Jun 8, 2020

Cả thế giới ghi nhận, đánh giá cao Việt Nam vậy sao Văn phòng OHCHR lại không thấy?


 Tre Việt - Ngày 03/6, Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) có báo cáo “Về tình trạng vi phạm quyền tự do biểu đạt trong mùa dịch Covid-19 ở 12 quốc gia châu Á-Thái Bình Dương”. Michelle Bachelet, lãnh đạo Văn phòng OHCHR, cho biết: các quốc gia này đã gia tăng việc bắt bớ người dân một cách tùy tiện khi họ lên tiếng chỉ trích chính phủ, hoặc chia sẻ thông tin, quan điểm cá nhân về đại dịch, với cáo buộc là loan truyền “thông tin sai lệch” trên mạng xã hội.
Đáng chú ý, khi nhắc tới Việt Nam, Văn phòng OHCHR thông báo: “Kể từ khi bắt đầu đại dịch, nhà chức trách ở Việt Nam loan báo có hơn 600 người dùng Facebook đã bị triệu tập, thẩm vấn liên quan đến việc chia sẻ thông tin về dịch bệnh trên mạng xã hội. Nhiều người trong số họ đã bị xử phạt hành chính và nhiều bài viết đã bị xóa”. Văn phòng OHCHR cho biết thêm rằng: tính đến thời điểm này, có ít nhất 2 người ở Việt Nam bị tuyên án hay khởi tố hình sự với mức án 9 tháng tù giam và phạt hành chính hơn 1.000 đôla vì đăng tải thông tin bị cho là “sai lệch” về dịch Covid-19, v.v.
Thay vì lên tiếng ủng hộ và khen ngợi những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong phòng, chống đại dịch Coovid-19, bản báo cáo lại có những thông tin xuyên tạc sai sự thật, ảnh hưởng lớn tới uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những vấn đề mà Văn phòng OHCHR nhắc tới là việc thái độ nghiêm khắc của chính quyền Việt Nam khi xử lý các đối tượng đưa tin sai sự thật về dịch Covid-19. Việc xử lý, thậm chí là xử lý hình sự với các trường hợp này là hết sức cần thiết, bởi lẽ, việc đưa tin sai sự thật, tung tin đồn thất thiệt không chỉ làm nhiễu loạn thông tin, tạo tâm lý hoang mang mà còn gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch Covid-19.
Tre Việt thấy rằng, thời gian qua, trong bối cảnh cả nước đang căng mình phòng, chống dịch, rất nhiều các đối tượng đã lợi dụng sự quan tâm của người dân đối với những diễn biết phức tạp của dịch bệnh ở trong nước cũng như thế giới, chúng thiết lập nhiều trang mạng, hội nhóm, tài khoản Facebook,… để tán phát, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, kích động về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam; đưa ra các thông tin gây sốc về số người chết do nhiễm Covid-19 tại Việt Nam, hướng dẫn cách chữa trị tại nhà như uống rượu, tắm cây sả,… từ đó kêu gọi tự chữa bệnh tại nhà, tẩy chay hướng dẫn khuyến cáo của Bộ Y tế. Ngoài ra, lợi dụng “khoảng trống thông tin” trên các trang mạng chính thống, chúng còn lồng ghép các thông tin xuyên tạc bịa đặt, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Nhiều trường hợp do thiếu hiểu biết đã góp nhặt, chia sẻ nhiều thông tin sai sự thật, thậm chí là thông tin của các trang mạng phản động trên trang Facebook cá nhân, vô tình tiếp tay cho việc lan truyền thông tin sai sự thật trên không gian mạng. Những thông tin trên gây hoang mang dư luận, khiến cho người dân hoảng loạn, đổ xô đi tích trữ hàng hóa, thực phẩm, thuốc men, chạy trốn khỏi vùng dịch, gây rất nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch của địa phương và các cơ quan chức năng. Vì vậy, nếu như chúng ta không xử lý nghiêm, có sức răn đe, thì hậu quả của nó sẽ rất lớn. Chúng ta thấy rằng, trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và Quân đội đã quyết liệt chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh với tinh thần: “chống dịch như chống giặc”, “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của toàn dân; cùng với những quyết định nghiêm khắc như thế, bước đầu Việt Nam đã đẩy lùi đại dịch, tránh được sự tàn phá khủng khiếp do dịch Covid-19 gây ra; trở thành điểm sáng của thế giới trong phòng, chống dịch Covid-19 thời gian vừa qua.
Từ những phân tích ở trên, Tre Việt thấy rằng, Văn phòng OHCHR thay vì “bới vết tìm sâu”, cố xuyên tạc, nhìn nhận thiếu khách quan để làm giảm uy tín và những thành công của Việt Nam trong cuộc chiến chống dịch Cooovid-19, hãy lo lắng cho số phận của hàng triệu người dân Mỹ trong cuộc biểu tình, đang bị tước bỏ quyền con người, quyền công dân từ hệ lụy của nạn phân biệt chủng tộc gây ra. Đó mới đúng thực chất của một tổ chức nhân quyền.


Jun 7, 2020

Bị “mù”!



          Tre Việt - Ngày 04/06/20200, trên trang mạng Chân trời mới Media- Âu Châu có bài viết: “ĐCSVN có yêu nước không? và yêu nước là gì?” của Phạm Phú Khải. Trong bài viết này, ông ta cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “chỉ phá hoại đất nước về mọi mặt hơn 80 năm qua, làm kiệt quệ tinh thần và niềm tin của bao thế hệ vào tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam”(!).
          Cần phải khẳng định ngay rằng, đây là nhận định của một kẻ chống cộng, chống Việt Nam cực đoan, luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnh đạo đất nước hơn 80 năm qua. Y không thấy (chịu thấy), hay bị “mù”?
          Cả lý luận và thực tiễn, đã chứng minh rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm tất yếu khách quan. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa lý luận Mác Xít, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đó là Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Trong hoạt động, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Đảng và các đảng viên của Đảng không có mục đích nào khác là vì nước, vì dân, vì khát vọng độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, dân chủ, văn minh của dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới. Vì thế, ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra cương lĩnh, đường lối chính trị, phương pháp, hình thức tổ chức tập hợp lực lượng, đấu tranh cách mạng phù hợp, nên được nhân dân Việt Nam tin tưởng, trao quyền lãnh đạo và nguyện đoàn kết, một lòng đi theo Đảng để đấu tranh, đánh đổ áp bức, cường quyền, giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc, đất nước và chính mình.
          Với tinh thần khiêm tốn, nhân dân Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới luôn tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam.
          Năm 1945, khi mới 15 tuổi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh đổ ách thống trị hàng ngàn năm của giai cấp phong kiến thối nát và hơn 80 năm của thực dân Pháp. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đất nước Việt Nam có tên trên bản đồ thế giới. Người dân Việt Nam được giải phóng khỏi ách áp bức, nô lệ của chế độ thực dân, phong kiến, giành được quyền làm người, quyền quyết định vận mệnh của dân tộc và chính mình. Đất nước mới giành được độc lập, tự do, với biết bao khó khăn, thách thức nghiêm trọng, đặc biệt thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, nhằm biến đất nước ta thành thuộc địa, đặt ách nô lệ lên nhân dân ta một lần nữa. Nền độc lập của dân tộc, quyền tự do, dân chủ của nhân dân bị đe dọa. Nhân ta quyết không chịu. Dân tộc Việt Nam lại đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để vừa “kháng chiến, vừa kiến quốc”, bảo vệ nền độc lập, tự do. Trải qua 9 năm kháng chiến trường kỳ, năm 1954, bằng chiến thắng “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” - Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam đã đánh tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước. Những tưởng đất nước Việt Nam đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất, nhưng không đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam, xây dựng chính quyền bù nhìn, âm mưu xâm lược đặt ách nộ lệ kiểu mới trên đất nước ta.
          Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại tin tưởng trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo toàn dân đứng lên để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” để Nam Bắc xum họp, đất nước thống nhất, hòa bình. Trải qua 21 năm, với biết bao đâu thương, mất mát, năm 1975, “Mỹ đã cút, ngụy đã nhào” dân tộc, đất nước Việt Nam giành được độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên làm cuộc cách mạng mới, cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng, các thế lực bành trướng, bá quyền nước lớn và chế độ diệt chủng Pon Pốt lại một lần nữa âm mưu xâm chiến bờ cõi. Từ năm 1975 đến năm 1989, dân tộc Việt Nam lại phải vừa chống quân bành trướng bá quyền nước lớn ở phía Bắc, vừa tiến hành cuộc tự vệ ở biên giới phía Tây Nam Tổ quộc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
          Năm 1986, trước những biến cố lớn lao của thời cuộc, nước Việt lại một lần nữa đổi mới để phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đến nay, sau gần 35 năm đổi mới, Việt Nam đã có thế và lực hoàn toàn mới. Việt Nam không chỉ là một thành viên của Liên hợp quốc, của ASEAN và nhiều tổ chức có uy tín trên tế giới, mà là một thành viên có trách nhiệm, vì hòa hợp, hòa giải, hòa bình và phát triển trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới. Việt Nam từ một đất nước nô lệ, đói nghèo, vươn lên trở thành một nước có thu nhập trung bình trên thế giới, v.v. Vì thế, nhân dân Việt Nam luôn tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức chính trị của những người cộng sản, nhân dân lao động và cả dân tộc, đã dẫn dắt để đất nước Việt ta có ngày hôm nay. Trong chống dịch Covid-19, Việt Nam trở thành điểm sáng được các tổ chức quốc tế, các quốc gia ngợi ca. Đó chẳng phải thành quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, điều hành của Chính phủ Việt Nam đó sao? Thế mà Phạm Phú Khải lại cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không làm được gì là sao?
          Xin hỏi, nếu không vì nước, vì dân thì làm sao có những thành tựu như vậy?
          Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là thực tế khách quan, ai cũng thấy, chỉ có Phạm Phú Khải không thấy mà thôi. Vì thế nói Y bị “mù” chẳng sai chút nào!./.

Jun 6, 2020

Vài tổ chức Tin lành có nguồn gốc từ Hàn Quốc hoạt động phức tạp về an ninh, trật tự ở nước ta thời gian qua



Tre Việt đã có bài tổng quan về Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động ở Việt Nam, xin tiếp tục giới thiệu vài tổ chức Tin lành có nguồn gốc từ Hàn Quốc hoạt động gây mất an ninh,  trật tự ở nước ta thời gian qua để bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn, nâng cao cảnh giác.
“Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Đây là tổ chức đã được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập nhiều trong thời gian qua. Nay Tre Việt tổng quan để bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn. “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ” thuộc tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành thế giới” có trụ sở tại Hàn Quốc. Tổ chức này coi ông Ahn Sahng Hong là “Đức Chúa Trời Cha” và bà Jang Gil Ja là “Đức Chúa Trời Mẹ”, không tổ chức lễ Giáng sinh, không thờ cây thánh giá, trong hình thức sinh hoạt có nhiều điểm mang yếu tố mê tín dị đoan, bất minh về tài chính và việc thu tiền của người tin theo. “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ” bị các tổ chức Tin lành chính thống ở Hàn Quốc “tẩy chay” và coi tổ chức này là tà giáo. Từ năm 2014-2017, nhiều gia đình tại Hàn Quốc và một số tín đồ rời bỏ tổ chức này đã gửi đơn tố cáo, khiếu kiện tổ chức này gây chia rẽ, phá vỡ hạnh phúc gia đình, lừa đảo, trốn thuế.
Tại Việt Nam, giáo phái này xuất hiện từ năm 2001 nhưng đến năm 2016 mới bắt đầu phát triển mạnh. Tổ chức này đã sử dụng nhiều cách để truyền giáo một cách trái pháp luật, như: phân công người đi các địa phương truyền đạo, sử dụng danh nghĩa công ty kinh doanh, giới thiệu việc làm để truyền giáo và đã lôi kéo được khoảng 5.000 người tham gia. Từ năm 2017 đến 2018, tổ chức này phát triển mạnh tại Việt Nam và có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất an ninh, trật tự. Phần lớn hoạt động của tổ chức này có nhiều mặt tiêu cực, trái với phong tục, tập quán, đạo đức xã hội Việt Nam, có biểu hiện mê tín dị đoan, lợi dụng giáo lý để trục lợi cá nhân. Hoạt động của tổ chức này đã gây ra dư luận xấu tại Việt Nam. Nhiều gia đình có vợ, chồng, con đi theo tổ chức này đã gửi đơn tố cáo đến các cấp chính quyền đề nghị cấm tổ chức này hoạt động do bức xúc trước việc người thân của họ sau khi theo tổ chức này bỏ bê công việc, vợ chồng mâu thuẫn, ly hôn, sinh viên bỏ học, v.v.
Giáo phái Tân Thiên Địa
Giáo phái Tân Thiên Địa bắt nguồn từ Hàn Quốc, do ông Lee Man Hee sáng lập năm 1984 và tổ chức này coi ông Lee Man Hee là Đấng Giê Su thứ hai được đề cập trong Kinh thánh và sẽ mang tín đồ lên Thiên Đàng cùng mình vào “ngày phán xét”. Những người theo tổ chức này đều tin Lee Man Hee là bất tử; thời đại của Lee Man Hee là dấu hiệu của ngày tận thế nên phải tin Lee Man Hee thì mới thoát khỏi đại nạn và không bị phán xét. Các tín đồ của tổ chức cũng là người được Chúa lựa chọn, để có được cuộc sống vĩnh cửu, các tín đồ không được coi trọng gia đình, phải tập trung vào nhà thờ, có thể từ bỏ luật pháp, luân lý, đạo đức, gia đình và cả thể xác nhưng phải tin tưởng và tuyệt đối chấp hành các quy định của giáo phái.
Tổ chức này hoạt động lén lút, bí mật; thường lấy danh nghĩa của các tổ chức phúc lợi công cộng, hỗ trợ nhân đạo để truyền giáo, lôi kéo tín đồ của các tổ chức Tin lành hợp pháp. Những người sau khi tin theo phải đóng 40% thu nhập cá nhân, hoàn thành các chỉ tiêu tuyển thành viên hằng năm, nếu không sẽ bị phạt. Tổ chức này thường lấy phương thức tác động tư tưởng, lấy “ngày tận thế” để hù dọa, ràng buộc tín đồ. Tại Hàn Quốc các tổ chức Tin lành chính thống tẩy chay tổ chức này và coi nó là tà giáo. Nhiều tín đồ Tân Thiên Địa tìm cách bỏ giáo phái do không chịu được giáo lý cực đoan, nghi lễ hà khắc, nhất là việc khuyến khích tín đồ nói dối, từ bỏ gia đình để đi theo giáo chủ. Đáng chú ý thời gian gần đây, liên quan đến đại dịch Covid-19 tại Hàn Quốc, nhiều tín đồ Tân Thiên Địa mang tư tưởng nhiễm virus nhưng không đến bệnh viện mà đến nhà thờ xin tha tội và chữa bệnh. Điều này khiến bệnh dịch tại Hàn Quốc lây nhiễm phức tạp (khoảng 60% ca lây nhiễm liên quan đến tổ chức Tân Thiên Địa). Ngày 01/3/2020, chính quyền thành phố Seoul đã đề nghị khởi tố Ban lãnh đạo Tân Thiên Địa với các cáo buộc giết người, cố ý gây thương tích, vi phạm phòng ngừa bệnh truyền nhiễm.
Tre Việt giới thiệu vài nét thế để mọi người biết và tránh xa các tổ chức này./.


Vài nét về các tổ chức Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động ở Việt Nam



Tre Việt - Các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị ở Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực. Trên lĩnh vực tôn giáo, chiến lược “Diễn biến hòa bình” được cụ thể hóa thành nhiều nội dung cụ thể, trong đó hoạt động lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo gắn với vấn đề nhân quyền và dân chủ được coi là một trọng điểm, một khâu đột phá, một mũi tiến công thường trực và xuyên suốt. Trong đó, lợi dụng Tin lành để chống phá là một trọng điểm. Tre Việt giới thiệu một số nét về các tổ chức Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động ở nước ta để bạn đọc nâng cao cảnh giác.
Đến tháng 4/2019, Việt Nam có hơn 1,12 triệu người theo đạo Tin lành, trong đó có trên 855.000 người của hơn 40 dân tộc thiểu số, đông nhất là các dân tộc Mông (270.000 người), Êđê (124.000 người), Jrai (99.000 người), K’ho (67.000 người), S’Tiêng (60.000); dân tộc Xuồng được cho là dân tộc mới có người mới theo đạo. Có 10 tổ chức Tin lành có pháp nhân, 3 tổ chức được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và khoảng 70 tổ chức, nhóm Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động; 2.253 chức sắc, 6.851 chức việc, 757 tổ chức tôn giáo trực thuộc, 576 nhà thờ, 5.456 điểm nhóm (3.309 điểm nhóm đã được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, chiếm 60,64%); khoảng 8.500 người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tại 49 điểm nhóm. Trong số 70 tổ chức đạo Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động có gần 200.000 tín đồ; trong đó, có không ít các tổ chức Tin lành du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam. Các tổ chức này không có cơ sở thờ tự; chức sắc chủ yếu do tự phong và khác nhau về tiêu chuẩn; nhiều tổ chức khai trình có cả trăm ngàn tín đồ, có nhóm chỉ có vài chục người; trụ sở chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng địa bàn hoạt động chủ yếu thuộc khu vực Tây Nguyên, miền núi phía Bắc; quan hệ quốc tế đa dạng.
Sự xuất hiện của các tổ chức Tin lành nước ngoài tại Việt Nam xuất phát từ nhiều lý do như: sự mở cửa hội nhập của đất nước, sự mở rộng giao lưu văn hóa, sự tìm kiếm và phát triển tới các địa bàn mới (trong đó có Việt Nam) của các tổ chức Tin lành nước ngoài, v.v. Đa số các tổ chức hoạt động khá tự do, chấp hành pháp luật ở mức thấp (vì chưa được công nhận), sinh hoạt chủ yếu theo điểm nhóm, do không có nhà thờ nên sinh hoạt chủ yếu tại các tư gia, địa điểm công cộng (nhà hàng, khách sạn, công viên...). Nhiều tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo đã hoạt động truyền đạo trái pháp luật, sinh hoạt đạo trái pháp luật, v.v. Một số tổ chức Tin lành (chủ yếu có nguồn gốc từ Hàn Quốc) có hệ thống giáo lý không đúng Kinh thánh, lễ nghi và tín lý trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, như: “Hội thánh của Đức Chúa trời Mẹ”, “Ân điển cứu rỗi”, “Cây táo”, v.v. có biểu hiện mê tín dị đoan, gây chia rẽ gia đình, xã hội, xung đột với các hội thánh Tin lành truyền thống, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự. Nhiều tổ chức Tin lành nước ngoài hoạt động lén lút, bí mật, lợi dụng danh nghĩa các công ty, tổ chức giáo dục, đào tạo, NGO để tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật.
Tre Việt giới thiệu vài nét thế để bạn đọc biết đề cao cảnh giác, không mắc mưu của các tổ chức này./.


Jun 3, 2020

Càng bới móc, xỏ xiên, thành công của Việt Nam càng nổi bật



Tre Việt - Ngày 02/6/2020, kênh VOA tiếng Việt có bài: “Nhà nước độc Đảng chống giặc COVID: Câu chuyện thành công ít được chú ý của Việt Nam”. Mặc dù bài viết đã ít nhiều ca ngợi thành công của Việt Nam trong việc phòng, chống đại dịch COVID-19, song vẫn có ý mỉa mai, xỏ xiên về những biện pháp phòng, chống dịch của Việt Nam, khi cho rằng: “thành công của Việt Nam có được là nhờ những biện pháp mạnh tay”, “nhờ sự độc đoán của chính quyền,…”, v.v.
Trước hết, cần khẳng định ngay rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và chính quyền các cấp luôn luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và sức khỏe của nhân dân. Chính vì thế, ngay khi đại dịch bùng phát, chúng ta đã xác định “chống dịch như chống giặc” và huy động sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn dân để ngăn chặn, hạn chế sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng, để sớm khống chế, đẩy lùi dịch bệnh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội và sức khỏe của nhân dân. Nhờ đó, đến nay, có thể tự hào nói rằng, Việt Nam đã khống chế, đẩy lùi đại dịch COVID-19. Việt Nam là quốc gia vừa có tình hình sức khỏe cộng đồng cùng tình hình kinh tế - xã hội tốt nhất trong phòng chống dịch; là quốc gia đông dân nhất chưa ghi nhận bất kỳ trường hợp tử vong nào do COVID-19. Thành công của Việt Nam trong phòng chống dịch đã mang lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc và sức khỏe của nhân dân. Việt Nam là quốc gia đi đầu thế giới trong việc đẩy lùi dịch bệnh, bắt tay vào phát triển kinh tế - xã hội, ổn định cuộc sống nhân dân theo trạng thái bình thường mới. Điều này chứng tỏ, Việt Nam đã hành động đúng với những biện pháp phù hợp, hiệu quả.
Những biện pháp, cách làm trong phòng, chống dịch của Việt Nam còn được các tổ chức quốc tế khảo sát, thăm dò, đánh giá một cách khách quan. Theo kết quả của cuộc khảo sát toàn cầu, do cơ quan nghiên cứu xã hội hàng đầu của Singapore Blackbox Research và công ty Toluna thuộc Tập đoàn ITWP chuyên thu thập dữ liệu nghiên cứu thị trường tiến hành thì: Việt Nam đứng thứ hai thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á về mức độ hài lòng của người dân đối với các biện pháp của Chính phủ trong việc phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19. Đây chính là câu trả lời thỏa đáng cho cả thế giới biết rằng: Việt Nam có mạnh tay, có độc đoán hay không?
Hơn thế nữa, không những làm tốt việc phòng, chống dịch ở trong nước mà Việt Nam còn ủng hộ vật tư, trang thiết bị y tế cho các nước bạn bè; chuyển hướng sản xuất phù hợp, như: khẩu trang, đồ bảo hộ,… góp phần bổ sung, khắc phục tình trang khan hiếm, thiếu nguồn cung trang thiết bị y tế trong phòng, chống dịch trên thế giới, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Vì thế, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao là điều không thể phủ nhận.
Chỉ những thế lực vốn có thâm thù với chế độ, nhân dân Việt Nam mới cho rằng các biện pháp của Đảng, Nhà nước ta là mạnh tay, là độc đoán mà thôi. Bởi, bản chất của chúng là luôn tìm mọi cách để xỏ xiên, bới móc, chống phá. Nhưng hành động đó sẽ trở nên vô nghĩa và càng làm nổi bật thêm thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19./.

May 27, 2020

Sao dễ thay đổi?



Tre Việt - Ông C. gần nhà tôi bảo: Chú cần thông tin gì cứ đi bộ với các cụ hưu chúng tôi sẽ nghe được mọi chuyện, chả phải đi đâu xa. Nghe có lý. Chiều ấy, tôi tham gia đi bộ cùng các cụ, vừa đi bộ vừa nói chuyện rôm rả. Đủ thứ chuyện từ nhà ra thế giới, có tất. Từ chuyện ông hàng xóm thả rông gia súc gây mất vệ sinh, tay Y. trông to khỏe thế mà mới bị bệnh đái tháo đường, chuyện sắp tới đại hội đảng ông này nghỉ ông kia lên thay, v.v. Khi nói đến chuyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với tấm gương hiến đất làm đường giao thông của ông M ở tỉnh X, ông B. lên tiếng các ông ạ: từ khi thực hiện Chỉ thị 03 rồi đến Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tình hình có nhiều chuyển biến tích cực. Bầu không khí xã hội trong lành hơn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, thái độ, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức được nâng lên. Nó được biểu hiện bằng việc làm cụ thể, thiết thực trong công việc, trong đời sống thường ngày; đặc biệt việc phòng, chống tham nhũng cũng vì thế giảm đáng kể, ai cũng  mừng.
Ông B. vừa dứt lời thì ông T. lên tiếng: các ông lại nói theo báo cáo rồi, thực tế còn lâu mới được như thế. Hồi còn công tác tôi biết, hầu hết là làm hình thức, chiếu lệ, cán bộ, đảng viên nào hằng năm chả đăng ký học tập và làm theo Bác, nhưng đăng ký xong cất trong ngăn tủ; rồi thì hằng tháng tại buổi sinh hoạt chi bộ, đảng viên tự đánh giá làm được gì, chưa làm được gì nhưng thử hỏi nơi nào làm được như thế, các ông chỉ cho tôi xem! Nói cho hay thôi. Nói thật nhá, ngày còn công tác tôi cũng thế, không thế cấp trên kiểm điểm, dại gì. Tình trạng tham nhũng, lãng phí càng chống càng phát triển mạnh, lãnh đạo to ăn to, lãnh đạo bé ăn bé. Cơ chế này không chống được đâu.
Nghe tới đây, ông H. lên tiếng: anh nói cũng có phần đúng. Tôi cũng nghĩ rằng còn có nơi làm chưa tốt, còn có cán bộ, đảng viên chưa xem việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là việc làm có ý nghĩa thiết thực. Nhưng phải khẳng định rằng, việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị là có hiệu quả rõ rệt trong Đảng, trong xã hội. Những điều như ông nói chỉ là số ít. Còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, Đảng ta đã làm quyết liệt, không có vùng cấm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói “lò đang nóng, củi tươi cũng cháy”. Bằng chứng là hàng loạt lãnh đạo cấp cao, kể cả Ủy viên Bộ Chính trị cũng bị xử lý bằng pháp luật. Vậy nên, không vì một vài nơi thực hiện chưa tốt mà lại “vơ đũa cả nắm” ông ạ!.
Ông P. thêm vào: trước đây, tôi đã được nghe ông phát biểu tại nhiều hội nghị về học và làm theo Bác, nhiều người khen hay và có sức thuyết phục lắm. Soi vào, tôi cũng thấy ngày ấy ông nói đúng thực tế đang diễn ra. Về tình hình tham nhũng, cũng chính ông đưa ra bao nhiêu dẫn chứng thể hiện quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Thế mà giờ ông mất niềm tin, đã thế nói giọng tiêu cực, ngược lại hoàn toàn khi đang công tác. Tôi chỉ là đảng viên thường, chả có chức sắc gì, nhưng tôi nghĩ, dù chúng ta nghỉ hưu rồi, trách nhiệm của đảng viên với Đảng, với Nhân dân thì không thể thay đổi, nếu không muốn nói là phải gương mẫu để quần chúng học tập, noi theo, sao có thể tùy tiện nói thế nào cũng được, nhất là vấn đề mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực thực hiện trong nhiều năm qua. Thử hỏi quần chúng nghe được họ sẽ nghĩ như thế nào về chúng ta? Họ sẽ mất niềm tin vào cán bộ, đảng viên, nguy hại hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước. Vì thế, dù nghỉ hưu thì chúng ta vẫn phải chuẩn mực từ lời nói đến hành động phải không ông?
Kết thúc buổi đi bộ cùng các cụ hưu, trong tôi nỗi buồn, niềm vui đan xen. Buồn vì có những cán bộ, đảng viên khi còn đương chức nói một đằng, khi nghỉ hưu lại nói nẻo khác. Đó chính là biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Vui, bởi vẫn còn nhiều đảng viên dám thẳng thắn đấu tranh với những quan điểm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc ngay với những người bên cạnh mình chứ chẳng phải đâu xa./.

May 15, 2020

Cán bộ tốt hay xấu phụ thuộc chủ yếu vào quá trình tự rèn luyện của bản thân



Tre Việt - Nhân sự kiện ông Nguyễn Văn Hiến, nguyên Tư lệnh Quân chủng Hải quân ra hầu tòa, trên VOA tiếng việt, Trân Văn cho rằng, cán bộ xấu - tất cả đều là do công tác cán bộ của Đảng (!). Rồi đặt vấn đề: Khi cán bộ vi phạm thì sai ở cán bộ hay công tác cán bộ? Trả lời câu hỏi này, Tre Việt có mấy ý thế này.
Bác Hồ nói “cán bộ là gốc của mọi công việc”, điều này đúng cho mọi thời đại, mọi tổ chức, quốc gia. Vậy, làm thế nào để có cán bộ tốt đã và đang là vấn đề trăn trở của bất kỳ hệ thống chính trị, kinh tế nào trên thế giới. Trong lĩnh vực này, chúng ta cần phân định rõ 2 vấn đề là: cán bộ tốt và chọn được cán bộ tốt. Chọn được cán bộ tốt là quá trình tìm nhân sự đủ điều kiện để đề bạt, bổ nhiệm vào các vị trí theo yêu cầu công việc. Đây là một quá trình dài và phức tạp, phụ thuộc rất nhiều yếu tố, trọng tâm là quy trình công tác cán bộ và chất lượng tổ chức thực hiện quy trình này. Cán bộ tốt là những người hoàn thành tốt hoặc xuất sắc nhiệm vụ được giao (đúng theo bảng mô tả công việc) và phải có đủ những đức tính “cần, kiệm, liêm, chính, chí, công, vô, tư”. Do đó, có thể khẳng định rằng:
Một là, cho tới nay, công tác cán bộ của Đảng, Nhà nước là hết sức chặt chẽ, khoa học. Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, Đảng, Nhà nước ta luôn đặc biệt coi trọng công tác cán bộ, làm cơ sở để chọn được những cán bộ tốt mang lại hạnh phúc, no ấm cho Nhân dân. Do đó, Đảng, Nhà nước, Chính phủ đã có hàng trăm nghị quyết, quy định, luật, thông tư về công tác này, như: Quy định số 89-QĐ/TW ngày 04/8/2017, Quy định số 98-QĐ/TW ngày 07/10/2017, Quy định số 105-QĐ/TW ngày 19/12/2017, Quy định số 132-QĐ/TW ngày 08/3/2018, Quyết định 179-QĐ/TW ngày 25/2/2019… của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị về công tác cán bộ; Luật Cán bộ, công chức số 22/2008/QH12; Nghị định số 24/2010/NĐ-CP ngày 15/3/2010 quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức. Mới đây là Quy định số 205-QĐ/TW ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị, về tiêu chuẩn chức danh cán bộ cấp cao và kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, v.v. Để tổ chức thực hiện chính xác và hiệu quả, quy trình công tác cán bộ được chia thành các khâu gồm: 1- đánh giá; 2- quy hoạch; 3- đào tạo, bồi dưỡng; 4- luân chuyển, điều động; 5- bố trí, sử dụng (bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, bầu cử, giới thiệu ứng cử, chỉ định, phân công phụ trách, miễn nhiệm...); 6- quản lý; 7- khen thưởng, kỷ luật cán bộ; 8- thực hiện chính sách đãi ngộ; 9- kiểm tra, giám sát;10- bảo vệ chính trị nội bộ;11- giải quyết khiếu nại, tố cáo về cán bộ; 12- kiện toàn tổ chức, nâng cao chất lượng cán bộ làm công tác cán bộ.
Hai là, chọn nhầm cán bộ là do chất lượng tổ chức thực hiện quy trình. Các khâu của công tác cán bộ là một thể thống nhất, có quan hệ chặt chẽ, mật thiết với nhau, tác động, thúc đẩy lẫn nhau; nếu một khâu nào đó thực hiện chưa tốt, không đúng quy trình sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến các khâu khác và kết quả chung của công tác cán bộ. Trong 12 khâu trên, các khâu 1, 2, 4 ,5 rất nhạy cảm, rất dễ bị tác động, làm sai, diễn giải theo ý kiến chủ quan của một số ít người làm ảnh hưởng đến chất lượng tuyển chọn. Xét về những tồn tại ở 4 khâu nhạy cảm, trước hết, việc đánh giá cán bộ đòi hỏi cái nhìn toàn diện, lâu dài, song người đánh giá không có điền kiện đó; người được đánh giá thường cố tạo hình ảnh tốt hơn thực tế, dễ gây hiểu lầm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhắc nhở: “Đừng thấy đỏ tưởng là chín” là vì thế. Quy hoạch cán bộ bị chi phối bởi tâm lý “tất cả cùng thắng”, nhiều khi thấy việc quy hoạch là dài hạn, quy hoạch còn có sự rà soát hằng năm, muốn việc quy hoạch phải “mở”,… nên tiến hành khá dễ dãi, thiếu chặt chẽ. Điều động, luân chuyển cán bộ rất thuận lợi cho việc bố trí, bổ nhiệm và sử dụng ở vị trí cao hơn; đồng thời, cán bộ được điều động, luân chuyển sẽ thuận lợi hơn rất nhiều cán bộ khác trong việc xem xét bổ nhiệm vào cùng một ví trí quy hoạch nên dễ bị lợi dụng và tác động. Cuối cùng, việc bố trí, sử dụng cán bộ có tính chất quyết định nhất của việc chạy chức, đây là  đích đến của quá trình mua chức, là khâu đem lại nguồn lợi bất chính lớn nhất cho những người làm công tác cán bộ; do đó, là khâu có tính phức tạp cao, bị công phá mạnh. Những tồn tại đó cho thấy sự cam go, đấu tranh khốc liệt trong tổ chức thực hiện công tác cán bộ.
Ba là, cán bộ tốt hay xấu phụ thuộc chủ yếu vào quá trình tự rèn luyện của bản thân. Vì việc tìm người, giả sử đã chọn đúng người thì họ có trở thành cán bộ tốt hay không lại phụ thuộc phần lớn vào bản thân người đó. Có người cố gắng rèn luyện vươn lên, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân giao phó; có người bị chính “cái ghế” của mình làm hại, tự diễn biến, tự chuyển hóa để trở thành người xấu, rơi vào vòng lao lý. Những cán bộ tiền khởi nghĩa, trong cách mạng là những tấm gương tiêu biểu về cán bộ tốt, mặc dù việc tuyển chọn hết sức thô sơ, đơn giản; những cán bộ vi phạm kỷ luật trong thời kỳ đổi mới cho thấy, họ trải qua quá trình tuyển chọn ngặt nghèo nhưng vẫn bị tha hóa, hư hỏng. Họ đã bị “cái ghế” của mình làm hỏng. Do đó, Đảng ta đã ban hành và triển khai thực hiện sâu rộng Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng, đã và đang thu được nhiều kết quả tích cực.
Quy trình là cứng, là tĩnh người thực hiện là mềm, là động; xấu tốt phần lớn là ở bản thân con người. Không thể nói: cán bộ xấu là do công tác cán bộ./.

May 13, 2020

Đòi tam quyền phân lập – Mục tiêu là gì?

Tre Việt - Từ sự kiện giám đốc thẩm vụ án Hồ Duy Hải, Luật sư Nguyễn Văn Đài, đang sống ở Đức, nói với BBC News Tiếng Việt hôm 06/5/2020: “Có tam quyền phân lập, có tư pháp độc lập mới mong giảm hay chấm dứt được các vụ án xét xử oan sai ở Việt Nam”. Quan điểm này không phù hợp.
Thứ nhất, mô hình tam quyền phân lập không phù hợp với Việt Nam. Lịch sử cho thấy, ở bất kỳ quốc gia nào, quyền lực của Nhà nước là hành pháp, lập pháp, tư pháp thường được phân chia cho 3 cơ quan nắm giữ. Các cơ quan này thường hoạt động theo mô hình được nhắc đến nhiều là: tam quyền phân lập. Tuy nhiên, sự độc lập chỉ là tương đối; trên thực tế, không tồn tại nhà nước nào hoàn toàn phân lập quyền lực; quyền hạn và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước thường chồng lấn lên nhau, có quan hệ chồng chéo phức tạp, có sự mâu thuẫn, cạnh tranh, không tách rời. Hiện nay, trong tổ chức bộ máy nhà nước, nguyên tắc phân quyền được áp dụng ở các nước không hoàn toàn giống nhau. Những nước theo chế độ cộng hòa tổng thống thường áp dụng triệt để nguyên tắc phân quyền theo quan điểm của tam quyền phân lập. Trong khi đó các nước theo chính thể cộng hòa đại nghị hoặc quân chủ đại nghị thường áp dụng nguyên tắc phân quyền mềm dẻo hơn.
Ở Việt Nam, Điều 2, Hiến pháp 2013 chỉ rõ quyền lực Nhà nước là thống nhất, thuộc về Nhân dân. Do đó, về nguyên tắc,quyền lực này không chia sẻ cho cá nhân hay tổ chức nào khác. Về bản chất, các cơ quan nhà nước khi thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là thực hiện các quyền của Nhân dân giao phó, ủy quyền. Ba cơ quan lập pháp, hành pháp và tư pháp đều có mục đích duy nhất là phục vụ Nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo toàn diện của Đảng. Điều 69, Hiến pháp 2013 quy định: Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp, quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước và giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước. Như vậy, về bản chất quyền lực của Nhân dân không thể phân chia. Nhà nước Việt Nam không cần tới mô hình tam quyền phân lập bởi sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp vì mục tiêu phục vụ Nhân dân được bảo đảm và thực hiện tốt.
Theo Điều 4, Hiến pháp 2013, Đảng Cộng sản Việt Nam là đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc; Đảng gắn bó mật thiết với Nhân dân, phục vụ Nhân dân, chịu sự giám sát của Nhân dân, chịu trách nhiệm trước Nhân dân về những quyết định của mình. Do đó, việc Đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội chính là thực hiện chức năng, nhiệm vụ mà nhân dân giao phó; đồng thời là cơ sở để giải quyết các mâu thuẫn trong quá trình hoạt động của các cơ quan thi hành quyền lực nhà nước.
Hai là, án oan, sai không phải xuất phát từ việc không có tam quyền phân lập. Quá trình điều tra, thu thập chứng cứ, xét xử các vụ án là vô cùng phức tạp phụ thuộc vào nhiều nguyên nhân chủ quan, khách quan, văn hóa, xã hội, điều kiện lịch sử các quốc gia, dân tộc,… và sự phát triển của kỹ thuật hình sự. Do đó, chỉ cần tìm trên internet, chúng ta thấy trên thế giới đầy rẫy những vụ án thực hiện không đúng người, đúng tội. Tất cả các nước đều cố gắng phát triển, cải cách tư pháp để giảm thiểu những oan, sai trong quá trình làm án. Bộ Chính trị khóa IX đã ban hành Nghị quyết số 49-NQ/TW, ngày 02/6/2005 và Kết luận số 92-KL/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 là để xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật liên quan đến tổ chức và hoạt động tư pháp, góp phần bảo vệ quyền lợi của nhân dân. Vụ án Hồ Duy Hải trải qua 12 năm là do những tình tiết phức tạp của nó, nhưng trên hết vẫn là sự thận trọng của các cơ quan tư pháp, là trách nhiệm của Chủ tịch nước, Quốc hội và các cấp thực hiện đối với tính mạng một con người, thể hiện sự ưu việt của chế độ ta.
Đòi tam quyền phân lập chỉ là cái cớ để loại bỏ sự lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nước và xã hội Việt Nam, không phải vì Nhân dân./.

Vạch mặt thói hàm hồ


                                             
Tre Việt - Một trong những nội dung chính của Hội nghị lần thứ 12, Ban Chấp hành Trung ương Đảng, khóa XII đang diễn ra là bàn và quyết định về phương hướng công tác nhân sự Ban Chấp hành Trung ương khóa XIII sắp tới. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch đã đăng tải nhiều bài viết tuyên truyền, xuyên tạc trên mạng xã hội. Chúng cho rằng: Đảng, Nhà nước ưu tiên công tác chuẩn bị Đại hội Đảng XIII hơn so với vấn đề chủ quyền Biển Đông và dịch bệnh trong nước. Đây là thói ăn nói hàm hồ, kích động, chia rẽ nội bộ của các thế lực thù địch, cần phải vạch mặt, lên án, bác bỏ.
Có thể thấy rằng, công tác chuẩn bị nhân sự cho mỗi kỳ Đại hội Đảng là việc làm hệ trọng cần được chuẩn bị, tiến hành kỹ lưỡng, chu đáo từ trước, nhằm lựa chọn đúng những cán bộ có đủ phẩm chất, năng lực, đức, tài, có tâm, có tầm,… để Đại hội bầu vào Ban Chấp hành Trung ương khóa mới - những người sẽ giữ các cương vị lãnh đạo chủ chốt của Đảng, Nhà nước, ban, bộ, ngành Trung ương, địa phương. Đây là việc làm rất cần thiết, hoàn toàn bình thường và phải được chuẩn bị trước khi diễn ra mỗi kỳ đại hội hay cuộc bầu cử. Vấn đề này không những chỉ diễn ra ở Việt Nam mà với bất cứ đảng phái, quốc gia nào đều phải tiến hành như vậy.
Xuất phát từ thực trạng một bộ phận cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp thiếu tu dưỡng, rèn luyện dẫn đến suy thoái về tư tưởng chính trị, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, vi phạm pháp luật, vi phạm quy định của Đảng phải xem xét xử lý, thì việc lựa chọn, giới thiệu khách quan, chính xác những cán bộ có đủ đức, tài, phẩm chất, năng lực, trình độ để đưa ra đại hội bầu là việc làm rất quan trọng. Việc làm này đòi hỏi phải rất cẩn thận, giống như việc “đãi cát tìm vàng”, nó liên quan đến sự tồn tại, phát triển của Đảng, đất nước, chế độ; đến việc hoạch định chủ trương, đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, v.v.
Đối với vấn đề chủ quyền Biển Đông, chúng ta không thể nóng vội, giải quyết trong một sớm, một chiều, mà cần phải bình tĩnh, khôn khéo trong giải quyết dựa trên bằng chứng, cơ sở phù hợp với luật pháp quốc tế, để vừa bảo vệ vững chắc toàn vẹn chủ quyền, lãnh thổ, vừa giữ vững được hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Trên thực tế, những năm qua, Đảng, Nhà nước, lực lượng vũ trang chưa bao giờ chủ quan, lơ là trong bảo vệ Tổ quốc, kể cả trên Biển Đông.
Còn với công cuộc phòng, chống đại dịch Covid-19 ở Việt Nam đã được khống chế. Theo số liệu mới nhất, đến nay, Việt Nam đã có 26 ngày không có ca nhiễm mới trong cộng đồng, tỷ lệ chữa khỏi các ca nhiễm đạt trên 86%. Mặc dù, Đảng, Nhà nước đã nới lỏng các quy định về giãn cách xã hội, từng bước đưa nền kinh tế, đời sống, xã hội dần trở lại bình thường, song vẫn không chủ quan, lơ là trong phòng, chống dịch. Việt Nam đang trở thành điểm sáng, mô hình điển hình trong phòng, chống đại dịch Covi-19 được thế giới ghi nhận, đánh giá cao.
Vì thế, việc các thế lực thù địch cho rằng: Đảng, Nhà nước ta ưu tiên công tác chuẩn bị Đại hội Đảng XIII hơn so với vấn đề chủ quyền Biển Đông và dịch bệnh trong nước là hoàn toàn phi lý, không có căn cứ. Thói ăn nói hàm hồ của chúng phải bị vạch trần, phơi bày, lên án. Bởi, Đảng, Nhà nước, Chính phủ luôn hành động đúng đắn, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc./.

May 9, 2020

Lại võ đoán



Tre Việt - Đã thành thông lệ, cứ mỗi khi đến ngày Chiến thắng 30/4 là trên mạng xã hội lại có những ý kiến khác nhau. Năm nay, điều đó không phải ngoại lệ. Mới đây, có ý kiến cho rằng, vì miền Bắc xâm lược miền Nam nên mới có sự kiện ngày 30/4/1975. Điều đó chỉ thống nhất được đất nước mà không thống nhất được lòng người. Vậy nên, mới có tình trạng thuyền nhân - một số người bỏ nước ra đi để đến nước khác bằng đường biển - của những năm sau năm 1975. Nói vậy là võ đoán.
Thống nhất đất nước là nguyện vọng chung của cả dân tộc Việt Nam, không phải của riêng người dân miền Bắc mà cả người dân miền Nam. Đúng như Tố Hữu viết: “Đường giải phóng mới đi một nửa/ Nửa mình còn trong lửa nước sôi/ Một thân không thể chia đôi”. Điều đó cho thấy, quyết tâm thống nhất đất nước là nguyện vọng thiết tha của cả dân tộc Việt Nam. Cho nên, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, nếu chỉ có sự tấn công của các binh đoàn chủ lực mà không có sự nổi dậy của quần chúng nhân dân, sự nổi dậy của đồng bào ở các vùng địch tạm chiếm thì khó mà giành được thắng lợi. Khắp nơi ở miền Nam đều có sự nổi dậy của quần chúng nhằm chống lại ách áp bức của chủ nghĩa thực dân mới, điển hình là phong trào đồng khởi của đội quân tóc dài tỉnh Bến Tre những năm 1960. Không chỉ có sự nổi dậy, mà chính đồng bào miền Nam còn giúp sức để các đơn vị chủ lực có điều kiện thuận lợi nhất tăng sức mạnh tấn công. Do có sự kết hợp giữa tiến công của các đơn vị chủ lực với sự nổi dậy của quần chúng nhân dân mà mùa Xuân 1975 quân và dân Việt Nam đã giành thắng lợi vẻ vang, thống nhất đất nước, thỏa ước mong của con dân đất Việt. Nhờ huy động được sức mạnh của miền Bắc và sức mạnh nổi dậy của đồng bào miền Nam nên chúng ta đã tạo nên sức mạnh vượt trội giành chiến thắng trong chiến tranh theo quy luật: mạnh được yếu thua là có sự kết hợp ấy. Vì vậy, không thể nói miền Bắc xâm lược miền Nam, mà thống nhất đất nước là mong ước của muôn người ở khắp các vùng miền của đất nước, do là mong ước của mọi người, nên không chỉ thống nhất đất nước mà đã thỏa ước mong của mọi người nên đã thống nhất được lòng người.
Vấn đề đặt ra là thống nhất được lòng người thì làm sao lại có tình trạng “thuyền nhân” của những năm sau 1975? Có tình trạng “thuyền nhân” do nhiều nguyên nhân; trong đó, phải kể đến nước nào sau chiến tranh cũng gặp không ít khó khăn, phải ra sức hàn gắn vết thương chiến tranh thêm vào đó là công tác tuyên truyền sai sự thật, xuyên tạc của bên thua cuộc làm cho một số người ít nhiều có dính dáng đến bên thua cuộc, nhẹ dạ cả tin nghe theo lời tuyên tuyên của bên thua cuộc, nên đã tìm đến miền đất hứa. Vì thế, họ tìm cách vượt biên trái phép bằng đường biển trên các tàu thuyền nhỏ đầy nguy hiểm đến tín mạng. Theo lẽ thông thường thì: “Con không chê cha mẹ khó/ Chó không chê chủ nghèo”. Thế mà, một số người không theo lẽ thông thường đó, họ vẫn cố tình tìm cách vượt biên, tạo nên cái gọi là “thuyền nhân” là sao? Ngày nay, người Việt ở nước ngoài, mỗi khi khó khăn đều tìm về đất mẹ Việt Nam. Trong đại dịch Covid-19 đang diễn ra, thể theo nguyện vọng của đồng bào ta ở nước ngoài, Nhà nước ta đã có nhiều chuyến bay đưa công dân Việt Nam ở nước ngoài về nước, có ai “bỏ” nước để đến nước khác đâu. Mặc dù, nhiều người đang sinh sống, học tập, công tác ở những nước mà trước đây những người tạo ra cái gọi là “thuyền nhân” cho đó là miền đất hứa, người ta vẫn thiết tha về với đất mẹ Việt Nam đấy thôi. Thế mà họ lại nói sự kiện 30/4/1975 chỉ thống nhất được đất nước mà không thống nhất được lòng người là sao? Hiện tượng “thuyền nhân” chỉ là nhất thời, xảy ra trong một thời điểm nhất định. Nên không vì thế mà quy là sự kiện 30/4/1975 chỉ thống nhất đất nước, không thống nhất được lòng người. Bởi đó là cách nói võ đoán./.