Oct 6, 2020

Câu hỏi mang tính chống phá

         Tre Việt -Ngày 05/10/2020, trên RFA Tiếng Việt có đăng bài viết: “Liệu dân có ‘dám’ đóng góp ý kiến cho đảng?” nhân sự kiện Ban Tuyên giáo Trung ương tổ chức Lễ khai trương Trang tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam - Đại hội XIII tại địa chỉ: daihoi13.dangcongsan.vn vào ngày 03/10/2020.

Bên cạnh những điểm đúng  bài viết còn có điểm sai trái, chưa đúng thực tế, khách quan. Cụ thể, bài viết cho rằng, Đảng ta thành lập trang điện tử chỉ để mị dân bởi dân có góp ý thì Đảng cũng không nghe, coi dân là thế lực thù địch (!).

Đây hoàn toàn là những điều bịa đặt và không đúng thực tế đang diễn ra tại Việt Nam. Thực tế trên trang thông tin điện tử daihoi13.dangcongsan.vn đã có khá nhiều ý kiến đóng góp mang tính chất xây dựng, góp ý được đưa lên. Mục đích của trang thông tin điện tử trên là nhằm tuyên truyền, giới thiệu nội dung văn kiện Đại hội XIII của Đảng, là kênh thông tin chính thống, tuyên truyền về Đại hội Đảng các cấp, tổng hợp những ý kiến đóng góp vào văn kiện đại hội đảng các cấp, v.v. Điều đó chứng minh cho việc Đảng luôn lắng nghe, tiếp thu ý kiến của nhân dân. Với phương châm bình tĩnh, lắng nghe, trân trọng tất cả các ý kiến, cân nhắc thật kỹ, rồi tiếp thu tối đa, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nhấn mạnh, tiếp thu không được dễ dãi, phải có quan điểm, lập trường, có lý lẽ, phải bảo vệ cho được ý kiến đúng. Tiếp thu cũng thể hiện bản lĩnh của người biên tập bởi văn kiện Đảng là văn bia để lại muôn đời sau.    

Do đó, việc tổng hợp ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn kiện nhằm tập hợp trí tuệ của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân tham gia quyết định những vấn đề quan trọng của Đảng và đất nước. Mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân hãy nhiệt tình hưởng ứng vì lợi ích của Đảng và Nhà nước, cấp ủy đảng các cấp và của chính mình./.

 

Cảnh giác với “Thuyết âm mưu”

          Tre Việt - Kênh RFA Tiếng Việt vừa qua đăng bài: “Trước Đại hội Đảng 13, lãnh đạo cấp cao tăng cường chỉ trích các thế lực thù địch”. Bài viết đã trích dẫn phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương chỉ ra rằng: “thế lực phản động, thù địch đang gia tăng chống phá, công khai và quyết liệt hơn”. Đồng thời, đăng tải các ý kiến, bình luận của một số độc giả trên fanpage của RFA về phát biểu trên, như: “Hòa bình gần nửa thế kỷ rồi mà cứ còn thế lực thù địch là sao? Ai thù, ai địch?...”, “phải hỏi mình xem mình đã làm gì để người ta thù địch”, “Thế lực thù địch nào, ở đâu, họ làm cái gì mà kêu chống phá”, v.v. Nếu đọc lướt qua, suy nghĩ đơn thuần sẽ thấy rằng, những ý kiến, bình luận đánh giá trên là bình thường, là khách quan, là đúng. Vậy, thực tế có đúng như vậy và ẩn chứa đằng sau những bình luận đó là gì?  

Trước hết, cần khẳng định rằng: khi xã hội loài người chưa tiến lên chủ nghĩa cộng sản, chưa “làm theo năng lực, hưởng theo nhu cầu”, vẫn còn nhà nước, quân đội, thì giữa các giai cấp vẫn sẽ còn mâu thuẫn về lợi ích và tất yếu sẽ còn đấu tranh giai cấp. Giữa các quốc gia, dân tộc vẫn có mâu thuẫn về lợi ích, mà nếu không xử lý tốt thì vẫn có khả năng xảy ra xung đột, chiến tranh. Những gì đã và đang diễn ra trên thế giới chứng tỏ điều đó.

Lịch sử dân tộc Việt Nam qua hàng nghìn năm đã chứng minh rằng “dựng nước phải đi đôi với giữ nước”. Chưa bao giờ đất nước ta không là mục tiêu xâm lược của các thế lực bên ngoài. Hiện nay, Việt Nam vẫn và sẽ luôn là mục tiêu nhòm ngó của chúng, với âm mưu, thủ đoạn chống phá ngày càng tinh vi. Thực tế cho thấy, khi đất nước ta hoàn toàn giành được độc lập, non sông thu về một mối, nhưng chúng ta vẫn phải tiến hành chiến tranh bảo vệ biên giới, vượt qua sự bao vây, cấm vận của nước ngoài. Khi đất nước ta thực hiện công cuộc đổi mới, hội nhập quốc tế, thì vẫn có những thế lực đang tìm mọi cách chống phá nhằm xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng, chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa trên mọi lĩnh vực. Do đó, ý kiến phát biểu của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Ngô Xuân Lịch, Thứ trưởng Bộ Công an Lê Quý Vương là hoàn toàn xác đáng, đúng thực tế đang diễn ra, để chúng ta luôn nêu cao cảnh giác, không một phút lơ là, chủ quan trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam luôn sẵn sàng hợp tác với những quốc gia, tổ chức tôn trọng lợi ích quốc gia, dân tộc trên cơ sở luật pháp quốc tế và ngược lại kiên quyết đấu tranh với những thế lực xâm phạm chủ quyền, lợi ích của đất nước.

Nhìn rộng ra thế giới, bất kỳ quốc gia nào cũng đều xác định đối tượng, đối tác để có đối sách cho riêng mình; vẫn phải đầu tư phát triển quốc phòng, xây dựng quân đội để bảo vệ đất nước, lợi ích quốc gia, dân tộc. Những cuộc xung đột, chiến tranh xảy ra trên thế giới trong thời gian gần đây đều xuất phát từ lợi ích kinh tế, chính trị, chứ không có cuộc chiến tranh, xung đột nào xảy ra mà không vì mục đích, lợi ích gì.

Chính vì thế, những bình luận, đánh giá được RFA đăng tải là thiếu cơ sở, mang tính “ru ngủ”, để che giấu “thuyết âm mưu” nguy hiểm, cần phải bị vạch mặt, bóc trần./.

 

Sep 30, 2020

Ghê chưa?

           Tre Việt - Ngày 29/9, trên trang faceboock Tiếng Dân có bài: “Tôi chọc ngoáy Hội Triết học VN và xin làm trợ thủ cho bác Nguyễn Đình Cống” của Trần Đắng. Theo như anh ta tự giới thiệu là “ở miền Trung VN, nam, tuổi trung niên, lớn lên trong thời bao cấp” và “15 tuổi tôi đã đọc, hiểu hết triết học Mác - Lênin”. Gớm chưa! Mới 15 tuổi mà đã “hiểu hết triết học Mác - Lênin” bằng tự đọc. Đó chẳng phải là “thần đồng” sao! Là “thần đồng” thì nhiều người đã biết đến; nếu không thì chỉ là người hoang tưởng. Trần Đắng không biết thuộc loại nào đây? Với cái tên mới hoắc này và xem cách anh ta lý giải thì Tre Việt nhận thấy, đích thị Trần Đắng là người hoang tưởng.

          Thật vậy, mới 15 tuổi, tự đọc mà “hiểu hết triết học Mác – Lênin”, trong khi những người chuyên nghiên cứu về triết học này phải mất nhiều năm, những người nghiên cứu và giảng dạy triết học Mác – Lênin cũng không dám nhận là “hiểu hết” triết học Mác – Lênin. Không biết Trần Đắng đọc được bao nhiêu sách về triết học Mác – Lênin mà dám nhận là “hiểu hết”. Ghê chưa!

          Hãy xem “hiểu hết triết học Mác – Lênin” của anh ta là như thế nào?

          Trần Đắng dẫn quy luật phủ định cái phủ định của triết học Mác – Lênin, rồi cho rằng: “Ph. Ăng-ghen viết: Lấy ví dụ một hạt lúa. Trong quá trình phát triển của nó, nó biến thành cây lúa. Như vậy cây lúa phủ định hạt lúa. Cây lúa phát triển đến mức cao nhất thì bị phủ định, cho ra hạt lúa trở lại, nhưng trên cơ sở cao hơn là nhiều hạt lúa hơn.

Xã hội loài người cũng vậy. Đầu tiên là chế độ cộng sản nguyên thủy. Phủ định CS nguyên thủy là các chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến và tư bản. Phủ định chế độ chiếm hữu nô lệ, phong kiến & tư bản là chế độ cộng sản trở lại, nhưng trên cơ sở cao hơn là chế độ cộng sản khoa học.

Như vậy, tất yếu, loài người tiến lên xã hội cộng sản khoa học. Con đường phát triển của vạn vật là hình xoáy trôn ốc, là sự vật lặp lại cái cũ nhưng trên cơ sở cao hơn. Quy luật phủ định của phủ định là vậy”. Thế rồi, Trần Đắng “chỉ ra cái sai”: “Hạt lúa có tính di truyền & biến dị, mà biến dị thì đa hướng, có thể cho ra cây lúa còi, hạt lép, cây không chống được sâu bệnh, không chịu hạn, không chịu được gió lớn,... Vậy nói cây lúa càng ngày càng hoàn thiện tức tốt hơn trước là sai.

Coi các video clip ở youtube về thiên văn, vũ trụ, ta thấy vũ trụ rất vô thường, tức đa hướng. Vũ trụ đi theo hướng tốt, hướng đi lên, hướng phát triển hoàn thiện nào nhỉ? Không có! Trái đất ta đang sống, bất cứ đâu & bất cứ khi nào cũng có thể bị động đất làm vợ (chồng) con ta chết, ta bị thương nặng thì “hoàn thiện” à?”

          Vậy hỏi Trần Đắng, từ hạt thóc đến cây lúa không phát triển thì sao dân số trong nước và thế giới ngày càng tăng mà vẫn đảm bảo được cơm ăn cho con người? Trong quá trình phát triển, một số ít cây lúa bị chết vì bệnh, có cây còi cọc,... nhưng đa số cây lúa phát triển, cho con người mùa màng có năng suất tốt. Trái đất không được ngày càng hoàn thiện thì làm sao từ chỗ không có sự sống đến có sự sống đơn bào, đa bào và đến sự phát triển như con người ngày nay? Cứ theo cách Trần Đắng lấy ví dụ, xin hỏi ông: ngày có trước hay đêm có trước? Tương tự như vậy, quả trứng có trước hay con gà có trước?

Từ đó, Trần Đắng võ đoán: “Một nguyên lý trong hai nguyên lý chính (triết học Mác - Lênin) sai, một quy luật chính sai, suy ra triết học Mác - Lênin là triết học sai. Tôi chốt lại kết luận: Vũ trụ, trái đất, sự việc, lịch sử, tư duy của chúng ta KHÔNG PHÁT TRIỂN mà là ĐA HƯỚNG. Tranh luận của CS các ông với tôi chỉ cần quanh câu này thôi”.

Tre Việt không phải là nhà triết học, chỉ biết chút ít về triết học Mác – Lênin, nhưng thấy rằng, đúng là cái “hiểu hết” của Trần Đắng có vấn đề. Ông ta hiểu triết học Mác - Lênin một cách siêu hình, sơ cứng. Xu hướng của mọi sự vật là phát triển, nhưng không phải theo đường thẳng mà quanh co theo hình xoáy ốc, nhắc lại là xoáy ốc chứ không phải “xoáy trôn ốc” như Trần Đắng viết. Vì  “xoáy trôn ốc” thì phải có điểm dừng ở đỉnh trôn ốc. Triết học Mác – Lênin không viết thế. Vòng xoáy ốc to nhỏ khác nhau, không đều nhau phụ thuộc vào sự khó khăn, phức tạp của cái phủ định. Nhưng sự vật, hiện tượng phát triển theo đường xoáy ốc thì không có điểm dừng. Chính vì sự phát triển của sự vật, hiện tượng theo “đa hướng”, nhưng các hướng không đều nhau, tổng hợp của các hướng (các véc tơ lực) tạo thành đường quanh co, với xu hướng là đi lên, phát triển. Vì thế mà không thể quả quyết sự vật, hiện tượng “KHÔNG PHÁT TRIỂN” để phủ nhận triết học Mác – Lênin, rộng ra là phủ nhận lý luận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng./.


Sep 25, 2020

Không ưa thì dưa có dòi

           Tre Việt - Vừa qua, trang Facebook Việt Tân đã đăng tải nhiều bài viết liên quan đến việc tổ chức đại hội đảng các cấp đang diễn ra ở các địa phương trong cả nước. Đơn cử trong bài: “Loạn họp ở nước ta”, có đoạn: “…, suốt cả năm nay, ở nước này, người ta đã dành quá nhiều thời gian, sức lực, vật chất, tinh thần vào việc tổ chức đại hội đảng”. Có thể thấy rằng, điểm chung trong các bài viết, bọn chúng cho rằng từ việc chuẩn bị, trang trí, tuyên truyền cho đại hội đảng các cấp đến quá trình diễn ra đại hội thời gian kéo dài, họp hành nhiều, lãng phí tiền thuế của nhân dân,… từ đó, lên án, phê phán, nói xấu Đảng. Đây thực chất là  “Thuyết âm mưu”.

Trước hết, việc tổ chức đại hội đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng là đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta. Việc làm này được tiến hành định kỳ sau mỗi nhiệm kỳ. Vì vậy, công tác chuẩn bị cho đại hội phải được chuẩn bị kỹ càng, chu đáo, từ sớm, nhất là các văn kiện, nhân sự của đại hội,… để nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, nhằm đưa các địa phương, cơ sở ngày càng phát triển, đi lên, đời sống nhân dân ấm no, hạnh phúc. Trong đại hội Đảng, phải tiến hành thực hiện nhiều nhiệm vụ, như: đóng góp, thảo luận vào văn kiện của tổ chức đảng cấp trên, cấp mình, tiến hành bầu cử,… nên cần khoảng thời gian nhất định cần thiết để đại hội bàn bạc, thảo luận, quyết nghị những vấn đề quan trọng, đảm bảo chất lượng. Cùng với đó, công tác trang trí, tuyên tuyền cho đại hội đảng các cấp cần trang nghiêm, trang trọng theo đúng quy định của Đảng, tạo khí thế thi đua, cổ vũ, động viên toàn xã hội quyết tâm thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đề ra. Do đó, phải có sự bàn thảo để thống nhất nhận thức và hành động, nên phải có thời gian. Nhìn vào thực tiễn những việc quốc gia, đại sự nào mà chẳng phải có thời gian thương thảo. Các hiệp định kinh tế giưa Việt Nam với các nước và với Liên minh châu Âu (EU) cũng đã phải mất nhiều thời gian để họp, thảo luận thống nhất mới ký kết thực hiện. Chẳng nhẽ các cuộc họp như thế cũng vô ích à? Đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội XIII của Đảng vì thế mà cũng cần phải họp, phải bàn. Một lẽ đương nhiên, tất yếu thế mà họ cũng cứ “góp ý”. Đúng là “không ưa thì dưa có dòi”.

Mặt khác, tổ chức đảng ở các cấp và rộng hơn là Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác ngoài lợi ích gắn liền với sự phát triển của địa phương, đất nước, thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội dân giàu, nước mạnh. Do đó, việc sử dụng kinh phí để tổ chức đại hội Đảng là hoàn toàn phù hợp, đều là vì lợi ích chung của toàn xã hội. Việc chi đó được coi là chi phí sản xuất. Muốn có sản phẩm mà không muốn chi là một đòi hỏi vô lý. Trên thực tế, không riêng gì ở Việt Nam, mà với bất kỳ quốc gia nào, đảng phái chính trị nào cũng đều dành thời gian, công sức, tiền bạc để làm các công việc tương tự. 

Vì thế, chúng cho rằng việc tổ chức đại hội Đảng tốn kém thời gian, sức lực, vật chất, tinh thần, tiền thuế của nhân dân,… là không xác đáng. Ngược lại, chính thực tế các địa phương đã, đang tổ chức thành công đại hội Đảng các cấp và đảng bộ cấp tỉnh ở một số địa phương đã khiến cho bọn chúng không đạt được âm mưu, mục đích chống phá, quay sang săm soi, “bới lông tìm vết”, nói bừa, nói xằng, nói lấy được mà thôi./.

                      

Sep 24, 2020

Không làm cản trở quan hệ hợp tác của nhau

            Tre Việt - Ngày 22/9/2020 trên VOA Tiếng Việt có đăng bài viết về cái gọi là tuyên bố của Liên minh châu Âu (EU) do Người phát ngôn đưa ra (ngày18/9/2020), trong đó có đoạn: “EU thúc giục Việt Nam thông qua việc tạm hoãn áp dụng án tử hình, xem như là bước đầu tiên tiến đến việc bãi bỏ” (!). Thực chất là họ “phản đối án tử hình” do Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên đối với Lê Đình Công và Lê Đình Chức vì phạm tội tổ chức giết người trong “vụ án Đồng Tâm”.

          EU nên nhớ rằng, Việt Nam là một quốc gia có chủ quyền được vận hành, quản lý theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Luật pháp phải phù hợp với thực tiễn của mỗi nước, nên không thể áp đặt thực tiễn của EU cho luật pháp Việt Nam và ngược lại. Nên có tử hình hay không còn căn cứ vào thực tế mỗi nước. Ở Việt Nam và một số nước hiện chưa bỏ án tử hình vì nhiều lý do; nếu thực hiện nhân đạo với một người thì lại mất nhân đạo với nhiều người khác. Trùm ma túy mà không tử hình thì nó gây tai họa cho biết bao nhiêu gia đình vì có người nghiện ma túy.

Tre Việt nhận thấy, mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước, khu vực trên thế giới, trong đó có EU là trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, không can thiệp vào chủ quyền quốc gia, công việc nội bộ của nhau. Việc Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội tuyên án tử hình đối với Lê Đình Chức và Lê Đình Công là hoàn toàn khách quan, đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định của pháp luật, thực tiễn Việt Nam. Việc EU “phản đối”, “khuyên” Việt Nam như trong “tuyên bố” của mình là một hành động trái với những nguyên tắc, quy định trong quan hệ quốc tế, là vi phạm chủ quyền, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam không chỉ làm tổn hại đến mối quan hệ đối tác hợp tác Việt Nam - EU, mà còn làm tổn hại đến lợi ích của nhân dân Việt Nam, nhân dân các nước trong EU./.

         

Sep 23, 2020

Tà kiến

          Tre Việt – Ngày 20/9/2020, dự và phát biểu chỉ đạo tại Lễ thành lập Hội Triết học Việt Nam, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương Võ Văn Thưởng nhấn mạnh về vai trò, trách nhiệm của Hội là: nghiên cứu khoa học, tư vấn chính sách, cung cấp cơ sở lý luận triết học cho việc hoạch định đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực có tri thức và tư duy triết học cao; đẩy mạnh nghiên cứu tinh hoa triết học thế giới, nghiên cứu tư tưởng triết học Việt Nam. Trong đó, cần nghiên cứu và phát triển, làm sáng tỏ vai trò triết học Mác - Lê-nin, tư tưởng triết học Hồ Chí Minh với tư cách là bộ phận cấu thành quan trọng trong nền tảng tư tưởng của Đảng; đẩy mạnh đấu tranh phê phán, bác bỏ các quan điểm triết học sai trái, thù địch, đi ngược lại với lợi ích của quốc gia, dân tộc. Qua đó giúp Việt Nam có những triết gia, nhà nghiên cứu triết học tầm cỡ khu vực và thế giới.

Bình luận trên VOA về phát biểu đó, ông Nguyễn Xuân Diện thuộc Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nói: “Nếu Hội Triết học này cho phép công bố, nghiên cứu, biên soạn những tài liệu về các trường phái triết học khắp nơi trên thế giới, từ cổ chí kim, đông chí tây, thì đấy là chỉ dấu tốt. Nhưng tôi không hy vọng như vậy là có thể tốt được, bởi vì bao nhiêu lâu nay Việt Nam chỉ có một triết học là triết học Mác - Lê-nin làm độc tôn”. Mặc dù ông Diện là tiến sĩ, nhưng ông quên mất những bài học đầu tiên về lịch sử triết học khi còn là sinh viên. Việc nghiên cứu các trường phái triết học đông, tây, cổ, kim là nhiệm vụ của bộ môn lịch sử triết học. Bản thân triết học là khoa học, dùng để nghiên cứu về quá trình vận động của thế giới, vật chất và tư duy, không mang bất kỳ màu sắc chính trị nào. Mỗi quốc gia lựa chọn một trường phái triết học để xây dựng hệ thống lý luận, làm nền tảng cho quá trình lãnh đạo, phát triển đất nước là dựa vào tính khoa học, sự phù hợp với văn hóa, dân tộc của quốc gia đó.

Đảng ta lựa chọn triết học Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho việc lãnh đạo đất nước là bởi: bản thân triết học Mác – Lênin đã có sự kế thừa, phát triển triết học: cổ điển Đức, tiêu biểu là triết học của Hêghen và Phiơbắc... ; đồng thời, , tiếp thu tất cả những yếu tố tiến bộ mà lịch sử tư tưởng loài người để lại; có thể cung cấp một thế giới quan, phương pháp luận khoa học; được thử thách qua thực tiễn; phù hợp với văn hóa, con người Việt Nam,… chứ không xuất phát từ ý chí chính trị của Đảng. Tuy nhiên, quá trình phát triển của khoa học, công nghệ đã tác động sâu sắc tới đời sống văn hóa, xã hội của nhân loại làm phát sinh nhiều góc nhìn mới trong quá trình nhận thức thế giới, nên nhiều luận điểm của triết học Mác – Lê-nin cần được nghiên cứu, làm rõ để vận dụng vào thực tiễn sát hơn, đưa đất nước ta phát triển nhanh và bền vững là rất cần thiết.

Ông Diện còn cho rằng, “lời “đặt hàng” của ông Thưởng với Hội Triết học là thừa vì bao nhiêu năm nay, nhiều nhân sĩ, trí thức đã đưa ra những đường hướng, đề xuất những giải pháp, chỉ ra những triết lý để kinh tế, văn hóa, giáo dục, chính trị của Việt Nam phát triển một cách lành mạnh và có tư tưởng tiến bộ, nhưng họ “không được mời đến đối thoại” với ông Thưởng; trái lại, không ít người trong số những người muốn đối thoại đã bị khai trừ khỏi Đảng hoặc bị bỏ tù”. Thực sự, ông Diện chỉ nghe có 1 tai, nhìn không rõ,  nhất là tâm có phần tối. Sự thật, nhiều nhân sĩ, trí thức quăng ra những giải pháp, nghe qua thì có lý, nhưng: không có hệ thống, chẳng sát thực tế; lợi mặt này nhưng hại mặt khác; lợi ít hại nhiều,… thì làm sao dùng được. Vả lại nếu chính quyền thấy cần tiếp thu thì chỉ tiếp thu phần thích hợp và cần có lộ trình để sửa đổi chính sách. Quản lý xã hội không phải chuyện “điều khiển một cỗ xe” để có thể dừng và chuyển hướng bất kỳ lúc nào. Còn đối với những kẻ bị bỏ tù chỉ vì họ vi phạm pháp luật; đặc biệt, chúng không phải là những triết gia mà là hoạt động chính trị, dựa vào “lý sự” để chống phá Nhà nước.

Cùng với đó, ông Diện còn nhấn mạnh: “đấu tranh, phê phán, bác bỏ các quan điểm sai trái, thù địch là nhiệm vụ của Ban Tuyên giáo, Bộ Công an và Bộ Thông tin và Truyền thông và các cơ quan này đã làm tốt, không cần đến Hội Triết học”. Thực sự, đây là quan điểm phiến diện, vì trước hết, đấu tranh chống quan điểm sai trái là trách nhiệm của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân; mỗi cá nhân cần quán triệt sâu sắc đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, tự đấu tranh với bản thân để rời bỏ cái xấu, quan điểm tiêu cực, đến với những điều tốt đẹp. Các cơ quan nói trên nắm vai trò nòng cốt, xây dựng chủ trương, đường lối và hướng dẫn nhân dân đấu tranh với quan điểm sai trái, thù địch. Việc đấu tranh phải có tầng, có lớp; có diện rộng, chuyên sâu; có gốc, có ngọn. Do đó, Hội triết học là nơi hội tụ các chuyên gia thì phải đấu tranh chuyên sâu, nghiên cứu xây dựng nền tảng lý luận làm gốc, làm cơ sở cho các cơ quan, ban ngành và toàn dân đấu tranh trực diện, rộng rãi tạo thành làn sóng chủ đạo để nhấn chìm các luồng tư tưởng, quan điểm sai trái.

          Chúng ta thấy rằng, ông Diện tuy là tiến sĩ nhưng đang rơi vào “tà kiến”; bản thân có nhiều quan điểm sai trái, tiêu cực, không tin tưởng vào đường lối lãnh đạo của Đảng và nhân tài đất Việt. Những người như thế không phải nhân sĩ chân chính./.

         

 

 

 

 

 

Sep 18, 2020

Phiên tòa kết hợp hài hòa giữa sự nghiêm minh và tính nhân văn

 

Ngày 14/9, phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại xã Ðồng Tâm (Mỹ Ðức, Hà Nội) kết thúc, Hội đồng xét xử sơ thẩm TAND thành phố Hà Nội đã tuyên án phạt đối với 29 bị cáo. Tiếp cận vụ án từ góc độ một luật sư người Mỹ gốc Việt đang hành nghề tại Mỹ, Luật sư Hoàng Duy Hùng đã gửi tới Báo Nhân Dân bài viết bàn về một số vấn đề liên quan phiên tòa. Xin giới thiệu để bạn đọc tham khảo.

Các bị cáo nghe tòa tuyên án

Trước hết, phải nhấn mạnh rằng, trong lúc đất nước đang sống trong thời bình mà ba chiến sĩ công an lại phải hy sinh vì chính những người vẫn rêu rao là “vì nhân dân, chống tham nhũng” như “Tổ Đồng thuận” đó là điều rất đau lòng cho mọi người dân Việt Nam quan tâm tới đất nước, đó cũng là một trong các lý do quan trọng nhất để rất nhiều người quan tâm theo dõi vụ án. Và tôi nhận xét vụ án có một số điểm nổi bật như sau:

1. Vụ án này là vụ án hình sự, không phải vụ án chính trị, song một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo lại muốn đánh tráo khái niệm, họ gọi đây là vụ án “mang đầy màu sắc chính trị” như một luật sư đã đăng trên trang Facebook của ông ngay ngày đầu xử án. Vấn đề cơ bản nhất là lúc đầu số người hùa theo “Tổ Đồng thuận” đã không hiểu luật một cách đúng đắn. Ở Việt Nam, đất đai là của Nhà nước, người dân được trao quyền sử dụng, khi cần sử dụng cho việc chung (như xây dựng công trình công cộng, công trình quốc phòng,... thì Nhà nước thu hồi, đền bù). Ở Mỹ và châu Âu cũng có luật Eminent Domain tương tự như vậy. Ðất Ðồng Sênh là đất của sân bay Miếu Môn, là đất phục vụ nhiệm vụ quốc phòng. Từ những năm 1980, khi là Bí thư Ðảng ủy, Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Ðồng Tâm, ông Lê Ðình Kình đã cắt đất bán cho sáu hộ dân một cách bất hợp pháp. Sau đó, sáu hộ đó sang tay và nhân lên thành 14 hộ. Khi thu hồi, Nhà nước đã điều đình, đền bù cho 14 hộ, họ nhận tiền, vui vẻ di dời. Các nhân chứng cho biết ông Lê Ðình Kình cùng “Tổ Đồng thuận” gây áp lực không cho các chủ hộ này dời đi, rồi hăm dọa, thậm chí đánh đập một số chủ hộ.

Gia đình ông Lê Ðình Kình và các bị cáo không có một mét vuông đất ở Ðồng Sênh sao lại gọi là tranh chấp đất đai? Các bị cáo thú nhận ông Lê Ðình Kình cho họ ăn “bánh vẽ” mỗi mét vuông giá sáu triệu đồng để khơi dậy lòng tham, kích động họ vi phạm pháp luật. Tôi lấy làm tiếc khi lòng tham đã che khuất lý trí của họ. Dù từ khi sự việc xảy ra, chính quyền đã tổ chức gặp gỡ, thảo luận, báo chí tuyên truyền, phổ biến các điều luật liên quan, chỉ rõ hành vi sai trái, kêu gọi tuân thủ pháp luật nhưng họ vẫn không nhận thức để tự giác điều chỉnh hành vi. Hơn nữa, khi lực lượng chức năng thực hiện biện pháp cần thiết để bảo vệ trật tự, ông Lê Ðình Kình cùng đồng phạm đã có kế hoạch chống trả từ trước, cho nên không thể coi việc giết hại công an một cách rất dã man lại thuộc về lĩnh vực “chính trị”.

2. Trước, trong và sau khi phiên tòa được tổ chức, một số tổ chức, cá nhân đã cố gắng “quốc tế hóa” vụ án để kích động. Từ ngày 09/01/2020, khi vụ án xảy ra, các tổ chức chống cộng ở nước ngoài, nhất là tổ chức khủng bố “Việt Tân”, đã ráo riết tiếp cận một số chính phủ để rêu rao Nhà nước Việt Nam “giết” ông Lê Ðình Kình, đề nghị họ can thiệp. Tội nghiệp thay cho đến nay, không có bất kỳ chính phủ nước nào lên tiếng can thiệp. Vì làm sao can thiệp khi cơ quan cảnh sát điều tra có đủ tang chứng, nhân chứng, vật chứng và lời thú tội của các bị cáo. Chưa kể, pháp luật nhiều nước trên thế giới đều có chế tài rất nghiêm khắc đối với hành vi sai phạm này.

           Ở Mỹ, án lệnh của Tối cao Pháp viện trong vụ Graham v. Connor (Gờ-ra-ham Co-nơ), 490 U.S. 386 (1989) cho phép cảnh sát dùng vũ lực bắn chết nghi phạm trong cả các trường hợp dân sự nếu cảnh sát cảm thấy tính mạng của mình bị đe dọa. Chánh Thẩm phán lúc đó là W.Rehnquist (W.Ren-quýt) viết án lệnh như sau: “Các cảnh sát viên phải quyết định chỉ trong tích tắc, rất căng thẳng, không chắc chắn tình thế ra sao cho mình, nên áp dụng bạo lực cần thiết là điều có lý (reasoanable)”. Căn cứ các bài viết và những hình ảnh công bố trên Facebook trước đó thì “Tổ Đồng thuận” đã chuẩn bị bom xăng, dao bầu, dao chọc, dao phóng lợn, bình ga, lựu đạn,... thề sẽ giết chết “từ 300 đến 500” công an thì rõ ràng, đó là một nhóm khủng bố cần áp dụng bạo lực cần thiết nếu họ chống người thi hành công vụ. Ở Mỹ, khi cảnh sát tiến vào mà một người cầm lựu đạn đòi ném vào cảnh sát thì không những họ bắn chết một mình người đó, mà bắn luôn cả những ai có mặt, không chỉ bắn một phát súng mà bắn cả một băng đạn. Vì luật pháp của Mỹ cũng như các quốc gia phương Tây như thế và trước vật chứng, nhân chứng, lời thú tội của các bị cáo, cho nên không nhà nước nào lên tiếng hoặc can thiệp vào vụ án xảy ra ở Ðồng Tâm, và đã làm cho những người chống phá Nhà nước Việt Nam bị nhục nhã, tẽn tò.

3. Tôi thấy tính nhân văn, lượng khoan hồng của luật pháp Việt Nam rất cao, khi Viện Kiểm sát nhân dân chuyển 19 người từ tội danh “giết người” sang tội danh “chống người thi hành công vụ”". Ở Mỹ, dù có khoan hồng, họ chỉ chuyển đổi tội “giết người” sang tội “"đồng lõa giết người” với mức án chí ít cũng 20 năm hoặc chung thân. Viện Kiểm sát nhân dân quyết định đổi tội danh vì các bị cáo đã nhận ra lỗi lầm và ăn năn, hối hận. Họ cũng nói rõ tự nguyện nhận lỗi để được khoan hồng chứ không bị bức cung. Chính ông Bùi Viết Hiểu, không cần tham khảo với luật sư của ông, đã bất ngờ giơ tay phát biểu thay đổi lời khai, thú nhận lỗi lầm. Theo tôi, từ hành động của ông Bùi Viết Hiểu và các bị cáo khác, mà ông mới được nhận mức án từ 16 đến 18 năm tù, còn cứ nghe cố vấn của luật sư để cố cãi theo chiều hướng vô tội, có thể sẽ bị đề nghị mức án cao hơn.

4. Theo tôi, một số luật sư bào chữa cho một số bị cáo trong vụ án có biểu hiện không bình thường. Hoạt động nghề nghiệp của mấy luật sư này tại phiên tòa khiến bị cáo nản lòng, nên trước ngày tranh luận cuối cùng, một số người công khai không nhờ luật sư biện hộ nữa, đó là điều rất hy hữu. Luật pháp cho phép luật sư dựa trên cơ sở pháp luật để bảo vệ quyền lợi thân chủ của mình một cách tối đa, nhưng khi đã có bằng chứng, nhân chứng, vật chứng, và lời thú tội của bị cáo thì không thể bào chữa theo hướng vô tội, mà phải bào chữa theo hướng hối lỗi để được pháp luật khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt. Nhưng mấy luật sư này không làm thế, thậm chí còn đổ lỗi cho công an. Trong lúc phiên tòa đang diễn ra, có luật sư còn lên Facebook cho rằng “lựu đạn chỉ là để tập luyện trên thao trường nên không phải là vũ khí”; một luật sư khác viết trên Facebook rằng đó là “lựu đạn rởm” không thể coi là vũ khí giết người... Nếu ở Mỹ, theo án lệnh Graham v. Connor, 490 U.S. 386 (1989) đề cập ở trên, khi tính mạng bị đe dọa, chỉ trong tích tắc cảnh sát phải quyết định có hay không bóp súng, đâu cần xác định lựu đạn “rởm” hay lựu đạn “thật” mới bắn hạ.

Công an Việt Nam quá hiền, như theo luật pháp Mỹ thì cảnh sát đã bắn cả băng đạn. Tôi đặc biệt chú ý tới sự kiện ngay ngày đầu xử án, một vị luật sư than phiền vì không được ưu tiên gửi ô-tô gần tòa án, phải đi bộ 350 m trong trời mưa, cho nên khi bước vào tòa ông quát tháo ầm ĩ, rồi than phiền về Ðoàn Luật sư Hà Nội với mấy việc không dính líu tới vụ án. Ở Mỹ, luật sư tham gia vụ án đều bị nghiêm cấm không được viết hay bình luận khi quá trình xét xử đang diễn ra. Như luật sư nọ thì nếu không bị rút bằng hành nghề, thì chí ít cũng bị tống giam vì tội khinh miệt tòa án. Tôi biết ngành tư pháp ở Việt Nam đã có nhiều đổi mới rất tích cực; mấy vị luật sư này vẫn đòi cải tổ ngành tư pháp của Việt Nam. Song có lẽ với hành xử nghề nghiệp vừa qua, họ cần cải tổ nhận thức của chính mình. Cần hiểu rằng không luật pháp ở quốc gia nào cho phép luật sư hành nghề một cách phi lý, ngang ngược, vừa bào chữa trước tòa, vừa lên mạng xã hội công bố thông tin, bình luận về sự kiện đang diễn ra tại phiên tòa.

Lời kết: Phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án “Giết người” và “Chống người thi hành công vụ” xảy ra tại Ðồng Tâm (Hà Nội) đã kết thúc, Tòa đã tuyên các bản án tương ứng với mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo. Và những người chống cộng cực đoan lại tiếp tục la lối, điều đó không có gì phải ngạc nhiên. Tôi rất đồng tình với bản án vì ngoài việc răn đe thì luật pháp còn có tính nhân đạo, giáo dục con người khi họ biết hối lỗi. Dù có thể có phiên tòa phúc thẩm, tôi vẫn mong những người đã phải nhận án tù sẽ cải tạo thật tốt để tiếp tục được hưởng khoan hồng, những người nhận án tù treo sẽ cố gắng sinh sống lương thiện để trở thành công dân tốt. Là một luật sư người Mỹ gốc Việt, tôi quan sát vụ án và rất tán thành cách làm việc của tòa án, trình tự rõ ràng, xử lý nhân văn, mức án đúng người, đúng tội. Qua vụ án, pháp luật Việt Nam đã chứng tỏ với thế giới về sự nghiêm minh nhưng cũng đầy tính nhân văn. Cũng như trong thực tế cuộc sống đất nước hiện nay, ý Ðảng và lòng dân đã kết hợp hài hòa, triển khai rất cụ thể, hiệu quả. Phiên tòa là một bằng chứng thuyết phục, góp phần bẻ gãy những luận điệu chống phá Nhà nước Việt Nam.

Hoàng Duy Hùng (nguồn: Báo Nhân Dân, ra ngày 18/9/2020)

Sep 16, 2020

Về cái gọi là “Phản đối bản án Đồng Tâm”


Tre Việt - Chiều 14/9, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã ra phán quyết sơ thẩm đối với các bị cáo trong vụ án giết người và chống người thi hành công vụ xảy ra tại thôn Hoành, xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức, thành phố Hà Nội. Nhìn chung là dư luận ủng hộ và đồng tình với phán quyết này. Bởi công lý đã được thực thi nghiêm minh, nhưng pháp luật cũng rất khoan dung, nhân văn, nhân đạo đối với những bị cáo biết thức tỉnh lương tâm, thừa nhận tội lỗi của mình để sửa chữa, trở thành những công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Thế nhưng trên mạng xã hội, internet, một số tổ chức, cá nhân, đối tượng phản động, cơ hội, chống đối chính trị trong và ngoài nước lại kêu oan, nhằm hướng lái, đánh lừa dư luận về bản chất vụ án, diễn biến phiên tòa và hoạt động tư pháp của Việt Nam. 
Ngày 15/9, trên trang facebok Việt Tân có bài: “Facebook Việt Tân lên án phiên tòa bất công xét xử 29 nông dân Đồng Tâm”, rêu rao rằng: “Bản án quá nặng nề nhằm vào các nông dân Đồng Tâm đã khiến hàng nghìn người dân trong nước và cộng đồng Quốc tế phẫn nộ vì mức độ tàn nhẫn, phi nhân tính”.   
Tre Việt đặt câu hỏi, thế nào là bản án bất công? Thống kê của tổ chức nào mà quả quyết: hàng nghìn người dân trong nước và cộng đồng Quốc tế phản đối bản án này? Vì sao các đối tượng trong vụ án đều đã cúi đầu nhận tội, xin hưởng lượng khoan hồng và pháp luật cũng đã rất nhân văn, nhân đạo khi chuyển tội danh cho 19 bị cáo để giảm nhẹ hình phạt, vậy bất công ở điểm nào, bản án nặng nề chỗ nào?
Trong quá trình xét hỏi, khi được nói lời sau cùng, trước khi Hội đồng xét xử, luận tội, các bị cáo (Lê Đình Công, Lê Đình Chức, Lê Đình Doanh, Bùi Viết Hiểu, Nguyễn Quốc Tiến, Nguyễn Văn Tuyển,…) đều đã cúi đầu thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thừa nhận cáo trạng là đúng, xin pháp luật cho hưởng lượng khoan hồng và xin lỗi gia đình 3 chiến sĩ công an hy sinh. Lê Đình Chức, nói: “Lời đầu tiên, bị cáo xin gửi lời xin lỗi đến gia đình ba chiến sĩ công an hy sinh. Cho dù bị cáo sau này phải chết hay được trở về thì vẫn mong các gia đình tha thứ, để lương tâm bị cáo được thanh thản phần nào”. Còn Lê Đình Công, thì nói: “Về sự hy sinh của ba chiến sĩ công an, bị cáo không hay biết gì. Sau khi biết tin, bị cáo vô cùng hối hận, đã thành khẩn, ăn năn hối lỗi về những sai lầm của mình. Bị cáo kính mong Hội đồng xét xử cho hưởng sự khoan hồng”. Một trong những người hoạt động tích cực nhất trong “Tổ Đồng thuận” là Bùi Viết Hiểu, cũng đã cúi đầu nhận tội và nói: “Nhận thấy cáo buộc của Viện kiểm sát về mọi hành vi và sai phạm vừa qua của mình là rất đúng”.  Một tình tiết đặc biệt tại phiên tòa, đó là: một số bị cáo đã từ chối việc luật sư tiếp tục bào chữa cho mình. Lý do là bản cáo trạng, bản luận tội của Viện Kiểm sát đã đúng người, đúng tội, đúng sự thật, nên họ không cần tiếp tục được bào chữa; mặt khác, họ còn sợ rằng, nếu để các luật sự bào chữa tội cho mình, không những không được giảm tội, mà còn bị tòa tuyên “kịch khung” hình phạt. Vậy, xin hỏi Việt Tân vẽ ra cái “phản đối”, “kiến nghị” kia, cho rằng bản án là bất công, thì bất công ở chỗ nào? và bất công cái gì?
Tội ác của các đối tượng trong vụ án này, nhất là tội ác của Lê Đình Công, Lê Đình Chức là không thể tha thứ, pháp luật cần phải nghiêm trị để đảm bảo tính nghiêm minh. Với những bị cáo khác, nếu chiếu theo đúng những gì họ đã gây ra thì hình phạt cho họ đáng lẽ phải nghiêm khắc hơn, nhưng pháp luật đã cho họ hưởng sự khoan hồng nhất định, để họ có cơ hội làm lại cuộc đời, trở thành những công dân tốt đối với xã hội. Điều đó thể hiện tính nhân văn, nhân đạo của pháp luật và chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với những người biết ăn năn, hối lỗi.
Một xã hội hiện đại cần phải thượng tôn pháp luật, phiên tòa sơ thẩm xét xử vụ án đã khép lại. Những người vi phạm pháp luật đều phải trả giá cho hành vi mà mình đã gây ra, đó không chỉ là việc các bị cáo phải nhận mức án phạt tương xứng với hành vi phạm tội; mà hơn thế, bản án này còn được thực thi trong lương tâm của các bị cáo. Họ không chỉ nhận thức được sai phạm, thành khẩn khai nhận tội, mà điều quan trọng hơn là, sau phiên tòa này lương tâm họ đã được thức tỉnh. Thật nực cười cho cái gọi là “Phản đối bản án Đồng Tâm”, đó chỉ là một trò hề. Việt Tân đừng “cố đấm ăn xôi”, “cười thuê, khóc mướn” bằng những hành động vô ích nữa../.


Sep 15, 2020

Một phiên tòa công tâm, nhân văn, đúng pháp luật

       
Các bị cáo nghe tòa tuyên án chiều 14/9. Ảnh: TTXVN.
 
Tre Việt - Sau 08 ngày xét xử theo đúng các trình tự theo quy định của pháp luật, chiều ngày 14/9/2020, Hội đồng xét xử, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã tuyên án đối với các bị cáo vụ án Đồng Tâm theo hai nhóm tội danh Giết người và chống người thi hành công vụ. Về tội danh Giết người, Hội đồng xét xử đã tuyên hình phạt tử hình đối với 02 bị cáo: Lê Đình Công và Lê Đình Chức. Cùng tội danh Giết người, bị cáo Lê Đình Doanh bị phạt tù chung thân; bị cáo Bùi Viết Hiểu, bị phạt 16 năm tù giam; bị cáo Nguyễn Quốc Tiến bị phạt 13 năm tù giam; bị cáo Nguyễn Văn Tuyển, bị phạt 12 năm tù giam. Bản án xác định, các bị cáo này có mục đích gây án đến cùng, thường xuyên bàn bạc phân công, chuẩn bị kế hoạch, cùng nhau “trực tiếp thực hiện phạm tội với mục đích giết được càng nhiều cảnh sát càng tốt” và phạm tội Giết người với tình tiết tăng nặng là “giết người bằng phương pháp giết nhiều người”. Trong đó, bị cáo Lê Đình Công giữ vai trò chủ mưu cầm đầu khi thường xuyên tổ chức họp bàn chống đối, phát video và tuyên bố “giết chết 300 đến 500 công an”. Lê Đình Công cũng đặt mua lựu đạn, hướng dẫn các bị cáo khác làm bom xăng. Hành vi của bị cáo này là một trong những nguyên nhân khiến ba chiến sĩ cảnh sát hy sinh khi đang thi hành công vụ. Các bị cáo: Lê Đình Chức, Lê Đình Doanh cùng đổ xăng xuống hố khi ba chiến sĩ cảnh sát ngã xuống - nguyên nhân trực tiếp khiến ba chiến sỹ hy sinh. Hành vi của hai bị cáo thể hiện tính côn đồ, hung hãn, với mục đích giết người đến cùng. Mặc dù vậy, Hội đồng xét xử đã tuyên bố “Bị cáo Doanh lẽ ra cần loại bỏ vĩnh viễn khỏi xã hội nhưng gia đình bị cáo có bố Lê Đình Công và chú ruột Lê Đình Chức đã bị tử hình nên Hội đồng xét xử thể hiện sự nhân đạo cho lĩnh án chung thân”. Bị cáo Bùi Viết Hiểu bị xác định một trong những thủ lĩnh tinh thần của cái gọi là “tổ đồng thuận”, trực tiếp ném bom xăng về phía công an. Bị cáo phạm tội khi trên 70 tuổi, không trực tiếp gây ra cái chết cho ba cảnh sát nên được áp dụ tình tiết giảm nhẹ. Về tội Chống người thi hành công vụ, Hội đồng xét xử đã tuyên phạt: bị cáo Bùi Thị Nối, 06 năm tù giam; các bị cáo: Nguyễn Văn Quân, Lê Đình Uy, Lê Đình Quang, Bùi Văn Tiến, Lê Đình Quân, mỗi người 05 năm tù giam. 17 bị cáo còn lại bị phạt từ 15 tháng tù đến 3 năm tù nhưng cho hưởng án treo. Hội đồng xét xử cũng đã tuyên trả tự do ngay tại toà cho 14 bị cáo nếu không bị tạm giam trong vụ án khác. Trước đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội đã vận dụng chính sách pháp luật hình sự, đường lối khoan hồng nhân đạo của Nhà nước để áp dụng tội danh nhẹ hơn và áp dụng hình phạt nhẹ dưới mức thấp nhất của khung hình phạt đối với một số bị cáo, tạo điều kiện cho các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
          Điều đó cho thấy, đây là một phiên tòa diễn ra theo đúng quy định của pháp luật, xử đúng người, đúng tội, công tâm và nhân văn. Tại phiên tòa, khi được phát biểu, các bị cáo đều nhận thấy rõ tội lỗi của mình, sự nghiêm minh của pháp luật, tỏ rõ sự ăn năm hối cải, xin nhân dân Đồng Tâm và cả nước, gia đình người bị hại lượng thứ và xin được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước.
          Phiên tòa thành công là cái tát trời giáng vào mặt những kẻ tự xưng là nhà dân chủ, luật sư đấu tranh về dân chủ,… ra rả xuyên tạc bản chất sự kiện Đồng Tâm, bản chất vụ án, chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và pháp luật Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên các trang mạng phi pháp, báo chí tiếng Việt ở nước ngoài, điển hình là BBC, VOA, RFA - Những cơ quan truyền thông chuyên bảo kê cho các loại tội phạm, cơ hội, chống phá Việt Nam./.


Sep 13, 2020

Nói bừa



Tre Việt - Trân Văn đã nói bừa qua bài viết: “Vụ án Đồng Tâm: Đảng bị răn đe và được dân giáo dục”, ngày 11/9/2020 trên VOA tiếng Việt. Bởi ông ta viết: “Rồi cũng sẽ tới lúc HĐXX sơ thẩm “vụ án Đồng Tâm” công bố bản án nhưng câu chuyện Đồng Tâm chưa kết thúc. Không phải tự nhiên mà càng ngày càng nhiều người Việt giận dữ”(!). Câu hỏi đặt ra là căn cứ vào đâu để ông đưa ra kết luận “càng ngày càng nhiều người Việt giận dữ” về vụ án Đồng Tâm. Rõ ràng không có khảo sát, đánh giá nào mà nói bừa như vậy. Đây cũng là cách nói không căn cứ thường thấy của các thế lực có thâm thù, chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Mặc dù, chính Trân Văn cũng đã thừa nhận khi trích lời của Tuan Ngo tường thuật trên trang facebook của ông ta là khi được phép “nói lời cuối cùng” nhiều bị cáo đều chung một số ý: “…Xin lỗi gia đình bị hại, cảm ơn các thầy trong trại giam đã giáo dục để nhận ra lỗi lầm. Cảm ơn các luật sư và xin từ chối hoặc đề nghị luật sư không bào chữa theo hướng trả hồ sơ nữa. Cuối cùng là xin giảm nhẹ hình phạt”, thế mà Trân Văn là nói bừa “càng ngày càng nhiều người Việt giận dữ” về vụ án Đồng Tâm. Thế mới biết mức độ trơ chẽn của Trân Văn như thế nào rồi đấy!
Trân Văn nhắc lại câu hỏi ngây ngô của Lưu Trọng Văn được cho là gửi cho Đại tướng Tô Lâm về “chiến công Đồng Tâm”: “Tại sao người có “thành tích đặc biệt, Thượng tá Nguyễn Ngọc Mẽ - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát Cơ động, trực tiếp chỉ huy trận chiến - bị điều chuyển sang Công an huyện Hoài Đức mà không ở lại trung đoàn để tổ chức mừng công và chờ thăng tiến?”. Nói câu hỏi ngây ngô vì họ không hiểu hoạt động, tính chất của công an, quân đội ở trung đoàn, sư đoàn khác gì với ở huyện, tỉnh. Hoạt động ở huyện, tỉnh đa dạng hơn ở trung đoàn, sư đoàn. Ở huyện, tỉnh hoạt động trên nhiều lĩnh vực chứ không thuần túy là huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu như ở trung đoàn, sư đoàn. Vì thế, cán bộ quân sự, công an công tác ở huyện, tỉnh có điều kiện phát triển toàn diện hơn. Chuyển Thượng tá Nguyễn Ngọc Mẽ - Trung đoàn trưởng Trung đoàn Cảnh sát Cơ động sang Công an huyện Hoài Đức với mục đích như thế.
Trân Văn lại nêu câu hỏi của Lưu Trọng Văn: tại sao đề nghị thưởng Huân chương Chiến công cho ba sĩ quan công an hy sinh mà không biểu dương, đề nghị tặng huân chương cho người khác? Việc khen thưởng là căn cứ vào thành tích, cống hiến của mỗi người, thành tích, cống hiến đến đâu thì khen thưởng đến đó, sao có chuyện tùy tiện được. Đó là lẽ đương nhiên. Thế mà họ cũng nêu câu hỏi. Thật là nực cười!