Jul 14, 2025

Hạo Nhiên lại phán bừa

          Mới đây, trên trang “Vietnamthoibao”, Hạo Nhiên có bài viết: “Hồi hương - Ảo ảnh Việt nam đang “thịnh vượng và tự do” với nhiều luận điệu xuyên tạc trắng trợn những thành tựu phát triển của đất nước, hòng làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Luận điệu xuyên tạc: Thành tựu mà đất nước và nhân dân ta đạt được từ ngày thống nhất đất nước đến nay chỉ là “một ảo ảnh tạm bợ” đã cho thấy dã tâm chống phá Đảng, Nhà nước ta của Hạo Nhiên. Do đó, mỗi chúng ta cần nêu cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Một là, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử trên con đường phát triển trở thành một nước xã hội chủ nghĩa. Sau 50 năm thống nhất đất nước, gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, đất nước ta đã vượt qua nhiều khó khăn, thử thách, đạt được những thành tựu vĩ đại, có ý nghĩa lịch sử. Từ một nước nghèo nàn, lạc hậu bị chiến tranh tàn phá nặng nề, bị bao vây, cô lập, đến nay Việt Nam đã trở thành nước đang phát triển, có thu nhập tiệm cận trung bình cao, hội nhập sâu rộng vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế toàn cầu, nền văn minh nhân loại, đảm nhiệm nhiều trọng trách quốc tế, có vai trò chủ động, tích cực tại nhiều tổ chức quốc tế, diễn đàn đa phương quan trọng. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Quy mô nền kinh tế năm 2024 đứng thứ 32 thế giới và nằm trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài. Đời sống của người dân được cải thiện rõ rệt, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh, hiện chỉ còn 1,93% (theo chuẩn đa chiều) so với mức hơn 60% năm 1986. Tiềm lực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, khoa học - công nghệ, quốc phòng, an ninh không ngừng được củng cố. Quan hệ đối ngoại được mở rộng; vị thế, uy tín của đất nước không ngừng được nâng cao. Đến nay, Việt Nam đã có quan hệ ngoại giao với 194 nước là thành viên Liên hợp quốc.

Hai là, mọi tầng lớp nhân dân đều được thụ hưởng thành quả phát triển của đất nước. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, việc gắn kết phát triển kinh tế với phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế đi đôi với bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội đã được thực hiện có hiệu quả; tạo cơ sở kích thích, khơi dậy và phát huy tính tích cực, năng động của con người. Nhờ vậy, các giai tầng xã hội và các chủ thể tự do, tự chủ đầu tư, phát triển kinh tế, xã hội, nâng cao thu nhập và chất lượng cuộc sống cả về vật chất và tinh thần. Các phúc lợi xã hội trong giáo dục, y tế, nhà ở tại Việt Nam đều được Nhà nước đặc biệt quan tâm. Hiện nay, cả hệ thống chính trị tại Việt Nam đang nỗ lực chung tay hỗ trợ người nghèo xây dựng nhà ở để đến hết năm 2025 sẽ xóa được toàn bộ 400.000 nhà tạm, nhà dột nát trên cả nước. Báo cáo hạnh phúc thế giới năm 2024, Việt Nam đứng thứ 54, tăng 11 bậc so với năm 2023. Xét ở khu vực châu Á, Việt Nam đứng vị trí thứ 6. Đây là bảng xếp hạng do Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố dựa trên kết quả khảo sát tại 143 quốc gia và vùng lãnh thổ. Chỉ số hạnh phúc tại Việt Nam tăng đều qua các năm cho thấy kết quả đạt được rất quan trọng của Đảng, Nhà nước ta về chăm lo đời sống vật chất, tinh thần, đem lại hạnh phúc cho nhân dân. Trong lúc tình hình an ninh của một số khu vực trên thế giới rất phức tạp với cảnh bom rơi đạn lạc thì người dân Việt Nam càng cảm nhận được sự vô giá của hòa bình, hạnh phúc mà mình đang được hưởng.

Như vậy, những luận điệu mà Hạo Nhiên đưa ra đã thể hiện rõ bộ mặt của kẻ phản động, chống phá cách mạng nước ta. Do đó, chúng ta cần nâng cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những luận điệu phản động của Y. Đồng thời, luôn vững tin vào sự lãnh đạo của Đảng, vào thành công của sự nghiệp đổi mới, đưa Việt Nam tự tin bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Jul 9, 2025

Bằng chứng rõ ràng, phản bác những thông tin sai lệch về tình hình quyền con người tại Việt Nam

           Tre Việt - Trong hai ngày (07 - 08/7/2025), tại Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ, Ủy ban Nhân quyền của Liên hợp quốc tổ chức Phiên họp đánh giá Báo cáo quốc gia lần thứ tư của Việt Nam về thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (sau đây gọi là Công ước ICCPR). Đoàn liên ngành của Việt Nam, gồm các thành viên đến từ các cơ quan có liên quan trực tiếp đến việc thực hiện Công ước ICCPR, do Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh làm Trưởng đoàn đã tham dự Phiên họp này với mục đích chia sẻ những bước tiến tích cực, thành tựu đáng khích lệ trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền dân sự và chính trị trong thời gian qua ở Việt Nam.

Thứ trưởng Bộ Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh
và các thành viên đoàn Việt Nam tại Phiên họp
(Ảnh: TTXVN từ Giơ-ne-vơ, Thụy Sỹ)

Công ước ICCPR là một trong những điều ước quốc tế quan trọng nhất về quyền con người đã được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua vào năm 1966 và có hiệu lực vào năm 1976. Với phạm vi điều chỉnh rộng, bao trùm tất cả các quyền dân sự và chính trị của mỗi cá nhân, Công ước ICCPR ra đời đã nhận được sự quan tâm lớn của cộng đồng quốc tế.

Là một quốc gia yêu chuộng hòa bình, luôn đặt lợi ích của người dân lên trên hết, coi con người vừa là mục tiêu vừa là động lực của sự phát triển, việc chăm lo, bảo vệ và bảo đảm quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, coi đó là nhiệm vụ và ưu tiên hàng đầu. Cùng với việc gia nhập Công ước ICCPR ngày 24/9/1982, Việt Nam ngày càng đạt được nhiều thành tựu to lớn trong việc bảo vệ và phát huy quyền con người, quyền công dân. Hiến pháp năm 2013 đã đánh dấu bước tiến quan trọng của Việt Nam trong nhận thức về quyền con người cũng như trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân trên tất cả các lĩnh vực. Trong những năm gần đây, nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng về quyền con người đã được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới. Những thành tựu về lập pháp, tổ chức thi hành pháp luật cùng với những nỗ lực về cải cách tư pháp trong thời gian qua là yếu tố đảm bảo quan trọng về pháp lý để mọi người dân Việt Nam có cơ hội và điều kiện thuận lợi thụ hưởng đầy đủ các quyền dân sự, chính trị.

Thực hiện nghĩa vụ của quốc gia thành viên Công ước được quy định tại khoản 1, Điều 40 Công ước ICCPR, tháng 3/2023, Việt Nam đã nộp Báo cáo quốc gia lần thứ tư về thực thi Công ước và cuối năm 2024, đã nộp Báo cáo trả lời danh sách các vấn đề quan tâm của Ủy ban Nhân quyền. Các báo cáo được xây dựng theo đúng hướng dẫn của Ủy ban nhân quyền, có sự tham vấn rộng rãi các chủ thể có liên quan. Các báo cáo đều thể hiện rõ sự phát triển toàn diện trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền dân sự và chính trị từ sau khi Việt Nam nộp Báo cáo lần thứ ba năm 2019, đồng thời khẳng định việc tuân thủ các cam kết tại các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Với chủ trương coi con người là trung tâm, là mục tiêu và động lực của quá trình đổi mới, phát triển đất nước, kể từ sau khi nộp Báo cáo thực thi Công ước ICCPR lần thứ 3 vào năm 2019, Việt Nam đã tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách về quyền con người và đạt được nhiều thành tựu trên thực tế. Các quyền về tiếp cận công lý, bình đẳng trước pháp luật, quyền sống, bảo vệ sức khỏe, giáo dục, bảo đảm an sinh xã hội, tự do tôn giáo, tín ngưỡng, tự do báo chí, internet, bình đẳng giới đều đạt những tiến bộ rõ rệt. Các chỉ số về phát triển con người (HDI), bình đẳng giới (GEI) của Việt Nam do các cơ quan Liên hợp quốc xếp hạng liên tục được cải thiện. Chính phủ đã có nhiều chính sách, biện pháp để bảo vệ sức khỏe người dân, phát triển kinh tế - xã hội trong và sau đại dịch Covid-19, tích cực thúc đẩy chuyển đổi sang nền kinh tế xanh, kinh tế số, kinh tế tuần hoàn và thực hiện các cam kết của Việt Nam theo các điều ước quốc tế về quyền con người.

Việc tham dự Phiên họp của Ủy ban Nhân quyền lần này thể hiện sự nghiêm túc của Việt Nam trong việc thực hiện nghĩa vụ báo cáo về tình hình thực thi các cam kết quốc tế. Đối thoại tại Phiên họp cũng giúp Ủy ban Nhân quyền và các quốc gia thấy rõ bức tranh tổng thể của sự phát triển toàn diện, nhanh chóng trong việc bảo vệ, thúc đẩy quyền dân sự và chính trị từ sau khi Việt Nam nộp Báo cáo lần thứ ba năm 2019. Đối với một số ý kiến dựa trên những nguồn tin chưa được kiểm chứng của một số tổ chức, cá nhân về tình hình thực thi Công ước ICCPR tại Việt Nam, đoàn Việt Nam đã giải đáp, cung cấp thông tin xác thực, nhấn mạnh nguyên tắc đối thoại, hợp tác, tôn trọng khác biệt.

Thành công từ Phiên họp đánh giá, cùng những bằng chứng đưa ra tại báo cáo cũng như phiên đối thoại sẽ là câu trả lời rõ ràng, phản bác những thông tin sai lệch về tình hình quyền con người tại Việt Nam./.

 

Jul 8, 2025

Việt Nam quan tâm bảo đảm các quyền dân sự, chính trị

            Trong hai ngày 07 - 08/7/2025, Đoàn Việt Nam với đại diện của 9 cơ quan tham dự Phiên đối thoại về Báo cáo quốc gia thực thi Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị (ICCPR) tại Phiên họp thứ 144 của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc tại Geneva (Thụy Sĩ).

Đây là cơ hội để Việt Nam báo cáo những nỗ lực và kết quả đạt được trong việc thực hiện Công ước, đồng thời thể hiện tinh thần đối thoại cởi mở, cầu thị và tiếp tục hoàn thiện các chính sách quyền con người.

Được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 16/12/1966 và có hiệu lực từ năm 1976, ICCPR là một trong những văn kiện quốc tế quan trọng nhất về quyền con người, bao gồm các quyền cơ bản như quyền sống, tự do ngôn luận, tự do hội họp, quyền bầu cử, và quyền xét xử công bằng. Ngày 24/9/1982 Việt Nam chính thức trở thành thành viên của Công ước.

Từ đó đến nay, Việt Nam không ngừng nỗ lực cụ thể hóa các cam kết quốc tế thông qua cải cách pháp luật, xây dựng, hoàn thiện chính sách, bảo đảm các quyền dân sự và chính trị được công nhận và thực thi trong thực tiễn. Hiến pháp năm 2013 tạo nền tảng pháp lý quan trọng về quyền con người. Chương II của Hiến pháp quy định về quyền con người và quyền công dân, phản ánh các nguyên tắc cốt lõi của ICCPR như quyền bình đẳng trước pháp luật, quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, và quyền bầu cử.

Các nội dung này cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Về quyền tự do ngôn luận, quy định tại Điều 19 của ICCPR, Việt Nam đã cụ thể hóa trong Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Luật An ninh mạng năm 2018. Các văn bản tạo hành lang pháp lý để công dân tiếp cận thông tin từ các cơ quan nhà nước một cách minh bạch, thực hiện quyền tự do ngôn luận trên không gian mạng, đồng thời ngăn chặn các hành vi lợi dụng quyền này để lan truyền thông tin sai lệch, gây bất ổn xã hội. Các chương trình tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền tự do ngôn luận do chính quyền địa phương và các cấp, ngành liên quan triển khai rộng rãi qua tờ rơi, phát thanh, hội thảo, tọa đàm, v.v.

Về quyền bầu cử, quy định tại Điều 25 của ICCPR, năm 2015 Việt Nam ban hành Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu hội đồng nhân dân, quy định công dân được tham gia bầu cử và ứng cử, không phân biệt giới tính, dân tộc, hay tôn giáo. Nhờ đó các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và hội đồng nhân dân các cấp được tổ chức định kỳ, minh bạch, với tỷ lệ cử tri đi bầu luôn đạt mức cao.

Tại kỳ bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XIV (22/5/2016) và khóa XV (23/5/2021), tỷ lệ cử tri cả nước tham gia đạt hơn 98%. Điều này phản ánh sự tham gia tích cực và trách nhiệm của người dân vào đời sống chính trị. Có thể khẳng định, những nỗ lực của Việt Nam trong việc nội luật hóa ICCPR phù hợp với điều kiện kinh tế-xã hội và truyền thống văn hóa tạo nền tảng pháp lý vững chắc để thực thi các quyền dân sự và chính trị.

Suốt hơn 40 năm, kể từ khi gia nhập ICCPR, Việt Nam đạt nhiều thành tựu đáng ghi nhận trong việc bảo đảm các quyền dân sự và chính trị, thể hiện qua hoạt động cải cách pháp luật, các chương trình mục tiêu quốc gia và các chính sách thúc đẩy quyền con người. Riêng giai đoạn 2019 - 2025, kể từ Phiên họp thứ 143 (tháng 3/2019) đến Phiên họp thứ 144 (tháng 7/2025), Việt Nam ban hành và sửa đổi nhiều văn bản pháp luật quan trọng thể hiện cam kết giảm dần việc áp dụng án tử hình, phù hợp với xu thế quốc tế và Điều 6 của ICCPR.

Mới đây, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 đã bỏ hình phạt tử hình đối với tám tội danh gồm: Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội phá hoại cơ sở vật chất-kỹ thuật của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; tội vận chuyển trái phép chất ma túy; tội tham ô tài sản; tội nhận hối lộ; tội phá hoại hòa bình, gây chiến tranh xâm lược. Những người bị kết án tử hình về tám tội nêu trên trước ngày 01/7/2025 sẽ không phải thi hành án và được chuyển xuống tù chung thân.

Luật Tư pháp cho người chưa thành niên năm 2019 và Luật Phòng, chống mua bán người (sửa đổi) có hiệu lực từ ngày 01/7/2025 tăng cường các biện pháp bảo vệ nhóm dễ bị tổn thương, bảo đảm quyền được xét xử công bằng và quyền an toàn cá nhân.

Các chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2021 - 2025, như: Đề án tổng thể phát triển kinh tế-xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 - 2030 (Nghị quyết số 88/2019/QH14 của Quốc hội, ban hành 18/11/2019) tập trung vào 10 dự án thành phần, thúc đẩy quyền tự quyết và bình đẳng dân tộc phù hợp với Điều 1, Điều 25 của ICCPR.

Khi triển khai, các dự án hỗ trợ đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt; phát triển giáo dục, y tế; và bình đẳng giới đã cải thiện đáng kể đời sống đồng bào và tạo cơ hội để người dân tiếp cận thông tin nhanh chóng và khuyến khích tham gia các hoạt động chính trị-xã hội.

Hay chương trình mục tiêu quốc gia giảm nghèo bền vững giai đoạn 2021-2025 (Quyết định số 90/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, ban hành ngày 18/1/2022) ưu tiên hộ nghèo, tăng cường quyền sống và an sinh xã hội, đặc biệt ở vùng khó khăn.

Các chính sách ban hành kịp thời đáp ứng yêu cầu giai đoạn mới đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy quyền con người, đặc biệt ở các vùng dân tộc thiểu số và miền núi.

Công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về quyền dân sự và chính trị không ngừng được đẩy mạnh. Ngày 26/9/2019, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1252/QĐ-TTg phê duyệt Kế hoạch tăng cường thực thi hiệu quả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị và các khuyến nghị của Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc.

Các hội nghị, hội thảo, và tập huấn về ICCPR được tổ chức trên toàn quốc với sự tham gia của các bộ, ngành, địa phương, và cộng đồng, từng bước nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân, đồng thời giúp các cơ quan chức năng thực thi pháp luật hiệu quả hơn, tạo nền tảng quan trọng giúp các quyền quy định trong ICCPR được hiện thực hóa sinh động trong đời sống.

Những nỗ lực của Việt Nam trong việc thực thi ICCPR nhận được sự ghi nhận tích cực từ cộng đồng quốc tế và các chuyên gia trong nước. Ủy ban Nhân quyền Liên hợp quốc, trong các khuyến nghị sau Phiên đối thoại lần thứ 3 năm 2019, ghi nhận những tiến bộ của Việt Nam trong việc hoàn thiện khung pháp luật và thực thi các quyền như quyền tự do tôn giáo, quyền xét xử công bằng, và quyền bình đẳng giới.

Đáng chú ý, tại Phiên rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ IV (tháng 9/2024) của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, Hội đồng Nhân quyền chấp thuận Báo cáo quốc gia của Việt Nam với 271 trên tổng số 320 khuyến nghị, đạt tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong 4 chu kỳ. Nhiều quốc gia bày tỏ tán đồng và đánh giá cao các thành tựu trong bảo đảm quyền con người, bao gồm quyền dân sự và chính trị của Việt Nam.

Mặc dù đạt nhiều thành tựu, Việt Nam vẫn đối mặt với một số luận điệu xuyên tạc, phủ nhận những nỗ lực trong việc thực thi ICCPR. Một số tổ chức, cá nhân cực đoan, thiếu thiện chí dựa trên nguồn thông tin không khách quan, không chính xác để cáo buộc Việt Nam vi phạm quyền tự do ngôn luận, giam giữ tùy tiện, và hạn chế quyền hội họp. Họ cho rằng Việt Nam hạn chế quyền tự do ngôn luận, nhất là trên không gian mạng. Tuy nhiên, thực tế cho thấy người dân Việt Nam được tự do tham gia mạng xã hội và bày tỏ quan điểm, ý kiến trong khuôn khổ pháp luật.

Theo Báo cáo Digital Việt Nam 2025 của We Are Social & Meltwater, tính đến đầu năm 2025, Việt Nam có 79,8 triệu người sử dụng internet với tỷ lệ 78,8% dân số có kết nối trực tuyến. Luật An ninh mạng năm 2018 chỉ ngăn chặn các hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai lệch, kích động bạo lực, hoặc gây mất ổn định xã hội. Một số trường hợp vi phạm bị xử lý thời gian qua đều được tiến hành theo đúng trình tự pháp luật.

Một cáo buộc khác cho rằng Việt Nam giam giữ tùy tiện một số cá nhân nhưng thiếu bằng chứng cụ thể và không xem xét các quy định pháp luật hiện hành là luận điệu sai sự thật. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) quy định rõ mọi cá nhân bị bắt giữ đều có quyền được thông báo lý do, quyền có luật sư, và quyền được xét xử công bằng. Hệ thống trợ giúp pháp lý miễn phí của Việt Nam hỗ trợ rất nhiều trường hợp, nhất là các nhóm dễ bị tổn thương, phù hợp với quyền được bảo vệ theo Điều 9 và Điều 14 của ICCPR.

Những thí dụ nêu trên phần nào cho thấy cách nhìn nhận, đánh giá thiếu khách quan của một số tổ chức, cá nhân, nhằm phủ nhận những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong việc thực thi ICCPR. Tuy nhiên minh chứng sống động trong phát triển kinh tế-xã hội, cải cách pháp luật, và cam kết quốc tế của Việt Nam là bằng chứng thuyết phục nhất cho những thành quả và quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước ta trong việc bảo đảm và thúc đẩy các quyền dân sự và chính trị, phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam tham gia.

Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Tịnh cho biết: “Những thông tin, bằng chứng đưa ra tại báo cáo cũng như phiên đối thoại sẽ là câu trả lời rõ ràng, phản bác những thông tin sai lệch về tình hình quyền con người tại Việt Nam”.

Với những kết quả đạt được, chúng ta tự tin khẳng định, Việt Nam luôn là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong việc thực thi Công ước ICCPR. Từ những cải cách mạnh mẽ trong xây dựng pháp luật, triển khai các chương trình mục tiêu quốc gia phù hợp với đòi hỏi giai đoạn mới, tăng cường phối hợp liên ngành, Việt Nam hoàn toàn đáp ứng các nghĩa vụ quốc tế, đồng thời hướng tới mục tiêu cao hơn: Xây dựng xã hội công bằng, dân chủ và thịnh vượng, vững bước tiến vào kỷ nguyên mới. Chúng ta cũng cần thẳng thắn nhìn nhận, hiện việc bảo đảm các quyền dân sự, chính trị vẫn còn không ít khó khăn, thách thức, song Việt Nam luôn thể hiện tinh thần cầu thị, cởi mở, lắng nghe ý kiến góp ý xác đáng, tiếp tục hoàn thiện các chính sách quyền con người.

Theo chia sẻ của đồng chí Nguyễn Thanh Tịnh, Việt Nam tham gia phiên đối thoại “trên tinh thần cầu thị, cởi mở đối với các vấn đề được đề cập để tiếp thu, tiếp tục thúc đẩy những nội dung chúng ta đã thực hiện tốt. Đồng thời, có cách tiếp cận phù hợp để thúc đẩy thực thi Công ước hiệu quả hơn nữa”. Bảo vệ và thúc đẩy quyền con người chính là mục tiêu của Đảng, Nhà nước ta, tạo động lực cho sự phát triển bền vững của đất nước./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)

Tinh gọn tổ chức bộ máy là đòi hỏi tất yếu từ thực tiễn

Tinh gọn bộ máy nhà nước là một cuộc cách mạng hành chính sâu rộng, thận trọng và kiên trì - xuất phát từ yêu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển đất nước và đặt trong tổng thể tiến trình đổi mới.

Tổng Bí thư Tô Lâm thăm, khảo sát thực tế
tại Trung tâm dịch vụ hành chính công
phường Xuân Hòa, Thành phố Hồ Chí Minh
(Ảnh: Thống Nhất/TTXVN)


Những thành tựu to lớn, vĩ đại và khá toàn diện đã đạt được sau 40 năm đổi mới, cùng với sự phát triển như vũ bão của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang đem đến cơ hội lịch sử đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Thực tiễn đó cũng đặt ra cho Việt Nam yêu cầu cấp bách thực hiện quyết liệt cuộc cách mạng nhằm xây dựng hệ thống chính trị thật sự tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong kỷ nguyên mới.

Dù vậy, các thế lực thù địch, phản động và những phần tử cơ hội chính trị vẫn không ngừng lan truyền các luận điệu xuyên tạc, phản động, bóp méo bản chất của vấn đề, nhằm gây hoài nghi trong nhân dân, kích động tâm lý bất mãn, gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, cản bước phát triển của đất nước. Chúng lan truyền hàng loạt thông tin, bài viết, video clip với những nội dung “sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”; “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”; “việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân.”

Trước hết, tình trạng bộ máy cồng kềnh, chồng chéo chức năng không chỉ là vấn đề kỹ thuật tổ chức, mà ảnh hưởng trực tiếp, sâu rộng tới quyền lợi của người dân, hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp và sự phát triển của nền kinh tế. Việc tiếp tục sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh gọn đầu mối, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và cơ quan đầu mối là yêu cầu cấp thiết để xây dựng một nền hành chính hiện đại, hướng tới phục vụ người dân và doanh nghiệp.

Thêm vào đó, gánh nặng tài chính mà bộ máy cồng kềnh gây ra là rất lớn. Theo số liệu từ Bộ Nội vụ (công bố năm 2023), tổng số cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị là khoảng 2,5 triệu người, trong đó viên chức sự nghiệp chiếm phần lớn. Chi thường xuyên cho bộ máy hành chính, trong đó có tiền lương, phụ cấp và chi phí hoạt động, đang chiếm một phần đáng kể trong ngân sách nhà nước. Số liệu thống kê của Bộ Tài chính cho thấy, trong nhiều năm liền, chi thường xuyên luôn chiếm khoảng 65-70% tổng chi ngân sách nhà nước, trong đó phần lớn là chi trả lương, phụ cấp cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đây là gánh nặng không nhỏ đối với nền tài chính quốc gia, đặc biệt trong bối cảnh chúng ta cần ưu tiên nguồn lực cho đầu tư phát triển, ứng phó với biến đổi khí hậu và các thách thức toàn cầu như dịch bệnh, chuyển đổi số, chuyển đổi năng lượng.

Trong bối cảnh ngân sách còn hạn chế, việc tinh giản bộ máy là điều kiện tiên quyết để giảm áp lực tài chính và sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn.Khi Việt Nam đang ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới, thì nền hành chính công hiện đại, minh bạch, linh hoạt là yếu tố then chốt để thu hút đầu tư, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia. Hơn nữa, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP đạt 8% trở lên trong năm 2025 và hai con số trong những năm tiếp theo để hiện thực hóa quyết tâm đạt mức thu nhập cao vào năm 2045. Một bộ máy cồng kềnh, trì trệ sẽ không thể thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thời đại số và xu hướng quản trị hiện đại.Ngoài ra, tinh giản bộ máy còn là bước đi cần thiết trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Khi bộ máy được sắp xếp hợp lý, trách nhiệm rõ ràng, cơ chế giám sát minh bạch, thì những kẽ hở cho tham nhũng sẽ bị thu hẹp. Đồng thời, đây cũng là cách để củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước.

Sự thật rõ ràng như vậy, song các thế lực thù địch, phản động và cơ hội chính trị vẫn trắng trợn xuyên tạc. Chúng rêu rao rằng đổi mới ở Việt Nam là đổi mới nửa vời vì không đổi mới chính trị và cải tổ hệ thống chính trị thì việc hợp nhất bộ máy không giải quyết gì. Đây là sự ngụy biện nguy hiểm, đánh tráo khái niệm nhằm phủ nhận nỗ lực cải cách thực chất và bài bản của Việt Nam, là sự xuyên tạc có chủ đích, mang tính kích động, nhằm làm mất lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng và con đường đổi mới đang đi.

Trong suốt gần 40 năm kể từ công cuộc Đổi mới được khởi xướng từ Đại hội VI của Đảng Cộng sản Việt Nam năm 1986, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử trên nhiều lĩnh vực. Từ một quốc gia nghèo nàn, lạc hậu, hứng chịu hậu quả nặng nề của chiến tranh, Việt Nam đã trở thành một nền kinh tế năng động, đầy tiềm năng và triển vọng hàng đầu khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đến năm 2024, quy mô nền kinh tế Việt Nam đạt hơn 476 tỉ USD, trở thành một trong 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thu nhập bình quân đầu người tăng từ dưới 100 USD năm 1988 lên gần 5.000 USD năm 2024. Việt Nam lọt vào nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới; nằm trong nhóm 20 nền kinh tế thu hút nhiều vốn đầu tư nước ngoài nhất thế giới từ năm 2019 đến nay, là một trong 10 quốc gia có lượng kiều hối lớn nhất thế giới.

Xuất khẩu đạt trên 405,53 tỉ USD, đưa Việt Nam lọt vào nhóm 20 quốc gia có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất thế giới. Khu vực kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng khi đóng góp hơn 40% GDP. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ hơn 70% năm 1986 xuống dưới 3% hiện nay (theo chuẩn nghèo đa chiều). Đồng thời, quốc phòng, an ninh và trật tự xã hội được đảm bảo, hệ thống an sinh xã hội ngày càng hoàn thiện, bảo hiểm y tế bao phủ trên 92% dân số.

Trong lĩnh vực đối ngoại, Việt Nam đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có 18 đối tác chiến lược và toàn diện. Việt Nam là thành viên năng động trong các tổ chức quốc tế, tích cực đóng góp vào hòa bình, hợp tác khu vực và toàn cầu.       Việc tổ chức thành công các sự kiện lớn như Hội nghị cấp cao ASEAN, WEF, APEC,... hay đảm nhận hai nhiệm kỳ Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là minh chứng cho uy tín ngày càng lớn của Việt Nam trên trường quốc tế.

Thành quả sau 40 năm đổi mới là bằng chứng hùng hồn nhất phản bác những luận điệu xuyên tạc cho rằng Việt Nam “đổi mới nửa vời” vì chưa cải cách hệ thống chính trị.       Thực tế chứng minh rằng Việt Nam đổi mới chính trị một cách có nguyên tắc, phù hợp với điều kiện lịch sử, văn hóa và thực tiễn phát triển của đất nước. Không thể có một Việt Nam phát triển, ổn định và hội nhập quốc tế như ngày nay nếu không có sự đổi mới về tư duy chính trị, về tổ chức bộ máy, về pháp luật và quản lý nhà nước.

Đổi mới chính trị là một phần then chốt trong mô hình đổi mới toàn diện mang bản sắc Việt Nam. Lịch sử chứng minh rằng mọi cuộc cách mạng chân chính, dù là về chính trị, kinh tế hay xã hội, đều cần đến sự hy sinh - thậm chí là hy sinh rất lớn. Cuộc cách mạng tinh giản bộ máy, đổi mới hệ thống chính trị ở Việt Nam hiện nay cũng không phải ngoại lệ. Sự hy sinh ở đây là sự từ bỏ vị trí, quyền lợi, sự ổn định của cá nhân vì lợi ích lớn hơn: sự vận hành hiệu của bộ máy Nhà nước tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả - phục vụ tốt hơn cho nhân dân và doanh nghiệp.

Hàng chục nghìn cán bộ, công chức, viên chức đã chấp nhận rời vị trí, chuyển công tác, nghỉ hưu trước tuổi hay từ chối tái bổ nhiệm, không phải vì họ yếu kém, mà vì họ đặt cái chung lên trên cái riêng, hiểu rằng một bộ máy cồng kềnh sẽ kìm hãm sự phát triển của cả đất nước. Tuy nhiên, trên tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” Đảng và Nhà nước có nhiều chính sách nhằm tạo điều kiện để người rời vị trí nhận được sự hỗ trợ tài chính, được chuyển đổi nghề nghiệp hoặc tiếp cận các chính sách an sinh xã hội.

Tinh gọn bộ máy nhà nước không phải là một sự thay đổi hình thức hay mang tính đối phó, càng không phải là “đổi mới nửa vời” như những luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch cố tình reo rắc. Trái lại, đây là một cuộc cách mạng hành chính sâu rộng, thận trọng và kiên trì – xuất phát từ yêu cầu bức thiết của thực tiễn phát triển đất nước và được đặt trong tổng thể tiến trình đổi mới toàn diện về kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.

Vì vậy, chúng ta cần kiên quyết phản bác những luận điệu thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị; đồng thời đẩy mạnh tuyên truyền làm rõ bản chất con đường đổi mới ở Việt Nam: toàn diện, có lộ trình, có chiều sâu và vì lợi ích lâu dài của nhân dân và dân tộc./.

(Trích nguồn: TTXVN)

    


Jul 7, 2025

Kịnh bản vụng về, xảo trá của Trần Bình Thản

           Trên trang “Luatkhoa”, Trần Bình Thản đã đăng tải bài viết: “Tại sao đốt lò ở Việt Nam thất bại?”, với nhiều luận điệu sai trái, thâm độc. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin trong xã hội, cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Trần Bình Thản.

Một là, luận điệu cho rằng “chống tham nhũng ở Việt Nam mang đậm màu sắc đấu đá nội bộ” nhằm chia rẽ nội bộ, làm giảm uy tín của Đảng, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thực tiễn cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam được triển khai bài bản, chặt chẽ, thận trọng, đúng nguyên tắc, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Từ Đại hội XII đến nay, hàng loạt vụ án lớn đã được đưa ra xét xử công khai, minh bạch. Chỉ tính riêng nhiệm kỳ Đại hội XIII (từ 2021 đến cuối năm 2024), đã có hơn 168.000 đảng viên bị kỷ luật, trong đó hơn 7.390 trường hợp do tham nhũng, tiêu cực; hơn 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý, gồm cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư tỉnh ủy, Bộ trưởng, Thứ trưởng, tướng lĩnh quân đội, công an. Điều đó cho thấy sự kiên quyết làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, chứ hoàn toàn không phải “đấu đá phe phái” như Trần Bình Thản xuyên tạc.

Hai là, luận điệu cho rằng “Việt Nam ban hành nhiều nghị quyết, quy định, văn bản luật nhưng không cải thiện tình hình và chống tham nhũng còn “rất yếu” là phủ nhận trắng trợn những nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, tăng cường minh bạch, kiểm soát tài sản, thu nhập, phòng ngừa xung đột lợi ích và tăng vai trò giám sát xã hội. Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), tích cực hợp tác quốc tế trong điều tra, xử lý nhiều vụ án lớn có yếu tố nước ngoài. Đơn cử như các vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB, Tân Hoàng Minh, FLC,… năm 2023. Đây là những minh chứng sinh động bác bỏ luận điệu cho rằng hệ thống pháp luật chỉ nằm trên giấy, không cải thiện được tình hình tham nhũng.

Ba là, luận điệu cho rằng “Việt Nam không có cơ chế bảo vệ người tố cáo và thiếu kiểm soát độc lập” là cố tình xuyên tạc thực tiễn phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Thực tế, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, Luật Tố cáo 2018 và các văn bản liên quan đã quy định rất rõ về cơ chế bảo vệ người tố cáo. Nhiều vụ án tham nhũng lớn được phát hiện từ tố giác của quần chúng, báo chí, mạng xã hội. Các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán, xét xử ở nước ta hoạt động theo chức năng độc lập, phối hợp chặt chẽ nhưng không chồng chéo. Năm 2024, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố mới 4.732 vụ án với 10.430 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý tài chính trên 104.000 tỷ đồng, thu hồi gần 19.000 tỷ đồng tài sản tham nhũng. Những con số đó đã tự nó bác bỏ hoàn toàn sự xuyên tạc “thiếu cơ chế kiểm soát độc lập” hay “thiếu nguồn lực chống tham nhũng”.

Bốn là, luận điệu cho rằng “hệ thống bổ nhiệm cán bộ chủ yếu dựa trên mua chức mua quyền nên không có động lực chống tham nhũng thực chất” là sự quy chụp ác ý, bịa đặt nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Công tác cán bộ ở Việt Nam được thực hiện rất chặt chẽ, đúng quy trình, tiêu chuẩn, nguyên tắc, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Trong những năm gần đây, hàng loạt trường hợp bổ nhiệm sai quy định, vi phạm pháp luật đã bị phát hiện, xử lý nghiêm minh, kể cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Riêng nhiệm kỳ Đại hội XIII, đã có 141 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, trong đó có 31 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương; 24 sĩ quan cấp tướng bị xử lý. Nhiều cán bộ tự giác xin từ chức là minh chứng thể hiện sự chuyển biến tích cực trong công tác cán bộ của Đảng.

Tóm lại, công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là cuộc chiến lâu dài, phức tạp, nhưng với sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, kết quả đạt được là rất rõ rệt. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đó chỉ càng cho thấy thủ đoạn thâm độc của Trần Bình Thản nhằm phá hoại uy tín, sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải kiên quyết, chủ động đấu tranh phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jul 6, 2025

Miễn học phí - Chính sách nhân văn hợp “lòng dân, ý Đảng”

          Bóp méo, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách là những luận điệu, chiêu trò quen thuộc mà Việt Tân và các thế lực thù địch, phản động sử dụng để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhất là khi Đảng, Nhà nước ta thực hiện miễn học phí cho học sinh các trường công lập từ bậc học mẫu giáo đến hết trung học phổ thông, chúng xuyên tạc rằng: “giữa bão thuế phí, giảm học phí là trò xoa dịu dư luận”. Song, thực tiễn lại trái với những xuyên tạc của chúng, bởi lẽ:

1. Miễn học phí là một trong những quyết sách rất nhân văn và có ý nghĩa lớn, chứ không thể đong đếm bằng những con số. Cần khẳng định rằng, miễn học phí là một trong những quyết sách rất nhân văn và có ý nghĩa lớn, một quyết định hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Theo thống kê, hiện cả nước có 23,2 triệu học sinh (chưa bao gồm học sinh học tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên), trong đó: 3,1 triệu học sinh mầm non dưới 5 tuổi; 1,7 triệu học sinh mầm non 5 tuổi; 8,9 triệu học sinh tiểu học; 6,5 triệu học sinh trung học cơ sở và 3 triệu học sinh trung học phổ thông. Miễn học phí tạo động lực để hàng triệu gia đình có thêm điều kiện chăm lo, đầu tư cho việc học tập cho con em; giúp giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, nhất là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, làm cho giáo dục công bằng và bình đẳng hơn. Qua đó, tác động tích cực đến chất lượng dân số, giáo dục và sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Miễn học phí cũng mở ra cho ngành giáo dục rất nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng toàn diện và môi trường học đường sẽ sớm được văn minh, lành mạnh hơn, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển bền vững, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ, đúng với chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với giáo dục, đào tạo và phù hợp với xu thế chung của các nước phát triển.

2. Miễn học phí là bước tiến cụ thể hóa chủ trương “giáo dục là quốc sách hàng đầu” của Đảng, Nhà nước ta, chứ không phải là trò xoa dịu dư luận. Như chúng ta đã biết, xuyên suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn kiên định quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mới đây nhất, tại Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị một lần nữa nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” và “đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”. Đặc biệt, Kết luận số 91-KL/TW cũng chỉ rõ chủ trương: “Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm đủ điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục và đào tạo; bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước như Nghị quyết số 29-NQ/TƯ đã đề ra. Đồng thời, kịp thời điều chỉnh tăng mức chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo phù hợp với tăng trưởng của nền kinh tế”.

Trong bối cảnh Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia có thu nhập thấp sang thu nhập trung bình, việc miễn học phí toàn quốc đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc đảm bảo mọi trẻ em, bất kể hoàn cảnh kinh tế gia đình, đều có quyền tiếp cận giáo dục cơ bản. Đây là một quyết sách đột phá, không chỉ dừng ở việc miễn học phí cho tiểu học (theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP) hay một số đối tượng đặc thù như hộ nghèo, dân tộc thiểu số, mà mở rộng ra toàn bộ học sinh phổ thông công lập – một bước đi chưa từng có trong lịch sử giáo dục Việt Nam, trực tiếp gỡ bỏ rào cản tài chính, vốn là nguyên nhân chính khiến nhiều trẻ em, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, phải bỏ học. Miễn học phí sẽ là “cú hích” để đảm bảo quyền học tập cơ bản cho mọi trẻ em. Đồng thời, thể hiện rõ trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho tương lai của thế hệ trẻ. Đây là bước đi chiến lược nhằm hiện thực hóa công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền và phát triển nguồn nhân lực bền vững, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Chính sách miễn học phí cũng thể hiện tính ưu việt của chế độ ta là “không để ai bị bỏ lại phía sau”, thực hiện đúng tinh thần bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng, trong đó có giáo dục theo Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tóm lại, miễn học phí cho học sinh công lập từ mầm non đến hết giáo dục phổ thông của Đảng, Nhà nước ta là chính sách thiết thực, mang ý nghĩa sâu sắc và giàu tính nhân văn. Mỗi người chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mưu đồ xuyên tạc chính sách miễn học phí của Việt Tân và các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Jul 1, 2025

Chúng ta vẫn là người Việt Nam khi địa chỉ hành chính thay đổi

           Tre Việt - Ngày 01/7, trang facebook Việt Tân đăng status “Sau một đêm tỉnh giấc, chúng ta sẽ mất rất nhiều thứ: mất tỉnh, mất huyện, mất xã”, nhằm dụng ý kích động, xuyên tạc thời khắc thiêng liêng và trọng đại của dân tộc khi chúng ta chính thức đồng loạt vận hành bộ máy chính quyền hai cấp tại 34 tỉnh, thành phố trong cả nước - một chỉnh thể hành chính mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cần khẳng định ngay rằng, công cuộc sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy hành chính của hệ thống chính trị đang được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị với tinh thần quyết liệt và khẩn trương. Việc thu gọn đầu mối, xóa bỏ chồng chéo chức năng, giảm tầng nấc trung gian và xây dựng mô hình chính quyền ba cấp không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là bước đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Dù khó khăn, Trung ương đã khẳng định: “Khó mấy cũng phải làm”, bởi đây là thời điểm vàng, khi đất nước đã hội đủ điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội sau gần 40 năm đổi mới. Mục tiêu cao nhất là kiến tạo một nền hành chính tinh gọn, phục vụ người dân ngày càng tốt hơn và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Tinh thần cải cách này lan tỏa mạnh mẽ từ Trung ương đến địa phương, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các chủ trương lớn đang nhanh chóng đi vào thực tiễn với khí thế “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, trở thành mệnh lệnh hành động của cả hệ thống chính trị. 

Hôm nay, ngày 01/7, Quyết định “Sắp xếp lại giang sơn” vì sự phát triển bền vững và khoa học của Đảng, Nhà nước ta bắt đầu trở thành hiện thực. Đây là thời khắc thiêng liêng và trọng đại của dân tộc khi bộ máy chính quyền địa phương hai cấp tại 34 tỉnh, thành phố trong cả nước chính thức vận hành. Sự kiện đánh dấu một chỉnh thể hành chính mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tầm vóc chiến lược đặc biệt lớn lao, được thiết kế cho cả hiện tại và tương lai, nhằm kiến tạo mô hình và không gian phát triển mới lâu dài và bền vững. Việc sáp nhập đơn vị hành chính không đơn thuần là sắp xếp lại bản đồ. Đó là một bước chuyển mang tính thể chế sâu sắc, khi Việt Nam chính thức bỏ cấp chính quyền trung gian ở cấp huyện - mô hình vốn tồn tại từ thời thuộc địa, từng phục vụ nhiều hơn cho quản trị hành chính chứ không tối ưu cho quản trị phát triển. Giờ đây, chính quyền cấp tỉnh và cấp xã sẽ trực tiếp “gần dân hơn, sát việc hơn”, loại bỏ tầng nấc trung gian, giảm chi phí bộ máy và tăng hiệu quả phục vụ. Đây là một thay đổi lớn, có thể ban đầu gây lẫn lộn về tên gọi, thủ tục, thậm chí là bâng khuâng trong tâm thức. Nhưng lịch sử luôn đòi hỏi dũng cảm - dám từ bỏ cái cũ để kiến tạo cái mới, nếu cái mới ấy phục vụ tốt hơn cho nhân dân, cho đất nước.

Cũng chính vì vậy mà, hàng triệu người dân từ Bắc chí Nam thức dậy trong một “địa chỉ hành chính mới” - tên tỉnh đổi khác, tên huyện không còn. Nhưng có một điều không đổi, không thể đổi: chúng ta vẫn là người Việt Nam, cùng chung một vùng trời quê hương, một dòng máu, một niềm tự hào không thể chia cắt. Nhiều người có thể bùi ngùi khi tên gọi một huyện, một xã, một tỉnh từng gắn với ký ức nay chỉ còn là dòng lịch sử. Nhưng chính trong giây phút ấy, chúng ta phải nhận ra: địa linh không nằm ở tên gọi, mà ở tinh thần và con người gắn bó với mảnh đất đó. Dù bạn sống ở bất cứ một xã của tỉnh mới, hay ở bất kỳ một đơn vị hành chính nào thì bạn đều đang sống dưới bầu trời Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Không có mảnh đất nào bị mất đi, không có cộng đồng nào bị lãng quên. Mọi đổi thay đều để phục vụ tốt hơn cho người dân ở chính nơi ấy - có dịch vụ công nhanh hơn, có bộ máy hiệu quả hơn.

Do đó, luận điệu xuyên tạc, kích động Việt Tân rằng “chúng ta sẽ mất rất nhiều thứ: mất tỉnh, mất huyện, mất xã”, chẳng lừa bịp được ai, mà còn trở thành lố bịch, luận điệu đo nhất định sẽ bị phá sản. Bởi vì: “khi địa chỉ hành chính thay đổi chúng ta vẫn là người Việt Nam”./.

 

Jun 30, 2025

Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy: Bước chuyển lịch sử không thể bị xuyên tạc

          Trong dòng chảy cải cách mạnh mẽ và quyết liệt hiện nay, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy Nhà nước chính là minh chứng sinh động cho tầm nhìn chiến lược, sự đổi mới tư duy và dũng khí chính trị của Đảng, Nhà nước. Đây không đơn thuần là một cuộc sáp nhập hành chính, mà là hành động cải tổ có tính căn cơ, chiến lược - thể hiện bản lĩnh cải cách vì dân, vì nước. Thế nhưng, trong khi cả hệ thống chính trị đang đồng lòng vào cuộc, thì một số thế lực thù địch, các tổ chức phản động như Việt Tân lại ra sức bóp méo sự thật, tung ra luận điệu xuyên tạc, thiếu tinh thần xây dựng và phản dân hại nước.

Cuộc sáp nhập lần này không phải là sự “chia việc cơ học”, càng không phải là “cuộc chiến chính trị” như những kẻ chống phá suy diễn. Đây là bước chuyển lớn của bộ máy Nhà nước, lần đầu tiên trong gần nửa thế kỷ, số đơn vị hành chính cấp tỉnh được thu gọn còn 34 - là con số ít nhất kể từ sau ngày thống nhất đất nước. Đây không phải là một con số khô khan, mà phản ánh một bước tiến về tư duy quản trị quốc gia, nhằm xóa bỏ tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, trùng lặp và lãng phí nguồn lực kéo dài trong nhiều năm qua.

Sự tinh gọn lần này không đơn thuần dựa trên ranh giới hành chính hay mật độ dân cư, mà là một cuộc tái cấu trúc chiến lược toàn diện, tính đến không gian phát triển dài hạn, năng lực tích hợp vùng, hạ tầng kết nối, văn hóa - xã hội - quốc phòng và đặc biệt là hiệu quả phục vụ nhân dân. Điều này đập tan luận điệu rằng việc sáp nhập làm “khó khăn thêm cho người dân”. Ngược lại, một bộ máy nhỏ hơn, rõ ràng hơn về phân quyền - phân cấp sẽ giúp tinh giản thủ tục, tiết kiệm thời gian, nâng cao chất lượng dịch vụ công. Một cấp xã hoạt động hiệu quả là tiền đề để Trung ương mạnh, để công cuộc quản trị quốc gia bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của Chính phủ số - công dân số - và xã hội số.

Chỉ trong vòng vài tháng triển khai, hơn 70% các địa phương đã hoàn tất việc sắp xếp tổ chức, kiện toàn nhân sự, vận hành bộ máy mới - đó là sự đồng thuận, không chỉ của hệ thống chính trị mà còn là niềm tin của nhân dân. Câu nói của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại hội nghị ngày 15/6/2025: “Đảng chỉ đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi” - chính là bản tuyên ngôn cho quyết tâm và niềm tin chiến lược đó.

Vậy thì tại sao một số kẻ lại cố tình công kích, bịa đặt rằng “Quốc hội chịu sự chi phối của Bộ Chính trị” để hạ thấp vai trò của cơ quan quyền lực cao nhất? Đơn giản, vì mục tiêu thật sự của họ không phải là phản biện chính sách mà là công kích thể chế, cổ súy cho mô hình “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự kiểu phương Tây” và mưu toan lái Việt Nam ra khỏi quỹ đạo mà nhân dân đã lựa chọn. Đó là giọng điệu không mới, nhưng ngày càng xảo quyệt, tinh vi, khi núp bóng những vấn đề được quan tâm để đánh lạc hướng dư luận, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ niềm tin.

Một số kẻ còn lớn tiếng đòi “xem lại ý nghĩa sáp nhập”, rồi rêu rao rằng “tái cấu trúc bộ máy là cuộc chiến nội bộ để giành quyền lực”. Đây là một sự vu khống trắng trợn. Thực tế, việc sáp nhập không những không gây bất ổn, mà ngược lại đã khai phóng cơ hội thăng tiến cho cán bộ thực chất, có năng lực, chấm dứt tư duy “chia ghế theo đơn vị hành chính”, giúp tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần trẻ hóa và chuẩn hóa đội ngũ công chức, viên chức từ cơ sở lên cấp tỉnh.

Từ góc độ cải cách thể chế, cuộc cách mạng lần này là cú huých mạnh vào “điểm nghẽn lịch sử” - tình trạng trì trệ, dàn trải, cơ cấu phình to nhưng hiệu quả thấp. Chúng ta không thể bước vào kỷ nguyên mới bằng tư duy hành chính cũ, mô hình quản lý lạc hậu. Chúng ta cần một bộ máy nhỏ nhưng tinh, một hệ thống công quyền mà mỗi đồng lương công chức đi kèm với giá trị phục vụ rõ rệt cho nhân dân, chứ không phải một hệ thống mà mỗi “ghế” là một “biên chế cồng kềnh”.

Dưới góc nhìn lịch sử, chưa bao giờ đất nước ta hội tụ được đồng thời: ý chí chính trị mạnh mẽ, cơ hội chuyển đổi số toàn diện, và sự đồng thuận xã hội sâu rộng như lúc này. Những ai từng đi qua thời kỳ chia tách tỉnh ồ ạt sau năm 1975 để quản lý dễ hơn, sẽ hiểu rằng lần cải cách hiện nay không phải là “đi lùi” - mà là bước nhảy vọt về chất lượng quản trị. Nếu như khi xưa, chia tách để nắm bắt sát sao, thì ngày nay, kết nối số, hạ tầng hiện đại, và phương thức điều hành khoa học cho phép chúng ta quản lý cả vùng rộng lớn với hiệu quả cao hơn mà không cần nhân sự phình to thêm.

Một cuộc cải cách tầm cỡ như vậy tất yếu sẽ vấp phải những phản ứng từ những nhóm lợi ích cũ, từ các thế lực không muốn thay đổi vì sợ mất đặc quyền, đặc lợi. Nhưng cũng như mọi cuộc cải cách vĩ đại khác, sự chính danh, đúng đắn, và lòng dân chính là lá chắn vững chắc nhất. Những tiếng nói xuyên tạc, bôi nhọ sẽ sớm bị lật tẩy bởi chính sự vận hành hiệu quả của bộ máy mới, bởi sự hài lòng thực chất của người dân, và bởi sự phát triển bền vững trong thời gian tới.

Tinh gọn để mạnh hơn. Cải cách để phục vụ dân tốt hơn. Và dám thay đổi để tiến xa hơn. Đó là con đường đúng, là quyết sách lịch sử mà không thế lực thù địch nào có thể ngăn cản được. Đã đến lúc chúng ta tin tưởng, ủng hộ, và cùng đồng hành với cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy - không chỉ bằng lời nói, mà bằng sự hợp tác, đồng thuận và hành động cụ thể vì một Việt Nam hiện đại, minh bạch và thịnh vượng./.

(Trich nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Jun 26, 2025

Vạch trần chiêu trò xuyên tạc, công kích của Trương Nhân Tuấn về “biên giới mềm”

           Trong bối cảnh Việt Nam đang khẳng định vai trò và vị thế trên trường quốc tế, phát ngôn của Thủ tướng Phạm Minh Chính - “Hàng không Việt Nam bay tới đâu, biên giới mềm của Việt Nam tới đó” - đã gây chú ý lớn. Đây không chỉ là một hình ảnh biểu trưng mà còn là thông điệp chiến lược về sức mạnh mềm, hội nhập và kết nối toàn cầu.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn giới chuyên môn và công chúng đón nhận phát ngôn này một cách tích cực, Trương Nhân Tuấn - một cây bút phản động có thâm niên chống phá, lại chọn cách bóp méo và công kích một cách thô thiển. Trong bài viết mang giọng điệu hằn học, ông ta gọi Thủ tướng Việt Nam là “đầu đất”, và biến khái niệm “biên giới mềm” thành trò cười rẻ tiền bằng việc gán ghép nó với những hình ảnh lệch lạc như “buôn lậu”, “ăn cắp”, “trồng cần sa”.

Cần nói rõ: “biên giới mềm” không phải là một phát ngôn ngẫu hứng, mà là một ẩn dụ được xây dựng trên nền tảng của học thuyết “quyền lực mềm” do giáo sư Joseph Nye (Harvard) khởi xướng. Đó là năng lực gây ảnh hưởng thông qua sức hấp dẫn văn hóa, mô hình phát triển, tri thức, sáng tạo - thay vì vũ lực hay ép buộc. Khi Việt Nam mở đường bay tới nhiều trung tâm kinh tế lớn trên thế giới, điều đó thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xuất khẩu hình ảnh quốc gia: từ du lịch, thương mại đến giáo dục, khoa học và giao lưu nhân dân.

Việc Trương Nhân Tuấn cố tình cào bằng “biên giới mềm” với các hiện tượng cá biệt tiêu cực là một hành động vừa thiếu hiểu biết, vừa mang động cơ bôi nhọ. Những vụ việc như buôn lậu, ăn cắp tuy có thật, nhưng chỉ là số ít và không thể đại diện cho hàng triệu người Việt đang sinh sống, học tập và lao động chân chính tại hơn 100 quốc gia. Chính họ - từ những kỹ sư ở Nhật, bác sĩ ở Pháp, doanh nhân ở Mỹ, đến các nhà khoa học đoạt giải quốc tế - mới là biểu hiện sống động nhất của “biên giới mềm”.

Thủ đoạn của Trương Nhân Tuấn không dừng lại ở việc phỉ báng lãnh đạo hay xuyên tạc phát ngôn. Ông ta còn tỏ rõ ác ý khi khái quát xã hội Việt Nam bằng những cụm từ hằn học như “trai làm nô, gái làm tì”. Phải chăng hàng chục tỉ USD kiều hối mà người lao động gửi về mỗi năm - chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận 5,2 tỉ USD trong nửa đầu năm 2024 - cũng là “dấu hiệu nô lệ”? Kiều hối không chỉ là tiền, đó là niềm tin, là sự kết nối vô hình giữa hàng triệu trái tim Việt xa quê với đất mẹ - một trong những “biên giới mềm” bền vững nhất.

Không dừng lại ở đó, Trương Nhân Tuấn còn sử dụng chiêu trò xưa cũ: quy chụp chủ trương “toàn dân làm giàu” thành “vòng kim cô xã hội chủ nghĩa”. Ông ta phớt lờ thực tế rằng kinh tế tư nhân Việt Nam đang phát triển mạnh, đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Các startup như MoMo, Sky Mavis, VinFast đang gây tiếng vang toàn cầu. Việt Nam còn là quốc gia đầu tiên trong ASEAN tự sản xuất và xuất khẩu điện thoại 5G do kỹ sư trong nước phát triển - đó chẳng phải là biểu hiện rõ ràng của một “biên giới mềm công nghệ” hay sao?

Trên lĩnh vực văn hóa, từ phim đoạt giải tại các liên hoan quốc tế, đến món ăn Việt xuất hiện trong Michelin Guide, nhạc Việt lan tỏa tại Nhật, Hàn,… tất cả đều là những “đường bay vô hình” mà hình ảnh Việt Nam đang vươn xa. Chúng không phải sản phẩm của tuyên truyền, mà là thành quả của sự nỗ lực bền bỉ và sáng tạo. Bài viết của Trương Nhân Tuấn, thay vì phản biện chính sách, lại chỉ chọn cách phủ định mọi thành tựu - từ kinh tế, giáo dục đến văn hóa. Đó không còn là phản biện, mà là vu cáo và xuyên tạc có chủ đích.

Một xã hội hiện đại cần tiếng nói phản biện, nhưng phản biện không thể là sự giễu cợt mang tính hạ nhục, càng không thể là tấm bình phong cho định kiến và mưu đồ chính trị. Khi một Thủ tướng phát biểu về tầm nhìn “biên giới mềm”, điều cần làm là cùng nhau suy nghĩ: làm sao để tầm nhìn đó được hiện thực hóa? Làm sao để hàng không Việt Nam không chỉ chở hành khách mà còn chở theo hình ảnh tích cực về con người, trí tuệ, sản phẩm và văn hóa Việt Nam?

Sẽ luôn có người tìm cách mỉa mai, bóp méo, hoặc thậm chí bịa đặt, nhưng điều quan trọng là: chúng ta - những người quan tâm đến sự phát triển đất nước cần tỉnh táo để không bị dẫn dắt bởi những lời lẽ giật gân, cực đoan như của Trương Nhân Tuấn. Vì rốt cuộc, câu hỏi không còn là “biên giới mềm có tồn tại hay không” - mà là: mỗi công dân Việt Nam làm gì để nó ngày càng lan tỏa, vững chắc và đáng tự hào./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Jun 25, 2025

Kịnh bản vụng về, xỏ xiên về thuế khóa của Dư Lan

         Trên trang RFA, bút danh Dư Lan đã đăng bài: “Muốn tiểu thương khai thuế minh bạch, chính quyền phải làm sạch mình trước”. Với những lời lẽ “xỏ xiên”, Y cho rằng: “Việt Nam thiếu luật pháp minh bạch. Thiếu hệ thống công an, thuế, “quản lý thị trường” trong sạch; hay Quốc hội Việt Nam và Bộ tài chính đã thực thi một chiến dịch gần như “đánh úp” dân… không có lộ trình cho dân chuẩn bị về nhận thức, tài chính và phương tiện”. Và cuối cùng Y đi đến kết luận: “Nhà nước đang vận hành một hệ thống bị lỗi… Nhà nước phải sửa lỗi hệ thống trước”. Vậy, hãy xem “ẩn sâu bên trong” những lời lẽ của Dư Lan đúng hay sai?

          Thứ nhất, không thể lấy “cái riêng” để suy diễn, quy chụp và phủ nhận vai trò của cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường. Việc một số cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường có những hành vi vi phạm trong thực thi nhiệm vụ liên quan đến hộ kinh danh nhỏ lẻ như Dư Lan đưa ra là hoàn toàn không sai. Tuy nhiên, vấn đề này cần nhận thức là, số cán bộ đó đã vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và quy định của từng ngành trong thực thi nhiệm vụ, đó là do số cán bộ này thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân trong quá trình công tác. Những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường nói trên chỉ là cá biệt của một bộ phận chứ không phải là tất cả, không thể quy kết cái hiện tượng riêng lẻ thành cái chung và phổ biến. Và tất cả hành vi lệch chuẩn của một số cán bộ gây nhũng nhiễu, khó khăn cho hộ kinh doanh cá thể trong thời gian qua chỉ là hiện tượng thuộc về hành vi, đạo đức cá nhân, đây là những “con sâu làm rầu nồi canh”, chứ không phải là nguyên nhân từ việc “Nhà nước đang vận hành một hệ thống bị lỗi” như lời của Dư Lan. Do đó, không thể lấy cái cá nhân (cái riêng) để suy diễn, quy chụp lên cái tổng thể, bản chất. Không thể duy ý chí, cảm tính chỉ dựa vào thiếu sót, hạn chế của một vài cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường trong sự nghiệp phát triển của đất nước.
          Thứ hai, chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai thực tế là bước tiến giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, tạo sự minh bạch, công bằng trong kinh doanh. Chúng ta đều biết, thuế khoán đối với hộ kinh doanh được thực hiện trong điều kiện nền kinh tế ở trình độ phát triển thấp, khoa học và công nghệ chưa hiện đại; khả năng áp dụng công nghệ của hộ kinh doanh nhỏ chưa tốt, không có điều kiện sử dụng sổ sách kế toán để ghi nhận doanh thu thực tế, nên cần ước tính doanh thu để tính thuế. Những năm qua, ở nước ta thuế khoán đối với các hộ kinh doanh nhỏ lẻ là giải pháp hữu hiệu để huy động đầy đủ các nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của nền kinh tế số hiện nay, khi hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt và các công cụ hỗ trợ quản lý doanh thu kinh doanh phát triển mạnh, đảm bảo các điều kiện để chuyển sang phương thức kê khai thuế. Cho nên, việc bỏ thuế khoán sẽ đảm bảo tính minh bạch, bình đẳng trước pháp luật giữa các đối tượng kinh doanh, dù là cá nhân hay doanh nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy các hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp – đây là giải pháp quan trọng để đạt mục tiêu có thêm 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 mà Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đề ra.
          Thứ ba, chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai thực tế là biện pháp quan trọng trong chống buôn lậu, hàng giả, bảo vệ doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững. Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ vừa trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với đất nước trong kỷ nguyên mới là “phát triển kinh tế tư nhân”. Không chỉ vậy, mà phải “phát triển nhanh.”, “bền vững”, “hiệu quả” và “chất lượng cao” vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài; cần được cụ thể hóa trong các chiến lược, chính sách phát triển của đất nước; nhằm phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, kích hoạt, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, phát triển kinh tế tư nhân nhanh, không đồng nghĩa với việc làm ngơ trước những gian lận thương mại với lời biện bạch, “chiếu cố người buôn bán nhỏ”… thì làm sao có sự bền vững chứ chưa nói đến chuyện giải phóng sức sản xuất.
           Khi hàng giả còn trà trộn với hàng thật thì những doanh nghiệp làm ăn chân chính, nói không với hàng không rõ nguồn gốc, hàng vi phạm bản quyền trí tuệ, mua và bán đều theo quy định về hóa đơn, đóng thuế đầy đủ sẽ rất khó cạnh tranh bình đẳng về giá. Rất dễ thua trên thị trường nội địa vì chịu nhiều thua thiệt, những “ngay thương” lại mang tiếng xấu như “gian thương”. Vì, mua bán theo quy định về hóa đơn, xuất xứ hàng hóa không chỉ là để “nộp thuế đúng” dựa trên doanh thu thực, mà cũng là một cách để minh bạch hóa thương trường, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần tham gia. Việc cánh cửa “lách luật,” “né thuế” bị thu hẹp dần sẽ tạo tâm lý yên tâm, không so bì từ phía doanh nghiệp làm ăn lành mạnh và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
            Cho nên, trước tình trạng một số hộ kinh doanh tạm nghỉ buôn bán trong thời gian gần đây hay từ chối hình thức thanh toán chuyển khoản có thể là do họ chưa tìm hiểu thấu đáo các quy định mới, hoặc có thể đây là sự chống đối cơ quan chức năng từ một số đối tượng. Chúng ta cần nhìn nhận một cách đầy đủ và tỉnh táo, tránh vô tình cổ xúy cho hành vi sai trái hoặc mắc mưu theo luận điệu của các đối tượng phản động như Dư Lan./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)