Apr 4, 2014

VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM – LẤY TAY VẢ MIỆNG

         Tre Việt - 3/3/2014, nhà văn Nguyên Ngọc cùng 60 “nhân sĩ chấy thức” khác đã hùng hồn đăng tải tuyên bố vận động thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập Việt Nam” (VĐĐLVN). Cổ súy rùm beng cho “sự kiện này” (chẳng nói thì thiên hạ cũng đoán được) là một số cá nhân, tổ chức, trang mạng có “truyền thống đi ngược”, a dua và chống phá. Tuy mới chỉ là giai đoạn “vận động” chứ chưa thực sự được “thành lập” nhưng chỉ cần đặt bản tuyên bố ấy cạnh cái Danh sách Ban vận động thành lập do Nguyên Ngọc cầm đầu đã “hé lộ” ngay rất nhiều mâu thuẫn, rất nhiều vấn đề mà nhờ đó lật tẩy phần nào bộ mặt thật không lấy gì làm hay ho của VĐĐLVN. Như thế há chẳng phải là VĐĐLVN  “lấy tay vả miệng” hay sao?!
1. Nguyên Ngọc cùng những kẻ “đồng hội đồng thuyền”, một cách rất chuyên nghiệp, đã vận động thành lập “hội này” bằng một tuyên ngôn thoạt nghe có vẻ “đao to búa lớn” với những mục đích chính đáng, cao cả tưởng như không chỉ Việt Nam mà bất cứ nền văn học của dân tộc nào trên thế giới cũng mong muốn, ấy là “góp phần tích cực xây dựng và phát triển một nền văn học Việt Nam đích thực, nhân bản, dân chủ, hiện đại, hội nhập với thế giới”, ấy là “có thể đóng vai trò tiền phong đúng như nó phải có trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đang đòi hỏi”. Thế nhưng, cái mục đích “to đùng to đoàng” ấy lừa mị được ai khi mà soi vào bản Danh sách Ban vận động thành lập thì tòi ra vị trí thứ hai, nghĩa là chỉ sau vị trí thứ nhất (Trưởng ban Nguyên Ngọc), lại chính là Bùi Chát. Chắc thiên hạ không ai xa lạ gì, Bùi Chát – tác giả của “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa”, người sáng lập Mở Miệng với sản phẩm là thứ “quái thai lai quái dị”, tục tĩu, bệnh hoạn, nổi loạn, phản động (đối tượng nghiên cứu trong “luận văn thạc sĩ” mới bị thu hồi vì tính chất phi chính trị, phản văn hóa, phản khoa học mà Tre Việt từng đề cập đến trong một bài viết khác),… Nhìn vào bản danh sách không xếp theo thứ tự A, B, C,… cũng chẳng xếp theo thứ tự tuổi đời từ thấp đến cao hay từ cao xuống thấp mà lại bắt đầu bằng cái tên của Trưởng ban rồi đến cái tên của Bùi Chát ngồi “nghễu nghện” trên khá nhiều bô lão “mũ cao áo dài” trong làng văn thì đoán rằng có hai tình huống: 1. “Bố đẻ” của “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa” hẳn phải chiếm một ghế “tối quan trọng” trong VĐĐLVN, sản phẩm “quái thai lai quái dị” của anh ta chắc được VĐĐLVN đề cao!; 2. VĐĐLVN lợi dụng điều này để chứng minh cho bàn dân thiên hạ thấy hội của tôi là thế đấy, tham gia hội của tôi “quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm” của các bạn sẽ được khuyến khích, bảo đảm cho dù các vị có phóng uế ra phế thải của những đầu óc bệnh hoạn (Bùi Chát là tấm gương to đùng). Vì vậy, hãy thử hình dung xem trong một ngày đẹp giời nào đó, VĐĐLVN mang những thứ thơ tục tĩu, bệnh hoạn, nổi loạn của Mở Miệng bày lên đĩa và mời thiên hạ “xơi” thì không biết có “thức tỉnh lương tri và bồi đắp đạo đức xã hội” được tí nào như họ hùng hồn tuyên ngôn không, hay chỉ làm ô uế bầu khí quyển văn học nước nhà. Ấy thế mà họ còn cao giọng “văn hóa Việt Nam ngày càng suy thoái nghiêm trọng, lộ rõ nguy cơ đánh mất những giá trị nhân bản căn cốt nhất, uy hiếp đến cả sự tồn vong của dân tộc”. Thật đúng là “thùng rỗng kêu to”, “vừa ăn cắp, vừa la làng”, chi tiết “biết nói” (Bùi Chát đứng thứ hai trong Ban vận động thành lập) đã làm một việc mà Ban vận động thành lập không ngờ tới, ấy là “lột truồng” cái mặt nạ VĐĐLVN cho người ta biết bộ mặt thực chất của nó chỉ là nơi dung túng cho những phần tử “quái thai lai quái dị” mà thôi!
2. Trong Tuyên bố vận động thành lập, VĐĐLVN liệt kê ra ba nhiệm vụ cụ thể mà như Lâm Trực @ nhận xét thì: nhiệm vụ cao cả và đẹp long lanh nhưng chả có gì mới mẻ, vì những thứ đó đã được xác định trong Điều lệ Hội Nhà Văn Việt Nam theo Quyết định số 69, ngày 14/7/1005, thậm chí, Điều lệ Hội nhà văn Việt Nam còn cụ thể hơn nhiều. Vấn đề là “nói có đi đôi với làm”? Nếu lướt một loáng từ đầu đến cuối danh sách, 61 cái tên, chắc hẳn không ít người nhận ra rất nhiều người nằm trong danh sách ấy hiện vẫn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, chưa kể có vị còn giữ chức vụ khá “to”. Vậy, tại sao họ lại phải thừa hơi vận động thành lập VĐĐLVN mà không tập trung dốc lòng dốc sức xây dựng Hội nghề nghiệp của mình phát triển và đoàn kết? Điều này cho thấy, nhiệm vụ lớn thứ nhất “Đoàn kết tương trợ giữa những người viết văn tiếng Việt trong và ngoài nước” mà VĐĐLVN đặt vị trí đầu tiên cơ hồ chỉ là “nói cho hoành tá tràng” vậy thôi chứ thực chất của việc vận động thành lập VĐĐLVN, nói như Lâm Trực @, là làm chính trị và đối lập với Hội nhà văn Việt Nam. Như vậy, há chẳng phải lấy tay vả miệng hay sao, miệng thì nói đến đoàn kết nhưng chính VĐĐLVN sẽ là minh chứng cho sự kéo bè kết cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ văn nghệ sĩ. 

3. Chỉ ra thực trạng “văn học yếu kém” để rồi nêu lên nguyên nhân chủ quan lướt qua trong 2 dòng (nguyên nhân chủ quan trước tiên thuộc chính người cầm bút là sự thờ ơ đối với trách nhiệm xã hội, vô cảm trước thời cuộc, quan trọng hơn nữa là thiếu độc lập tư duy, từ đó mà tự hạn chế năng lực sáng tạo), nguyên nhân khách quan với dung lượng dài gấp 3 lần (một xã hội như chúng ta đang có, trong đó các quyền tự do cơ bản của con người thực tế bị vi phạm trầm trọng, đương nhiên đè nặng lên tâm lý sáng tạo của người cầm bút, làm mờ nhạt và tắt lụi các tài năng. Quyền tự do sáng tác và tự do công bố tác phẩm đang là đòi hỏi sống còn của từng nhà văn và của cả nền văn học. Không có những quyền tự do tối thiểu đó thì không thể có một nền văn học đàng hoàng. Một thể chế tổ chức đời sống văn học nặng tính quan liêu và bao cấp càng làm nặng nề thêm tình hình, đồng thời lại không tạo được mối liên kết lành mạnh giữa những người viết để nâng đỡ và thúc đẩy nhau trong công việc, hỗ trợ nhau trong khó khăn). Điều này bộc lộ nhận thức, nhãn quan “lệch lạc”, phiến diện của 61 thành viên Ban vận động, trong đó có không ít “lão làng” bởi văn học yếu kém mà đổ vấy cho thể chế, cho xã hội (ấy là chưa kể những gì họ liệt kê ra không phải là sự thật!), thì hẳn là buồn cười. Văn học yếu kém, nhà văn phải tự xem lại cái Tài, cái Tâm, cái Tầm của mình chứ! Hơn thế, cái danh của nhà văn là nằm ở tác phẩm. Giá mà họ dành thời gian tập trung để viết, để sáng tác chứ không phải để tụ tập, kết bè kết cánh làm những việc vô bổ, gây hại biết đâu lại có tác phẩm lớn cống hiến cho công cuộc “phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc”?! Trộm nghĩ như vậy nhưng nhìn vào Danh sách Ban vận động thì thấy ngay: Từ đầu đến cuối, từ trẻ đến già, từ người có danh tiếng đến kẻ vô danh tiểu tốt,… đều là những cái tên hiện không còn “hot” trên văn đàn, chắc vì biết mình “tài cạn”, “tâm tối” nên chỉ còn cách dùng chiêu PR hâm nóng tên tuổi thường thấy trong Showbis Việt. Cái danh sách này, với những cái tên như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang Lập, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Huệ Chi, Châu Diên,… nổi lên là những “chấy thức” thường xuyên có những hành động, phát ngôn  vu cáo, xuyên tạc hoặc đả kích chế độ thì tự nó cũng đã vạch áo cho người ta xem và khiến người ta không thể tin được những gì hoa mỹ, “đao to búa lớn” mà họ đã hùng hồn đăng tải trên mạng. Dư luận hoàn toàn có thể hoài nghi về mục đích thực sự của VĐĐLVN cũng như việc có hay không một tổ chức nào đó giật dây cho những con người háo danh hoạt động?


Mar 28, 2014

Kẻ lớn tiếng bảo vệ nhân quyền lại vi phạm nhân quyền

         Tre Việt - Thế giới đang chứng kiến những biến động mau lẹ ở U-crai-na. Qua đó cho thấy, Mỹ và phương Tây thường lớn tiếng về nhân quyền, nhưng chính họ đang vi phạm nhân quyền nhất. Tại sao lại kết luận như vậy?

          Chúng ta chứng kiến nhân dân Crưm, với quyền dân tộc tự quyết, chính quyền Crưm đã trưng cầu dân ý về việc tiếp tục ở lại U-crai-na hay tách ra để sáp nhập vào Liên bang Nga, thì đã có hơn 95% số phiếu (trong 81,3% số cử tri đi bỏ phiếu) đồng ý tách Crưm ra khỏi U-crai-na để sáp nhập vào Liêng bang Nga (ngày 16-3-2014). Điều đó thể hiện nguyện vọng chính đáng của người dân Crưm và được các cấp có thẩm quyền ở Crưm và Liên bang Nga đồng ý, thực hiện đúng trình tự thủ tục pháp lý theo luật pháp quốc tế và luật pháp của Liên bang Nga. Ấy thế mà Mỹ và phương Tây lại phản đối. Họ ra các quyết định chừng phạt Liên bang Nga, nào là “khai trừ” Nga ra khỏi G8, nào là phong tỏa tài khoản không chỉ của các quan chức Nga mà còn phong tỏa tài khoản của các nhà kinh tế Nga - những doanh nhân có vai trò quan trọng đối với nền kinh tế Nga,... Có phải Mỹ và phương Tây đã vì quyền lợi của ngườ dân Crưm? Không. Họ hành động như vậy chỉ vì quyền lợi của chính họ mà thôi. Bởi khi Crưm sáp nhập vào Liên bang Nga thì lợi ích kinh tế, chính trị, quân sự của Mỹ và phương Tây bị ảnh hưởng nên họ mới giẫy nảy tìm mọi cách ngăn cản Crưm sáp nhập vào Liên bang Nga. Khi sự ngăn cản không thành thì họ quay sang chừng phạt, hòng cô lập Liên bang Nga, làm suy yếu nước Nga. Việc làm đó của Mỹ và phương Tây chỉ cho người ta thấy rõ: họ là những kẻ ích kỷ, chẳng phải quyền lợi của nhân dân Crưm mà chỉ vì lợi ích của chính họ mà thôi.

          Còn nhớ ngày 17-2-2008, Nghị viện Cô-xô-vô tiến hành một cuộc họp khẩn cấp để ủng hộ quyền độc lập của vùng này, tách ra từ Cộng hòa Xéc-bi. Khi ấy chẳng có cuộc chưng cầu dân ý nào, nhưng Mỹ và phương Tây nhanh chóng ủng hộ và công nhận Cô-xô-vô vốn là vùng đất thuộc Cộng hòa Xéc-bi thành một thực thể độc lập. Cũng vì quyền lợi của Mỹ và phương Tây. Việc làm đó của Cô-xô-vô họ lại cho là phù hợp, còn nay, Crưm tiến hành chưng cầu dân ý hẳn hoi họ lại cho là không phù hợp. Điều ấy cho thấy, đối với Mỹ và phương Tây chẳng có nguyên tắc nào cả, chẳng có nhân quyền gì hết, chỉ có lợi ích quốc gia, dân tộc của họ mà thôi. Khi lợi ích quốc gia, dân tộc của Mỹ và phương Tây được bảo đảm thì dù có sai cũng thành đúng luật pháp quốc tế và ngược lại. Họ đâu có thèm để ý đến quyền của người dân. Gần như tuyệt đại đa số người dân Crưm đồng ý tách Crưm ra khỏi U-crai-na để sáp nhập vào Liên bang Nga, nhưng Mỹ và phương Tây lại nói không được. Họ chẳng cần biết người dân Cô-xô-vô có đồng ý tách ra khỏi Cộng hòa Xéc-bi hay không đã vội vã công nhận Cô-xô-vô độc lập. Cùng một hiện tượng giống nhau, ở hai thời điểm khác nhau, vì lợi ích của Mỹ và phương Tây họ có hai thái độ trái ngược nhau. Thử hỏi đâu còn công lý? Đâu còn tôn trọng quyền con người của Mỹ và phương Tây? Với cách hành xử của Mỹ và phương Tây như vậy, chỉ cho người ta thấy rõ ràng rằng, kẻ luôn lớn tiếng bảo vệ nhân quyền, nhưng chớ chêu thay, chính họ lại vi phạm nhân quyền nhất!

Mar 14, 2014

Kẻ thù của internet lại như thế sao?

        Tre Việt  - Ngày 12-3-2014, VOA tiếng Việt lại đưa tin: Hôm 11 tháng 3, Tổ chức Ký giả không Biên giới (RSF) công bố báo cáo thường niên “Kẻ thù của internet năm 2014” tập trung chú ý vào những cơ quan, tổ chức của chính phủ thực hiện việc kiểm duyệt và do thám trên Internet. Bộ Thông tin và Truyền thông của Việt Nam là một trong những cơ quan được RSF đưa ra báo cáo cụ thể về việc theo dõi và kiểm duyệt nhà báo, blogger và những người cung cấp thông tin khác.
         RSF nói Chính phủ Việt Nam “trấn áp không thương tiếc” những người bất đồng chính kiến trên mạng bằng chính sách kiểm duyệt. RSF nhận xét như vậy là không có căn căn cứ.
        Trước hết, RSF cố tình hiểu sai lệch văn bản pháp lý quốc tế để vu cáo Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận. RSF vin cớ Điều 19 của Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm” để biện hộ cho lý lẽ về tự do ngôn luận. Nhưng Điều 29 của bản Tuyên ngôn trên lại quy định: “Mọi người đều có nghĩa vụ với cộng đồng là nơi duy nhất người đó có thể phát triển nhân cách của mình một cách tự do và đầy đủ. Khi thực hiện các quyền tự do của mình, mọi người chỉ chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là đảm bảo sự công nhận và tôn trọng thích đáng đối với các quyền tự do của người khác cũng như đáp ứng những nhu cầu chính đáng về đạo đức, trật tự xã hội và phúc lợi chung trong xã hội dân chủ”. Như vậy, Tuyên ngôn Nhân quyền quy định rõ quyền tự do ngôn luận của mọi người, nhưng khi thực hiện quyền tự do của mình phải chịu những hạn chế do luật định. Điều 19 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 cũng quy định rõ việc thực hiện quyền tự do báo chí, ngôn luận,… phải đi kèm nghĩa vụ, trách nhiệm, phải chịu một số hạn chế nhất định để “tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, hoặc đạo đức của xã hội”. Qua đó cho thấy, các quy định pháp lý quốc tế một mặt thừa nhận quyền tự do dân chủ; mặt khác, cũng quy định các quyền tự do cũng có giới hạn do luật định mỗi nước quy định. Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam cũng quy định: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Do vậy, Việt Nam có các văn bản luật quy định về việc sử dụng internet, như Nghị định 72 thì có gì sai với văn bản pháp lý quốc tế và Hiến pháp Việt Nam.
Đồng bào dân tộc thiểu số truy cập internet (Nguồn: Internet)
        Thứ hai, thực tiễn internet phát triển sinh động ở Việt Nam đã bác bỏ cáo buộc sai trái của RSF đối với Việt Nam. Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử, gần 3 triệu người có blog, có 30,8 triệu người sử dụng internet (năm 2010 là 26 triệu), chiếm 34% dân số (trung bình của thế giới là 33%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 tại châu Á[1]. Ấy là chưa kể các loại phương tiện kỹ thuật hiện đại truy cập internet không dây, như: các loại máy tính xách tay, máy tính bảng, hệ thống USB 3G, máy điện thoại thế hệ mới rất phổ biến ở Việt Nam,… Với sự ra đời của VNSAT 1, hầu khắp lãnh thổ Việt Nam đều có thể truy cập được internet một cách dễ dàng bằng các phương tiện kết nối có dây và không cần dây. Đó là những con số biết nói, cho thấy cáo buộc của RSF rằng, Việt Nam hạn chế phát triển internet là hoàn toàn sai trái.
        Như vậy, cả về phương diện pháp lý quốc tế, Việt Nam và thực tiễn phát triển internet của Việt Nam cho thấy, RSF là tổ chức làm việc rất thiếu trách nhiệm, đưa ra nhận xét về phát triển internet của Việt Nam không có căn cứ. Thật đáng tiếc!




[1] Theo xếp hạng năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế ITU.

Mar 12, 2014

Bùi Tín lại nói lấy được

Tre Việt - Trong blog của mình, lại được mõ làng VOA tiếng Việt loan tin ngày 10-3 vừa qua, Bùi Tín có bài viết: Một ngày ở tù cũng là quá nhiều”. Đọc bài viết này thấy rõ sự trải lòng của Bùi Tín, nhưng rất tiếc đó là cách nói lấy được.
Bùi Tín
Trong bài viết, Bùi Tín cho rằng, ở Việt Nam không có tự do ngôn luận. Trước hết, xin lưu ý ông cần hiểu đúng thế nào là tự do ngôn luận. Vì ông là kẻ đào tẩu, bỏ hàng ngũ, bỏ đất nước, bỏ họ hàng chạy sang trời Tây những mong “liếm gót giầy Tây béo mập đầu” từ hơn 20 năm trước, nên đã quên mất văn hóa của người Việt: Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Những ai lợi dụng tự do ngôn luận để đại ngôn, ngoa ngôn đều không đúng với văn hóa Việt Nam. Không thể vin cớ tự do ngôn luận để chửi bới nhau vô tội vạ. Không thể vin cớ tự do ngôn luận để có ai đó có chút thành tích thì khen nhau đến giời và ngược lại có chút khuyết điểm lại dùng lời nói dìm họ xuống tận bùn đen. Khen cũng phải đúng mức, chê cũng phải đúng mực. Ấy là văn hóa Việt. Ông có dẫn ra trường hợp Trương Duy Nhất bị Tòa án nhân dân  thành phố Đà Nẵng xét xử phải đi tù 2 năm và Phạm Viết Đào tòa án sắp xét xử và cho rằng, những người này chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình mà phải đi tù thì ông đã hiểu không đúng hay cố tình hiểu không đúng về tự do ngôn luận. Bởi những trường hợp ông nhắc đến, rõ ràng họ đã lợi dụng tự do ngôn luận để nhằm mục đích chính trị, hòng tạo ra “cách mạng màu” ở Việt Nam. Họ đã vượt quá giới hạn của tự do ngôn luận rồi. Không ở đâu có thứ tự do ngôn luận tuyệt đối mà đều có giới hạn được quy định của pháp luật theo luật pháp quốc tế và luật pháp mỗi nước. Với Việt Nam, đó còn là văn hóa nữa như trên đã đề cập.  
Ông có nhắc tới một vài người có “thành tích” trước đây, như: Phạm Viết Đào tham gia quân đội từ năm 16 tuổi, từng dự các trận đánh ở đường 9, Nam Lào, là cựu chiến binh, lại là đảng viên Cộng sản từ khi 22 tuổi, từng là cán bộ thanh tra của Bộ Văn hóa, hiện là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Anh có em ruột là liệt sỹ Phạm Hữu Tạo, hy sinh do bị đạn pháo của bọn bành trướng Trung Quốc tại vùng núi Lão Sơn (Hà Tuyên) tháng 7/1984, nhưng như thế không có nghĩa là Phạm Viết Đào đứng ngoài vòng pháp luật. Ở Việt Nam, pháp luật không có vùng cấm nào cả. Những người hôm qua tốt, không có nghĩa ngày mai anh ta sẽ tốt nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, như chính Bùi Tín chẳng hạn. Những người trước đây phạm pháp, không có nghĩa mãi mai sau này họ là người phạm pháp, nếu họ nhận ra lỗi lầm và đã sửa chữa, khắc phục. Bởi thế,Việt Nam mới có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Còn nhân thân của anh tốt là yếu tố xem xét trong quá trình xét xử và có thể giảm tội, chứ không phải vô tội.  
Với cách nói lấy được của Bùi Tín, lần nữa càng chứng tỏ Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan Nhà nước và cán bộ viên chức chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép’’ là hoàn toàn đúng./.

Mar 9, 2014

Nhận xét hồ đồ về "tù chính trị ở Việt Nam"

Tre Việt - Ngày 06-3, Trà Mi trên VOA lại “ăn theo nói leo” Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH), cho rằng: “Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á”. Đọc bài viết thấy rõ sự nhận thức còn khác biệt giữa FIDH với Việt Nam. Những người vi phạm pháp luật Việt Nam, bị tòa án xét xử theo đúng trình tự pháp luật và trước tòa họ đều cúi đầu thừa nhận hành vi phạm pháp của mình, các luật sư bào chữa cho thân chủ của họ cũng thừa nhận tòa án xét xử và tuyên phạt đúng người đúng tội. Thế mà FIDH có nhận xét hồ đồ, lại được VOA đưa tin thiếu cân nhắc làm mất uy tín của mình rằng: Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á”. Trong bài viết, Trà Mi cũng dẫn rằng: “Việt Nam lâu nay vẫn tuyên bố tại Việt Nam không có tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm. Hà Nội nói chỉ có những người phạm pháp mới bị xử lý theo đúng pháp luật”. Thế nhưng có ý kiến phản bác: “Các luật lệ này rõ ràng không phù hợp với những tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế cho nên lập luận của Hà Nội hoàn toàn vô lý”. Vâng, tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế mà họ nhắc đến được ghi trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Xin nhắc lại Điều 19 Công ước trên ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Xin lưu ý khoản 3 của Điều 19 này, những tổ chức cá nhưng có ý kiến khác với Việt Nam là do họ đã bỏ qua khoản 3 của Điều 19 mà tuyệt đối hóa khoản 1 và 2 (Điều 19). Do cách xem xét phiến diện như vậy, nên giữa họ với Việt Nam có nhận thức khác nhau cũng là điều dễ hiểu.
Chúng ta hãy xem họ dẫn ra các trường hợp được gọi là tù chính sau đây để thấy rõ điều đó. Theo họ: Hồ sơ 17 tù nhân chính trị cần đặc biệt quan tâm bao gồm trường hợp của nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định; Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải; luật sư “nhân quyền” Lê Quốc Quân; “tiến sĩ luật” Cù Huy Hà Vũ; “nhà hoạt động công đoàn” Đỗ Thị Minh Hạnh; “nhà hoạt động dân chủ” Trần Huỳnh Duy Thức; nhạc sĩ Việt Khang; và nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình. Đọc những cái tên trên, chúng ta chẳng lạ gì họ phạm tội như thế nào. Ấy thế mà mấy tổ chức kia lại cố nói lấy được, gắn cho những người này là “tù chính trị”.
Họ còn dẫn lời của Đinh Đăng Định nào là, “Chế độ của trại giam vô cùng khốc liệt. Sự chăm sóc về ăn uống, về sức khỏe vô cùng giới hạn. Thuốc men không có”. Nào là, “trong môi trường tù tội, không hề có nhân quyền. Việc thực hiện tra tấn, họ không tra tấn một cách lộ liễu, mà họ tra tấn bằng cách chẳng hạn như ốm đau không được trị bệnh, ăn uống thiếu thốn, đời sống văn hóa không có. Đấy cũng là các hình thức tra tấnXin thưa, Việt Nam còn là nước có thu nhập trung bình, nhưng ở tốp dưới của mức này. Vì vậy, những người đang phải lao động sản xuất hằng ngày,cuộc sống cũng còn thiếu, chưa được sung túc nữa là. “Các bố” vi phạm pháp luật, cứ ngồi đấy để chúng tôi nai lưng ra làm được bao nhiêu đều cung phụng và phải “cơm bưng nước rót” cho “các bố” chắc. Một đòi hỏi thật phi lý. Đòi hỏi của “các bố” được thỏa mãn thì chúng tôi cũng xin đi tù như mấy “bố” cho sướng, khỏi phải ở ngoài tự do nhưng phải làm việc vất vả làm gì.
Bởi vậy, khi nói về nhân quyền cần gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể từng nơi, từng quốc gia nếu không thì sẽ phi thực tế để có những nhận xét, đánh giá hồ đồ chỉ làm mất uy tín của mình mà thôi./.




Mar 7, 2014

Comment

Để tiện cho các bác chia sẻ ý kiến, các bác comment theo các bước dưới đây nhé.





Các bác Click Xuất bản là ok!



Feb 17, 2014

Báo chí ở Việt Nam chẳng những được tự do mà còn được bảo vệ tốt hơn

          Tre Việt - Ngày 12-02-2014, VOA tiếng Việt có bài: “Quốc tế báo động tình hình tự do báo chí tại Việt Nam” của Trà Mi, đọc bài viết này thấy cách lý sự chẳng giống ai, đúng ra là trò ngụy biện, đọc qua thấy có lý, suy nghĩ một chút thấy rất vô lý.
         Trà Mi “ăn theo nói leo” hai tổ chức vốn không có thiện chí với Việt Nam. Đó là Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Pháp và Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) có trụ sở ở Mỹ. Theo đó, Trà Mi dẫn lời của hai tổ chức này, nào là:“Việt Nam là một trong những quốc gia đàn áp tự do báo chí tệ hại nhất trên toàn cầu, là nhà tù lớn thứ nhì trên thế giới giam cầm các blogger và những người thể hiện quan điểm bất đồng với nhà nước trên mạng…”. Nào là, khi chúng ta khẳng định quyền tự do báo chí được bảo vệ, không bị giới hạn tại Việt Nam, với hàng trăm tờ báo và hàng triệu blogger tự do viết blog trên mạng, thì họ lại cho rằng: “Đó không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá tự do báo chí mà chủ yếu là các chính sách của nhà nước và khung pháp lý liên quan đến quyền tự do thông tin và tự do báo chí mới là điều đáng nói. Anh cho phát triển về số lượng nhưng cùng lúc lại tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn. Các con số anh chứng minh phát triển về lượng này không có nghĩa là anh để cho báo chí phát triển tự do. Bằng chứng là Hà Nội liên tục ban hành các nghị định giới hạn quyền tự do báo chí như 72 hay 174 đối với người chia sẻ thông tin trên Facebook bên cạnh các điều luật hình sự về an ninh quốc gia vốn mơ hồ nhưng thường được dùng để bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước như Điều 88 “tuyên truyền chống nhà nước” hay Điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền”. Đọc qua thấy có phần có lý, suy nghĩ kỹ thấy trò ngụy biện mang rõ động cơ không trong sáng. Thật phi lý, không có tự do báo chí thì làm sao có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng? Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 997 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm (so với các con số tương ứng của năm 2009 là 676 và 700); gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; 01 hãng thông tấn, 67 đài phát thanh - truyền hình, 101 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh, 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử, gần 3 triệu người có blog. Người dân Việt Nam được tiếp cận với nhiều kênh truyền hình nước ngoài, nhiều hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới, như: CNN, TV5, DW, NHK, KBS, Australia, BBC, VOA, AFP, RFA,... Tính đến tháng 12-2013, ở Việt Nam đã có 30,8 triệu người sử dụng in-tơ-nét (năm 2010 là 26 triệu), chiếm 34% dân số (trung bình của thế giới là 33%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 tại châu Á[1]. Sự phát triển mạnh mẽ in-tơ-nét ở Việt Nam đã là một thực tế thuyết phục để bác bỏ mọi sự vu cáo, xuyên tạc về sự hạn chế của Chính phủ Việt Nam đối với người dân trong việc tiếp cận in-tơ-nét. Khi báo chí phát triển thì song hành với đó là phải quản lý để báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật mà bất kỳ quốc gia nào cũng làm thế, đâu chỉ có Việt Nam. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc pháp luật phải bảo vệ báo chí phát triển tự do và các tờ báo không vi phạm bản quyền của nhau, không làm tổn thương lẫn nhau. Cũng như người tham gia giao thông càng đông, càng nhiều thì đòi hỏi Luật Giao thông phải càng đầy đủ với các điều, khoản khoa học tạo cơ sở pháp lý cho người và các phương tiện tham gia giao thông chấp hành. Không thế thì dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy đi, không ai nhường ai để xảy ra tình trạng “quân hồi vô phèng” thì chính người và các phương tiện tham gia giao thông bị tổn thương, có khi còn ảnh hưởng đến tính mạng. Vậy, tại sao không có các luật với các điều, khoản cụ thể để điều chỉnh hành vi tham gia giao thông? Tương tự như vậy, báo chí phát triển mạnh với sự gia tăng nhanh chóng của số lượng cũng đòi hỏi phải có quy định với các hình thức khác nhau, như: Thông tư, Nghị định, luật,… để điều chỉnh hành vi tham gia hoạt động; đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của chính báo chí. Việc làm đó của Việt Nam thống nhất với thứ nhất, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, tại Điều 19 cũng đã ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Thứ hai, Công ước nhân quyền châu Âu (có hiệu lực từ ngày 03-9-1953) đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[2]. Rõ ràng, trong khi khoản 1 của Ðiều luật này quy định: ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới, thì khoản 2 lại quy định: việc thực thi các quyền đó gắn với các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Không có thứ tự do “tuyệt đối” mà không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, ở sự ổn định xã hội, mà thiếu nó thì mọi cố gắng của con người đều trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Công ước nhân quyền châu Âu nói trên.
          Họ còn dẫn các Điều 88 “tuyên truyền chống nhà nước” hay Điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền” trong Bộ luật Hình sự để nói rằng chúng ta “bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước”. Thật là phi lý, họ chỉ tuyệt đối hóa quyền công dân mà lảng tránh trách nhiệm công dân. Mọi người đều biết, đã là công dân của một nước thì phải chấp hành nghiêm mọi luật pháp của nước đó. Cho nên, một người, hay một hành động của công dân đều bị chế ước bởi cả hệ thống luật pháp của nước đó, chứ không chỉ có chấp hành luật này mà bỏ qua việc chấp hành luật khác. Bởi điều đó không nơi nào, nước nào trên hành tinh này lại như thế cả. Đòi hỏi đó của họ thật vô lý, không chấp nhận được.
          Vậy là báo chí ở Việt Nam chẳng những được tự do mà còn được bảo vệ tốt hơn chứ. Điều đó đồng nghĩa với cách nói của Trà Mi trên VOA tiếng Việt ngày 12-02 vừa qua cùng cách nói của Tổ chức Phóng viên Không biên giới và Ủy ban Bảo vệ Ký giả về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có căn cứ./.





[1] Theo xếp hạng năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế ITU.
[2] Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.

Feb 6, 2014

Sự hàm hồ của các "nhà nhân quyền"

Tre Việt - Ngày 05-02-2014, ngay trước khi Việt Nam đăng đàn tại phiên họp kiểm định định kỳ thứ 18 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, một số tổ chức, cá nhân tự nhận là “nhà nhân quyền” có các hoạt động hòng gây sức ép về nhân quyền đối với Việt Nam. Xem xét các hoạt động của họ cho thấy đó là những phát biểu hàm hồ. BBC tiếng Việt với bài “Vận động giờ chót trước UPR Việt Nam” của Nguyễn Hùng cho thấy rõ điều đó. Bài viết cho biết, các “nhà nhân quyền” tổ chức hội thảo mang tên “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc” hôm 04-02 vừa qua, tại Giơ-ne-vơ do PEN International, UN Watch và Đảng chính trị Việt Tân, đồng chủ trì. Hội thảo có hơn 100 người diễn ra trong 2 tiếng đồng hồ cho thấy đó là trò hề. Hai tiếng đồng hồ với từng ấy người thì hội thảo được những gì không cần trả lời mọi người cũng biết nó như thế nào rồi.
          Ông Leon Saltiel, Phó Giám đốc tổ chức UN Watch kêu gọi các nước thành viên Liên hợp quốc hãy “khai trừ Việt Nam ra khỏi Hội đồng Nhân quyền”. Không hiểu căn cứ vào đâu mà ông phát biểu hàm hồ đến vậy! Ai cũng biết, Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, thế mà ông Leon Saltiel lại bác bỏ lá phiếu của gần 200 thành viên Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Vậy, chẳng phải hàm hồ sao? Trơ chẽn hơn, khi phóng viên BBC chất vấn về chuyện Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, ông Saltiel lại nói: “chuyện các nước thành viên Liên hợp quốc dàn xếp và mặc cả với nhau để đổi chác sự ủng hộ là chuyện thường”. Tôi không hiểu gần 200 nước thành viên Liên hợp quốc “đổi chác” cái gì với Việt Nam? Có chăng, đó là nhân quyền không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà với tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam tích cực đóng góp vì nhân quyền cho cả nhân loại ngày càng được bảo đảm tốt hơn mà thôi.
          Đại diện của UN Watch, nói thêm Libya cũng đã từng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và đã bị khai trừ khỏi Hội đồng này. Nhưng họ lại “quên” tháng 5-2001, Liên hợp quốc bỏ phiếu loại Mỹ ra khỏi Ủy ban Nhân quyền quốc tế - tổ chức tương tự Hội đồng Nhân quyền ngày nay - nơi mà Mỹ là thành viên từ năm 1948, do những vi phạm của nước này xung quanh vấn đề dân chủ, nhân quyền.
          Ông Hà Huy Sơn, luật sư từ Việt Nam sang Giơ-ne-vơ tham gia các hoạt động trước phiên Kiểm định Định kỳ Phổ quát UPR cũng thừa nhận với BBC rằng, số vụ xử các tội liên quan đến Điều 88 và 79 của Bộ luật Hình sự về tội tuyên truyền chống Nhà nước và tội lật đổ chính quyền giảm xuống, nhưng lại hồ đồ cho rằng, “các nhà hoạt động giờ thường bị khép vào những tội khác”. À thế ra, kiểu gì các “nhà nhân quyền” cũng nói được. Thực chất giọng điệu của các “nhà nhân quyền” là họ phải đứng ngoài vòng pháp luật. Nhân quyền với họ là xã hội ai muốn làm gì thì làm, không có pháp luật gì hết, họ tuyệt đối hóa quyền con người mà lảnh tránh trách nhiệm công dân. Đó là điều phi lý và không thể. Hiện nay, trên hành tinh này, không có nơi nào có thứ nhân quyền như họ đòi hỏi. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị mà họ thường viện dẫn cũng cho thấy rõ điều đó. Điều 19, Công ước này quy định: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…”, nhưng khoản 3 lại quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
          Trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt,… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo,…[1]. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác, quyền con người luôn được gắn liền với quyền và nghĩa vụ công dân. Thật vậy, Công ước nhân quyền châu Âu có hiệu lực từ ngày 03-9-1953 đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, có quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10. Theo đó: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp[2]. Qua đó cho thấy, khoản 1 của Ðiều luật này quy định nguyên tắc chung về tự do ngôn luận (ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới), nhưng khoản 2 lại quy định việc thực thi các quyền đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Thực tiễn đã cho thấy, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác về nhân phẩm, danh dự. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ðó là quyền tự do ngôn luận phải nằm trong nguyên tắc bảo đảm “an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật, bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[3]. Chúng ta còn nhớ sự kiện họa sĩ Kút vẽ tranh châm biếm nhà Tiên tri Mohammed của Hồi giáo dẫn đến khủng hoảng xã hội vì bạo động ở Đan Mạch và vụ việc Mục sư Giôn ở bang Phlo-ri-đa, nước Mỹ có ý định đốt kinh Cô-ran đã để lại hậu quả nặng nề đối với xã hội khi người ta đã quan niệm không đúng quyền tự do của cá nhân. Những người có hành vi xúc phạm đạo Hồi ở Đan Mạch và ở Mỹ nói rằng, họ có cơ sở pháp lý để làm việc đó là “quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ”. Chúng ta cũng chưa quên việc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho Quân đội Hoa Kỳ. Và gần đây là vụ Edward Snowden tiết lộ bí mật hoạt động của cơ quan tình báo Mỹ, dẫn đến cựu nhân viên tình báo này phải tỵ nạn ở Nga trước sự truy bắt gắt gao của Chính phủ Mỹ, cũng chỉ vì tội tiết lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại có tình trạng đó? Vì những người này đã tuyệt đối hóa quyền con người mà không thấy nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Điều đó cho thấy, trong khi thực hiện quyền của mình, mỗi người là công dân nước nào cũng có bổn phận phải thực hiện nghĩa vụ công dân và luật pháp của nước đó. Công dân Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
          Đại diện của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ông Benjamin Ismail, cũng phát biểu rằng, tình hình nhân quyền Việt Nam đã tồi tệ thêm từ năm 2009 - năm Việt Nam lần đầu tiên kiểm điểm về nhân quyền. Xin thưa, Việt Nam được Liên hợp quốc xếp thứ 13 thế giới về kết quả thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Đấy vi phạm nhân quyền của Việt Nam là thế đấy!
          Rõ ràng, các “nhà nhân quyền” có những phát biểu hàm hồ, không dựa trên pháp luật, mà chỉ tuyệt đối quyền con người, lảng tránh trách nhiệm công dân. Xin nhắc lại, đó là điều phi lý và không thể.





[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
[2] , 3 - Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.


Jan 25, 2014

ĐÁNG THƯƠNG CHO TRẦN KHẢI THANH THỦY


          Tre Việt - Trần Khải Thanh Thủy - người tự xưng là “nhà dân chủ, người yêu nước”, đảng viên Đảng Việt Tân đã ra khỏi Đảng Việt Tân (theo MoLang ngày 11-01-2014). Trong cơn bĩ cực, Thủy đã ngửa mặt lên trời than rằng: ra khỏi ảo ảnh rồi, khắp xung quanh mình là bao xác chết của những ước mơ không thành, những dự định bị “bỏ rơi” những lý tưởng bị bóp méo,... không việc làm (không thu nhập), không vị trí.
Ngược dòng thời gian, Trần Khải Thanh Thủy đã từng có nhiều hành động tham gia chống đối Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Năm 2007, Thủy bị Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội bắt khẩn cấp vì tội "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Tháng 02 năm 2010 Thủy bị xử tù 3 năm rưỡi vì tội cố ý gây thương tích. Sau một thời gian chịu án, Thủy được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ân xá. Ra tù, Thủy đã “bay” ngay sang Mỹ định cư, tái hợp với những “đồng chí” Việt Tân của mình; bà mang theo bao “mơ ước”, “dự định” sẽ được đảm trách một công việc nào đó, “một chức vụ nào đó” có thu nhập, cuộc sống sung túc. Song, sau thời gian, “cùng ăn, cùng ngủ, cùng chiến hào chống cộng” Thủy mới té ngửa nhận rõ chân tướng, bản chất của Việt Tân: bảo thủ, dốt nát, cơ cấu, bè phái? Toàn cỡ giám đốc ma, thi văn hợp tuyển mãnh, những ban bệ siêu lừa cả. Lãnh đạo thì toàn những kẻ “mặt dơi tai chuột, đầy háo danh, tham vọng”, “ngu dốt”. Còn Việt Tân sau khi đã vắt chanh, thấy cái “vỏ” Trần Khải Thanh Thủy cũng chẳng còn ý nghĩa gì đã làm một việc hết sức đơn giản là vất nó vào sọt rác. Trong tình cảnh ấy, Thủy đau xót mà than rằng: chẳng cái dại nào giống cái dại này. Giờ thì biết làm sao?
Thật là đáng thương cho Thủy, từng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, là một giáo viên, củng chỉ vì ngộ nhận có tài viết, tài văn chương mà đã sa vào bẫy của quỷ ác: Việt Tân, để rồi trở thành tay sai của chúng, trở thành kẻ hại dân, hại nước. Thủy từng khăng khăng cãi rằng, mình viết là vì đấu tranh cho “dân chủ”, bênh vực người dân bị “oan”. Song, không phải vậy, mà thực chất là để kiếm tiền. Mỗi bài viết của Trần Khải Thanh Thủy được các tổ chức, các báo chống cộng, như: Việt Tân, Người Việt, Thời báo,… trả từ 20, 30, 50 – 100 USD. Xem ra, công cũng cao đấy nhỉ? Hèn chi mà Thủy “say sưa” đến vậy. Thủy cũng từng leo lẻo rằng, mình là nhà đấu tranh độc lập, không dính dáng gì đến Việt Tân, nhưng thực chất Thủy đã tham gia Việt Tân từ lâu rồi. Giờ thì càng rõ cái mặt thật của các nhà “dân chủ”, là vì tiền chứ chẳng phải “vì dân” “vì nước” như họ nói.
Thật là đáng tiếc cho Thủy, là người “có ăn học”, nhưng chỉ vì mấy đồng bạc lẻ để sống qua ngày mà u mê, mông muội trở thành kẻ phản dân, hại nước, cúi mình làm tay sai cho những tổ chức chống cộng. Thủy không biết rằng, để được ăn, được học, có được trình độ, bằng cấp, học vấn đó là nhờ chế độ XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà biết bao người đã phải hy sinh xương máu, đổ mồ hôi để xây dựng nên, tạo dựng xã hội nuôi dưỡng Thủy trưởng thành. Thế mà Thủy lại “ăn cháo đá bát”. Thật là kẻ “vong ân bội nghĩa”. Người như vậy không có “đất dung thân cũng là điều dễ hiểu. Đúng là gieo nhân nào gặt quả nấy”.  

Trong tình cảnh khó khăn này, sao không thấy những người, những tổ chức đã từng tung hô Thủy, từng “đấu tranh” để bảo vệ mụ đâu nhỉ? Họ chỉ cần khi mụ còn có ích cho họ thôi. Giờ thì chắc mụ đã thấy rõ bản chất của những tổ chức, những tờ báo mệnh danh là đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền” trong nước là thế nào; thực chất, đó chỉ là những tổ chức buôn bán “dân chủ” kiếm lời thôi. Mong Thủy hãy sớm tỉnh ngộ, tránh như Bùi Tín để rồi cuối đời cô quạnh nơi đất khách, quê người. Tổ quốc Việt Nam luôn rộng lòng khoan dung. “Quay lại là bờ” ông cha ta đã dạy thế, Thủy hẳn chưa quên./.

Jan 14, 2014

Scolt Busby nói càn


Tre Việt - Sự kiện Việt Nam được 184/192 quốc gia thành viên bầu làm thành viên chính thức của Hội đồng Nhân quyên Liên Hợp quốc (khóa 2014 - 2017) được nhân dân tiến bộ trên thế giới đồng tình, ủng hộ. Đây là sự kiện thể hiện rõ vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế; thể hiện rõ Việt Nam không đã đạt được những thành tựu to lớn về đảm bảo quyền con người, quyền công dân của nước mình, mà còn thể hiện rõ Việt Nam có đủ điều kiện, trách nhiệm để góp phần xây dựng thế giới hòa bình và phát triển, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng tốt hơn. Nhưng, những tổ chức, cá nhân thù địch, những người thiếu thiện chí với Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất hằn học, họ tìm mọi cách để bôi xấu, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam và hạ thấp ý nghĩa của sự kiện này. Trong đó có Ông Scolt Busby - quyền Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, đặc trách về dân chủ, nhân quyền và lao động. Sau chuyến đến Việt Nam, ông ta đã có bài trả lời phỏng vấn trên RFA (ngày 25-11-2013), trong đó bày tỏ những cái gọi là “mục đích” và “nhận định” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Về mục đích, ông ta nói: “Mục đích thứ ba trong chuyến đi của tôi là để nói chuyện trực tiếp với các nhóm xã hội dân sự, các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam muốn cho họ biết sự ủng hộ của chúng tôi đối với họ và muốn biết cách mà chúng tôi có thể giúp họ là như thế nào”!? Hóa ra ông đến Việt Nam là nhằm tìm hiểu, hà hơi, tiếp sức cho những nhóm, cá nhân tự nhận mình là “nhà dân chủ”, sùng bái mô hình dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ, kiểu phương Tây, coi đó là “chuẩn”, là “mặc định”, đang ra sức xuyên tạc, vu cáo, phủ nhận sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm hướng sự phát triển của Việt Nam theo Mỹ và phương Tây!
Mục đích của ông thật là xấu xa, lời nói của ông thật ngang ngược, hồ đồ, phi lý. Nó thể hiện cái tâm địa, bản chất thực dân, cách nhìn thiển cận, hằn học về tình hinh nhân quyền ở Việt Nam.
Là một nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, chắc ông hiểu rõ lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên đấu tranh, đánh bại mọi ách đô hộ của bọn thực dân, đế quốc, các thế lực ngoại xâm, trong đó có “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, để thoát khỏi kiếp nô lệ, giành quyền độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay, nhân dân Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,… với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - ước vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam và nhân dân trên thế giới và đã đạt được những thành tựu to lớn, đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Việt Nam đã là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm với đại đa số các quốc gia có chủ quyền, các tổ chức quốc tế có uy tín, trong đó có Hoa Kỳ. Với tinh thần hòa hiếu, gác lại quá khứ, tôn trọng lịch sử, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích chung, hướng tới tương lai, Việt Nam đã có quan hệ đối tác toàn diện với Hoa Kỳ (do Chủ tịch nước Cộng hòa XXHCN Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama ký ngày 25-7-2013).
Đây là một sự thật lịch sử, không thể bác bỏ!
Ôi chao, cứ tưởng một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sang tìm hiểu Việt Nam là để triển khai, thực hiện ngày càng tốt hơn những tuyên bố, nội dung của mối quan hệ đối tác toàn diện mà Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống B. Obama ký, nhưng mục đích của ông lại ngược lại. Đó là nhằm “… nói chuyện trực tiếp với các nhóm xã hội dân sự, các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam muốn cho họ biết sự ủng hộ của chúng tôi đối với họ và muốn biết cách mà chúng tôi có thể giúp họ là như thế nào” -  những nhóm người, cá nhân luôn tìm mọi cách để gây rối, làm mất trật tự cộng cộng, vi phạm pháp luật và an ninh quốc gia,… Làm thế, ông đã không xứng đáng là một quan chức ngoại giao cao cấp của một Bộ danh giá như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; hơn nữa, khác nào ông đã vả vào mặt của Tổng thống B. Obama!
Ông đúng là kẻ ngang ngược, nói càn.
 Ông có biết thế nào là nhóm, cá nhân không? Chắc ông hiểu rõ. Thế tại sao ông không chịu thấy, hay không muốn thấy đại đa số nhân dân Việt Nam đang đoàn kết, chung sức, chung lòng để bảo vệ, xây dựng, hoàn thiện, phát triển quyền con người, quyền công dân mà họ đã đứng lên tự đấu tranh giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Còn những nhóm, cá nhân tự xưng, tự phong là “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” có đại diện cho đa số nhân dân Việt Nam, có đang tích cực thực hiện quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam không? Ông biết, tôi biết vậy, nhưng ông vẫn nhắm mắt nói càn là nhằm mục đích xấu.
 Với mục đích xấu như đã nói ở trên, ông Scolt Busby “nhận định”: “rõ ràng là vẫn còn những vấn đề lớn về nhân quyền đang tồn tại ở Việt Nam, người dân vẫn chưa có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận, người ta vẫn chưa hoàn toàn được quyền tự do tụ tập hay lập hội, cũng như chưa hoàn toàn được tự do thờ phụng”!? Căn cứ vào đâu mà ông nói thế? Chắc là ông căn cứ vào sự “phản ánh trung thực” của những tổ chức, những kẻ có mục đích như ông, chứ không phải từ thực tế đời sống chính trị ở Việt Nam!
Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Lời nói, đọi máu”, vì vậy, ông phải hiểu rõ ngọn ngành để phát ngôn, ăn nói cho đúng sự thật.
Dân chủ, nhân quyền là gì nhỉ, mô hình ra sao và chỉ được thực hiện ở đâu, khi có những điều kiện nào? Chắc ông nắm chắc những điều luật quốc tế, luật pháp nước Mỹ và những “thành tựu” mà nước Mỹ đã đạt được về vấn đề dân chủ, nhân quyền nhỉ. Ông có thấy, ở nước Mỹ đã và đang âm ỉ phong trào “Chiếm phố Wall” năm 2012. Khái niệm “homeless” (người vô gia cư) ra đời ở chính nước Mỹ và các nước tư bản phát triển. Hiện nay, những người vô gia cư ở Mỹ, Anh, Nhật, Pháp,… vẫn hằng ngày đi tìm công ăn việc làm, thậm chí phải xin ăn, tối đến về ngủ trong hộp carton mục nát ở các công viên hoặc những ngõ, hẻm nào đó,... Và cũng ở nước Mỹ của ông, quyền được chăm sóc y tế của người dân có được đảm bảo, khi mà đạo luật “Obama Care” do chính Tổng thống bảo trợ đang bị các thế lực cực hữu, giới nhà giàu (chiếm 1% dân số) cản trở quyết liệt? Hay, ở nước Mỹ, đến bao giờ mới hết “Tự do” giết người bằng súng? Ôi còn biết bao vấn đề khác nữa. Cũng cần nhắc lại rằng, những quốc gia có tình trạng nêu trên có thu nhập bình quân đầu người rất cao. Tuy nhiên, sự phân phối của cải ở các quốc gia này đã dẫn tới sự phân cực giàu – nghèo theo tỷ lệ: người giàu chỉ chiếm 1% dân số, nhưng nắm tới 99% của cải xã hội; còn những người nghèo chiếm 99% dân số còn lại, thì chỉ được hưởng 1% của cải xã hội. Câu trả lời thiết tưởng đã rõ ràng! Thế nên, ông hãy nên dành thời gian tìm hiểu vấn đề dân chủ, nhân quyền ở nước mình để giúp cho chính quyền Mỹ, đừng có chõ mũi, rồi nói càn.