hỗ trợ nhân dân trên địa bàn của Nhà nước; xúi giục, tổ chức, buộc bà con giáo dân, các em học sinh,… thuộc giáo phận Vinh, giáo xứ Phú Yên, giáo xứ Đồng Yên, giáo xứ Yên Lạc,… bỏ việc làm, học hành, tụ tập đông người, gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Họ còn bày trò “hiệp thông” kêu gọi bà con giáo dân ở các giáo phận khác trên cả nước “đứng lên đấu tranh” chống lại chính quyền. Không chỉ vậy, các chủ chăn này còn biến “thánh đường”, “thánh thất” trở thành nơi giáo dưỡng tư tưởng tôn giáo cực đoan, tuyên truyền xuyên tạc chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước, tổ chức xây dựng lực lượng, liên kết với các cá nhân, tổ chức phản động để nối giáo cho các thế lực chống cộng bên ngoài chống phá sự phát triển bền vững của đất nước.
Những hành động đó là vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của các tín đồ, tổ chức tôn giáo và đã bị nhân dân lên án, Nhà nước trừng trị trước pháp luật một cách nghiêm minh.

Thực tế hiển nhiên này ai cũng thấy, chỉ có Bộ Ngoại giao Mỹ “không thấy”, do họ vẫn giữ thái độ định kiến về tình hình tôn giáo ở Việt Nam./.

Aug 17, 2017

Rao giảng một đằng, làm một nẻo

Tre Việt - Vừa qua một số linh mục ở các giáo xứ thuộc tỉnh Quảng Bình và giáo phận Vinh (Nghệ An) đã lôi kéo các con chiên ngoan đạo của mình ép buộc, ngăn cản một số người là những giáo dân tiến bộ phải viết đơn xin ra khỏi Đảng hay không được tham gia các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể ở địa phương, cơ sở.
Trước hết, ai cũng dễ dàng nhận thấy rằng những vị linh mục này hằng ngày vẫn thường xuyên rao giảng giáo lý cho các con chiên của mình phải luôn hướng thiện, làm điều tốt, xây dựng cuộc sống tốt đẹp. Nhưng họ lại đang hành động ngược lại chính lời rao giảng, với giáo lý khi ép buộc, ngăn cản giáo dân tham gia các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể; quá đáng hơn khi họ dùng mọi cách để tạo sức ép lên gia đình, người dân để ép buộc người viết đơn xin ra khỏi Đảng. Đây là hành động thể hiện sự rao giảng một đằng, làm một nẻo, đang ngăn cản sự hướng thiện, làm những điều tốt đẹp của giáo dân. Bởi vì, khi giáo dân tham gia các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể ở địa phương để cùng nhau xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, củng cố tình đoàn kết, xây dựng cuộc sống gia đình, cá nhân tốt đẹp, lành mạnh.
Các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể ở địa phương đều hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện, công dân ở độ tuổi nào, giới tính gì, nếu có đủ điều kiện và tự nguyện thì đều được tham gia vào các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể phù hợp với độ tuổi, giới tính, ngành nghề của mình và hoạt động theo quy định của điều lệ. Hơn nữa, mục đích hoạt động của các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể ở địa phương không có bất cứ mục đích gì khác ngoài việc tập hợp nhân dân, phát huy sức mạnh tập thể, xây dựng quê hương giàu đẹp, văn minh, mang lại đời sống vật chất, tinh thần ngày càng tốt đẹp cho hội viên của mình. Vì vậy, hành động ngăn cản, ép buộc giáo dân không tham gia các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể chính là ngăn cản giáo dân hướng tới cuộc sống vật chất, tinh thần tốt đẹp hơn.
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013, quy định tại Điều 16 “Không ai bị phân biệt đối xử trong đời sống chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội” và Điều 25 “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Hành động ngăn cản, ép buộc giáo dân không được tham gia các tổ chức chính trị, xã hội, đoàn thể của các vị linh mục nói trên đã vi phạm Hiến pháp - đạo luật gốc của nước ta, nên phải được nghiêm trị.

Các giáo dân hãy mau tỉnh ngộ trước những hành động lợi dụng tôn giáo của các vị linh mục cực đoan để mu muội giáo dân, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, kéo lùi sự phát triển của quê hương, đất nước!

Lưỡi không xương

Tre Việt - Thời gian qua, chúng ta đón nhận nhiều tin vui về kết quả đấu tranh phòng, chống tham nhũng. Đã có không ít quan chức nhà nước, quan chức các doanh nghiệp nhà nước, từ sản xuất, kinh doanh đến tài chính ngân hàng,… lần lượt bị kỷ luật, bị khởi tố, bắt giam hoặc bị kỷ luật tước hết các chức vụ. Đặc biệt, trong số đó có cả cán bộ cấp cao ở Trung ương nắm giữ những vị trí quan trọng của nền kinh tế đất nước, v.v Những kết quả ấy như luồng gió mới tiếp thêm sức mạnh cho cả xã hội cùng với Đảng, Nhà nước ta vượt qua khó khăn tiếp tục cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng có hiệu quả.
Trong khi người dân cả nước đang hân hoan, phấn khởi trước quyết tâm cao độ của Đảng, Chính phủ và cảm nhận thấy con bạch tuộc tham nhũng đang có dấu hiệu “co vòi” thì các nhà dâm chủ lại đang tìm mọi cách xuyên tạc, bóp méo, phủ nhận kết quả và quyết tâm của Đảng và nhân dân ta. Chúng xuyên tạc rằng: Đảng, Nhà nước Việt Nam bắt đầu “cuộc càn quét mới” nhằm vào “phe cánh của nhóm lợi ích cũ” hay “Sở dĩ công tác phòng chống tham nhũng được tiến hành mạnh mẽ như hiện nay là có sự chỉ đạo từ phía Trung Quốc”!

Dân gian có câu “Lưỡi không xương lắm đường lắt léo”, câu thành ngữ này áp dụng đối với cái mồm của các nhà “dân chủ” hiện nay quả không sai tí nào. Nếu Đảng không tích cực đấu tranhh chống tham nhũng thì họ bảo là Đảng bao che tham nhũng, rằng tham nhũng là bản chất của Đảng. Đảng đẩy mạnh đấu tranh chống tham nhũng thì họ lại xuyên tạc là Đảng đấu đá nội bộ, lợi ích nhóm. Cái bản chất đê hèn, xảo trá của những kẻ phản động, bán nước cũng được phơi bày từ cái lưỡi không xương của chúng.

Ngược lại với những xuyên tạc của những kẻ phản bội Tổ quốc, người dân đang thấy một quyết tâm cao độ của Đảng, Chính phủ trong đấu tranh chống tham nhũng bằng những hành động thực tiễn chứ không phải hô hào, nói suông. Người dân thấy Trịnh Xuân Thanh về nước đầu thú, thấy bà thứ trưởng Kim Thoa bị kỷ luật, thấy đại gia Trầm Bê bị bắt và chuyện tiêu cực khác của cán bộ như dinh thực, biệt phủ, kê khai thu nhập bị kiểm tra làm rõ,… là quyết tâm cao độ của Đảng và chống tham nhũng trở thành phong trào của cả xã hội mà Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ví như lò đã nóng lên rồi thì củi tươi cũng phải cháy./.

Bản phúc trình mới, nội dung cũ

Tre Việt – Ngày 15-8-2017, đương kim ngoại trưởng của Hoa Kỳ: Rex Ti-le-sơn công bố Bản Phúc trình về tự do tôn giáo thế giới; trong đó, họ vẫn cáo buộc Việt Nam “hạn chế tự do tôn giáo”, “kiểm soát, ngăn cấm hoạt động của các tổ chức tôn giáo không được thừa nhận”, v.v. Đúng là “Bình mới, rượu cũ”.
Trong bản báo cáo, Bộ Ngoại giao Mỹ đã cố tình phớt lờ những thành tựu về tự do tôn giáo mà Việt Nam đã đạt được. Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định rõ mọi công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo theo đúng quy định của pháp luật. Tháng 11-2016, Quốc hội Việt Nam đã thông qua Luật tín ngưỡng, tôn giáo và dự kiến Luật có hiệu lực từ ngày 01-01-2018. Nhà nước Việt Nam đã công nhận và cấp đăng ký hoạt động cho 39 tổ chức tôn giáo, 1 pháp môn tu hành, hơn 24 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số. Cả nước có gần 53 nghìn chức sắc, gần 140 nghìn chức việc, 28 nghìn cơ sở thờ tự, v.v. Mọi sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam đều diễn ra bình thường, không bị cản trở. Những ngày lễ của các tôn giáo được tổ chức trọng thể theo đúng nghi thức, thu hút sự tham gia của đông đảo tín đồ. Bên cạnh đó, hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành không ngừng được duy trì và mở rộng. Nhiều chức sắc và nhà tu hành Việt Nam được cử đi đào tạo ở Mỹ, Pháp, I-ta-ly-a, Ấn Ðộ, v.v. Đại diện chức sắc các tôn giáo đã tham gia đối thoại tôn giáo, tín ngưỡng, giao lưu học hỏi, trao đổi giáo lý và giáo luật tại các diễn đàn lớn, như: Diễn đàn hợp tác Á- Âu (ASEM), Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN), v.v. Việt Nam và Va-ti-căng thiết lập quan hệ từ năm 1989, năm 2011, Va-ti-căng đã cử Ðại diện thường trú tại Việt Nam.
Các tổ chức nhân quyền và tôn giáo quốc tế nhiều lần đến thăm, làm việc, khảo sát thực tế và thừa nhận việc đảm bảo quyền con người, trong đó có quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Ông Bob Roberts, mục sư cao cấp của Hội thánh Tin lành Northwood với 130 nhà thờ trên khắp nước Mỹ đã nhận xét: “Các tôn giáo ở Việt Nam đều đang phát triển. Tôi thấy rằng Chính phủ Việt Nam đã, đang tạo điều kiện để người dân được thực hành tôn giáo của mình”. Hơn nữa, Việt Nam còn là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016.

Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của mọi công dân, nhưng không chấp nhận các hoạt động lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để vi phạm pháp luật. Việt Nam kiên quyết đấu tranh, ngăn chặn các hành vi vi phạm pháp luật, lợi dụng tôn giáo, tín ngưỡng để hoạt động mê tín dị đoan, trục lợi, gây rối an ninh trật tự, kích động chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống phá Đảng và Nhà nước, làm tổn hại lợi ích quốc gia, cản trở tiến trình phát triển và hội nhập quốc tế của Việt Nam.
Việt Nam cũng như mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có Mỹ đều xử phạt những cá nhân, tổ chức vi phạm pháp luật. Luật pháp Mỹ quy định rất rõ những hành vi chống chính quyền và chế tài xử phạt tương ứng. Các tòa án của Mỹ rất nghiêm khắc đối với các hành vi truyền bá tư tưởng Hồi giáo cực đoan và bạo lực. Bất kể cá nhân hay tổ chức nào có hành vi nhân danh tôn giáo để tập hợp lực lượng, kích động bạo lực và khủng bố,… đều bị xét xử theo pháp luật. Nhà nước Việt Nam cũng vậy, không cho phép bất kỳ tôn giáo nào đứng ngoài vòng pháp luật. Việt Nam không ngăn cấm các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, mà chỉ ngăn chặn và xử phạt nghiêm khắc những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để hoạt động trái pháp luật.

Từ thực tế hoạt động tự do tôn giáo ở Việt Nam và hệ thống luật pháp Việt Nam quy định đối với hoạt động tự do tôn giáo chẳng có gì khác với luật pháp Mỹ về vấn đề này. Vậy mà, Bộ Ngoại giao Mỹ đưa ra cái gọi là Bản Phúc trình về tự do tôn giáo năm 2016, phần về Việt Nam thì đúng là Bản Phúc trình mới, nhưng nội dung cũ, vẫn là cái nhìn thiên lệch về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam mà thôi./.

Jul 31, 2017

Đừng mượn danh trí thức để xuyên tạc lịch sử

Tre Việt - Đồng quan điểm với Tre Việt qua bài viết “Tự đốt đi “cái danh” với đời”, qua địa chỉ langtreviet@gmail.com, bạn đọc Trung Nghĩa gửi đến Tre Việt bài viết sau, xin giới thiệu với bạn đọc và cảm ơn bạn Trung Nghĩa.

ĐỪNG MƯỢN DANH “TRÍ THỨC” ĐỂ XUYÊN TẠC LỊCH SỬ

Trong những ngày tháng 7 này, cả nước tiến hành nhiều hoạt động kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27-7-1947 - 27-7-2017), đây là sự kiện có ý nghĩa chính trị quan trọng, thể hiện truyền thống, đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc ta; tỏ lòng thành kính tri ân công ơn của các thương binh, anh hùng liệt sĩ, người có công với cách mạng đã hy sinh xương máu của mình trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, bảo vệ Tổ quốc. Thế mà, một số “trí thức” lại xuyên tạc, bôi xấu danh dự của người đã khuất, của người đã có công lao to lớn đối với đất nước ta.
Đáng lên án là, ngày 22-7 vừa qua, trên trang facebook cá nhân của Đoàn Dũng đã đăng tải clip chém gió của mấy vị “trí thức” nói xấu về hình tượng anh hùng - liệt sĩ Võ Thị Sáu. Xuất hiện trong đoạn clip này là một số “nhà văn” cũng được xếp vào hàng có “tên tuổi” là Nguyên Ngọc, Nguyễn Duy, Lê Hoài Nguyên và có sự góp mặt của các nhà dâm chủ, như: Nguyễn Quang A, Nguyễn Xuân Nguyên, v.v. Ngay sau đó, đoạn clip này đã được các trang mạng phản động chia sẻ, phát tán. Trong đó, kẻ láo xược nhất là Nguyễn Duy khi không ngần ngại chỉ trỏ và chém gió về anh hùng - liệt sĩ Võ Thị Sáu, phủ nhận thông tin trong sách của nhà văn Nguyễn Quang Sáng về anh hùng Võ Thị Sáu và bôi nhọ danh dự của vị nữ anh hùng; một chi tiết được nhà “trí thức” này công khai nói ra là: “Võ Thị Sáu bị bệnh tâm thần từ thời rất trẻ” (!) Nhà văn mà ngồi cùng đám dâm chủ thì đúng là bệnh hoạn, điển hình đó là ông già Nguyên Ngọc, kẻ lợi dụng văn chương để chống phá đất nước, bôi xấu danh dự người khác.
Sau khi clip được đăng tải trên mạng xã hội, nhiều người đã tỏ thái độ giận dữ và phản đối quyết liệt về việc chém gió của các “trí thức” này, chắc rảnh rỗi quá không nghĩ được gì hay nữa. Như một độc giả đã phản bác: “chị Võ Thị Sáu là tinh thần thép cho người phụ nữ Việt Nam dám đứng lên đấu tranh cho dân tộc để cho cái bọn nhà thơ đầu 2 thứ tóc như các ông ngồi đấy mà bốc phét nhé, thử hỏi các ông đã làm được chưa? Vậy mà cũng mang tiếng là nhà thơ với nhà văn, tôi nói thật chứ mấy bài thơ với bài văn của các ông viết ra cũng chẳng ai đọc và nhớ như câu chuyện chị Võ Thị Sáu đâu nhé”.
Hầu hết ý kiến đều phản đối những lời lẽ thô bỉ, xúc phạm danh dự người đã khuất. Tuy nhiên, vẫn lẻ loi một vài nhà dâm chủ “té nước theo mưa”. Các đối tượng xấu cùng nhau sủa theo đàn, những lời lẽ thô bỉ của các nhà dâm chủ nhằm bôi xấu, xuyên tạc những vấn đề chưa rõ ràng thì còn có hiệu quả, chứ những vấn đề mà cả dân tộc Việt Nam, cả thế giới đều công nhận thì đúng là không khốn nạn thì cũng thần kinh.
Hình tượng người anh hùng Võ Thị Sáu đã được vinh danh và tôn thờ bao năm nay, là hình tượng đại diện cho tinh thần yêu nước bất khuất, chủ nghĩa anh hùng cách mạng của dân tộc ta. Tại sự kiện “Những cuốn sách tri ân” nhân kỷ niệm 70 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ vừa diễn ra tại Hà Nội, Đại tá, nhà văn Nguyễn Hồng Thái - Giám đốc, Tổng Biên tập Nhà xuất bản Công an nhân dân đã giới thiệu gần 100 cuốn sách về đề tài này. Đồng thời, thay mặt Nhà xuất bản Công an nhân dân, nhà văn Nguyễn Hồng Thái cung cấp những tư liệu quý đến độc giả và các phóng viên báo chí về nữ anh hùng - liệt sĩ Võ Thị Sáu để xóa tan những dư luận xấu, không đúng sự thật xuất hiện trên mạng xã hội thời gian qua. Nhà văn Nguyễn Hồng Thái chia sẻ thêm, trong cuốn sách “Thương binh, liệt sĩ Công an nhân dân” được xuất bản năm 2007, đã giới thiệu những tấm gương liệt sĩ, điển hình như nữ anh hùng - liệt sĩ Võ Thị Sáu - người con gái đất đỏ anh hùng; Võ Thị Sáu - một nữ thanh niên xung phong, người con gái đất đỏ sinh năm 1933, hy sinh năm 1952. Cuốn sách ghi rõ: “Ngày 23-01-1952, Võ Thị Sáu hiên ngang trước họng súng của quân thù làm chúng phải run sợ, khiếp đảm, nhắm mắt bóp cò giết hại chị. Với thành tích xuất sắc trong chiến đấu, dũng cảm kiên cường trong lao tù, ngày 02-8-1993, đồng chí Võ Thị Sáu đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân”.

Những hành động xuyên tạc trắng trợn sự thật lịch sử là không thể chấp nhận và phải lên án mạnh mẽ. Việc xúc phạm danh dự, uy tín của người đã khuất là hành động hết sức đê hèn và bỉ ổi, cần phải bị trừng trị thích đáng, không để thành tiền lệ xấu. Những kẻ như Nguyễn Duy, Nguyên Ngọc,… nên bỏ cái mác “trí thức” khi hoạt động theo đám dâm chủ, đừng làm xấu đi hình ảnh và vị trí đội ngũ trí thức nước ta trong xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Xin được trích bài thơ “Truyền thuyết trên đảo Côn Sơn” của Phan Thị Thanh Nhàn, làm lời kết cho bài viết này: “Người con gái trẻ măng/ Giặc đem ra bãi bắn/ Đi giữa hai hàng lính/ Vẫn ung dung mỉm cười/ Ngắt một đóa hoa tươi/ Chị cài lên mái tóc/ Đầu ngẩng cao bất khuất/ Ngay trong phút hy sinh/  Bây giờ dưới gốc dương/ Chị nằm nghe biển hát…”./.

Jul 26, 2017

Để duy trì và tăng cường cơ sở vật chất quốc phòng, Quân đội phải tham gia phát triển kinh tế đất nước

Tre Việt - Qua địa chỉ langtreviet@gmail.com bạn Sơn Ngọc đồng tình với bài viết: Đâu phải quân đội nhà nghề của Tre Việt, đã gửi đến Tre Việt bài viết sau, xin giới thiệu với bạn đọc và cám ơn bạn Sơn Ngọc.

ĐỂ DUY TRÌ VÀ  TĂNG CƯỜNG CƠ SỞ VẬT CHẤT QUỐC PHÒNG QUÂN ĐỘI PHẢI THAM GIA PHÁT TRIỂN KINH TẾ ĐẤT NƯỚC

Trên không gian mạng hiện nay, khi nói đến vấn đề Quân đội tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế đất nước còn có luồng dư luận cho rằng: “Quân đội không nên làm việc đó mà tập trung vào nhiệm vụ huấn luyện và sẵn sàng chiến đấu.”. Thoáng qua, loại ý kiến này có lý, nhưng xét từ bản chất, truyền thống của Quân đội ta thì ý kiến đó không phù hợp. Bởi, nếu chỉ tập trung vào nhiệm vụ huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu (vẫn biết rằng đây là nhiệm vụ chủ yếu và nòng cốt của Quân đội) thì không tận dụng được nguồn vật chất kỹ thuật mà Quân đội đang quản lý còn nhàn rỗi để tham gia phát riển kinh tế - xã hội; dẫn tới tiềm lực vật chất quốc phòng sẽ suy giảm, gánh nặng ngân sách nhà nước chi cho quốc phòng sẽ tăng nhanh chóng, ảnh hưởng tới nợ công và nền kinh tế nước ta. Đồng thời, không rèn luyện và phát huy được tay nghề của đội ngũ cán bộ, nhân viên ở những đơn vị quân đội có khả năng tham gia lao động sản xuất, phát triển kinh tế xã hội.
Thực tế cho thấy, cơ sở vật chất quốc phòng của bất kỳ quốc gia nào đều tồn tại ở 2 dạng là dự trữ trong Quân đội (dự trữ nóng) và dự trữ tiềm tàng trong nền kinh tế quốc dân (khi cần có thể huy động). Việc dự trữ nóng tuy dễ dàng sử dụng khi có tình huống quốc phòng nhưng rất tốn kém do phải mua, cất chứa và bảo trì. Đơn cử, để có 100 chiếc trực thăng vận tải loại EC-225, Nhà nước phải đầu tư 10.000 tỷ đồng mua trang bị, chi phí cất chứa và bảo đảm kỹ thuật cho một vòng đời máy bay (khoảng 20 năm) ít nhất là 600 tỷ (khoảng 6% giá trị trang bị), khiến tổng chi phí sẽ là 10.600 tỷ đồng. Như vậy, chi phí cho toàn bộ hệ thống trang thiết bị quân sự sẽ cao hơn rất nhiều.

Nếu cơ sở vật chất quốc phòng được dự trữ trong nền kinh tế, như: ô-tô, tàu thuyền, các cơ sở sản suất, cảng biển,… sẽ ít tốn kém do chỉ phải chi phí về công tác đăng ký quản lý; nhưng tỷ lệ trang bị ảo rất cao, khả năng huy động chậm, tài sản cố định hữu hình bị khấu hao nên dự trữ kỹ thuật không đúng theo dự kiến. Do vậy, phần lớn các nước chọn giải pháp kết hợp giữa 2 loại hình dự trữ này để củng cố vật chất quốc phòng. Ở Việt Nam, kế thừa và phát huy kinh nghiệm truyền thống, Đảng ta chủ trương kết hợp kinh tế với quốc phòng là vấn đề cốt lõi trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay. Để bảo đảm trang bị, vật chất cho bất kỳ tình huống nào thì Quân đội cần phải nắm một số cơ sở vật chất quan trọng đủ để phục vụ chiến đấu trong những ngày đầu chiến tranh. Trừ các loại vũ khí, trang bị bắt buộc phải dự trữ nóng thì những trang bị có tính chất lưỡng dụng, như: thông tin - viễn thông, vận tải, gia công cơ khí, xây dựng,… rất cần thiết phải đưa ra làm kinh tế vì các lý do sau:
Một là, tận dụng công suất dư thừa để phục vụ nền kinh tế. Các hệ thống trang bị có thể phục vụ cho quốc phòng và sản xuất hàng quốc phòng sẽ không có bất kỳ tổ chức, cá nhân nào dám đầu tư, vì: dây chuyền máy móc rất đắt tiền; chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực tốn kém; bảo trì, sửa chữa khó khăn; không bao giờ hoạt động hết công suất trong thời bình (lắp đặt dự trữ công suất cho thời chiến),… khiến việc thu hồi vốn là không thể. Vì vậy, khi Nhà nước đã đầu tư thì các đơn vị quốc phòng cần tận dụng công suất dư thừa để sản xuất các mặt hàng dân dụng, như: Bao bì, hòm hộp, các chi tiết máy móc, sản phẩm nhôm, inox, cao su; cung cấp các dịch vụ sửa chữa,… góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Hai là, giúp chuyển giao công nghệ, đào tạo và duy trì nguồn nhân lực. Công nghệ quân sự là bí quyết của mỗi quốc gia, nó chỉ được chuyển giao khi có cái mới thay thế. Quá trình chuyển giao khá lâu dài do phụ thuộc lộ trình hợp tác giữa Chính phủ các nước; dẫn tới chỉ có Nhà nước mới có khả năng tiếp nhận công nghệ quân sự từ nước ngoài, đào tạo nhân lực ban đầu để khai thác các hệ thống thiết bị quân sự đã đầu tư. Để duy trì, nâng cao chất lượng và mở rộng nguồn nhân lực trên lĩnh vực đó, Bộ Quốc phòng phải cho các đơn vị nắm giữ công nghệ tham gia quá trình sản xuất thương mại các sản phẩm công nghiệp nhằm thúc đẩy chuyển giao công nghệ, đào tạo nhân lực cho các doanh nghiệp ngoài Quân đội; tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đó có thể sản xuất hàng cung cấp cho quốc phòng khi có yêu cầu; đặc biệt là các mặt hàng có yêu cầu hàm lượng khoa học cao, như: điện tử kĩ thuật cao, luyện kim, hoá chất, đóng tàu v.v.
Ba là, nâng cao số lượng, chất lượng và khả năng chiến đấu của trang bị,  đẩy mạnh nghiên cứu, sản xuất thiết bị quân sự. Bằng việc kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ phục vụ xã hội, các doanh nghiệp quân đội đã thu được nguồn vốn không nhỏ; không những có thể bù chi phí bảo trì máy móc và hao phí tài sản cố định, mà còn đủ để tái đầu tư nâng cấp, mở rộng hệ thống trang bị, nghiên cứu sản xuất nhiều sản phẩm phục vụ quốc phòng và xã hội. Đơn cử, tập đoàn Viettel khi mới thành lập (năm 1989) chỉ hoạt động xây dựng các công trình viễn thông (ăng ten, tuyến vi-ba, cáp quang,…); sau đó cung cấp thêm các dịch vụ điện thoại cố định, VoIP quốc tế, truy cập Internet; tiến tới cung cấp các dịch vụ di động, viễn thông. Hiện nay, Viettel đã cung cấp dịch vụ và cơ sở hạ tầng viễn thông ở 9 quốc gia với hơn 60 triệu thuê bao trên toàn cầu; nâng cấp mạng điện thoại quân sự từ tổng đài thủ công thành tự động, trang bị điện thoại quân sự 6 số đến cấp đại đội trong toàn quân. Đặc biệt, Viettel triển khai lắp đặt hơn 300 điểm cầu truyền hình cho các đơn vị quân đội trong cả nước,… góp phần nâng cao khả năng chỉ huy và sức mạnh sẵn sàng chiến đấu của Quân đội. Bên cạnh việc sản xuất các thiết bị di động giá rẻ cung cấp cho thị trường, Tập đoàn còn nghiên cứu sản xuất thành công nhiều thiết bị quân sự, như: máy điện thoại cố định, máy vô tuyến điện VRU-25, hệ thống thông tin di động,… nhất là các thiết bị có hàm lượng công nghệ cao, như: ra-da, thiết bị bay không người lái, góp phần tự chủ hóa hệ thống vũ khí trang bị của Việt Nam.

Những đóng góp của các công ty, doanh nghiệp quân đội cho nền kinh tế và nền quốc phòng toàn dân là rất to lớn, khó đong đếm được. Nhưng cơ sở vật chất quốc phòng được nâng cao là nhờ Quân đội tham gia sản xuất, phát triển kinh tế - xã hội./.

Kết luận hợp lòng dân

Tre Việt - Mấy ngày qua, các thế lực thù địch đã có nhiều bài viết đăng trên các trang mạng xã hội xuyên tạc Dự thảo Kết luận của Thanh tra Thành phố Hà Nội về việc quản lý, sử dụng đất Sân bay Miếu Môn ở Đồng Tâm hòng làm mất ổn định chính trị.
Ngày 24-7-2017, Chánh thanh tra Thành phố Hà Nội Nguyễn Văn Tuấn Dũng ký Thông báo Kết luận thanh tra làm rõ nguồn gốc, toàn bộ quá trình quản lý, sử dụng đất đai cũng như các khiếu nại, tố cáo của người dân.

Tre Việt đồng tình với Kết luận của đoàn thanh tra Thành phố Hà Nội; đồng thời, thông tin cho nhiều người biết một số nội dung cơ bản của Kết luận:
1. Khẳng định toàn bộ đất sân bay Miếu Môn có diện tích là 64,11 ha đã được phân định rõ ràng bằng 57 mốc giới là đất quốc phòng; khuôn viên đất sân bay Miếu Môn phía Tây, phía Nam tiếp giáp với Đường 429, phía Bắc tiếp giáp với đất xã Trần Phú, xã Đồng Lạc huyện Chương Mỹ, phía Đông giáp đường liên xã Hữu Văn huyện Chương Mỹ; thu hồi toàn bộ diện tích đất quốc phòng bị lấn chiếm.
2. Các đơn vị quốc phòng được giao quản lý, sử dụng và Ủy ban nhân dân xã Đồng Tâm đã buông lỏng việc quản lý đất quốc phòng, tự ý cho các hộ dân canh tác, sản xuất nông nghiệp. Khi dừng ký hợp đồng (năm 2012) canh tác trên đất quốc phòng các hộ dân cố tình sử dụng không trả lại.
3. Ủy ban nhân dân huyện Mỹ Đức và các ngành có liên quan đã thống nhất thu hồi Dự thảo phương án bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho 14 hộ dân trước đây.
4. Đã xử lý nghiêm những cán bộ có sai phạm: về Đảng khai trừ 08, cảnh cáo 06, khiển trách 05; về chính quyền: cảnh cáo 12, khiển trách 01 và buộc thôi việc 01. Để tiếp tục điều tra làm rõ, Công an huyện Mỹ Đức đã khởi tố 14 bị can, tạm giam 02 đối tượng (nguyên là cán bộ xã Đồng Tâm).
5. Khẳng định không có đất nông nghiệp diện tích 59 ha xứ Đồng Sênh, việc ông Lê Đình Kình và một số công dân cho rằng phần diện tích đất sân bay Miếu Môn thuộc địa giới hành chính xã Đồng Tâm là 106 ha là không đúng.
          Sau khi thanh tra Thành phố Hà Nội thông báo kết quả thanh tra toàn diện việc quản lý, sử dụng và quá trình xử lý từ trước đến nay đối với diện tích đất khu sân bay Miếu Môn được đông đảo nhân dân đồng tình ủng hộ. Kết luận đã làm rõ mọi việc trên cơ sở thượng tôn pháp luật.

          Kết luận trên đã rõ ràng, minh bạch, thấu tình đạt lý. Điều đó bác bỏ mọi  luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch.