Jan 21, 2015

BLOG “CHÂN DUNG QUYỀN LỰC” HÀNH XỬ THIẾU THIỆN CHÍ

           Tre Việt - Ra đời từ cuối năm 2011 và trong năm này, Blog “Chân dung quyền lực” chỉ có 3 bài viết, sang năm 2012, có 9 bài, 2013 có nhích hơn 2012: 01 bài (10 bài cả thảy), năm 2014 có 84 bài, nhưng chỉ với 19 ngày đầu năm 2015 đã có số bài bằng bài của cả 2 năm 2012 và 2013 cộng lại (19 bài). Theo đó, số lượt người truy cập cũng tăng mạnh. Tại sao, Blog này lại thu hút số lượng người truy cập nhiều đến vậy?
          Trước hết, nó được một số phương tiện truyền thông nước ngoài phát bằng tiếng Việt, như: VOA, BBC, RFA,… lăng xê theo kiểu tung hứng. Mà không nói thì bạn đọc cũng thấy rồi đấy, đó là các mõ làng, xưa nay không có thiện chí với chế độ cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Nên các hãng truyền thông này vớ được “Chân dung quyền lực” như vớ được bạn “cùng hội cùng thuyền” vì thế ra sức pi-a là điều dễ hiểu. Không rõ mục đích thực của “Chân dung quyền lực” là gì, nhưng đã để cho các hãng truyền thông trên vốn không có thiện chí với Việt Nam kết bạn tâm giao thì vô hình trung Blog này cũng cùng một duộc với các hãng truyền thông này rồi. Đó được coi là hành động “cõng rắn cắn gà nhà”. Thật tiếc lắm thay! Hai là, người Việt ta, nhiều người có tính hiếu kỳ, cứ nghe đồn đại là tò mò, tìm hiểu để trả lời câu hỏi: Cái gì đấy? Cũng giống như khi có vụ tai nạn giao thông, nhẽ ra phải đi khẩn trương khỏi ùn tắc thì đằng này lại cứ đứng lại “xúm đen xúm đỏ”, làm tăng thêm sự khó khăn cho lực lượng thực thi nhiệm vụ và giao thông bị ngưng trệ.
          Tại sao lại nói các hành xử của “Chân dung quyền lực” thiếu thiện chí với chế độ và nhà nước Việt Nam? Một mặt, như trên đề cập đến hành động “rước voi về dầy mồ mả ông cha” của Blog này. Mặt khác, những thông tin mà “Chân dung quyền lực” tung ra với chiêu thức là chống tham nhũng ngay trước thềm đại hội Đảng các cấp, tiến tới Đại hội XII của Đảng là động cơ không trong sáng. Chưa biết tính đúng sai của những thông tin mà “Chân dung quyền lực” có được, thì cứ coi đây là đơn hoặc thư tố cáo thì cũng sai về nguyên tắc vì không gửi đến nơi cần gửi, như Ban Nội chính Trung ương - cơ quan chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước, Tổng thanh tra Chính phủ, Ủy ban Kiểm tra Trung ương chẳng hạn, mà lại tung lên mạng internet, nội dung chưa kiểm chứng có liên quan đến uy tín, danh dự của người khác. Nếu nội dung đó không đúng thì uy tín, danh dự của những người mà “Chân dung quyền lực” tố liệu có lấy lại được? Thông thường đơn tố cáo có khi đúng; có khi vừa có nội dung đúng, vừa có nội dung sai; có khi sai hoàn toàn. Nhưng người tố cáo bao giờ cũng khẳng định là mình đúng, do góc nhìn không toàn diện, nên nhìn sự vật bị méo mó, chưa đề cập đến động cơ tố cáo sai lệch. Thế nên, nếu “Chân dung quyền lực” có thiện chí với đất nước, với chế độ, với danh dự và uy tín của người khác thì không hành xử như vậy. Chưa có kết luận, chưa kiểm chứng mà cứ bù lu bù loa theo kiểu “cả vú lấp miệng em” rõ ràng là hành động không đẹp. Mặc dù, chống tham nhũng luôn là nguyện vọng của nhân dân, của chúng ta, nhưng phải hành xử theo đúng trình tự, nguyên tắc, nếu không dễ dẫn đến tổn thương cho người khác và uy tín của Đảng, của chế độ. Do vậy, chống tham nhũng kiên quyết, nhưng thận trọng là rất cần thiết, không nên hành xử như kiểu blog “Chân dung quyền lực”./. 

Jan 15, 2015

SỰ LO LẮNG THÁI QUÁ CỦA NGUYỄN KHẮC MAI

Tre Việt - Ngày 14-01 trên trang Bô xít, Ba Sàm có bài viết: “Thư mở kính gởi Hội Nghị BCHTW 10” của Nguyễn Khắc Mai. Qua bài viết thấy rõ tâm trạng lo lắng cho dân tộc của Nguyễn Khắc Mai, nhưng cũng thấy rõ đó là sự lo lắng thái quá dẫn đến nhận thức sai lệch, xuyên tạc.
Nguyễn Khắc Mai viết: “những thứ làm nên nội lực của đất nước để phát triển, để giữ chủ quyền, để quan hệ đàng hoàng với lân bang, với quốc tế đều yếu ớt, lạc hậu và trì trệ”. Có thực vậy? Không. Đó là sự bi quan, đánh giá không đúng tình hình đất nước. Chỉ dẫn một ví dụ về xóa đói giảm nghèo, cho thấy điều Nguyễn Khắc Mai nói là không đúng.
Hiện nay, trên thế giới vẫn còn 805 triệu người thiếu đói; hơn 160 triệu trẻ em dưới 5 tuổi bị suy dinh dưỡng, lâm vào tình trạng chậm phát triển; tình trạng “nạn đói tiềm ẩn”, do thiếu các dưỡng chất thiết yếu như vitamin A, sắt và kẽm được ghi nhận là trên khoảng 2 tỷ người. Thế mà, Việt Nam là một nước có diện tích đất đai không lớn - 33 triệu ha, trong đó có 10,3 triệu ha có thể sử dụng trong nông nghiệp - không những đã sản xuất đủ nhu cầu lương thực trong nước mà còn xuất khẩu với số lượng lớn. Năm 2013, dân số của Việt Nam đã đạt 90 triệu người - mỗi năm tăng thêm khoảng 1 triệu người - trong đó 70% sinh sống ở nông thôn. Vào cuối những năm 1980, hằng năm, Việt Nam phải nhập khẩu trên 1 triệu tấn lương thực, tỷ lệ đói nghèo gần 70%. Nhờ thực hiện đường lối Đổi mới, từ một nước nghèo - thiếu lương thực, kém phát triển, Việt Nam đã vươn lên trở thành quốc gia đang phát triển có thu nhập trung bình. Năm 2014, Việt Nam đã xuất khẩu hơn 6,5 triệu tấn gạo và nhiều loại nông lâm thủy sản với tổng kim ngạch đạt gần 31 tỷ USD; tỷ lệ hộ nghèo còn 7,6% và cơ bản đã hoàn thành những Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs) do Liên hợp quốc phát động. Chính sự phát triển nhanh của nông nghiệp, nhất là sản xuất lương thực đã giúp Việt Nam đứng vững qua những cuộc khủng hoảng kinh tế của thế giới và khu vực, duy trì được tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế bình quân khoảng 7%/năm trong 30 năm qua và bảo đảm được an sinh xã hội, phúc lợi xã hội và đời sống người dân ngày càng được cải thiện tốt hơn.
Ông Hiroyuki Konuma, Phó Tổng giám đốc FAO - Trưởng đại diện FAO khu vực châu Á - Thái Bình Dương đã đánh giá cao những thành tựu của Việt Nam trong xóa đói giảm nghèo. Đồng thời, nhấn mạnh, FAO là một đối tác bền vững của Chính phủ Việt Nam và sẽ cung cấp hỗ trợ kỹ thuật cần thiết để giúp nhân dân Việt Nam đạt được mục tiêu chung là không còn nạn đói. Ông Hiroyuki Konuma cho rằng, Kế hoạch Hành động quốc gia sẽ tạo ra khung thể chế giúp thiết kế và thực thi các chính sách đảm bảo an ninh lương thực và an ninh dinh dưỡng, nhờ đó sẽ tác động bền vững đến an ninh lương thực, giảm nghèo bền vững và xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam./.

Dec 30, 2014

BỊA ĐẶT LỐ BỊCH

        Tre Việt - Trên trang Ba Sàm ngày 28-12-2014 xuất hiện bài: “Quyền Công Dân, Quyền Con Người ở Việt Nam chỉ là bánh vẽ” ghi lại cuộc phỏng vấn giữa người được gọi là “nhà báo” Trần Quang Thành với người được coi là “linh mục” Phan Văn Lợi. Đọc bài viết thấy cách đưa đẩy giữa người hỏi và người trả lời rất hợp cạ, thực chất là ngụy biện, vu cáo, hùa nhau “ăn không nói có”, nói xấu Đảng Cộng sản Việt Nam, chế độ cộng sản.
Theo kịch bản mà họ dàn dựng để hỏi và trả lời theo kiểu “tung hứng” là đi từ phủ nhận một số điều đã được ghi trong các bản Hiến pháp nước ta, từ Hiến pháp năm 1946 đến Hiến pháp năm 2013, họ cho rằng, dù quyền con người, quyền công dân có được ghi trong Hiến pháp thì trong thực tế cũng không được thực hiện bởi các quy định của văn bản dưới luật. Họ nói rằng: “Hiến pháp ghi con người có quyền tự do tín ngưỡng và tôn giáo. Nhưng Pháp lệnh 2004 và Nghị định 2012 đã tiêu diệt hoàn toàn quyền tự do tôn giáo”; “người dân có quyền tự do ngôn luận, tự do phát biểu. Nhưng chính Luật Báo chí và các điều luật khác trong Bộ luật Hình sự, như: điều 79, 88, 258 đã ngăn cản hoàn toàn điều tự do này”. Vậy phải chăng điều họ nói là đúng? Không. Họ đã sai to. Nghiên cứu “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” chúng ta thấy quyền con người có hai loại: Các quyền tuyệt đối các quyền bị hạn chế. Trong đó, các quyền bị hạn chế, như: “Quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi cư trú” (Điều 12); “Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo” (Điều 18); “Mọi người có quyền giữ quan điểm của mình” (Điều 19), “Quyền hội họp hòa bình…” (Điều 21); “Quyền lập hội” (Điều 22), v.v. Công ước trên quy định: việc thực hiện những quyền trên “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và phải chịu một số hạn chế nhất định, vì sự tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”[1]. Đặc biệt điều đó được thể hiện rõ trong “Tuyên bố Viên (Áo) và Chương trình hành động” (văn kiện Hội nghị quốc tế về quyền con người, tại Viên năm 1993), cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo…”[2]. Điều đó cho thấy, giữa Hiến pháp và các văn bản pháp luật khác của Việt Nam quy định về quyền con người và nghĩa vụ công dân hoàn toàn phù hợp với luật pháp quốc tế nói trên.
          Khi hỏi: Có một số người nói rằng Hiến pháp năm 1946 là Hiến pháp của ta. Trong một bài viết phân biệt giữa ta và giặc có người nói Ta là những ai đi theo Hiến pháp 1946 và đi theo Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, thì Phan Văn Lợi cho rằng, “Ta ở đây phải là toàn dân Việt Nam bất kể là ai. Ta ở đây là tất cả những con người sống trên dải đất hình chữ S”. Đặc biệt những ai đã từng bị “bức hại” vì chế độ cộng sản, vì sự “toàn trị” của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, Phan Văn Lợi đã nhập nhèm “đánh lật con đen”, khi cho rằng toàn dân tộc Việt Nam với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ phải đều có chung một bản hiến pháp. Vì bản Hiến pháp năm 1946 mãi đến năm 1980 nước ta mới có bản Hiến pháp khác (Hiến pháp 1980). Trong thời gian này, trên dải đất hình chữ S không chỉ có nhân dân Việt Nam sinh sống mà còn các thế lực xâm lược ngoại bang. Thật là xuẩn ngốc. Không có nơi nào trên trái đất này giữa kẻ đi xâm lược với người bị xâm lược lại có chung một bản hiến pháp cả. Hơn nữa, với bất cứ quốc gia nào cũng đều có các tổ chức ngoại giao của các nước, các tổ chức quốc tế cư trú và hoạt động. Vậy trả nhẽ những tổ chức quốc tế này với nhân dân nước sở tại cũng đều có chung bản hiến pháp sao? Thật là phi lý.
          Họ cho rằng với nước ta thực hiện án tử hình là không phù hợp với xu thế phát triển của thế giới: Trên thế giới phần lớn các nước văn minh người ta đã bỏ án tử hình rồi, nhưng Việt Nam và các nước cộng sản rất muốn giữ. Vì “chế độ này là uy hiếp con người”. Đúng là quyền được sống là một trong những quyền tuyệt đối: Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ. Nhưng cần phải hiểu rằng, trình độ pháp luật cũng như nhận thức về luật pháp dựa trên trình độ phát triển của kinh tế. Với Việt Nam trình độ kinh tế phát triển còn thấp so với các nước tiên tiến trên thế giới, theo đó trình độ nhận thức về luật pháp và pháp luật cũng chưa hoàn thiện ngay được. Do vậy, trong những điều kiện và hoàn cảnh nhất định, việc duy trì án tử hình là cần thiết. Bởi, nó có thể không nhân đạo với một hoặc một số người, nhưng lại nhân văn với hàng trăm, hàng nghìn người. Chẳng hạn như tội buôn bán cái chết trắng thì nó đã hủy hoại không biết bao nhiêu người cùng gia đình họ. Cho nên, trong những trường hợp cụ thể thực hiện án tử hình để bàn tay tội lỗi của kẻ phạm pháp không gây ra cho nhiều người khác. Vậy là, không nhân đạo với kẻ phạm tội, nhưng nhân đạo với hàng trăm, hàng nghìn người lương thiện. Trong điều kiện hoàn cảnh cụ thể việc thi hành tử hình với kẻ trọng tội âu cũng là cần thiết.
          Họ nhắm mắt nói bừa rằng: Mấy nghìn năm dân tộc phải chống lại đô hộ Tàu và thực dân Pháp, nhưng không có thời nào người dân Việt Nam lại chết nhiều như dưới thời cộng sản. Thử hỏi, nếu không có cộng sản thì nạn đói năm 1945 cướp đi sinh mạng của 2 triệu người Việt Nam (dân số nước ta lúc đó khoảng 20 triệu người), chiếm 1/10 dân số cả nước do Cộng sản chắc? Ngược lại, không có Cách mạng Tháng Tám năm 1945 thì không biết sẽ còn có bao nhiêu người dân nước Việt phải chịu cảnh chết đói, chết rét nữa. Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với Luật 10-59 Mỹ Diệm đã lê máy chém đi khắp miền Nam tàn sát biết bao đồng bào mình. Và nhiều bom đạn của Mỹ ném xuống miền Bắc, niềm Nam gây ra biết bao cái chế tức tưởi, oan uổng của em thơ, phụ nữ, người già,… đến nay chưa giải quyết xong hậu quả. Sao mấy người không mở mắt ra mà cứ nhắm mắt nói liều vậy?
          Trơ chẽn thay, họ cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tự cho mình là có chính nghĩa. Đi “xâm lăng” nước khác thì gọi là đi làm nhiệm vụ quốc tế như là qua Cam-pu-chia. Sao họ cố tình làm ngơ, không thấy, nhân dân Cam-pu-chia ngày nay luôn ghi nhớ công ơn “Bộ đội nhà Phật” - Quân tình nguyện Việt Nam đã cứu giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi chế độ diệt chủng, làm hồi sinh đất nước Chùa Tháp như ngày nay?
          Khi nhân dân miền Bắc, dưới sự lãnh đạo của Đảng đưa con em vào “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” ở miền Nam thì họ phê phán: “đi đánh miền Nam thì gọi là giải phóng” (!) Xin thưa, Donald Duncan là một người có tư tưởng chống cộng cứng rắn trước khi anh đến Việt Nam, nhưng đã rời khỏi Việt Nam trước 9 tháng, bởi những gì đã trải qua ở đó đã thay đổi con người anh. Duncan đã xuất bản một bản cáo trạng có sức mạnh lớn về cuộc chiến tranh trong Tạp chí Ramparts (tháng 02-1965); trong đó, viết: “Tôi đã phải chấp nhận rằng… đại đa số người dân là những người ủng hộ Việt Cộng và chống lại chính quyền Sài Gòn. Tôi cũng phải chấp nhận rằng quan điểm: “Chúng tôi ở Việt Nam bởi vì chúng tôi thông cảm với những khát vọng và ước muốn của người dân Việt Nam”, là một lời dối trá”[3]. Vậy là, những dòng trên của Donald Duncan đã bác bỏ sự bịa đặt của những kẻ “ăn không nói có”./.



[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 258.
[2] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
[3] Joe Allen - Việt Nam cuộc chiến thất bại của Mỹ, Nxb Công an nhân dân (người dịch: Đào Tuấn), H.2009, tr. 275 - 276.

Dec 17, 2014

Ông Nguyễn Trọng Vĩnh không còn xứng đáng là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

Tre Việt - Đầu tháng 12-2014, trên các trang mạng xuất hiện lá thư của ông Nguyễn Trọng Vĩnh gửi Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (CSVN). Trong lá thư này, ông Vĩnh đưa ra quy kết Việt Nam hiện nay là “kinh tế lệ thuộc nước ngoài”, “dân nghèo nước yếu”,… Và nguyên nhân của nó theo ông ta là “do đường lối của Đảng có sai lầm”(!) Ông đòi Đảng phải từ bỏ “Chủ nghĩa Mác – Lê-nin”, từ bỏ “xây dựng CNXH”(!)
Theo Bách khoa toàn thư mở - Wikipedia (tiếng Việt), ông Nguyễn Trọng Vĩnh là đảng viên Đảng CSVN từ năm 1937; từng giữ những chức vụ, như: Thiếu tướng Quân đội nhân dân Việt Nam, Ủy viên dự khuyết Ban Chấp hành Trung ương Đảng CSVN, Phó trưởng ban Tổ chức Trung ương, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ở Trung Quốc, kiêm nhiệm Pa-kít-tăng, Phó Chủ tịch Hội Cựu Chiến binh Việt Nam,...  Liệt kê những chức vụ, trọng trách to tướng như trên để muốn nói rằng đảng viên Nguyễn Trọng Vĩnh có đủ nhận thức về hành động của mình đúng hay sai và có còn xứng đáng là đảng viên của Đảng CSVN.
Phải khẳng định ngay rằng, những nội dung ông Vĩnh đưa ra trong thư là đi ngược lại Cương lĩnh chính trị, đường lối, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, sai sự thật, quy kết hồ đồ, thậm chí có ý đồ xấu. Với hành động này, ông Nguyễn Trọng Vĩnh không còn xứng đáng là đảng viên Đảng CSVN. Bởi lẽ ông đã không chỉ vi phạm, mà còn nhiều lần tái phạm Điều lệ Đảng CSVN (khóa XI) và Quy định 47-QĐ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) “Về những điều đảng viên không được làm”. Điều 2, Điều lệ Đảng CSVN quy định đảng viên phải: Tuyệt đối trung thành với mục đích, lý tưởng cách mạng của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị của Đảng, pháp luật Nhà nước,… Theo Điểm 1, Quy định 47-QĐ/TW, đảng viên không được: Nói, làm trái hoặc không thực hiện Cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, nghị quyết, chỉ thị, quy định, quyết định, kết luận của Đảng; làm những việc mà pháp luật không cho phép. Theo Điểm 2, Quy định trên, đảng viên không được: cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng những thông tin, tài liệu bí mật của Đảng, Nhà nước,… tàng trữ, tuyên truyền, tán phát hoặc xúi dục người khác tuyên truyền, tán phát thông tin, tài liệu dưới mọi hình thức để truyền bá những quan điểm trái với đường lối của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Nên nhớ rằng, mọi đảng viên Đảng CSVN bất kể ở cương vị nào nếu vi phạm Điều lệ Đảng, Quy định của Đảng đều phải bị nhắc nhở, kỷ luật, nếu không chịu sửa chữa khuyết điểm, tái phạm nhiều lần thì phải khai trừ ra khỏi Đảng. Vì thế, dù ông là đảng viên lão thành, từng giữ những trọng trách như trên cũng nhất định phải bị kỷ luật về Đảng.
Thực tế cho thấy, từ khi ra đời đến nay, Đảng CSVN luôn lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động; gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH để tập hợp, lãnh đạo nhân dân thực hiện sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước tiến vào thời kỳ quá độ lên CNXH với mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với đường lối chính trị đúng đắn, tổ chức triển khai sáng tạo, Đảng CSVN đã và đang lãnh đạo nhân dân ta giành được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Hiện nay, đất nước ta đã độc lập, nhân dân Việt Nam đã thoát khỏi kiếp nô lệ, lầm than, vươn lên làm chủ vận mệnh của mình, chủ động góp công sức của mình thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đây là sự thật không thể bác bỏ!
Có phải ông Nguyên Trọng Vĩnh không biết, không hiểu, hay ông cố tình không biết, không hiểu về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh của đất nước hiện nay? Xin đưa ra mấy con số để ông biết: nền kinh tế Việt Nam đã vượt qua đói nghèo, trở thành nước có nền kinh tế phát triển trung bình. Từ năm 1986-1990, tổng thu nhập quốc dân (GDP) tăng khoảng 4,5%/năm; từ năm 1991-1995, GDP tăng bình quân 8,2%/năm; từ 1996-200, GDP tăng 7,1%/năm; 2001-2011, GDP tăng 7,26%. Theo số liệu báo cáo tại Diến đàn quan hệ đối tác phát triển Việt Nam, năm 2013, GDP Việt Nam khoảng 176 tỷ USD/năm (còn theo cách tính PPP của WB thì GDP của Việt Nam khoảng 333 tỷ USD/năm, đứng thứ 43 trên thế giới), thu nhập bình quân gần 2000 USD/người/năm (trong khi đó năm 2002 thu nhập bình quân đầu người mới chỉ 1.600 USD/người/năm). Như vậy, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh, ổn định, tiềm lực kinh tế ngày càng lớn. Hiên nay Việt Nam đã bước vào thời kỳ đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế. Với đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi, Việt Nam đã có quan hệ đối tác chiến lược, đối tác toàn diện vời nhiều nước trên thế giới, trong đó có 05 nước Thường trực Liên hợp quốc. Việt Nam đã là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế lớn trên thế giới và khu vực, như: Liên hợp quốc và là Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an, Ủy viên Hội đồng nhân quyền của Liên hợp quốc Các nước; ASEAN,… Các tổ chức quốc tế trên thế giới và khu vực đều đánh giá Việt Nam có nền kinh tế phát triển năng động, nhanh, ổn định, bền vững cao; chính trị xã hội ổn định, luật pháp rõ ràng, quyền con người, quyền công dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Vì thế, đã có trên 100 quốc gia và vùng lãnh thổ đã và đang đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam, các nguồn vốn ODA, FDI… liên tục chảy về Việt Nam. Việt Nam là nước được Liên Hợp quốc đánh giá cao về thực hiện các Mục tiêu thiên niên kỷ, nhất là trong xóa đói, giảm nghèo,… Những điều này khẳng định, trước những diễn biến phức tạp của tình hình thế giới, khu vực, nhưng Việt Nam luôn chủ động hội nhập, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội nhanh, bền vững, quốc phòng, an ninh được tăng cường. Đây là thực tế khách quan khẳng định: Cương lĩnh chính trị, đường lối, chủ trương của Đảng CSVN là đúng đắn; đất nước ta có nền kinh tế tự chủ, phát triển năng động, bền vững; đời sống của nhân dân ngày càng được nâng lên. Đất nước, con người Việt Nam đều được đổi mới, vị thế không ngừng được nâng lên trên thế giới.
Và như vậy, việc ông Vĩnh đưa ra quy kết, như: “đường lối của Đảng có sai lầm”; “kinh tế Việt Nam phụ thuộc nước ngoài”,… là hồ đồ, hoàn toàn không đúng sự thật, là vu cáo Đảng, Nhà nước ta!
Trong tác phẩm Đường Cách mệnh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trích trong tác phâm Làm gì của Leenin: “ Không có lý luận cách mệnh, thì không có cách mệnh vận động… Chỉ có theo lý luận cách mệnh tiền phong, đảng cách mệnh mới làm nổi trách nhiệm cách mệnh tiền phong”. Và Người cũng nhấn mạnh, là người cách mệnh, tự mình phải… Giữ chủ nghĩa cho vững”. Vậy xin thưa, ông đòi Đảng CSVN từ bỏ Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tức là từ bỏ lý luận tiền phong, từ bỏ trọng trách lãnh đạo Nhà nước và xã hội của mình(!) Thật ảo tưởng!
Ông không còn xứng đảng là đảng viên Đảng CSVN nữa!

Dec 9, 2014

ĐỪNG CÓ “ĂN ỐC NÓI MÒ”

 

         Tre việt - Xung quanh việc ông Nguyễn Quang Lập, blgogger Quê Choa bị công an bắt hôm 06-12 vừa qua, có một số ý kiến khác nhau. Việc bắt giữ đó đúng hay sai, khi chưa có kết luận chính thức của các cơ quan chức năng xin đừng suy diễn theo kiểu “ăn ốc nói mò”.
          Ngày 07/12 trên BBC tiếng Việt đăng bài viết “Vợ Bọ Lập[1] “bất đồng” với Bộ Công an”, ngày 08/12, lại được trang Ba Sàm đăng lại bài viết này. Qua bài viết thấy một số ý kiến suy diễn theo kiểu “ăn ốc nói mò”.
          Trong bài viết, có chi tiết luật sư Trần Thu Nam nói với BBC: “Nếu mà nói là bắt quả tang như trường hợp của ông Lập thì tôi nghĩ là không đúng, là vì ông đang ngồi trong nhà, trong cửa thì có ai chứng kiến về việc ông ấy phạm một hành vi phạm tội gì không”. Trần Thu Nam nói thế là không thỏa đáng. Bởi vì, có rất nhiều trường hợp phạm pháp mà người phạm tội ngồi trong nhà đó thôi. Bọn ăn cắp cước viễn thông quốc tế, bọn ngồi trong nhà từ tổng đài gọi điện cho một số đối tượng để tống tiền, những người ngồi trong nhà đánh bạc sát phạt lẫn nhau,… họ không phạm tội chắc? Việc ông Lập ngồi trong nhà đang viết gì với chiếc máy tính của Ông ta thì chỉ có vợ ông ta nói là viết tiểu thuyết, nhưng không nói viết tiểu thuyết nào? Tiểu thuyết đó đề cập về nội dung gì? Thì ta chưa nên nói là ông ta có phạm tội hay không phạm tội. Điều đó cần chờ công tác giám định, xác minh của các cơ quan chức năng xem ông Lập viết gì? Nội dung của nó có vi phạm pháp luật không? Mới chỉ có một phía, vợ ông Lập nói là ông ta viết tiểu thuyết thôi, chưa có chứng thực là ông ta viết tiểu thuyết hay viết cái gì thì không nên suy diễn, chỉ nghe một tai, dễ võ đoán. Việc công an bắt giữ ông Lập hẳn phải có căn cứ chứ không thể tùy tiện được. Nhưng căn cứ đó là gì thì hãy chờ ý kiến chính thức từ các cơ quan chức năng, không nên đưa ý kiến suy diễn chủ quan vào lúc này.
          Bài viết cũng đề cập đến ý kiến của luật sư Ngô Ngọc Trai: “…việc người ta phản ánh, lên tiếng về các vấn đề của đất nước, đấy là việc làm chính đáng và cần phải khuyến khích”. Ông Trai viết thế là đúng. Nhà nước ta đã và đang khuyến khích phát huy dân chủ, nâng cao tính phản biện xã hội của nhân dân đó thôi. Điều đó ai cũng biết. Ngô Ngọc Trai viết tiếp: “khi nhà nước chưa làm tròn vai trò, trách nhiệm công cụ của mình thì người ta có quyền lên tiếng, phản ánh về những cái đó”. Đúng. Nhưng bằng cách nào và ở đâu? Không phải lợi dụng dân chủ để phát ngôn hay viết không đúng nơi, đúng lúc, đúng chỗ. Những ý kiến như thế phải được phản ánh trong tổ chức nhất định, như là Mặt trận Tổ quốc, ở cơ sở là Ban công tác Mặt trận, chứ không phải cứ viết và đưa lên mạng in-tơ-nét. Bởi ý kiến của mình chưa hẳn đã đúng, do thiếu thông tin và nhìn phiến diện, như thế dễ ảnh hưởng xấu đến uy tín của cấp ủy, chính quyền địa phương, ở phạm vi rộng lớn hơn là tổn thương đến hình ảnh của quốc gia. Do vậy, “khi viết phản ánh thì cũng phải khách quan, phải nhìn đa diện, chứ đừng xúc phạm hay vu khống, thì đó lại là vi phạm” đúng như Ngô Ngọc Trai viết. Mà đã vi phạm luật pháp thì phải bị pháp luật trừng trị, ở đâu và ở nước nào cũng vậy cả.
          Cũng sự việc trên, nhưng Nguyễn Quang A lại có cách nói không thiện chí. Ông ta nói : “Tôi nghĩ rằng họ không phải là thách thức đâu, mà họ nhổ toẹt vào cái mà họ nói là nhân quyền của họ,.. Bởi vì chuyện như thế này nó đã xảy ra từ lâu rồi”. Đúng là hồ đồ. Chẳng hiểu căn cứ vào đâu mà Nguyễn Quang A có cách nói dường như để “hả giận”, cho “sướng miệng” như vậy. Chưa hết, ông ta còn nói một cách phang mạng rằng: “Cái đấy chứng tỏ một cung cách của người ta hiểu về nhân quyền là: hiểu về nhân quyền là phải theo kiểu của chính quyền ở đây họ nghĩ thế nào, thì đấy mới là nhân quyền”. Không thể như Nguyễn Quang A nói, mà nhân quyền phải dựa trên luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam, nó không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của nhà cầm quyền. Nói không căn cứ như thế chẳng khác nào “gắp lửa bỏ tay người”. Là thành viên của Liên hợp quốc, Việt Nam đã tham gia các Công ước quốc tế về nhân quyền, như: “Tuyên ngôn thế giới về quyền con người” (năm 1948); “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị”; “Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa” (năm 1966),... và hiện tại Việt Nam đang là Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016 thì không thể tùy tiện như Nguyễn Quang A nói: nhân quyền theo cách nghĩ của chính quyền, nghĩ như thế nào thì nhân quyền như thế ấy được.
          Tóm lại, xung quanh việc ông Nguyễn Quang Lập bị bắt, khi chưa có ý kiến chính thức xin đừng nói, viết bừa mà hãy để cơ quan chức năng làm việc. Nếu ông Lập vi phạm pháp luật thì ông ta phải chịu trách nhiệm trước pháp luật, còn ông bị bắt sai thì cơ quan chức năng phải xin lỗi Ông ta. Hiện chưa có ý kiến chính thức đừng suy diễn và làm om sòm làm gì, hãy để thời gian và công sức ấy vào làm việc có ích cho gia đình và xã hội các vị ạ!



[1] Bọ Lập tức Nguyễn Quang Lập, tên gọi thường dùng của blgger Quê Choa.

Oct 16, 2014

SỰ TRÁO TRỞ TRONG CÁI GỌI LÀ THƯ NGỎ CỦA CÁC ĐẢNG VIÊN “LÃO THÀNH”

Tre Viêt - Cứ mỗi dịp đất nước có những sự kiện chính trị trọng đại, nhất là giai đoạn Đảng Cộng Sản Việt Nam chuẩn bị tổ chức đại hội Đảng các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc quyết định những vấn đề hệ trọng của đất nước là trên internet lại xuất hiện những cái gọi là Thư ngỏ, Kiến nghị,... Đây vốn là chiêu thức “đấu tranh” với chế độ xã hội và Đảng Cộng sản Việt Nam cầm quyền của những người tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền” và các thế lực phản động, thù nghịch với Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam hiện hành, trong đó có những kẻ thoái hóa, biến chất “trở cờ”! Nội dung của những cái Kiến nghị, Thư ngỏ,… này chẳng có gì mới. Vẫn là với những nguyên nhân ngụy tạo, tưởng tượng, người ta đưa ra những “nhận định” mơ hồ, quy kết phi lý, trắng trợn và “yêu cầu” này nọ một cách phản khoa học! Người ta cho rằng: Chế độ hiện nay do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo là “chế độ toàn trị”; đất nước đến hồi lâm nguy; Việt Nam cần chuyển sang chế độ “dân chủ mô hình phương Tây(!). Lần này cũng vậy.
Từ cuối tháng 8-2014 đến nay, trên internet xuất hiện cái gọi “Thư ngỏ” của 61 đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam “lão thành” gửi Ban Chấp hành Trung ương Đảng và Bộ Chính trị. Cái “Thư ngỏ” này nhanh chóng được BBC, RFI, VOA, các trang mạng chống cộng,… đưa lên trang nhất, thành tin “nóng”, “hót”; đồng thời, tổ chức phỏng vấn hàng loạt các nhân vật “bất đồng chính kiến”, “tù nhân lương tâm”, “nhà dân chủ”,… để quảng bá (PR) cho “Thư ngỏ”(!) Vì sao họ lại làm như thế? Phải chăng “Thư ngỏ” có nội dung, tư tưởng, giải pháp “Mới”, “phù hợp”,… phục vụ cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN của nhân dân ta?
Trước hết, 61 đảng viên “lão thành” này là ai? Họ là những người đảng viên lớn tuổi, có người về hưu đã lâu, có người mới về hưu,… Để dược vào Đảng, họ tự nguyện viết đơn xin gia nhập và thề nguyện trung thành với mục tiêu, lý tưởng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Khi là đảng viên, họ được Đảng giáo dục, rèn luyện, nên đã trưởng thành và có những cống hiến nhất định cho đất nước; được Đảng giao những chức vị “to tướng” trong Đảng, chính quyền hay các hội nghề nghiệp. Khi còn đương chức, đương quyền, là “đày tớ của nhân dân” họ nói cái gì, các “ông, bà chủ” cũng cứ dỏng tai lên mà nghe! Tuy nhiên, nói thì hay, nhưng họ đâu làm như nói. Thậm chí, các “đảng viên lão thành” này đã từng bước suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống,… chỉ mong luôn là “quan cách mạng” để mong “vinh thân, phì gia”! Trong công tác, họ tự cao, tự đại, vi phạm nguyên tắc sinh hoạt đảng, đạo đức nghề nghiệp, gây mất đoàn kết nội bộ, tư túi, vi phạm pháp luật,… được đồng nghiệp, tổ chức nhiều lần nhắc nhở nhưng không chịu tự rèn luyện,… nên bị xử lý theo quy định. Nay, họ thấy “cơ hội” lại có thể “làm quan cách mạng” nên đã trở cờ, phản bội chính lại lời thề của mình, phản bội Đảng, dân tộc và nhân dân!
Thật trơ trẽn, khi họ tự nhận là: “ngu ngốc theo Đảng Cộng Sản để rồi Đảng Cộng Sản nay lại định hướng XHCN tức là Đảng đã đi sai đường, lẽ ra phải dừng lại ở Cuộc cách mạng Dân tộc dân chủ, thống nhất đất nước mà thôi...”. Ơ hay, họ tự nhận mình là những nhân sĩ, trí thức, mang danh là những “giáo sư, tiến sĩ” mà lại ngu ngốc sao? Các ông chẳng ngu đâu, các ông đang tự lừa dối mình và nhân dân. Thực tiễn lịch sự Việt Nam từ 1930 đến nay đã bác bỏ hoàn toàn cái “ngu ngốc” của các ông. Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời, gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và CNXH, quy tụ, đoàn kết, lãnh đạo nhân dân tiến hành cuộc đấu tranh trường kỳ, gian khổ, với bao hy sinh mất mát để giành độc lập dân tộc, người dân Việt Nam mới thoát khỏi nô lệ, lầm than, mới có quyền con người, quyền công dân và đất nước Việt Nam mới độc lập, thống nhất, được xây dựng ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn” đó các ông. Đây là điều không thể bác bỏ. Có nhà văn nổi tiếng đã nói đại ý là: ai bắn vào quá khứ bằng lục, kẻ đó sẽ nhận ở tương lai bằng đại bác, các ông có nằm trong trường hợp này không nhỉ?
Cá biệt, khi BBC hỏi Nguyễn Đắc Xuân rằng: các ông vào Đảng, các ông đã chấp nhận Đảng Cộng sản là phải đi theo chủ nghĩa Mác – Lê-nin tức là phải theo con đường xây dựng  CNXH, nhưng bây giờ các ông không chấp nhận, điều đó tức là các ông đã tự chống lại chính mình? Đã dựng chuyện, xuyên tạc sự thật, ông ta nói là: “Hồi đó, 99% lũ chúng tôi “bị” kết nạp đảng ở trong rừng, và  nguyện vọng chúng tôi là chỉ tham gia chiến đấu chống Mỹ để thống nhất đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Nhân dân Cách mạng chứ không phải là Đảng Cộng Sản,… do đó, bây giờ chúng tôi phải phản đối xây dựng CNXH, chúng tôi phải đề đạt lên Trung ương để biết mà điều chỉnh cho đúng,...”(!)
Thật tráo trở, hèn hạ!
Lịch sử ghi nhận rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam qua từng thời kỳ đã đổi tên, thậm chí có lúc tự “giải tán”. Điều này các “Đảng viên lão thành” biết không? Và lý do vì sao Đảng Cộng sản Việt Nam đổi tên, hoặc “tự giải tán”? Họ đều biết rõ. Cần khẳng định rằng, bất kể dưới tên gì, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn giữ vững cương lĩnh, điều lệ, tổ chức lãnh đạo nhân dân Việt Nam đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên CNXH.
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Đảng lãnh đạo quân dân miền Nam với tên gọi: Đảng Nhân dân Cách mạng Việt Nam. Thực chất đó là Đảng Cộng Sản Việt Nam, chứ không phải bất kỳ một đảng dân tộc, dân chủ hay xã hội,… nào khác! Trong khó khăn, ác liệt, Đảng vẫn làm tốt công tác phát triển đảng viên mới theo đúng điều lệ. Để được đứng vào hàng ngũ của của Đảng, đối tượng kết nạp phải là những người tốt, được giáo dục, rèn luyện, thử thách, tôi luyện, thể hiện bản lĩnh trong công tác, chiến đấu với kẻ thù, được tổ chức và quần chúng tín nhiệm, giới thiệu với Đảng. Khi đó, mới được tổ chức đảng đưa vào diện “cảm tình Đảng”; được học tập chính cương, đường lối và điều lệ của Đảng, và tổ chức đảng phân công đảng viên theo dõi giúp đỡ. Nếu, người “cảm tình Đảng” tiếp tục gương mẫu phấn đấu, chiến đấu, theo thời gian quy định, công nhận cương lĩnh, đường lối, điều lệ Đảng, có nguyện vọng, tự giác viết đơn xin gia nhập hành ngũ của Đảng thì được tổ chức xem xét, đủ điều kiện mới ra quyết định, làm lễ kết nạp Đảng. Trong buổi lễ kết nạp đảng, người được kết nạp phải tuyên thệ trước Cờ Đảng rằng: suốt đời phải trung thành với cương lĩnh, đường lối của Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, không ngừng học tập, rèn luyện, chiến đấu bảo vệ Đảng đến hơi thở cuối cùng. Sau khi được kết nạp, người đảng viên mới (gọi là đảng viên dự bị) tiếp tục được thử thách, hết thời kỳ dự bị phải được chi bộ nơi đảng viên dự bị công tác, chiến đấu xét đề nghị cấp có thẩm quyền công nhận Đảng viên chính thức. Nếu người đảng viên dự bị phấn đấu tốt sẽ được công nhận là Đảng viên chính thức của Đảng và ngược lại sẽ bị cơ sở đảng từ chối và bị đưa ra khỏi danh sách của Đảng. Vì giữ đúng nguyên tắc, tổ chức chặt chẽ nên hầu hết đảng viên luôn kiên định với cương lĩnh, đường lối của Đảng, vì độc lập dân tộc, vì CNXH và hạnh phúc của nhân dân. Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh, các đảng viên của Đảng đã luôn gương cao ngọn cờ độc lập dân tộc gắn liền với CNXH, không nề hy sinh, gian khổ, gương mẫu đi đầu xông ra mặt trận, tiêu diệt, đuổi bọn cướp nước và bán nước ra khỏi bờ cõi, thu non sông về một mối. Trong cuộc chiến đấu đầy ác liệt đó, hàng triệu đảng viên của Đảng đã hy sinh anh dũng, nhiều người bị địch bắt tù đầy, tra tấn nhục hình một cách tàn bạo, nhưng vẫn kiên trung. Bản lĩnh của những đảng viên cộng sản được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, khâm phục, noi theo, làm cho kẻ thù khiếp sợ. Đó là trong chiến tranh giải phóng dân tộc.
Như vậy, lời nói của Nguyễn Đắc Xuân với BBC là sự tráo trở, xuyên tạc lịch sử, nhằm mục đích tự biện cho hành động trở cờ, phản bội và sự đớn hèn của mình trước thực tế lịch sử!
Bước vào thời kỳ mới, các đảng viên cộng sản đã cùng nhân dân cả nước đồng cam cộng khổ, khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam XHCN. Sau giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, Việt Nam rơi vào tình thế cực kỳ khó khăn: bị đế quốc Mỹ bao vây, cấm vận; bọn bành trướng Bắc Kinh xâm lăng biên giới phía Bắc và kích động bọn diệt chủng Polpot gây hấn ở vùng biên giới phía Tây Nam,… Cả dân tộc Việt Nam vừa phải phải “lưỡng đầu thọ địch”, vừa phải xóa đói, giảm nghèo, dựng xây đất nước từ đống tro tàn của chiến tranh. Trong gian khổ, dưới sự lãnh đạo của Đảng, những đảng viên của Đảng đã đứng mũi, chịu sào, chủ động, sáng tạo, đoàn kết, đã sát cánh cùng nhân dân tiến hành công cuộc đổi mới toàn diện, xây dựng đất nước Việt Nam ngày càng “đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Đến nay, đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới, từ hải đảo đến rừng núi xa xôi, từ nông thôn đến đô thị đâu đâu cũng khoác lên mình một sức sống mới. Mới đây các tổ chức thế giới, như: WB, IMF, WTO, APEC, FAO, OECD, UNESCO,… đều công nhận Việt Nam là đất nước sử dụng các khoản vay xây dựng lại có hiệu quả nhất, thực hiện chương trình xóa đói giảm nghèo hiệu quả nhất,... Việt Nam, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, kém phát triển, đã trở thành nước phát triển trung bình. Việt Nam, từ nước bị kẻ thù cô lập, bao vây cấm vận, nay đã có quan hệ với gần 200 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới. Việt Nam là thành viên Liên hợp quốc và nhiều tổ chức uy tín, lớn trong khu vực và trên thế giới. Nhiều nước đã trở thành đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với Việt nam, trong đó có hầu hết các nước lớn, như: Nga, Trung Quốc, Anh, Pháp, Mỹ - các nước thường trực Liên hợp quốc. Thế và lực của Việt Nam ngày càng phát triển vững chắc. Đây là điều không thể chối cãi! Chỉ có những người đứng ngoài cuộc sống sôi động đang diễn ra ở Việt Nam vì lý do khách quan hay vì mục đích bất lương thì sẽ không thấy hoặc cố ý không thấy sự phát triển vượt bậc của Việt Nam về hạ tầng cơ sở, về phát triển kinh tế, văn hóa, về quốc phòng - an ninh, về điều kiện sống, dân chủ, nhân quyền,... Có được những điều đó là do nhiều nguyên nhân, nhưng trước hết là Đảng Cộng sản Việt Nam có đường lối lãnh đạo Nhà nước và xã hội đúng đắn, được các tầng lớp nhân dân tin tưởng, làm theo. Đây là thực tế khách quan, không thể phủ nhận!
Tuy nhiên, trong hàng ngũ của Đảng không phải đảng viên nào cũng hoàn hảo. Có cá nhân đảng viên vì động cơ trục lợi đã rơi vào vòng xoáy của tham nhũng, bè phái vơ vét nhằm làm giàu phi pháp cho bản thân và gia đình. Có đảng viên vừa mới bước vào cuộc chiến đấu với địch đã đầu hàng, xưng khai với kẻ thù về bí mật của Đảng, làm tổn thất lớn cho Đảng. Có đảng viên không lộ mặt phản bội, nhưng  nằm ỳ, nói ẩu, kiêu căng tự cao, tự đại cho mình là giỏi hơn người, suy bì, công thần địa vị nhưng khi được Đảng giao nhiệm vụ thì lại không hoàn thành. Thực tế họ còn kém, tệ hơn là một người quần chúng bình thường và nếu có việc “can qua” thì họ sẵn sàng chạy về phía kẻ thù để chống lại Đảng. Những kẻ này nhất định phải bị trừng trị đích đáng!
 Những người vin vào những yếu kém của Việt Nam trong quản lý kinh tế, tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận đảng viên và người dân, rồi một vài vụ tham nhũng,... để phủ định tất cả những thành tựu to lớn của đất nước là thiếu khách quan. Đó là những người độc ác, bẩn thỉu, có mục đích xấu! Thực chất đây là những người suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, không khiêm tốn học tập, lắng nghe và quan sát; hoang tưởng, công thần, vị kỷ,  bất mãn,… không thấy (hoặc không muốn thấy) những bước tiến vĩ đại của dân tộc trên con đường thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Họ đã trở cờ, phản bội Đảng, phản bội dân tộc, vô tình hay hữu ý làm tay sai cho các thế lực xấu ngoại bang!
Sự tráo trở ấy nhất định bị trừng trị đích đáng!

Sep 19, 2014

VỀ CÁI GỌI LÀ HỘI, ĐOÀN “ĐỘC LẬP”!

Tre Việt - Vừa qua trên internet, chủ yếu là các trang điện tử của BBC, RFI, VOA,… và các trang mạng chống cộng, xuất hiện nhiều bài viết “ca ngợi” về những sự ra đời của những cái gọi là Hội, Đoàn “độc lập”! Tác giả của các bài viết này là những người tư xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền”(!) Họ cho rằng, sự xuất hiện, ra đời của các Hội, Đoàn “độc lập” này là kết quả “đơm hoa kết trái của xã hội dân sự” và “Chính lúc này, giới dân chủ nhân quyền và cả những người quan tâm đến vận mạng chính trị nước nhà lại có thể cảm nhận về một giai đoạn mới có thể đang hình thành” để xóa bỏ chế độ “độc tài, độc đoán”, chuyển xã hội Việt Nam sang nền dân chủ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập theo kiểu phương Tây(!)
Vậy chúng ta hãy xem những Hội, Đoàn “độc lập” này là cái gì?
Trước hết, là về cái gọi là “Văn đoàn độc lập Việt Nam”. Trong tuyên bố của một số người tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền” của cái gọi là Ban vận động thành lập “Văn đoàn độc lập Việt Nam”, hồ đồ cho rằng: xã hội như chúng ta đang có, trong đó các quyền tự do cơ bản của con người thực tế “bị vi phạm trầm trọng”, “đè nặng lên tâm lý sáng tạo của người cầm bút,…!”. Vì thế cho nên họ muốn, “xây dựng một tổ chức độc lập”, nhằm “tích cực xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam đích thực, nhân bản, dân chủ, hiện đại, hội nhập với thế giới, … đóng vai trò tiền phong,… trong sự nghiệp phục hưng văn hóa, phục hưng dân tộc mà lịch sử đòi hỏi”(!) Như Tuyên bố này, thì phải chăng nền văn hóa Việt Nam, dân tộc Việt Nam đang lâm nguy, cần phải phục hưng và những người tham gia “Văn đoàn độc lập” sẽ là “chiến sĩ tiên phong” để thực hiện?
Cần thấy rõ, đây là một nhận định hàm hồ, phi lý, không có cơ sở lý luận và thực tiễn!
Về lý luận, chỉ sơ sơ vài dòng với các vị thế này: Văn hóa của dân tộc Việt Nam được hình thành trong quá trình “dựng nước và giữ nước” của dân tộc Việt. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, người Việt đã hình thành nên nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Mà trong đó, sợi chỉ đỏ xuyên suốt là chủ nghĩa yêu nước chân chính, sống hòa thuận, tương thân, tương ái, đoàn kết, cần cù, sáng tạo, mưu trí, sáng tạo,… một lòng cùng nhau dựng xây và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, nền văn hóa Việt Nam luôn giao thoa, chắt lọc những tinh hoa của các nền văn hóa của các nước trong khu vực và thế giới để không ngừng phát triện bền vững, tạo nền tảng vững chắc cho đất nước Việt Nam vượt qua “giặc đói, giặc dốt, giặc ngoại xâm” và mọi thảm họa thiên tai khắc nghiệt,… không ngừng phát triển bền vững. Thực tế lịch sử “dựng nước và giữ nước” của dân tộc Việt Nam đã chứng minh rõ điều đó. Các nhà nghiên cứu lịch sử, văn hóa của Việt Nam đã có rất nhiều công trình khoa học chỉ rõ sự hình thành, hội nhập và phát triển của nền văn hóa Việt Nam, chả lẽ các vị bị “thiểu năng trí tuệ” hay sao mà không thấy?  
Về thực tiễn, dân tộc Việt Nam với nền văn hóa tiên tiến đậm đà bản sắc dân tộc làm nền tảng cho công cuộc dựng xây và bảo vệ Tổ quốc. Từ thủa “bọc trăm trứng” đến thời các Vua Hùng dựng nước, rồi đến thời đại Hồ Chí Minh, nhân dân Việt Nam đã đứng lên đánh đổ các cuộc xâm lăng, nô dịch của các nền văn hóa ngoại lai. Sự thất bại của các triều đại phương Bắc, phát xít Nhật, thực dân Pháp, đế quốc Mỹ,… là sự thất bại của nền “văn hóa, văn minh” ngoại lại, văn hóa xâm lược trước nền văn hóa của dân tộc Việt. Năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên bố bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử - đó là bản tuyên ngôn về văn hóa Việt trong thời đại mới, thời đại văn hóa Hồ Chí Minh, thời đại độc lập dân tộc gắn liền với CNXH. Từ bản Tuyên ngôn đó, cả dân tộc Việt Nam đã đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, đưa dân tộc ta bước vào kỷ nguyên văn hóa mới, thời đại dựng xây đất nước vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Ngày nay, từ thân phận mất nước, bị làm nô lệ, dân tộc ta đã dựng xây đất nước Việt Nam bước qua thời kỳ nghèo đói, kém phát triển, vươn lên một nước phát triển trung bình, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ngày càng được nâng cao cả về lượng và chất, đang đẩy mạnh CNH,HĐH, hội nhập quốc tế. Việt Nam từ một nước không có tên trên bản đồ thế giới, đã trở thành thành viên có uy tín của các tổ chức trong khu vực và trên trường quốc tế. Thành tựu này, là thành tựu của nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Đây là điều không thể phủ nhận! Tôi chẳng cần lấy ví dụ, nếu các vị có “óc”, có “tâm”, “có tầm”, có lòng tử tế và luôn tự hào về sức mạnh nền văn hóa Việt hãy tham khảo các tài liệu khoa học, các đánh giá của thế giới về đất nước, con người Việt Nam có rất nhiều trên các giá sách, internet.
Các vị nói những “người cầm bút” đang bị “đè nặng tâm lý,.. làm mờ nhạt và tắt lụi tài năng”(!) Ơ hay, nền văn học, nghệ thuật Việt Nam với những thành tựu rực rỡ trên mọi lĩnh vực (từ văn học, nghệ thuật truyền thống đến đương đại), đang hằng ngày, hằng giờ được cả thế giới ngưỡng mộ về sức sáng tạo, tính nhân văn, sự lan tỏa và hội nhập phát triển mà các vị không biết à? Thành tựu đó được xây dựng trên nền tảng sức sống của nền văn hóa Việt, trong đó đi đầu, có công rất lớn của những “người cầm bút”, những văn nghệ sĩ đấy chứ. Có cần lấy vị dụ không nhỉ? Thôi chẳng cần. Chỉ có những kẻ bị “mù”, hay tâm “tối” mới chẳng thấy! Còn về quyền con người ư? Ở Việt Nam các quyền con người luôn được đảm bảo theo đúng quy định của luật pháp quốc tế và pháp luật Việt Nam. Hiện nay, những thành tựu về nhân quyền của Việt Nam được thế giới công nhận, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của Hội động Nhân quyền Liên hợp quốc. Vậy quyền con người ở Việt nam có được đảm bảo không nhỉ? Tự các vị biết.
Như vậy, cả về lý luận và thực tiễn đã bác bỏ cái nhận định sai trái của các vị. Chắc các vị cũng hiểu, nhận thức rõ thực tiễn tốt đẹp đang diễn ra trong đời sống xã hội Việt Nam. Vậy, vì sao các vị lại có cái nhận định phi lý trên? Nhân dân biết, các vị làm thế là bởi các vị muốn chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm đưa dân tộc Việt Nam đi theo con đường “xã hội dân chủ” kiểu phương Tây! Nhận thức rõ điều này, cho nên cái “Văn đoàn” của các vị muốn thành lập đã bị các tầng lớp nhân dân lên án, bác bỏ và chết ngay trong trứng nước!
Sau sự kiện vận động thành lập “Văn đoàn độc lập” bị thất bại, trên BBC, RFI, VOA,… lại ra rả về sự ra đời của cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam”! Nhìn đi, nhìn lại thấy các hội viên cũng chỉ là những kẻ tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho nhân quyền”,… Họ tuyên bố thành lập “Hội”, là: “nhằm thực hiện quyền tự do biểu đạt và tự do báo chí”; “Hội” là “tổ chức xã hội dân sự nằm trong xã hội dân sự Việt Nam”, có tôn chỉ là “Vì một Việt Nam tiến bộ xã hội, dân chủ, đa nguyên, văn minh và giàu mạnh”(!) Trước hết cần khẳng định luôn: Đây là cái “Hội” bất hợp pháp! Vì sao? Theo quy định của pháp luật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam thì chỉ những tổ chức nào được chính quyền thừa nhận mới là tổ chức hợp pháp! Mời các vị xem lại Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN, năm 2013; Nghị định 45/2010/NĐ-CP, ngày 21-4-2010 của Chính phủ “Quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội”. Như vậy, cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” là tổ chức bất hợp pháp, không được pháp luật Việt Nam thừa nhận. Nó không có cơ sở tồn tại. Mọi hoạt động của cái “Hội” này đều là phi pháp và cần bị pháp luật trừng trị một cách nghiêm minh.
Đấy là nói về tư cách của “Hội” trước pháp luật. Còn về cái mục đích, tôn chỉ của “Hội” là muốn hướng tới cái xã hội “đa nguyên”, tức là một chế độ xã hội đối lập với chế độ dân chủ XHCN mà nhân dân ta đang xây dựng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Như vậy, mục tiêu của các vị thành lập “Hội” là để tuyên truyền, quảng bá cho nền dân chủ phương Tây, chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhằm âm mưu lật đổ chính quyền. Đây là tội phản quốc, cần phải nghiêm trị. Điều 79, Bộ luật Hình sự có ghi rõ tội danh của tội “Âm mưu lật đổ chính quyền” và Điều 88, của Bộ luật trên cũng ghi rõ tội danh của tội “Tuyên truyền chống lại Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”, cho nên cứ chiểu theo luật mà trừng trị nghiêm minh những kẻ thành lập, tham gia cái “Hội” này. Đau buồn thay cho những kẻ vong nô, ngày chúng tự tuyên bố thành lập cái “Hội” này là ngày 04-7, ngày Quốc khánh Hoa Kỳ, với những tưởng sẽ được Chính phủ Hoa Kỳ thí cho tý bơ thừa sữa cặn, hà hơi, tiếp sức để ráng sức “cõng rắn cắn gà nhà”! Điều này đã nói lên “đạo đức” của những kẻ tham gia “Hội”. Lịch sử Việt Nam luôn đối xử công bằng với những kẻ âm mưu “cõng rắn cắn gà nhà”!

Những cái gọi là “Đoàn”, “Hội” nói trên là những tổ chức bất hợp pháp, không có cơ sở chính trị, pháp lý tồn tại; nhằm chống đối chế độ dân chủ XHCN của nhân dân ta, nhất định sẽ bị nhân dân lên án, pháp luật trừng trị đích đáng./.

Sep 15, 2014

ĐÔI ĐIỀU VỚI HOÀNG XUÂN PHÚ

        Tre Việt - Ngày 12-9-2014, trang Ba Sàm có đăng bài “Bắt mạch Hiến… nháp” của Hoàng Xuân Phú. Tre Việt không thực hiện được lời tác giả rằng “Bài này khá dài,… Mong bạn đọc dành thời gian và kiên trì đọc đến cuối,…”. Bởi, mới đọc được ý 1 của phần 1 Chứng “Tất định” đã có đôi điều muốn trao đổi cùng tác giả. Ở phần này, Hoàng Xuân Phú viết: “… nghiện đem  tất  cả mọi thứ ra để quy định hay định nghĩa, rồi coi đó là chuẩn mực, khuôn phép, và áp đặt lên toàn dân. Buồn thay, chuẩn mực mà thường phi lý, cứ sai hoài sai mãi…”. Có thực chuẩn mực “cứ sai hoài sai mãi…” như Hoàng Xuân Phú viết không?
          Mở đầu 1.1. Hoàng Xuân Phú viết: “Một biểu hiện của chứng hoang tưởng quyền lực, coi thường người dân, là không chịu thừa nhận quyền con người thuộc phạm trù đương nhiên, như sự tồn tại của con người, mà coi quyền con người là thứ do thế lực cầm quyền ban cho dân chúng”. Viết vậy, là Hoàng Xuân Phú có sự nhầm lẫn, không phải quyền con người là vô tận, mà trong các quyền con người có quyền bị hạn chế bởi pháp luật mỗi nước. Thật vậy, nghiên cứu “Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị” chúng ta thấy quyền con người có hai loại: Các quyền tuyệt đối các quyền bị hạn chế. Các quyền tuyệt đối, như: “Không ai bị tước đoạt mạng sống một cách vô cớ” (Điều 6); “Không một người nào có thể bị tra tấn” (Điều 7); “Không được phép bắt giữ làm nô lệ người nào” (Điều 8),… Các quyền bị hạn chế, như: “Quyền tự do đi lại và lựa chọn nơi cư trú” (Điều 12); “Quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo” (Điều 18); “Mọi người có quyền giữ quan điểm của mình” (Điều 19); “Quyền hội họp hòa bình…” (Điều 21); “Quyền lập hội” (Điều 22),... Công ước cũng quy định: việc thực hiện những quyền trên “kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt và phải chịu một số hạn chế nhất định, vì sự tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”[1]. Trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt,… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo,…”[2].
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam cũng như của nhiều quốc gia khác, quyền con người luôn được gắn liền với quyền và nghĩa vụ công dân. Công ước nhân quyền châu Âu (có hiệu lực từ ngày 03-9-1953) đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó có quyền bị hạn chế, như: quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[3]. Rõ ràng, trong khi Khoản 1 của Ðiều luật này quy định: ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới, thì Khoản 2 lại quy định: việc thực thi các quyền đó gắn với các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền tự do ngôn luận của công dân. Không có thứ tự do “tuyệt đối” mà không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, ở sự ổn định xã hội, mà thiếu nó thì mọi nỗ lực cố gắng của con người đều trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Công ước nhân quyền châu Âu nói trên.
Chúng ta còn nhớ sự kiện họa sĩ Kút vẽ tranh châm biếm nhà Tiên tri Hồi giáo Mohammed dẫn đến bạo động ở Đan Mạch và vụ việc Mục sư Giôn ở bang Phlo-ri-đa (nước Mỹ) có ý định đốt kinh Cô-ran đã để lại hậu quả nặng nề đối với xã hội, khi người ta quan niệm hành vi đó là “quyền tự do của cá nhân được pháp luật bảo vệ”. Chúng ta cũng chưa quên việc Hoa Kỳ và nhiều quốc gia phương Tây đòi truy cứu trách nhiệm hình sự đối với ông chủ mạng WikiLeaks cũng chỉ với lý do thông tin của mạng này “có thể” gây nguy hiểm cho Quân đội Hoa Kỳ. Và gần đây là vụ Edward Snowden tiết lộ bí mật hoạt động của cơ quan tình báo Mỹ, dẫn đến cựu nhân viên tình báo này phải tỵ nạn tạm thời ở Nga trước sự truy bắt gắt gao của Chính phủ Mỹ, cũng chỉ vì tội tiết lộ bí mật quốc gia. Tại sao lại có tình trạng đó? Vì những người này đã tuyệt đối hóa quyền con người mà không thấy nghĩa vụ, trách nhiệm công dân. Điều đó cho thấy, trong khi thực hiện quyền của mình, mỗi người là công dân nước nào cũng có bổn phận phải thực hiện nghĩa vụ công dân và luật pháp của nước đó; bất kỳ ai khi cư trú ở một nước nào đó, cũng phải chấp hành luật pháp của nước sở tại, nghĩa là phải thực hiện một phần nghĩa vụ công dân của nước này. Việt Nam cũng không phải ngoại lệ. Ông cha ta nói: “Nhập gia tùy tục” cũng là vì thế.
          Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, đã ghi: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận…; 3. Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Vậy thì, Khoản 1, Điều 14 Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 ghi: “Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật” thì có gì là sai, mà Phú viết: “Vậy là cả những quyền con người hiển nhiên cũng không được thừa nhận, nếu không vượt qua “cửa ải hiến định”. Điều đó cho thấy chứng “tất định” giống như một thứ bệnh ung thư đã di căn, tác động xấu tới cuộc sống của mọi người dân”. Phải chăng, Hoàng Xuân Phú có sự nhầm lẫn? Không. Với một Giáo sư toán học thì không thể có sự nhầm lẫn ngô nghê ấy được. Điều đó khiến người ta đưa ra kết luận về động cơ và mục đích của ông ta là không trong sáng./.



[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002, tr. 258.
2 - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
3 - Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.

Sep 7, 2014

SỰ CỔ SÚY MÙ QUÁNG

         Tre Việt - Trên các trang mạng lề trái đang tán dương cuốn sách được xuất bản ở hải ngoại với tên “Đèn Cù” của Trần Đĩnh. Cuốn sách dày 599 trang, Trần Đĩnh cho rằng, mình có thời gian làm việc với lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước ta nên biết nhiều chuyện ngoài chính sử. Tai hại hơn, điều này đã huyễn hoặc một số người nhẹ dạ cả tin mà không thấy đó là sự xuyên tạc lịch sử. Những ai có nhận thức, tỉnh táo một chút sẽ nhận ra sự xuyên tạc đến trơ trẽn của Trần Đĩnh. Bài viết: “Đọc Đèn Cù, thấy quyền con người là quý giá” của Nguyễn Văn Thạch, đăng trên trang Ba Sàm, ngày 07-9-2014 là một trong những bài cổ súy cho sự xuyên tạc lịch sử của Trần Đĩnh.

            Nguyễn Văn Thạch viết: “Đèn Cù cuốn hút không chỉ lối trình bày của một cây bút lão luyện mà còn cuốn hút vì nhiều thông tin mới mẻ”. Hãy xem thông tin “mới mẻ” ấy là gì?

          Đèn Cù đã xuyên tạc bằng cách mượn hình ảnh voi giấy, ngựa giấy chạy vòng quanh đèn kéo quân - đèn cù để cho rằng, giai đoạn 1946 - 1976, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng chạy quanh dưới sức ép của hai nước lớn trong phe XHCN - Liên Xô và Trung Quốc”. Từ đó, họ phê phán chủ nghĩa Mác – Lê-nin, bởi theo họ: “các giáo chủ của một chủ nghĩa thần bí - hứa hẹn đưa con người đến thiên đường trên mặt đất - chủ nghĩa Mác – Lê-nin - đã độc quyền trong việc giải thích chủ nghĩa này như thế nào là trong sáng: để bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác – Lê-nin thì phải không sợ Mỹ, phải đánh Mỹ”. Vậy là, cả dân tộc ta không sợ Mỹ, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” là do sức ép của Liên Xô - Trung Quốc (!) Đảng Cộng sản Việt Nam - Đèn cù - theo họ là vậy đấy! Và thật nực cười họ cho đấy cũng là tội lỗi của chủ nghĩa Mác – Lê-nin.

        Không gì còn xuẩn ngốc hơn khi Thạch nói lấy được rằng: “Qua Đèn Cù, ta thấy câu nói của Tổng Bí thư Lê Duẩn “ta đánh Mỹ là đánh cả cho Liên Xô, đánh cho Trung Quốc” rõ nghĩa hơn, sinh động hơn. Cuộc chiến mà mà sách giáo khoa hay nói là chiến tranh thần thánh chống Mỹ, cứu nước chẳng qua là một cuộc chiến được thúc đẩy bởi Mao Trạch Đông để phục vụ ý đồ của ông ta “Thiên hạ đại loạn, Trung Quốc được nhờ”. Ông ta muốn đánh Mỹ đến người Việt Nam cuối cùng”. Tại sao họ không thấy hay cố tình không thấy khi giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước thì không chỉ nhân dân ta, dân tộc ta mà cả loài người tiến bộ và các dân tộc bị áp bức đang đấu tranh cho độc lập dân tộc vui mừng đến khôn tả. Và các dân tộc bị áp bức trên thế giới đều tự hào cho rằng, đó cũng là chiến thắng của chính mình. Liên Xô và Trung Quốc là hai nước lớn có chung kẻ thù với dân tộc Việt Nam là đế quốc Mỹ, vậy thì câu nói của Tổng Bí thư Lê Duẩn lại sai sao? Ta đánh Mỹ là do sự xúi giục của Liên Xô, Trung Quốc à? Nhân đây, xin nhắc lại câu nói: “kẻ thù của bạn cũng là kẻ thù của ta, bạn của bạn cũng là bạn ta” để hiểu hơn câu nói trên của Tổng Bí thư Lê Duẩn.  

        Nguyễn Văn Thạch ngớ ngẩn viết rằng: “Tôi thật sự giật mình khi biết rằng Mao đã xui Việt Nam đánh Mỹ để giải phóng miền Nam mà Trung Quốc thì không đánh nhau để giải phóng Đài Loan hay họ kiên nhẫn để thống nhất Hồng Kông, Macao trong hòa bình. Ít nhất điều này đã thể hiện tâm và tầm lãnh đạo”. Tại sao Thạch không phân biệt được Mỹ chiếm miền Nam Việt Nam khác thế nào với trường hợp Hồng Kông, Macao (Trung Quốc)? Tại sao trước ta đánh Mỹ, nay lại mời gọi các doanh nghiệp Mỹ vào làm ăn ở Việt Nam? Những kiến thức sơ đẳng này mà Thạch không biết, không phân biệt được thì trả trách hắn ta khen lấy khen để cuốn “Đèn Cù”. Vậy nên hắn ta nhai lại lời nói của kẻ nào đó rằng là “Như ai đó đã nói “Đèn Cù đã giải thiêng cho cuộc cách mạng Việt Nam”, sự giải thiêng này sẽ giảm đi tính thần thánh, đỉnh cao trí tuệ nhân loại mà Đảng Cộng sản Việt Nam thường tự nhận về mình và nó góp phần thúc đẩy nền dân chủ cho Việt Nam”. Những kẻ “Ăn cháo đá bát” thì làm gì có lương tâm, nên làm sao có phần “người” trong chữ “con người” nữa mà thấy được điều thiêng liêng - sự hy sinh của hàng triệu người con ưu tú vì nền độc lập dân tộc, vì tự do, hạnh phúc mãi mãi của lớp cháu con đất Việt. Thế mà Thạch ra sức cổ súy cho cuốn Đèn Cù - cuốn sách in lậu, xuyên tạc lịch sử dân tộc ta của Trần Đĩnh một cách mù quáng. 

          Cuối bài viết, Thạch kết luận: “Nếu ngày đó có tự do ngôn luận, hay có internet chắc chắn người dân miền Bắc sẽ không yêu nước đến cuồng nhiệt: lớp sống đói khổ, lớp chịu bom đạn, lớp đưa hàng triệu con em mình vào Nam chịu cảnh bi thảm: sinh Bắc tử Nam”. Viết vậy, là Thạch đã hạ thấp, coi thường sự hy sinh của lớp cha anh vì nền độc lập dân tộc. Những ai là con dân nước Việt, thế hệ cháu con của Nguyễn Trãi với “Bình ngô đại cáo”, của Lý Thường Kiệt với “Nam quốc sơn hà” mới thấy ý chí quyết tâm vì nền độc lập dân tộc. Còn với Thạch hẳn không phải dòng máu đỏ da vàng nên không thấy hết sự hy sinh xương máu của hàng triệu con dân nước Việt vì nền độc lập dân tộc, thống nhất đất nước của thế hệ cha anh. Thế mà giờ đây, được hưởng nền tự do độc lập, Thạch lại không đánh giá đúng sự hy sinh của thế hệ cha anh, để mà đền đáp, mà lại viết nói một cách vô ơn như vậy! Nhưng cái tâm thật của Thạch là ở chỗ, qua bài viết y muốn đẩy mạnh tự do ngôn luận theo kiểu vô chính phủ: “Tuyệt đối, không cho nhà cầm quyền lũng đoạn tất cả các kênh thông tin” - Thạch viết. Vậy là vòng vo tam quốc thì Thạch cũng lòi cái đuôi ra: hô hào tự do ngôn luận. Nhưng tiếc thay y không biết được luật pháp quốc tế quy định tự do ngôn luận là quyền bị hạn chế bởi pháp luật của từng nước./.

Sep 6, 2014

TRUNG THỰC KẺO “CHẾT KHÔNG NHẮM ĐƯỢC MẮT”

        Tre Việt - Trên BBC tiếng Việt, ngày 05-9-2014 có bài “Lúc đầu tôi cũng mến ông Hồ” đề cập đến cuộc Trao đổi giữa Trần Đĩnh - tác giả cuốn tự truyện “Đèn Cù” với BBC. Đọc bài viết cho thấy, Trần Đĩnh nói, viết những điều không có trong sử sách, ông ta cho rằng, mình có thời gian gần gũi với lãnh đạo cấp cấp cao của Đảng, Nhà nước nên biết những chuyện ngoài chính sử, giờ ông ta mới nói ra. Điều đó cho thấy, không chỉ Trần Đĩnh mà còn nhiều và rất nhiều người khác cũng được sống và làm việc gần các thế hệ khai quốc công thần của dân tộc ta, nhưng có ai nói viết những điều ngoài chính sử đâu mà chỉ có Trần Đĩnh nói viết thôi. Phải chăng những điều Trần Đĩnh nói và viết là Đúng? Và tại sao giờ đây Trần Đĩnh mới nói viết những điều ấy?
          Qua bài trao đổi giữa Trần Đĩnh với BBC tiếng Việt nói trên cho thấy, ông ta trước đây có nhiều thời gian công tác ở Báo Nhân dân và chắc là nằm trong số những người có “máu mặt” của Báo Nhân dân trong những năm đầu cuộc cách mạng của dân tộc ta. Ông được gần gũi lãnh đạo cấp cao của Đảng, Nhà nước lúc đó cũng là vì thế. Nhưng sau đó, như Vũ Thư Hiên - tác giả cuốn “Đêm giữa ban ngày” - viết: “Chúng tôi quen nhau cũng khá lâu và sau khi có vụ Xét lại chống Đảng nảy ra thì ông Trần Đĩnh, lúc đó đang làm ở Báo Nhân dân, cũng bị trấn áp, nhưng không bị đi tù như chúng tôi mà người ta chỉ bắt đi lao động, bắt đi làm những công việc khác thôi” thì rõ ràng, đây là những người không có thiện cảm với xã hội ta, thậm chí họ còn căm thù là đằng khác. Vậy nên, trước sự tấn công quyết liệt của các thế lực thù địch vào Đảng và Nhà nước ta hòng làm thay đổi thể chế chính trị nước ta thì giờ đây họ như “diều gặp gió” cố tình “té nước theo mưa”. Điều đó thể hiện rõ lòng dạ “trong trắng” của họ đối với Đảng, Nhà nước ta. Thế nên, trong bài trao đổi họ nhắc đi nhắc lại rằng, giờ đây đòi hỏi phải có văn bản thì chẳng có đâu, chỉ những người cùng làm, cùng sống thời đó mới biết. Song, họ kể ra chỉ một vài người, còn rất nhiều rất nhiều những người khác cùng gần gũi và làm việc với lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước ta đều tỏ lòng thành kính với các thế hệ khai quốc, có mấy ai nói viết như họ đâu. Xem ra ý đồ chính trị của họ quá rõ ràng. Đừng có kiểu “cà cuống chết đến đít còn cay”. Bởi “quay lại là bờ” và phải trung thực mới chính mình kẻo rồi “chết không nhắm được mắt” Trần Đĩnh ạ!