Mar 12, 2014

Bùi Tín lại nói lấy được

Tre Việt - Trong blog của mình, lại được mõ làng VOA tiếng Việt loan tin ngày 10-3 vừa qua, Bùi Tín có bài viết: Một ngày ở tù cũng là quá nhiều”. Đọc bài viết này thấy rõ sự trải lòng của Bùi Tín, nhưng rất tiếc đó là cách nói lấy được.
Bùi Tín
Trong bài viết, Bùi Tín cho rằng, ở Việt Nam không có tự do ngôn luận. Trước hết, xin lưu ý ông cần hiểu đúng thế nào là tự do ngôn luận. Vì ông là kẻ đào tẩu, bỏ hàng ngũ, bỏ đất nước, bỏ họ hàng chạy sang trời Tây những mong “liếm gót giầy Tây béo mập đầu” từ hơn 20 năm trước, nên đã quên mất văn hóa của người Việt: Lời nói chẳng mất tiền mua/ Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau. Những ai lợi dụng tự do ngôn luận để đại ngôn, ngoa ngôn đều không đúng với văn hóa Việt Nam. Không thể vin cớ tự do ngôn luận để chửi bới nhau vô tội vạ. Không thể vin cớ tự do ngôn luận để có ai đó có chút thành tích thì khen nhau đến giời và ngược lại có chút khuyết điểm lại dùng lời nói dìm họ xuống tận bùn đen. Khen cũng phải đúng mức, chê cũng phải đúng mực. Ấy là văn hóa Việt. Ông có dẫn ra trường hợp Trương Duy Nhất bị Tòa án nhân dân  thành phố Đà Nẵng xét xử phải đi tù 2 năm và Phạm Viết Đào tòa án sắp xét xử và cho rằng, những người này chỉ thực hiện quyền tự do ngôn luận của mình mà phải đi tù thì ông đã hiểu không đúng hay cố tình hiểu không đúng về tự do ngôn luận. Bởi những trường hợp ông nhắc đến, rõ ràng họ đã lợi dụng tự do ngôn luận để nhằm mục đích chính trị, hòng tạo ra “cách mạng màu” ở Việt Nam. Họ đã vượt quá giới hạn của tự do ngôn luận rồi. Không ở đâu có thứ tự do ngôn luận tuyệt đối mà đều có giới hạn được quy định của pháp luật theo luật pháp quốc tế và luật pháp mỗi nước. Với Việt Nam, đó còn là văn hóa nữa như trên đã đề cập.  
Ông có nhắc tới một vài người có “thành tích” trước đây, như: Phạm Viết Đào tham gia quân đội từ năm 16 tuổi, từng dự các trận đánh ở đường 9, Nam Lào, là cựu chiến binh, lại là đảng viên Cộng sản từ khi 22 tuổi, từng là cán bộ thanh tra của Bộ Văn hóa, hiện là Hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Anh có em ruột là liệt sỹ Phạm Hữu Tạo, hy sinh do bị đạn pháo của bọn bành trướng Trung Quốc tại vùng núi Lão Sơn (Hà Tuyên) tháng 7/1984, nhưng như thế không có nghĩa là Phạm Viết Đào đứng ngoài vòng pháp luật. Ở Việt Nam, pháp luật không có vùng cấm nào cả. Những người hôm qua tốt, không có nghĩa ngày mai anh ta sẽ tốt nếu thiếu tu dưỡng, rèn luyện, như chính Bùi Tín chẳng hạn. Những người trước đây phạm pháp, không có nghĩa mãi mai sau này họ là người phạm pháp, nếu họ nhận ra lỗi lầm và đã sửa chữa, khắc phục. Bởi thế,Việt Nam mới có câu: “Đánh kẻ chạy đi, không ai đánh người chạy lại”. Còn nhân thân của anh tốt là yếu tố xem xét trong quá trình xét xử và có thể giảm tội, chứ không phải vô tội.  
Với cách nói lấy được của Bùi Tín, lần nữa càng chứng tỏ Thông điệp đầu năm 2014 của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Người dân có quyền làm tất cả những gì pháp luật không cấm và sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Cơ quan Nhà nước và cán bộ viên chức chỉ được làm những gì mà luật pháp cho phép’’ là hoàn toàn đúng./.

Mar 9, 2014

Nhận xét hồ đồ về "tù chính trị ở Việt Nam"

Tre Việt - Ngày 06-3, Trà Mi trên VOA lại “ăn theo nói leo” Liên đoàn Quốc tế Nhân quyền (FIDH), cho rằng: “Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á”. Đọc bài viết thấy rõ sự nhận thức còn khác biệt giữa FIDH với Việt Nam. Những người vi phạm pháp luật Việt Nam, bị tòa án xét xử theo đúng trình tự pháp luật và trước tòa họ đều cúi đầu thừa nhận hành vi phạm pháp của mình, các luật sư bào chữa cho thân chủ của họ cũng thừa nhận tòa án xét xử và tuyên phạt đúng người đúng tội. Thế mà FIDH có nhận xét hồ đồ, lại được VOA đưa tin thiếu cân nhắc làm mất uy tín của mình rằng: Việt Nam giam tù chính trị nhiều nhất Đông Nam Á”. Trong bài viết, Trà Mi cũng dẫn rằng: “Việt Nam lâu nay vẫn tuyên bố tại Việt Nam không có tù nhân chính trị hay tù nhân lương tâm. Hà Nội nói chỉ có những người phạm pháp mới bị xử lý theo đúng pháp luật”. Thế nhưng có ý kiến phản bác: “Các luật lệ này rõ ràng không phù hợp với những tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế cho nên lập luận của Hà Nội hoàn toàn vô lý”. Vâng, tiêu chuẩn nhân quyền căn bản của quốc tế mà họ nhắc đến được ghi trong Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị. Xin nhắc lại Điều 19 Công ước trên ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Xin lưu ý khoản 3 của Điều 19 này, những tổ chức cá nhưng có ý kiến khác với Việt Nam là do họ đã bỏ qua khoản 3 của Điều 19 mà tuyệt đối hóa khoản 1 và 2 (Điều 19). Do cách xem xét phiến diện như vậy, nên giữa họ với Việt Nam có nhận thức khác nhau cũng là điều dễ hiểu.
Chúng ta hãy xem họ dẫn ra các trường hợp được gọi là tù chính sau đây để thấy rõ điều đó. Theo họ: Hồ sơ 17 tù nhân chính trị cần đặc biệt quan tâm bao gồm trường hợp của nhà giáo bất đồng chính kiến Đinh Đăng Định; Hòa thượng Thích Quảng Độ, Tăng thống của Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất; blogger Điếu Cày Nguyễn Văn Hải; luật sư “nhân quyền” Lê Quốc Quân; “tiến sĩ luật” Cù Huy Hà Vũ; “nhà hoạt động công đoàn” Đỗ Thị Minh Hạnh; “nhà hoạt động dân chủ” Trần Huỳnh Duy Thức; nhạc sĩ Việt Khang; và nhạc sĩ Trần Vũ Anh Bình. Đọc những cái tên trên, chúng ta chẳng lạ gì họ phạm tội như thế nào. Ấy thế mà mấy tổ chức kia lại cố nói lấy được, gắn cho những người này là “tù chính trị”.
Họ còn dẫn lời của Đinh Đăng Định nào là, “Chế độ của trại giam vô cùng khốc liệt. Sự chăm sóc về ăn uống, về sức khỏe vô cùng giới hạn. Thuốc men không có”. Nào là, “trong môi trường tù tội, không hề có nhân quyền. Việc thực hiện tra tấn, họ không tra tấn một cách lộ liễu, mà họ tra tấn bằng cách chẳng hạn như ốm đau không được trị bệnh, ăn uống thiếu thốn, đời sống văn hóa không có. Đấy cũng là các hình thức tra tấnXin thưa, Việt Nam còn là nước có thu nhập trung bình, nhưng ở tốp dưới của mức này. Vì vậy, những người đang phải lao động sản xuất hằng ngày,cuộc sống cũng còn thiếu, chưa được sung túc nữa là. “Các bố” vi phạm pháp luật, cứ ngồi đấy để chúng tôi nai lưng ra làm được bao nhiêu đều cung phụng và phải “cơm bưng nước rót” cho “các bố” chắc. Một đòi hỏi thật phi lý. Đòi hỏi của “các bố” được thỏa mãn thì chúng tôi cũng xin đi tù như mấy “bố” cho sướng, khỏi phải ở ngoài tự do nhưng phải làm việc vất vả làm gì.
Bởi vậy, khi nói về nhân quyền cần gắn với điều kiện hoàn cảnh cụ thể từng nơi, từng quốc gia nếu không thì sẽ phi thực tế để có những nhận xét, đánh giá hồ đồ chỉ làm mất uy tín của mình mà thôi./.




Mar 7, 2014

Comment

Để tiện cho các bác chia sẻ ý kiến, các bác comment theo các bước dưới đây nhé.





Các bác Click Xuất bản là ok!



Feb 17, 2014

Báo chí ở Việt Nam chẳng những được tự do mà còn được bảo vệ tốt hơn

          Tre Việt - Ngày 12-02-2014, VOA tiếng Việt có bài: “Quốc tế báo động tình hình tự do báo chí tại Việt Nam” của Trà Mi, đọc bài viết này thấy cách lý sự chẳng giống ai, đúng ra là trò ngụy biện, đọc qua thấy có lý, suy nghĩ một chút thấy rất vô lý.
         Trà Mi “ăn theo nói leo” hai tổ chức vốn không có thiện chí với Việt Nam. Đó là Tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) có trụ sở tại Pháp và Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) có trụ sở ở Mỹ. Theo đó, Trà Mi dẫn lời của hai tổ chức này, nào là:“Việt Nam là một trong những quốc gia đàn áp tự do báo chí tệ hại nhất trên toàn cầu, là nhà tù lớn thứ nhì trên thế giới giam cầm các blogger và những người thể hiện quan điểm bất đồng với nhà nước trên mạng…”. Nào là, khi chúng ta khẳng định quyền tự do báo chí được bảo vệ, không bị giới hạn tại Việt Nam, với hàng trăm tờ báo và hàng triệu blogger tự do viết blog trên mạng, thì họ lại cho rằng: “Đó không phải là yếu tố duy nhất để đánh giá tự do báo chí mà chủ yếu là các chính sách của nhà nước và khung pháp lý liên quan đến quyền tự do thông tin và tự do báo chí mới là điều đáng nói. Anh cho phát triển về số lượng nhưng cùng lúc lại tăng cường kiểm soát chặt chẽ hơn. Các con số anh chứng minh phát triển về lượng này không có nghĩa là anh để cho báo chí phát triển tự do. Bằng chứng là Hà Nội liên tục ban hành các nghị định giới hạn quyền tự do báo chí như 72 hay 174 đối với người chia sẻ thông tin trên Facebook bên cạnh các điều luật hình sự về an ninh quốc gia vốn mơ hồ nhưng thường được dùng để bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước như Điều 88 “tuyên truyền chống nhà nước” hay Điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền”. Đọc qua thấy có phần có lý, suy nghĩ kỹ thấy trò ngụy biện mang rõ động cơ không trong sáng. Thật phi lý, không có tự do báo chí thì làm sao có sự phát triển mạnh mẽ về số lượng? Tính đến hết năm 2013, Việt Nam có 997 cơ quan báo chí in với 1.084 ấn phẩm (so với các con số tương ứng của năm 2009 là 676 và 700); gần 17.000 nhà báo được cấp thẻ; 01 hãng thông tấn, 67 đài phát thanh - truyền hình, 101 kênh truyền hình và 78 kênh phát thanh, 74 báo và tạp chí điện tử, 336 mạng xã hội và 1.174 trang thông tin điện tử, gần 3 triệu người có blog. Người dân Việt Nam được tiếp cận với nhiều kênh truyền hình nước ngoài, nhiều hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới, như: CNN, TV5, DW, NHK, KBS, Australia, BBC, VOA, AFP, RFA,... Tính đến tháng 12-2013, ở Việt Nam đã có 30,8 triệu người sử dụng in-tơ-nét (năm 2010 là 26 triệu), chiếm 34% dân số (trung bình của thế giới là 33%), đứng thứ 3 trong khu vực Đông Nam Á, thứ 8 tại châu Á[1]. Sự phát triển mạnh mẽ in-tơ-nét ở Việt Nam đã là một thực tế thuyết phục để bác bỏ mọi sự vu cáo, xuyên tạc về sự hạn chế của Chính phủ Việt Nam đối với người dân trong việc tiếp cận in-tơ-nét. Khi báo chí phát triển thì song hành với đó là phải quản lý để báo chí hoạt động trong khuôn khổ pháp luật mà bất kỳ quốc gia nào cũng làm thế, đâu chỉ có Việt Nam. Điều đó cũng đồng nghĩa với việc pháp luật phải bảo vệ báo chí phát triển tự do và các tờ báo không vi phạm bản quyền của nhau, không làm tổn thương lẫn nhau. Cũng như người tham gia giao thông càng đông, càng nhiều thì đòi hỏi Luật Giao thông phải càng đầy đủ với các điều, khoản khoa học tạo cơ sở pháp lý cho người và các phương tiện tham gia giao thông chấp hành. Không thế thì dẫn đến tình trạng mạnh ai nấy đi, không ai nhường ai để xảy ra tình trạng “quân hồi vô phèng” thì chính người và các phương tiện tham gia giao thông bị tổn thương, có khi còn ảnh hưởng đến tính mạng. Vậy, tại sao không có các luật với các điều, khoản cụ thể để điều chỉnh hành vi tham gia giao thông? Tương tự như vậy, báo chí phát triển mạnh với sự gia tăng nhanh chóng của số lượng cũng đòi hỏi phải có quy định với các hình thức khác nhau, như: Thông tư, Nghị định, luật,… để điều chỉnh hành vi tham gia hoạt động; đồng thời, để bảo vệ quyền lợi của chính báo chí. Việc làm đó của Việt Nam thống nhất với thứ nhất, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, tại Điều 19 cũng đã ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…; 3: Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Thứ hai, Công ước nhân quyền châu Âu (có hiệu lực từ ngày 03-9-1953) đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[2]. Rõ ràng, trong khi khoản 1 của Ðiều luật này quy định: ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới, thì khoản 2 lại quy định: việc thực thi các quyền đó gắn với các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Không có thứ tự do “tuyệt đối” mà không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, ở sự ổn định xã hội, mà thiếu nó thì mọi cố gắng của con người đều trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Công ước nhân quyền châu Âu nói trên.
          Họ còn dẫn các Điều 88 “tuyên truyền chống nhà nước” hay Điều 79 “âm mưu lật đổ chính quyền” trong Bộ luật Hình sự để nói rằng chúng ta “bóp nghẹt những tiếng nói chỉ trích nhà nước”. Thật là phi lý, họ chỉ tuyệt đối hóa quyền công dân mà lảng tránh trách nhiệm công dân. Mọi người đều biết, đã là công dân của một nước thì phải chấp hành nghiêm mọi luật pháp của nước đó. Cho nên, một người, hay một hành động của công dân đều bị chế ước bởi cả hệ thống luật pháp của nước đó, chứ không chỉ có chấp hành luật này mà bỏ qua việc chấp hành luật khác. Bởi điều đó không nơi nào, nước nào trên hành tinh này lại như thế cả. Đòi hỏi đó của họ thật vô lý, không chấp nhận được.
          Vậy là báo chí ở Việt Nam chẳng những được tự do mà còn được bảo vệ tốt hơn chứ. Điều đó đồng nghĩa với cách nói của Trà Mi trên VOA tiếng Việt ngày 12-02 vừa qua cùng cách nói của Tổ chức Phóng viên Không biên giới và Ủy ban Bảo vệ Ký giả về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam là hoàn toàn không có căn cứ./.





[1] Theo xếp hạng năm 2012 của Liên minh viễn thông quốc tế ITU.
[2] Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.

Feb 6, 2014

Sự hàm hồ của các "nhà nhân quyền"

Tre Việt - Ngày 05-02-2014, ngay trước khi Việt Nam đăng đàn tại phiên họp kiểm định định kỳ thứ 18 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, một số tổ chức, cá nhân tự nhận là “nhà nhân quyền” có các hoạt động hòng gây sức ép về nhân quyền đối với Việt Nam. Xem xét các hoạt động của họ cho thấy đó là những phát biểu hàm hồ. BBC tiếng Việt với bài “Vận động giờ chót trước UPR Việt Nam” của Nguyễn Hùng cho thấy rõ điều đó. Bài viết cho biết, các “nhà nhân quyền” tổ chức hội thảo mang tên “Trách nhiệm của Việt Nam trong vai trò thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên Hiệp Quốc” hôm 04-02 vừa qua, tại Giơ-ne-vơ do PEN International, UN Watch và Đảng chính trị Việt Tân, đồng chủ trì. Hội thảo có hơn 100 người diễn ra trong 2 tiếng đồng hồ cho thấy đó là trò hề. Hai tiếng đồng hồ với từng ấy người thì hội thảo được những gì không cần trả lời mọi người cũng biết nó như thế nào rồi.
          Ông Leon Saltiel, Phó Giám đốc tổ chức UN Watch kêu gọi các nước thành viên Liên hợp quốc hãy “khai trừ Việt Nam ra khỏi Hội đồng Nhân quyền”. Không hiểu căn cứ vào đâu mà ông phát biểu hàm hồ đến vậy! Ai cũng biết, Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, thế mà ông Leon Saltiel lại bác bỏ lá phiếu của gần 200 thành viên Liên hợp quốc đã bầu Việt Nam vào Hội đồng nhân quyền. Vậy, chẳng phải hàm hồ sao? Trơ chẽn hơn, khi phóng viên BBC chất vấn về chuyện Việt Nam đã được bầu vào Hội đồng Nhân quyền với số phiếu cao, ông Saltiel lại nói: “chuyện các nước thành viên Liên hợp quốc dàn xếp và mặc cả với nhau để đổi chác sự ủng hộ là chuyện thường”. Tôi không hiểu gần 200 nước thành viên Liên hợp quốc “đổi chác” cái gì với Việt Nam? Có chăng, đó là nhân quyền không chỉ cho nhân dân Việt Nam, mà với tư cách thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Việt Nam tích cực đóng góp vì nhân quyền cho cả nhân loại ngày càng được bảo đảm tốt hơn mà thôi.
          Đại diện của UN Watch, nói thêm Libya cũng đã từng là thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và đã bị khai trừ khỏi Hội đồng này. Nhưng họ lại “quên” tháng 5-2001, Liên hợp quốc bỏ phiếu loại Mỹ ra khỏi Ủy ban Nhân quyền quốc tế - tổ chức tương tự Hội đồng Nhân quyền ngày nay - nơi mà Mỹ là thành viên từ năm 1948, do những vi phạm của nước này xung quanh vấn đề dân chủ, nhân quyền.
          Ông Hà Huy Sơn, luật sư từ Việt Nam sang Giơ-ne-vơ tham gia các hoạt động trước phiên Kiểm định Định kỳ Phổ quát UPR cũng thừa nhận với BBC rằng, số vụ xử các tội liên quan đến Điều 88 và 79 của Bộ luật Hình sự về tội tuyên truyền chống Nhà nước và tội lật đổ chính quyền giảm xuống, nhưng lại hồ đồ cho rằng, “các nhà hoạt động giờ thường bị khép vào những tội khác”. À thế ra, kiểu gì các “nhà nhân quyền” cũng nói được. Thực chất giọng điệu của các “nhà nhân quyền” là họ phải đứng ngoài vòng pháp luật. Nhân quyền với họ là xã hội ai muốn làm gì thì làm, không có pháp luật gì hết, họ tuyệt đối hóa quyền con người mà lảnh tránh trách nhiệm công dân. Đó là điều phi lý và không thể. Hiện nay, trên hành tinh này, không có nơi nào có thứ nhân quyền như họ đòi hỏi. Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị mà họ thường viện dẫn cũng cho thấy rõ điều đó. Điều 19, Công ước này quy định: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận,…”, nhưng khoản 3 lại quy định: “Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định,… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
          Trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt,… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo,…[1]. Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác, quyền con người luôn được gắn liền với quyền và nghĩa vụ công dân. Thật vậy, Công ước nhân quyền châu Âu có hiệu lực từ ngày 03-9-1953 đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, có quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10. Theo đó: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp[2]. Qua đó cho thấy, khoản 1 của Ðiều luật này quy định nguyên tắc chung về tự do ngôn luận (ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới), nhưng khoản 2 lại quy định việc thực thi các quyền đó và các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Vì mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Thực tiễn đã cho thấy, quyền tự do của người này nếu không có những hạn chế nhất định thì có thể xâm hại đến quyền, lợi ích của người khác về nhân phẩm, danh dự. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận. Ðó là quyền tự do ngôn luận phải nằm trong nguyên tắc bảo đảm “an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật, bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[3]. Chúng ta còn nhớ sự kiện họa sĩ Kút vẽ tranh châm biếm nhà Tiên tri Mohammed của Hồi giáo dẫn đến khủng hoảng xã hội vì bạo động ở Đan Mạch và vụ việc Mục sư Giôn ở bang Phlo-ri-đa, nước Mỹ có ý định đốt kinh Cô-ran đã để lại hậu quả nặng nề đối với xã hội khi người ta đã quan niệm không đúng quyền tự do của cá nhân. Những người có hành vi xúc phạm đạo Hồi ở Đan Mạch và ở Mỹ nói rằng, họ có cơ sở pháp lý để làm việc đó là “quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ”. Chúng ta cũng chưa quên việc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ cho rằng với những thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho Quân đội Hoa Kỳ. Và gần đây là vụ Edward Snowden tiết lộ bí mật hoạt động của cơ quan tình báo Mỹ, dẫn đến cựu nhân viên tình báo này phải tỵ nạn ở Nga trước sự truy bắt gắt gao của Chính phủ Mỹ, cũng chỉ vì tội tiết lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại có tình trạng đó? Vì những người này đã tuyệt đối hóa quyền con người mà không thấy nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Điều đó cho thấy, trong khi thực hiện quyền của mình, mỗi người là công dân nước nào cũng có bổn phận phải thực hiện nghĩa vụ công dân và luật pháp của nước đó. Công dân Việt Nam cũng không phải ngoại lệ.
          Đại diện của Tổ chức Phóng viên Không Biên giới, ông Benjamin Ismail, cũng phát biểu rằng, tình hình nhân quyền Việt Nam đã tồi tệ thêm từ năm 2009 - năm Việt Nam lần đầu tiên kiểm điểm về nhân quyền. Xin thưa, Việt Nam được Liên hợp quốc xếp thứ 13 thế giới về kết quả thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ. Đấy vi phạm nhân quyền của Việt Nam là thế đấy!
          Rõ ràng, các “nhà nhân quyền” có những phát biểu hàm hồ, không dựa trên pháp luật, mà chỉ tuyệt đối quyền con người, lảng tránh trách nhiệm công dân. Xin nhắc lại, đó là điều phi lý và không thể.





[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
[2] , 3 - Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.


Jan 25, 2014

ĐÁNG THƯƠNG CHO TRẦN KHẢI THANH THỦY


          Tre Việt - Trần Khải Thanh Thủy - người tự xưng là “nhà dân chủ, người yêu nước”, đảng viên Đảng Việt Tân đã ra khỏi Đảng Việt Tân (theo MoLang ngày 11-01-2014). Trong cơn bĩ cực, Thủy đã ngửa mặt lên trời than rằng: ra khỏi ảo ảnh rồi, khắp xung quanh mình là bao xác chết của những ước mơ không thành, những dự định bị “bỏ rơi” những lý tưởng bị bóp méo,... không việc làm (không thu nhập), không vị trí.
Ngược dòng thời gian, Trần Khải Thanh Thủy đã từng có nhiều hành động tham gia chống đối Đảng Cộng sản và Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Năm 2007, Thủy bị Cơ quan An ninh điều tra Công an TP. Hà Nội bắt khẩn cấp vì tội "tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam". Tháng 02 năm 2010 Thủy bị xử tù 3 năm rưỡi vì tội cố ý gây thương tích. Sau một thời gian chịu án, Thủy được Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ân xá. Ra tù, Thủy đã “bay” ngay sang Mỹ định cư, tái hợp với những “đồng chí” Việt Tân của mình; bà mang theo bao “mơ ước”, “dự định” sẽ được đảm trách một công việc nào đó, “một chức vụ nào đó” có thu nhập, cuộc sống sung túc. Song, sau thời gian, “cùng ăn, cùng ngủ, cùng chiến hào chống cộng” Thủy mới té ngửa nhận rõ chân tướng, bản chất của Việt Tân: bảo thủ, dốt nát, cơ cấu, bè phái? Toàn cỡ giám đốc ma, thi văn hợp tuyển mãnh, những ban bệ siêu lừa cả. Lãnh đạo thì toàn những kẻ “mặt dơi tai chuột, đầy háo danh, tham vọng”, “ngu dốt”. Còn Việt Tân sau khi đã vắt chanh, thấy cái “vỏ” Trần Khải Thanh Thủy cũng chẳng còn ý nghĩa gì đã làm một việc hết sức đơn giản là vất nó vào sọt rác. Trong tình cảnh ấy, Thủy đau xót mà than rằng: chẳng cái dại nào giống cái dại này. Giờ thì biết làm sao?
Thật là đáng thương cho Thủy, từng tốt nghiệp Đại học Sư phạm Hà Nội, là một giáo viên, củng chỉ vì ngộ nhận có tài viết, tài văn chương mà đã sa vào bẫy của quỷ ác: Việt Tân, để rồi trở thành tay sai của chúng, trở thành kẻ hại dân, hại nước. Thủy từng khăng khăng cãi rằng, mình viết là vì đấu tranh cho “dân chủ”, bênh vực người dân bị “oan”. Song, không phải vậy, mà thực chất là để kiếm tiền. Mỗi bài viết của Trần Khải Thanh Thủy được các tổ chức, các báo chống cộng, như: Việt Tân, Người Việt, Thời báo,… trả từ 20, 30, 50 – 100 USD. Xem ra, công cũng cao đấy nhỉ? Hèn chi mà Thủy “say sưa” đến vậy. Thủy cũng từng leo lẻo rằng, mình là nhà đấu tranh độc lập, không dính dáng gì đến Việt Tân, nhưng thực chất Thủy đã tham gia Việt Tân từ lâu rồi. Giờ thì càng rõ cái mặt thật của các nhà “dân chủ”, là vì tiền chứ chẳng phải “vì dân” “vì nước” như họ nói.
Thật là đáng tiếc cho Thủy, là người “có ăn học”, nhưng chỉ vì mấy đồng bạc lẻ để sống qua ngày mà u mê, mông muội trở thành kẻ phản dân, hại nước, cúi mình làm tay sai cho những tổ chức chống cộng. Thủy không biết rằng, để được ăn, được học, có được trình độ, bằng cấp, học vấn đó là nhờ chế độ XHCN, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, mà biết bao người đã phải hy sinh xương máu, đổ mồ hôi để xây dựng nên, tạo dựng xã hội nuôi dưỡng Thủy trưởng thành. Thế mà Thủy lại “ăn cháo đá bát”. Thật là kẻ “vong ân bội nghĩa”. Người như vậy không có “đất dung thân cũng là điều dễ hiểu. Đúng là gieo nhân nào gặt quả nấy”.  

Trong tình cảnh khó khăn này, sao không thấy những người, những tổ chức đã từng tung hô Thủy, từng “đấu tranh” để bảo vệ mụ đâu nhỉ? Họ chỉ cần khi mụ còn có ích cho họ thôi. Giờ thì chắc mụ đã thấy rõ bản chất của những tổ chức, những tờ báo mệnh danh là đấu tranh cho “dân chủ”, “nhân quyền” trong nước là thế nào; thực chất, đó chỉ là những tổ chức buôn bán “dân chủ” kiếm lời thôi. Mong Thủy hãy sớm tỉnh ngộ, tránh như Bùi Tín để rồi cuối đời cô quạnh nơi đất khách, quê người. Tổ quốc Việt Nam luôn rộng lòng khoan dung. “Quay lại là bờ” ông cha ta đã dạy thế, Thủy hẳn chưa quên./.

Jan 14, 2014

Scolt Busby nói càn


Tre Việt - Sự kiện Việt Nam được 184/192 quốc gia thành viên bầu làm thành viên chính thức của Hội đồng Nhân quyên Liên Hợp quốc (khóa 2014 - 2017) được nhân dân tiến bộ trên thế giới đồng tình, ủng hộ. Đây là sự kiện thể hiện rõ vị thế của Việt Nam trong cộng đồng quốc tế; thể hiện rõ Việt Nam không đã đạt được những thành tựu to lớn về đảm bảo quyền con người, quyền công dân của nước mình, mà còn thể hiện rõ Việt Nam có đủ điều kiện, trách nhiệm để góp phần xây dựng thế giới hòa bình và phát triển, bảo đảm quyền con người, quyền công dân ngày càng tốt hơn. Nhưng, những tổ chức, cá nhân thù địch, những người thiếu thiện chí với Nhà nước và nhân dân Việt Nam rất hằn học, họ tìm mọi cách để bôi xấu, xuyên tạc tình hình nhân quyền ở Việt Nam và hạ thấp ý nghĩa của sự kiện này. Trong đó có Ông Scolt Busby - quyền Phó trợ lý Ngoại trưởng Mỹ, đặc trách về dân chủ, nhân quyền và lao động. Sau chuyến đến Việt Nam, ông ta đã có bài trả lời phỏng vấn trên RFA (ngày 25-11-2013), trong đó bày tỏ những cái gọi là “mục đích” và “nhận định” về tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
Về mục đích, ông ta nói: “Mục đích thứ ba trong chuyến đi của tôi là để nói chuyện trực tiếp với các nhóm xã hội dân sự, các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam muốn cho họ biết sự ủng hộ của chúng tôi đối với họ và muốn biết cách mà chúng tôi có thể giúp họ là như thế nào”!? Hóa ra ông đến Việt Nam là nhằm tìm hiểu, hà hơi, tiếp sức cho những nhóm, cá nhân tự nhận mình là “nhà dân chủ”, sùng bái mô hình dân chủ, nhân quyền kiểu Mỹ, kiểu phương Tây, coi đó là “chuẩn”, là “mặc định”, đang ra sức xuyên tạc, vu cáo, phủ nhận sự lãnh đạo, cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, nhằm hướng sự phát triển của Việt Nam theo Mỹ và phương Tây!
Mục đích của ông thật là xấu xa, lời nói của ông thật ngang ngược, hồ đồ, phi lý. Nó thể hiện cái tâm địa, bản chất thực dân, cách nhìn thiển cận, hằn học về tình hinh nhân quyền ở Việt Nam.
Là một nhân viên cao cấp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, chắc ông hiểu rõ lịch sử quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đứng lên đấu tranh, đánh bại mọi ách đô hộ của bọn thực dân, đế quốc, các thế lực ngoại xâm, trong đó có “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, để thoát khỏi kiếp nô lệ, giành quyền độc lập, tự do, thống nhất cho Tổ quốc, hạnh phúc cho nhân dân. Ngày nay, nhân dân Việt Nam đang tiếp tục đẩy mạnh công cuộc đổi mới đất nước, nhằm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội,… với mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh - ước vọng ngàn đời của nhân dân Việt Nam và nhân dân trên thế giới và đã đạt được những thành tựu to lớn, đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Việt Nam đã là bạn, là đối tác tin cậy, có trách nhiệm với đại đa số các quốc gia có chủ quyền, các tổ chức quốc tế có uy tín, trong đó có Hoa Kỳ. Với tinh thần hòa hiếu, gác lại quá khứ, tôn trọng lịch sử, tôn trọng lẫn nhau, vì lợi ích chung, hướng tới tương lai, Việt Nam đã có quan hệ đối tác toàn diện với Hoa Kỳ (do Chủ tịch nước Cộng hòa XXHCN Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barak Obama ký ngày 25-7-2013).
Đây là một sự thật lịch sử, không thể bác bỏ!
Ôi chao, cứ tưởng một quan chức cao cấp của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ sang tìm hiểu Việt Nam là để triển khai, thực hiện ngày càng tốt hơn những tuyên bố, nội dung của mối quan hệ đối tác toàn diện mà Chủ tịch Trương Tấn Sang và Tổng thống B. Obama ký, nhưng mục đích của ông lại ngược lại. Đó là nhằm “… nói chuyện trực tiếp với các nhóm xã hội dân sự, các nhà hoạt động nhân quyền ở Việt Nam muốn cho họ biết sự ủng hộ của chúng tôi đối với họ và muốn biết cách mà chúng tôi có thể giúp họ là như thế nào” -  những nhóm người, cá nhân luôn tìm mọi cách để gây rối, làm mất trật tự cộng cộng, vi phạm pháp luật và an ninh quốc gia,… Làm thế, ông đã không xứng đáng là một quan chức ngoại giao cao cấp của một Bộ danh giá như Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ; hơn nữa, khác nào ông đã vả vào mặt của Tổng thống B. Obama!
Ông đúng là kẻ ngang ngược, nói càn.
 Ông có biết thế nào là nhóm, cá nhân không? Chắc ông hiểu rõ. Thế tại sao ông không chịu thấy, hay không muốn thấy đại đa số nhân dân Việt Nam đang đoàn kết, chung sức, chung lòng để bảo vệ, xây dựng, hoàn thiện, phát triển quyền con người, quyền công dân mà họ đã đứng lên tự đấu tranh giành được dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Còn những nhóm, cá nhân tự xưng, tự phong là “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền” có đại diện cho đa số nhân dân Việt Nam, có đang tích cực thực hiện quyền con người, quyền công dân theo quy định của luật pháp quốc tế và luật pháp Việt Nam không? Ông biết, tôi biết vậy, nhưng ông vẫn nhắm mắt nói càn là nhằm mục đích xấu.
 Với mục đích xấu như đã nói ở trên, ông Scolt Busby “nhận định”: “rõ ràng là vẫn còn những vấn đề lớn về nhân quyền đang tồn tại ở Việt Nam, người dân vẫn chưa có thể thực hiện quyền tự do ngôn luận, người ta vẫn chưa hoàn toàn được quyền tự do tụ tập hay lập hội, cũng như chưa hoàn toàn được tự do thờ phụng”!? Căn cứ vào đâu mà ông nói thế? Chắc là ông căn cứ vào sự “phản ánh trung thực” của những tổ chức, những kẻ có mục đích như ông, chứ không phải từ thực tế đời sống chính trị ở Việt Nam!
Ngạn ngữ Việt Nam có câu “Lời nói, đọi máu”, vì vậy, ông phải hiểu rõ ngọn ngành để phát ngôn, ăn nói cho đúng sự thật.
Dân chủ, nhân quyền là gì nhỉ, mô hình ra sao và chỉ được thực hiện ở đâu, khi có những điều kiện nào? Chắc ông nắm chắc những điều luật quốc tế, luật pháp nước Mỹ và những “thành tựu” mà nước Mỹ đã đạt được về vấn đề dân chủ, nhân quyền nhỉ. Ông có thấy, ở nước Mỹ đã và đang âm ỉ phong trào “Chiếm phố Wall” năm 2012. Khái niệm “homeless” (người vô gia cư) ra đời ở chính nước Mỹ và các nước tư bản phát triển. Hiện nay, những người vô gia cư ở Mỹ, Anh, Nhật, Pháp,… vẫn hằng ngày đi tìm công ăn việc làm, thậm chí phải xin ăn, tối đến về ngủ trong hộp carton mục nát ở các công viên hoặc những ngõ, hẻm nào đó,... Và cũng ở nước Mỹ của ông, quyền được chăm sóc y tế của người dân có được đảm bảo, khi mà đạo luật “Obama Care” do chính Tổng thống bảo trợ đang bị các thế lực cực hữu, giới nhà giàu (chiếm 1% dân số) cản trở quyết liệt? Hay, ở nước Mỹ, đến bao giờ mới hết “Tự do” giết người bằng súng? Ôi còn biết bao vấn đề khác nữa. Cũng cần nhắc lại rằng, những quốc gia có tình trạng nêu trên có thu nhập bình quân đầu người rất cao. Tuy nhiên, sự phân phối của cải ở các quốc gia này đã dẫn tới sự phân cực giàu – nghèo theo tỷ lệ: người giàu chỉ chiếm 1% dân số, nhưng nắm tới 99% của cải xã hội; còn những người nghèo chiếm 99% dân số còn lại, thì chỉ được hưởng 1% của cải xã hội. Câu trả lời thiết tưởng đã rõ ràng! Thế nên, ông hãy nên dành thời gian tìm hiểu vấn đề dân chủ, nhân quyền ở nước mình để giúp cho chính quyền Mỹ, đừng có chõ mũi, rồi nói càn.

                                                                              

Dec 25, 2013

Tiến sĩ văn chương Nguyễn Thị từ Huy "cắn càn"

Tre Việt - Gần đây, tiến sĩ văn chương Nguyễn Thị Từ Huy nổi lên là một nhà “rân chủ” đã có những hoạt động khá “tích cực” cho truyền thông “lề trái”: nào là viết bài bênh vực Cù Huy Hà Vũ, bênh vực Phương Uyên (những phần tử có các hoạt động chống đối Đảng, Nhà nước Việt Nam với những chứng cứ “rõ như ban ngày”), nào là viết thư bênh vực cho Đỗ Thị Thoan (bút danh Nhã Thuyên - với Luận văn Thạc sĩ ngụy khoa học, phản văn hóa ca ngợi thơ dơ, thơ rác, thơ nghĩa địa của nhóm Mở Miệng), nào là ký tên phản đối Nghị định 72 của Chính phủ,… cùng các bài viết chống phá khác trên các trang bauxitevn, tienve,…. Hành động đó cho thấy, việc nữ tiến sĩ văn chương này bị một số bloger cho là “ăn cháo đá bát”, hoặc với cái “tâm” ấy dù “tài” mấy cũng chỉ xứng đáng là tiến sĩ “tối om” (chứ không phải là tiến sĩ hạng “tối ưu” như sự “khoe mẽ” về bằng cấp được nhận) quả không sai chút nào. Không những thế, Nguyễn Thị Từ Huy còn tung một loạt “tùy bút”, “truyện ngắn” lên Tiền vệ cùng một số trang mạng hải ngoại khác và được sự cổ súy khá rùm beng của những phần tử chống cộng có “số má”. Đằng thẳng mà nói, xét ở góc độ giá trị nghệ thuật thì mấy “tác phẩm của Từ Huy” cũng chỉ là loại văn chương “ám chỉ” hạng “xoàng”, có điều lý do khiến “rận lớn, rận nhỏ” đăng tải chễm chệ “tác phẩm của Từ Huy” trên trang của mình là vì nó đã thực hiện “hoàn hảo” chức năng, mục đích “cắn càn”, “chửi đổng” - chức năng và cũng là mục đích cao nhất của những kẻ cơ hội “rân chủ giả cầy”.
Trong khoảng gần một năm, tienve.org đăng 14 truyên/tùy bút của Từ Huy được cất lên từ “cảm hứng” chủ đạo, xuyên suốt là nói xấu chế độ, đả phá Đảng, Nhà nước, chính quyền ẩn giấu dưới hình thức “thanh nhã” là “văn chương”. Tuy nhiên, cái hình thức tưởng là “thanh nhã” ấy lại không che giấu nổi sự ngạo mạn và dụng ý xấu, độc xuất phát từ một cái đầu thấm nhuần tinh thần “chống cộng” và một “đôi mắt Tây hóa” triệt để. Dưới ngòi bút của nàng tiến sĩ, xã hội Việt Nam là “một xã hội được cấu tạo trên nền tảng của sự dối trá”, “Làm tâm linh hay làm chính trị ở xứ này dù con đường có khác nhau nhưng đều có mục đích như nhau thôi: dẫn dụ, mê hoặc và làm mê muội con người”. Từ Huy đã xuyên tạc, bôi đen trắng trợn hiện thực phát triển của đất nước và mạnh bút quy kết 10 tội cho các Bộ, ban, ngành trong nước. Có cảm giác, dưới đôi mắt cực đoan, phiến diện, “sính ngoại” của nàng, chỉ có ngoại quốc mới là nhất, là tuyệt vời, hoàn hảo còn nước Việt ta cái gì cũng kém, cũng tồi, cũng xấu, nhìn đâu cũng đáng thất vọng, bi quan… Tôi không học nhiều như nàng, cũng không được hưởng niềm ưu ái của Nhà nước khi được dành cho một xuất học bổng “cỡ bự” để được thụ hưởng nền học vấn phương Tây như Từ Huy nhưng ít nhất tôi cũng biết rằng bất cứ đất nước, xã hội nào dù văn minh, ưu việt đến mấy cũng không tránh khỏi sự tồn tại đan xen điểm mạnh, điểm yếu, nói gì đến đất nước chúng ta đi qua hết cuộc chiến tranh này đến cuộc chiến tranh khác, nay phải tự lực tự cường đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc giữa bộn bề khó khăn và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thù địch. Ấy thiển cận như tôi mà còn hiểu, lẽ nào nàng tiến sĩ “tối ưu” lại không hiểu hoặc làm ngơ như không hiểu hoặc cố tình lờ đi miễn thực hiện được mục đích “tuyên truyền” của mình?! Và tôi cũng biết rằng, nếu thật sự yêu nước và có trách nhiệm thì trước hết phải “công bằng” và “khách quan” khi nhận thức về đất nước mình để chung tay dựng xây chứ không phải “cắn càn” như một số vị với một thái độ bề trên đầy ngạo mạn, thiếu tính xây dựng và chẳng có cơ sở nhưng lại tự gắn cho hành động đó của mình mỹ từ “phản biện xã hội” để bào chữa. Quá quắt hơn, nàng tiến sĩ văn chương này còn viết tác phẩm “Sinh nhật”(sinh nhật tháng năm, sinh nhật tháng hai) “ám chỉ”, nói xấu Đảng và lãnh tụ tôn kính của dân tộc Việt Nam. Nực cười là trong tác phẩm gần nhất nàng tung lên mạng (ngày 23/12/2013), nàng viết: “Anh phải quen với việc biết ơn cái thân phận lệ thuộc của mình, biết ơn cái thể chế đã tròng xích vào cổ mình, biết ơn cái thiết chế đã thuê mình với đồng lương chết đói, biết ơn cái cơ chế chỉ coi con người là công cụ, biết ơn những gì khiến cho nhân tính và nhân phẩm bị hủy hoại. Anh ở trong đống bùn, và anh phải biết ơn những kẻ ngồi trên ngôi cao đã cho anh cái thân phận bùn lầy đó…”. Không thể chấp nhận được luận điệu vô luân, xuyên tạc trắng trợn của một kẻ được coi như “hạt giống”, được du học bằng nguồn kinh phí của Nhà nước, được thụ hưởng những điều tốt đẹp nhất như Từ Huy nay “trở cờ”, “bội bạc”. Xin thưa, không chỉ tôi mà một đứa trẻ con của đất nước này cũng biết đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây” là như thế nào, nữ sĩ Từ Huy - nguyên giáo viên ngữ văn nhiều năm - hẳn thừa biết điều đó nhưng rồi “cắn càn” và “chửi đổng” chính là cách “độc nhất vô nhị” mà nàng “trả ơn” cho chế độ đã dành cho nàng tất cả những gì tốt đẹp nhất có thể của chế độ xã hội đó (chứ chắc là chưa thỏa lòng tham vô đáy của nàng hoặc “ảo tưởng” tài năng xuất chúng phải được trả công bằng “đô”, bằng ơ-rô như nàng nghĩ).

Cuối cùng xin đưa ra đây một ví dụ để phân tích thuật ngụy biện dở òm cùng lối tư duy “tối om” của nàng tiến sĩ để trả nhời cho câu hỏi tại sao 14 truyện/tùy bút của nàng không thuyết phục được tôi và dù không muốn tôi vẫn phải nghiêm khắc đánh giá là “cắn càn”. Ấy là sau khi kết luận xanh rờn “một xã hội được cấu tạo trên nền tảng của sự dối trá”, nàng lấy ngay ví dụ để chứng minh. Ví dụ đó là “Trẻ con từ khi đi học mẫu giáo… được dạy hát về giấc mơ mà các em không có. Các em hát về giấc mơ trong đó các em gặp và yêu quý một người xa lạ” có nghĩa là các em “đã được dạy cho cách để trở thành những kẻ nói dối”. Không nói thì ai cũng biết Nguyễn Thị Từ Huy đang “ám chỉ” đến bài hát “Em mơ gặp Bác Hồ” đây? Chưa cần nói nói đến việc đối với người dân đất Việt, Chủ tịch Hồ Chí Minh là Người Cha - Người Bác - Người Anh được tôn kính như thế nào (viết đến đây tôi đâm nghi ngờ gốc gác người Việt của cô nàng tiến sĩ) mà chỉ cần xuất phát từ đặc trưng của văn chương nghệ thuật là sẽ thấy sự tréo ngoe, thiển cận, đánh tráo khái niệm một cách vụng về của nàng. Vậy ra, theo định nghĩa của nàng tiến sĩ là không/chưa - trải - qua - “thực” mà nói/hát/bàn… về điều - chưa - trải - qua là “dối trá”, ví dụ của nàng giống như ví dụ một người phụ nữ không/chưa có con lại hát rằng “mẹ thương con có hay chăng, thương từ khi thai nghén trong lòng” là “dối trá”??? Chỉ cần một ví dụ ấy thôi đủ thấy tầm tư duy của nàng đến đâu. Ứng dụng lối tư duy này của nàng để rồi đọc 14 tùy bút/truyện ngắn đăng trên mạng và nhìn vào thực tiễn phát triển của đất nước, chắc chắn không ít người sẽ mỉm cười trước sự “đại bịp” tao nhã “kinh người” của nàng tiến sĩ!

Dec 19, 2013

Đã xấu xa mà không biết đường đậy lại

Tre Việt - Những ngày qua, cộng đồng mạng lại một lần nữa phải nhức đầu với những “âm thanh” loạn xạ từ những chiếc loa rè VOA, BBC, RFA… chỉ vì chuyện nhỏ như con thỏ: Phạm Trí Dũng xin ra khỏi Đảng!
Cách đây không lâu, ông già Lê Hiếu Đằng cũng xin ra khỏi Đảng và rồi như vớ được “cơm nguội” lúc đói, mấy nhà đài kể trên cùng bọn zâm chủ ra sức tung hô, sơn phết, nhào nặn để cho ra một “thần tượng”, một anh hùng tái thế ở cái tuổi sắp xuống lỗ. Cao hứng quá, họ còn mơ hồ dự báo sẽ có một dòng thác, cao trào bỏ Đảng Cộng sản.
Giở đủ các chiêu trò xuyên tạc, lôi kéo và hí hửng chờ đợi, nhưng “mua vui cũng được một vài trống canh”. Khi mà mấy ông zâm chủ dùng công nghệ PR đã quá cũ của mình “tô vẽ” nên một Hiếu Đằng hoàn chỉnh cũng là lúc bộ mặt trở cờ của Hiếu Đằng hiện nguyên hình…
Chả làm ăn gì trong vụ này, nhưng chắc các nhà zâm chủ cũng tự nhủ: dù sao cũng có việc để làm!
Thất bại và chờ đợi cơ hội, các nhà zâm chủ lại “bắt” được (mà cũng có thể là dàn sếp để giả vờ bắt được) Phạm Trí Dũng. Cũng vẫn thế. Viết đơn xin ra khỏi Đảng! nói xấu, bịa đặt một cách thô kệch về Đảng… và lại tiếp tục tung hô… và rồi cũng lại nhận kết quả đã biết trước.
Việc quần chúng xin tham gia hàng ngũ của Đảng, việc khai trừ những đảng viên không đủ tiêu chuẩn ra khỏi hàng ngũ của mình là chuyện bình thường của Đảng. Cũng như muốn cây tươi tốt, ngoài việc chăm bón còn phải cắt tỉa cành sâu, cành xấu, nhưng cũng có những cành không đủ sức chịu đựng trước sự thử thách của thiên nhiên bị gẫy. Việc một vài đảng viên xin ra khỏi Đảng chắc đó là những người biết mình sẽ “bị gẫy” như những cành cây kia. Vì vậy, những cành bị sâu để tránh bị người trồng đốn hạ đã thức thời “đi trước” khi bị đốn - tự gẫy! Nhưng những cành bị sâu thì không biết toan tính, còn con người với nhiều mưu mô, toan tính thì không thể không tính trước kết cục của mình. Vì vậy, để rút lui trong danh dự, họ đã “xin” (mà không xin thì cũng bị) ra khỏi Đảng. Thế thì có gì hay ho mà phải ầm ĩ. Đã xấu xa mà không biết đường đậy lại. Đúng là đồ… bỏ đi!

Dec 17, 2013

Bùi Tín đấu tranh chỉ vì cơm áo, gạo tiền

Tre Việt – Nhân dịp Ngoại trưởng Hoa Kỳ, ông John Kerry sang thăm Việt Nam, từ ngày 15-12-2013, những kẻ chống đối chế độ cộng sản bằng nhiều cách thức yêu cầu ông John Kerry phải có thái độ với Việt Nam về vấn đề nhân quyền. Chúng coi đó như là điều kiện để nâng cấp quan hệ ngoại giao giữa Hoa Kỳ với Việt Nam. Một trong số ấy là Bùi Tín. Ông ta có thư ngỏ gửi ông John Kerry được các trang mạng xã hội đăng tải trong mấy ngày gần đây. Qua bức thư của Bùi Tín chúng ta thấy rõ: đó là bức thư “dịch vụ” – nói theo cách nói của Thiếu úy thủy quân lục chiến của Quân đội Việt Nam cộng hòa trước đây – Nguyễn Ngọc Lập – hiện đang sống ở Hoa Kỳ. Bởi trong thư Bùi Tín có đề nghị ngoại trưởng Hoa Kỳ nêu vấn đề nhân quyền như một điều kiện bắt buộc trong quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Theo Bùi Tín, tình hình thực hiện nhân quyền của Việt Nam không được bảo đảm, tuy Bùi Tín không nêu cụ thể nhưng ông ta tỏ thái độ phê phán tình hình thực hiện nhân quyền ở Việt Nam. Việc làm của Bùi Tín đúng như Nguyễn Ngọc Lập nói: “Giới quan sát nhân quyền giống như gà mái đẻ tìm ổ trong khi ổ rơm ngay trước mặt”. Cũng dễ hiểu thôi, bởi khi tình tình các nước XHCN trên thế giới lâm vào thoái trào, Bùi Tín đã quá “thức thời” vội vàng bỏ Tổ quốc chạy sang Pháp từ hơn 20 năm trước, hòng mong khi tình hình ở Việt Nam diễn ra như ở các nước XHCN ở Đông Âu, ông ta trở về nước có một vị trí xứng đáng. Nhưng thật trớ chêu, “Người tính không bằng trời tính”, ở Việt Nam không diễn ra như các nước XHCN ở Đông Âu, thế là sự toan tính của Bùi Tín đã không thành. Để kiếm tiền sống, Bùi Tín phải ra sức đấu tranh vì “dịch vụ” như cách nói của Nguyễn Ngọc Lập: “Tự do, dân chủ, nhân quyền” là những danh từ trừu tượng, không ăn uống được. “Cơm áo” mới là thứ cụ thể. Ở đây cần hiểu thế nào là đấu tranh chân chính vì yêu nước và “đấu tranh vì dịch vụ”. Đấu tranh vì yêu nước là đấu tranh có ý thức, có cân nhắc. Nhưng dựa vào chiêu bài chống cộng về vấn đề dân chủ, nhân quyền, tự do để đả phá cá nhân, triệt hạ kinh tế người khác như các phần tử chống đối cực đoan ở cộng đồng hiện nay vẫn làm, thì việc dùng chiêu bài đó cũng như một “dịch vụ” vì miếng cơm, manh áo mà thôi”[1]. Thiết nghĩ, ý kiến trên đã rất đúng với trường hợp của Bùi Tín. Để khách quan, Tre Việt xin giới thiệu bài viết: “Con gái Ngoại trưởng Mỹ: “Việt Nam là một phần cuộc đời tôi” được đăng trên VOA tiếng Việt điện tử, vào Thứ bảy, ngày 14/12/2013 với bạn đọc để mọi người thấy rõ đấu tranh vì cơm áo, gạo tiền để sống qua ngày của Bùi Tín nơi đất khách quê người.



[1] Việt Nam đang có bước đi vững chắc về nhân quyền – Báo QĐND, ngày 16-12-2013, tr. 8 – 7.

Con gái Ngoại trưởng Mỹ: “Việt Nam là một phần cuộc đời tôi”
Ông Kerry và gia đình trong chuyến thăm Việt Nam hồi đầu những năm 90

Ông John Kerry sẽ lần đầu tiên đặt chân tới Việt Nam trên cương vị Ngoại trưởng Mỹ vào ngày 15/12 với mục đích thúc đẩy mối quan hệ hợp tác toàn diện giữa hai nước. Hơn 20 năm trước, ông cũng từng thực hiện một chuyến đi đã có tác động mạnh tới cuộc sống sau này của con gái ông, cô Vanessa Kerry. VOA đã hỏi chuyện cô về chuyến đi cũng là đầu tiên tới Việt Nam ở tuổi 14 cũng như những câu chuyện về Việt Nam mà cha cô chia sẻ. Trước hết cô kể lại cơ duyên về chuyến thăm tạo cảm hứng lớn cho cô những năm 90.
 Bà Vanessa Kerry: Tôi hết sức may mắn vì cha tôi tham gia tiến trình bình thường hóa quan hệ giữa Hoa Kỳ và Việt Nam trong những năm 90. Và chính vì thế, ông thường xuyên tới Việt Nam. Nước này chiếm một phần lớn trong cuộc đời của cha tôi bởi Chiến tranh Việt Nam. Việt Nam và văn hóa của nước này dường như là một phần của cuộc đời chúng tôi.
Cha tôi muốn đưa chúng tôi tới thăm Việt Nam, và tôi tới đó khi 14 tuổi. Tới khi ấy, tôi thực sự chưa bao giờ tới một nơi nào mà lại khác xa so với nước Mỹ đến vậy. Lúc đó Việt Nam vẫn chịu cảnh bị cấm vận nên mọi thứ đều thiếu thốn hơn so với những gì chúng tôi có ở Mỹ. Điều đó gây ấn tượng mạnh đối với tôi. Tôi không thể hiểu nổi vì sao lại có sự bất công đến vậy. Đó là một trải nghiệm sâu sắc và ám ảnh tôi mãi. Nó thực sự tác động tới quyết định theo đuổi ngành y và làm việc khắp toàn cầu của tôi.

Cô Vanessa (phải) trong chuyến làm việc ở Bangladesh
VOA: Kể từ đó bà đã khi nào quay trở lại Việt Nam chưa?
         Bà Vanessa Kerry:  Có. Tôi trở lại Việt Nam vào năm 2000 trong một tuần. Chuyến đi đầu tiên tới đó có tác động sâu sắc tới tôi nên khi tới Trung Quốc tôi muốn quay lại Việt Nam. Và lần này, tôi lại ấn tượng mạnh với mức độ phát triển và đổi thay tại đó (từ năm 2000 đến nay đã hơn chục năm rồi, tình hình ở Việt Nam còn phát triển hơn nhiều – Tre Việt). Tôi thấy vui vì quay lại Việt Nam để gặp gỡ người dân ở đó.
           VOA:  Đương kim Ngoại trưởng Mỹ có ảnh hưởng như thế nào tới bà?

           Bà Vanessa Kerry:  Cha cũng như mẹ tôi có ảnh hưởng rất lớn đối với cuộc đời tôi. Mẹ tôi qua đời 7 năm trước. Nhưng cả hai người đã nuôi dưỡng trong tôi khái niệm công dân toàn cầu. Đặc biệt là cha tôi, những gì ông đã làm đều là trong lĩnh vực công và luôn hướng tới việc trả ơn. Ông cũng nói với tôi rằng tôi thuộc về một thế giới rộng lớn và phải chịu trách nhiệm cho vai trò của mình trong xã hội. Tôi thật may vì là con của ông.

          VOA: Cha bà từng chiến đấu tại Việt Nam, và sau đó trở thành người có tiếng nói phản chiến mạnh mẽ. Ông có kể với bà về những gì đã xảy ra với ông hay không?
        Bà Vanessa Kerry:  Thật buồn cười, nhưng tôi không nghĩ cha tôi từng thực sự kể cho chúng tôi nghe những gì đã xảy ra với ông tại Việt Nam. Bản thân tôi thì nghĩ rằng chiến đấu trong một cuộc chiến là một trải nghiệm đầy bối rối và đau khổ.
         Tôi nghĩ ông chiến đấu cho nước Mỹ nên phải hoàn thành nhiệm vụ nhưng đồng thời ông cũng phải vật lộn với suy nghĩ về những gì xảy ra, về cách thức tiến hành cuộc chiến, cũng như ý nghĩa của nó đối với đất nước. Tôi nghĩ đó là lý do lớn khiến ông trở lại và biểu tình phản chiến. Tôi lớn lên với một truyền thống là phải nói lên suy nghĩ của mình và phải bảo vệ những gì mình cho là đúng đắn. Đó là điều hình thành từ cuộc biểu tình phản chiến của cha tôi.
Tôi nghĩ ông chiến đấu cho nước Mỹ nên phải hoàn thành nhiệm vụ nhưng đồng thời ông cũng phải vật lộn với suy nghĩ về những gì xảy ra, về cách thức tiến hành cuộc chiến, cũng như ý nghĩa của nó đối với đất nước. Cô Vanessa Kerry nói.
Việc ông đưa chúng tôi tới Việt Nam vì ông thấy được vẻ đẹp và niềm vui ở nước này. Đó là điều ông muốn chia sẻ với chúng tôi. Và tôi nghĩ ông cũng muốn chúng tôi thấy vết sẹo mà cuộc chiến gây ra cũng như những gì ông đã trải qua vì đó là một phần lớn của cuộc đời ông. Tôi nghĩ đôi khi thật khó để kể bằng lời về những gì đã xảy ra đến với mình, và điều đó khó hơn so với việc chứng kiến tận mắt.
Khi chúng tôi đến năm 1991, Việt Nam rõ ràng là đã thanh bình hơn so với những năm 60 và 70. Nhưng vì lệnh cấm vận, tôi có thể cảm nhận được tác động lâu dài của cuộc chiến. Ông đưa chúng tôi tới một trại trẻ mồ côi mà ở đó trẻ em có mẹ Việt và bố là lính Mỹ. Chúng bị bỏ rơi vì điều đó, và thật đáng buồn khi phải chứng kiến di sản không tốt đẹp từ cuộc chiến. Tôi nghĩ đó cũng là một ví dụ cho thấy cách cha tôi muốn chúng tôi hiểu sự phức tạp của một trong những điều ông từng chứng kiến.
VOA:  Là người sáng lập tổ chức y tế cộng đồng “Seed Global Health”, bà có dự định thực hiện một dự án về sức khỏe nào ở Việt Nam trong tương lai hay không?
Bà Vanessa Kerry:  Đó là điều có thể. Chúng tôi hợp tác chặt chẽ với ‘Peace Corps’ (đoàn thanh niên phụng sự hòa bình của Mỹ) nên chúng tôi có thể mở rộng phạm vi hoạt động tại các nước. Việc có thể giúp cải thiện hoạt động giáo dục y tế và chăm sóc sức khỏe ở Việt Nam sẽ là điều rất có ý nghĩa.