Apr 23, 2025

Đất nước Việt Nam bình yên và đáng sống


Tre Việt - Ngày 22/4, trang facebook Việt Tân đăng status với luận điệu rêu rao, xấc xược, rằng: “Có thật sự xã hội Việt Nam là bình yên và đáng sống, hay chỉ là thói quen mị dân”. Đây là luận điệu xuyên tạc, hòng phủ nhận thành quả xây dựng, phát triển đất nước trong sự nghiệp đổi mới; xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp hình ảnh, vị thế và uy tín của đất nước ta. Sâu xa hơn, là phủ nhận chế độ xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta đang nỗ lực phấn đấu thực hiện.

Tuy nhiên, những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội mà chúng ta đã đạt được trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, nhất là trong gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới là minh chứng hùng hồn, khẳng định Việt Nam là đất nước bình yên và đáng sống. Đó là sự thật, chứ không phải là “thói quen mị dân” như Việt Tân xuyên tạc, rêu rao. Với quan điểm “dân là gốc”, mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ cuộc sống, nguyện vọng, quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu. Trong những năm qua, Việt Nam đã không ngừng nỗ lực để mọi người dân được sống trong xã hội bình yên và  hạnh phúc. Từ một nước thiếu lương thực triền miên, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới; Việt Nam chúng ta đã thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Quy mô nền kinh tế năm 2025, ước đạt trên 510 tỉ USD, Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong ASEAN, thứ 32 trên thế giới. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt, thu nhập bình quân đầu người ước đạt khoảng 5.000 USD, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; GDP bình quân đầu người năm 2025 gấp gần 25 lần sau ba thập kỷ. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng dưới 1,9% năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều, trở thành một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên khoảng 74,7 tuổi năm 2025. Các vấn đề an sinh xã hội luôn được chăm lo, ngay cả lúc nền kinh tế gặp khó khăn do tác động của suy thoái kinh tế thế giới, hay thiên tai, dịch bệnh. Xếp hạng chỉ số hạnh phúc của Việt Nam trên thế giới đã tăng vượt bậc; mới đây, đúng vào Ngày Quốc tế hạnh phúc (20/3/2025), Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố Báo cáo Hạnh phúc toàn cầu; chỉ số hạnh phúc năm 2025, Việt Nam tăng 8 bậc so với năm 2024, lên thứ hạng 46/143 quốc gia (trong khi đó, năm 2020 chúng ta chỉ xếp thứ 83), v.v.

Đặc biệt, ở Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của một hệ thống chính trị nhất quán, đã duy trì được sự bình yên trong nước, khác biệt với nhiều quốc gia trong khu vực từng trải qua bất ổn, như: Myanmar hay Thái Lan với các cuộc biểu tình lớn. Theo báo cáo của Travel And Tour World (Hoa Kỳ) ngày 25/03/2025, Việt Nam được xếp hạng thứ 4 về an toàn trong Đông Nam Á, với chỉ số an toàn đạt 59,2/100, chỉ sau Singapore, Brunei và Thái Lan. Theo Chỉ số Hòa bình toàn cầu (Global Peace Index) năm 2024, Việt Nam đứng thứ 41/163 quốc gia, vượt xa nhiều nước trong khu vực như Philippines hay Indonesia về mức độ hòa bình và an ninh. Chỉ số khủng bố toàn cầu (Global Terrorism Index) cũng ghi nhận Việt Nam có nguy cơ khủng bố bằng 0%, một thành tích hiếm có ở Đông Nam Á.

Còn nhớ trước đó, vào năm 2022, tạp chí kinh doanh, thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ) công bố báo cáo xếp hạng chỉ số “chất lượng sống” của 165 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thì chỉ số “chất lượng sống” của Việt Nam đạt 78,49 điểm, xếp vị trí 62/165 (tăng 39 bậc so với năm 2021). Đặc biệt, theo khảo sát Expat Insider mới nhất của InterNations, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia và vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cảm thấy hạnh phúc khi sống, làm việc. Theo InterNations: 86% người nước ngoài sống ở Việt Nam tham gia khảo sát hài lòng với công việc của họ ở Việt Nam; 78% hài lòng với sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống; 85% hài lòng với chi phí sinh hoạt; 57% hài lòng với chất lượng chăm sóc y tế; 67% nói rằng dễ dàng khi sống ở Việt Nam.

Kết quả với những con số biết nói trên được nhân dân ta và bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao, thể hiện rõ những thành tựu và tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng. Vì vậy, luận điệu mà Việt Tân xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp hình ảnh, vị thế của đất nước cần bị lên án và đấu tranh, bác bỏ./.


Không thể xuyên tạc Chiến thắng 30/04/1975

          Chiến thắng 30/4/1975 là một sự kiện trọng đại có tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn và tính thời đại sâu sắc trong thế kỷ XX. Đó là thắng lợi của chính nghĩa trước bạo lực, cường quyền; là biểu tượng sáng ngời về ý chí bất khuất, khát vọng hòa bình, tự do của dân tộc Việt Nam và nhân loại tiến bộ. Vậy mà, trên trang Doithoaionline, tác giả Trúc Lam đăng tải bài viết “50 năm từ khi Sài Gòn sụp đổ, Việt Nam không thể hàn gắn bằng cách xóa bỏ một nửa quá khứ.…” luận điệu xuyên tạc chiến thắng của nhân dân ta hòng kích động tư tưởng chống phá, dấy lên thù hằn dân tộc,… nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, công cuộc xây dựng đất nước, chia rẽ mối đại đoàn kết của dân tộc Việt Nam. Do vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần hết sức tỉnh táo, đề cao tinh thần cảnh giác cách mạng để không bị mắc phải mưu đồ xấu xa của bọn chúng. Bởi vì:

Một là, thực tiễn cho thấy trong suốt 21 năm xâm lược Việt Nam, Mỹ đã thay đổi 5 chiến lược quân sự khác nhau, huy động tới hơn nửa triệu quân, cùng hàng vạn quân đồng minh làm xương sống cho hơn 1 triệu quân nguỵ. Mỹ cũng đã sử dụng tất cả những vũ khí, kỹ thuật quân sự tiên tiến nhất, kể cả vũ khí sinh học, hóa học, nhằm rắp tâm đẩy Việt Nam trở về “thời kỳ đồ đá”. Mỹ đã biến Việt Nam thành đất nước bị ném bom nhiều nhất trên thế giới với hơn 7,8 triệu tấn, gấp hơn 3 lần số bom, đạn Mỹ sử dụng trong chiến tranh thế giới thứ hai và gấp 12 lần so với chiến tranh Triều Tiên. Mỹ cũng đã rải xuống miền Nam Việt Nam khoảng 85 triệu lít chất độc hóa học, mà chủ yếu là chất diệt cỏ đi­ô­xin, hậu quả là hơn một nửa diện tích rừng của Việt Nam đã bị thiêu rụi và đến nay di chứng của chất độc tàn ác này vẫn còn tồn tại dai dẳng. Mỹ đã tiêu tốn 676 tỷ USD cho cuộc chiến tranh Việt Nam, đưa chiến tranh Việt Nam trở thành một trong những cuộc chiến “đắt tiền” nhất trong lịch sử nước Mỹ. Do đó, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là cuộc chiến tranh chính nghĩa, nhằm đánh đuổi đế quốc Mỹ xâm lược, giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa, thống nhất nước nhà. Đó là chân lý, là sự thật đã quá rõ ràng.

Hai là, chiến tranh đã lùi xa, sự phân định giữa chính nghĩa và phi nghĩa, giữa chiến thắng và thất bại đã rõ ràng. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện của nhiều quốc gia; trong đó có các quốc gia từng trực tiếp hoặc tham gia chiến tranh xâm lược Việt Nam để cùng hợp tác, phát triển và giữ gìn hoà bình chung. Để có ngày toàn thắng, non sông thu về một mối, chúng ta đã phải trải qua 21 năm trường kỳ kháng chiến, hy sinh, gian khổ, hàng vạn thanh niên yêu nước đã dâng trọn tuổi thanh xuân cho đất nước, đã giữ trọn lời thề “Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ”, “Quyết tử để Tổ quốc quyết sinh”, “Tất cả cho tuyền tuyến, tất cả để chiến thắng”… Bởi, Nam – Bắc là một nhà, cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ quốc của quân và dân ta là cuộc kháng chiến chính nghĩa, được cả thế giới và ngay cả người dân Mỹ tiến bộ ủng hộ. Chiến thắng 30/4/1975 là một chân lý; thể hiện sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng, tinh thần yêu nước nồng nàn, khát vọng tự do, độc lập của toàn dân tộc đã và đang là ngọn đuốc sáng soi đường cho đất nước ta, nhân dân ta vượt qua thử thách, khẳng định vị thế với các cường quốc trên thế giới.

Ba là, tinh thần yêu nước, tự lực, tự cường cùng ý chí quyết tâm, bản lĩnh, sáng tạo vượt qua mọi khó khăn thách thức, nắm bắt thời cơ. Sau gần 50 năm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước và gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nhập quốc tế, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng, tạo nhiều dấu ấn nổi bật như: Quy mô nền kinh tế năm 2024 ước đạt 470 tỷ USD, đứng thứ 35 trên thế giới, đứng thứ 5 trong ASEAN, GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.700 USD, gấp 58 lần sau ba thập kỷ, tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 2,93% năm 2023; kinh tế vĩ mô tiếp tục ổn định, lạm phát được kiểm soát dưới 4%, các cân đối lớn được bảo đảm và có thặng dư. Theo xếp hạng của Liên hợp quốc, chỉ số hạnh phúc năm 2024 của Việt Nam tăng 11 bậc, xếp thứ 54/143. Chất lượng khám, chữa bệnh từng bước được nâng lên; tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế tăng từ 90,2% năm 2020 lên 94,1% năm 2024.

50 năm đã trôi qua, nhưng tầm vóc, ý nghĩa và giá trị của Chiến thắng 30/4/1975 vẫn tiếp tục tỏa sáng, thúc đẩy toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta vững bước trên con đường đổi mới, xây dựng một Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, hùng cường và hạnh phúc, sánh vai với các nước phát triển. Lịch sử và hiện thực bác bỏ mọi luận điệu cố tình xuyên tạc của Trúc Lam. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân cần nâng cao nhận thức, tinh thần cảnh giác không mắc mưu kẻ xấu./.

 (nguồn: nhanvanviet.com)

 

Không thể phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

           Gần đây, các đối tượng phản động, thù địch phát tán nhiều bài viết xuyên tạc, phủ nhận giá trị, thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử trên con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trong bài viết “Yêu nước có cần phải yêu chủ nghĩa xã hội không?” của Vũ Đức Khanh, y rêu rao rằng, cần phải thay đổi “mô hình chính trị”, “chủ nghĩa xã hội kìm kẹp đất nước” và phải “tìm mô hình khác phù hợp hơn cho Việt Nam”, v.v. Đây thực chất là luận điệu cố tình phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, hướng lái Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa.

Từ lý luận cho thấy, chủ nghĩa xã hội có mục tiêu cao cả là giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người, tạo điều kiện để con người phát triển toàn diện; là một chế độ xã hội mà con người được tự do, sống hòa bình và hữu ái giữa các cộng đồng, không còn áp bức, bóc lột, bất công, một xã hội thực sự vì con người. Xã hội xã hội chủ nghĩa là xã hội phát triển kinh tế đi đôi với tiến bộ và công bằng xã hội, nhân ái, đoàn kết, tương trợ lẫn nhau, hướng tới các giá trị tiến bộ, nhân văn, phát triển bền vững, hài hòa để bảo đảm môi trường sống trong lành cho các thế hệ hiện tại và tương lai; một hệ thống chính trị mà quyền lực thực sự thuộc về Nhân dân, do Nhân dân và phục vụ lợi ích của Nhân dân. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011), một lần nữa khẳng định: “Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử”.

Thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam cho thấy, ngay từ khi ra đời, Đảng ta xác định chủ nghĩa xã hội là mục tiêu, là lý tưởng của Đảng cộng sản và Nhân dân Việt Nam. Ngay trong Cương lĩnh chính trị năm 1930, Đảng đã chủ trương “tiến lên chủ nghĩa xã hội”, từ đó đến nay, dù có lúc phải đối mặt với nhiều khó khăn thách thức (nhất là những năm cuối thế kỷ XX khi chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ) nhưng Đảng ta vẫn luôn khẳng định: “Đảng và Nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước Việt Nam theo con đường xã hội chủ nghĩa trên nền tảng chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh”.

Sau gần 40 năm đổi mới, từ là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, chúng ta đã vươn lên trở thành nước có thu nhập trung bình với GDP bình quân đầu người năm 2024 là 4.700USD/người. Quy mô GDP của nền kinh tế Việt Nam lọt top 40 trên thế giới, chính trị ổn định, văn hoá, xã hội, khoa học, công nghệ, quốc phòng, an ninh được củng cố, đối ngoại được mở rộng. Việt Nam đang là điểm sáng về tăng trưởng kinh tế trong khu vực và trên thế giới; đồng thời, Việt Nam còn là điểm đến thân thiện và thu hút nguồn vốn FDI cao của thế giới. Với đường lối đối ngoại đúng đắn dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế.

Những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử cả về lý luận và thực tiễn đã khẳng định: Chủ nghĩa xã hội là con đường duy nhất đúng đắn mà Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lựa chọn để giành độc lập cho dân tộc, mang lại cho người dân quyền tự do, quyền làm chủ và ấm no, hạnh phúc mà không phải con đường, mô hình nào khác. Đồng thời là minh chứng sống động phản bác luận điệu sai trái, phủ nhận thành tựu xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam của Vũ Đức Khanh và đồng bọn.

(nguồn: nhanvanviet.com)

 

Apr 17, 2025

Xuyên tạc Chiến thắng 30/4 là có tội với lịch sử dân tộc

Gần đây, trên trang mạng “Viettan”, tổ chức khủng bố Việt Tân có đăng bài viết “Việt Nam nửa thế kỷ tụt hậu và lối thoát cho tương lai”. Nội dung bài viết xuyên tạc lịch sử chiến thắng 30/4 của dân tộc ta. Với bản chất thù địch, chúng đưa ra những luận điểm chứa đầy hận thù, vô căn cứ cần phải kịp thời vạch trần và lên án trên một số điểm chính sau:

Một là, không thể phủ nhận chiến thắng 30-4-1975 của dân tộc Việt Nam. Đánh giá về giá trị, tầm vóc của Đại thắng mùa Xuân 1975, đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (tháng 12/1976) đã khẳng định: “Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của Nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất. Một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đã đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc”. Đây thực sự là hành trang vô giá, niềm tự hào dân tộc, là “sức mạnh nội sinh” giúp cho mỗi người Việt Nam yêu nước chúng ta ngày hôm nay có thêm động lực để cống hiến xây dựng một đất nước Việt Nam ngày càng to đẹp hơn.

Hai là, thực tế lịch sử đã chỉ rõ, sự sụp đổ của chính thể “Việt Nam cộng hòa” trong cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất nước nhà vào ngày 30/4/1975 là bằng chứng rõ ràng về sự phá sản, thất bại của chủ nghĩa thực dân mới, chủ nghĩa đế quốc. Đó là sự phá sản, thất bại của các thế lực xâm lược bên ngoài hòng áp đặt ách thống trị, nô dịch, áp bức, bóc lột Nhân dân ta ở miền Nam, được ngụy trang và biện minh bằng những lời lẽ tốt đẹp, những “học thuyết” và “chính sách” tô vẽ cho dân chủ, tự do, cho tiến bộ và phát triển đầy giả dối theo hệ giá trị của Mỹ.

Ba là, những luận điểm đưa ra trong cái gọi là “văn kiện” mà tổ chức khủng bố Việt Tân đưa ra  đều nhằm mục đích xấu xa. Mưu đồ của chúng là hướng đến mục đích làm sai lệch lịch sử, nhằm phủ nhận chiến thắng của Nhân dân ta, đồng thời phủ nhận cả lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội mà Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn, kiên trì xây dựng. Cách nhìn nhận của đối tượng phản động Việt Tân còn nhằm phủ nhận bản chất tốt đẹp của sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của Nhân dân ta. Đồng thời, phủ nhận công lao to lớn của Đảng ta trọng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc suốt 50 năm qua.

Bốn là, đã có rất nhiều tiếng nói từ những chính khách của nước Mỹ, sau này đã thừa nhận sai lầm của họ và ghi nhận chiến thắng vĩ đại của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Điển hình như: cựu Tổng thống Mỹ Gerald Ford đã từng nói lên nỗi niềm tâm sự của mình về một thực tế thất bại của Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam, trong đó có đoạn: “Mỗi nước đều có hồn dân tộc được tôi luyện qua gian khổ. Họ có thể bị quân đội nước ngoài đô hộ, nhưng linh hồn của một dân tộc vĩ đại như Việt Nam thì mãi mãi sáng ngời”. Cựu ngoại trưởng Mỹ Henry Kissinger cũng từng thừa nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của dân tộc Việt Nam là cuộc chiến tranh chính nghĩa: “Hà Nội chỉ chiến đấu với một lẽ duy nhất, đó là lòng yêu nước của họ. Và một nước Việt Nam thống nhất dưới sự lãnh đạo của những người cộng sản Việt Nam, chiến thắng vào năm 1975”, v.v. Điều này như một “gáo nước lạnh” làm cho những luận điệu xuyên tạc chiến thắng 30/4/1975 của nhân dân ta trở nên trơ trẽn, bỉ ổi.

Quá khứ đã lùi xa, lịch sử đã sang trang mới. Tuy nhiên, có những sự kiện lịch sử thời gian càng lùi xa càng tỏa sáng, càng nghiền ngẫm càng nhận ra những giá trị mới mẻ, vĩ đại, càng có sức lôi cuốn, là động lực tạo nên sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong các chặng đường cách mạng tiếp theo. Ngày toàn thắng 30/4/1975, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước là một trong những sự kiện huy hoàng như vậy. Với ý nghĩa cao đẹp này, trong tình hình hiện nay, nếu có ai đó, vì bất cứ lý do gì, còn có tư tưởng lệch lạc, có hành vi gây mất ổn định, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc là có tội với đất nước, với lịch sử của dân tộc Việt Nam, với anh linh của hàng triệu đồng bào và chiến sĩ ta đã hy sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc./.

(nguồn: nhanvanviet.com)

 

Luận điệu xuyên tạc, kích động lố bịch của Việt Tân

          Tre Việt - Ngày 16/4, trên trang facebook Việt Tân đăng status: “Thật là sai lầm khủng khiếp khi giải phóng miền Nam”, trong status này, Bùi Quang Hải đưa ra những luận điệu kích động rất lố bịch để xuyên tạc tầm vóc, ý nghĩa cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của dân tộc ta, cũng như ý nghĩa lịch sử Ngày Chiến thắng 30/4. Đồng thời, phủ nhận thành quả của công cuộc xây dựng và phát triển sau 50 năm thống nhất đất nước.

Cần khẳng định ngay rằng, thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước là một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, có tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc. Chiến thắng đó là kết quả của ý chí thống nhất và khát vọng hòa bình, độc lập, tự do của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng.  

Tròn 50 năm thống nhất đất nước, Bắc - Nam sum họp một nhà, các tầng lớp nhân dân đang tràn đầy niềm tin tưởng và lạc quan bởi những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được. Sau ngày đất nước thống nhất, từ một nước nghèo, lạc hậu, Việt Nam chúng ta đã thoát khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008; từ một nước thiếu lương thực triền miên, Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn khoảng dưới 1,9% năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều, trở thành một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Việt Nam đã trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trong ASEAN, thứ 32 trên thế giới. Quy mô nền kinh tế năm 2025, ước đạt trên 510 tỉ USD, xếp thứ 32 trên thế giới; thu nhập bình quân đầu người ước đạt khoảng 5.000 USD, vượt qua mức thu nhập trung bình thấp; GDP bình quân đầu người năm 2025 gấp gần 25 lần sau ba thập kỷ; tuổi thọ trung bình tăng từ 62 tuổi năm 1990 lên khoảng 74,7 tuổi năm 2025. Chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam thuộc nhóm nước trung bình cao của thế giới. Chỉ số hạnh phúc theo xếp hạng của Liên hợp quốc năm 2025 tăng 8 bậc so với năm 2024, lên thứ hạng 46/143 quốc gia (năm 2020 xếp thứ 83), v.v.

Chính những thành tựu to lớn trong đời sống chính trị, kinh tế, xã hội đất nước sau 50 năm thống nhất đất nước, nhất là trong gần 40 năm tiến hành sự nghiệp đổi mới đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng ta là minh chứng hùng hồn khẳng định quyết tâm giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế thời đại, để đất nước ta “chưa bao giờ Việt Nam có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Do đó, luận điệu “Thật là sai lầm khủng khiếp khi giải phóng miền Nam” mà Việt Tân rêu rao là sự xuyên tạc, kích động lố bịch cần phải lên án và đấu tranh bác bỏ./.

Apr 16, 2025

Kiên quyết bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng 30/4/1975 là “Ngày Quốc hận”

           Thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975 đã đánh bại đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thế nhưng, hàng năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng 30/4, các thế lực thù địch lại rêu rao xuyên tạc, bóp méo sự kiện lịch sử này và luôn cho rằng đó là “Ngày Quốc hận”.

Trong tháng 4 này, tràn lan trên một số diễn đàn, trang mạng nổi tiếng về việc “chống Cộng” như: BBC tiếng việt; RFA, VOA, Việt Tân, “Dân làm báo”, “Báo tiếng dân”,… chúng ngụy biện bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân Việt Nam thực chất chỉ là cuộc nội chiến nội bộ giữa hai miền Nam – Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản. Hơn nữa, họ hạ thấp ý nghĩa của những chiến thắng nhân dân Việt Nam giành được, cho rằng “Đại thắng mùa Xuân 1975” không thể gọi là một chiến thắng vẻ vang, mà chỉ là một kết quả tất nhiên khi Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối ngoại, rút quân, cắt viện trợ, bỏ rơi chính quyền và quân đội Sài Gòn.

Họ còn nói bừa rằng, cuộc chiến tranh này “không có kẻ thua, người thắng, mà chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”, rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh này”. Họ ra sức biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ là để giúp “Việt Nam tiếp cận văn minh phương Tây, chứ không phải là xâm lược Việt Nam”, rằng vì miền Bắc cộng sản “xâm lược, thôn tính miền Nam” nên Mỹ phải “có trách nhiệm bảo vệ đồng minh của mình”. Các thế lực thù địch thường “thảng thốt” rằng, chiến thắng lịch sử của nhân dân Việt Nam ngày 30/4/1975 đối với họ là “Tháng 4 đen”; “Ngày quốc hận”…  Có thể nói, đó là những luận điệu đầy ác ý, rất thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch, là những thiên kiến lệch lạc, những ngộ nhận, mơ hồ trong nhìn nhận, đánh giá lịch sử thiếu khách quan.

Sự thật lịch sử đã chỉ ra rằng, nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh khốc liệt và tàn ác do đế quốc Mỹ gây ra không phải dễ dàng mà phải chịu nhiều đau thương, mất mát: hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ của ta đã ngã xuống, hàng nghìn làng mạc, thành phố bị tàn phá nặng nề… Có nhiều nguyên nhân tạo nên chiến thắng, nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam.

Sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973), nhận thấy tương quan so sánh lực lượng đã hoàn toàn nghiêng về phía ta, ngày 7/1/1975, Bộ Chính trị họp “Bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc chống Mỹ, cứu nước” hạ quyết tâm lịch sử: Giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị nhận thấy quân Mỹ khó có khả năng quay lại tham chiến tại miền Nam và nhất trí thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 – 1976, đồng thời chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và xác định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”.

Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không  để chậm”.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã đoàn kết một lòng, nỗ lực cao độ, tập trung lực lượng áp đảo, tạo thành sức mạnh “triều dâng thác đổ”, tiến hành Chiến dịch Hồ Chí Minh – Trận quyết chiến chiến lược quyết định. Chỉ trong một thời gian ngắn, với tinh thần “một ngày bằng hai mươi năm”, các lực lượng tham gia chiến dịch với quân số lớn chưa từng có cùng một khối lượng lớn vật chất hậu cần đã có mặt ở khu vực tập kết, sẵn sàng tổng tiến công nội đô Sài Gòn. Thực tế, Chiến dịch Hồ Chí Minh đã diễn ra và kết thúc thắng lợi vào ngày cuối cùng của tháng Tư (30/4/1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Với ý nghĩa đó, chiến thắng 30/4/1975 chính là sự hội tụ tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, thể hiện tài thao lược và sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam.

          Thực tiễn lịch sử đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bởi thời điểm 1975, sự suy yếu của chính quyền và quân đội Sài Gòn như là một hệ quả tất yếu trước sự tiến công liên tục, mãnh liệt của quân và dân Việt Nam. Đồng thời, điều kiện lịch sử lúc đó cũng không cho phép đế quốc Mỹ vi phạm Hiệp định Paris, tái đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam. Và nếu đế quốc Mỹ có tái đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam nhằm cứu vãn chính quyền và quân đội Sài Gòn thì lịch sử cũng không thể bị đảo ngược, sớm muộn gì chúng cũng sẽ thất bại… Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam là kết quả của cả một quá trình đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam với bao tổn thất, hy sinh dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng.

Chiến thắng 30/4/1975 cách nay tròn nửa thế kỷ. Nhân dân Việt Nam với tinh thần “Gác lại quá khứ/Hướng tới tương lai” luôn mong muốn hòa bình, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhân dân các nước trên thế giới, đặc biệt là với nhân dân Mỹ. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta quên đi quá khứ; quên đi sự tàn bạo, phi nhân tính, tội ác của kẻ thù đã gây ra cho nhân dân Việt Nam và càng không cho phép bất cứ ai, với danh nghĩa gì để xuyên tạc, bóp méo giá trị thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bởi sự thật lịch sử về chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã quá rõ ràng, làm sao có thể phủ nhận, lẫn lộn trắng đen! Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp ý nghĩa chiến thắng của nhân dân Việt Nam chủ yếu là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự hy sinh, đóng góp vô cùng lớn lao của nhân dân và Quân đội ta ở cả hai miền Nam – Bắc, sự giúp đỡ của bè bạn quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; đồng thời, còn nhằm kích động các phần tử chống đối, lực lượng tay sai, phản động chống phá cách mạng Việt Nam. Bằng tất cả lý luận và thực tiễn xác đáng, chúng ta kiên quyết bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về chiến thắng 30/4 của dân tộc Việt Nam.

 

Không thể cố tình nói xấu, xuyên tạc về chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình

           Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình diễn ra (từ ngày 14-15/4/2025), theo lời mời của Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường đã thu hút sự quan tâm, chú ý đặc biệt của các tầng lớp xã hội và dư luận trong nước, quốc tế. Trên các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là các trang mạng xã hội trong và ngoài nước những ngày qua, xuất hiện nhiều bài viết, bài bình luận với tần số dày đặc liên quan chuyến thăm. Đa số các bài viết, bài bình luận phản ánh khách quan, trung thực, tích cực về diễn biến, nội dung, mục đích, ý nghĩa, cũng như đánh giá cao kết quả của chuyến thăm. Tuy nhiên, cũng xuất hiện một số bài viết với dụng ý xấu, xuyên tạc bản chất đích thực chuyến thăm, hòng cố tình nói xấu, bôi nhọ quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Đáng chú ý, trên mạng Việt Tân, đã phát tán bài viết “Việt Tân phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam”.

Với danh nghĩa “Ban Biên tập Việt Tân”, họ cáo buộc, rằng “Chính quyền Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, trong nhiều năm đã xuyên tạc, tuyên truyền dối trá với người dân của họ và quốc tế về chủ quyền Biển Đông… Mối quan hệ với Trung Quốc đang gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế đối với Việt Nam… Nhân chuyến thăm, chắc chắn Tập Cận Bình sẽ lại rao giảng, mua chuộc, cột chặt các quan chức CSVN vào tình hữu nghị viển vông “4 tốt, 16 chữ vàng” và ký kết các hiệp định bất bình đẳng, trong đó Việt Nam luôn ở phái yếu như vị thế của một chư hầu… đã đến lúc CSVN cần xem xét lại mối quan hệ với Bắc Kinh và đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết. Trong đó, kiên quyết “Thoát Trung” bằng việc huỷ bỏ những hiệp định bất bình đẳng và chấm dứt tình trạng gian lận thương mại… Hãy cùng nhau, chúng ta phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam!”!?

Mọi người thừa biết, cái gọi là “Ban Biên tập Việt Tân” là bộ phận truyền thông Việt Tân (Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng). Tổ chức này thành lập năm 1982, bởi một nhóm người Việt tại Mỹ với ý đồ nhằm lật đổ Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ Việt Nam coi Việt Tân là một tổ chức khủng bố và phản cách mạng. Việc “Ban Biên tập Việt Tân” lợi dụng chuyến thăm để phản đối là nằm trong mưu đồ đen tối của họ, với nhiều toan tính, hòng thu hút sự chú ý của dư luận về cái “thây ma chính trị lụi tàn” mà Việt Tân cố tình dựng lên để bấu vứu. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thể hiện quan điểm rõ ràng và nhất quán, phản đối mạnh mẽ, thẳng thừng bác bỏ hoàn toàn những luận điệu bịa đặt, nói xấu, xuyên tạc, cũng như các hành động mang tính cực đoan của Việt Tân đối với các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao nước ngoài đến Việt Nam, trong đó có chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình.

Hơn thế nữa, Việt Tân là một tổ chức phản động, có mục đích chống phá Việt Nam. Có thể nói, hành vi cố tình nói xấu, xuyên tạc của Việt Tân về chuyến thăm xuất phát từ những âm mưu đen tối và ý đồ chính trị riêng của họ, đều bị xem là hành vi thù địch, gây cản trở, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, có thể bị xem là hành vi gây rối trật tự công cộng, đi ngược lại lợi ích quốc gia và các quy định pháp luật của Việt Nam, không đại diện cho ý chí và nguyện vọng của đa số người dân Việt Nam. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, trong đó có việc coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Việc duy trì và phát triển quan hệ ổn định, hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc là mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước, kể cả khu vực và quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương giải quyết mọi bất đồng và khác biệt với Trung Quốc thông bằng biện pháp hòa bình, qua đàm trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và luật pháp quốc tế.

Hơn thế nữa, việc duy trì quan hệ cân bằng với các cường quốc lớn giúp Việt Nam tối đa hóa lợi ích, tránh bị phụ thuộc vào một bên, và tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đây là một chiến lược khôn ngoan và chủ động, không phải là sự hèn nhát như Việt Tân đặt điều, cáo buộc. Việt Nam luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu trong mọi quyết sách đối ngoại. Việc duy trì quan hệ tốt với cả Mỹ và Trung Quốc không có nghĩa là Việt Nam từ bỏ các nguyên tắc của mình, đặc biệt là về độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Việt Nam vẫn kiên quyết bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình và pháp lý. Thực tế, chính sách ngoại giao “đa phương hóa, đa dạng hóa” và “Ngoại giao cây tre” là một chiến lược khôn ngoan, chủ động và hiệu quả, giúp Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế trên trường quốc tế trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Chính sách này đã được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế công nhận, đánh giá cao về sự độc lập, tự chủ và đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định khu vực, thế giới. Việc Việt Nam nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều cường quốc, bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc, cho thấy sự tin tưởng và coi trọng của các nước đối với vai trò của Việt Nam. Có thể nói, những cáo buộc của Việt Tân trong quan hệ với Trung Quốc, như “Việt Nam luôn ở phái yếu như vị thế của một chư hầu… đã đến lúc CSVN cần xem xét lại mối quan hệ với Bắc Kinh và đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết. Trong đó, kiên quyết “Thoát Trung” bằng việc huỷ bỏ những hiệp định bất bình đẳng và chấm dứt tình trạng gian lận thương mại…” là một sự xuyên tạc trắng trợn và diễn giải tiêu cực, xuất phát từ mục tiêu chính trị hèn hạ, đối lập của Việt Tân, nhằm làm suy yếu lòng tin của người dân vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước. Việc khơi gợi những ký ức lịch sử không vui vẻ và những lo ngại hiện tại (nếu có) về sự ảnh hưởng của Trung Quốc, hòng tạo ra sự bất mãn trong dư luận, hướng sự chỉ trích vào Chính phủ Việt Nam. Mục đích cuối cùng của Việt Tân, cũng như các thế lực thù địch thường là gây bất ổn chính trị, tạo ra sự phản đối trong dân chúng và tiến tới thay đổi hệ thống chính trị ở Việt Nam. Việc hiểu rõ bản chất của những luận điệu xuyên tạc này của Việt Tân và các thế lực thù địch, cùng những phản biện sắc bén dựa trên sự thật và lợi ích quốc gia là biện pháp rất quan trọng, vạch rõ bản chất địch thực cùng bộ mặt thật của chúng.

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm cấp cao với Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch nước Lương Cường, cùng các cuộc hội kiến Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhằm thúc đẩy quan hệ trên các lĩnh vực; đồng thời đã tham gia một số hoạt động đối ngoại quan trọng.

Chuyến thăm đã thành công, kết thúc tốt đẹp và đạt được những thành quả trên nhiều lĩnh vực. Đó là: Tăng cường trao đổi chiến lược cấp cao, đặc biệt là tiếp xúc thường xuyên giữa Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước, qua đó làm vững chắc hơn nữa nền tảng tin cậy chính trị, chia sẻ kinh nghiệm về quản trị và phát triển đất nước, định hướng cho sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ song phương trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Xác định rõ những phương hướng lớn, trọng tâm triển khai hợp tác trên các lĩnh vực; nâng tầm hợp tác thực chất giữa hai nước theo hướng ngày càng chất lượng, hiệu quả, bền vững; thúc đẩy tạo “điểm sáng” về hợp tác trình độ cao, nhất là trong các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, Trung Quốc có thế mạnh như đường sắt khổ tiêu chuẩn, thương mại nông sản, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, kinh tế số, kinh tế xanh… đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước. Lan tỏa hiệu ứng tích cực của chuyến thăm đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân hai bên; thúc đẩy triển khai tốt Năm giao lưu nhân văn Việt Nam – Trung Quốc 2025, tăng cường giao lưu hữu nghị giữa các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị – xã hội, mở rộng hợp tác giữa các địa phương hai nước, qua đó tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau cho quan hệ song phương. Các cuộc tiếp xúc, trao đổi trên tinh thần thẳng thắn, chân thành, thực chất, hiểu biết lẫn nhau, đặt mình vào vị trí của nhau để cùng xử lý thỏa đáng những vấn đề tồn tại về biên giới lãnh thổ, kiểm soát và giải quyết tốt hơn bất đồng trên biển theo nhận thức chung cấp cao, không để vấn đề trên biển ảnh hưởng đến đà phát triển lành mạnh của quan hệ hai Đảng, hai nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới. Trong chuyến thăm, các bộ ngành, cơ quan, địa phương hai bên đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác trên hàng loạt lĩnh vực, tạo cơ sở quan trọng để triển khai hợp tác hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới. Chuyến thăm đã công tốt đẹp trên mọi phương diện, trở thành mốc son mới trong quan hệ láng giềng hữu nghị, Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược. Thành công của chuyến thăm, cũng như thành công của sự nghiệp hữu nghị giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam Trung Quốc không chỉ mang lại hạnh phúc, phục vụ tốt nhất lợi ích của nhân dân hai nước, còn đóng góp ngày càng thiết thực, có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định, tiến bộ xã hội và phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.

Báo chí Trung Quốc và quốc tế đều đánh giá cao việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam, khẳng định chuyến thăm thể hiện tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước. Đây cũng là những minh chứng cụ thể, phản bác lại các luận điệu cố tình nói xấu, xuyên tạc về chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, mà Việt Tân cùng các thế lực thù địch, phản động đã, đang thực hiện. Các tầng lớp nhân dân và dự luận xã hội cần tỉnh táo, đề cáo cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc này./.

 

Apr 10, 2025

Ðấu tranh, phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử, thành quả cách mạng

           Trước sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, những thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Ðấu tranh với các luận điệu sai trái không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân.

Sự thật lịch sử không thể bị bóp méo

Sau gần nửa thế kỷ thống nhất đất nước, Việt Nam đã và đang vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những thành tựu đáng tự hào ấy, vẫn còn những thế lực thù địch và phần tử phản động không ngừng tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ thành quả cách mạng, hòng làm lung lay niềm tin của Nhân dân vào con đường mà Ðảng, Bác Hồ và toàn dân tộc đã chọn. Họ phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chính nghĩa của dân tộc ta, cho rằng đó là một cuộc “nội chiến” phi nghĩa, cố tình lờ đi sự thật rằng chính Nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên giành lại độc lập, chủ quyền từ ách xâm lược. Họ cũng xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Ðảng, bóp méo những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hòng gieo rắc tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Thực tế đã chứng minh, sau ngày đất nước thống nhất, Việt Nam không chỉ khắc phục hậu quả chiến tranh mà còn không ngừng phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới. Những thành tựu về kinh tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, quốc phòng - an ninh, an sinh xã hội,… là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh kiên cường của dân tộc. Từ một đất nước bị cấm vận, Việt Nam giờ đây là một nền kinh tế năng động trong khu vực, với tốc độ tăng trưởng ổn định, đời sống Nhân dân ngày càng nâng cao. Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC,… khẳng định vai trò và trách nhiệm của mình trên trường quốc tế, như lời phát biểu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng

Trước những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, các cấp uỷ đảng đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Trong đó, cần quan tâm là: các cấp uỷ đảng cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; kịp thời định hướng dư luận, giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận diện rõ các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các thông tin bịa đặt, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Ðẩy mạnh công tác truyền thông, phát huy vai trò của báo chí, truyền hình, các nền tảng mạng xã hội trong việc lan toả thông tin chính thống, đấu tranh với các luận điệu sai trái. Các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương cần sâu sát, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của Nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, tránh để các thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động.

Bên cạnh sự vào cuộc của Ðảng và chính quyền, cán bộ, đảng viên và Nhân dân có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự thật lịch sử, đấu tranh với những thông tin sai trái. Do đó, cần tập trung định hướng tuyên truyền, quán triệt để nâng cao cảnh giác, không tiếp tay cho các thông tin sai lệch. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần tỉnh táo, tiếp cận thông tin một cách chọn lọc, không chia sẻ hay lan truyền những nội dung chưa được kiểm chứng, nhất là trên các nền tảng mạng xã hội.

Tích cực tuyên truyền, lan toả giá trị chân - thiện - mỹ, mỗi cá nhân có thể góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng bằng cách chia sẻ những câu chuyện, hình ảnh, thông tin tích cực về đất nước, con người Việt Nam, khẳng định sự phát triển bền vững của dân tộc. Chủ động tham gia đấu tranh trên không gian mạng, khi phát hiện các luận điệu xuyên tạc, cán bộ, đảng viên và Nhân dân có thể phản biện bằng những thông tin chính thống, góp phần vạch trần âm mưu của các thế lực phản động.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, những thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Ðấu tranh với các luận điệu sai trái không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần phát huy tinh thần yêu nước, giữ vững niềm tin vào con đường mà Ðảng và Nhân dân đã chọn; tiếp tục bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, lịch sử hào hùng của dân tộc./.

 

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam hiện nay

           Gần đây, lợi dụng việc Đảng ta đẩy mạnh cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá nguy hiểm. Do đó, cần nhận diện rõ bản chất của những luận điệu đó để tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá không thể xem nhẹ

Hiện nay, trên một số trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch đưa ra nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị mà Việt Nam đang tiến hành rất ráo riết. Những luận điệu đó tập trung vào 3 nhóm vấn đề sau:

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc
quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TƯ
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Một là, có một số luận điệu cho rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam là “ý muốn chủ quan”, “ý muốn cá nhân” của một số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam. Có một số kẻ còn cáo buộc rằng “sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”, giải quyết “đấu đá nội bộ” hay đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”… Do đó, chủ trương này được tiến hành rất nhanh chóng.

Hai là, một số luận điệu khác cho rằng việc tinh gọn tổ chức bộ máy của Việt Nam chỉ là trò “đánh trống khua chiêng”, tuy được tiến hành rầm rộ nhưng “không thực chất” bởi “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Do đó, họ cáo buộc rằng “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”, v.v.

Ba là, từ thực tế sau khi tinh gọn, sáp nhập, một số đơn vị có số lượng cấp phó tăng lên nhiều hơn so với quy định, có quan điểm cho rằng “Càng tinh gọn lại càng phình ra”… Vì thế, có phần tử cơ hội chính trị còn võ đoán rằng chủ trương tinh gọn này trước sau cũng “chết yểu”, rồi “đâu lại vào đấy” và bộ máy chính trị của Việt Nam luôn có sẵn những “khuyết tật không thể giải quyết”!

Đáng lo ngại hơn cả, không chỉ có những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động bên ngoài mà ngay chính một bộ phận cán bộ, đảng viên do mơ hồ về nhận thức, dao động về lập trường tư tưởng đã tỏ ra hoang mang, tin theo những luận điệu sai trái hoặc có thái độ hoài nghi, mất niềm tin vào chủ trương lớn của Đảng. Đây là những biểu hiện không thể xem thường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, sâu xa hơn là ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Tinh gọn tổ chức bộ máy – tiền đề vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới

Trong lịch sử dân tộc từ đầu thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đã trải qua một số thay đổi mang tính cách mạng có tính bước ngoặt. Đó là cách mạng Tháng Tám năm 1945, cách mạng xã hội chủ nghĩa những năm 60, thời kỳ đổi mới bắt đầu từ năm 1986… Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy cũng được coi là những chuyển đổi mang tính cách mạng, hiện đang được triển khai rất nhanh chóng, đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến các bộ, ngành, địa phương.

Một là, tinh gọn tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn, không phải là “ý muốn chủ quan” của một cá nhân, tổ chức nào. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ Đại hội VII (1991) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Nghị quyết số 10-NQ/TƯ, ngày 9/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”; Nghị quyết số 39-NQ/TƯ, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 25/10/2017 “về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Đây là những chủ trương, đường lối đúng đắn, thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Do đó, không thể cáo buộc rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy là ý muốn chủ quan của một cá nhân hay tổ chức nào.

Trong giai đoạn hiện nay, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị càng trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết vì về cơ bản, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, nhiều đầu mối, chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao. Chi thường xuyên cho bộ máy chiếm tới gần 70% tổng chi ngân sách nhà nước (trong khi con số này ở nhiều nước chỉ khoảng 48 - 50%), do đó không còn đủ nguồn lực để đầu tư phát triển, v.v.

Hơn nữa, một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin – cho, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Công tác tinh giản biên chế gắn với vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn thiếu triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cản trở phát triển, tăng thủ tục hành chính, lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, công dân, làm lỡ thời cơ phát triển đất nước.

Trong bài viết: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết. Do đó, tinh gọn tổ chức bộ máy là yêu cầu tất yếu để xây dựng bộ máy chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.

Hai là, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy đã bước đầu đạt được những kết quả quan trọng, ngày càng đi vào thực chất chứ không phải mang tính hình thức, mị dân.  Thực hiện chủ trương của Đảng, nước ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối, tầng nấc trung gian đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Chỉ riêng đối với Bộ Công an, từ năm 2018 đến nay, qua hai lần kiện toàn tổ chức bộ máy, Bộ Công an đã giảm 7 tổng cục và tương đương, 55 đơn vị cấp cục, 7 trường Công an nhân dân, 20 sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy cấp tỉnh, gần 1.200 đơn vị cấp phòng, trên 3.500 đơn vị cấp đội. Sau sắp xếp, kiện toàn bộ máy, Bộ Công an vẫn hoạt động hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự với nhiều dấu ấn nổi bật, đóng góp rất quan trọng vào những thành tựu, kết quả chung của đất nước.

Những ngày gần đây, ngay sau khi cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được đẩy mạnh, toàn bộ các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã vào cuộc xây dựng đề án sắp xếp tinh gọn bộ máy theo đúng lộ trình đặt ra. Ngày 30/12/2024, Bộ Chính trị công bố quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 13 cơ quan ban Đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Đây là những hành động và kết quả thực chất của việc tinh gọn bộ máy, từ đó phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy “chỉ mang tính hình thức”, “không thực chất”, “mị dân”. Thực tiễn cho thấy, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước ta với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ”… như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao, bóp méo.

Ba là, trong giai đoạn đầu của quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy, cần chấp nhận những “bước quá độ” với sự tăng lên về số lượng cán bộ cấp phó nhưng đó là một bước đi cần thiết. Đúng là có thực tế sau khi thực hiện sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại thì số cán bộ cấp phó ở một số cơ quan từ Trung ương đến địa phương tăng cao hơn so với quy định. Tuy nhiên, đây là giải pháp phù hợp cho giai đoạn chuyển tiếp, bởi số lượng cơ quan và cán bộ lãnh đạo thuộc diện phải sáp nhập, giải thể… là rất lớn, không thể máy móc áp dụng đúng số lượng cấp phó ngay tại thời điểm sắp xếp lại. Khi hợp nhất, sáp nhập hai cơ quan thì việc một cán bộ cấp trưởng và đội ngũ cán bộ cấp phó của hai cơ quan này nếu vẫn còn thời gian công tác, có trình độ, năng lực, kinh nghiệm, trở thành cấp phó của người đứng đầu cơ quan mới cũng là hợp tình hợp lý, vừa không lãng phí nguồn nhân lực, vừa mang ý nghĩa nhân văn.

Hơn nữa, đây cũng chỉ là giải pháp tình thế, sau một thời gian, số lượng cấp phó sẽ phải giảm đi. Điều này đã được đề cập trong nghị quyết của Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV diễn ra ngày 19/2/2025, quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Theo đó, nghị quyết nêu rõ, khi sắp xếp tổ chức bộ máy mà số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhiều hơn số lượng tối đa theo quy định của pháp luật thì chậm nhất là 5 năm kể từ ngày quyết định sắp xếp tổ chức bộ máy của cấp có thẩm quyền có hiệu lực, số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan phải giảm theo đúng quy định.

Như vậy, về lâu dài thì không hề có chuyện “càng tinh gọn lại càng phình ra” như các luận điệu xuyên tạc vẫn rao rêu. Việc tăng số lượng cấp phó của người đứng đầu Chính phủ, Quốc hội, các bộ, cơ quan… chỉ là giải pháp tình thế cho giai đoạn chuyển tiếp, tồn tại trong một thời gian nhất định.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó, để công tác quan trọng này đi tới thành công đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải có tinh thần mạnh mẽ hơn, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất về tư tưởng, hành động quyết liệt, tiến hành nhanh, gọn nhưng phải hiệu quả và không để kéo dài.

Đặc biệt, cần phải công khai, minh bạch trong các bước thực hiện, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng thông tin mơ hồ, gây hoang mang; tăng cường đối thoại, giải thích trực tiếp, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo sự đồng thuận trong suốt quá trình thực hiện. Đồng thời, cần đẩy mạnh vai trò của báo chí và truyền thông trong đấu tranh, phản bác trực diện các luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang quyết liệt thực hiện…

Sở dĩ tinh gọn tổ chức bộ máy được coi là một cuộc cách mạng vì nó có thể tạo ra những thay đổi căn bản, toàn diện của hệ thống chính trị; góp phần xây dựng hệ thống chính của Việt Nam theo hướng tinh, gọn, mạnh. Những kết quả quan trọng mà Việt Nam đã đạt được cùng một khí thế mới của cả hệ thống chính trị sau khi tiến hành sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị chính là luận cứ giàu sức thuyết phục để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch về tinh gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát trển mới./.

Apr 3, 2025

Cảnh giác với những lời kêu gọi thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam

 Kêu gọi Việt Nam thay đổi thể chế chính trị hiện nay là một thủ đoạn rất thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm kích động tư tưởng đòi thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng lái đất nước đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Đó là những lời kêu gọi rất nguy hiểm, cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Thủ đoạn này không mới, nhưng lại được các thế lực thù địch “hâm nóng” khi Nhà nước ta có những thay đổi nhân sự lãnh đạo ở cấp cao nhất và Đảng ta đang bước vào thời gian tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Để thực hiện thủ đoạn này, các thế lực thù địch thường tung ra rất nhiều luận điệu xuyên tạc về thể chế chính trị ở nước ta gắn với sự độc tôn lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đơn cử, họ cho rằng: “Thể chế chính trị với một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo thì không có dân chủ, cản trở sự phát triển của đất nước và là nguyên nhân của tham nhũng”, hay “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị” (!). Từ đó, họ kêu gọi: “Cần loại bỏ sự toàn trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng” (!). Gần đây, lợi dụng phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV, ngày 21/10/2024: “Trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, các thế lực thù địch xuyên tạc và kêu gọi “đã đến lúc phải xóa bỏ điểm nghẽn của điểm nghẽn đó” (!). Trắng trợn hơn, ngày 25/10/2024, tổ chức khủng bố Việt Tân đăng trên trang facebook của mình rằng: “Điểm nghẽn sự phát triển của Việt Nam là Điều 4 Hiến pháp (Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)”, do vậy “Chỉ cần quất một phát cho Điều 4 Hiến pháp đi chỗ khác chơi là giải quyết được mọi vấn đề của đất nước” (!), v.v. Mục tiêu của tất cả những luận điệu xuyên tạc, sai trái nói trên đều hướng tới cổ vũ cho lời kêu gọi chuyển đổi thể chế chính trị hiện hành sang thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Những luận điệu đó thật thâm độc, hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trước hết, quan điểm một đảng cầm quyền chỉ dẫn đến độc tài, mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là hoàn toàn không có cơ sở khoa họcTrên phương diện lý luận, dân chủ và phát triển không phụ thuộc vào thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, hay do một đảng cầm quyền - lãnh đạo xã hội. Nói cách khác, một quốc gia thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng không hẳn là có dân chủ, không dẫn tới độc tài; ngược lại, một nước chỉ duy nhất có một đảng lãnh đạo - cầm quyền, cũng không có nghĩa rằng đó là chế độ độc tài, mất dân chủ. Do vậy, không phải cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có dân chủ và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ. Bởi, bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Theo đó, một đất nước có thể chế dù là nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay nhiều đảng, nhưng nếu chính đảng cầm quyền và nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân thì xã hội đó có dân chủ thực sự. Mặt khác, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, về hình thức là dựa trên chế độ đa đảng, nhưng về bản chất vẫn dựa trên sự nhất nguyên chính trị; nghĩa là vẫn dựa trên chế độ một đảng - đảng tư sản. Đảng tư sản nào cầm quyền cũng là kết quả sự phân chia quyền lực giữa các phe phái của giai cấp tư sản, đại diện và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản là chủ yếu.

Trên phương diện thực tiễn, có thể thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới theo chế độ đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, chính trị không ổn định, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển, điển hình như nhiều nước ở châu Phi. Trong khi đó, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng chính trị ổn định, dân chủ được phát huy, kinh tế - xã hội vẫn phát triển, đời sống nhân dân được đảm bảo và ngày càng cải thiện, như ở Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Lịch sử thế giới trong thế kỷ XX cũng cho thấy, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, chính thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng lại gắn liền với các chế độ độc tài, hạn chế dân chủ như chế độ độc tài của Hitle ở nước Đức quốc xã, Mussolini ở nước Ý phát xít, Park Chung-hee ở Hàn Quốc, Pinochet ở Chile, Suharto ở Indonesia, v.v. Mặt khác, lịch sử cũng ghi nhận thời kỳ Tổng thống Park Chung-hee cầm quyền (1961 - 1979), duy trì chế độ độc tài, nhưng kinh tế Hàn Quốc vẫn có sự phát triển thần kỳ; từ một quốc gia đói nghèo với thu nhập bình quân đầu người năm 1961 chỉ 94 USD/năm đã tăng lên đến 1.784 USD/năm vào năm 1979, trở thành “con Rồng châu Á”. Điều đó cho thấy luận điểm “chế độ đa đảng thì có dân chủ và phát triển, còn một đảng thì mất dân chủ và cản trở sự phát triển” không thể đứng vững. Việc duy trì chế độ một đảng lãnh đạo - cầm quyền, hay đa đảng phụ thuộc vào những điều kiện chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa, tôn giáo,… cụ thể của mỗi dân tộc; và mỗi quốc gia, dân tộc lựa chọn thể chế chính trị nào, đa đảng hay một đảng là quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc đó. Điều này hoàn toàn phù hợp với Điều 1 của cả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà Liên hợp quốc đã thông qua.

Thứ hai, coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ một đảng cầm quyền cũng là luận điểm hoàn toàn sai trái. Bởi lẽ, về mặt lý luận, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó tổ chức theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo - cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Về mặt thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Chẳng thế mà hằng năm, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu là các quốc gia đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2023 (công bố ngày 30/01/2024) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt lần lượt là 90, 87, 85 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là: Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong giai đoạn 2012 - 2023, có 34 quốc gia đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, nghĩa là tham nhũng ở những nước này có xu hướng gia tăng, trong đó có Thụy Điển, Vương quốc Anh - những nước theo chế độ đa đảng. Điều đó chứng tỏ luận điểm “chế độ một đảng là nguyên nhân tham nhũng” chỉ là sự xuyên tạc, bịa đặt, không có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc.

Ở nước ta, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, sự lãnh đạo độc tôn của Đảng luôn là nhân tố đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là sự lựa chọn khách quan, khắt khe của lịch sử trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng đất nước trong hòa bình. Do vậy, nói “Chế độ độc đảng là nguyên nhân tham nhũng, cản trở dân chủ và phát triển” là sự xuyên tạc, bịa đặt, coi thường tính khách quan của lịch sử. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động, của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không một lực lượng chính trị nào ở Việt Nam có thể đưa ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn để tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Lịch sử đã ghi nhận rằng, trong mấy chục năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân ta đã liên tục vùng lên dưới ngọn cờ lãnh đạo của các giai cấp: phong kiến, tiểu tư sản và tư sản dân tộc để đấu tranh chống thực dân Pháp, nhằm giành lại độc lập cho dân tộc, nhưng không có lấy một thành công. Bởi, các ngọn cờ đó không phù hợp với xu thế của thời đại, không đưa ra được đường lối đúng đắn cho phép giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam, không thỏa mãn được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc, nên không tập hợp được sức mạnh của cả dân tộc. Chính sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, với vai trò kiệt xuất của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước của dân tộc ta lúc đó; đánh dấu sự kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945; tiếp đó là giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục độc tôn lãnh đạo nhân dân cả nước đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam là người khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới gần 40 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 trong 200 quốc gia trên toàn thế giới; xây dựng được các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực1. Hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009 và 2020 - 2021); hai lần đảm trách nhiệm vụ thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025); từ năm 2014, bắt đầu tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc là minh chứng vững chắc khẳng định vị thế và uy tín quốc tế của Việt  Nam trên trường quốc tế. Trên lĩnh vực kinh tế, nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ năm 2007; đến nay đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu to lớn. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, nay chúng ta đã đứng vào nhóm nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực2 và nhiều mặt hàng khác. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2024 đạt 476,3 tỉ USD, đứng thứ 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài3. Nhờ đó, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2024 đạt 4.700 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 1,93% năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng; quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được thực hiện ngày càng hiệu quả. Quy chế Dân chủ cơ sở được tổ chức thực hiện rộng rãi, ngày càng chặt chẽ theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tăng cường sự đoàn kết dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nói trên luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là minh chứng sinh động bác bỏ sự xuyên tạc về thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay. Xin nhấn mạnh rằng, trong cam kết của tất cả các nước khi đặt quan hệ, hoặc nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam, kể cả Hoa Kỳ gần đây, đều khẳng định sự “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam”4. Vì vậy, kêu gọi Việt Nam thay đổi thể chế chính trị của các thế lực thù địch chỉ là tiếng nói lạc lõng, nhưng cần cảnh giác.

NGUYỄN NGỌC HỒI
_______________
        

1 - Tính đến tháng 11/2024, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược và toàn diện với 32 quốc gia; trong đó, có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 09 quốc gia là: Trung Quốc (5/2008), Liên bang Nga (7/2012), Ấn Độ (9/2016), Hàn Quốc (12/2022), Mỹ (9/2023), Nhật Bản (11/2023), Australia (3/2024), Pháp (10/2024) và Malaysia (11/2024). Đối với Lào và Campuchia là quan hệ đặc biệt.

2 - Năm 2024, xuất khẩu gạo đạt 09 triệu tấn.

3 - Năm 2024, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 786,29 tỉ USD; Việt Nam nằm trong 15 nước đang phát triển thu hút vốn FDI lớn nhất thế giới.

4 - Phát biểu của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 - 11/9/2023.