Jun 20, 2020

Những con số biết nói đã bác bỏ mọi xuyên tạc về tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam



Tre Việt - Như chúng ta đã biết, thực hiện âm mưu chống phá sự nghiệp cách mạng ở nước ta, trong những năm qua, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí với Việt Nam; đặc biệt là tổ chức Freedom House (Ngôi nhà tự do) thường xuyên xếp Việt Nam vào nhóm những nước không có tự do. Họ liên tục đưa ra những luận điệu cho rằng, Việt Nam là quốc gia Đảng Cộng sản “thống trị” trong nhiều thập kỷ, các quyền dân chủ, như: tự do biểu đạt, tự do tôn giáo, và hoạt động xã hội dân sự luôn bị hạn chế nghiêm ngặt. Tháng 11 năm ngoái, tổ chức Freedom House còn xếp Việt Nam vào danh sách những quốc gia không có tự do internet.
Ngày 09/6/2020, Ủy Hội Hoa Kỳ về Tự do Tôn giáo Quốc tế (USCIRF) vừa công bố bản báo cáo đặc biệt về tù nhân lương tâm tôn giáo ở Việt Nam. Báo cáo của USCIRF cho biết, trong số hơn 250 tù nhân lương tâm tại Việt Nam, ước tính có một phần ba bị bỏ tù vì có liên quan đến hoạt động cho tự do tôn giáo hay niềm tin tôn giáo.
Đó là cách nói sai lệch. Bởi, “không có tự do tôn giáo” mà ở Việt Nam lại có tới 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận tư cách pháp nhân; 60 cơ sở đào tạo tôn giáo thuộc Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Phật giáo Hòa Hảo. Đến năm 2018, 7.102 tổ chức, cơ sở tôn giáo đang sử dụng tổng diện tích 14.850 ha đất; 12 báo, tạp chí liên quan tôn giáo, phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng; trong 5 năm có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in, hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế lớn được tổ chức ở Việt Nam, như: Đại lễ Phật đản VESAK, 500 năm Cải chánh đạo Tin lành, v.v. Điều đáng nói là, tự do tôn giáo của các dân tộc thiểu số luôn được bảo đảm: năm 2017, Giáo hội Phật giáo Việt Nam xây dựng Học viện Phật giáo Nam tông Khmer tại Cần Thơ; ở Bình Phước và Tây Nguyên. Có 33 tổ chức, hệ phái, nhóm Tin lành đang sinh hoạt tại 304 chi hội và hơn 1.300 điểm nhóm; ở Tây Bắc có 693 điểm nhóm Tin lành, 8 Hội thánh cơ sở được thành lập; nhiều điểm nhóm của người dân tộc thiểu số theo Hội thánh Lutheran, Hội Liên hữu Baptist Việt Nam đã đăng ký sinh hoạt tập trung, v.v. Cùng với phát triển về tổ chức, đăng ký hoạt động cho các tôn giáo đủ điều kiện, số lượng tín đồ và các hoạt động tôn giáo cũng không ngừng gia tăng. Tính đến tháng 9/2019, Việt Nam có 25,1 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số, 55.710 chức sắc, 145.721 chức việc. Việc ra đời các tổ chức tôn giáo một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác, khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.
Mới đây, một khảo sát toàn cầu của Nhóm nghiên cứu Dalia Research, có trụ sở chính ở Berlin (Liên bang Đức) kết hợp với quỹ Liên minh Dân chủ (AoD) có trụ sở ở Copenhagen (Đan Mạch) cho thấy, chính phủ Việt Nam đã đáp ứng được sự kỳ vọng của hầu hết người dân về tự do dân chủ khi có tới hơn 70% người dân trong nước tin là mình đang sống ở một quốc gia dân chủ.
Theo đó, chỉ số Nhận thức Dân chủ (DPI), nghiên cứu hàng năm lớn nhất về dân chủ, vừa được đưa ra cho thấy, đại đa số người dân Việt Nam (81%) coi dân chủ là quan trọng và 71% những người được khảo sát ở Việt Nam nói rằng “đất nước của tôi có dân chủ”. Trong khi đó, chỉ có 18% người dân Việt Nam được hỏi nói rằng “không có đủ dân chủ ở đất nước tôi” và chỉ có 12% cho rằng chính phủ của họ “thường hành động vì lợi ích của một nhóm nhỏ”.
Đặc biệt, từ cuối năm 2019, khi dịch COVID-19 xuất hiện ở Trung Quốc, đến nay, đã trở thành đại dịch toàn cầu, với số người nhiễm trên toàn thế giới lên tới gần 9.000.000 ca và gần 500.000 người tử vong, thế nhưng Việt Nam là một trong những quốc gia đứng đầu trên bảng chỉ số DPI, với 95% người dân cho rằng chính phủ của họ làm tốt trong việc đối phó với đại dịch COVID-19. Đây rõ ràng là những con số thực tế, những con số phản ánh từ chính sự cảm nhận của người dân Việt Nam. Điều này, hoàn toàn trái ngược với những luận điệu của những cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí cho rằng, Việt Nam là quốc gia “không có tự do”, “mất dân chủ”. Những con số biết nói trên đã chứng minh điều ngược lại, đa số người dân Việt Nam cảm nhận sự hài lòng với chính phủ và họ cho rằng “đất nước của tôi có dân chủ”.
Tre Việt nghĩ rằng, chẳng biết khi chứng kiến những con số cụ thể này, một số cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí, nhất là Freedom House có còn mở miệng ra xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam nữa hay không?


Việc làm kịp thời, đúng quy định của cơ quan thực thi pháp luật Việt Nam


          Tre Việt - Vừa qua, nhân việc Phạm Thành và Nguyễn Tường Thụy bị cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật Việt Nam bắt tạm giam, điều tra (sáng ngày 23/5/2020), trên BBC, RFA, VOA và một số trang mạng phản động cho rằng, Nhà nước Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận báo chí (!).
          Cần khẳng định rằng, việc làm này của cơ quan chức năng bảo vệ pháp luật Việt Nam là phù hợp quy định pháp luật, nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận báo chí và sự trong sáng, lành mạnh của không gian mạng.
          Ai cũng hiểu, quyền tự do ngôn luận báo chí là một nội dung của quyền con người, quyền công dân. Tuy nhiên, quyền đó phải được sử dụng phù hợp với quy định pháp luật. Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (năm 1966) của Liên hợp quốc (Việt Nam đã gia nhập năm 1982) quy định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận”. Theo đó, quyền này có 03 nội dung cơ bản: 1- Quyền tự do “tìm kiếm” thông tin; 2- Quyền “tiếp nhận” (đọc và nhận thức, thể hiện quan điểm của cá nhân) thông tin; 3- Quyền “truyền đạt” mọi thông tin (Khoản 2, Điều 19). Việc thực hiện các quyền này “không phân biệt lĩnh vực, hình thức bằng miệng, bằng bản viết, in, hoặc dưới hình thức nghệ thuật,…”. Đặc biệt, Công ước này chỉ rõ: “Việc thực hiện những quyền quy định tại khoản 2 điều này kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, việc này có thể phải chịu một số hạn chế nhất định”. Những hạn chế này phải được quy định trong pháp luật để:  “a- Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác. b- Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của xã hội” (Khoản 3, Điều 19).
          Ở Việt Nam cũng vậy, quyền tự do ngôn luận báo chí được quy định rõ trong Chương II, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013, quy định về Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân; trong đó, Điều 25, nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình” và: “Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Theo đó, Nhà nước Việt Nam đã ban hành Luật và văn bản luật để đảm bảo quyền tự do ngôn luận cho mọi tổ chức, cá nhân. Nổi bật là: Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 20015 (đã được sửa đổi một số điều của Bộ luật Hình sự năm 2017),chỉ rõ những điều khoản nghiêm cấm mọi cá nhân, tổ chức vi phạm, ai vi phạm sẽ bị xử lý theo quy định pháp luật. Theo Điều 117, của Bộ luật Hình sự này, quy định nghiêm cấm hành vi “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước”. Luật Báo chí năm 2016, quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”; đồng thời, quy định: “Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”. Điều 16, Luật An ninh mạng nghiêm cấm các cá nhân, tổ chức các hành vi: a. Xúc phạm nghiêm trọng danh dự, uy tín, nhân phẩm của người khác; b. Thông tin bịa đặt, sai sự thật xâm phạm danh dự, uy tín, nhân phẩm hoặc gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân khác, v.v. Như vậy, Nhà nước Việt Nam đã có những quy định pháp luật rất cụ thể để mọi tổ chức, cá nhân thực hành quyền tự do ngôn luận báo chí.
          Ấy thế mà, trong quá trình hoạt động, Phạm Thành (Bà Đầm Xòe) và Nguyễn Tường Thụy đã tham gia, cấu kết với một số tổ chức phi pháp, cá nhân phản động trong và ngoài nước, núp bóng tự do ngôn luận báo chí để viết bài xuyên tạc, bôi nhọ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật Nhà nước, cá nhân những đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước tung lên không gian mạng. Hành động của chúng đã vi phạm pháp luật, làm ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội. Hành vị đó cần phải trừng trị đích đáng theo quy định pháp luật để bảo vệ quyền tự do báo chí.      
          Như vậy, việc Phạm Thành và Nguyễn Tường Thụy bị bắt và xử lý là đúng người, đúng tội, phù hợp với các quy định của pháp luật Việt Nam và thông lệ quốc tế. Đây là hành động “đúng và trúng” của cơ quan bảo vệ pháp luật Việt Nam, nhằm bảo vệ quyền tự do ngôn luận báo chí, được nhân dân đồng tình, ủng hộ.

Jun 17, 2020

Chống dịch Covid-19, Việt Nam thật đáng tự hào



Tre Việt - Trong cuộc chiến chống đại dịch COVID-19, thế giới đã đánh giá rất cao vị thế của Việt Nam và cách điều hành của Chính phủ Việt Nam. Họ cho rằng Việt Nam là quốc gia chiếm được uy tín cao trong dân chúng khiến họ có thể gửi gắm lòng tin vào chính quyền, là chỗ dựa đáng tin cậy của người dân, thậm chí của những người Việt Nam đang làm ăn, học tập ở nước ngoài bị dịch bệnh đe dọa. Bởi, thực tiễn minh chứng với mật độ dân số cao, Việt Nam có hệ thống chăm sóc sức khỏe còn yếu và ngân sách thấp trong phòng chống đại dịch COVID-19, song với tinh thần coi sức khỏe và tính mạng của con người là trên hết, “không để ai bị bỏ lại phía sau”, thậm chí “phải hy sinh lợi ích kinh tế để bảo vệ sức khỏe nhân dân”, cho dù kinh tế không khá hơn so với các nước trong khu vực và trên thế giới, nhưng Việt Nam đã thực hiện miễn toàn bộ chi phí khi thực hiện cách ly và chi phí khám chữa bệnh cho những người mắc COVID-19, không kể là người mang quốc tịch Việt Nam hay nước khác. Điều này thể hiện tính nhân văn sâu sắc của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Kết quả thực tiễn trong phòng, chống đại dịch COVID-19 của Việt Nam đạt được đã làm cho thế giới kinh ngạc và khâm phục. Tính đến ngày 17/6/2020 đã hơn hai tháng, Việt Nam không có ca lây nhiễm COVID-19 trong cộng đồng. Có thể nói, hiện nay trên toàn lãnh thổ Việt Nam, cuộc sống của mọi người dân đã trở về bình thường: trẻ em được hân hoan tới trường, người dân khắp nơi tất bật với công việc, hàng quán được mở lại, phố xá đông đúc, nhộn nhịp, v.v. Cuộc sống bình thường của người Việt Nam hiện nay là mơ ước của rất nhiều nước trên thế giới khi họ vẫn đang phải đương đầu với dịch bệnh COVID-19 vẫn đang diễn biến phức tạp. Vì vậy mà hàng chục nghìn người Việt ta ở nước ngoài học tập, lao động và làm ăn đã nộp đơn đăng ký lên Bộ Ngoại giao xin được trở về Tổ quốc. Họ đã coi đó như một chỗ dựa tinh thần khi cần trở về quê nhà, v.v. Hiện nay, chúng ta vẫn tiếp tục tổ chức đưa công dân Việt Nam về nước. Trong số này có cả những người từng ra đi và đang có ý muốn ở lại không về, thì lúc gian khó nhất, họ biết rằng, không đâu có được tình người như quê nhà, chưa nói đến khả năng chữa trị cũng cực tốt.
Việt Nam đã ghi đậm dấu ấn đặc biệt với Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và báo chí nước ngoài cũng phải kinh ngạc, nhất là việc điều trị và phục hồi kỳ diệu của phi công người Anh (bệnh nhân COVID-19 số 91 của Việt Nam). Thay cho lời kết, xin trích dẫn lời của Phó Đại sứ Israel tại Việt Nam, bà Shirel Levi chia sẻ: đại dịch này là một cuộc khủng hoảng toàn cầu và tất cả chúng ta đều ảnh hưởng. Tôi may mắn khi ở Việt Nam - một nơi rất an toàn và ứng phó với đại dịch rất hiệu quả. Giờ đây, tôi có thể trở lại sinh hoạt và làm việc bình thường. Trong khi các đồng nghiệp của tôi trên thế giới có thể không được như vậy. Vì thế, dù nhiều kế hoạch phải tạm hoãn, nhưng tôi cảm thấy may mắn và an toàn khi ở đây, thậm chí tôi có thêm nhiều động lực hơn để tiếp tục nỗ lực thúc đẩy quan hệ giữa Israel và Việt Nam. Đây quả là điều khiến chúng ta không thể không hãnh diện.
Dù còn nhiều hạn chế, khó khăn nhất định, nhưng vị thế của Việt Nam hôm nay, đã khác xưa và khác rất nhiều. Một Việt Nam thật đáng tự hào!




Jun 12, 2020

Bản Phúc trình thiếu khách quan, thông tin sai lệch



Tre Việt – Sau khi Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố bản Báo cáo Phúc trình thường niên năm 2019 về tự do tôn giáo. Ngày 11/6/2020, kênh VOA tiếng Việt có bài viết: “Việt Nam tiếp tục sách nhiễu các nhóm tôn giáo chưa được công nhận”. Trong bài viết đã trích dẫn, nêu lên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam từ Bản Phúc trình. Điều này, làm ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế; ảnh hưởng đến mối quan hệ ngoại giao đang phát triển tốt đẹp giữa Chính phủ và nhân dân hai nước Việt Nam – Hoa Kỳ. Bởi, những thông tin trong Bản Phúc trình đã không phản ánh đúng thực tế tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam.
Những năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn thực hiện chính sách nhất quán là tôn trọng, đảm bảo quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng và tự do không tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Điều này, được thể hiện rõ trong Hiến pháp, pháp luật của nước ta và được thực thi trên thực tế. Gần đây nhất, Việt nam đã thông qua Luật Tín ngưỡng, tôn giáo và các nghị định hướng dẫn thi hành Luật. Đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 200 nghìn chức sắc, chức việc tôn giáo, có khoảng 26 triệu tín đồ và 29 nghìn cơ sở thờ tự đang hoạt động bình thường trên lãnh thổ Việt Nam. Việt Nam cũng đã đăng cai, tổ chức thành công nhiều sự kiện hoạt động tôn giáo lớn của thế giới, như: Kỷ niệm 500 năm Cải chánh đạo Tin lành (2017), Đại Lễ Phật đản Liên Hợp quốc Vesak (2019),... được các tổ chức tôn giáo quốc tế ghi nhận, đánh giá cao.
Thực tế là vậy, song Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại chỉ dựa vào những thông tin một chiều, không có cơ sở, thiếu khách quan, sai lệch từ phản ánh, báo cáo của một số cá nhân, nhóm, tổ chức tôn giáo không chính thống, chưa được cấp phép hoạt động ở Việt Nam. Chính trong Bản Phúc trình đã thừa nhận vấn đề này: “các nhà lãnh đạo tôn giáo, đặc biệt là những người đại diện cho các nhóm không được chính thức công nhận hoặc chưa được cấp giấy chứng nhận đăng ký”. Vì thế, không thể coi những thông tin, báo cáo phản ánh của họ đại diện cho bất cứ tôn giáo hay hoạt động tôn giáo nào ở Việt Nam. Thậm chí những cá nhân, nhóm, tổ chức này còn núp bóng, lợi dụng tự do tôn giáo, tín ngưỡng để có những hoạt động vi phạm pháp luật Việt Nam, như: tuyên truyền, xúi giục, lôi kéo, kích động biểu tình, có các hoạt động lật đổ chế độ xã hội, chống phá Nhà nước. Và đương nhiên, khi họ vi phạm pháp luật thì sẽ bị các cơ quan thực thi pháp luật điều tra, xét xử, xử lý nghiêm minh là điều hoàn toàn bình thường, không chỉ riêng ở Việt Nam mà với bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều như vậy.
Việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ chỉ dựa trên những thông tin thiếu khách quan, sai lệch để quy chụp, đánh giá tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam là điều đáng tiếc, cần bị phê phán và không thể tái diễn trong thời gian tới./.

Jun 8, 2020

Cả thế giới ghi nhận, đánh giá cao Việt Nam vậy sao Văn phòng OHCHR lại không thấy?


 Tre Việt - Ngày 03/6, Văn phòng Cao ủy nhân quyền Liên Hiệp Quốc (OHCHR) có báo cáo “Về tình trạng vi phạm quyền tự do biểu đạt trong mùa dịch Covid-19 ở 12 quốc gia châu Á-Thái Bình Dương”. Michelle Bachelet, lãnh đạo Văn phòng OHCHR, cho biết: các quốc gia này đã gia tăng việc bắt bớ người dân một cách tùy tiện khi họ lên tiếng chỉ trích chính phủ, hoặc chia sẻ thông tin, quan điểm cá nhân về đại dịch, với cáo buộc là loan truyền “thông tin sai lệch” trên mạng xã hội.
Đáng chú ý, khi nhắc tới Việt Nam, Văn phòng OHCHR thông báo: “Kể từ khi bắt đầu đại dịch, nhà chức trách ở Việt Nam loan báo có hơn 600 người dùng Facebook đã bị triệu tập, thẩm vấn liên quan đến việc chia sẻ thông tin về dịch bệnh trên mạng xã hội. Nhiều người trong số họ đã bị xử phạt hành chính và nhiều bài viết đã bị xóa”. Văn phòng OHCHR cho biết thêm rằng: tính đến thời điểm này, có ít nhất 2 người ở Việt Nam bị tuyên án hay khởi tố hình sự với mức án 9 tháng tù giam và phạt hành chính hơn 1.000 đôla vì đăng tải thông tin bị cho là “sai lệch” về dịch Covid-19, v.v.
Thay vì lên tiếng ủng hộ và khen ngợi những thành tựu Việt Nam đã đạt được trong phòng, chống đại dịch Coovid-19, bản báo cáo lại có những thông tin xuyên tạc sai sự thật, ảnh hưởng lớn tới uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế. Những vấn đề mà Văn phòng OHCHR nhắc tới là việc thái độ nghiêm khắc của chính quyền Việt Nam khi xử lý các đối tượng đưa tin sai sự thật về dịch Covid-19. Việc xử lý, thậm chí là xử lý hình sự với các trường hợp này là hết sức cần thiết, bởi lẽ, việc đưa tin sai sự thật, tung tin đồn thất thiệt không chỉ làm nhiễu loạn thông tin, tạo tâm lý hoang mang mà còn gây nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch Covid-19.
Tre Việt thấy rằng, thời gian qua, trong bối cảnh cả nước đang căng mình phòng, chống dịch, rất nhiều các đối tượng đã lợi dụng sự quan tâm của người dân đối với những diễn biết phức tạp của dịch bệnh ở trong nước cũng như thế giới, chúng thiết lập nhiều trang mạng, hội nhóm, tài khoản Facebook,… để tán phát, chia sẻ các bài viết, hình ảnh, video clip có nội dung xuyên tạc, bịa đặt, kích động về tình hình dịch bệnh tại Việt Nam; đưa ra các thông tin gây sốc về số người chết do nhiễm Covid-19 tại Việt Nam, hướng dẫn cách chữa trị tại nhà như uống rượu, tắm cây sả,… từ đó kêu gọi tự chữa bệnh tại nhà, tẩy chay hướng dẫn khuyến cáo của Bộ Y tế. Ngoài ra, lợi dụng “khoảng trống thông tin” trên các trang mạng chính thống, chúng còn lồng ghép các thông tin xuyên tạc bịa đặt, gây hoang mang trong dư luận xã hội. Nhiều trường hợp do thiếu hiểu biết đã góp nhặt, chia sẻ nhiều thông tin sai sự thật, thậm chí là thông tin của các trang mạng phản động trên trang Facebook cá nhân, vô tình tiếp tay cho việc lan truyền thông tin sai sự thật trên không gian mạng. Những thông tin trên gây hoang mang dư luận, khiến cho người dân hoảng loạn, đổ xô đi tích trữ hàng hóa, thực phẩm, thuốc men, chạy trốn khỏi vùng dịch, gây rất nhiều khó khăn cho công tác phòng, chống dịch của địa phương và các cơ quan chức năng. Vì vậy, nếu như chúng ta không xử lý nghiêm, có sức răn đe, thì hậu quả của nó sẽ rất lớn. Chúng ta thấy rằng, trước diễn biến phức tạp của dịch bệnh, Đảng, Nhà nước, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương và Quân đội đã quyết liệt chỉ đạo công tác phòng, chống dịch bệnh với tinh thần: “chống dịch như chống giặc”, “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Nhờ sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị và sự đồng lòng của toàn dân; cùng với những quyết định nghiêm khắc như thế, bước đầu Việt Nam đã đẩy lùi đại dịch, tránh được sự tàn phá khủng khiếp do dịch Covid-19 gây ra; trở thành điểm sáng của thế giới trong phòng, chống dịch Covid-19 thời gian vừa qua.
Từ những phân tích ở trên, Tre Việt thấy rằng, Văn phòng OHCHR thay vì “bới vết tìm sâu”, cố xuyên tạc, nhìn nhận thiếu khách quan để làm giảm uy tín và những thành công của Việt Nam trong cuộc chiến chống dịch Cooovid-19, hãy lo lắng cho số phận của hàng triệu người dân Mỹ trong cuộc biểu tình, đang bị tước bỏ quyền con người, quyền công dân từ hệ lụy của nạn phân biệt chủng tộc gây ra. Đó mới đúng thực chất của một tổ chức nhân quyền.


Jun 7, 2020

Bị “mù”!



          Tre Việt - Ngày 04/06/20200, trên trang mạng Chân trời mới Media- Âu Châu có bài viết: “ĐCSVN có yêu nước không? và yêu nước là gì?” của Phạm Phú Khải. Trong bài viết này, ông ta cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “chỉ phá hoại đất nước về mọi mặt hơn 80 năm qua, làm kiệt quệ tinh thần và niềm tin của bao thế hệ vào tương lai tươi sáng của dân tộc Việt Nam”(!).
          Cần phải khẳng định ngay rằng, đây là nhận định của một kẻ chống cộng, chống Việt Nam cực đoan, luôn tìm mọi cách để xuyên tạc, bôi nhọ bản chất, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong tiến trình lãnh đạo đất nước hơn 80 năm qua. Y không thấy (chịu thấy), hay bị “mù”?
          Cả lý luận và thực tiễn, đã chứng minh rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sản phẩm tất yếu khách quan. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa lý luận Mác Xít, phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Đó là Đảng của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của cả dân tộc Việt Nam. Trong hoạt động, Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng. Đảng và các đảng viên của Đảng không có mục đích nào khác là vì nước, vì dân, vì khát vọng độc lập, tự do, hòa bình, thống nhất, dân chủ, văn minh của dân tộc Việt Nam và các dân tộc trên thế giới. Vì thế, ngay từ khi ra đời (03/02/1930), Đảng Cộng sản Việt Nam đã đề ra cương lĩnh, đường lối chính trị, phương pháp, hình thức tổ chức tập hợp lực lượng, đấu tranh cách mạng phù hợp, nên được nhân dân Việt Nam tin tưởng, trao quyền lãnh đạo và nguyện đoàn kết, một lòng đi theo Đảng để đấu tranh, đánh đổ áp bức, cường quyền, giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc, đất nước và chính mình.
          Với tinh thần khiêm tốn, nhân dân Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới luôn tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam.
          Năm 1945, khi mới 15 tuổi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân Việt Nam đánh đổ ách thống trị hàng ngàn năm của giai cấp phong kiến thối nát và hơn 80 năm của thực dân Pháp. Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa ra đời, đất nước Việt Nam có tên trên bản đồ thế giới. Người dân Việt Nam được giải phóng khỏi ách áp bức, nô lệ của chế độ thực dân, phong kiến, giành được quyền làm người, quyền quyết định vận mệnh của dân tộc và chính mình. Đất nước mới giành được độc lập, tự do, với biết bao khó khăn, thách thức nghiêm trọng, đặc biệt thực dân Pháp quay lại xâm lược Việt Nam, nhằm biến đất nước ta thành thuộc địa, đặt ách nô lệ lên nhân dân ta một lần nữa. Nền độc lập của dân tộc, quyền tự do, dân chủ của nhân dân bị đe dọa. Nhân ta quyết không chịu. Dân tộc Việt Nam lại đoàn kết, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để vừa “kháng chiến, vừa kiến quốc”, bảo vệ nền độc lập, tự do. Trải qua 9 năm kháng chiến trường kỳ, năm 1954, bằng chiến thắng “nên vành hoa đỏ, nên thiên sử vàng” - Điện Biên Phủ, nhân dân Việt Nam đã đánh tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chúng phải ký hiệp định Paris, chấm dứt chiến tranh, rút quân về nước. Những tưởng đất nước Việt Nam đã hoàn toàn hòa bình, thống nhất, nhưng không đế quốc Mỹ đã nhảy vào miền Nam Việt Nam, xây dựng chính quyền bù nhìn, âm mưu xâm lược đặt ách nộ lệ kiểu mới trên đất nước ta.
          Một lần nữa, dân tộc Việt Nam lại tin tưởng trao quyền lãnh đạo cho Đảng Cộng sản Việt Nam, lãnh đạo toàn dân đứng lên để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” để Nam Bắc xum họp, đất nước thống nhất, hòa bình. Trải qua 21 năm, với biết bao đâu thương, mất mát, năm 1975, “Mỹ đã cút, ngụy đã nhào” dân tộc, đất nước Việt Nam giành được độc lập, thống nhất, cả nước tiến lên làm cuộc cách mạng mới, cách mạng xã hội chủ nghĩa. Nhưng, các thế lực bành trướng, bá quyền nước lớn và chế độ diệt chủng Pon Pốt lại một lần nữa âm mưu xâm chiến bờ cõi. Từ năm 1975 đến năm 1989, dân tộc Việt Nam lại phải vừa chống quân bành trướng bá quyền nước lớn ở phía Bắc, vừa tiến hành cuộc tự vệ ở biên giới phía Tây Nam Tổ quộc và giúp nhân dân Campuchia thoát khỏi họa diệt chủng.
          Năm 1986, trước những biến cố lớn lao của thời cuộc, nước Việt lại một lần nữa đổi mới để phát triển. Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đến nay, sau gần 35 năm đổi mới, Việt Nam đã có thế và lực hoàn toàn mới. Việt Nam không chỉ là một thành viên của Liên hợp quốc, của ASEAN và nhiều tổ chức có uy tín trên tế giới, mà là một thành viên có trách nhiệm, vì hòa hợp, hòa giải, hòa bình và phát triển trong khu vực Châu Á-Thái Bình Dương và trên thế giới. Việt Nam từ một đất nước nô lệ, đói nghèo, vươn lên trở thành một nước có thu nhập trung bình trên thế giới, v.v. Vì thế, nhân dân Việt Nam luôn tự hào về Đảng Cộng sản Việt Nam - tổ chức chính trị của những người cộng sản, nhân dân lao động và cả dân tộc, đã dẫn dắt để đất nước Việt ta có ngày hôm nay. Trong chống dịch Covid-19, Việt Nam trở thành điểm sáng được các tổ chức quốc tế, các quốc gia ngợi ca. Đó chẳng phải thành quả lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, điều hành của Chính phủ Việt Nam đó sao? Thế mà Phạm Phú Khải lại cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không làm được gì là sao?
          Xin hỏi, nếu không vì nước, vì dân thì làm sao có những thành tựu như vậy?
          Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử của dân tộc Việt Nam thời đại Hồ Chí Minh bắt nguồn từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là thực tế khách quan, ai cũng thấy, chỉ có Phạm Phú Khải không thấy mà thôi. Vì thế nói Y bị “mù” chẳng sai chút nào!./.

Jun 6, 2020

Vài tổ chức Tin lành có nguồn gốc từ Hàn Quốc hoạt động phức tạp về an ninh, trật tự ở nước ta thời gian qua



Tre Việt đã có bài tổng quan về Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động ở Việt Nam, xin tiếp tục giới thiệu vài tổ chức Tin lành có nguồn gốc từ Hàn Quốc hoạt động gây mất an ninh,  trật tự ở nước ta thời gian qua để bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn, nâng cao cảnh giác.
“Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ”
Đây là tổ chức đã được các phương tiện thông tin đại chúng đề cập nhiều trong thời gian qua. Nay Tre Việt tổng quan để bạn đọc có cái nhìn cụ thể hơn. “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ” thuộc tổ chức “Hội thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin lành thế giới” có trụ sở tại Hàn Quốc. Tổ chức này coi ông Ahn Sahng Hong là “Đức Chúa Trời Cha” và bà Jang Gil Ja là “Đức Chúa Trời Mẹ”, không tổ chức lễ Giáng sinh, không thờ cây thánh giá, trong hình thức sinh hoạt có nhiều điểm mang yếu tố mê tín dị đoan, bất minh về tài chính và việc thu tiền của người tin theo. “Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ” bị các tổ chức Tin lành chính thống ở Hàn Quốc “tẩy chay” và coi tổ chức này là tà giáo. Từ năm 2014-2017, nhiều gia đình tại Hàn Quốc và một số tín đồ rời bỏ tổ chức này đã gửi đơn tố cáo, khiếu kiện tổ chức này gây chia rẽ, phá vỡ hạnh phúc gia đình, lừa đảo, trốn thuế.
Tại Việt Nam, giáo phái này xuất hiện từ năm 2001 nhưng đến năm 2016 mới bắt đầu phát triển mạnh. Tổ chức này đã sử dụng nhiều cách để truyền giáo một cách trái pháp luật, như: phân công người đi các địa phương truyền đạo, sử dụng danh nghĩa công ty kinh doanh, giới thiệu việc làm để truyền giáo và đã lôi kéo được khoảng 5.000 người tham gia. Từ năm 2017 đến 2018, tổ chức này phát triển mạnh tại Việt Nam và có nhiều hoạt động vi phạm pháp luật, gây mất an ninh, trật tự. Phần lớn hoạt động của tổ chức này có nhiều mặt tiêu cực, trái với phong tục, tập quán, đạo đức xã hội Việt Nam, có biểu hiện mê tín dị đoan, lợi dụng giáo lý để trục lợi cá nhân. Hoạt động của tổ chức này đã gây ra dư luận xấu tại Việt Nam. Nhiều gia đình có vợ, chồng, con đi theo tổ chức này đã gửi đơn tố cáo đến các cấp chính quyền đề nghị cấm tổ chức này hoạt động do bức xúc trước việc người thân của họ sau khi theo tổ chức này bỏ bê công việc, vợ chồng mâu thuẫn, ly hôn, sinh viên bỏ học, v.v.
Giáo phái Tân Thiên Địa
Giáo phái Tân Thiên Địa bắt nguồn từ Hàn Quốc, do ông Lee Man Hee sáng lập năm 1984 và tổ chức này coi ông Lee Man Hee là Đấng Giê Su thứ hai được đề cập trong Kinh thánh và sẽ mang tín đồ lên Thiên Đàng cùng mình vào “ngày phán xét”. Những người theo tổ chức này đều tin Lee Man Hee là bất tử; thời đại của Lee Man Hee là dấu hiệu của ngày tận thế nên phải tin Lee Man Hee thì mới thoát khỏi đại nạn và không bị phán xét. Các tín đồ của tổ chức cũng là người được Chúa lựa chọn, để có được cuộc sống vĩnh cửu, các tín đồ không được coi trọng gia đình, phải tập trung vào nhà thờ, có thể từ bỏ luật pháp, luân lý, đạo đức, gia đình và cả thể xác nhưng phải tin tưởng và tuyệt đối chấp hành các quy định của giáo phái.
Tổ chức này hoạt động lén lút, bí mật; thường lấy danh nghĩa của các tổ chức phúc lợi công cộng, hỗ trợ nhân đạo để truyền giáo, lôi kéo tín đồ của các tổ chức Tin lành hợp pháp. Những người sau khi tin theo phải đóng 40% thu nhập cá nhân, hoàn thành các chỉ tiêu tuyển thành viên hằng năm, nếu không sẽ bị phạt. Tổ chức này thường lấy phương thức tác động tư tưởng, lấy “ngày tận thế” để hù dọa, ràng buộc tín đồ. Tại Hàn Quốc các tổ chức Tin lành chính thống tẩy chay tổ chức này và coi nó là tà giáo. Nhiều tín đồ Tân Thiên Địa tìm cách bỏ giáo phái do không chịu được giáo lý cực đoan, nghi lễ hà khắc, nhất là việc khuyến khích tín đồ nói dối, từ bỏ gia đình để đi theo giáo chủ. Đáng chú ý thời gian gần đây, liên quan đến đại dịch Covid-19 tại Hàn Quốc, nhiều tín đồ Tân Thiên Địa mang tư tưởng nhiễm virus nhưng không đến bệnh viện mà đến nhà thờ xin tha tội và chữa bệnh. Điều này khiến bệnh dịch tại Hàn Quốc lây nhiễm phức tạp (khoảng 60% ca lây nhiễm liên quan đến tổ chức Tân Thiên Địa). Ngày 01/3/2020, chính quyền thành phố Seoul đã đề nghị khởi tố Ban lãnh đạo Tân Thiên Địa với các cáo buộc giết người, cố ý gây thương tích, vi phạm phòng ngừa bệnh truyền nhiễm.
Tre Việt giới thiệu vài nét thế để mọi người biết và tránh xa các tổ chức này./.


Vài nét về các tổ chức Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động ở Việt Nam



Tre Việt - Các thế lực thù địch đang ráo riết thực hiện chiến lược “diễn biến hoà bình” nhằm lật đổ chế độ chính trị ở Việt Nam trên tất cả các lĩnh vực. Trên lĩnh vực tôn giáo, chiến lược “Diễn biến hòa bình” được cụ thể hóa thành nhiều nội dung cụ thể, trong đó hoạt động lợi dụng vấn đề tự do tôn giáo gắn với vấn đề nhân quyền và dân chủ được coi là một trọng điểm, một khâu đột phá, một mũi tiến công thường trực và xuyên suốt. Trong đó, lợi dụng Tin lành để chống phá là một trọng điểm. Tre Việt giới thiệu một số nét về các tổ chức Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động ở nước ta để bạn đọc nâng cao cảnh giác.
Đến tháng 4/2019, Việt Nam có hơn 1,12 triệu người theo đạo Tin lành, trong đó có trên 855.000 người của hơn 40 dân tộc thiểu số, đông nhất là các dân tộc Mông (270.000 người), Êđê (124.000 người), Jrai (99.000 người), K’ho (67.000 người), S’Tiêng (60.000); dân tộc Xuồng được cho là dân tộc mới có người mới theo đạo. Có 10 tổ chức Tin lành có pháp nhân, 3 tổ chức được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo và khoảng 70 tổ chức, nhóm Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động; 2.253 chức sắc, 6.851 chức việc, 757 tổ chức tôn giáo trực thuộc, 576 nhà thờ, 5.456 điểm nhóm (3.309 điểm nhóm đã được cấp đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung, chiếm 60,64%); khoảng 8.500 người nước ngoài sinh hoạt tôn giáo tại 49 điểm nhóm. Trong số 70 tổ chức đạo Tin lành chưa được cấp đăng ký hoạt động có gần 200.000 tín đồ; trong đó, có không ít các tổ chức Tin lành du nhập từ nước ngoài vào Việt Nam. Các tổ chức này không có cơ sở thờ tự; chức sắc chủ yếu do tự phong và khác nhau về tiêu chuẩn; nhiều tổ chức khai trình có cả trăm ngàn tín đồ, có nhóm chỉ có vài chục người; trụ sở chủ yếu tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhưng địa bàn hoạt động chủ yếu thuộc khu vực Tây Nguyên, miền núi phía Bắc; quan hệ quốc tế đa dạng.
Sự xuất hiện của các tổ chức Tin lành nước ngoài tại Việt Nam xuất phát từ nhiều lý do như: sự mở cửa hội nhập của đất nước, sự mở rộng giao lưu văn hóa, sự tìm kiếm và phát triển tới các địa bàn mới (trong đó có Việt Nam) của các tổ chức Tin lành nước ngoài, v.v. Đa số các tổ chức hoạt động khá tự do, chấp hành pháp luật ở mức thấp (vì chưa được công nhận), sinh hoạt chủ yếu theo điểm nhóm, do không có nhà thờ nên sinh hoạt chủ yếu tại các tư gia, địa điểm công cộng (nhà hàng, khách sạn, công viên...). Nhiều tổ chức Tin lành nước ngoài chưa được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo đã hoạt động truyền đạo trái pháp luật, sinh hoạt đạo trái pháp luật, v.v. Một số tổ chức Tin lành (chủ yếu có nguồn gốc từ Hàn Quốc) có hệ thống giáo lý không đúng Kinh thánh, lễ nghi và tín lý trái với văn hóa truyền thống Việt Nam, như: “Hội thánh của Đức Chúa trời Mẹ”, “Ân điển cứu rỗi”, “Cây táo”, v.v. có biểu hiện mê tín dị đoan, gây chia rẽ gia đình, xã hội, xung đột với các hội thánh Tin lành truyền thống, làm phức tạp tình hình an ninh, trật tự. Nhiều tổ chức Tin lành nước ngoài hoạt động lén lút, bí mật, lợi dụng danh nghĩa các công ty, tổ chức giáo dục, đào tạo, NGO để tuyên truyền, phát triển đạo trái pháp luật.
Tre Việt giới thiệu vài nét thế để bạn đọc biết đề cao cảnh giác, không mắc mưu của các tổ chức này./.


Jun 3, 2020

Càng bới móc, xỏ xiên, thành công của Việt Nam càng nổi bật



Tre Việt - Ngày 02/6/2020, kênh VOA tiếng Việt có bài: “Nhà nước độc Đảng chống giặc COVID: Câu chuyện thành công ít được chú ý của Việt Nam”. Mặc dù bài viết đã ít nhiều ca ngợi thành công của Việt Nam trong việc phòng, chống đại dịch COVID-19, song vẫn có ý mỉa mai, xỏ xiên về những biện pháp phòng, chống dịch của Việt Nam, khi cho rằng: “thành công của Việt Nam có được là nhờ những biện pháp mạnh tay”, “nhờ sự độc đoán của chính quyền,…”, v.v.
Trước hết, cần khẳng định ngay rằng, Đảng, Nhà nước, Chính phủ và chính quyền các cấp luôn luôn hành động vì lợi ích quốc gia, dân tộc và sức khỏe của nhân dân. Chính vì thế, ngay khi đại dịch bùng phát, chúng ta đã xác định “chống dịch như chống giặc” và huy động sự vào cuộc đồng bộ, quyết liệt của cả hệ thống chính trị và toàn dân để ngăn chặn, hạn chế sự lây lan của dịch bệnh trong cộng đồng, để sớm khống chế, đẩy lùi dịch bệnh, giữ vững ổn định chính trị, xã hội và sức khỏe của nhân dân. Nhờ đó, đến nay, có thể tự hào nói rằng, Việt Nam đã khống chế, đẩy lùi đại dịch COVID-19. Việt Nam là quốc gia vừa có tình hình sức khỏe cộng đồng cùng tình hình kinh tế - xã hội tốt nhất trong phòng chống dịch; là quốc gia đông dân nhất chưa ghi nhận bất kỳ trường hợp tử vong nào do COVID-19. Thành công của Việt Nam trong phòng chống dịch đã mang lại lợi ích cho quốc gia, dân tộc và sức khỏe của nhân dân. Việt Nam là quốc gia đi đầu thế giới trong việc đẩy lùi dịch bệnh, bắt tay vào phát triển kinh tế - xã hội, ổn định cuộc sống nhân dân theo trạng thái bình thường mới. Điều này chứng tỏ, Việt Nam đã hành động đúng với những biện pháp phù hợp, hiệu quả.
Những biện pháp, cách làm trong phòng, chống dịch của Việt Nam còn được các tổ chức quốc tế khảo sát, thăm dò, đánh giá một cách khách quan. Theo kết quả của cuộc khảo sát toàn cầu, do cơ quan nghiên cứu xã hội hàng đầu của Singapore Blackbox Research và công ty Toluna thuộc Tập đoàn ITWP chuyên thu thập dữ liệu nghiên cứu thị trường tiến hành thì: Việt Nam đứng thứ hai thế giới và đứng đầu khu vực Đông Nam Á về mức độ hài lòng của người dân đối với các biện pháp của Chính phủ trong việc phòng, chống dịch viêm đường hô hấp cấp COVID-19. Đây chính là câu trả lời thỏa đáng cho cả thế giới biết rằng: Việt Nam có mạnh tay, có độc đoán hay không?
Hơn thế nữa, không những làm tốt việc phòng, chống dịch ở trong nước mà Việt Nam còn ủng hộ vật tư, trang thiết bị y tế cho các nước bạn bè; chuyển hướng sản xuất phù hợp, như: khẩu trang, đồ bảo hộ,… góp phần bổ sung, khắc phục tình trang khan hiếm, thiếu nguồn cung trang thiết bị y tế trong phòng, chống dịch trên thế giới, được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Vì thế, vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao là điều không thể phủ nhận.
Chỉ những thế lực vốn có thâm thù với chế độ, nhân dân Việt Nam mới cho rằng các biện pháp của Đảng, Nhà nước ta là mạnh tay, là độc đoán mà thôi. Bởi, bản chất của chúng là luôn tìm mọi cách để xỏ xiên, bới móc, chống phá. Nhưng hành động đó sẽ trở nên vô nghĩa và càng làm nổi bật thêm thành công của Việt Nam trong phòng, chống dịch COVID-19./.

May 27, 2020

Sao dễ thay đổi?



Tre Việt - Ông C. gần nhà tôi bảo: Chú cần thông tin gì cứ đi bộ với các cụ hưu chúng tôi sẽ nghe được mọi chuyện, chả phải đi đâu xa. Nghe có lý. Chiều ấy, tôi tham gia đi bộ cùng các cụ, vừa đi bộ vừa nói chuyện rôm rả. Đủ thứ chuyện từ nhà ra thế giới, có tất. Từ chuyện ông hàng xóm thả rông gia súc gây mất vệ sinh, tay Y. trông to khỏe thế mà mới bị bệnh đái tháo đường, chuyện sắp tới đại hội đảng ông này nghỉ ông kia lên thay, v.v. Khi nói đến chuyện học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với tấm gương hiến đất làm đường giao thông của ông M ở tỉnh X, ông B. lên tiếng các ông ạ: từ khi thực hiện Chỉ thị 03 rồi đến Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị về học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, tình hình có nhiều chuyển biến tích cực. Bầu không khí xã hội trong lành hơn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần trách nhiệm, thái độ, tác phong, lề lối làm việc của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức được nâng lên. Nó được biểu hiện bằng việc làm cụ thể, thiết thực trong công việc, trong đời sống thường ngày; đặc biệt việc phòng, chống tham nhũng cũng vì thế giảm đáng kể, ai cũng  mừng.
Ông B. vừa dứt lời thì ông T. lên tiếng: các ông lại nói theo báo cáo rồi, thực tế còn lâu mới được như thế. Hồi còn công tác tôi biết, hầu hết là làm hình thức, chiếu lệ, cán bộ, đảng viên nào hằng năm chả đăng ký học tập và làm theo Bác, nhưng đăng ký xong cất trong ngăn tủ; rồi thì hằng tháng tại buổi sinh hoạt chi bộ, đảng viên tự đánh giá làm được gì, chưa làm được gì nhưng thử hỏi nơi nào làm được như thế, các ông chỉ cho tôi xem! Nói cho hay thôi. Nói thật nhá, ngày còn công tác tôi cũng thế, không thế cấp trên kiểm điểm, dại gì. Tình trạng tham nhũng, lãng phí càng chống càng phát triển mạnh, lãnh đạo to ăn to, lãnh đạo bé ăn bé. Cơ chế này không chống được đâu.
Nghe tới đây, ông H. lên tiếng: anh nói cũng có phần đúng. Tôi cũng nghĩ rằng còn có nơi làm chưa tốt, còn có cán bộ, đảng viên chưa xem việc học và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh là việc làm có ý nghĩa thiết thực. Nhưng phải khẳng định rằng, việc thực hiện Chỉ thị 05 của Bộ Chính trị là có hiệu quả rõ rệt trong Đảng, trong xã hội. Những điều như ông nói chỉ là số ít. Còn tình trạng tham nhũng, lãng phí, Đảng ta đã làm quyết liệt, không có vùng cấm. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng đã nói “lò đang nóng, củi tươi cũng cháy”. Bằng chứng là hàng loạt lãnh đạo cấp cao, kể cả Ủy viên Bộ Chính trị cũng bị xử lý bằng pháp luật. Vậy nên, không vì một vài nơi thực hiện chưa tốt mà lại “vơ đũa cả nắm” ông ạ!.
Ông P. thêm vào: trước đây, tôi đã được nghe ông phát biểu tại nhiều hội nghị về học và làm theo Bác, nhiều người khen hay và có sức thuyết phục lắm. Soi vào, tôi cũng thấy ngày ấy ông nói đúng thực tế đang diễn ra. Về tình hình tham nhũng, cũng chính ông đưa ra bao nhiêu dẫn chứng thể hiện quyết tâm chống tham nhũng của Đảng và Nhà nước ta. Thế mà giờ ông mất niềm tin, đã thế nói giọng tiêu cực, ngược lại hoàn toàn khi đang công tác. Tôi chỉ là đảng viên thường, chả có chức sắc gì, nhưng tôi nghĩ, dù chúng ta nghỉ hưu rồi, trách nhiệm của đảng viên với Đảng, với Nhân dân thì không thể thay đổi, nếu không muốn nói là phải gương mẫu để quần chúng học tập, noi theo, sao có thể tùy tiện nói thế nào cũng được, nhất là vấn đề mà toàn Đảng, toàn dân đang nỗ lực thực hiện trong nhiều năm qua. Thử hỏi quần chúng nghe được họ sẽ nghĩ như thế nào về chúng ta? Họ sẽ mất niềm tin vào cán bộ, đảng viên, nguy hại hơn là mất niềm tin vào Đảng, Nhà nước. Vì thế, dù nghỉ hưu thì chúng ta vẫn phải chuẩn mực từ lời nói đến hành động phải không ông?
Kết thúc buổi đi bộ cùng các cụ hưu, trong tôi nỗi buồn, niềm vui đan xen. Buồn vì có những cán bộ, đảng viên khi còn đương chức nói một đằng, khi nghỉ hưu lại nói nẻo khác. Đó chính là biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đã chỉ ra. Vui, bởi vẫn còn nhiều đảng viên dám thẳng thắn đấu tranh với những quan điểm sai trái, những suy nghĩ lệch lạc ngay với những người bên cạnh mình chứ chẳng phải đâu xa./.