May 20, 2014

Chính nghĩa thuộc về Việt Nam

Tre Việt - Biển, đảo Việt Nam có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm môi trường và quốc phòng - an ninh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như mối quan hệ giao thương hàng hải, hàng không đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong lịch sử, cũng như hiện tại và tương lai, nhân dân Việt Nam luôn thấy rõ vị trí, tầm quan trọng biển, đảo của Tổ quốc, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình theo đúng pháp luật Việt Nam, luật pháp và thông lệ quốc tế, củng cố hòa binh, an ninh trên biển. Trên cơ sở đó, nhân dân Việt Nam đã khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên biển, đảo phục vụ cho công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước. Trong Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, Đảng ta nêu rõ: Phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, v.v.
Ngày nay, các nước trên thế giới đều thấy rõ vai trò, vị trí của biển, đảo. Khi các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, cùng với sự gia tăng dân số và phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, các nước đều tìm mọi cách để vươn ra biển, khai thác các nguồn lợi to lớn trên biển, như: đánh bắt hải sản, khai thác nguồn tài nguyên đáy biển, bảo đảm giao thông, vận tải hàng hóa bằng đường biển và đường không trên biển,... Chính điều đó, cùng với nhiều nguyên nhân khác, trong đó có những hành xử bất chấp đạo lý, luật pháp và thông lệ quốc tế của một số nước đã làm cho vấn đề tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán ở các vùng biển, đảo trên thế giới, trong đó có khu vực biển của Việt Nam trở nên gay gắt, thậm chí bị biến thành vấn đề chính trị nóng bỏng, tác động mạnh mẽ đến môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển của thế giới, nhất là với các quốc gia, vùng lãnh thổ ven biển, có đường biên giới biển liền kề. Đó là hành động phi nghĩa.
Việt Nam và Trung quốc có mối quan hệ rất đặc biệt, “núi liền núi, sông liền sông”, “chung Biển Đông,... chung tình hữu nghị”, có cả đường biên giới trên đất liền và trên biển. Trong quá trình phát triển, Việt Nam và Trung Quốc đều đã tập trung khai thác các nguồn lợi từ các vùng biển thuộc chủ quyền của mình và có những thỏa thuận để cùng nhau khai thác nguồn lợi từ các vùng biển có tranh chấp một cách hòa bình, phục vụ cho sự phát triển mỗi nước, phù hợp với đặc điểm của mình và thông lệ quốc tế. Chính điều đó đã tạo điều kiện để cả Việt Nam và Trung Quốc đều có bước phát triển mạnh mẽ cả về thế và lực, đời sống nhân dân hai nước không ngừng được cải thiện, nâng cao, quốc phòng - an ninh được tăng cường, môi trường hòa bình, ổn đỉnh, an ninh, an toàn trên biển thuộc chủ quyền hai nước và các nước trong khu vực và quốc tế được đảm bảo,... Trung Quốc đã trở thành nước có nền kinh tế đứng thứ 2 trên thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh,... Tuy nhiên, với tham vọng độc chiếm Biển Đông, biến tuyên bố đường biên giới “lưỡi bò” trên biển thành hiện thực, Trung Quốc đã không ít lần có những hành động ngang ngược, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, gây mất an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, từ ngày 01-5-2014 đến nay, Trung Quốc đã ngang ngược, bất chấp luật pháp và thông lệ quốc tế đã đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Khi các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam ra nhắc nhở, thì Trung Quốc huy động các loại tầu, trong đó cả tầu quân sự để tấn công trực diện các lực lượng bảo vệ chủ quyền biển của Việt Nam. Nguy hiểm hơn, bất chấp sự phản đối của Việt Nam, của các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới (cả những người dân, các học giả Trung Quốc), Trung Quốc ngang ngược tuyên bố về cái gọi là “chủ quyền” trên vùng biển, thềm lục địa Việt Nam; dựng chuyện “Việt Nam khiêu khích, gây gia tăng căng thẳng”, đòi Việt Nam phải “rút hết các tầu đang ngăn chặn hoạt động của Hải Dương-981 của Trung Quốc” về nước, để “đàm phá hòa bình, giảm căng thẳng trong tranh chấp” (!). Nên nhớ, theo Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, vị trí giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc hạ đặt là thuộc chủ quyền Việt Nam! Hành động trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, trực tiếp đe dọa đến nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, cũng như an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, môi trường hoà bình trong khu vực và trên thế giới.
Trước âm mưu độc chiếm Biển Đông và hành động khiêu khích ngang ngược của Trung Quốc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã nêu cao chính nghĩa, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, huy động tối đa các nguồn lực, tiềm lực trong nước và ngoài nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta đã và đang đấu tranh hòa bình, bằng các biện pháp chính trị, ngoại giao và luật pháp, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng lực lượng xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Luật pháp và dư luận quốc tế, chính nghĩa, lẽ phải đứng về chúng ta - Việt Nam!
Việt Nam là một đất nước có truyền thống yêu chuộng hòa bình, hòa giải, hòa hiếu, hòa hợp dân tộc, quốc gia và quốc tế. Việt Nam đã là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế có uy tín trong khu vực và trên thế giới (Liên hợp quốc, ASEAN,... Việt Nam đã ký kết, xây dựng mối quan hệ tốt, làm đối tác kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh với nhiều nước trên thế giới; trong đó, là đối tác hợp tác toàn diện với Mỹ, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với các nước: Anh, Pháp, Nga,... và cả Trung Quốc. Như vậy, chứng tỏ Việt Nam luôn là bạn, là đối tác có trách nhiệm với các nước, luôn phấn đấu vì hòa bình, phát triển của thế giới. Và chính điều này, Việt Nam có đủ các nguồn lực trong nước và quốc tế để bảo vệ chủ quyền của đất nước. Lịch sử dựng xây và phát triển của đất nước, dân tộc Việt Nam đã chững minh rõ: mọi hành động xâm phạm chủ quyền của đất nước Việt Nam đều bị thất bại.
Lẽ phải, chính nghĩa thuộc về Việt Nam! Âm mưu, hành động trắng trợn đưa giàn khoan Hải Dương – 981 và sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc là phi nghĩa, vi phạm trắng trợn chủ quyền, quyền quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển của Việt Nam.
Hệ thống pháp lý về chủ quyền biển, đảo Việt Nam (bao gồm những văn bản của Nhà nước Việt Nam và quốc tế) đã chỉ rõ điều đó. Việt Nam, là nước đã tham gia Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về luật biển từ năm 1977, là một trong 130 quốc gia tán thành Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 và cũng là một trong 119 quốc gia ký Công ước này từ ngày đầu (10-12-1982). Ngày 23-6-1994, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; ngày 12-5-1997, Chính phủ Việt Nam ra công bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Quá trình xác lập chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trong khu vực đã được Đảng và Chính phủ ta cụ thể hóa bằng việc phê duyệt, ký kết song phương và đa phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với các nước có liên quan về vấn đề chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển chồng lấn hoặc có tranh chấp như: Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Cam-pu-chia (07-7-1982); Thỏa thuận hợp tác khai thác chung Việt Nam – Ma-lai-xi-a (05-6-1992); Phân định biển Việt Nam - Thái Lan (09-8-1997); Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc (25-12-2000); Nguyên tắc ứng xử ở Biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc (DOC) ngày 04-11-2002; Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam – In-đô-nê-xi-a (26-6-2003),... Như vậy về khía cạnh pháp lý, lẽ phải thuộc về Việt Nam.
Trước thực trạng chủ quyền biển, đảo Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế và quyền lợi quốc gia dân tộc, bằng những căn cứ pháp lý, thực tiễn chính xác, có tính thuyết phục cao, các nước, các tổ chức, các học giả, nhà nghiên cứu và nhân dân trên thế giới đã phản đối mạnh mẽ hành động ngang ngược của Trung Quốc. Các nước, như: Anh, Pháp, Mỹ, Úc,.... các tổ chức như: Liên hợp quốc, EU, ASEAN,... các học giả, nhà nghiên cứu (trong đó có cả ở Trung Quốc) đều cho rằng hành động của Trung Quốc là “ngang ngươc”, “khiêu khích”, “cực kỳ nguy hiểm”,... làm mất ổn định ở Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới,... Công luận trong nước và quốc tế đứng về Việt Nam, bởi Việt Nam chính nghĩa, hành động của Trung Quốc là phi nghĩa. Cùng với đó, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp, các học giả, nhà khoa học và nhân dân Việt Nam trong nước và sinh sống, công tác ở nước ngoài đã đoàn kết một lòng tạo sức mạnh tổng hợp cùng Đảng, Chính phủ kiên quyết đẩy lùi các hành động ngang ngược của Trung Quốc một cách hòa bình. Đặc biệt, trước hành động hung hăng, nguy hiểm của các lực lượng hộ tống giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc, các lực lượng bảo vệ chủ quyền, thục thi pháp luật, nhất là lực lượng thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đối phó, đối phó thắng lợi với mọi hành động gây hấn, khiêu khích trắng trợn vi phạm chủ quyền đất nước của Trung Quốc.

Biển, đảo là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, có vị trí, vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là vấn đề mang tính cấp bách hiện nay, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao và pháp lý, nhất định chúng ta sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bởi, chính nghĩa thuộc về Việt Nam./.

May 16, 2014

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền không nên "quá sốt ruột"


          Tre việt - Vừa qua Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương - 981 vào đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục đại của Việt Nam[1] và cho hàng chục tàu các loại, trong đó có cả tàu quân sự hộ tống, bảo vệ. Trước việc làm đó đó, những ngày qua, trên khắp cả nước, các tầng lớp nhân dân có nhiều hành động cụ thể như tuần hành, mít tinh, ra tuyên bố,… phản đối việc làm sai trái của Trung Quốc. Đây là những việc làm tỏ rõ quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước, thể hiện tinh thần đoàn kết, yêu nước, nêu cao chính nghĩa, truyền thống nhân đạo, khoan dung, hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, được quốc tế ủng hộ. Tuy nhiên, một số ít người, do chưa nhận thức được vấn đề đã tỏ ra “quá suốt ruột”, muốn giải quyết sớm sự việc trong ngày một, ngày hai, thậm chí bị kích động có việc làm vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến sản xuất, phát triển kinh tế, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Những việc làm đó là không thể chấp nhận, cần lên án, xử lý nghiêm khắc.
          Phải thấy rằng, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, “núi liền núi, sông liền sông”, có quan hệ truyền thống lâu đời, tuy có lúc thăng trầm nhưng hợp tác, hữu nghị là chủ yếu. Nhất là, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung Quốc đã giúp đỡ quân và dân Việt Nam với số lượng hàng trăm tấn vũ khí, đạn, thuốc, quân trang,… tạo điều kiện để chúng ta đấu tranh giành thắng lợi. Sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa đó của Chính phủ, nhân dân Trung Quốc chúng ta luôn ghi nhớ, không bao giờ quên. Trong quan hệ giữa hai nước, tuy còn có điểm bất đồng, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, song, Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước luôn quam tâm xây đắp tình hữu nghị đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng, theo phương châm: 16 chữ “Đoàn kết hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, và 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc là đối tác chiến lược của nhau. Trung Quốc là thị trường lớn tiêu thụ hàng nông sản Việt Nam, đồng thời phía Trung quốc có nhiều doanh nghiệp đầu tư, làm ăn tại Việt Nam.
          Mặt khác, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ là đấu tranh trên thực địa mà còn là cuộc đấu tranh về mặt pháp lý tuân theo quy định của Công ước, luật pháp quốc tế, cần phải có cơ sở, chứng cứ pháp lý để thế giới công nhận và buộc Trung Quốc phải thừa nhận. Do đó cần có thời gian nhất định, không thể kết thúc trong ngày một, ngày hai.
          Hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ giá trị của hòa bình. Để có được hòa bình như ngày hôm nay, dân tộc ta đã phải đổi bằng bao xương máu của các thế hệ người Việt Nam, nên chúng ta luôn mong muốn được chung sống hòa bình với các dân tộc, các quốc gia trên trái đất, nhất là các nước trong khu vực.
          Từ những lý do trên, việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, chúng ta phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, thực hiện đúng quan điểm của Đảng, không nóng vội, chủ quan; không để các thế lực thù địch lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân kích động gây rối, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội.
          Nói như vậy, không phải để “bao biện”, “nguôi dần” rối chấp nhận giàn khoan của Trung Quốc cắm trên vùng biển của ta, mà để thấy tính khó khăn, phức tạp của việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó mỗi người có nhận thức đúng và sự chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh lâu dài để bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Dân tộc Việt Nam có truyền thống kiên cường, bất khuất, khi cần mọi người Việt Nam sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Song, chúng ta phải tỉnh táo, bình tĩnh có phương pháp đấu tranh phù hợp, vừa bảo vệ được chủ quyền, vừa giữ được môi trường hòa bình để phát triển đất nước.
          Việc Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam là việc làm ngang ngược, thách thức, bất chấp luật pháp quốc tế, gây nguy hiểm cho giao thông hàng hải, hàng không trong khu vực. Cho nên, ngay sau khi phát hiện Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, Bộ Ngoại giao đã điện đàm với phía Trung Quốc phản đối việc làm trên và yêu cầu họ đưa giàn khoan ra khỏi vùng biển của ta. Đồng thời, Cảnh sát biển, Kiểm ngư đã cử lực lượng ra đấu tranh tại thực địa. Các lực lượng của Trung Quốc tại khu vực giàn khoan không những không hợp tác với ta mà ngày càng hung hăng, ngoan cố, còn dùng các phương tiện, lực lượng ngăn chặn, phá hoại các tàu, gây thương tích đối với lực lượng ta. Song, Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định, tuyên bố rõ ràng và chỉ đạo các lực lượng kiên quyết, kiên trì, kiềm chế bằng các biện pháp hòa bình để đấu tranh bảo vệ chủ quyền.
          Ngày 11-5-2014 ở thủ đô Nay Pyi Taw (My-an-ma) trong phiên họp toàn thể của các nhà lãnh đạo ASEAN, trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vạch rõ hành động của Trung Quốc, đồng thời, nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam là mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết sự việc bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Song lãnh thổ là thiêng liêng, Việt Nam cực lực phản đối các hành động xâm phạm và kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của mình phù hợp với luật pháp quốc tế.
          Ngày 14-5-2014, phát biểu tại buổi bế mạc Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ chín, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “…giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc”. Các hoạt động của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta tỏ rõ tinh thần hòa hiếu, khoan dung, mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ ở luật pháp quốc tế. Những việc làm đó của chúng ta được dư luận quốc tế đánh giá cao và đồng tình. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phản đối việc làm của Trung Quốc, là ngang ngược, khiêu khích, nguy hiểm, vi phạm pháp luật quốc tế. Điều đó cho thấy, phương pháp giải quyết của chúng ta là phù hợp, được quốc tế đồng tình, ủng hộ, từng bước “cô lập” Trung Quốc. Song, tiếc rằng, trong cơn thèm khát tài nguyên ở Biển Đông mà bộ phận nào đó của chính quyền Trung Quốc đã bất chấp tất cả, vẫn ngoan cố, tăng thêm tàu các loại đến bảo vệ giàn khoan làm cho tình hình trên thực địa thêm phức tạp.
          Việc các lực lượng nhân dân tổ chức tuần hành, mít tinh phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 891 là việc làm cần thiết, đúng đắn, song để xảy ra hành động quá khích của một số công nhân đập phá các công ty người Trung Quốc ở Bình Dương, Đồng Nai, Hà Tĩnh là việc làm vi phạm pháp luật, đi quá giới hạn cho phép và rất nguy hiểm, có hại cho phát triển kinh tế, an ninh, xã hội, môi trường đầu tư của ta và quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam với Trung Quốc và các quốc gia khác. Những người đó phải bị xử lý nghiêm khắc theo pháp luật làm gương cho kẻ khác. Chúng ta không thể để “mồi lửa nhỏ” làm ảnh hưởng đến nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.
          Đối với Trung Quốc khi gây hấn đến mức ngang ngược như vậy, chắc chắn, họ cũng đã chuẩn bị cho mọi phương án, thậm chí sẵn sàng tạo cớ và mượn cớ để sử dụng quân sự, nhằm hiện thực ý đồ độc chiếm Biển Đông. Do đó, chúng ta càng phải tỉnh táo để không tạo cớ cho Trung Quốc dựa vào đó mà gây xung đột, cho nên, lúc này mọi người Việt Nam phải bình tĩnh, không nên “sốt ruột”, nóng vội mà mắc phải sai lầm. Tinh thần yêu nước, đoàn kết của nhân dân Việt Nam sẽ là làn sóng “thần” nhấn chìm tất cả lũ cướp nước như Bác Hồ đã khẳng định./.

                                                                                     




[1] - Giàn khoan Hải Dương – 981 của Trung Quốc đặt tại tọa độ 15°29′58″B 111°12′1″Đ cách đảo Tri Tôn (Trung Quốc gọi là đảo Trung Kiến), thuộc quần đảo Hoàng Sa Việt Nam 17 hải lý (khoảng 30 km) về phía Nam, cách đảo Hải Nam 180 hải lý về phía Nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Đông.

Chiêu trò “vừa ăn cướp, vừa la làng” của Trung Quốc

Tre Việt - Những ngày gần đây, phủ kín trên các trang báo và đầy ắp các chương trình phát thanh, truyền hình cả trong và ngoài nước đều chỉ trích thái độ, hành động ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou 981) vào vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Vị trí của giàn khoan này chỉ nằm cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) 17 hải lý và cách đảo Lý Sơn 120 hải lý.
Giàn khoan nước sâu Hải Dương-981 do chính Trung Quốc chế tạo và được giới cầm quyền Bắc Kinh gọi là những lãnh thổ di động, vũ khí chiến lược để phát triển ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc. Cách gọi đó đã làm cho nhiều người hết sức khó hiểu về hàm ý sâu xa của Trung Quốc, song nó không còn gì là bí ẩn nữa khi những hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông đã minh chứng, đó chính là “ngoại giao giàn khoan”.
Mọi người đều dễ dàng nhìn thấy mục đích của Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trước hết là nhằm làm thay đổi hiện trạng thực tế trên Biển Đông, tiến tới khoan dầu, ăn cắp tài nguyên và tạo ra một tiền lệ để tiếp tục hành xử tương tự ở các vùng đặc quyền kinh tế của những nước khác trong khu vực. Nếu phản ứng của Việt Nam lặp lại như bãi cạn Scarborough (Philipines) thì bước tiếp theo là Trung Quốc sẽ triển khai khu nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, tương tự như ADIZ mà Họ đã áp đặt ở biển Hoa Đông (11-2013). Bởi, Bắc Kinh cho rằng: đã đơn phương thiết lập được chủ quyền trên vùng biển thì tất yếu sẽ thiết lập được chủ quyền vùng trời, đây là tư duy logic của vấn đề theo kiểu Trung Quốc,… Điều đó cho thấy, Bắc Kinh đang mạo hiểm thực hiện từng bước hợp pháp hóa cái gọi là “Đường lưỡi bò”, mở màn cho chiến lược độc chiếm Biển Đông.
Khi bị Việt Nam và thế giới lên án, thì Trung Quốc lại trở mặt phủ nhận sạch trơn những hành động cố tình gây hấn của mình; đồng thời, trắng trợn vu khống rằng: Việt Nam “khiêu khích”, “bắt nạt” Trung Quốc, chiếm đoạt biển của Trung Quốc,… Hơn thế nữa, họ còn tạo dựng nhiều thông tin gây “kinh ngạc”, như: Tàu Việt Nam đâm tàu Trung Quốc; người nhái Việt Nam lặn sâu xuống biển đặt lưới và nhiều vật dụng quanh tàu Trung Quốc,… đe dọa về an ninh an toàn hàng hải, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, v.v.

Tuy nhiên, những lời lu loa theo kiểu đó của các nhà cầm quyền Bắc Kinh đã làm cho nhiều người từ các chính trị gia, học giả, các chuyên gia bình luận sự kiện và mọi người dân trên toàn thế giới nghe thấy rất nực cười và vô giá trị. Bởi lẽ, mưu đồ  muốn nuốt trọn Biển Đông của Trung Quốc bằng những lập luận vô căn cứ và bằng hành động quân sự mang tính khiêu khích, đe dọa đã quá rõ ràng, không thể nào che đậy được, nên đành phải dùng lối “hành văn” của những kẻ ngang ngược để bao biện cho hành động phi pháp của mình. Đúng là Họ đang chơi trò “vừa ăn cướp, vừa la làng”.

May 9, 2014

Hành xử ngang ngược theo kiểu bá quyền nước lớn!


Tre Việt - Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Hiện nay, Việt Nam không chỉ là thành viên của Liên hợp quốc, của nhiều tổ chức quốc tế, mà còn có quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ, đối tác toàn diện chiến lược với nhiều nước, trong đó có Anh, Pháp, Nga và Trung quốc. Điều này khẳng định rõ: Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, phấn đấu chung sống hòa bình, làm bạn, là đối tác có trách nhiệm với các nước trong khu vực và trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia. Mọi hành động làm tổn hại bầu không khí chung sống hòa bình, đến chủ quyền của các nước trong khu vực và trên thế giới đều bị Việt Nam lên án.
Vừa qua, Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương (CNOOC) Trung Quốc đã điều giàn khoan HD – 981 đến đặt tại khu vực lô dầu khí 143 thuộc thềm lục địa Việt Nam. Không chỉ thế, khi Việt Nam điều các lực lượng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa ra nhắc nhở, ngăn chặn, thì họ đã ra lệnh cho lực lượng hộ tống, trong đó có cả tầu quân sự tấn công vào các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc là bất hợp pháp, ngang nhiên vi phạm luật pháp và thông lệ quốc tế; vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc còn làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường chung sống hòa bình của các nước trong khu vực; đến sự tin cậy, hợp tác, cùng phát triển giữa hai nước. Đặc biệt hơn, khi hành động của Trung Quốc bị các nước, các tổ chức quốc tế, các học giả lên án mạnh mẽ, thì đại diện Bộ Ngoại giao và đại diên CNOOC lại cố tình vu cáo, đổ lỗi cho “Tàu Việt Nam quấy nhiễu Trung Quốc”(!) Thật ngang ngược!

Nhân dân Việt Nam rất phẫn nộ và kiên quyết phản đối và lên án hành động ngang ngược này!
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước “núi liền núi, sông liền sông”, có mối quan hệ rất đặc biệt, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Trong lịch sử, nhân dân Trung Quốc đã có những giúp đỡ quý báu đối với nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên những sự giúp đỡ quý báu đó. Ngày nay, Việt Nam và Trung Quốc đã có mối quan hệ hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện; nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc vốn có mối quan hệ chung sống hòa hiếu, cùng nhau cần cù lao động. Mối quan hệ này, đã tạo môi trường thuận lợi để mỗi nước tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với đặc điểm của mình và luật pháp quốc tế. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế của Trung Quốc đã có bước phát triển vững chắc, đời sống vật chất, tinh thần của người dân hai nước được nâng lên; Trung Quốc được thế giới đánh giá là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh trong khu vực, có tầm ảnh hưởng chính trị, kinh tế toàn cầu,... Hành động ngang ngược của Trung Quốc, nhân dân Việt Nam có quyền đặt câu hỏi: Phải chăng, Trung Quốc cậy là “nước lớn”, đông dân, có nền kinh tế “đứng thứ 2” trên thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh,… nên có hành động theo kiếu bá quyền nước lớn?
Việt Nam và Trung Quốc đã cùng ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Hành động của Trung Quốc có đúng với Công ước nói trên. Chẳng nhẽ, chữ ký của lãnh đạo Trung Quốc vào Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 chỉ để đùa hay sao? Hơn nữa, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc cũng đã ký Thảo thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển phù hợp với các quy định và thực tiễn pháp luật quốc tế và nhiều văn kiện mang tính pháp lý khác giữa hai nước cũng như trong khu vực về việc giải quyết những bất đồng trên biển,… Vậy mà Trung Quốc nhanh quên vậy! “Quên” để ăn người thì cả thế giới lên án. Một người hay một đất nước như thế thì khó mà kết bạn.

Việt Nam có đầy đủ các nguồn lực, biện pháp, trước hết là những biện pháp hòa bình để bảo vệ chủ quyền của đất nước. 

May 5, 2014

Tội nghiệp cho Bùi Tín

Tre Việt - Mới đây, Bùi Tín có bài viết Chữ ký của người Cộng sản” trong blog của mình, lại được mõ làng VOA tiếng Việt loan tin. Đọc bài viết trên, TreViệt không biết gọi như thế nào cho chính xác đối với Bùi Tín: đáng giận, đáng thương hay thật tội nghiệp. Thôi thì cứ tạm gọi Tội nghiệp cho Bùi Tín. Tại sao vậy?
Bùi Tín thuật lại việc ngày 23-01-1973, ông ta được chỉ định sẽ tham gia Đoàn đại biểu quân sự Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa trong Ban Liên hợp Quân sự 4 bên, làm việc tại Sài Gòn trong 60 ngày với tư cách là Người phát ngôn của Đoàn, trong quan hệ với giới thông tin báo chí trong và ngoài nước. Bùi Tín “Nhớ lại cả thời gian ấy, rồi trong cả 2 năm 1973 và 1974, chúng tôi vẫn cho rằng việc thống nhất đất nước sẽ còn gay go và lâu dài, cho tận cuối năm 1974 khi trận Bình Long đang diễn ra không một ai nghĩ rằng chiến tranh sẽ ngã ngũ trong năm 1975, thậm chí trong năm 1976. Tôi nhớ cuối năm 1974 khi nhìn vào tấm bản đồ lớn trong Sở Chỉ huy, chỉ mới có 3 quận được “giải phóng” là Lộc Ninh, Đắc Tô và Cam Lộ, 3 điểm nhỏ xíu trên bản đồ mênh mông. Năm 1972 ý đồ chiến lược là mở rộng một vùng giải phóng rộng “vài ba tỉnh để đặt trụ sở Chính phủ Cách Mạng Lâm thời miền Nam Việt Nam” vẫn còn trong mơ tưởng”. Thế rồi, miền Nam được giải phóng trong năm 1975, ông ta cho rằng, do Mỹ cắt viện trợ cho Việt Nam Cộng hòa. Nói vậy, là Bùi Tín đã quên quy luật của chiến tranh là mạnh được yếu thua. Bùi Tín quên Thế thắng lực: quả cân tuy nhỏ nhưng ở thế có lợi lại nâng được hàng tạ là vậy đó. Bùi Tín bỏ quê hương đến xứ người đã lâu, nên hẳn ông ta đã quên truyền thống văn hóa Việt Nam là Chị ngã em nâng, Môi hở răng lạnh, Máu chảy ruột mềm,… Bởi vậy, nhân dân miền Bắc không nỡ để người anh em miền Nam trong ách kìm kẹp của chính quyền bù nhìn, tay sai cho đế quốc Mỹ. Việc giải phóng miền Nam là sự kết hợp giữa tấn công của các binh đoàn chủ lực với sự nổi dậy của quần chúng. Không có sự nổi dậy của quần chúng, không có quần chúng dẫn đường thì những cánh quân của các binh đoàn chủ lực không thể tiến vào Sài Gòn, vào Dinh  Độc Lập nhanh chóng được. Chính quyền bù nhìn, tay sai cho đế quốc Mỹ đã bị nhân dân miền Nam phản đối, do vậy, mới có địa đạo Củ Chi, Vĩnh Mốc,… và nhân dân miền Nam đã ra sức giúp sức, che giấu, nuôi dưỡng quân giải phóng để cùng nhân dân “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”. Đó chính là quyền tự quyết của nhân dân miền Nam đúng với Hiệp định Pa-ri đấy ông già Bùi Tín ạ! Và sau khi đất nước thống nhất, cả nước đã tiến hành tổng tuyển cử bầu Quốc hội và cơ quan nhà nước thống nhất trong cả nước. Đây chẳng phải là quyền tự quyết của nhân dân miền Nam nói riêng, nhân dân Việt Nam nói chung đó sao? Thế mà Bùi Tín lại cho rằng, người cộng sản ký mà không thực hiện cam kết đã ký (!). Từ việc này, Bùi Tín lại xiên xẹo ra các vấn đề khác hiện nay “nhắc lại việc ký kết năm xưa để ghi nhớ rằng thương lượng với Cộng sản, ký kết với Cộng sản phải hết sức dè chừng”. Nói vậy, là Bùi Tín đã sai to, là sự suy diễn bụng ta ra bụng người. Chẳng nhẽ, các văn bản mà người cộng sản đã ký với nhau, hay ký với các đối tác khác lại không có giá trị hay sao? Vậy tại sao các đối tác vẫn ký kết với cộng sảncác bên vẫn thực thi những nội dung đã ký kết đấy thôi. Chỉ có ông ta - Bùi Tín là Bội tín thôi. Thật tội nghiệp cho ông, ở tuổi gần đất xa trời rồi nhẽ ra Bùi Tín được an nhàn tuổi già. Thế mà, giờ đây ông vẫn còn phải viết những gì mà những cá nhân hay tổ chức nào đó cần để kiếm mấy đồng tiền lẻ từ họ sống qua ngày nơi đất khách quê người. Thật tôi nghiệp cho ông. Đúng là gieo nhân nào gặt quả nấy. Ông trách ai bây giờ? Ngoài trách chính mình mà thôi./.

May 3, 2014

Đại lễ Vesak Liên hợp quốc 2014 đã bác bỏ cáo buộc của Ủy ban Tự do Tôn giáo quốc tế Hoa Kỳ đối với Việt Nam

            Tre Việt - VOA tiếng Việt, ngày 02-5 đưa tin: Ủy Ban Tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) đề nghị đưa Việt Nam vào danh sách CPC. Theo bài viết trên, Uỷ Ban Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo quốc tế vừa công bố bản phúc trình thường niên về tình hình tự do tôn giáo trên thế giới năm 2014. Ủy ban đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa thêm 8 nước vào “danh sách các quốc gia cần đặc biệt quan tâm (CPC)” trong đó có Việt Nam. USCIRF nói rằng cũng như trong nhiều năm qua, thành tích nhân quyền của Việt Nam trong năm 2013 tiếp tục xấu đi. Chính quyền “siết chặt quyền kiểm soát các quyền tự do tôn giáo” (!).
          Cũng đúng lúc này, ở Việt Nam, Giáo hội Phật giáo Việt Nam cùng các cấp chính quyền đang khẩn trương hoàn thành các công việc cuối để Đại lễ Vesak Liên  hợp quốc (LHQ) 2014 được thành công tốt đẹp. Đại lễ Vesak 2014 LHQ sẽ diễn ra từ ngày 7 đến ngày 10 tháng 5 tại chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình. Với chủ đề chính của Đại lễ là “Phật giáo góp phần thực hiện thành tựu các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của LHQ”. Chủ đề của Đại lễ cho thấy, Phật giáo nói riêng, tôn giáo ở Việt Nam nói chung đồng hành cùng dân tộc. Bởi Việt Nam là một trong số ít nước được LHQ đánh giá là đã rất thành công trong thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và nhiều mục tiêu đã về đích sớm.
          Đại lễ Vesak LHQ 2014 do Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai chủ trì. Đây là lần thứ 2 Đại lễ Vesak LHQ được tổ chức tại Việt Nam (lần đầu được tổ chức vào tháng 5-2008). Đại lễ năm 2014 dự kiến sẽ tiếp đón khoảng 1.500 lãnh đạo các giáo hội, hệ phái phật giáo, các giáo sư, tiến sĩ, học giả, nhà nghiên cứu Phật học cũng như các phật tử thuộc nhiều truyền thống Phật giáo đến từ gần 100 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới và khoảng 10.000 phật tử và nhân dân Việt Nam.
          Đại lễ và các chương trình Hội nghị cũng sẽ được nghe: Thông điệp của Tổng thư ký LHQ Ban Ki Moon; Thông điệp của Thư ký Ủy ban Kinh tế - Xã hội LHQ Dr.Shamshad Akhtar; Thông điệp của Tổng Giám đốc Unesco H.E.Irina Bokova; Thông điệp của Tăng thống Sri Lanka; Thông điệp của Hòa thượng Chủ tịch Hiệp hội Phật giáo Trung Quốc; Thuyết trình “Phật giáo góp phần thực hiện thành tựu Mục tiêu Thiên niên kỷ của LHQ của Hòa thượng Thích Đức Nghiệp"; Thông điệp của Quốc vương Cam-pu-chia Sihamoni; Bài phát biểu của Thủ tướng Sri Lanka H.E. D.M.Jayaratne; Thông điệp của lãnh tụ các Giáo hội Phật giáo thế giới: Thái Lan, Cam-pu-chia, Nhật Bản, Lào. v.v.

          Đại lễ Vesak LHQ 2014 cùng các hoạt động của Đại lễ được tổ chức ở Việt Nam là những căn cứ sống động bác bỏ cáo buộc của Ủy Ban Tự do Tôn giáo quốc tế Mỹ đối với Việt Nam là hoàn toàn vô căn cứ./.

May 1, 2014

Dân biểu Ed Royce tiếp tay cho khủng bố

         Tre Việt - VOA tiếng Việt, ngày 01-5-2014 đăng bài “Dân biểu Ed Royce gặp gỡ các blogger và nhà tranh đấu Việt Nam”, của Hoài Hương. Đọc bài viết trên cho thấy, dân biểu Ed Royce đã tiếp tay cho khủng bố. Theo nhận thức của Tre Việt về khủng bố thì có nhiều loại: về đánh bom liều chết, về tinh thần,… Loại mà dân biểu Ed Royce tiếp tay là thuộc loại khủng bố tinh thần. Loại này, tuy không làm người ta chết ngay, nhưng nó nguy hiểm hơn loại đánh bom, vì mỗi tin, bài mà loại này đưa ra nó reo rắc sự hoài nghi, làm xói mòn niềm tin của người ta vào chế độ, nguy hại hơn nó có thể làm sụp đổ cả một chế độ.
          Tại sao Tre Việt lại nói vậy? Bằng chứng là, dân biểu Ed Royce đường đường là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, đại diện Đảng Cộng Hòa tại California mà lại hạ thấp mình “làm việc” với mấy người chuyên chọc ngoáy, chống phá Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Tại sao nói dân biểu Ed Royce hạ thấp mình? Bởi, ông ta là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, nhẽ ra theo thông lệ ngoại giao quốc tế thì ông ta làm việc với người đồng cấp của Quốc hội Việt Nam chứ? Nhưng không. Ông ta đã đi cửa sau, làm việc kiểu xã hội đen, như kiểu vỗ vai mấy tay anh chị, lại bợm rượi đi nhậu vậy. Ông mời gọi, làm việc với mấy người ấy mà Quốc hội, Nhà nước Việt Nam không hề hay biết. Tại sao ông phải làm việc chui như vậy? Việc làm ấy của dân biểu Ed Royce vô tình hay hữu ý đã tự hạ thấp mình. Viết đến đây, Tre Việt bỗng dưng nhớ câu: Hãy cho tôi biết bạn của anh là ai, tôi sẽ cho anh biết anh là người như thế nào.
          Vậy, hãy xem “các blogger và nhà tranh đấu Việt Nam” là ai? Theo bài viết của Hoài Hương thì đó là “nhà báo độc lập” Tô Oanh, blogger Nguyễn Tường Thụy, “phóng viên độc lập” Lê Thanh Tùng, nghệ sĩ Nguyễn Thị Kim Chi, blogger Nguyễn Đình Hà, “nhà báo độc lập” Ngô Nhật Đăng và Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch Đảng Việt Tân. Ôi chao! Nào là “nhà báo độc lập”, nào là “phóng viên độc lập” mà họ gán cho mới tệ hại làm sao? Không hiểu căn cứ vào đâu mà Hoài Hương cùng dân biểu Ed Royce lại phong cho mấy cái tên kể trên là “nhà báo độc lập”, “phóng viên độc lập”? Nếu chỉ căn cứ vào những ai viết blog, facebook thì được phong là “nhà báo độc lập”, “phóng viên độc lập” thì ở Việt Nam có nhiều lắm. Bởi chỉ cần hoàn thành giáo dục tiểu học là có thể viết blog, facebook và ở Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học lâu rồi. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam, rất nhiều học sinh tiểu học đã viết blog, facebook rồi đấy. Còn theo tiêu chí của Việt Nam, những ai trở thành nhà báo phải được các cấp hội xem xét đủ tiêu chuẩn đề nghị Bộ Thông tin và Truyền thông xét duyệt, đủ điều kiện mới cấp thẻ, khi ấy mới được gọi là nhà báo. Và đã là nhà báo thì phải hoạt động theo Luật Báo chí. Cũng giống như các quốc gia phương Tây và Mỹ, Chính phủ Việt Nam không can thiệp vào hoạt động báo chí. Mặc dù vậy, luật pháp của các quốc gia phương Tây cũng như ở Mỹ đều có những quy định nhằm ngăn chặn sự lạm quyền của báo chí. Các chính phủ của các nước này đều phân biệt những thông tin nào được phép phổ biến cho công chúng, thông tin nào thuộc loại phổ biến hạn chế và thông tin nào thuộc loại tuyệt mật, không thể tiết lộ với mục đích bảo vệ lợi ích quốc gia. Chẳng thế mà, Edward Snowden tiết lộ bí mật hoạt động của cơ quan tình báo Mỹ, dẫn đến cựu nhân viên tình báo này phải tỵ nạn ở Nga trước sự truy bắt gắt gao của Chính phủ Mỹ, cũng chỉ vì tội tiết lộ bí mật quốc gia.
          Còn Đỗ Hoàng Điềm, Chủ tịch Đảng Việt Tân, thì không cần phải nói Việt Tân là như thế nào mọi người đã rõ. “Việt Tân là việt tần, tức vật tiền”! Ngay từ ngày đầu thành lập tổ chức này đã là một “sự ô hợp”. Chính Trần Khải Thanh Thủy - một thành viên (trước đây) của Đảng Việt Tân cũng đã thừa nhận không ít người cho rằng: Việt Tân là “đảng phở bò”, “đảng vật tiền”,...  Vậy mà, dân biểu Ed Royce chú ý lắng nghe Đỗ Hoàng Điềm điều trần. Đúng như ông cha ta có câu: “Ngưu tầm ngưu, mã tầm mã”, hay “Rau nào, sâu nấy”! Vậy là đã rõ, cả dân biểu Ed Royce cùng mấy “nhà báo độc lập”, “phóng viên độc lập”, Đảng Việt Tân đều cùng một giuộc mà thôi. Việc làm trên của dân biểu Ed Royce đích thị là tiếp tay cho khủng bố. Điều đó đi ngược lại quan hệ ngoại giao đã ký kết giữa Chính phủ Hoa Kỳ và Chính phủ Việt Nam và đi ngược lại lợi ích của nhân dân hai nước Việt Nam - Hoa Kỳ. Những mong với tư cách là Chủ tịch Ủy ban Đối ngoại Hạ viện Hoa Kỳ, dân biểu Ed Royce cần cân nhắc thật kỹ trước những việc làm của mình, kẻo tổn thương đến quan hệ ngoại giao đang tốt đẹp giữa hai nước Hoa Kỳ - Việt Nam /.

Apr 27, 2014

Liệu có phải là "chân lý"?

Tre Việt - Kể từ sau 1975, ngày 30 tháng 4 hằng năm thường để lại những cảm xúc rất khác nhau trong những người con đất Việt. Đa phần là mừng vui, trong đó có không ít người đã từng đứng ở “phía bên kia của cách mạng”. Mừng vui, vì đó là ngày đất nước và dân tộc được thống nhất, được giải phóng khỏi ách thống trị, xâm lược của thực dân, đế quốc; và từ đây, đất nước không còn chiến tranh. Cố giáo sư Trần Trung Ngọc, người từng phục vụ trong quân đội Sài Gòn, sau này định cư ở Mỹ, còn coi “Ngày 30 - 4 - 1975 không chỉ có nghĩa là ngày đất nước thống nhất, chủ quyền trở lại tay người Việt Nam, mà còn là ngày người dân Việt Nam, trừ những kẻ có tâm cảnh phi dân tộc hay tiếp tục nuôi dưỡng thù hận, bất kể thuộc chính kiến hay phe phái nào, đều có thể hãnh diện ngẩng mặt nhìn thẳng vào mắt kẻ đối thoại, bất kể họ thuộc lớp người nào, ở địa vị nào, thuộc quốc gia nào”.  Theo đó, ngày 30 tháng 4 hằng năm được xem là một ngày lễ trọng của đất nước. Nhưng cũng có những người vẫn hậm hực, nuối tiếc (nhất là những người đã từng có nhiều nợ máu với nhân dân Việt Nam, từng được hưởng lợi nhiều từ cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam do người Mỹ - chính xác hơn là đế quốc Mỹ - tiến hành), không chịu chấp nhận một thực tế lịch sử mang tính tất yếu: sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn (trong thực tế, đây là một thực thể tay sai, là kẻ thừa hành của chính quyền Mỹ trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam), sự tháo chạy của Mỹ - người nuôi dưỡng chính quyền Sài Gòn, nên họ tự gọi đó là ngày “quốc hận”, và xem cuộc chiến tranh ở Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 là cuộc chiến “huynh đệ tương tàn”, nên ngày 30 tháng 4 theo họ không phải là ngày “giải phóng”. Âu có lẽ đó cũng là thường tình, bởi độ lùi gần 40 năm của lịch sử cũng chưa hẳn đã là dài, nhất là đối với những người còn mang nặng đầu óc hận thù, còn nuôi hy vọng hão huyền về một sự trở lại của họ với lá cờ vàng 3 sọc (mà từ lâu dân ta vẫn gọi là cờ “3 que”). Thế nhưng, điều lạ là cái tay Tín họ Bùi – người còn muốn ghi danh vào thời khắc cuối của cuộc chiến, khi tự tô vẽ bản thân trong tác phẩm “Hoa xuyên tuyết” của mình – lại đi khóc thay cho cái thây ma Việt Nam Cộng hòa trong bài viết mới của y “Chân lý tháng tư” được VOA đăng tải hôm 21 tháng 4 vừa qua.
          Mượn lời của tay sinh viên Lê Vũ Cát Đằng nào đó, trong bài viết của mình, Bùi Tín xem luận điểm “Hoa Kỳ không phải là đế quốc,… Hành động của Hoa Kỳ ở Việt Nam do đó không thể nào gọi là xâm lược”, mà người sinh viên trẻ tuổi nọ đưa ra, là một “chân lý”!!. Thêm nữa, mượn cách nói của Huy Đức - tác giả cuốn “Bên thắng cuộc”, Bùi Tín còn xem ngày 30 tháng 4 hằng năm là “ngày vui của những người thắng cuộc, ngày buồn của những người thua cuộc”, với hàm ý coi ngày 30 tháng 4 năm 1975 là ngày kết thúc cuộc nội chiến của những người Việt Nam với nhau. Thật là một sự xuyên tạc lịch sử trắng trợn và sự biện hộ cho kẻ xâm lược một cách bỉ ổi. Thử hỏi, Bùi Tín dựa vào cơ sở nào để coi kết luận của người sinh viên trẻ ít học kia là “chân lý”, hay đó chỉ là cách Tín nói liều, nói bừa để kiếm mấy đồng tiền bố thí của những kẻ “có tâm tưởng phi dân tộc”, như nhận định của cố giáo sư Trần Trung Ngọc.
          Có thể khẳng định ngay rằng, kết luận nói trên của người sinh viên thiếu kiến thức về lịch sử, và sự tán thưởng vô lối, có động cơ xấu của tay Bội Tín không phải là “chân lý”, mà đó là cái “lý giả” hay là “giả lý”. Chân lý chỉ có một, thực tiễn lịch sử đã diễn ra không thể xuyên tạc. Độ lùi của chiến tranh đã mấy chục năm, nhiều tài liệu mật đã được giải mã, nhiều nhân chứng lịch sử vẫn còn và đã lên tiếng về sự thật của cuộc chiến giai đoạn 1954 – 1975 ở Việt Nam, trong đó có nhiều học giả phương Tây và chính các chính trị gia từng phục vụ trong chính quyền Sài Gòn.
Để khách quan, xin hãy vào Wikipedia để xem mục từ “Chiến tranh Việt Nam”, trong đó, họ giải thích rất rõ rằng: “Không công nhận kết quả Hiệp định Geneva và thấy trước kết quả sẽ thiên về phe Cộng sản nếu tổng tuyển cử được tiến hành, Mỹ đã bắt đầu hoạt động tại Việt Nam, chuẩn bị cho sự can thiệp sâu rộng hơn”. Với ý đồ đó, trước tình huống thế và lực của chính quyền Sài Gòn (do Mỹ dựng lên) suy yếu đến mức không thể cứu vãn, Mỹ đã chính thức nhảy vào cuộc từ những năm 60 của thế kỷ XX, lần lượt áp dụng các chiến lược: Chiến tranh đặc biệt, Chiến tranh cục bộ, Việt Nam hóa chiến tranh với trên 8 triệu tấn bom đạn, gần 80 triệu lít chất độc hóa học đã sử dụng, cùng những loại vũ khí tối tân nhất (trừ bom hạt nhân) và một lực lượng lớn quân viễn chinh, gồm quân Mỹ và một số đồng minh (chỉ riêng số quân Mỹ có mặt ở miền Nam Việt Nam, có lúc đã lên đến hơn nửa triệu người), để khuất phục nhân dân Việt Nam. Về chi phí cho cuộc chiến, theo thống kê chưa đầy đủ, Mỹ đã chi trực tiếp cho cuộc chiến tranh ở Việt Nam lên tới 676 tỷ USD (nếu tính cả chi phí gián tiếp thì lên tới 920 tỷ USD), so với 341 tỷ USD trong Chiến tranh thế giới thứ hai và 54 tỷ USD trong chiến tranh Triều Tiên. Từ các cứ liệu trên có thể khẳng định rằng, đây là cuộc chiến tranh có quy mô lớn nhất trong lịch sử 200 năm của nước Mỹ chống Việt Nam. Do đó, không thể ngụy biện cho “hành động của Mỹ ở Việt Nam không phải là hành động xâm lược”. Ngay trong cuốn sách Chiến tranh Việt Nam và văn hóa Mỹ (xuất bản tại Mỹ năm 1991), tác giả J.C.Rowe và R.Berg đã chỉ ra bản chất cuộc chiến tranh ở Việt Nam: “Nói ngắn gọn, Mỹ xâm lăng nam Việt Nam, ở đó Mỹ đã tiến tới việc làm ngơ tội ác xâm lăng với nhiều tội ác khủng khiếp chống nhân loại trên khắp Đông Dương”. Học giả Giôn- Pra- đốt (thuộc cục Lưu trữ an ninh quốc gia và Đại học G.Oa-sinh-tơn) cũng cho ra mắt cuốn Lịch sử một cuộc chiến không thể thắng 1945 - 1975 vào năm 2009 ở Mỹ; trong đó, học giả này thừa nhận: “cuộc chiến này, đối với người Mỹ, là một sai lầm và không thể chiến thắng”. Chính ông Ngoại trưởng Hoa Kỳ H. Kít-xinh-giơ trong một cuộc họp báo ngay sau khi chế độ Sài Gòn sụp đổ đã thừa nhận: “Chúng ta đã sai lầm khi biến Việt Nam thành một nơi thí nghiệm chính sách của chúng ta chứ không phải đối với chính sách của người Việt Nam”. Trong một bài viết, đăng ngày 29 tháng 9 năm 2011, trên báo mạng Treonline của người Việt ở hải ngoại, cố giáo sư Trần Chung Ngọc đã viết: “Với những hiểu biết mới về cuộc chiến thì chúng ta đã rõ, cuộc chiến trước 1954 là cuộc chiến chống xâm lăng của thực dân Pháp toan tính tái lập nền đô hộ trên đầu dân Việt Nam, với sự hỗ trợ về quân cụ, vũ khí rất đáng kể của Mỹ… Còn cuộc chiến hậu Geneva là cuộc chiến chống xâm lăng của Mỹ, Mỹ xâm lăng vì cái thuyết Domino sai lầm… Đây là kết luận của các học giả Tây phương, xét theo những sự kiện lịch sử chứ không xét theo cảm tính phe phái”. Còn trong bài “Vài suy tư về ngày 30 tháng tư” (sachhiem.net/TCN/TCNs/TCNts065.php ngày 18 tháng 4 năm 2013), cố giáo sư  đã vạch trần bộ mặt tay sai của chính quyền Sài Gòn khi ông viết: “Muốn hiểu tại sao miền Nam lại có một kết cục như vậy, chúng ta cần nhắc lại vài nét về các chế độ ở miền Nam. Ai cũng biết là chế độ Ngô Đình Diệm cũng như miền Nam là do Mỹ dựng lên, không phải do người dân miền Nam bầu chọn hay muốn như vậy… Còn về những chế độ quân phiệt của Đệ nhị Việt Nam Cộng hòa thì chúng ta hãy đọc vài lời thú nhận của các vị lãnh đạo cao cấp nhất ở miền Nam, như Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu: Mỹ còn viện trợ, thì chúng tôi còn chống cộng. Nếu Hoa Kỳ mà không viện trợ cho chúng tôi nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng tôi sẽ rời khỏi Dinh Độc Lập; Phó Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Nguyễn Cao Kỳ: “Ông” Mỹ luôn luôn đứng ra trước sân khấu, làm “kép nhất”. Vì vậy ai cũng cho rằng thực chất đây là cuộc chiến tranh của người Mỹ và chúng tôi là những kẻ đánh thuê; Đại tướng Tổng Tham mưu trưởng Quân lực Việt Nam Cộng hòa Cao Văn Viên: Chúng ta không có trách nhiệm chiến tranh (!) Trách nhiệm chiến đấu là của người Mỹ. Chính sách đó do Mỹ đề ra, chúng ta chỉ theo họ mà thôi”. Chỉ cần dẫn ra một vài tư liệu như thế đã là quá đủ để khẳng định rằng, kết luận “về hành động của Mỹ ở Việt Nam không phải là hành động xâm lược” chỉ là một kết luận láo toét, là sự biện hộ lố bịch cho những hành động xâm lược tàn bạo của đế quốc Mỹ ở Việt Nam trong thế kỷ XX, chứ đâu phải là một “chân lý” mà Bùi Tín vào hùa. Thực tiễn khách quan của lịch sử đã cho thấy: cuộc chiến từ năm 1954 đến năm 1975 là cuộc kháng chiến của toàn dân tộc Việt Nam chống lại sự xâm lược của Mỹ. Do đó, nếu có bên thắng cuộc và bên thua cuộc ở đây, thì cần phải nói rằng: toàn thể dân tộc Việt Nam là bên thắng cuộc và đế quốc Mỹ là bên thua cuộc, đúng như tuyên bố của Tướng Trần Văn Trà lúc tiếp nhận sự đầu hàng của Dương Văn Minh rằng: “Giữa chúng tôi và các anh, không có ai được, ai thua, chỉ có nhân dân Việt Nam là người chiến thắng”. Đó mới thực sự là chân lý.
Vào hùa với những kẻ nuôi dượng hận thù và có “tâm tưởng phi dân tộc”, Bùi Tín thực sự là một Trần Ích Tắc thời hiện đại, như cách gọi của nhiều người trong chính các nhóm “cờ vàng” ở hải ngoại thường sử dụng ./. 

Apr 7, 2014

Chỉ là "gắp lửa bỏ tay người"

         Tre Việt - Thứ bảy, ngày 05-4 vừa qua, BBC tiếng Việt đăng bài “Chính quyền nợ cha tôi một lời xin lỗi” đưa ý kiến của cô Đinh Phương Thảo, con gái đầu lòng của ông Đinh Đăng Định - người vừa qua đời hôm thứ sáu (04-4), sau một thời gian được đặc xá về nhà trị bệnh và ý kiến của Phạm Chí Dũng. Qua bài viết, thấy rõ sự suy diễn theo kiểu “Gắp lửa bỏ tay người” của cả người đưa ra ý kiến và người đưa tin.  

          1. Cô Đinh Phương Thảo cho rằng, “càng ngày khối u trong người càng lớn, nhưng chẳng được phát hiện ra, khi phát hiện ra rồi, thì khối u to đùng, lúc phát hiện ra khối u to, thì việc điều trị, họ cũng không chịu thả tự do cho bố tôi”. Theo Tre Việt được biết, ở Việt Nam, có nhiều trường hợp phát hiện ra bệnh ung thư đều ở giai đoạn cuối. Như vậy, không sớm phát hiện ra khối u của ông Đinh Đăng Định cũng không đáng ngạc nhiên. Cho nên, không vì thế mà suy diễn theo kiểu “Ngậm máu phun người”. Dẫu rằng, Thảo có nói: “Gia đình chưa dám khẳng định tại vì muốn cáo buộc ai thì mình phải cần có bằng chứng”. Song lại nói tiếp: “Nhưng bố tôi là một nhà giáo, bố tôi dạy hóa (học) nên bố tôi phát hiện ra được mùi hóa chất rất giỏi, thí dụ trong thức ăn, nước uống của bố tôi có những hóa chất lạ là bố tôi phát hiện ra liền”. Lại vẫn có ý ám chỉ, suy diễn “bụng ta ra bụng người”. Tre Việt có đọc bài viết của cha cô sau khi được đặc xá, không hề thấy ông Đinh Đăng Định viết rằng ông ngửi thấy mùi hóa chất lạ trong thức ăn, nước uống như cô suy diễn. Thế rồi, Thảo lại trách móc: “Họ vẫn cứ giam giữ bố tôi, thì thử hỏi, với điều kiện giam giữ trong tù như thế thì làm sao một người vừa trải qua cơn đại phẫu có thể hồi phục được?”. Ông cha ta có câu: “Tiên trách kỷ, hậu trách nhân” Thảo ạ! Giá như cha cô không phạm tội “tuyên truyền chống Nhà nước” theo Điều 88 Bộ luật Hình sự để tòa phải xét xử tuyên phạt 6 năm tù vào năm 2013 thì đâu có chuyện như vậy. Ông Đinh Đăng Định - cha cô -  không nói, không viết như cô suy diễn, phải chăng cô quá thương tiếc cha mình nên nói vậy thôi.

          Cô Phương Thảo thừa nhận trong lễ tang của cha cô “gia đình chưa gặp sự cản trở nào của chính quyền”, nhưng vẫn lối suy diễn “tuy rằng có thể một số nhà hoạt động đến dự đám bị an ninh theo dõi”. Đúng là sự suy diễn hồ đồ, vô căn cứ, không đưa ra bằng chứng nào mà cố nói lấy được theo kiểu “Ăn ốc nói mò”.

          2. Cũng trong bài viết trên, BBC tiếng Việt còn đưa ý kiến của Phạm Chí Dũng rằng, chính quyền đã có “tính toán” khi thả ông Định về nhà trong tình trạng bệnh tật đã rất trầm trọng, được hiểu là ung thư dạ dày giai đoạn cuối. Và “họ cho lệnh đặc xá với ông Đinh Đăng Định, đó là một việc lấy lòng quốc tế, cho là nhà nước Việt Nam có nhân quyền”. Ở trên, cô Phương Thảo trách móc “cứ giam giữ” khi bệnh đã nặng. Ở đây, khi Nhà nước đặc xá cho ông Định thì Phạm Chí Dũng lại cho rằng “tính toán” để lấy “lòng quốc tế, cho là nhà nước Việt Nam có nhân quyền”. Vậy là sao? Kiểu gì họ cũng nói được.

          BBC dẫn lời ông Dũng: “việc tổ chức một đám tang không hoàn toàn quá tốn kém so với khả năng của Nhà nước, nhưng trách nhiệm và chi phí này, có thể đã được tính toán để “chuyển sang” cho các đương sự và người nhà của các đương sự bị qua đời”. Đúng là “Làm phúc phải tội”. Theo phong tục tập quán văn hóa Việt Nam, những người ốm đau không thể qua được, thường thì các bệnh viện đều trả về để khi người bệnh “nhắm mắt xuôi tay” được ở trong ngôi nhà mình, hết sức tránh “chết đường, chết chợ”. Vậy là, việc ông Định qua đời tại tư gia là phù hợp với truyền thống văn hóa Việt Nam. Hơn nữa, khi ông bị bạo bệnh, ông được gần người thân để chăm sóc ông, an ủi ông và cũng là an nủi gia đình ông Định. Việc làm đầy nhân văn như thế mà Phạm Chí Dũng lại chuyển sang bài toán kinh tế, lộ rõ chân tướng của kẻ chỉ coi trọng vật chất, coi nhẹ tình cảm và văn hóa dân tộc. Những kẻ như vậy luôn bị xã hội ta từ trước đến nay phê phán. Thật là đã sấu xa mà không biết đường đậy lại. 

          Các ý kiến trên của Đinh Phương Thảo, Phạm Chí Dũng và BBC tiếng Việt đều có ý phê phán thực thi quyền con người ở Việt Nam. Nhưng xin thưa, trong Hội thảo thông báo kết quả Rà soát Định kỳ Phổ quát (UPR) chu kỳ II, diễn ra chiều 02-4 vừa qua tại Hà Nội, do Bộ Ngoại giao phối hợp với Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam tổ chức, bà P.Mê-ta (Pratibha Mehta), Điều phối viên thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam cũng như nhiều đại biểu tham dự Hội thảo đều có chung nhận định: Việt Nam có nhiều tiến bộ trong bảo đảm quyền con người. Điều đó một lần nữa chứng tỏ những suy diễn của Thảo, Dũng và BBC tiếng Việt chỉ là trò: “Gắp lửa bỏ tay người” mà thôi./. 

Apr 4, 2014

VĂN ĐOÀN ĐỘC LẬP VIỆT NAM – LẤY TAY VẢ MIỆNG

         Tre Việt - 3/3/2014, nhà văn Nguyên Ngọc cùng 60 “nhân sĩ chấy thức” khác đã hùng hồn đăng tải tuyên bố vận động thành lập cái gọi là “Văn đoàn độc lập Việt Nam” (VĐĐLVN). Cổ súy rùm beng cho “sự kiện này” (chẳng nói thì thiên hạ cũng đoán được) là một số cá nhân, tổ chức, trang mạng có “truyền thống đi ngược”, a dua và chống phá. Tuy mới chỉ là giai đoạn “vận động” chứ chưa thực sự được “thành lập” nhưng chỉ cần đặt bản tuyên bố ấy cạnh cái Danh sách Ban vận động thành lập do Nguyên Ngọc cầm đầu đã “hé lộ” ngay rất nhiều mâu thuẫn, rất nhiều vấn đề mà nhờ đó lật tẩy phần nào bộ mặt thật không lấy gì làm hay ho của VĐĐLVN. Như thế há chẳng phải là VĐĐLVN  “lấy tay vả miệng” hay sao?!
1. Nguyên Ngọc cùng những kẻ “đồng hội đồng thuyền”, một cách rất chuyên nghiệp, đã vận động thành lập “hội này” bằng một tuyên ngôn thoạt nghe có vẻ “đao to búa lớn” với những mục đích chính đáng, cao cả tưởng như không chỉ Việt Nam mà bất cứ nền văn học của dân tộc nào trên thế giới cũng mong muốn, ấy là “góp phần tích cực xây dựng và phát triển một nền văn học Việt Nam đích thực, nhân bản, dân chủ, hiện đại, hội nhập với thế giới”, ấy là “có thể đóng vai trò tiền phong đúng như nó phải có trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đang đòi hỏi”. Thế nhưng, cái mục đích “to đùng to đoàng” ấy lừa mị được ai khi mà soi vào bản Danh sách Ban vận động thành lập thì tòi ra vị trí thứ hai, nghĩa là chỉ sau vị trí thứ nhất (Trưởng ban Nguyên Ngọc), lại chính là Bùi Chát. Chắc thiên hạ không ai xa lạ gì, Bùi Chát – tác giả của “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa”, người sáng lập Mở Miệng với sản phẩm là thứ “quái thai lai quái dị”, tục tĩu, bệnh hoạn, nổi loạn, phản động (đối tượng nghiên cứu trong “luận văn thạc sĩ” mới bị thu hồi vì tính chất phi chính trị, phản văn hóa, phản khoa học mà Tre Việt từng đề cập đến trong một bài viết khác),… Nhìn vào bản danh sách không xếp theo thứ tự A, B, C,… cũng chẳng xếp theo thứ tự tuổi đời từ thấp đến cao hay từ cao xuống thấp mà lại bắt đầu bằng cái tên của Trưởng ban rồi đến cái tên của Bùi Chát ngồi “nghễu nghện” trên khá nhiều bô lão “mũ cao áo dài” trong làng văn thì đoán rằng có hai tình huống: 1. “Bố đẻ” của “thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa” hẳn phải chiếm một ghế “tối quan trọng” trong VĐĐLVN, sản phẩm “quái thai lai quái dị” của anh ta chắc được VĐĐLVN đề cao!; 2. VĐĐLVN lợi dụng điều này để chứng minh cho bàn dân thiên hạ thấy hội của tôi là thế đấy, tham gia hội của tôi “quyền tự do sáng tác và công bố tác phẩm” của các bạn sẽ được khuyến khích, bảo đảm cho dù các vị có phóng uế ra phế thải của những đầu óc bệnh hoạn (Bùi Chát là tấm gương to đùng). Vì vậy, hãy thử hình dung xem trong một ngày đẹp giời nào đó, VĐĐLVN mang những thứ thơ tục tĩu, bệnh hoạn, nổi loạn của Mở Miệng bày lên đĩa và mời thiên hạ “xơi” thì không biết có “thức tỉnh lương tri và bồi đắp đạo đức xã hội” được tí nào như họ hùng hồn tuyên ngôn không, hay chỉ làm ô uế bầu khí quyển văn học nước nhà. Ấy thế mà họ còn cao giọng “văn hóa Việt Nam ngày càng suy thoái nghiêm trọng, lộ rõ nguy cơ đánh mất những giá trị nhân bản căn cốt nhất, uy hiếp đến cả sự tồn vong của dân tộc”. Thật đúng là “thùng rỗng kêu to”, “vừa ăn cắp, vừa la làng”, chi tiết “biết nói” (Bùi Chát đứng thứ hai trong Ban vận động thành lập) đã làm một việc mà Ban vận động thành lập không ngờ tới, ấy là “lột truồng” cái mặt nạ VĐĐLVN cho người ta biết bộ mặt thực chất của nó chỉ là nơi dung túng cho những phần tử “quái thai lai quái dị” mà thôi!
2. Trong Tuyên bố vận động thành lập, VĐĐLVN liệt kê ra ba nhiệm vụ cụ thể mà như Lâm Trực @ nhận xét thì: nhiệm vụ cao cả và đẹp long lanh nhưng chả có gì mới mẻ, vì những thứ đó đã được xác định trong Điều lệ Hội Nhà Văn Việt Nam theo Quyết định số 69, ngày 14/7/1005, thậm chí, Điều lệ Hội nhà văn Việt Nam còn cụ thể hơn nhiều. Vấn đề là “nói có đi đôi với làm”? Nếu lướt một loáng từ đầu đến cuối danh sách, 61 cái tên, chắc hẳn không ít người nhận ra rất nhiều người nằm trong danh sách ấy hiện vẫn là hội viên Hội nhà văn Việt Nam, chưa kể có vị còn giữ chức vụ khá “to”. Vậy, tại sao họ lại phải thừa hơi vận động thành lập VĐĐLVN mà không tập trung dốc lòng dốc sức xây dựng Hội nghề nghiệp của mình phát triển và đoàn kết? Điều này cho thấy, nhiệm vụ lớn thứ nhất “Đoàn kết tương trợ giữa những người viết văn tiếng Việt trong và ngoài nước” mà VĐĐLVN đặt vị trí đầu tiên cơ hồ chỉ là “nói cho hoành tá tràng” vậy thôi chứ thực chất của việc vận động thành lập VĐĐLVN, nói như Lâm Trực @, là làm chính trị và đối lập với Hội nhà văn Việt Nam. Như vậy, há chẳng phải lấy tay vả miệng hay sao, miệng thì nói đến đoàn kết nhưng chính VĐĐLVN sẽ là minh chứng cho sự kéo bè kết cánh, gây chia rẽ, mất đoàn kết trong nội bộ văn nghệ sĩ. 

3. Chỉ ra thực trạng “văn học yếu kém” để rồi nêu lên nguyên nhân chủ quan lướt qua trong 2 dòng (nguyên nhân chủ quan trước tiên thuộc chính người cầm bút là sự thờ ơ đối với trách nhiệm xã hội, vô cảm trước thời cuộc, quan trọng hơn nữa là thiếu độc lập tư duy, từ đó mà tự hạn chế năng lực sáng tạo), nguyên nhân khách quan với dung lượng dài gấp 3 lần (một xã hội như chúng ta đang có, trong đó các quyền tự do cơ bản của con người thực tế bị vi phạm trầm trọng, đương nhiên đè nặng lên tâm lý sáng tạo của người cầm bút, làm mờ nhạt và tắt lụi các tài năng. Quyền tự do sáng tác và tự do công bố tác phẩm đang là đòi hỏi sống còn của từng nhà văn và của cả nền văn học. Không có những quyền tự do tối thiểu đó thì không thể có một nền văn học đàng hoàng. Một thể chế tổ chức đời sống văn học nặng tính quan liêu và bao cấp càng làm nặng nề thêm tình hình, đồng thời lại không tạo được mối liên kết lành mạnh giữa những người viết để nâng đỡ và thúc đẩy nhau trong công việc, hỗ trợ nhau trong khó khăn). Điều này bộc lộ nhận thức, nhãn quan “lệch lạc”, phiến diện của 61 thành viên Ban vận động, trong đó có không ít “lão làng” bởi văn học yếu kém mà đổ vấy cho thể chế, cho xã hội (ấy là chưa kể những gì họ liệt kê ra không phải là sự thật!), thì hẳn là buồn cười. Văn học yếu kém, nhà văn phải tự xem lại cái Tài, cái Tâm, cái Tầm của mình chứ! Hơn thế, cái danh của nhà văn là nằm ở tác phẩm. Giá mà họ dành thời gian tập trung để viết, để sáng tác chứ không phải để tụ tập, kết bè kết cánh làm những việc vô bổ, gây hại biết đâu lại có tác phẩm lớn cống hiến cho công cuộc “phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc”?! Trộm nghĩ như vậy nhưng nhìn vào Danh sách Ban vận động thì thấy ngay: Từ đầu đến cuối, từ trẻ đến già, từ người có danh tiếng đến kẻ vô danh tiểu tốt,… đều là những cái tên hiện không còn “hot” trên văn đàn, chắc vì biết mình “tài cạn”, “tâm tối” nên chỉ còn cách dùng chiêu PR hâm nóng tên tuổi thường thấy trong Showbis Việt. Cái danh sách này, với những cái tên như Hà Sĩ Phu, Nguyễn Quang Lập, Bùi Minh Quốc, Nguyễn Huệ Chi, Châu Diên,… nổi lên là những “chấy thức” thường xuyên có những hành động, phát ngôn  vu cáo, xuyên tạc hoặc đả kích chế độ thì tự nó cũng đã vạch áo cho người ta xem và khiến người ta không thể tin được những gì hoa mỹ, “đao to búa lớn” mà họ đã hùng hồn đăng tải trên mạng. Dư luận hoàn toàn có thể hoài nghi về mục đích thực sự của VĐĐLVN cũng như việc có hay không một tổ chức nào đó giật dây cho những con người háo danh hoạt động?