May 14, 2019

Nói láo

Tre Việt - Vừa qua, trên VOA có bài Di sản Việt Nam Cộng Hòa (VNCH): Khi nền văn minh đã thắng chế độ man rợ, cho rằng, sau khi giải phóng miền Nam, chính quyền mới đã tiêu hủy nhiều sách, tài liệu, băng đĩa các loại,… tạo nên “một cuộc thảm sát văn hóa”, kéo lùi văn hóa miền Nam sao cho tương đồng với trình độ kém phát triển của miền Bắc. Nhưng sau hơn 40 năm, văn hóa VNCH đã không chết; di sản văn hóa của một nền văn minh đã không hoàn toàn thua “chế độ man rợ”. Người phọt” ra câu chuyện này là Mạnh Kim, chuyên gia viết Blog đăng tải trên VOA, ông ta học rộng nên chắc hiểu rõ vấn đề về văn hóa, chỉ là cố tình nói láo để lừa phỉnh thiên hạ.
Theo các nhà nghiên cứu, văn hóa thường được hiểu là sản phẩm của loài người. Nó được tạo ra, tái tạo, phát triển, truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác thông qua quan hệ qua lại giữa con người và quá trình xã hội hóa. Sự phát triển của nó được biểu hiện trong các hình thức tổ chức đời sống và hành động của con người cũng như trong giá trị vật chất và tinh thần mà con người tạo ra. Đồng thời, chính văn hóa lại tham gia việc tạo nên con người, duy trì trật tự và sự phát triển bền vững xã hội.
Sự hình thành và phát triển văn hóa phụ thuộc chủ yếu vào địa lý, dân cư và chịu sự tác động củakiến trúc thượng tầng xã hội gắn với những thể chế chính trị xác địnhCùng một nguồn gốc, nhưng văn hóa sẽ có sự tiếp thu khác nhau khi truyền bá vào những khu vực, cộng đồng xã hội khác nhau; đồng thời, mỗi sản phẩm văn hóa, có thời kỳ hưng thịnh, có giai đoạn suy tàn. Cho nên, trong giai đoạn thể chế chính trị VNCH, một nhánh của văn hóa Việt Nam ở miền Nam có sự phát triển khác biệt so với văn hóa miền Bắc; sau giải phóng, việc tiếp thucó tính chọn lọc văn hóa giai đoạn này sao cho phù hợp với nếp sống mới là rất cần thiết; nhiều sản phẩm xấu, như: đồi trụy, lối sống thực dụng, bạo lực,… bị tàn lụi;nhiều sản phẩm tốt như: vọng cổ, đờn ca tài tử, tín ngưỡng phật giáo,… càng hưng thịnh và phát triển. Đó là tất yếu của lịch sử, không thể gọi là “thảm sát”. Việc so sánh văn hóa giữa các giai đoạn lịch sử có các thể chế chính trị khác nhau là khập khiễng, thiếu căn cứ. Loài người luôn lao động, sáng tạo trong mọi hoàn cảnh nên văn hóa trong thực tế luôn luôn phát triển, không thể có sự kéo lùi.
Mỗi chế độ chính trị có trách nhiệm xây dựng, định hướng sự phát triển văn hóa của quốc gia, dân tộcNhận thức đúng điều đótháng 02-1943, Đảng ta đã ban hành “Đề cương văn hóa Việt Namđặt nền tảng lý luận cho sự nghiệp xây dựng văn hóa kháng chiến, kiến quốc, soi đường cho sự phát triển nền văn hóa Việt Nam trong suốt hơn 75 năm qua. Để phát triển văn hóa đúng hướng, góp phần xây dựng con người mới, Đảng xác định: “Văn hóa là một trong ba mặt trận quan trọng: kinh tế, chính trị, văn hóa” và đề ra nhiều chủ chương, biện pháp lãnh đạo trong các văn bản, như: Nghị quyết 05-NQ/TW về “Lãnh đạo văn hóa - văn nghệ trong cơ chế thị trường của Bộ Chính trị (khóa VI)Nghị quyết chuyên đề về Xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa VIII);,… đã định hướng cho toàn Đảng, toàn dân và toàn quân quyết tâm giữ gìn, bảo vệ “bản sắc văn hoá dân tộc” trong thời kỳ hội nhập quốc tế. Thực hiện chủ trương, đường lối đó, nhiều chương trình, dự án, kế hoạch bảo tồn, phục hồi, phát triển văn hóa dân tộc được đẩy mạnh thực hiện góp phần đưa nhiều di sản văn hoá vật thể, phi vật thể như: quần thể di tích cố đô Huế, phố cổ Hội An, Nhã nhạc cung đình Huế,… được UNESCO công nhận là di sản văn hóa của nhân loại. Theo dòng chảy đó, nhiều sản phẩm văn hóa có giá trị của nhân dân miền Nam sản sinh trong giaiđoạn VNCH cũng được bảo tồn, phát triển như các loại sách, tài liệu, nhạc Bolero,… là kết quả tất yếu khi các chính sách của Đảng đi vào cuộc sống. Một giai đoạn phát triển văn hóa có chủ trương, chính sách, lãnh đạo, chương trình,… là chưa từng có trong lịch sử Việt Nam, sao lại gọi là “man rợ”, sao lại gọi là “kéo lùi”. Chế độ VNCH đã làm những gì để phát triển văn hóa? Nói như Kim chẳng phải là láo sao ?

May 11, 2019

Không thể xuyên tạc Đại lễ VESAK Liên hợp quốc năm 2019 tại Việt Nam


Tre Việt - Qua địa chỉ: langtreviet@gmail.com bạn Nguyễn Văn gửi đến Tre Việt bài viết Không thể xuyên tạc Đại lễ VESAK Liên hợp quốc năm 2019 tại Việt Nam. Cảm ơn bạn Nguyễn Văn và giới thiệu bài viết cùng bạn đọc.

Không thể xuyên tạc Đại lễ VESAK Liên hợp quốc năm 2019 tại Việt Nam
                                                           Nguyễn Văn

Theo thông báo của Ban Tổ chức, Đại lễ Vesak LHQ 2019, do Giáo hội Phật giáo VN đăng cai tổ chức, diễn ra từ ngày 12 - 14/5/2019 tại chùa Tam Chúc, Hà Nam.
Lợi dụng sự kiện này, đã xuất hiện ý kiến xuyên tạc:
1/ Có ý kiến cho rằng, nhân dân còn đang thiếu thốn, nhất là đồng bào vùng cao còn thiếu cầu đường, học sinh đi học phải chui vào túi ni lông, bám dây qua sông, trường học còn thiếu… mà Nhà nước cho xây chùa to, đất rộng để kịp đón Đại lễ Vesak LHQ 2019, sao không dùng tiền của đó đầu tư cho vùng cao?
Thoạt nghe ý kiến này thấy có lý, xin chia sẻ, nhưng đi vào bản chất không hoàn toàn như ý kiến trên nêu.
Trước hết, việc xây chùa Tam Chúc, Hà Nam là nguồn vốn tư nhân chứ không phải nguồn vốn của Nhà nước. Việc xây dựng chùa to đối với nước ta có cần thiết không? Câu trả lời là có. Tại sao? Theo thống kê nước ta có 95% đồng bào có tín ngưỡng tôn giáo; trong đó chủ yếu là theo đạo Phật. Hầu hết các gia đình Việt Nam đều có bàn thờ gia tiên. Cùng với thờ gia tiên tại gia thì nhu cầu đi lễ chùa của nhân dân là có thật, nhất là khi đời sống vật chất của nhân dân ngày một khá hơn, dễ dẫn đến như ông cha đã có câu: “Phú quý sinh lễ nghĩa”. Hơn nữa, với đất nước trải qua các cuộc chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc đã có biết bao người con ưu tú đã ngã xuống mà có nhiều người trong số đó chưa tìm được nơi chôn cất, đau đớn biết nhường nào! Vì thế, vào tháng 7 âm lịch hằng năm, Giáo hội phật giáo Việt Nam cùng tăng ni, phật tử trên mọi miền Tổ quốc thường tổ chức lễ cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ với mong muốn hương hồn các anh nhanh được siêu thoát. Đó cũng là chút lòng thành của thế hệ hôm nay đối với thế hẹ ông cha. Việc xây chùa to để làm nơi cầu siêu cho tiền nhân như thế lại không nên sao? Tin rằng, mọi người con đất Việt đều đồng tình có nơi đàng hoàng để làm nơi cầu siêu cho các anh hùng liệt sĩ đã ngã xuống vì nền độc lập dân tộc, sự toàn vẹn của quốc gia - dân tộc!
Thứ hai, nhìn ra thế giới cho thấy, Nhà thờ Đức Bà Pa-ri mà nước Pháp xây dựng cách nay gần 1.000 năm, trở thành biểu tượng văn hóa của nước Pháp, khi đó chắc chắn kinh tế của nước Pháp còn thấp kém. Nếu không quyết tâm đầu tư thì làm sao có được công trình để đời như vậy! Gần chúng ta là Campuchia với Đền thờ Ăngco cũng cho thấy điều tương tự. Vì thế, ngày nay, ta không đầu tư xây dựng công trình thì làm sao có được công trình có tầm cỡ, mang thương hiệu quốc gia?
2/ Lại có ý kiến cho rằng, cũng là tôn giáo, nhưng Nhà nước chỉ quan tâm đến Phật giáo, còn các tôn giáo khác thì Nhà nước thiếu quan tâm (!).
a/ Như trên đã nói, hầu hết nhân dân ta có tín ngưỡng đạo Phật, nên Nhà nước trong điều kiện, khả năng có hạn trước hết phải quan tâm đến số đông. Đó cũng là lẽ bình thường.
b/ Các tôn giáo khác cũng được Nhà nước quan tâm. Công giáo có nhà thờ Phú Nhai, huyện Xuân Trường, Nam Định. Nơi đây được mệnh danh là nhà thờ lớn nhất Đông Dương. Hiện nay, công trình này trải qua thời gian bị xuống cấp, các cơ quan chức năng đang tìm phương án trùng tu bảo tồn giá trị văn hóa không chỉ của Công giáo mà còn của cả nhân dân ta. Vậy, có phải Nhà nước chỉ quan tâm đến Phật giáo đâu?
Tiểu vương cung thánh đường Phú Nhai
Nhà thờ Phú Nhai từng trải qua 5 lần xây dựng. Lần đầu vào khoảng thế kỷ 18 và gần đây nhất là năm 1933. Hiện tại, công trình này dài 80 m, rộng 27 m, cao 30 m, hai tòa tháp cao 44 m.


c/ Đại lễ Vesak LHQ không phải thuần túy tôn giáo, nên cần có sự quan tâm của Nhà nước.
Thật vậy, ngày 15-12-1999, tại thành phố New Yok, nước Mỹ, Đại hội đồng LHQ trong phiên họp thứ 54, mục 174 của chương trình nghị sự đã chính thức chấp nhận đề nghị của 34 quốc gia, Nghị quyết Đại lễ Vesak là Ngày Lễ Quốc tế của LHQ; khẳng định ba điều chính:
(1). Công nhận Lễ Vesak là ngày Lễ Quốc tế vì hòa bình của LHQ;
(2). Công nhận Lễ Vesak là ngày Lễ thiêng của thế giới;
(3). Công nhận sự đóng góp của Phật giáo là những đóng góp thiết thực cho thế giới đối với các giá trị: Đạo đức, Hòa bình, Tâm linh, Bình đẳng, Bảo vệ môi trường, v.v.
Những nội dung trên cùng thống nhất với mục tiêu mà xã hội ta đang xây dựng. Không chỉ có Phật giáo mà có cả các quốc gia thành viên LHQ cùng đồng hành, nên không chỉ thuần túy là Phật giáo.
Đại lễ Vesak LHQ 2019 tại Việt Nam có sự tham gia của 112 quốc gia và vùng lãnh thổ. Nguyên thủ quốc gia và lãnh đạo LHQ có: Tổng thống Myanmar, Thủ tướng Nepal, Phó Tổng thống - Chủ tịch Thượng viện Ấn Độ, Chủ tịch Thượng viện Bhutan, Phó Tổng Thư ký LHQ… Các quan chức bộ trưởng của các nước sẽ tham dự Đại Lễ cùng hơn 20 vị Đại sứ và đại diện của các tổ chức quốc tế đã khẳng định tới dự. Với thành phần đại biểu như thế thì đã vượt ra khỏi phạm vi của Phật giáo, mà phải mang tính chất đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Qua đó làm tăng hình ảnh và vị thế của nước ta với bạn bè quốc tế./.

May 8, 2019

Mừng và lo

Tre Việt - Câu chuyện Nguyễn Hữu Vinh (Anh Ba Sàm) được “xuất kho” vào ngày 05-5-2019 đã được nhiều người biết qua các trang mạng thông tin. Đối với Vinh, đây là việc đại hỷ trong đời người. Còn đối với người thân, bạn bè, nhất là những người cótâm sẽ có cảm giác mừng, lo đan xen.
Vinh được về với gia đình. Từ đây, ông ta được tự do, có cơ hội làm lại đời, làm tròn trách nhiệm của một con người đối với gia đình và xã hộiMột công dân lạc lối, trở thành tội phạm, cải tạo thành công,… là một quá trình dài, để đưa họ trở về làm người tử tế thật tốn không ít công sức, tâm huyết của gia đình và các tổ chức chính trị - xã hộiXã hội thêm một công dân, bớt một tội phạm, đây là điều đáng mừng.
Nhưng bên cạnh đó, khi xét lại tiểu sử của Vinh, người ta cũng không thể không có cảm giác băn khoăn, lo ngại. Tuy đã mãn hạn tù, thân xác được tự do nhưng liệu ông ta đã nhận ra những sai lầm của bản thân trong thời gian ngồi xà lim hay chưa? Tinh thần, tư tưởng của Vinh đã về với chính nghĩa? hay vẫn còn bị “cầm tù” trong sự cố chấp của bản thân???Liệu rằng, Vinh có “ngựa quen đường cũ”?
Vinh là người có tài. Sinh ra trong gia đình truyền thống cách mạng, được đào tạo rất cơ bản trong những môi trường giáo dục có tiếng, như: Trường Phổ thông Trung học Chu Văn An, Học viện An ninh nhân dân; đồng thời, được làm việc trong những tổ chức chuyên nghiệp của ngành Công an, Ban Việt kiều Trung ương đã đưa Vinh thành người có nhiều năng lực phục vụ đất nước. Bên cạnh đó, ông cũng có tài kinh doanh khi tự mở Công ty trách nhiệm hữu hạn Điều tra và Bảo vệ. Đặc biệt là tài “viết lách”, đây cũng là kỹ năng đem lại vinh ít, nhục nhiều. Bởi những bài viết của Vinh đăng tải trên mạng internet có nội dung xấu, thông tin sai lệch làm giảm uy tín, mất lòng tin trong nhân dân về cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội và công dân, quy định tại Điều 258 Bộ luật Hình sự”, dẫn đến phải thụ án 5 năm tù giam. Người tài, người có ảnh hưởng với cộng đồng sẽ có lợi lớn cho đất nước, xã hội nhưng nếu đi sai đường thì tác hại cũng vô cùng lớn. Xử lý một tội phạm chính trị như Vinh thực sự tốn kém và phức tạp hơn rất nhiều so với xử lý những tội phạm thông thường khác. Những lý do đó khiến mọi người không khỏi quan ngại về tương lai của Vinh. Nếu thành tâm buông bỏ cố chấp, dùng tài năng và phần đời còn lại phục vụ gia đình, xã hội sẽ đem lại niềm vui cho nhiều người. Nếu vẫn chứng nào tật ấy thì thật đáng buồn khi tổ chức lại phải hao tiền, tốn sức để điều tra, bắt, xét xử, cải tạo; gia đình lại chạy vạy, vận động, thăm nuôi; con cái, người thân bị tổn hại tinh thần nghiêm trọng, v.v. Vinh, nhục của một con người rất cần sự chia sẻ, giúp đỡ từ cộng đồng, nhưng tất cả đều phải do cá nhân tự quyết định./.

May 6, 2019

Luận điệu xuyên tạc

Tre Việt - 65 năm đã trôi qua, với chừng đó thời gian không phải là quá ngắn để cho mỗi chúng ta có thể chiêm nghiệm về những thành quả đã đạt được từ chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu” (07-5-1954). Cũng chừng đó thời gian, bản thân mỗi người dân Việt đã ý thức được tinh thần dân tộc, lòng quả cảm và tự hào về truyền thống, nét đẹp trong tinh thần của người dân Việt. Khi nghĩ về nó thật hạnh phúc và tự hào biết bao! Chúng ta kiêu hãnh, tự hào vì chiến thắng Điện Biên Phủ - một trận chiến được xếp vào trong 10 trận chiến lớn nhất của lịch sử thế giới. Chúng ta tự hào bởi trận đánh này khẳng định cho cả thế giới biết được những sức mạnh, sự linh hoạt, sáng tạo lên đến tầm nghệ thuật của quân và dân Việt Nam.
Ấy vậy mà, vẫn còn đó một bộ phận những con người mang trong mình dòng máu Việt nhưng lại có những lời nói, việc làm không thể chấp nhận được. Với nhiều luận điệu xảo trá, xuyên tạc mang đậm tính chủ quan phiến diện, chúng đã chà đạp lên lịch sử vinh quang của dân tộc, tung hô và cổ súy cho những luận điệu phản động. Bất chấp lịch sử, chúng cho rằng “Chiến dịch Điện Biên Phủ là do ĐảngCộng sản Trung Quốc tiến hành”, hòng xóa sạch công lao của Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đại tướng Võ Nguyên Giáp trong chiến dịch Điện Biên Phủ lịch sử. 
Những nhà nghiên cứu, nhà báo, nhà s học, nhà văn,… trên khắp thế giới đều nhìn nhận thành quả Điện Biên Phủ là do người Việt Nam tạo ra. Nguyên nhân cơ bản quyết định thắng lợi là do sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, do sự hy sinh của toàn dân tộc vì độc lập, tự do của Tổ quốc… dưới sự lãnh đạo của Đảng, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh. Nói đến Điện Biên Phủ là nói đến nhân dân Việt Nam anh hùng. Trong Chiến thắng đó, chúng ta trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ tình nghĩa của các chuyên gia Trung Quốc và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới. Nhưng đó không phải là nhân tố quyết định. Nếu những kẻ cố tình quên sự thật lịch sử để đưa ra những luận điệu ngu xuẩn thì hãy nghe chính những người Pháp dũng cảm thừa nhận thất bại tại Điện Biên Phủ như sau:
Việt Nam có đường lối chính trị và quân sự đúng đắn, có Lãnh tụ vĩ đại lãnh đạo, có Tổng Chỉ huy tài giỏiTrong cuốn sách “Thời điểm của sự thật”, tướng Na-va, Tổng Chỉ huy quân đội viễn chinh Pháp tại Việt Nam, đã thừa nhận sự thất bại của Pháp ở Điện Biên Phủ là bởi đối thủ (Việt Minh) có một đường lối đấu tranh giải phóng dân tộc thống nhất, chặt chẽ và xuyên suốt lãnh đạo cuộc kháng chiến: “Ở Việt Minh, không có những chủ trương chính trị và những chủ trương quân sự riêng rẽ mà là những chủ trương chính trị - quân sự thống nhất. Những chủ trương đó được quyết định bởi một ủy ban trung ương mà người tổng chỉ huy đồng thời là bộ trưởng quốc phòng là một ủy viên. Kế hoạch quân sự được đặt trong một tổng thể mà tất cả mọi việc đều hướng vào nhiệm vụ bảo đảm cho sự thành công”Trong cuốn sách “Cuộc chiến tranh mười nghìn ngày”, tác giả Michael Maclear đã phân tích sâu sắc và thuyết phục, đưa ra bức tranh toàn cảnh khá chân thực, trong đó nêu ra một trong những nguyên nhân thắng lợi của Việt Nam chống thực dân Pháp xâm lược, đó là Việt Nam có Tổng Chỉ huy rất tài giỏi. Michael Maclear viết: “Đối với ông Giáp, cảm giác khi gặp thì người ta thấy ông là một con người giống Na-pô-lê-ông về dáng vóc và kiến thức. Ông ta là một chiến lược gia có tài, với chủ trương chạy đua thời gian, trước mắt phải diệt tốt, đợi thời cơ sẽ diệt xe… Ông thua nhiều trận nhưng ông ta lại chẳng bao giờ thua một cuộc chiến tranh nào”. Điều đó cũng được tướng Na-va viết trong cuốn sách “Đông Dương hấp hối”, thể hiện rõ sự khâm phục đối với “đối thủ đáng kính trọng”, “một lãnh tụ chính trị duy nhất: Hồ Chí Minh và một lãnh tụ quân sự duy nhất - Giáp…”Tướng De Castries: “Tôi thừa nhận Tướng Giáp rất sành sỏi binh nghiệp và khôn ngoan. Tướng Giáp không chỉ tài giỏi hơn tôi, mà còn hơn cả Tướng Cogny và Tướng Navarre. Tôi hân hạnh được làm đối thủ của Tướng Giáp, được làm kẻ chiến bại trực tiếp của một người tài giỏi như Tướng Giáp. Tôi ngưỡng mộ và kính phục Ông”!
Đó còn là ý chí “quyết chiến, quyết thắng” của quân và dân Việt Nam được tác giả Gi-uyn Roa viết trong cuốn sách “Trận Điện Biên Phủ”, xuất bản năm 1963 tại Pa-ri (Pháp); trong đó có đoạn: “Bất chấp hàng tấn bom đạn đã được ném xuống đường giao thông, con đường bảo đảm cho quân lính đối phương tiếp nhận được vũ khí, trang bị ấy không bao giờ bị cắt đứt. Đừng nghĩ là sự viện trợ của Trung Quốc đã đánh bại tướng Na-va mà chính là những chiếc xe đạp Pơ-giô của Pháp thồ được từ 200 đến 300 ki-lô-gam, điều khiển bởi những con người ăn không đủ no và ngủ ngay trên những tấm ni lông trải trên mặt đất. Tóm lại, tướng Na-va không bị đánh bại bởi các phương tiện chiến tranh mà bởi trước hết là sự thông minh và ý chí quyết thắng của đối phương”Trong cuốn sách “Đông Dương đỏ”, xuất bản tại Pa-ri, năm 1975, tướng Xa-lăng của Pháp thừa nhận: Quân đội nhân dân Việt Nam đã “trở thành bộ máy chiến tranh không gì sánh kịp”. Sức mạnh cơ bản của “bộ máy chiến tranh” đó không phải là sức mạnh của đội quân nhà nghề, không phải nằm ở vũ khí, trang bị, mà là ở chính trị - tinh thần, ở ý chí quyết tâm bảo vệ sự sinh tồn của dân tộc trước thế lực ngoại xâm.
Như vậy, sự nhìn nhận, đánh giá trên càng làm sáng tỏ sự lãnh đạo tài tình của Đảng ta, của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tài thao lược của Đại tướng Võ Nguyên Giáp; đồng thời, tôn lên ý nghĩa to lớn, giá trị trường tồn của chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ. Ngày nay, cụm từ “Điện Biên Phủ - Hồ Chí Minh” được coi như một biểu tượng của sự khát vọng độc lập, tự do của nhân loại trong đấu tranh để xóa bỏ mọi sự xâm lược, nô dịch, áp bức, bất công. Vì thế mọi luận điệu xuyên tạc Chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ là do nước ngoài không phải của con người Việt Nam cần phải lên án và bác bỏ./.  

May 5, 2019

Tự do báo chí ở Việt Nam - hiện thực không thể phủ nhận



Tre Việt - Ngày 04/5/2019 trên VOA Tiếng Việt và một số trang mạng chống cộng cực đoan có đăng bài phóng vấn Nguyễn Văn Hải (có biệt danh là Hải “điếu cày”) - một kẻ vi phạm pháp luật Việt Nam và đã bị luật pháp Việt Nam xử lý theo quy định, sau khi được hưởng lượng khoan hồng của Nhà nước Việt Nam, Hải “điều cày” đã “vinh dự” được quan thày tạo điều kiện sang định cư tại xứ sở “Cờ hoa tự do” - Mỹ. Tại bài phỏng vấn này, VOA và Hải “điếu cày” cho rằng: ở Việt Nam không có tự do báo chí và Nhà nước Việt Nam “tìm mọi cách áp đặt những rào cản, luật lệ để khống chế truyền thông tự do”(!).
Cần nói ngay rằng, tự do báo chí ở Việt Nam là một hiện thực khách quan không thể phủ nhận. Nhà nước Việt Nam đảm bảo cho các công dân thực hành tốt quyền tự do báo chí theo quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam.
Ai cũng biết rằng tự do báo chí là quyền cơ bản của con người được luật pháp công nhận. Chất lượng bảo đảm quyền tự do báo chí là thước đo thực hành dân chủ, là “gương mặt” thể hiện trình độ khoa học, pháp luật và văn hóa của mỗi quốc gia. Thực chất tự do báo chí là tự do thực hành chân lý và tuân thủ pháp luật. Mọi hành động lợi dụng tự do báo chí vi phạm quyền con người, quyền công dân, lợi ích của các cá nhân, tổ chức và đất nước, phục vụ cho những mưu đồ xấu, vi phạm dân chủ, đạo đức và thuần phong mỹ tục, pháp luật nhất thiết phải bị nghiêm trị. Khoản 2, Điều 29, Tuyên ngôn quốc tế nhân quyền Liên hợp quốc chỉ rõ: “Trong khi thực hiện các quyền và quyền tự do cho cá nhân mọi người chỉ phải tuân thủ các hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận, tôn trọng đối với các quyền và quyền tự do của những người khác, đáp ứng được những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng, phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Công ước Quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên hợp quốc, tại Khoản 3, Điều 19 chỉ rõ: “Việc hành xử quyền tự do phát biểu quan điểm đòi hỏi đương sự phải có các bổn phận, trách nhiệm đặc biệt. Quyền này chỉ có thể bị giới hạn bởi pháp luật vì nhu cầu: a. Tôn trọng các quyền tự do và thanh danh của người khác; b. Bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự công cộng, sức khỏe công cộng hay đạo lý”.
Việt Nam thừa nhận quyền tự do báo chí đã được quy định trong Tuyên ngôn, Công ước của Liên hợp quốc. Khoản 2, Điều 14,  Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013 ghi rõ: “Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của pháp luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe của cộng đồng”; Điều 25, khẳng định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Tại Điều 10, Luật Báo chí năm 2016, quy định, công dân có quyền tự do ngôn luận trên báo chí. Điều 13 của Luật cũng quy định rõ: Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện các quyền này và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng. Nhà nước Việt Nam không chấp nhận báo chí tự do “ngoài vòng pháp luật”. Những cá nhân, tổ chức lợi dụng báo chí để “tự do” xuyên tạc sự thật, bôi nhọ lịch sử, kích động gây rối an ninh trật tự, chia rẽ, gây hận thù, truyền bá chủ nghĩa ly khai, can thiệp vào công việc nội bộ đất nước, tung ra những thông tin, hình ảnh khiêu dâm, kích dục độc hại không phù hợp với thuần phong mỹ tục của dân tộc,… sẽ bị nghiêm trị. Như vậy, luật pháp quốc tế cũng như pháp luật Việt Nam và các quốc gia khác đều thừa nhận quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của mọi tổ chức, cá nhân. Tuy nhiên, đó không phải là quyền “tự do tuyệt đối”. Khi thực hiện quyền này, con người phải chịu những hạn chế nhất định nhằm bảo vệ lợi ích chung của xã hội, nhà nước, của người dân. Trên thực tế, Nguyễn Văn Hải (Hải “điếu cày”) đã có những hành vi vi phạm pháp luật như nêu trên và đã bị luật pháp trừng trị đích đáng.
Hiện nay, Việt Nam có gần 19 ngàn nhà báo được cấp thẻ, làm việc ở trên 800 cơ quan báo chí, với đủ các loại hình từ truyền thống đến hiện đại, hằng ngày, hằng giờ chuyển tải thông tin trong nước và quốc tế một cách khách quan, trung thực, đáp ứng đầy đủ nhu cầu người dân trong cuộc sống. Báo chí Việt Nam còn là diễn đàn, phương tiện phản biện xã hội tích cực; là phương tiện kiểm tra, giám sát thực thi pháp luật, công cụ bảo vệ lợi ích xã hội và quyền, nghĩa vụ của người dân; tham gia có hiệu quả trong đấu tranh, ngăn chặn sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, xây dựng xã hội dân chủ, văn minh, tiến bộ, đất nước giàu mạnh.  Cùng với đó, qua internet, người dân Việt Nam còn được tiếp nhận những thông tin nhiều chiều từ CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg, AFP, AP, Reuters, Kyodo, v.v. Nhiều tổ chức và chuyên gia quốc tế đánh giá: Việt Nam là quốc gia có tốc độ phát triển internet hàng đầu khu vực, đặc biệt là mạng xã hội.
Đó là những minh chứng sinh động cho việc bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí ở Việt Nam; đồng thời, bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, vu cáo Nhà nước Việt Nam vi phạm tự do báo chí, tự do ngôn luận của VOA và Hải “điếu cày”.


May 2, 2019

Sụp đổ là tất yếu, hận nỗi gì?



Tre Việt - Vừa qua, Thiện Ý có bài: “Quốc hận, hận ai, hận cái gì, hận để làm gì?” được VOA tiếng Việt đăng tải. Thông qua bài viết để ông ta “mổ sẻ” tìm nguyên nhân tại sao họ lại gọi là “tháng 4 đen”, ngày “quốc hận” mỗi khi đề cập đến Chiến thắng 30-4-1975 của dân tộc ta.
Qua bài viết, Thiện Ý đã lý giải cho thấy chế độ ngụy Sài Gòn bị mục ruỗng nên sụp đổ là tất yếu, vì thế hận nỗi gì?
Ông ta viết: “Chế độ Việt Nam Cộng Hòa bị cưỡng tử, có nghĩa là đã bị bắt buộc phải “chết bất đắc kỳ tử”, khi mà chế độ ấy cơ thể như còn khỏe mạnh, không thể chết được hay ít ra chưa thể chết ngay được, còn có thể cứu vãn được tình hình để hồi phục và tồn tại”. Thế nhưng, ngay sau đó khi phân tích tại sao những người ở phía bên kia phải ân hận, ông ta đã cho thấy, “chế độ ấy (ngụy Sài Gòn) cơ thể như còn khỏe mạnh” là thế này đây:
“Chẳng hạn là người chỉ huy lãnh đạo các cấp chính quyền, quân đội “ân hận” vì đã không quan tâm đúng mức và dồn hết tâm lực cho cuộc chiến chống cộng bảo vệ chế độ dân chủ Việt Nam Cộng Hòa và phần đất Miền Nam tự do. “Ân hận” vì đã lợi dụng vị trí lãnh đạo, chức quyền mua quan bán chức, nuôi dưỡng lính ma, lính kiểng để thủ lợi, tham nhũng, đục khoét của công để làm giầu bất chính; tập trung vào các hoạt động hưởng thụ, ăn chơi trong lối sống tương phản với cuộc chiến đấu gian nguy của những người lính tham chiến trực tiếp với Việt cộng và đời sống thiếu thốn của gia đình họ? Ân hận vì đã cấu kết bè phái để tranh danh đoạt lợi, ám hại những người công chính, coi lợi ích cá nhân và phe nhóm cao hơn lợi ích chống cộng; khoán trắng việc chống cộng cho Hoa Kỳ và coi việc chống cộng thắng bại là trách nhiệm của Hoa Kỳ, do Hoa Kỳ hoạch định, tài trợ mọi mặt?
Chẳng hạn là những thương gia ân hận vì đã chạy theo lợi nhuận, móc ngoặc, mua chuộc hủ hóa các viên chức chính quyền quân sự cũng như dân sự, môi giới buôn bán vũ khí và cung cấp lương thực cho Việt cộng….?
Chẳng hạn, là bậc cha mẹ đã ân hận vì đã tìm cách chạy chọt cho con làm lính ma, lính kiểng, để được về phục vụ hậu phương, xa chiến trường lửa đạn. Là thanh niên ân hận vì đã hèn nhát, tham sống sợ chết, tìm cách trốn lính khi đến tuổi thi hành nghĩa vụ trai thời loạn”.
Cơ thể “khỏe mạnh” của chế độ ngụy Sài Gòn là thế đấy. Như vậy, sụp đổ là tất yếu, còn ân hận nỗi gì? Vì thế, đừng gọi là “ngày quốc hận” nữa. Sự sụp đổ ấy có oan ức gì đâu mà phải hận cơ chứ?

Apr 29, 2019

Chiến thắng của bản lĩnh và trí tuệ



Tre Việt - Trong lịch sử và hiện tại có ý kiến cổ súy, tuyệt đối hóa vai trò của vũ khí trang bị hiện đại. Không phủ nhận vai trò to lớn của vũ khí trang bị hiện đại, nhưng nó không phải là yếu tố quyết định thắng lợi trên chiến trường. Nhìn lại Chiến thắng 30-4 của quân và dân ta, được chính giới Mỹ thừa nhận để thấy rõ điều đó. Họ thừa nhận rằng, Quân đội và nhân dân Việt Nam có tinh thần chiến đấu quả cảm và trí thông minh, sức sáng tạo phi thường. Nây Si-han (Trường đại học Coóc-nen, Mỹ) đã viết: “Thắng lợi của người Việt Nam sẽ là một thí dụ vô song về sự toàn thắng của trí tuệ con người đối với máy móc”. Trí tuệ đó, được thể hiện từ người chỉ huy trong tiếp nhận và truyền đạt mệnh lệnh của cấp trên đến cách đánh của quân và dân ta. Lời tựa cho tác phẩm Chiến tranh nhân dân, Quân đội nhân dân của Đại trướng Võ Nguyên Giáp, được phương Tây xuất bản đầu những năm 70, thế kỷ XX đã viết: “Khác xa với khuôn mẫu người máy do các sĩ quan cuồng tín điều khiển, người lính Việt cộng có nhận thức rõ ràng về các trận đánh của đơn vị mình,… Cán binh Việt cộng và Bắc Việt không thụ động “nuốt chửng” mệnh lệnh cấp trên, mà tiếp thu và tự thông đạt các chỉ thị đó sang ngôn từ của chính mình, rồi tự làm sáng tỏ chỉ thị nhờ các kinh nghiệm và tiền lệ (truyền thống) sẵn có,… Có thể đem giết tù binh Việt cộng, nhưng không lung lạc họ bằng phủ dụ hay đọa đầy, là điều gần như vô vọng”. Sự sáng tạo được thể hiện trong cách đánh của các quân binh chủng, bộ đội chủ lực và quân du kích. Cơn-oen, Tham mưu trưởng Không quân Mỹ viết: “Lực lượng Phòng không của Việt Nam là đáng sợ nhất và hoàn chỉnh nhất mà những người lái Mỹ chưa từng gặp”. Còn R. Rát-xen, Chủ tịch Ủy ban Quân lực, Thượng nghị viện Mỹ thì nhận xét: “Chúng ta phải đương đầu với quân du kích tài tình nhất chưa từng thấy trong lịch sử loài người”. Và, rằng: “Du kích Cộng sản không phải được trang bị bằng máy bay lên thẳng hoặc đạn rốc-két. Mặc dù, họ cũng có những loại vũ khí hạng nhẹ khá tốt, nhưng họ đã chứng minh rằng một chiếc đinh gỉ cũng hoàn toàn có thể loại một người lính ra khỏi vòng chiến đấu như một viên đạn của một khẩu súng hiện đại có máy ngắm”. Đúng như James G.Zumwalt - Trung tá Thủy quân Lục chiến - người đã từng tham chiến ở chiến trường Việt Nam, trở lại nước ta để đi tìm câu trả lời cho sự thất bại của Mỹ nhận xét: “Đối với nhiều người Việt Nam, cuộc chiến với Mỹ là một ván cờ. Mỗi khi người Mỹ tung ra nước đi khó bằng cách áp dụng công nghệ mới vào chiến trường, phía Việt Nam lại sử dụng sự khéo léo để đáp trả”. Từ nhận định khách quan trên của phía Hoa Kỳ cho thấy, chính con người mới là yếu tố quyết định, chứ không phải vũ khí, trang bị, dù nó có tối tân, hiện đại thế nào và đến đâu chăng nữa. Nếu không vì lý do đó, thì Việt Nam là nước nhỏ, tiềm lực kinh tế, quốc phòng chưa phát triển sao có thể thắng nổi một nước Mỹ hùng mạnh cả về kinh tế, quân sự và lực lượng theo quy luật của chiến tranh: mạnh được yếu thua. Tất nhiên, để chiến thắng vũ khí công nghệ cao, đòi hỏi phải làm tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, phát huy sức mạnh nhân tố chính trị - tinh thần, làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ đều có bản lĩnh chính trị vững vàng, ý chí quyết tâm sắt đá, tinh thần chiến đấu dũng cảm, ngoan cường và trình độ tác chiến phát triển lên tầm cao nghệ thuật quân sự./.