Sep 18, 2023

Việt Nam Thời Báo cố tình cổ xúy cho tà giáo

           Tre Việt – Ngày 18/9, trang facebook Việt Nam Thời Báo (VNTB), đăng bài “Không vi phạm vẫn thu hồi giấy phép” của Nguyễn Nam, rêu rao: “mặc dù không có bất kỳ sai phạm gì, họ vẫn sẽ bị hủy các thủ tục đã được cấp giấy phép hoạt động sinh hoạt tôn giáo”.

Đây là hành động cổ xúy cho những hoạt động mang tính chất tà đạo là Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ tại Việt Nam.

"Tà giáo" Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ
truyền đạo trái phép

Theo thông tin của Ban Tôn giáo Chính phủ, gần đây Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ (tên gọi quốc tế và đầy đủ là Hội thánh của Đức Chúa Trời Hiệp hội Truyền giáo Tin Lành Thế giới) đã phục hồi trở lại. Đây là giáo phái mang danh tôn giáo nhưng hoạt động theo mô hình đa cấp, lợi dụng tín điều về ngày tận thế trong Kinh Thánh để gieo rắc nỗi sợ hãi cho người tin theo, làm cho họ nhận thức người thân là ma quỷ, quay lưng lại với gia đình, bỏ việc làm và học tập, biến mình thành công cụ tuyên truyền và kiếm tiền cho tổ chức.

Sự phục hồi của tổ chức này đã được Ban Tôn giáo Chính phủ cảnh báo từ năm 2021 và tham mưu lãnh đạo Bộ Nội vụ ban hành văn bản hướng dẫn ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tăng cường công tác ngăn chặn, xử lý nghiêm hành vi tuyên truyền, lôi kéo người tin theo, giải tán các tụ điểm nhóm họp trái pháp luật, không chấp thuận hoạt động dưới mọi hình thức, bao gồm đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung và các hình thức núp bóng, trá hình, như: thành lập công ty, văn phòng, cửa hàng, câu lạc bộ, hội nghị, hội thảo, v.v.

Cũng theo Ban Tôn giáo Chính phủ, giáo phái này dùng nhiều thủ đoạn và phương thức khác nhau để tiếp cận người mới. Độc ác nhất là việc hướng dẫn người tin theo lợi dụng mối quan hệ thân tín với gia đình, bạn bè, người quen, đồng nghiệp,... dụ dỗ, lôi kéo thêm người tham gia, làm tan vỡ các mối quan hệ vốn là nền tảng của sự ổn định, trật tự trong gia đình và xã hội, tạo nên những mất mát niềm tin và nỗi đau cho mọi người xung quanh.

Tổ chức này cũng bất chấp quy định của pháp luật khi tự cho mình là mẫu mực đúng đắn, và cho rằng mọi tín ngưỡng, tôn giáo khác đều là “tà”, đây là hành vi vi phạm quy định của pháp luật gây chia rẽ, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo, chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo. Việc trục lợi trên đức tin, mang danh tôn giáo nhưng hoạt động trái với đạo đức tốt đẹp của xã hội, tôn giáo, vi phạm pháp luật đã bị xã hội và nhiều chức sắc, chức việc các tôn giáo lên tiếng phản đối.

Năm 2012, Hội đồng Quốc gia các Giáo hội tôn giáo Hàn Quốc tuyên bố, Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ là một giáo phái đa thần, phạm thượng. Tòa thánh Roma (Ý) đã ra nhiều văn thư lên án các sai lạc trong giải thích Kinh Thánh của Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ, coi đây là một lạc giáo. Đây cũng là quan điểm chung của nhiều Hội thánh Tin Lành ở Việt Nam.

Gần đây Hội thánh của Đức Chúa Trời Mẹ đã phục hồi trở lại với nhiều phương thức tinh vi, khó phát hiện, thông qua các nhóm bạn thân, mời tham gia câu lạc bộ, hoạt động ngoại khóa, huấn luyện kỹ năng, hướng nghiệp và sử dụng các vỏ bọc, như: cửa hàng bảo hiểm, phòng khám tư, quán cà phê, căn hộ cao cấp,… nhằm qua mắt lực lượng chức năng.

Với tất cả những gì tổ chức này gây ra cho xã hội, có tính hệ thống và phổ biến, bản chất “tà giáo của Hội thánh Đức Chúa Trời Mẹ” đã bộc lộ rõ nét và không thể chối cãi. Điều đó, hoàn toàn trái ngược với những  luận điệu “mặc dù không có bất kỳ sai phạm gì, họ vẫn sẽ bị hủy các thủ tục đã được cấp giấy phép hoạt động sinh hoạt tôn giáo” mà Việt Nam Thời báo bao biện, xuyên tạc.

Người dân Việt Nam vốn rất khoan dung tôn giáo nhưng cũng rất nghiêm khắc, không dung thứ với các hoạt động đi ngược lại chuẩn mực giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc, trong đó có đạo đức tốt đẹp của các tôn giáo. Pháp luật Việt Nam không cho phép các tổ chức dạng này được hoạt động tại Việt Nam dưới bất kỳ hình thức nào./.

 

“Giáo sư Tương Lai” vẫn chứng nào tật nấy

          Tre Việt - Ngày 14/9, kênh tiếng Việt, Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài: “GS Tương Lai: Bắt bớ trí thức là tín hiệu xấu, buồn, đáng hổ thẹn và phải được chấm dứt”. Nội dung bài viết đã chỉ trích rằng việc chính quyền Việt Nam bắt bớ trí thức và đàn áp quyền tự do ngôn luận là một điều đáng hổ thẹn. Cuối bài viết, là ý kiến của Giáo sư Tương Lai: “Khi bắt giam trí thức, thì đấy là một thái độ trấn áp, đàn áp dư luận và ngăn chặn cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ”. Điều này cho thấy sự lộng ngôn, hàm hồ của Giáo sư Tương Lai, chứng tỏ ông ta vẫn “chứng nào tật nấy”.

Ở Việt Nam, đội ngũ trí thức là lực lượng đặc biệt quan trọng và luôn có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Từ khi còn hoạt động cách mạng ở nước ngoài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tuyên truyền, vận động những trí thức yêu nước trở về nước phục vụ cách mạng. Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam, Đảng, Nhà nước ta luôn nhận thức, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức; xác định liên minh giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức chính là động lực, sức mạnh của cách mạng. Vì thế, dưới sự lãnh

 đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đặc biệt, sau khi giành được chính quyền, đất nước ta khó khăn về mọi mặt, ngân khố cạn kiệt,… Chủ tịch Hồ Chí Minh đã phát động phong trào quyên góp, ủng hộ của nhân dân cả nước và đã nhận được sự đóng góp, ủng hộ to lớn của các nhà trí thức yêu nước, giúp đất nước từng bước vượt qua khó khăn. Trong công cuộc đổi mới toàn diện đất nước hiện nay, liên minh công - nông - trí thức là hạt nhân, cơ sở của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, tập hợp, thu hút mọi lực lượng yêu nước, tiến bộ vào một mặt trận chung thống nhất vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; trong đó, tầng lớp trí thức có vai trò quan trọng, là những người tiên phong, đi đầu trong các lĩnh vực đòi hỏi có trình độ, kiến thức chuyên môn cao, như: công nghiệp, khoa học và công nghệ, v.v. Do đó, bài viết đề cập: “Bắt bớ trí thức…” là không có cơ sở, không phản ánh đúng thực tế đang diễn ra ở Việt Nam.

Tuy nhiên, thực tế quá trình xây dựng, đổi mới, phát triển đất nước, có một số trí thức đã từng được Đảng, Nhà nước trọng dụng, giao chức, giao quyền, được hưởng bổng lộc, nhưng đến cuối đời lại giở chứng, sinh bất mãn, tiêu cực, lộ rõ bộ mặt cơ hội chính trị. Thậm chí, có hành vi vi phạm pháp luật, tuyên truyền chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền,… buộc các cơ quan thực thi pháp luật phải vào cuộc, điều tra, xét xử nghiêm minh theo quy định của pháp luật. Đây là việc làm hoàn toàn bình thường ở bất kỳ quốc gia nào khi mà công dân vi phạm pháp luật, dù người đó là ai, giữ cương vị gì. Vậy nên Giáo sư Tương Lai trả lời Đài RFA rằng: “Khi bắt giam trí thức, thì đấy là một thái độ trấn áp, đàn áp dư luận và ngăn chặn cuộc đấu tranh cho tự do và dân chủ” là không chính xác, phi lý, vô căn cứ.

Trong khi đó, bản thân ông ta nguyên là Viện trưởng Viện Xã hội học Việt Nam, sau đó làm cố vấn cho Thủ tướng Chính phủ một thời gian. Nhưng đến khi về hưu, không còn chức tước, thì lập tức quay lưng, đòi đa nguyên, đa đảng, lu loa những điều không đúng với thực tế. Đến năm 2017, khi biết sẽ bị khai trừ ra khỏi Đảng, Giáo sư Tương Lai “hùng hồn” tuyên bố bỏ Đảng, hiện nguyên hình là kẻ cơ hội chính trị, “ăn cháo, đá bát”. Bẵng đi một thời gian, những tưởng khi đã “gần đất, xa trời”, ông ta sẽ “quay đầu là bờ”, nhưng không, khi được các thế lực xấu “mớm mồi” ông ta vẫn “chứng nào tật nấy”./.

 

Sep 17, 2023

Nguyên Anh lại nói càn

           Tre Việt - Mới đây, trên trang “Quyenduocbiet.com”, Nguyên Anh đăng bài “Xây dựng CNXH bằng nước bọt!” để phủ nhận sạch trơn những thành tựu trong phát triển kinh tế - xã hội mà Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam đạt được trong gần 40 năm đổi mới. Cần khẳng định rõ: đây là sự xuyên tạc trắng trợn, đặt điều theo kiểu “nói càn” của Nguyên Anh, nhằm mục tiêu chống phá công cuộc đổi mới và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Vì vậy, cần vạch mặt, đấu tranh bác bỏ kiểu “nói càn” của Nguyên Anh.

Thực tiễn minh chứng: trước đổi mới, Việt Nam là một nước nghèo, bị chiến tranh tàn phá nặng nề, cuối những năm 70, đầu những năm 80 của thế kỷ XX, khủng hoảng kinh tế - xã hội diễn ra gay gắt, tỉ lệ lạm pháp có lúc lên đến 774,7%, đời sống nhân dân hết sức khó khăn, thiếu lương thực triền miên, khoảng ¾ dân số sống ở mức nghèo khổ. Nhờ thực hiện đường lối đổi mới, nền kinh tế bắt đầu phát triển và phát triển liên tục với tốc độ tăng trưởng tương đối cao, trung bình khoảng gần 7% mỗi năm. Đến năm 2020 đạt 342,7 tỷ đô la Mỹ (USD), trở thành nền kinh tế lớn thứ tư trong ASEAN. Thu nhập bình quân đầu người tăng khoảng 17 lần, lên mức 3.512 USD; Việt Nam đã ra khỏi nhóm các nước có thu nhập thấp từ năm 2008. Từ một nước bị thiếu lương thực triền miên, đến nay, Việt Nam không những đã bảo đảm được an ninh lương thực mà còn trở thành một nước xuất khẩu gạo và nhiều nông sản khác đứng hàng đầu thế giới. Công nghiệp phát triển khá nhanh, tỉ trọng công nghiệp và dịch vụ liên tục tăng và hiện nay chiếm khoảng 85% GDP. Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu tăng mạnh, năm 2020 đạt trên 540 tỷ USD, trong đó kim ngạch xuất khẩu đạt trên 280 tỷ USD. Dự trữ ngoại hối tăng mạnh, đạt 100 tỷ USD vào năm 2020.

Việc phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước, từng chính sách phát triển đã giúp cho văn hóa, xã hội phát triển, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt, mức sống và chất lượng sống ngày càng được nâng cao. Tỷ lệ hộ nghèo trung bình mỗi năm giảm khoảng 1,5%; giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 3% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước). Đến nay, hơn 60% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; hầu hết các xã nông thôn đều có đường ô tô đến trung tâm, có điện lưới quốc gia, trường tiểu học và trung học cơ sở, trạm y tế và điện thoại. Việt Nam đã hoàn thành xóa mù chữ, phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000 và phổ cập giáo dục trung học cơ sở năm 2010; số sinh viên đại học, cao đẳng tăng gần 17 lần trong 35 năm qua. An sinh xã hội được bảo đảm; đời sống nhân dân được cải thiện; đã triển khai thực hiện kịp thời các chính sách xã hội; người nghèo, trẻ em dưới 6 tuổi và người cao tuổi được cấp bảo hiểm y tế miễn phí. Đặc biệt, trong phòng, chống đại dịch COVID-19, đã giải ngân 104.000 tỷ đồng, hỗ trợ cho gần 58 triệu người dân, người lao động và 1,4 triệu người sử dụng lao động. Liên hợp quốc đã công nhận Việt Nam là một trong những nước đi đầu trong việc hiện thực hóa các Mục tiêu Thiên niên kỷ. Năm 2019, chỉ số phát triển con người (HDI) của Việt Nam đạt mức 0,704, thuộc nhóm nước có HDI cao của thế giới, nhất là so với các nước có cùng trình độ phát triển. Hiện tại, năm 2023, Việt Nam nằm trong nhóm các quốc gia cải thiện thứ hạng về chỉ số hòa bình, tăng 4 hạng lên vị trí 41/163 quốc gia và vùng lãnh thổ.

          Hiện nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 191/193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 30 nước. Đảng ta đã thiết lập quan hệ với 247 chính đảng ở 111 quốc gia. Việt Nam đã ký kết và tham gia 15 hiệp định thương mại tự do, trong đó có nhiều hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, v.v.

Thành tựu trên là minh chứng khẳng định sau hơn 35 năm thực hiện đường lối đổi mới do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, từ một đất nước cơ sở vật chất - kỹ thuật, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội lạc hậu, trình độ thấp, đến nay, Việt Nam đã vươn mình trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; Nhân dân có cuộc sống tốt đẹp hơn; khối đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được củng cố; chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững; độc lập, chủ quyền được bảo đảm. Thành tựu của sự nghiệp đổi mới đất nước khẳng định bản lĩnh, trí tuệ, uy tín của Đảng, đồng thời là cầu nối thắt chặt tình đoàn kết máu thịt giữa nhân dân với Đảng, củng cố niềm tin, tình cảm của nhân dân vào Đảng, vào chế độ.

Sự thật đó là không thể xuyên tạc! Tự nó là vũ khí sắc bén đập tan luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị và các phần tử bất mãn./.

 

Sep 14, 2023

Không thể có thứ “quyền tự do Internet vô chính phủ”

      

        Tre Việt – Mới đây, trên facebook của “Đảng Việt Tân” đăng bài viết với tiêu đề “Bản lên tiếng về quyền tự do Internet”Nội dung của bài viết đưa ra những nhận định xuyên tạc, quy chụp, bóp méo, bôi đen, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam, nhằm tạo cớ kích động “công dân sử dụng Internet, các blogger, các facebooker, các chủ trang nhân quyền liên kết thành mạng lưới”,… tiến tới việc thúc đẩy toàn dân Việt Nam đứng lên giải thể chế độ, v.v. Đây là một thủ đoạn hết sức nguy hiểm của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị, núp bóng quyền “tự do Internet” để chống phá, cần được vạch trần và bác bỏ.

          Như đã biết quyền tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận là một trong những quyền cơ bản của con người cần được tôn trọng và bảo đảm. Tuy nhiên, khi thực hiện cái “quyền ấy” đều bị chi phối, giàng buộc bởi quyền được thụ hưởng và nghĩa vụ, trách nhiệm của cá nhân, tổ chức. Đó là hai mệnh đề gắn kết song song, đồng hành, không thể tách rời. Tại sao vậy, bởi nó nhằm tránh bị lợi dụng cái “quyền tự do” để gây phương hại đến quyền, lợi ích của quốc gia, cộng đồng xã hội và các cá nhân. Thực tế đã minh chứng, trên thế giới mọi quốc gia, thì vấn đề: tự do thông tin, tự do Internet, tự do ngôn luận,... đều phải nằm trong khuôn khổ của pháp luật. Vì vậy, không chỉ ở Việt Nam mà các nước trên thế giới cũng đều ban hành các điều luật để kiểm soát những thông tin được đăng tải trên các phương tiện thông tin đại chúng và trên các trang mạng xã hội, nhằm không chỉ hạn chế sự lan tràn, phát tán những thông tin giả mạo và độc hại, mà còn là căn cứ pháp luật để xử lý những cá nhân, tổ chức vi phạm “quyền này”. Như vậy, một điều hiển nhiên là không thể có cái gọi là “quyền tự do Internet vô chính phủ”.

          Ở Việt Nam, trước sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ những năm gần đây, mạng xã hội đã trở nên phổ biến với cuộc sống hàng ngày của hầu hết người dân. Và mọi công dân Việt Nam đều có quyền tiếp cận và sử dụng Internet và các phương tiện thông tin đại chúng; Đảng và Nhà nước ta luôn tôn trọng và bảo đảm tốt các quyền đó và được quy định ngay trong bản Hiến pháp. Việc bảo đảm quyền tự do ngôn luận, báo chí hiện nay của Việt Nam về cơ bản đã tương thích với pháp luật quốc tế, đầy đủ và đồng bộ, từ Hiến pháp, luật, đến nghị định, tiêu biểu là một số văn bản quy phạm pháp luật, như: Hiến pháp năm 2013 khẳng định “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin,…”, cùng với đó là Luật Báo chí năm 2016, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Nghị định số 72/2013/NĐ-CP, ngày 15/7/2013 của Chính phủ về Quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, tính đến 2023, lượng người dùng Internet tại Việt Nam đạt hơn 72 triệu người (73%) và hiện là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên thế giới; riêng số người dùng mạng xã hội hiện nay có 76,95 triệu người, tương đương với 78,1% dân số. Cùng với đó, mọi công dân Việt Nam đều có quyền tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng và tự do cư trú đi lại trong nước và ra nước ngoài, được bảo đảm theo quy định, khuôn khổ pháp luật quy định.

Vì thế, việc một số cá nhân, tổ chức lợi dụng mạng Internet, dưới vỏ bọc “quyền tự do, dân chủ” để xuyên tạc, thổi phồng, bóp méo các vấn đề bức xúc trong xã hội; tạo dựng thông tin sai sự thật, nhằm làm nhiễu loạn truyền thông, gây hoài nghi trong quần chúng, tạo bất ổn trong xã hội là vi phạm pháp luật. Và lẽ đương nhiên sẽ bị xử lý nghiêm minh là hoàn toàn xác đáng. Việc các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lợi dụng chính quyền xử lý các đối tượng vi phạm pháp luật để lu loa, quy chụp, vu khống trắng trợn Đảng, Nhà nước Việt Nam “đàn áp quyền tự do Internet” của người dân là sai sự thật và hết sức phi lý. Bởi vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh bác bỏ những thông tin xấu độc, sai sự thật về tự do Internet được phát tán trên mạng xã hội hiện nay./.

 

         

Sep 10, 2023

Sự kêu gọi “ngớ ngẩn” của Ông Phil Robertson

 

Tre Việt - Vừa qua, Tòa án nhân dân cấp cao tại Đà Nẵng (ngày 30/8/2023), mở phiên xét xử phúc thẩm đối với bị cáo Bùi Tuấn Lâm (“Peter Lam Bui”, sinh 1984, ngụ đường Ông Ích Khiêm, phường Thanh Bình, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Với thái độ thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam, Ông Phil Robertson - Phó giám đốc tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Human Rights Watch (HRW) đã lợi dụng việc này kêu gọi “Nhà nước Việt Nam nên bãi bỏ điều 117 của bộ luật hình sự và ngừng truy tố Bùi Tuấn Lâm”. Đây là điều rất vô lý và không thể chấp nhận được.

Cơ quan An ninh điều tra Công an thành phố Đà Nẵng
ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can
 và bắt tạm giam Bùi Tuấn Lâm 
(áo đen, thứ 2 trái sang).

Bởi, Bùi Tuấn Lâm đã lợi dụng tự do “dân chủ”, “nhân quyền” để nói xấu Đảng, chế độ và Nhà nước Việt Nam. Theo điều tra, Lâm là thành viên của một số tổ chức “xã hội dân sự” và các tổ chức phản động lưu vong; tham gia khóa huấn luyện về “xã hội dân sự”, “đấu tranh bất bạo động”); tham gia thảo luận về học thuyết xã hội nhằm đào tạo lực lượng hình thành xã hội dân sự; cùng các đối tượng chống đối chính trị viết bài xuyên tạc chính quyền, câu kết hoạt động kích động biểu tình gây rối, v.v. Lâm đã có hành vi soạn thảo, đăng tải 19 bài viết lên trang mạng xã hội Facebook cá nhân và 25 video, bài viết lên mạng Youtube (do Lâm tạo ra, quản lý và sử dụng) với nội dung không đúng sự thật, bịa đặt, xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta gây hoang mang, lo lắng, bất bình trong nhân dân nhằm mục đích chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Mặc dù Công an Thành phố Đà Nẵng và chính quyền địa phương nhiều lần nhắc nhở, giáo dục, cảnh báo, tuy nhiên Lâm bất hợp tác, thách thức, không từ bỏ hoạt động vi phạm mà ngày càng công khai, quyết liệt chống phá. Hành vi lợi dụng “dân chủ”, “nhân quyền” để bôi nhọ, nói xấu một chế độ của Bùi Tuấn Lâm là đi ngược lại giá trị và lợi ích cũng như nguyện vọng của dân tộc Việt Nam. Những hành vi đó phải được pháp luật nghiêm trị để bảo đảm sự công bằng xã hội.

Vì thế, việc Bùi Tuấn Lâm bị bắt, xét xử công khai và Tòa án tuyên phạt 05 năm 06 tháng tù và 04 năm quản chế vì tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” là đúng pháp luật Việt Nam. Đây là cái giá phải trả của một kẻ núp bóng “tự do dân chủ, nhân quyền” để ngông cuồng chống phá Nhà nước, chế độ. Thế nên, việc Ông Phil Robertson - Phó giám đốc tổ chức Theo dõi Nhân quyền, Human Rights Watch (HRW) kêu gọi trả tự do ngay lập tức cho Bùi Tuấn Lâm và đòi “Nhà nước Việt Nam nên bãi bỏ điều 117 của bộ luật hình sự” là hết sức phi lý, “ngớ ngẩn”, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Nhà nước Việt Nam. Hành động “ngớ ngẩn” trên của Ông Phil Robertson là bất chấp sự thật, cần phải lên án, đấu tranh, bác bỏ!

 

 

Sep 7, 2023

Việt Nam luôn kiên định, nhất quán trong đường lối đối ngoại

 

Tre Việt - Trước chuyến thăm chính thức Việt Nam của Tổng thống Mỹ Joe Biden, một số tổ chức, cá nhân phản động, đài báo nước ngoài đã phát tán nhiều tài liệu, bình luận xuyên tạc về đường lối đối ngoại của Đảng, Nhà nước ta. Đơn cử như: ngày 28/8, đối tượng Nguyễn Văn Đài đăng tải nội dung bình luận, cho rằng Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao là để “cứu Đảng chứ không phải cứu dân, cứu nước”; kêu gọi cần cứng rắn trong đàm phán về nhân quyền, v.v. Đây là hành động xuyên tạc tình hình nội bộ Việt Nam, kích động, chia rẽ mối quan hệ của Việt Nam và các nước trên thế giới, cần đấu tranh, bác bỏ.

Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden (Ảnh: AP)

Trước hết, cần khẳng định rõ: ngoài lợi ích của Tổ quốc, của nhân dân, Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích gì khác. Tất cả hoạt động của Đảng đều vì lợi ích của quốc gia, dân tộc. Trên lĩnh vực đối ngoại, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Điều này được khẳng định trong văn kiện các kỳ đại hội toàn quốc của Đảng, được đánh dấu từ Đại hội VI (tháng 12/1986) đến Đại hội XIII của Đảng (tháng 01/2021). Qua mỗi kỳ đại hội, quan điểm đường lối đối ngoại của Đảng ta tiếp tục được bổ sung, phát triển, hoàn thiện hơn, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, phù hợp với xu thế phát triển của tình hình khu vực và thế giới.

Thứ hai, với việc kiên trì, nhất quán thực hiện đường lối đối ngoại đúng đắn, đất nước ta đã từng bước phá thế bao vây, cấm vận, tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; giải quyết hòa bình các vấn đề biên giới, lãnh thổ, biển, đảo với các nước có liên quan; mở rộng quan hệ đối ngoại theo hướng đa phương hóa, đa dạng hóa; tham gia sâu, rộng vào các tổ chức quốc tế. Sau 37 năm đổi mới dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng có ý nghĩa to lớn trên các lĩnh vực của đời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng khá, chính trị ổn định, văn hóa - xã hội có bước phát triển mới, quốc phòng, an ninh được tăng cường; đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với gần 200 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới (có cả 05 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc); trong đó, có 33 nước là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; 04 nước là đối tác chiến lược toàn diện. Đồng thời, Việt Nam là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế lớn, như: Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB), Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), v.v.

Thứ ba, để đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới, trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục kiên định, nhất quán với đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; đa dạng hóa, đa phương hóa trong quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế; là bạn là đối tác tin cậy và thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Do vậy, việc mở rộng, nâng cấp quan hệ ngoại giao trở thành đối tác chiến lược toàn diện với các nước lớn trên thế giới là hoàn toàn bình thường, phù hợp với xu thế của thời đại.

Chính vì thế, việc Nguyễn Văn Đài cho rằng Việt Nam muốn nâng cấp quan hệ ngoại giao là để “cứu Đảng chứ không phải cứu dân, cứu nước” là hoàn toàn phi lý, lộ rõ dã tâm xấu độc của kẻ có thâm thù với chế độ đang phải sống tha phương cầu thực mà thôi./.

 

 

Aug 25, 2023

Việt Nam luôn tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo hoạt động theo đúng pháp luật

          Tre Việt – Ngày 23/8, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài: “Việt Nam “quản chặt” các tín đồ tôn giáo độc lập”. Trong bài viết, họ cho rằng: “Ở Việt Nam, những người muốn sinh hoạt tôn giáo một cách độc lập luôn đối mặt nguy cơ bị chính quyền ngăn cản, sách nhiễu. Nhiều tín đồ tôn giáo độc lập là người bản địa cho biết họ thậm chí bị đàn áp ngày càng nặng nề hơn”.

          Đây lại là một luận điệu xuyên tạc trắng trợn những nỗ lực của Đảng và Nhà nước ta trong bảo đảm tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân và thực tiễn sinh động về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là đất nước có truyền thống văn hóa lâu đời, là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Cùng với quá trình đổi mới đất nước, đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam có nhiều chuyển biến mới. Đảng, Nhà nước luôn bảo đảm và tạo điều kiện để các sinh hoạt tôn giáo, hoạt động tôn giáo của tất cả các tôn giáo được diễn ra bình thường. Đặc biệt, những ngày lễ trọng của các tôn giáo, như: lễ Phật đản, lễ Vu lan của Phật giáo; Lễ Giáng sinh, lễ Phục sinh của Công giáo và Tin lành; Lễ Hội Yến Diêu Trì Cung, Lễ kỷ niệm ngày khai đạo của đạo Cao Đài; lễ hội Katê của đồng bào Chăm; tháng chay Ramadan của người Hồi giáo,… được tổ chức với quy mô lớn, thu hút đông đảo tín đồ tham dự.

Việc công nhận tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được thực hiện theo quy định của pháp luật. Sau khi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016) đi vào cuộc sống, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã công nhận 01 tổ chức tôn giáo (Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam), cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 03 tổ chức (Hội thánh Phúc âm Toàn vẹn Việt Nam; Hội thánh Tin lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam; Giáo hội Các Thánh hữu Ngày sau của Chúa Giê-su Ky-tô Việt Nam). Việc đăng ký sinh hoạt tôn giáo tập trung trên phạm vi cả nước được tạo điều kiện thuận lợi với gần 4.000 điểm, nhóm được chấp thuận. Các tổ chức tôn giáo hoàn toàn chủ động trong việc củng cố tổ chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển chức sắc, chức việc, nhà tu hành theo Hiến chương, Điều lệ và quy định của pháp luật.

Hằng năm, số lượng chức sắc, chức việc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng, nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân, hiện cả nước có hơn 6.500 người được phong phẩm, suy cử làm chức sắc; hơn 16.780 người được bổ nhiệm, bầu cử, suy cử làm chức việc. Cùng với đó, Nhà nước còn bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện tham gia vào đời sống chính trị xã hội, tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa ở tất cả các cấp từ Trung ương đến cơ sở và tích cực tham gia các hội, đoàn thể khác, như: Hội Người cao tuổi Việt Nam, Hội Bảo trợ người khuyết tật và trẻ em mồ côi Việt Nam, Hội Liên hiệp thanh niên Việt Nam, v.v. Đây là những minh chứng thực tiễn sinh động, chân thực, trái ngược với luận điệu quy chụp, xuyên tạc, lố bịch, rằng: “Những người muốn sinh hoạt tôn giáo ở Việt Nam luôn đối mặt nguy cơ bị chính quyền ngăn cản, sách nhiễu... bị đàn áp ngày càng nặng nề hơn”.

Còn luận điệu mà RFA gọi là “tín đồ tôn giáo độc lập”, thực chất là tập hợp các phần tử cực đoan trong các tôn giáo, đối tượng chống đối, cơ hội chính trị, các phần tử phản động lưu vong ở nước ngoài,... lợi dụng vỏ bọc tôn giáo, để hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước dưới các hình thức: kích động tư tưởng ly khai, chia rẽ nội bộ các tôn giáo, phá hoại sự ổn định, đoàn kết dân tộc, đoàn kết tôn giáo; kích động các hoạt động chống phá gây phức tạp về an ninh, trật tự; móc nối với các tổ chức phản động bên ngoài nhằm mục hóa, chính trị hóa những vấn đề trong nước,... nhằm thu hút sự quan tâm, chú ý của dư luận quốc tế từ đó gây sức ép với chính quyền để đáp ứng các yêu cầu của các tổ chức, hội nhóm này. Vì vậy, cũng như nhiều nước khác trên thế giới, Nhà nước Việt Nam nghiêm cấm mọi tổ chức lợi dụng tôn giáo, đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân theo luật định. Đó là lẽ đương nhiên./.

Aug 24, 2023

Tự do, dân chủ của nhân dân là thành quả của cuộc Cách mạng Tháng Tám – sự thực không thể xuyên tạc

          Tre Việt - Cứ đến dịp nhân dân cả nước tổ chức kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 02/9 thì các thế lực thù địch, phản động lại ra sức xuyên tạc, phủ nhận thành quả của Cuộc cách mạng Tháng Tám năm 1945; một trong những luận điệu chúng đưa ra là: Cách mạng Tháng Tám năm 1954 không đem lại dân chủ, tự do thực sự cho người dân. Đây là luận điệu hết sức hết sức lố bịch. Bởi, chúng đã phủ nhận những giá trị nhân văn, cao cả, đích thực mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã mang lại cho đất nước, dân tộc và nhân dân ta đó là đem lại dân chủ thực sự cho người dân.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã chấm dứt chế độ quân chủ phong kiến và ách đô hộ của thực dân, phát xít, khai sinh ra Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa - chính thể dân chủ nhân dân đầu tiên trong lịch sử dân tộc; đưa nước ta từ một nước thuộc địa, nửa phong kiến trở thành một nước độc lập, tự do và dân chủ; nhân dân ta từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột trở thành người làm chủ, tự quyết định vận mệnh và tương lai của mình. Từ đây, nhân dân ta trở thành chủ thể của quyền lực nhà nước.

Ngay trong Tuyên ngôn thoái vị (ngày 30/8/1945) của vua Bảo Đại - vị vua cuối cùng của chế độ quân chủ phong kiến Việt Nam, đã phải thốt lên rằng: “… làm dân một nước độc lập hơn làm vua một nước nô lệ”. Đây là cảm nhận chân thực nhất của vua Bảo Đại lúc đó. Bởi, Ông cũng như nhiều vị vua của triều đình nhà Nguyễn đã phải nếm trải thân phận “Vua là tượng gỗ, dân làm thân trâu” của một nước nô lệ, lầm than, cơ cực, mất tự do, không có tên trên bản đồ thế giới. Và, trong Hiệp định Sơ bộ ngày 06/3/1946, Chính phủ Pháp công nhận nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là một quốc gia tự do trong Liên bang Đông Dương và trong khối Liên hiệp Pháp, có chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chính riêng. Mặc dù quyền tự do đó chưa được trọn vẹn như chúng ta mong muốn, nhưng đó là nền tự do thực sự mà cả dân tộc ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng bền bỉ đấu tranh mới giành được. Điều đáng nói là, chính kẻ thực dân trước đây đã cướp nền độc lập, tự do của đất nước ta, nhân dân ta, biến nước ta thành thuộc địa, nhân dân ta thành nô lệ của chúng, nay đã phải công nhận quyền tự do, độc lập ấy. Đó là lẽ phải không ai chối cãi được !

Từ đó đến nay, quyền làm chủ của nhân dân không chỉ thể hiện trong các bản Hiến pháp, văn bản pháp luật, mà được thể hiện sinh động trong cuộc sống hằng ngày. Việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân được đặt trong cơ chế tổng thể của hệ thống chính trị “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Thực hiện dân chủ đại diện, dân chủ trực tiếp, dân chủ ở cơ sở theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Nhà nước ta luôn tôn trọng các quyền tự do cơ bản của công dân và coi đó là một trong những nguyên tắc xây dựng luật pháp của Nhà nước; được hiến định trong Hiến pháp. Không chỉ giới hạn trong phạm vi quốc gia, bước vào thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, trên lĩnh vực quyền con người, Việt Nam đã sớm gia nhập, ký kết nhiều công ước quốc tế về quyền con người. Cho đến nay Việt Nam đã tham gia hầu hết công ước quốc tế về quyền con người. Đồng thời, Việt Nam đã nội luật hóa các công ước này vào hệ thống pháp luật quốc gia. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

Chúng ta hoàn toàn có thể khẳng định rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại nền tự do có thật và thật sự tự do. Nền tự do đó gắn liền với nền độc lập dân tộc và là kết quả tất yếu của độc lập dân tộc. Đó quyết không phải là nền tự do giả hiệu. Ngày nay, những giá trị lịch sử của nó vẫn tiếp tiếp tục tỏa sáng trong dòng chảy lịch sử của dân tộc và thời đại. Không một mưu đồ đen tối nào, không một thế lực nào có thể phủ nhận được giá trị trường tồn, phủ nhận được nền độc lập, nền dân chủ và tự do mà Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đem lại cho dân tộc và nhân dân Việt Nam./.

 

Không sợ sóng gió trên biển lớn

Tre Việt – Ngày 20/7 vừa qua, dựa vào thông tin cổ phiếu của hãng xe  VinFast (mã VFS) bị rớt giá trên thị trường chứng khoán Mỹ, trên Facebook Việt Tân có hàng loạt bài hô hào, dự đoán cổ phiếu VFS rơi xuống dưới 10 USD, tức mất giá hơn 30% khiến cộng đồng mạng có nhiều bình luận phê phán khả năng kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam khi vươn ra thị trường quốc tế.

Trước hết, “vươn ra biển lớn” là chủ trương của Đảng, Nhà nước và là khát vọng của doanh nghiệp Việt Nam. Chúng ta muốn phát triển thành công nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thì phải đẩy mạnh cải cách và mở cửa nền kinh tế, giúp Việt Nam tham gia sân chơi, chuỗi sản xuất toàn cầu, tiếp thu văn minh nhân loại, nâng cao đời sống, vật chất, tinh thần của Nhân dân. Trong chuỗi sản xuất, chuỗi giá trị đó, mỗi quốc gia là một mắt xích; chúng ta cũng vậy; tuy nhiên tỷ trọng và thứ hạng trong chuỗi giá trị là rất khác nhau; luôn cạnh tranh gay gắt để thăng lên những thứ hạng trên nhằm mang lại nhiều lợi ích cho quốc gia, dân tộc. Để nâng cao thứ hạng đó, các doanh nghiệp Việt Nam rất cần vốn, khoa học công nghệ, nhân lực chất lượng cao và kinh nghiệm quản trị. Việt Nam phát triển sau, phải đi tắt, đón đầu; tập trung học hỏi, tiếp thu từ các nước phát triển, nhất là nước Mỹ. Chúng ta cần liên doanh, liên kết với các đối tác có thế mạnh về vốn, kinh nghiệm quản trị và công nghệ bằng các biện pháp: Nhà nước cho nước ngoài đầu tư, kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam; doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài; doanh nghiệp Việt Nam trực tiếp thu hút các nhà đầu tư nước ngoài thông qua kênh huy động vốn là thị trường chứng khoán quốc tế. Thực hiện chủ trương, khát vọng đó, các doanh nghiệp lớn như Tập đoàn FPT, Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội, Tập đoàn Vingroup,... đã từng bước vươn ra toàn cầu; và hiện nay, Tập đoàn Vingroup là doanh nghiệp đầu tiên phát hành cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Mỹ.

Hai là, giá cổ phiếu tăng, giảm là chuyện xảy ra thường ngày, phụ thuộc quy luật cung cầu của thị trường; tương tự như giá gạo, thịt, rau, đồ dùng ngoài chợ. Điều quan trọng vẫn là giá trị thực, giá trị nội tại của doanh nghiệp; là lòng tin của nhà đầu tư đối với doanh nghiệp. Công ty Vinfast chuyên sản xuất xe điện là đi đúng xu hướng của thế giới, đáp ứng đúng nhu cầu sử dụng năng lượng sạch của người tiêu dùng hiện nay. Tuy mới thành lập năm 2017, nhưng hãng xe VinFast đã đạt được tốc độ phát triển nhanh; cho ra đời nhiều mẫu xe, sở hữu nhiều điểm mạnh về chất lượng, chính sách, giá, dịch vụ và thiết kế độc đáo,... làm hài lòng người tiêu dùng Việt Nam và quốc tế. Hiện nay, đang cạnh tranh hiệu quả trên đất Mỹ; tạo nên doanh thu, lợi nhuận tăng trưởng tốt; nên giá trị của doanh nghiệp ngày càng tăng và giá cổ phiếu sau khi hết chu kỳ giảm sẽ tăng trở lại, phản ánh đúng vị thế, giá trị doanh nghiệp.

Niêm yết cổ phiếu thành công trên thị trường chứng khoán Mỹ là chỉ dấu vô cùng quan trọng về độ tin cậy của cộng đồng nhà đầu tư, người tiêu dùng quốc tế đối với tiềm năng phát triển của một doanh nghiệp; không cần phải quan tâm nhiều đến giá lên, xuống của cổ phiếu./.         

            

Aug 20, 2023

Nhân dân Việt Nam đã được hưởng tự do, dân chủ ngay sau khi giành được chính quyền

            Tre Việt - Ngày 19/8, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng dòng trạng thái: “78 năm Cách mạng tháng Tám: Sớm muộn đến lúc Đảng Cộng sản Việt Nam phải thực hiện “quyền tự do dân chủ thực sự” cho người dân”. Thông tin này chứng tỏ não trạng của họ có vấn đề nên vẫn đòi phải thực hiện quyền tự do, dân chủ thực sự. Bởi vì:

Cách mạng tháng Tám năm 1945 thành công đã mở ra một thời đại mới ở Việt Nam, thời đại nhân dân Việt Nam thực sự làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của chính mình. Thật vậy, ngay trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, sáng ngày 03/9/1945 dưới sự chủ trì của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định một số nội dung cần làm ngay. Trong đó, có việc tổ chức càng sớm càng tốt cuộc Tổng tuyển cử với chế độ phổ thông đầu phiếu, thực hiện quyền tự do, dân chủ của nhân dân; tuyên bố tự do tín ngưỡng và lương giáo đoàn kết. Đến bản Hiến pháp năm 1946 - bản Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã quy định rõ về quyền con người, quyền công dân. Cụ thể, tại Điều 10, Hiến pháp 1946 đã quy định rõ ràng các quyền tự do cá nhân: “Công dân Việt Nam có quyền: tự do ngôn luận, tự do xuất bản, tự do tổ chức và hội họp, tự do tín ngưỡng, tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Đây chính là cơ sở để các bản Hiến pháp sau này cũng như các văn bản pháp luật khác kế thừa, phát triển, bổ sung và dần hoàn thiện như ngày nay.

          Đi đôi với hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật quy định về quyền tự do, dân chủ của công dân, những năm qua, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực, bảo đảm thực thi đầy đủ, tốt nhất các quyền của công dân trong thực tiễn xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Đời sống của nhân dân từ thân phận nô lệ, bị áp bức, bóc lột đã trở thành chủ nhân của đất nước, được tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng, tự do đi lại; được pháp luật bảo vệ quyền về chỗ ở hợp pháp, về bí mật đời tư; mọi người dân được tạo điều kiện phát triển toàn diện, được khẳng định, thể hiện mình, đóng góp cho quê hương, đất nước. Chính số liệu các cơ quan báo chí, các tổ chức tôn giáo,… được Nhà nước cấp phép hoạt động và số lượng các tín đồ tôn giáo trên cả nước hiện nay chính là những con số biết nói để khẳng định, trả lời rằng nhân dân ta đã thực sự được tự do, dân chủ hay chưa.

Bên cạnh đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đã phát triển toàn diện về mọi mặt, thu được những thành tựu to lớn, nhất là sau hơn 36 năm thực hiện công cuộc đổi mới đất nước, khẳng định uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Mặc dù, trước mắt vẫn còn những khó khăn, thách thức đang đặt ra đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, song có thể khẳng định rằng: sau 78 năm giành được chính quyền, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo đất nước thu được rất nhiều kết quả, thành tựu to lớn, làm cho đất nước đổi thay, ngày càng phát triển, hội nhập, sánh vai với các nước trên thế giới. Các tầng lớp nhân dân đồng thuận, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thắng lợi của công cuộc đổi mới đất nước.

Xin nêu một số dẫn chứng: nếu năm 1989, quy mô nền kinh tế của đất nước chỉ là 6,3 tỉ USD, thì năm 2022 đã đạt 409 tỉ USD, đứng thứ 37 nền kinh tế lớn nhất thế giới, đứng thứ năm trong ASEAN và trong nhóm 14 nước châu Á. Đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ đạt khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2022 đã đạt 4.110 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ, v.v.

Thử hỏi các vị, nếu Việt Nam không có tự do, dân chủ thì đất nước có đạt được thành tựu trên không? Và đời sống của nhân dân có được thế không? Những điều mà các vị nêu chỉ là sự suy đoán không căn cứ, bất chấp sự thật. Chẳng qua, các vị chỉ cố tình “mượn cớ” dân chủ để thực hiện âm mưu thâm độc chống phá Việt Nam. Việc làm của các vị chẳng lừa được ai./.