Apr 14, 2015

LÀM GÌ CÓ QUÂN ĐỘI PHI CHÍNH TRỊ

 Tre Việt - Mới đây, cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” phát tán tài liệu “đã đến lúc nhìn về Quân đội phi đảng phái” với nội dung kích động “phi chính trị hóa quân đội đã trở thành yêu cầu bức thiết, chính đáng cho sự tồn vong của đất nước”(!)
Lạ thật, không biết họ căn cứ vào đâu mà đưa ra những luận điệu thật nực cười. Trong khi đó, cả lý luận và thực tiễn lịch sử đều cho thấy: trong xã hội có giai cấp, mọi giai cấp cầm quyền đều trực tiếp nắm quân đội và sử dụng làm công cụ để bảo vệ lợi ích giai cấp mình. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, quân đội là một bộ phận cấu thành của nhà nước, được nhà nước tư sản lập ra và nuôi dưỡng, nên quân đội bao giờ cũng là một lực lượng chính trị, mang bản chất của nhà nước tư sản. Mặc dù các nước tư bản chủ nghĩa phần lớn thực hiện chế độ đa đảng; các đảng luôn đấu tranh với nhau để giành quyền lãnh đạo, nhưng tính nhất nguyên về chính trị của nhà nước tư sản không vì thế mà mất đi; bất kể chính đảng nào lên nắm chính quyền thì quân đội các nước này vẫn bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản.
Ở Việt Nam, lịch sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ ngày đầu thành lập, “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” đã được tổ chức theo nguyên tắc lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có chính trị viên làm công tác chính trị. Trải qua nhiều lần thay đổi cơ chế lãnh đạo, nhưng nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt luôn được quán triệt. Nhờ đó, quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, công cuộc đổi mới đất nước của chúng ta đã thu được những thành tựu rất đáng khích lệ, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được khẳng định; quốc phòng - an ninh không ngừng được củng cố và tăng cường. Với chủ trương giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, tranh chấp thông qua đàm phán hòa bình, song Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm, đầu tư để từng bước hiện đại hóa quân đội, có nhiều quân, binh chủng tiến thẳng lên hiện đại, có đủ khả năng để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng liêng của Tổ quốc.   
Thực tiễn lịch sử đã cho thấy, bài học về sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu luôn nhắc nhở chúng ta phải kiên định quan điểm: Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt là nguyên tắc cơ bản, bất di bất dịch. Mọi suy nghĩ và hành động xa rời sự lãnh đạo của Đảng đều dẫn đến Quân đội sẽ mất phương hướng hành động, biến chất về chính trị, không còn là công cụ bạo lực sắc bén của Đảng, Nhà nước để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
         Vì thế, không có một quân đội nào "đứng ngoài chính trị", là phi chính trị, tài liệu này cũng chỉ là sự lừa bịp, dối trá, hòng a dua theo phong trào chống phá của các thế lực thù địch, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ ta mất cảnh giác, phai nhạt lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mất phương hướng, dẫn đến suy giảm sức mạnh chiến đấu, mất khả năng bảo vệ Tổ quốc. Nhưng đúng như các cụ ta đã nói “không biết thì dựa cột mà nghe” là không có sai đâu, hỡi “Hội Nhà báo độc lập”./. 

Apr 13, 2015

BBC MỞ MẮT NHÌN CHO RÕ, CĂNG TAI NGHE CHO THẤU


TreViêt - Trong năm 2015, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đi thăm Trung Quốc và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Mượn gió bẻ măng, ngày 04/4/2015 (tức thứ Bảy) Đài BBC tiếng Việt có đăng một số tin bình luận cho là của giới phân tích tại Hà Nội và nhà nghiên cứu quan hệ Việt – Trung, nguyên Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Trung Quốc, ông Dương Danh Dy nói: nào là “chuyến đi bất ngờ” không có trong kế hoạch; không biết hai bên bàn việc gì; mục đích, động cơ chuyến đi thế nào? Và quan trọng hơn là tại sao lại đi Trung Quốc trước??? Đài BBC tiếng Việt có vẻ đầy hoài nghi!
Thật nực cười! Đây là vấn đề thuộc lĩnh vực đối ngoại của cả một quốc gia đâu phải là chuyện đi chợ mua “mớ rau, con tép” của nhà các “người” mà thích đi lúc nào thì đi? Để chuẩn bị cho một chuyến công du của một vị lãnh đạo cấp cao của một quốc gia dù là nước nhỏ hay một cường quốc cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế và nghi thức ngoại giao của mỗi nước. Trước chuyến đi hai nước đã phải triển khai không ít các cuộc họp ở các cấp để trao đổi, thống nhất nghi thức, thời gian, nội dung, chương trình làm việc…; kể cả chuyện bảo đảm hậu cần, an ninh cho Đoàn.
Và sự thật đã rõ, Đoàn cán bộ cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẫn đầu đã chính thức sang thăm Trung Quốc từ ngày 07/4 đến 10/4/2015. Chuyến thăm của Đoàn được Đảng Cộng sản, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc đón tiếp nồng nhiệt, với nghi thức cao nhất của quốc gia. Có thể nói nghi thức đón Đoàn diễn ra hết sức hoành tráng và trang nghiêm, cờ hoa rực rỡ hai bên đường. Cùng với đó là những nụ cười thân thiện, cái vẫy tay, bắt tay đầm ấm, hữu nghị đã được vun đắp trong 65 năm qua. Truyền thống quan hệ làng giềng, hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng và được Đảng Cộng sản và nhân dân hai nước tiếp tục vun đắp cho thế hệ tương lai.
Trong các cuộc hội đàm của Đoàn với nước chủ nhà đều được các phóng viên quốc tế và phóng viên của hai nước theo dõi, phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, chẳng nhẽ BBC vẫn chưa nhìn, nghe thấy sao? Hai bên đã thảo luận nhiều vấn đề, đặc biệt trong đó có vấn đề Biển Đông. Hai bên đã có thông cáo chung đề nghị BBC hãy tìm đọc.
Còn vì sao Đoàn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc trước khi Đoàn sang thăm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng là điều dễ hiểu. Đây là quan hệ hữu nghị được xây đắp từ năm 1950. Hiện tại, Việt Nam – Trung Quốc là đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện. Những năm qua, lãnh đạo cấp cao của hai đảng, hai nhà nước luôn có chuyến viếng thăm lẫn nhau. Tháng 11/2010, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã có chuyến thăm Trung Quốc và hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam ngày 31/10/2005.
 Tuy nhiên, gần đây, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước chưa gặp nhau. Bởi vậy, chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhằm “củng cố và duy trì sự ổn định trong quan hệ song phương, mở đường cho việc giải quyết các tranh chấp giữa hai nước và góp phần vào việc duy trì một môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực".
Đối với Hoa Kỳ, không phải đương nhiên chính quyền nước này lại mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - nhà lãnh đạo cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam mà bấy lâu nay Oa-sinh-tơn không thể chấp nhận - sang thăm Hoa Kỳ vào thời điểm hai nước kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao, Việt Nam Kỷ niệm tròn 40 năm, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Phải chăng lời mời này ngấm ngầm gửi đến Việt Nam một thông điệp: Hoa Kỳ chấp nhận chế độ chính trị ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo?
Dù là mục đích gì đi nữa, chuyến thăm này của Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng gửi thông điệp ra thế giới, nhất là các nước phương Tây rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Nhà nước Việt Nam sẵn sàng đối thoại với tất cả các nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã hội trên thế giới là, vì hòa bình, tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và vì một Việt Nam cường thịnh.
Việt Nam sẵn sàng khép lại quá khứ để hướng về tương lai tốt đẹp hơn. Bởi vậy, trong chuyến công du đến Hoa Kỳ sắp diễn ra của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng như các chuyến viếng thăm lịch sử đã từng diễn ra trước đây của Chủ tịch tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng 6/2007) và Chủ tịch Trương Tấn Sang (tháng 7/2013), Việt Nam sẽ tiếp tục thảo luận nhiều vấn đề hai nước cùng quan tâm, như: chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, giáo dục, giao lưu nhân dân và các vấn đề khác. Về hợp tác đa phương, hai bên chia sẻ những lợi ích chiến lược trong việc thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN và củng cố vai trò trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc khu vực đang định hình; đồng thời, tiếp tục hợp tác trong các diễn đàn khu vực như Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Hợp tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).
Thăm Trung Quốc trước hay Hoa Kỳ trước không phải là vấn đề quan trọng, quan trọng hơn, đó là vị thế của Đảng Cộng sản Việt Nam trên trường quốc tế!


Apr 11, 2015

NÓI QUÀNG NÓI XIÊN

Bạn đọc Nguyễn Văn sau khi đọc bài viết “Chớ vội võ đoán” của Tre Việt, đã gửi đến Tre Việt bài viết “Nói quàng nói xiên”, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

NÓI QUÀNG NÓI XIÊN
                                 Nguyễn Văn

Những ngày cuối tháng 3 vừa qua, trên một số trang mạng có bài viết “Định nghĩa mi” v định hướng XHCN cho phép lãnh đạo tương lai chy làng?” của Nguyễn Trung Chính. Bài viết tập trung phê phán kinh tế thị trường định hướng XHCN, rằng không có nền kinh tế ấy và phê phán tư tưởng kinh tế của C. Mác. Qua bài viết thấy rõ Trung Chính nói quàng nói xiên, nói lấy được, nói không có cơ sở khoa học.
Tác giả Trung Chính cho rằng: “T hơn 15 năm nay, người ta đã đặt câu hi định hướng XHCN là cái gì thì chưa bao gi được mt ông Tng Bí thư, mt Hi đồng, mt Vin nào ca đảng tr li, thì đùng mt cái ông Thng[1] xác nhn: “Đảng ngày càng nhn thc rõ”[2] chng t rng đảng này ngay c khi chưa nhn thc rõ cũng dám đẩy c dân tc đi trong mù lòa”. Và rằng, “So sánh gia mt bên theo ch nghĩa Mác, b quàng thêm nhng Lênin, Stalin, Mao và mt bên chng theo ch nghĩa nào c, ch theo s hướng dn ca thiên nhiên rng c cnh tranh mà tiến ti, bao gi cũng có mt “bàn tay vô hình” ca thiên nhiên làm anh cnh sát điu khin giao thông. Kết qu đã rõ. Vit Nam có mơ cũng không được nếu tiếp tc b đảng cng sn lãnh đạo”. Đồng thời, đòi Đảng Cộng sản phải “t b đường li sai lm v xây dng ch nghĩa xã hi”.
          Nhìn lại cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới năm 2008 cho thấy, nó đã phá sản học thuyết kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ; đồng thời, đề cao học thuyết kinh tế của C.Mác.
Cuộc khủng khoảng tài chính bắt đầu từ Phố Uôn (Mỹ) cuối năm 2008 đã lan nhanh ra khắp thế giới, tàn phá và đẩy hầu hết các nền kinh tế mà nó đi qua chìm sâu vào suy thoái, khủng hoảng. Trước tình hình đó đã xuất hiện nhiều nhận định, ý kiến khác nhau, nhưng nhìn chung đều hoài nghi về học thuyết kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ. Chính giới tư sản đã nói lên điều đó. Tổng thống Pháp N. Xác-cô-di cho rằng: cần phải “tư duy lại chủ nghĩa tư bản”. Ông nói: “Toàn cầu hóa đang tiến gần đến sự kết thúc của chủ nghĩa tư bản tài chính. Chủ nghĩa này đã áp đặt lô-gíc của nó trên toàn bộ nền kinh tế. ý tưởng cho rằng thị trường luôn đúng là hoàn toàn sai lầm”[3]. Ông cũng thẳng thừng chỉ trích sự đơn giản thái quá của chủ nghĩa “tân cổ điển”, với tư duy “thị trường sẽ tự điều tiết tất cả”, “nền kinh tế thị trường tự điều chỉnh mọi vấn đề”, “thị trường luôn có lý”, “kinh tế có sức mạnh tự điều tiết”, v.v.
Chính lý thuyết “tân cổ điển” - học thuyết kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ là nguyên nhân dẫn đến cuộc khủng khoảng tài chính hiện nay trên toàn cầu. Nếu như sự lạm dụng cho vay dưới chuẩn (được sự dung túng của Chính phủ Mỹ) và sự bùng nổ các công cụ nợ phát sinh trên thị trường tài chính toàn cầu, gây ra tình trạng đầu cơ quá mức và mất khả năng thanh toán trên thị trường bất động sản (vượt ra khỏi sự dự báo và kiểm soát của chính phủ) là căn nguyên trực tiếp, thì chính các thể chế thị trường tự do cao độ, thiên vị các lợi ích cá nhân và cục bộ, nới lỏng kiểm soát ở Mỹ mới là căn nguyên sâu xa và chủ yếu gây ra khủng hoảng[4]. Nó đã đẩy nước Mỹ vào tình trạng phá sản tài chính, làm cho huyền thoại về nước Mỹ như một “pháo đài tài chính bất khả xâm phạm”, với tư tưởng “tự do và dân chủ” bảo đảm cho sự ổn định và phát triển của thế giới đang lung lay tận gốc, sức hấp dẫn của “mô hình Mỹ” đang ngày càng lụi tàn,... Cuộc khủng hoảng tài chính ở Mỹ đã làm đổ vỡ các doanh nghiệp của nền kinh tế tài chính tiền tệ (kinh tế ảo, kinh tế bong bóng) dẫn đến sụp đổ của các doanh nghiệp của khu vực kinh tế thực.
Cuộc khủng hoảng tài chính diễn ra trên thế giới từ những tháng cuối năm 2008 đã được C.Mác dự báo cách đây hơn 1 thế kỷ. Ông đã khẳng định: “Khi các nhà tư bản trao đổi tiền để lấy tiền, chủ nghĩa tư bản sẽ thoái trào”, và xã hội tư sản hiện đại, một xã hội phù phép ra những phương tiện sản xuất và trao đổi khổng lồ tới mức nó giống như một thầy phù thủy không thể kiểm soát nổi những quyền lực “âm thế” do chính mình nguyện chú lên... và cách tốt nhất để can thiệp và giảm sức nóng của những cuộc khủng hoảng kinh tế và tài chính là Nhà nước phải ra tay cứu nền kinh tế, trong những hoạt động gần như quốc hữu hóa nền kinh tế vốn do tư nhân thống trị; cần có “sự tập trung hóa trong tay Nhà nước thông qua một ngân hàng quốc gia cùng với vốn nhà nước”. Từ đó đặt ra câu hỏi tại sao cách đây hơn một thế kỷ, điều C. Mác đề cập đến nay vẫn đúng. Câu trả lời là, C.Mác là người có phương pháp luận khoa học trong phân tích và được thực hiện một cách vô cùng khách quan. Ngay từ đầu C. Mác không phải là người nghiên cứu kinh tế, mà là triết học. Sau đó, Ông mới chuyển sang nghiên cứu kinh tế, nhưng C.Mác đã phân tích một cách rõ ràng và sâu sắc về chủ nghĩa tư bản, về xã hội và nền kinh tế của nó. Điều phi thường mà C.Mác đã làm và tìm ra cách thức vận hành cũng như những chuyển biến không ngừng mà xã hội tư bản được xây dựng trên đó. Chính vì thế, nên những tiên đoán của C.Mác từ thế kỷ XIX đã thuyết phục nhiều nhà chính trị cũng như các doanh nhân thành đạt nhất ở các nước phương Tây, đặc biệt là những người hoạt động trong lĩnh vực tài chính toàn cầu và trí thức trẻ quay trở lại nghiên cứu học thuyết của Ông để tìm nguyên nhân của cuộc khủng hoảng tài chính và biện pháp đối phó. Vì thế, “Tư bản luận” và “Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản” - các tác phẩm của C.Mác, được Nhà xuất bản Karl Dietz (Đức), hiện giữ bản quyền đã tái bản nhiều lần với số lượng tăng vọt và được nhiều người tìm nghiên cứu. Bởi vậy, không phải là đại ngôn khi cho rằng, C.Mác không chỉ là nhà tư tưởng của thế kỷ XX, mà còn là của thế kỷ XXI.
Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Trên cơ sở học thuyết kinh tế của C.Mác với phương pháp luận khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh cùng với thực tiễn xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, Đảng đã đề ra chủ trương thực hiện nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta thực hiện kinh tế thị trường, vì đó là sản phẩm của nhân loại, không phải riêng có của chủ nghĩa tư bản. Song điểm khác biệt, không phải là “thị trường tự do” kiểu Mỹ, mà là thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Nhà nước xã hội chủ nghĩa quản lý nền kinh tế thị trường để bảo đảm lợi ích của toàn dân, của cả xã hội, chứ không phải phục vụ cho lợi ích cục bộ của một nhóm cá nhân. Trên cơ sở nhận thức các quy luật của kinh tế thị trường, Nhà nước xã hội chủ nghĩa vận dụng nó bằng cách tác động vào những yếu tố, điều kiện, môi trường mà quy luật đang vận động theo hướng có lợi cho xã hội thông qua vai trò quản lý của mình. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến nền kinh tế Việt Nam trong 30 năm đổi mới luôn tăng trưởng với tốc độ cao ở châu Á và thế giới. Năm 2014 tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đạt gần 6%, Quý 1/2015 đạt hơn 6%, trong khi nền kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn. Đồng thời, đó cũng là thực tiễn bác bỏ những luận điệu phủ nhận vai trò quản lý của Nhà nước trong nền kinh tế thị trường, làm thức tỉnh những ai muốn thực hiện kinh tế thị trường tự do kiểu Mỹ.
Từ cuộc khủng khoảng tài chính trên thế giới năm 2008, cho thấy tính cách mạng và khoa học của học thuyết kinh tế C.Mác, suy rộng ra là tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Hồ Chí Minh. Đó là một căn cứ khẳng định sự đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam, khi ngay từ ngày thành lập đã xác định lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin làm nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động của mình. Nó còn là một đòn giáng vào những ai muốn từ bỏ lý luận Mác – Lê-nin, hoặc tuyệt đối hoá tư tưởng Hồ Chí Minh, thực chất là muốn từ bỏ lý luận Mác – Lê-nin. Đồng thời, cảnh báo những ai nhân danh học Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh để cố tình biện dẫn các ông cho hành động rập khuôn, máy móc của mình. Học các lãnh tụ của giai cấp vô sản và của dân tộc không phải ở câu chữ mà học ở phương pháp luận khoa học. Trên cơ sở đó bảo vệ, phát triển sáng tạo, làm phong phú lý luận của chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Có như vậy, sức sống của lý luận Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nền tảng tư tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam mới trường tồn./.





[1] GS,TS. Nguyn Xuân Thng, Phó Ch tch Hi đồng Lý lun Trung ương, Ch tch Vin Hàn lâm Khoa hc xã hi Vit Nam
[2]  Sáng 28/02/2015, GS,TS. Nguyn Xuân Thng nói:Đảng ngày càng nhn thc rõ, sát thc tế hơn khái nim tng quát v kinh tế th trường định hướng XHCN”.
[3] Mai Ph­ương (ViÖt nmes) dÞch tõ NyTrmes 13-10-2008 07.00 GMT+3
[4] Cuéc khñng ho¶ng tµi chÝnh thÕ giíi, b­íc ngoÆt ph¸ s¶n cña häc thuyÕt kinh tÕ thÞ tr­êng tù do kiÓu Mü, B¸o Nh©n D©n, ngµy 27-11-2008, tr.1, 5.

Apr 10, 2015

ĐỪNG CỐ ĐẤM ĂN XÔI

Tre Việt - Ngày 05 tháng 4 vừa qua, trang Danlambao có bài “Giữ hay bỏ ngày quốc hận 30 tháng tư?” của Bằng Phong Đặng Văn Âu. Tác giả bài viết nhấn mạnh: “Phải giữ Ngày Quốc Hận để cứu nước. Phải Hận mới có đấu tranh”. “Ngày 30 Tháng Tư là Ngày Quốc Hận. Bởi vì ngày ấy là Ngày Đại Tang cho cả dân tộc Việt Nam, dù ở phe thắng hay ở phe bại”. Và rằng: “Sau ngày 30 Tháng Tư, người cộng sản gọi là ngày chiến thắng hay ngày thống nhất Đất Nước. Nhưng ngày đó lại là dịp để một người yêu nước ở phía thắng trận như bà Dương Thu Hương có cơ hội nhìn thấy một chế độ man rợ nhờ xảo quyệt, dối trá, lừa đảo, tàn bạo mà chiến thắng một nền văn minh. Bà Dương Thu Hương đã ngồi xuống vệ đường và ôm mặt khóc” vì “chan hòa nỗi oán hận” do đã nghe theo những người lãnh đạo ở Bắc Bộ Phủ giải phóng miền Nam.
Dương Thu Hương là người “trở cờ”, những mong kiếm chác được gì khi ra sức nói xấu, xuyên tạc chế độ. Nhưng khi sống ở trời Tây, chính bà ta đã thấu hiểu bản chất của những kẻ chống cộng. Cũng giống như Trần Khải Thanh Thủy khi không còn tác dụng gì cho lực lượng chống cộng, Dương Thu Hương đã bị chúng vứt bỏ không thương tiếc. Hãy xem Dương Thu Hương trả lời phỏng vấn RFA ngày 11-3:  khi đã “chọn con đường làm giặc”, sau gần chục năm sống ở trời Tây, Dương Thu Hương phải thốt ra những điều cay đắng và chua chát: “Bây giờ nhìn lại những phong trào chống cộng của người Việt hải ngoại, ta thấy cái gì? Trừ những vụ treo đầu dê bán thịt chó như Hoàng Cơ Minh ra, rất nhiều chính khách khác chỉ chờ cơ hội để về Việt Nam thương thuyết với cộng sản để chia ghế. Những nhà chống cộng ở đây tôi biết thì hoàn toàn là một thứ trò du hí để thỏa mãn cái lòng tự tôn của họ. Bởi vì sống ở nước ngoài họ không có một gương mặt hãnh diện, một vị trí xứng đáng cho nên là họ nêu chiêu bài chống cộng, nhưng lúc nào cũng ngóng chờ cộng sản chìa tay ra để trở về chia ghế. Và có những ông, cộng sản chưa cần mời đã vội vàng đến sứ quán làm lành trước, v.v. Cho nên cái tinh thần chống Cộng của tôi cũng giống như cái đuôi con chó, vẫy lên rồi vẫy xuống theo cái lợi ích của họ”! Vậy nên, Bằng Phong Đặng Văn Âu có cố gào thét phải giữ ngày quốc hận (30-4) thì chẳng qua cũng như Dương Thu Hương bộc bạch ở trên - chỉ vì lợi ích cá nhân mà thôi, nên họ sẵn sàng làm “như cái đuôi con chó” khi có lệnh. Trong khi cả nước đang phấn khởi kỷ niệm ngày giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, vì ý nghĩa to lớn của chiến thắng này mang lại cho toàn dân tộc Việt Nam lại vẫn còn những người như Bằng Phong Đặng Văn Âu vì lợi ích cá nhân không được đáp ứng mà tỏ thái độ hằn học theo kiểu “cố đấm ăn xôi”. Bởi vậy, hãy thôi ngay trò ngớ ngẩn này đi Văn Âu ạ!

Apr 9, 2015

CHỚ VỘI VÕ ĐOÁN

Tre Việt - Mới đây, Ngày 19-3-1025, blog “Dân Quyền”, tác giả Nguyễn Trung Chính có bài: “Nói với nhau về chủ nghĩa Mác”. Trong đó viết rằng: Những phát minh về in-tơ-nét, về điện thoại viễn liên, mạng xã hội đã đưa con người gần với nhau hơn, hợp tác với nhau hơn để tiếp tục phát minh đưa xã hội loài người đi lên nữa. Công lao mà chúng ta được hưởng ngày nay thuộc về xã hội tư bản, phát minh sáng kiến cá nhân. Không một chế độ cộng sản nào góp phần gì trong đó, họ chỉ có bắt chước để làm hàng nhái kiếm lợi vì công nhân rẻ mạt… So sánh giữa một bên theo chủ nghĩa Mác, bị quàng thêm những Lênin, Stalin, Mao và một bên chẳng theo chủ nghĩa nào cả, chỉ theo sự hướng dẫn của thiên nhiên rằng cứ cạnh tranh mà tiến tới, bao giờ cũng có một “bàn tay vô hình” của thiên nhiên làm anh cảnh sát điều khiển giao thông. Kết quả đã rõ. Việt Nam có mơ cũng không được nếu tiếp tục bị đảng cộng sản lãnh đạo.
Xin nói mấy nét toàn là những điều của các tác giả tư sản – “thần tượng” của ông – nói về Mác, chứ không phải những người cộng sản nói, để ông mở to con mắt của mình ra.
Chắc ông biết rằng, trong cơn bão khủng hoảng tài chính từ nước Mỹ, lan rộng, làm rung chuyển thế giới tư bản chủ nghĩa và tác động sâu sắc tới tất cả các nước vào cuối thập niên đầu thế kỷ XXI, không ít chủ tư bản đã tìm đọc bộ Tư bản của C. Mác, nghiên cứu chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Họ không những đã tìm thấy ở đó câu trả lời lý giải cho sự khủng hoảng, mà còn nghiên cứu, vận dụng vào quá trình phát triển kinh tế, và đều có chung nhận định: C. Mác là nhà tư tưởng của thế kỷ XXI.
Ông có biết, Terry Eag-le-ton, Giáo sư trường Đại học Tổng hợp Lan-cas-te Vương quốc Anh? vị Giáo sư này đã khẳng định sự đúng đắn của chủ nghĩa Mác – Lê-nin. Trong cuốn sách “Tại sao Mác đúng?”, Eag-le-ton viết rằng, C. Mác là người đầu tiên nhận biết được đối tượng lịch sử được biết đến là chủ nghĩa tư bản, chứng minh nó xuất hiện, hoạt động theo quy luật nào và có thể đi đến chỗ kết thúc ra sao. Cùng với quan điểm này, Fredrie Ja-mo-son trong cuốn sách “Hệ tư tưởng của học thuyết”, xuất bản năm 2008 ở Lon-don cũng đã khẳng định: “Chủ nghĩa Mác dứt khoát đúng”. Eag-le-ton đã nhận thức rằng, có sự phê phán chủ nghĩa Mác – Lê-nin là do sự non kém về lý luận, cách nhìn phiến diện, chụp mũ, lấy một vài hiện tượng, mô hình trong thực tiễn không đúng với học thuyết của C. Mác để đổ lỗi cho C. Mác sai. Eag-le-ton cũng đồng thời vạch rõ, chủ nghĩa tư bản dù có lúc đạt được hiệu quả nhưng nó làm được điều đó bằng cái giá kinh hoàng của nhân loại. Đó là sự mất tự do được ngụy tạo bằng hình thức tự do, là bất công trong tình cảnh phân biệt giàu nghèo gia tăng, là nạn diệt chủng và phân biệt chủng tộc, là cưỡng bức, tước đoạt, áp đặt, tìm kiếm lợi nhuận bằng mọi giá, “là vô trách nhiệm với sự tồn vong của nhân loại. Tức là con đường tư bản chủ nghĩa đang đi cũng là đang đe dọa phá hủy toàn bộ hành tinh này”. Ở trong lòng chủ nghĩa tư bản phát triển cao, Eag-le-ton thấy rõ, “những nhà nước tư bản hiện đại là kết quả của một lịch sử chiếm đoạt nô lệ, diệt chủng, bạo lực và bóc lột một cách ghê tởm. chủ nghĩa tư bản cũng được tôi luyện trong máu và nước mắt, chỉ có điều nó đã tồn tại đủ lâu để người ta quên đi nỗi khủng khiếp đó. Do đó, để loài người có được bước phát triển cao hơn, an toàn, công bằng hơn về vật chất và tinh thần thì cần phải có một hình thức xã hội khác cao hơn xã hội tư bản”.

Những dẫn giải nêu trên từ chính các học giả tư sản, sống trong lòng chủ nghĩa tư bản hiện đại, trực tiếp trải nghiệm thực tiễn xã hội tư bản đã đánh giá một cách công bằng, tôn trọng sự thật, không thiên kiến, để ông - Nguyễn Trung Chính - thấy được giá trị, ý nghĩa, sức sống bền vững của chủ nghĩa Mác – Lê-nin - “đại lý thuyết” về phát triển xã hội, đem lại tự do, hạnh phúc cho con người, đã, đang và sẽ tiếp tục soi sáng con đường đi của lịch sử tới một tương lai tốt đẹp và tính triển vọng tất yếu của chủ nghĩa xã hội. Chứ không phải như ông nghĩ, là sẽ có một xã hội “cứ cạnh tranh mà tiến tới, bao giờ cũng có một “bàn tay vô hình” của thiên nhiên làm anh cảnh sát điều khiển giao thông”. Đó chỉ là sự ảo tưởng, hỗn loạn, mang đến chết chóc, đau thương cho nhân loại thôi! Thưa ông Trung chính! Và cũng phải nói thêm với ông rằng, chính nhờ lý luận của Mác – Lê-nin và sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc này, đất nước này mới có được độc lập, thống nhất, hòa bình, phát triển như ngày hôm nay. Nhờ đó, ông mới được đi đây, đi đó, tiếp xúc với in-tơ-nét…, để ông khuay chân, múa tay phê phán cái này, cái nọ. Vì thế, chớ có vội võ đoán Trung Chính ạ./.

Apr 5, 2015

Thiển cận

           TRE VIỆT - Vài ngày nay, trang Danlambao mở mục thi viết “Cộng sản và tôi”, mở đầu Cuộc thi là bài: “Ngày của tháng 4 đen” của người có bút danh là EmSAIGON. Đọc bài viết thấy tác giả kể lể về những ngày đầu Sài Gòn giải phóng với nhiều kỷ niệm muốn ôm lấy cái thây ma chết rữa - Sài Gòn. Vì những hào nhoáng mà Sài Gòn có được không phải do tự mình mà do nhận của bố thí từ Mỹ. Ấy thế, mà tác giả bài viết cứ hết lời ngợi ca và chê Bộ đội giải phóng lúc mới tiếp quản Sài Gòn.
          Họ ca ngợi Sài Gòn “với nhà lầu xe hơi, trai thanh gái lịch, phố xá sang trọng, dân chúng hiền hòa cởi mở..., miền Nam giàu có tự do hạnh phúc” (!) Có đúng vậy? Đúng là thủ đô của Việt Nam Cộng hòa nên Sài Gòn có nhiều nhà tầng, xe hơi là tất yếu, có nhiều trai thanh gái lịch cũng là điều bình thường. Bộ đội Cụ Hồ do phải ở rừng, ở xa trung tâm thành phố lâu ngày nên khi tiến về Sài Gòn có ngạc nhiên khi ngắm nhìn thành phố cũng là điều không khó hiểu. Điều đó cũng giống như người thành phố về rừng núi cũng mải mê ngắm nhìn sự kỳ vĩ của thiên nhiên vậy. Hai trường hợp trên giống nhau, chẳng có gì xấu cả. Còn có đúng “miền Nam giàu có tự do hạnh phúc” không? Vào thời điểm đó cũng có thể coi Sài Gòn giàu có, nhưng không phải có tự do, hạnh phúc. Giàu có, tự do, hạnh phúc chỉ có ở một số người, chứ không phải ở quảng đại quần chúng. Chính vì vậy, Thượng sĩ Donald Duncan là một người có tư tưởng chống cộng cứng rắn trước khi đến nước ta, nhưng khi rời khỏi Việt Nam con người đó đã thay đổi. Những gì diễn ra trong cuộc chiến ở Việt NamDuncan cảm nhận được đã thôi thúc xuất bản một bản cáo trạng về cuộc chiến tranh đăng Tạp chí Ramparts (tháng 02-1965). Trong đó, có đoạn: “Tôi đã phải chấp nhận rằng… đại đa số người dân là những người ủng hộ Việt Cộng và chống lại chính quyền Sài Gòn. Tôi cũng phải chấp nhận rằng quan điểm: “Chúng tôi ở Việt Nam bởi vì chúng tôi thông cảm với những khát vọng và ước muốn của người dân Việt Nam”, là một lời dối trá”[1]. Nếu người dân được tự do, hạnh phúc thì làm sao có chuyện như Duncan nhận xét ở trên.
Họ chê Thành phố lúc mới giải phóng: “với cảnh chen chúc xếp hàng mua thực phẩm”, các tổ dân phố “họp hành liên miên”, cơ quan thì “kiểm điểm”, v.v. Với bộn bề của Thành phố mới giải phóng để làm rõ trắng - đen thì phải họp, kiểm điểm nhiều là điều khó tránh khỏi ở mọi quốc gia, dân tộc không riêng ở miền Nam Việt Nam. Và do thực hiện chế độ bao cấp, kế hoạch hóa tập trung mà chưa thực hiện cơ chế thị trường nên phải xếp hàng mua hàng hóa. Vì thế, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã nhận thấy sự bất cập của cơ chế cũ nên chuyển sang cơ chế thị trường như hiện nay, hàng hóa tràn ngập, chỉ không có tiền mà mua thôi. Ai mua nhiều còn được khuyến khích, giảm giá nữa đấy! Họ ca ngợi Sài Gòn có nhiều nhà lầu, xe hơi, vậy hãy mở mắt thật to để thấy thành phố mang tên Bác hiện nay với Sài Gòn 40 năm trước khác nhau như thế nào? Thành phố mang tên Bác hiện nay có khang trang, hiện đại hơn nhiều so với Sài Gòn trước đây không? Họ thật thiển cận mà không thấy có được thành quả như ngày nay là do sự nỗ lực của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân thành phố mang tên Bác.
          Họ còn tỏ ý chê bai anh Bộ đội mua hàng hóa ở Sài Gòn (lúc này đã mang tên thành phố Hồ Chí Minh): “Thế là anh giải phóng,… đi chợ Sài Gòn, mua chi... mua chi”. Chuyện mua bán cũng là bình thường, người có tiền, người có hàng có nhu cầu mua bán thì hành vi mua bán được thực hiện. Xã hội nào, thời nào mà chẳng vậy. Đúng là “không ưa thì dưa có dòi”. Anh giải phóng mua bán đàng hoàng mà chúng làm như là ăn cướp không bằng. Như thế cũng thấy cái tâm “trong sáng” của người viết. Điều đó báo hiệu sự thất bại của cuộc thi của mấy người bảo thủ, “cố đấm ăn xôi”, không chịu đồng tâm, hiệp lực cùng nhân dân cả nước xây dựng đất nước giàu mạnh./.



[1] - Joe Allen - Việt Nam cuộc chiến thất bại của Mỹ, Nxb Công an nhân dân, H.2009,  tr. 275 - 276.

Apr 2, 2015

KHÔNG CÓ GÌ ĐÁNH ĐỔI ĐƯỢC ĐỘC LẬP, THỐNG NHẤT, HÒA BÌNH


          TreViệt – Cứ mỗi lần đến dịp kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30-4 của dân tộc Việt Nam, y như rằng, một số kẻ “lưu vong” lại “hoài niệm”, rên rỉ, nói xấu, xuyên tạc ý nghĩa của Chiến thắng đó. Ngày 30-3-2015, trang Danlambao, tác giả Cánh Dù Lộng Gió, có bài “30/4 được gì, mất gì?”, đã kể ra hàng loạt những cái được của bên thắng cuộc, những cái mất của người thua cuộc. Những cái được của bên thắng cuộc mà bài viết nêu ra, mới chỉ lướt qua đã thấy sặc mùi phản động, dối trá, xuyên tạc của những kẻ chuyên sống nhờ liếm gót giầy Tây và sự bố thí của ngoại bang. Không ngoa chút nào, khi đọc những liệt kê về cái mất của bên thua cuộc, nào là “Mất Nước”, “Mất nhà cửa, tài sản”, “Mất gia đình vì ly tán mỗi người mỗi nơi lúc chạy loạn, hoặc đi tha hương, vì phải đi học tập cải tạo”, “Mất lương lậu hàng tháng trước đây”, “Mất hết tiền bạc gom góp trước năm 1975”…, và còn nhiều nữa. Những so sánh này càng cho thấy tác giả bài viết có cái nhìn rất thiển cận, cái tâm hẹp hòi, chỉ thấy lợi trước mắt mà không thấy được giá trị lớn nhất của Đại thắng 30-4-1975 là đem lại hòa bình, độc lập, thống nhất non sông cho dân tộc Việt Nam. Chẳng lẽ các vị không thấy sự thanh bình trên đất nước Việt Nam 40 năm qua? Đất nước Việt Nam không còn bom rơi, đạn nổ, không còn đổ máu, hy sinh, chết chóc (dù từ phía nào)?. Mọi người dân, trẻ em Việt Nam được tự do vui chơi, đi lại, học hành, nhân dân thế giới được đến thăm, du lịch thưởng ngoạn các danh lam, thắng cảnh, đặc sản của Việt Nam, v.v. Việt Nam ngày càng trở thành điểm đến hấp dẫn, đáng sống đó sao? Đó chẳng phải là điều tốt đẹp nhất mà Đại thắng 30-4-1975 mang lại, không chỉ cho dân tộc Việt Nam, mà còn cho cả nhân dân thế giới.
          Vả lại, dân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một, được hình thành, phát triển, trường tồn qua bao đời, hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước. Vậy, sao nói là “mất nước” được! Không lẽ các vị vẫn muốn chia cắt, chia rẽ dân tộc này? Không lẽ vì những đồng Đô-la của Mỹ bố thí cho, mà các vị sẵn sàng mang bom, đạn rải xuống mảnh đất này? Chẳng lẽ các vị thích nghe tiếng nổ của bom, đạn, tiếng gào thét, khóc than của trẻ em, các bà mẹ trong những trận càn, trận bom na-pan hơn là nghe những lời ca tiếng hát vang lên trong thanh bình. Các vị hãy nhìn sang những quốc gia đang bị chia cắt, chiến tranh hiện nay để thấu hiểu nỗi khổ, đau thương của nhân dân các nước đó, gia đình thì ly tán, chết chóc, đói nghèo, mới thấy được giá trị của hòa bình, thống nhất, độc lập trên đất Việt Nam. Cũng phải nói thêm rằng, sau khi giành chiến thắng, đã không hề có cuộc “tàn sát”, “trả thù” nào của những người “thắng cuộc” đối với những người “thua cuộc”. Điều này hoàn toàn khác với chính quyền Ngô Đình Diệm, với Luật 10/59 đã từng mang máy chém đi đàn áp những người cộng sản, tham gia kháng chiến giành độc lập cho dân tộc.

          Các vị cũng cần biết rằng, để có hòa bình như hôm nay, những người “thắng cuộc” đã không hề so đo, ăn đói, chịu cực khổ, đói rét, nếm mật, nằm gai, sẵn sàng hy sinh cả xương máu chỉ mong muốn đất nước được độc lập, thống nhất, chấm dứt cảnh bom rơi, đạn nổ, thịt nát, xương tan để nhân dân hai miền, mọi nhà được sống trong hòa bình, yên ổn. Với chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, truyền thống thương yêu, đùm bọc, đánh kẻ chạy đi, không ai nỡ đánh kẻ chạy lại, nhân dân Việt Nam luôn bao dung, tha thứ cho mọi lỗi lầm của người “thua cuộc”, tạo điều kiện để họ có cuộc sống ấm no, hạnh phúc, bình đẳng, phát triển như bao người dân bình thường khác. Vì vậy, “quay đầu là bờ”, “đừng cố đấm ăn xôi” các vị ạ!

Mar 21, 2015

BBC BỊ MÙ!

           Tre Việt -Trung tuần tháng 3/2015, trên BBC tiếng Việt có bài viết: Các hội đoàn “kêu gọi dân chủ ở Việt Nam”. Bài viết đăng tải ý kiến của những cái gọi là “tổ chức, hội đoàn dân chủ” và gần 160 người tự xưng là những “nhà hoạt động dân chủ cho Việt Nam”. Họ cho rằng, đất nước đang phải đối diện với “nguy cơ hiểm nghèo nhất, đe dọa sự tồn vong của dân tộc”, bởi lẽ: “người dân không có tự do, nhân quyền, đất nước không có dân chủ”(!) Phải chăng vậy?
          Trước hết, cần khẳng định ngay rằng, Việt Nam là một quốc gia độc lập, thống nhất, có chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ; có nền chính trị, xã hội ổn định, kinh tế phát triển bền vững, quốc phòng - an ninh được tăng cường. Theo báo cáo của Chính phủ, năm 2014, trong bức tranh u ám của nền kinh tế thế giới và khu vực, thì nền kinh tế vĩ mô của Việt Nam có sự ổn định vững chắc, kinh tế tăng trưởng rõ nét, thị trường tài chính chuyển biến tích cực, cân đối ngân sách được cải thiện. Những nhận định trên được thể hiện bằng những số liệu, như: tốc độ phát triển GDP là 5,98%/năm, vốn đầu tư nước ngoài được thực hiện ước đạt gần 13 tỷ đô la, tỷ lệ hộ nghèo khoảng gần 8% (giảm 1,6 điểm so với năm 2013); có 57 quốc gia và vùng lãnh thổ có dự án đầu tư mới tại Việt Nam,… Việt Nam được đánh giá là điểm đến hấp dẫn của các nhà đầu tư trên thế giới. Đồng thời, hiện nay, Việt Nam có quan hệ đối tác với 158 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với 05 nước thường trực bảo an Liên hợp quốc. Đồng thời, cũng là thành viên có trách nhiệm của nhiều tổ chức quốc tế có uy tín trên thế giới và trong khu vực. Đặc biệt, với thành tựu ấn tượng của mình về việc thực hiện các Mục tiêu Thiên niên kỷ, Việt Nam được Liên hợp quốc coi là tấm gương sáng để các nước trên thế giới học tập, noi theo, nhất là về xóa đói giảm nghèo, giữ vững ổn định chính trị - xã hội, thực hiện và bảo vệ quyền con người, quyền công dân, v.v. Những ví dụ trên đây được thể hiện rõ trong báo cáo quốc gia hằng năm của Chính phủ Việt Nam, được các tổ chức có uy tín trên thế giới độc lập thẩm định và được công khai trên in-tơ-nét.
Nhân đây, cũng nói rõ với BBC rằng, quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam đứng lên đấu tranh tự giành lấy từ tay các thế lực áp bức, bóc lột, trong đó có thực dân, đế quốc. Từ khi ra đời đến nay, được sự ủy thác, tín nhiệm của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam với đường lối, chủ trương đúng đắn đã lãnh đạo nhân dân và dân tộc đánh đuổi thực dân Pháp, phát xít Nhật, đế quốc Mỹ xâm lược, giành độc lập dân tộc, tự do, hạnh phúc cho nhân dân, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước bước vào thời kỳ xây dựng và phát triển vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Để thực hiện mục tiêu trên, Nhà nước Việt Nam đã có nhiều chủ trương, biện pháp, trong đó có việc tăng cường xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN. Vì thế, Việt Nam là đất nước có bản Hiến pháp và các bộ luật, luật tiến bộ, phù hợp với thực tiễn và thông lệ quốc tế.
Những điều trên đã được lịch sử ghi nhận và BBC biết rõ. Cho nên, ở Việt Nam, hiện nay, không có chuyện là người đang phải đối diện với “nguy cơ hiểm nghèo nhất, đe dọa sự tồn vong của dân tộc”,… như BBC nói, trái lại đất nước Việt Nam đang trên đà phát triển bền vững, có nhiều đóng góp cho sự tiến bộ, hòa bình, phát triển trên thế giới và trong khu vực. Ở Việt Nam, quyền con người, quyền công dân được bảo đảm trên thực tế. Đây là một sự thật không thể bác bỏ!
Còn một số cái gọi là tổ chức, hội đoàn, như: Diễn đàn Xã hội dân sự, Mạng lưới Blogger Việt Nam, Hội Ái hữu tù nhân Chính trị và tôn giáo, Hội Phụ nữ nhân quyền Việt Nam,… mà BBC nêu trong bài viết đều là những tổ chức, hội đoàn tự xưng, không được pháp luật và xã hội Việt Nam công nhận. Và gần 160 người tự xưng là những “nhà hoạt động dân chủ cho Việt Nam” mà BBC dẫn, thì mọi người dân Việt Nam đều có thể biết rõ bộ mặt thật bẩn thỉu của họ, trong đó có “cựu tù chính trị” Nguyễn Tiến Trung được nêu đích danh ở cuối bài viết. Đây là những cá nhân vì nhiều lý do khác nhau, trong đó lý do chủ yếu là do bất mãn với chế độ, có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, âm mưu móc nối, lôi kéo người khác xuyên tạc tình hình nhân quyền, chống đối chế độ chính trị ở Việt Nam. Lý do sâu xa hơn là những người này là âm mưu tạo cớ để các lực lượng cực hữu, kẻ xấu, phản động ở trong nước và nước ngoài cấu kết với nhau thành lập tổ chức, lực lượng tiến tới lật đổ chính quyền Việt Nam, hòng mưu cầu lợi ích cá nhân ích kỷ và phục vụ cho những thế lực muốn xóa bỏ chế độ cộng sản, tiến tới xâm lược, nô dịch Việt Nam. Vì thế, việc BBC nêu, dẫn ý kiến của những cái gọi là tổ chức, hội đoàn, hay những “nhà hoạt động dân chủ cho Việt Nam” nêu trên là hoàn toàn không đúng sự thật, trái với thực tiễn xã hội và pháp luật Việt Nam. Đúng là BBC bị mù.
Thực ra, BBC đâu bị mù! Hành động của BBC chỉ là một trong nhiều thủ đoạn bẩn thỉu mà họ thường làm khi đánh giá về tình hình Việt Nam. Mục đích của BBC là xuyên tạc tình hình nhân quyền Việt Nam, hà hơi, tiếp sức cho hành động phá hoại sự ổn định chính trị - xã hội của những kẻ vi phạm pháp luật, những thế lực chống cộng cực đoan, phản động, hòng tiến tới lái con đường phát triển của Việt Nam sang hướng khác.
Hành động bẩn thỉu này của BBC bị nhân dân Việt Nam và dư dự luận tiến bộ ở Vương quốc Liên Hiệp Anh và Ireland cũng như trên thế giới nhận rõ, lên án và bác bỏ! 

Mar 17, 2015

VẪN LÀ GIỌNG ĐIỆU XUYÊN TẠC

Tre Việt - Vừa qua, kênh VOA Việt ngữ có đăng tải cuộc trò chuyện giữa phóng viên Đài này với blog Điếu Cày (tức Nguyễn Văn Hải) - một bloger vừa được Việt Nam trả tự do, phóng thích sang Mỹ. Khi hỏi về cảm xúc lần đầu tiên đón Tết ở ngoài song sắt sau nhiều năm bị cầm tù nhưng lại ở Mỹ chứ không phải ở Việt Nam. Nguyễn Văn Hải trả lời rằng:“Điều tôi luôn mong mỏi là người dân Việt Nam có được đầy đủ những quyền cơ bản, đặc biệt là quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận”(!)
Sự thật có phải vậy không? Hay Nguyễn Văn Hải đầu óc có vấn đề nên nói xằng, xuyên tạc về tình hình tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam?
Là một người dân bình thường cũng dễ dàng nhận thấy thực tế những gì đang diễn ra ở Việt Nam.
Trước hết, về mặt văn bản, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (năm 2013) Điều 25, ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để đảm bảo cho quyền được thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân được thực thi trong cuộc sống theo quy định của Hiến pháp, Nhà nước ta đã ban hành các luật, như: Luật Báo chí năm 1989 và được sửa đổi, bổ sung năm 1999 (sau đây gọi là Luật Báo chí 1999); Luật Xuất bản được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ tư thông qua ngày 20-11-2012, có hiệu lực từ ngày 01-7-2013, v.v.
Điều 2 của Luật Báo chí 1999 ghi rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình. Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không một tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, phát sóng”.
Điều 4 của Luật Báo chí cũng khẳng định, mọi công dân Việt Nam đều có quyền “Tiếp xúc, cung cấp thông tin cho cơ quan báo chí và nhà báo; gửi tin, bài, ảnh và các tác phẩm khác cho báo chí mà không chịu sự kiểm duyệt của tổ chức, cá nhân nào và chịu trách nhiệm trước pháp luật về nội dung thông tin”. Cùng với đó, Chính phủ và các cơ quan chức năng đã ban hành những quyết định, nghị định, thông tư, quy chế,... về việc các cơ quan chức năng định kỳ thông tin với báo chí về tình hình mọi mặt của đất nước. Như vậy, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam đã được bảo đảm bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, rõ ràng và minh bạch.
Những năm qua, Nhà nước Việt Nam đã không ngừng hoàn thiện hệ thống pháp luật trong quản lý hoạt động báo chí, xuất bản; cùng với việc quy định trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị thực hiện nghiêm túc quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận, quyền tiếp cận thông tin,... chúng ta còn quy định rõ việc xử lý các vi phạm đối với các quyền nói trên. Việc làm này đã tạo ra hành lang pháp lý cho báo chí Việt Nam phát triển, người làm báo được tự do tác nghiệp trong khuôn khổ pháp luật, hòa nhập với báo chí khu vực và trên thế giới. Mới đây, Hội nghị Trung ương 10 (khóa XI) đã thông qua Đề án Quy hoạch và phát triển báo chí đến năm 2025. Theo đó, tự do báo chí, tự do ngôn luận trên cơ sở phát huy đầy đủ trách nhiệm xã hội, cá nhân và tổ chức báo chí là điều luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân ta tôn trọng.
Thứ hai, hiện nay, Việt Nam có 845 cơ quan báo chí in, 98 báo, tạp chí điện tử; 67 đài phát thanh, truyền hình Trung ương và địa phương; 180 kênh phát thanh, truyền hình trong nước và 75 kênh truyền hình ở nước ngoài; số lượng người dùng in-ter-net đứng thứ 8 ở châu Á và thứ 3 ở khu vực Đông Nam Á. Hiện có gần 18.000 người được cấp thẻ nhà báo và hơn 19.000 hội viên Hội nhà báo đang hoạt động. Tại Việt Nam, hiện có 30 văn phòng báo chí nước ngoài với 35 phóng viên đăng ký thường trú. Trung bình hằng năm có khoảng 230 đoàn với hơn 1.000 phóng viên nước ngoài vào Việt Nam tác nghiệp. Đây là bộ phận luôn bám sát thực tiễn cuộc sống, có mặt trên mọi vùng, miền của đất nước và một số địa bàn trọng điểm trên thế giới để tổng hợp tin tức, tình hình, phản ánh kịp thời, sinh động các lĩnh vực của đời sống xã hội trong nước và quốc tế; cổ vũ công cuộc đổi mới xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; phát hiện, nêu gương các nhân tố mới, các điển hình tiên tiến, gương “người tốt, việc tốt”, v.v. Đồng thời, thông qua hoạt động báo chí, những người làm báo Việt Nam luôn tích cực đi đầu trong đấu tranh với các tệ nạn xã hội; phòng, chống tham nhũng, quan liêu, lãng phí; đấu tranh, vạch trần những quan điểm sai trái của các thế lực thù địch; tích cực đề xuất, phản biện một cách khoa học về những chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; góp tiếng nói vào việc xây dựng, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc; củng cố, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền XHCN; làm cầu nối hữu nghị để mở rộng quan hệ của Việt Nam với bè bạn quốc tế; tạo điều kiện thuận lợi cho các hãng thông tấn, cơ quan báo chí quốc tế hoạt động, v.v. Báo chí Việt Nam đã thực sự là một kênh thông tin, phản biện xã hội rộng rãi, công khai, dân chủ, nhanh và có hiệu quả đến với các cấp chính quyền và mọi tầng lớp nhân dân. Thông qua báo chí, đã có hàng vạn ý kiến của nhân dân đóng góp ý kiến vào dự thảo văn kiện của các kỳ đại hội Đảng, mà gần đây là người dân góp ý sửa đổi Hiến pháp năm 1992 để có được bản Hiến pháp năm 2013; nhiều chủ trương, chính sách của các cấp chính quyền, như: xây dựng tuyến đường sắt cao tốc Bắc - Nam, xây dựng khách sạn và bãi đỗ xe ngầm ở Công viên Thống Nhất (Hà Nội), xây dựng đường trục Hồ Tây - Ba Vì (Hà Nội), Luật Thủ đô,… đã được nhân dân ta thảo luận, phản biện sôi nổi, dân chủ.

Trên đây là bức tranh rất cơ bản về sự phát triển của nền báo chí Việt Nam. Bức tranh đó, tự nó đã khẳng định rõ: quyền con người nói chung, quyền tự do thông tin, tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi công dân ở Việt Nam nói riêng đã được đảm bảo. Đó là một thực tế khách quan không thể bác bỏ. Những ý kiến đánh giá sai lệch về tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam là xuất phát từ những mưu đồ xấu của một bộ phận thiểu số những kẻ tiêu cực, phản động. Còn nhân dân ta hiểu rõ bản chất của chúng là muốn tuyên truyền, cổ súy cho những cái gọi là “giá trị dân chủ” theo kiểu phương Tây, bịa chuyện, nói xấu chế độ XHCN, kích động hằn thù dân tộc, tôn giáo nhằm phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc; tuyên truyền văn hoá xấu độc. Vì thế, chúng nhất định thất bại./.