Sep 13, 2025

Cảnh giác trước thủ đoạn lợi dụng tình hình Nepal để kích động chống phá ở Việt Nam

     Tre Việt - Ngày 11/9, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng Status: “Tự do không bao giờ là quà tặng. Người Nepal đã tự đi lấy nó về, chỉ sau hai ngày vùng lên. Người Việt cũng có thể!”. Đây là chiêu bài quen thuộc: “mượn chuyện nước ngoài để gieo rắc bất ổn trong nước”, khi những ngày gần đây, Chân Trời Mới Media và các trang mạng xã hội thiếu thiện chí, chuyên chống phá Đảng, Nhà nước ta, như: Việt Tân, Tiếng dân,… lợi dụng tình hình bất ổn tại đất nước Nepal để lèo lái dư luận, gieo rắc hoài nghi, kích động, lôi kéo người dân, nhất là những người nhẹ dạ cả tin, phần tử bất mãn, chống đối chế độ, gây mất trật tự xã hội. Tuy nhiên, đó chỉ là lời kêu gọi, kích động hết sức hoang tưởng của những kẻ chuyên “mượn gió bẻ măng”. Bởi giữa Việt Nam và Nepal là hai câu chuyện hoàn toàn khác nhau, cả về thể chế, xã hội lẫn con đường phát triển. Việc so sánh và kích động đó không chỉ khiên cưỡng mà còn phơi bày dã tâm của chính họ.

     Trước hết, ở Nepal, chính lệnh cấm mạng xã hội châm ngòi “biểu tình Gen Z” đẫm máu. Cuộc “biểu tình Gen Z” phản đối lệnh cấm mạng xã hội đã biến thành một trong những vụ bạo lực đẫm máu nhất lịch sử hiện đại của nước này. Từ nửa đêm 04/9, người dân Nepal không thể truy cập hàng chục nền tảng mạng xã hội và ứng dụng nhắn tin; trong đó, có WhatsApp, Facebook, Instagram, WeChat, cùng các trang, như: YouTube và Linkedin, sau lệnh cấm của Chính phủ. Lệnh cấm được thực thi sau khi Chính phủ Nepal yêu cầu các nền tảng mạng xã hội phải đăng ký giấy phép và chỉ định đại diện để xử lý khiếu nại từ người dùng. Quyết định của chính phủ đã gây hoang mang trên toàn quốc, làm dấy lên lo ngại về tác động với ngành du lịch, đặc biệt là việc liên lạc của các gia đình có người thân ở nước ngoài. Hàng chục nghìn người ngày 08/9 đổ xuống đường biểu tình ở thủ đô Kathmandu, để bày tỏ giận dữ, với thành phần chủ yếu là người trẻ, khiến nó được gọi là cuộc “biểu tình Gen Z”.

     Trong khi đó, Việt Nam là quốc gia nằm trong nhóm có tỷ lệ người dùng mạng xã hội cao nhất thế giới với khoảng hơn 75% dân số, tương đương 76,2 triệu người sử dụng tính tới đầu năm 2025, với các nền tảng phổ biến nhất là Zalo, Facebook và TikTok; mọi người dân Việt Nam được tự do tiếp cận thông tin, bày tỏ quan điểm, tranh luận trên các nền tảng, như: Facebook, YouTube, TikTok,... miễn là không được làm những việc vi phạm pháp luật hoặc pháp luật chưa cho phép.

     Thứ hai, những thành tưu phát triển đất nước trong  hơn 40 năm đổi mới đã khẳng định: Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế - xã hội, nâng cao đời sống nhân dân; vị thế và uy tín quốc tế của đất nước ngày càng được củng cố và nâng cao. Đó là thành quả từ sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng, sự quản lý hiệu quả của Nhà nước và sự đồng lòng của toàn dân. Đặc biệt là, trong thực hiện chính sách an sinh xã hội đã cho thấy, Đảng, Nhà nước Việt Nam đã và đang nỗ lực vì dân và đạt được những kết quả ấn tượng; hằng năm, Nhà nước đã dành khoảng 20% tổng chi ngân sách cho bảo đảm an sinh xã hội. Lần đầu tiên trong Tết Độc lập, mọi người dân đều được chăm lo chu đáo về nhiều mặt: Đảng, Nhà nước tặng quà 100.000 đồng/người. Chỉ trong vòng một năm (năm 2025), hàng trăm nghìn căn nhà tạm bợ ở vùng sâu, vùng xa đã được xóa bỏ, thay bằng nhà kiên cố nhờ chương trình xóa nhà tạm, nhà dột nát của Chính phủ. Đặc biệt, từ năm học mới 2025 - 2026, trên phạm vi cả nước sẽ miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ bậc mầm non đến hết bậc phổ thông trung học công lập. Bộ Giáo dục và Đào tạo cũng đang dự thảo Nghị định quy định chính sách hỗ trợ bữa ăn trưa cho học sinh tiểu học và trung học cơ sở học ở các xã biên giới đất liền với mức dự kiến 400.000 đồng/tháng, v.v. Những thành tựu về bảo đảm an sinh xã hội theo phương châm “không để ai bị bỏ lại phía sau” không chỉ là khẩu hiệu, mà là những hành động cụ thể, vừa là mục tiêu phấn đấu của công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vừa là động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, ổn định xã hội, nhằm thực hiện ngày càng tốt hơn quyền con người của người dân - đó chính là nền tảng vững chắc để tạo đồng thuận xã hội.

     Hãy đặt hai bức tranh cạnh nhau, một bên là Việt Nam - chính trị đất nước ổn định, kinh tế tăng trưởng luôn nằm trong tốp đầu thế giới, xã hội năng động, chính quyền vì dân đang triển khai nhiều cải cách đột phá. Cũng chỉ các đây ít ngày, các hoạt động kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh 2/9 đã mang đến cho nhân dân Việt Nam niềm phấn khởi, tràn đầy niềm vui, niềm tự hào. Không có đất nước nào mà người dân trải chiếu giữ chỗ 1 - 2 ngày để xem diễu binh, diễu hành như tại Việt Nam. Lý do là vì người dân yêu nước, người dân cũng muốn chứng kiến sức mạnh của đất nước mình. Với một bên là Nepal - đất nước đang lâm vào khủng hoảng nội bộ, biểu tình đường phố, bất ổn có nguy cơ kéo dài. Đem hai thực tế đối lập ấy ra làm “hình mẫu” để kêu gọi người Việt “noi theo”. Sự so sánh khập khiễng và lời kêu gọi, kích động lố bịch này sẽ chẳng lừa bịp được ai.

     Vì vậy, mỗi người dân Việt Nam yêu nước hãy giữ vững niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và chính quyền các cấp. Luôn nêu cao cảnh giác, nhận diện đúng bản chất, kiên quyết đấu tranh, bác bỏ luận điệu kích động, làm thất bại mọi âm mưu, hoạt động chống phá./.


Sep 10, 2025

Tình hữu nghị Việt - Cuba: Sự thật không thể xuyên tạc

           Trong thời gian gần đây, một số luận điệu thù địch đã cố tình phủ nhận mối quan hệ hữu nghị Việt Nam - Cuba, cho rằng đó chỉ là “khẩu ngôn cộng sản” giữa những người cầm quyền, không liên quan đến nhân dân. Cách suy diễn này không chỉ sai lầm mà còn là sự xúc phạm đối với lịch sử và đạo lý vốn trường tồn của cả hai dân tộc.

Trước hết, cần khẳng định rõ: tình cảm gắn bó giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Cuba là chân thực, được hình thành và thử thách qua những giai đoạn khó khăn nhất. Khi bom đạn Mỹ trút xuống miền Bắc, khi chiến trường miền Nam ngùn ngụt lửa khói, chính Cuba đã cử hàng trăm bác sĩ, chuyên gia sang Việt Nam. Họ không chỉ làm việc tại bệnh viện Đồng Hới, Hà Tĩnh, Quảng Bình mà còn trực tiếp chia sẻ hiểm nguy nơi tuyến lửa. Đây không phải là “khẩu hiệu chính trị” mà là sự sẻ chia máu thịt, một minh chứng sống động cho câu ca dao Việt Nam: “Lá lành đùm lá rách”. Một dân tộc cách nửa vòng trái đất, không có lợi ích vật chất gì, đã dốc lòng giúp Việt Nam - nếu không phải tình nghĩa anh em, thì là gì?

Khi Chủ tịch Fidel Castro khẳng định quan hệ Việt Nam - Cuba là “hình mẫu quốc tế không tiền lệ”, ông không nói theo lối tu từ trống rỗng. Trong quan hệ quốc tế hiện đại, hiếm có hai dân tộc nào xa cách về địa lý, khác biệt về văn hóa, nhưng lại đồng hành bền chặt đến vậy trong cuộc chiến sinh tử vì độc lập dân tộc. Sự độc đáo ấy chính là “hình mẫu” để các dân tộc khác noi theo. Việc vặn vẹo câu chữ, cho rằng “không tiền lệ thì làm sao là hình mẫu”, chỉ cho thấy sự cố chấp và thiếu thiện chí, cố tình phủ nhận giá trị lịch sử.

Đáng phê phán hơn là luận điệu xuyên tạc cho rằng Cuba “vi phạm lãnh thổ Việt Nam Cộng hòa” khi giúp ta mở đường Trường Sơn, hoặc cho rằng bác sĩ Cuba cứu chữa thương binh miền Bắc là “không đáng ghi ơn”. Đây là cách bóp méo bối cảnh lịch sử. Cần nhắc lại: chính quyền Sài Gòn khi đó không phải là đại diện hợp pháp của cả dân tộc, mà là một thể chế lệ thuộc vào Mỹ. Trong khi đó, Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam mới là lực lượng thể hiện nguyện vọng chính đáng của nhân dân. Cuba đã đứng về phía chính nghĩa, sát cánh cùng Việt Nam trong khát vọng thống nhất. Việc viện trợ, hỗ trợ y tế và mở tuyến đường huyết mạch không hề là “xâm phạm lãnh thổ” mà là sự đồng hành với công lý, góp phần quyết định để dân tộc Việt Nam giành thắng lợi.

Tình hữu nghị Việt - Cuba cũng không chỉ dừng ở chiến tranh. Sau 1975, Cuba tiếp tục hỗ trợ Việt Nam trong xây dựng đất nước. Những công trình như Bệnh viện Đồng Hới, Khách sạn Thắng Lợi ở Hà Nội không chỉ là công trình kiến trúc, mà là biểu tượng hữu hình của tình bạn. Người dân Quảng Bình, người dân Hà Nội đều từng trực tiếp hưởng lợi từ các công trình ấy. Nói rằng tình hữu nghị này chỉ là sản phẩm chính trị của “phe cộng sản” là cố tình phủ nhận trải nghiệm và ký ức của hàng triệu người dân Việt Nam.

Không thể phủ nhận rằng quan hệ Việt - Cuba là mối quan hệ đặc biệt, hiếm có trong lịch sử thế giới. Nó không phải là tài sản riêng của bất kỳ tổ chức chính trị nào, mà là giá trị chung của hai dân tộc. Chính điều đó khiến mọi âm mưu xuyên tạc đều trở nên lạc lõng. Bởi thực tiễn đã chứng minh: tình bạn Việt - Cuba không chỉ sống trong lời nói của lãnh tụ, mà sống trong trái tim của những người dân bình thường - từ bác sĩ Cuba ở Quảng Bình, đến bộ đội, thương binh, nhân dân Việt Nam từng được họ cứu giúp.

Những ai rêu rao rằng nhân dân không cần biết ơn Cuba, rằng tất cả chỉ là “nợ nần giữa cộng sản với nhau”, thực chất đang tìm cách chia rẽ khối đại đoàn kết, phá hoại mối quan hệ quốc tế chân thành. Nhưng lịch sử và thực tế đã, đang và sẽ tiếp tục bác bỏ những luận điệu đó.

Quan hệ Việt - Cuba chính là hiện thân của tình nghĩa “bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn”. Xa nhau nửa vòng trái đất, khác châu lục, khác ngôn ngữ, nhưng hai dân tộc lại chung nhịp đập vì độc lập, tự do và hạnh phúc. Đó là sự thật không một luận điệu xuyên tạc nào có thể phủ nhận./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

Lòng dân - Thế nước hôm nay

          Kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9 đã thành công rực rỡ. Khắp nơi và trên mạng xã hội có nhiều lời khen của các tầng lớp nhân dân.

Người dân vẫy tay chào các khối diễu binh,
diễu hành đi qua đường Tràng Thi

         Lần đầu tiên nước ta tổ chức lễ mít tinh, diễu binh, diễu hành quy mô lớn với số người tham gia và trực tiếp tham quan, cổ vũ nhiều như vậy nhưng công tác tổ chức thực sự chặt chẽ, chu đáo, bảo đảm tốt an ninh, trật tự, an toàn và các lực lượng trình diễn đều, đẹp; cả đại biểu và người xem, theo dõi trên phương tiện truyền thông đều hân hoan, tự hào.

Lần đầu tiên trong Tết Độc lập, mọi người dân đều được chăm lo chu đáo về nhiều mặt: Đảng, Nhà nước tặng quà 100.000 đồng/người; Thành phố Hà Nội miễn phí xe buýt, tàu điện trên cao, tạo thuận lợi cho nhân dân đi lại, tham quan; các xã, phường tổ chức điểm gửi xe miễn phí, bố trí nhà bạt, ghế ngồi, phục vụ ăn uống, sinh hoạt cho các cựu chiến binh, thương binh,... đến cổ vũ diễu binh, diễu hành. Hình ảnh đại biểu người có công với cách mạng ở vị trí trang trọng trên lễ đài, được đón tiếp trọng thị đã thể hiện sự quan tâm, tri ân sâu sắc, khiến toàn dân rất ấm lòng!

Có thể nói, những điều mong trong các sự kiện, lễ kỷ niệm lớn trước đây đã được các cơ quan từ Trung ương đến địa phương tiếp thu, rút kinh nghiệm, nghiêm túc khắc phục theo đúng tinh thần: Vì nhân dân phục vụ!

Khép lại đại lễ tuyệt vời về mọi mặt, toàn dân Việt Nam tràn đầy niềm tự hào, hạnh phúc, thực sự phấn khởi, tin tưởng trước thông điệp của Tổng Bí thư Tô Lâm trong diễn văn kỷ niệm: “Đặt lợi ích của Tổ quốc, của Nhân dân lên trên hết, trước hết”; “Không ngừng nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân đang là mệnh lệnh hành động của chúng ta” và “Vinh quang mãi mãi thuộc về Nhân dân”!

Lòng dân phấn khởi, tin tưởng chính là yếu tố quyết định thế nước phát triển văn minh, cường thịnh, vững bền./.

(Trích nguồn: qdnd.vn)

 

Sep 8, 2025

Phản bác quan điểm kêu gọi Việt Nam từ bỏ “ngoại giao cây tre”

            Trên trang BBC News, bài viết “Việt Nam với “ngoại giao thức thời”: từ hình tượng cây tre đến chiến lược quốc gia” đã đưa ra những lập luận kêu gọi Việt Nam từ bỏ chính sách “ngoại giao cây tre”, thay vào đó là “ngoại giao thức thời” dựa trên “ngũ tri cổ điển” và “kiến tạo luật chơi”. Đây là cách lập luận chứa đựng sự ngộ nhận nghiêm trọng, bỏ qua bản chất, giá trị và thành công của đường lối đối ngoại Việt Nam.

              1. Trước hết, cần nói ngay rằng, khái niệm “ngũ tri cổ điển” không phản ánh đầy đủ bản chất và chiều sâu của “ngoại giao cây tre”. Ngoại giao cây tre không đơn thuần là khéo léo trong ứng xử, biết tiến, biết lùi theo thời thế; đó là sự kết hợp giữa kiên định nguyên tắc và linh hoạt sách lược - vừa mềm dẻo để thích ứng, vừa kiên cường để giữ vững độc lập, chủ quyền và lợi ích quốc gia. Đây là sự chủ động, nhất quán và dài hạn, chứ không phải ứng xử “thức thời” theo biến động ngắn hạn. Nói cách khác, “ngoại giao cây tre” không chỉ biết thời - thế mà còn chủ động định vị, chọn lựa và kết hợp các thời - thế đó theo cách có lợi nhất cho đất nước, không để bị cuốn theo áp lực của bất kỳ thế lực nào. Việc giản lược đường lối ngoại giao Việt Nam vào vài yếu tố của “ngũ tri” chẳng khác nào cắt xén, bóp méo thực tế để phục vụ một luận điểm định trước.

              Nguy hiểm hơn, luận điệu “kiến tạo luật chơi” mà tác giả bài viết đưa ra – với hàm ý “chủ động hiện diện để định hình luật chơi” và “dám định vị mình như một trong những chủ thể của luật chơi” - không hề vô tư. Đây là một “mồi câu chính trị” được bọc trong vỏ bọc ngôn từ hấp dẫn, nhằm khéo léo dẫn dắt dư luận tới chỗ chấp nhận rằng Việt Nam nên từ bỏ thế cân bằng chiến lược vốn là cốt lõi của chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ. Một khi bước qua ranh giới này, Việt Nam sẽ mất đi lợi thế lớn nhất của mình về quyền tự quyết chiến lược, tự biến mình thành công cụ hoặc “tiền tuyến” phục vụ lợi ích của cường quốc. Đó không phải là “kiến tạo luật chơi”, mà là chấp nhận trở thành quân cờ trong ván cờ của kẻ khác. Lịch sử đã chứng minh, chính sách cân bằng không phải là né tránh, càng không phải là bị động; đó là lựa chọn chiến lược để tối đa hóa lợi ích, giảm thiểu rủi ro và bảo vệ không gian tự quyết trong một môi trường quốc tế đầy biến động; những quốc gia mất thế cân bằng thường phải trả giá đắt, khi chính sách đối ngoại bị chi phối bởi lợi ích bên ngoài.

              2. Cây tre trong tư tưởng đối ngoại Việt Nam không phải là một cá thể đơn lẻ, mà là một phần của “rừng tre” - tức là sự gắn kết giữa ngoại giao song phương, đa phương, quốc phòng, kinh tế, văn hóa, cùng sự đồng thuận và ủng hộ của nhân dân. “Gốc” của cây tre chính là lợi ích quốc gia - dân tộc, nền tảng chính trị - xã hội ổn định và niềm tin của nhân dân vào đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước. Khi “gốc” vững, cây tre sẽ không ngừng vươn cao, đón gió và đón ánh sáng từ nhiều phía. Không thể có chuyện “trật gốc” bởi “cơn sóng thần của địa - chính trị” như những kẻ luôn tìm cách chống phá sự ổn định, phát triển của đất nước đang cố tình tô vẽ.

              Chính sách “ngoại giao cây tre” mà Việt Nam theo đuổi suốt nhiều năm qua đã được kiểm chứng bằng kết quả thực tiễn: duy trì hòa bình, mở rộng quan hệ với tất cả các đối tác, tranh thủ hợp tác để phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời giữ vững độc lập, chủ quyền, không để mình bị phụ thuộc hay bị ép buộc đứng về một phía. Việt Nam không né tránh các vấn đề quốc tế mà còn chủ động tham gia, đóng góp, thậm chí giữ vai trò kiến tạo trong nhiều diễn đàn đa phương như ASEAN, Liên Hợp Quốc, APEC, ASEM,… nhưng luôn dựa trên nguyên tắc không liên minh quân sự, không đứng về bên này chống bên kia, tôn trọng luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên Hợp quốc. Đây là cách “kiến tạo” an toàn, bền vững và có lợi nhất cho Việt Nam, giúp chúng ta vừa giữ thế chủ động, vừa tránh rơi vào thế đối đầu trực diện với bất kỳ bên nào.

             Những lời kêu gọi “thức thời” kiểu BBC thoạt nghe có vẻ mới mẻ, nhưng thực chất là xúi giục Việt Nam bước vào con đường rủi ro khó kiểm soát, đánh đổi an ninh và ổn định lấy những “vai diễn” hào nhoáng nhưng mong manh trên sân khấu quốc tế. Việt Nam không cần phải “bật ngược” để chứng minh bản lĩnh, càng không cần trở thành “người kiến tạo luật chơi” theo cách lệ thuộc vào bất kỳ ai. Việt Nam đã và đang tham gia định hình luật chơi quốc tế theo cách riêng của mình - kiên trì thúc đẩy nguyên tắc tôn trọng luật pháp quốc tế, bình đẳng giữa các quốc gia, giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình. “Ngoại giao cây tre” không chỉ là hình tượng, mà là bản lĩnh, tầm nhìn chiến lược và con đường đúng đắn giúp Việt Nam vươn mình, hội nhập và phát triển bền vững./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Sep 2, 2025

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ giữa Quân đội với Công an

         Thời gian gần đây, trên các trang mạng xã hội xuất hiện loạt bài viết “Phe Công an được nâng đỡ, phe Quân đội phản công?” của bút danh Minh Hải, đăng trên trang Saigonnhonew. Bài viết đã cố tình thổi phồng, bóp méo tình hình nội bộ của Đảng, đặc biệt là quan hệ giữa Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân, cố ý dựng lên luận điệu sai trái rằng “Quân đội và Công an đang tranh giành quyền lực, ảnh hưởng” trước thềm Đại hội Đảng lần thứ XIV; có sự “đối đầu phe phái” giữa hai lực lượng; lãnh đạo cấp cao sử dụng quyền lực để “kiềm chế” hay “vượt mặt” lực lượng còn lại. Đây là những luận điệu nguy hiểm, nhằm chia rẽ khối đoàn kết trong nội bộ Đảng, phá hoại niềm tin của nhân dân với lực lượng vũ trang, và gián tiếp phục vụ âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch.

Bộ đội Biên phòng phối hợp với các lực lượng Công an,
 dân quân địa phương tuần tra, bảo vệ chủ quyền
an ninh biên giới, biển, đảo

Thứ nhất, cần hết sức cảnh giác với dụng ý chính trị phía sau những luận điệu sai trái của Minh Hải. Bài viết của Minh Hải đã sử dụng cách lồng ghép, cắt xén, dẫn dắt thông tin mang tính ám chỉ, suy diễn vô căn cứ để khẳng định rằng: Quân đội và Công an “đấu đá” để giành ảnh hưởng chính trị. Một số lãnh đạo cấp cao “đưa ra tiêu chuẩn” hoặc “sắp xếp nhân sự” nhằm loại bỏ, kiềm chế lực lượng còn lại. Sự thay đổi nhân sự ở cấp cao là biểu hiện của đấu tranh quyền lực giữa hai “phe”.

Những lập luận này đều là sự xuyên tạc trắng trợn, bởi vì: công tác cán bộ trong Đảng được thực hiện chặt chẽ theo Điều lệ Đảng, Quy chế bầu cử trong Đảng, sự lãnh đạo tập thể của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị và Ban Bí thư. Không một cá nhân nào có thể tự ý quyết định nhân sự cấp cao theo ý chí chủ quan. Việc kiện toàn, bố trí nhân sự lực lượng Quân đội và Công an luôn nhằm mục tiêu chung là phục vụ lợi ích quốc gia, bảo vệ Tổ quốc và nhân dân, chứ không vì lợi ích cục bộ hay “phe nhóm”. Dụng ý chính trị của những tài liệu kiểu này rất rõ: gây chia rẽ nội bộ, phá hoại niềm tin của nhân dân với sự lãnh đạo của Đảng, kích động tâm lý nghi kỵ giữa hai lực lượng nòng cốt bảo vệ Tổ quốc.

Thứ hai, đấu tranh bác bỏ luận điệu chia rẽ, gây mất đoàn kết nội bộ của các thế lực phản động, thù địch. Trong suốt chiều dài cách mạng Việt Nam, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân luôn là “thanh bảo kiếm” của Đảng, trung thành tuyệt đối với Tổ quốc, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa. Hai lực lượng này được sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân, và cùng chung mục tiêu: bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ, Quân đội và Công an luôn phối hợp chặt chẽ, vừa bảo vệ hậu phương, vừa chiến đấu ở tiền tuyến. Những chiến thắng lịch sử như Điện Biên Phủ (1954), Đại thắng Mùa Xuân (1975) đều có dấu ấn phối hợp của cả hai lực lượng. Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, Quân đội và Công an tiếp tục phối hợp bảo vệ chủ quyền biên giới, biển đảo, đấu tranh phòng chống tội phạm, khủng bố, bảo vệ an ninh mạng, an ninh kinh tế, v.v. Những dẫn chứng này khẳng định rằng không tồn tại và không thể tồn tại “đối đầu phe phái” giữa Quân đội và Công an, vì bất cứ sự rạn nứt nào đều trực tiếp gây nguy hại đến lợi ích dân tộc - điều mà cả hai lực lượng tuyệt đối tránh.

Thực tế hiện nay, Quân đội và Công an đang triển khai nhiều cơ chế phối hợp rất hiệu quả, như trong bảo vệ an ninh biên giới, biển đảo: Quân đội đảm nhiệm bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc phòng trên biển, trên bộ; Công an phối hợp đấu tranh chống buôn lậu, tội phạm ma túy, tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia. Trong phòng chống tội phạm công nghệ cao: Cục An ninh mạng và phòng chống tội phạm công nghệ cao (Bộ Công an) phối hợp với Bộ Tư lệnh Tác chiến không gian mạng (Bộ Quốc phòng) bảo vệ an ninh mạng quốc gia. Trong ứng phó thảm họa, cứu hộ, cứu nạn: Cả hai lực lượng cùng tham gia, như trong các đợt lũ lụt miền Trung, dịch Covid-19, sự cố thiên tai ở miền núi phía Bắc… Những kết quả phối hợp này cho thấy sự gắn bó chiến lược, tương hỗ lẫn nhau chứ không hề có mâu thuẫn quyền lực như bài viết xuyên tạc.

Tóm lại, bài viết của Minh Hải cố tình xuyên tạc về “mâu thuẫn, tranh giành quyền lực” giữa Quân đội và Công an là sự suy diễn chủ quan, không có căn cứ thực tiễn, đi ngược lại lịch sử đoàn kết, phối hợp của hai lực lượng vũ trang cách mạng Việt Nam. Nhân dân và cán bộ, chiến sĩ cần tỉnh táo nhận diện, kiên quyết bác bỏ những luận điệu sai trái này; đồng thời tiếp tục củng cố khối đoàn kết, thống nhất ý chí và hành động dưới sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng. Quân đội nhân dân Việt Nam và Công an nhân dân Việt Nam mãi mãi là hai cánh tay thép của Đảng, Nhà nước và Nhân dân, không kẻ thù nào có thể chia rẽ.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 - Sự thật lịch sử không thể xuyên tạc

        Trên trang mạng “Viettin”, bài viết của bút danh “BT” đã trắng trợn xuyên tạc bản chất lịch sử và nội dung của Tuyên ngôn Độc lập, với luận điệu ngụy biện rằng: “Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp” và “Nhân dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay, đánh đổ chế độ quân chủ lập nên chế độ cộng hòa”. Theo tôi, đó là những điều không hoàn toàn thật, mà là một nửa sự thật, không phải là thật”. Luận điệu này không chỉ xuyên tạc bản chất lịch sử, mà còn thể hiện rõ mưu đồ chính trị nhằm hạ thấp vai trò của cách mạng Việt Nam, của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh; xúc phạm nghiêm trọng đến sự hy sinh xương máu của biết bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu để giành lấy độc lập, tự do cho dân tộc.

1. Một sự xuyên tạc có chủ đích nhằm đánh tráo lịch sử để phủ nhận chính nghĩa. Bài viết của “BT” là một điển hình của kiểu “xuyên tạc nửa vời”, tức là cắt xén sự thật, bóp méo hoàn cảnh lịch sử nhằm tạo ra ảo tưởng về “tính khách quan”. Như chúng ta đã biết, trtước khi quân Nhật đảo chính Pháp vào tháng 3/1945, Việt Nam đã nằm dưới ách thống trị của thực dân Pháp gần một thế kỷ. Nhật Bản xuất hiện tại Đông Dương từ năm 1940 sau khi đánh chiếm Đông Á, nhưng vẫn giữ nguyên bộ máy thống trị của Pháp, chỉ thay đổi sau cuộc đảo chính ngày 9/3/1945. Sự hiện diện của Nhật không hề “giải phóng Việt Nam”, mà là sự thay thế một chủ nghĩa thực dân bằng một chủ nghĩa phát xít, tàn bạo và man rợ hơn. Cách mạng Tháng Tám năm 1945 không chỉ là sự lật đổ ách thống trị của phát xít Nhật, mà còn là sự đoạn tuyệt toàn diện và vĩnh viễn với chủ nghĩa thực dân Pháp và chế độ phong kiến, đưa đất nước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và dân chủ nhân dân. Bản Tuyên ngôn Độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc ngày 2/9/1945 là kết tinh của cuộc cách mạng đó, đồng thời tuyên bố trước toàn thế giới về chủ quyền không thể tranh cãi của dân tộc Việt Nam.

2. Tuyên ngôn Độc lập - chân lý lịch sử và pháp lý của nhân dân Việt Nam. Tuyên ngôn Độc lập của Việt Nam không chỉ là một văn kiện tuyên bố chấm dứt chế độ thuộc địa, mà còn là bản cáo trạng hùng hồn đối với cả chủ nghĩa thực dân và chủ nghĩa phát xít. Bằng những lập luận sắc sảo, Hồ Chí Minh đã dẫn tuyên ngôn của Hoa Kỳ (1776) và Cách mạng Pháp (1791) để khẳng định chân lý phổ quát về quyền sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc của mọi dân tộc, từ đó dẫn đến tuyên bố dứt khoát: “Chúng tôi tuyên bố thoát ly hẳn quan hệ với thực dân Pháp, xóa bỏ hết những hiệp ước mà Pháp đã ký về Việt Nam, xóa bỏ tất cả những đặc quyền của Pháp ở Việt Nam”. Đây không phải là một tuyên bố hình thức, càng không phải là “một nửa sự thật” như kẻ bút danh “BT” vu cáo. Mà là tuyên ngôn chính trị, pháp lý của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, được sinh ra từ chính sức mạnh quật khởi của Nhân dân, từ công cuộc giải phóng dân tộc vĩ đại dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Cần nhấn mạnh rằng: sự sụp đổ của phát xít Nhật là hệ quả của chiến tranh thế giới, nhưng sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa là kết quả trực tiếp của Cách mạng Tháng Tám, với hàng triệu Nhân dân nổi dậy giành chính quyền trên cả nước. Không có một đạo quân viễn chinh nào “trao trả” tự do cho Việt Nam. Chính Nhân dân ta đã tự đứng lên giành lấy nó; vì thế, mọi luận điệu phủ nhận thắng lợi của Cách mạng Tháng 8 năm 1945, phủ nhận giá trị lịch sử, ý nghĩa thời đại của Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là xuyên tạc bản chất của lịch sử dân tộc Việt Nam.

3. Luận điệu trong bài viết là chiêu bài nguy hiểm của chiến tranh thông tin và chân lý không thể bị bóp méo. BT ngụy biện rằng: “một nửa sự thật không phải là sự thật”, nhưng chính Y mới là kẻ đang cố tình cắt bỏ nửa còn lại của sự thật để bóp méo toàn bộ chân lý lịch sử. Đây là một thủ đoạn tinh vi nhưng không mới, được các thế lực phản động, lưu vong thường xuyên sử dụng nhằm gieo rắc hoài nghi trong quần chúng, đặc biệt là giới trẻ, những người có thể chưa nắm đầy đủ kiến thức lịch sử để phân biệt đúng, sai. Bằng những luận điệu “trí thức giả hiệu”, BT giả vờ “phản biện”, nhưng thực chất là tuyên truyền tư tưởng phản động; qua đó, từng bước hạ thấp vai trò của Đảng, bôi nhọ lãnh tụ Hồ Chí Minh, và sâu xa hơn, phủ nhận tính chính danh của chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đây là cuộc chiến tranh thông tin – tư tưởng nguy hiểm, âm thầm nhưng đầy độc hại, mà mỗi người dân yêu nước cần nhận diện, đấu tranh bác bỏ.

Thực tiễn lịch sử dân tộc Việt Nam đã chứng minh, chế độ thực dân, phong kiến đã bị nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh lật đổ hoàn toàn bằng sức mạnh cách mạng. Bản Tuyên ngôn Độc lập năm 1945 là minh chứng bất diệt cho thắng lợi đó. Không có sự thật nào vững chắc hơn sự thật đã được lịch sử ghi nhận bằng xương máu. Và không có thế lực nào, dù xảo trá đến đâu, có thể bóp méo được sự thật ấy. Những kẻ nhân danh “phản biện” để xuyên tạc, bôi đen lịch sử, nhất định sẽ bị lột mặt nạ trước ánh sáng công lý và lương tri dân tộc. Những luận điệu xuyên tạc của BT không chỉ vô căn cứ mà còn thể hiện rõ bản chất phản động, phản lịch sử./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Aug 29, 2025

“Vinh quang cho Đảng - Gánh nặng cho dân” - luận điệu xuyên tạc cần bác bỏ

     Tre Việt - Khi thời khắc kỷ niệm 80 năm Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đang đến gần, các thế lực thù địch, phản động tiếp tục gia tăng các hoạt động chống phá với nhiều chiêu trò tinh vi, trong đó đáng chú ý là những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận giá trị thiêng liêng các sự kiện chính trị, văn hóa trọng đại của dân tộc. Ngày 27/8/2025, trên trang facebook của tổ chức phản động Việt Tân đã xuất hiện những dòng trạng thái xuyên tạc cho rằng: “Một năm diễu binh tốn kém 2 lần. Để rồi sau đó tiền thuế tăng, rác tăng, điện tăng… Vinh quang cho Đảng - Gánh nặng cho dân”. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn, cố tình bóp méo bản chất, đánh tráo khái niệm, nhằm hạ thấp ý nghĩa chính trị và tinh thần của những sự kiện mang tầm vóc quốc gia, gieo rắc tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng, từ đó chia rẽ Nhân dân với Đảng. Luận điệu sai trái và độc hại ấy cần được nhận diện kịp thời và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

     Lễ diễu binh, diễu hành ở nước ta không phải là hoạt động phô trương hình thức như luận điệu xuyên tạc đã rêu rao, mà là nghi lễ chính trị - văn hóa thiêng liêng, được tổ chức vào những ngày lễ lớn của dân tộc như Quốc khánh 02/9, Ngày Chiến thắng 30/4, v.v. Đây là dịp thể hiện sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, khẳng định niềm tin của Nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời còn là thông điệp chính trị, là biểu tượng của niềm kiêu hãnh dân tộc. Qua đó, các thế hệ hôm nay và mai sau được bồi đắp thêm niềm tự hào dân tộc, hun đúc ý chí quyết tâm và trách nhiệm công dân trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước. Nhìn ra thế giới có thể thấy, việc tổ chức lễ diễu binh, duyệt binh trong những ngày lễ lớn là thông lệ phổ biến ở nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển hàng đầu. Tại Mỹ, ngày 14/6/2025 vừa qua, lễ duyệt binh kỷ niệm 250 năm Ngày thành lập Quân đội được tổ chức trang trọng với sự tham gia của hàng nghìn quân nhân. Ở Pháp, quốc khánh 14/7 luôn gắn liền với lễ duyệt binh hoành tráng. Ở Nga, Ngày Chiến thắng 9/5 hằng năm được đánh dấu bằng lễ duyệt binh tại Quảng trường Đỏ, quy tụ hàng vạn binh sĩ cùng nhiều khí tài hiện đại, v.v. Vậy thì, Việt Nam - với truyền thống hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước - hoàn toàn có cơ sở chính đáng để tổ chức các lễ diễu binh, diễu hành mang tầm vóc lịch sử và thời đại, vừa là sự kiện chính trị - văn hóa quan trọng, vừa là biểu tượng của niềm tự hào dân tộc.

     Một trong những thủ đoạn xuyên tạc phổ biến của các thế lực thù địch thường nhằm vào các vấn đề nhạy cảm, thu hút sự chú ý của dư luận, ở đây, Việt Tân khoét sâu vào vấn đề chi phí, coi đó là gánh nặng cho dân. Thực chất, kinh phí dành cho lễ diễu binh, diễu hành luôn được Nhà nước cân nhắc, tính toán chặt chẽ, nằm trong dự toán ngân sách quốc phòng - an ninh và các hoạt động kỷ niệm. Đây là ngân sách công khai, minh bạch, do Quốc hội quyết định, được quản lý và sử dụng đúng quy định. Luận điệu cho rằng diễu binh, diễu hành làm tăng thuế, tăng giá điện, tăng phí môi trường càng vô lý và sai sự thật. Thực tế nhiều năm qua, chưa bao giờ Nhà nước ta ban hành chính sách tăng thuế hay phí vì lý do tổ chức diễu binh, diễu hành. Các chính sách điều chỉnh thuế, giá điện, phí dịch vụ,… đều dựa trên căn cứ khoa học, kinh tế - xã hội khách quan, nhằm bảo đảm cân đối cung cầu, thúc đẩy phát triển và nâng cao đời sống Nhân dân. Hơn thế nữa, các sự kiện diễu binh, diễu hành còn góp phần kích thích du lịch, dịch vụ, quảng bá hình ảnh đất nước, mang lại lợi ích kinh tế - xã hội rõ rệt.

     Mặt khác, bản chất ngụy biện của luận điệu “vinh quang cho Đảng - gánh nặng cho dân” nằm ở chỗ cố tình tách rời Đảng ra khỏi Nhân dân. Thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam chính là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đại biểu trung thành của Nhân dân lao động và của cả dân tộc. Mọi thành quả mà Đảng giành được đều vì lợi ích của Nhân dân. Vinh quang của Đảng cũng chính là vinh quang của dân tộc. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng căn dặn: “Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân…”. Bởi vậy, mỗi lễ diễu binh, diễu hành trọng thể không phải chỉ là vinh quang riêng của Đảng, mà là vinh quang của Tổ quốc, là niềm tự hào của toàn thể Nhân dân Việt Nam.

     Mỗi cuộc diễu binh, diễu hành của đất nước là minh chứng sống động về sức mạnh chính trị, tinh thần và quân sự, là dịp để chúng ta tôn vinh lịch sử, khẳng định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội dưới sự lãnh đạo của Đảng là đúng đắn. Đó không phải là gánh nặng mà là vinh quang chung, sức mạnh chung và trách nhiệm chung của cả dân tộc. Có thể khẳng định rằng, những luận điệu xuyên tạc ý nghĩa của lễ diễu binh, diễu hành chỉ là trò hề xuyên tạc, nhằm gây hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân, hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng cần vạch trần và phản bác./.


Aug 27, 2025

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc việc đổi thẻ đảng viên

        Tre Việt - Trong những ngày gần đây, các thế lực thù địch, phản động và phần tử cơ hội chính trị tiếp tục lợi dụng không gian mạng để tung ra nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc chủ trương đổi thẻ đảng viên của Đảng. Ngày 18/8/2025, trang “Chân Trời Mới Media” phát tán tài liệu có nội dung xuyên tạc, cho rằng, đổi thẻ đảng viên là hành động “thay máu”, “phủ nhận di sản chính trị” mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để lại. Đây là sự bịa đặt trắng trợn, nhằm hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, phá hoại sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ. Trước tình hình đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức rõ bản chất, âm mưu và kiên quyết đấu tranh, làm thất bại luận điệu sai trái, phản động này.

1. Đổi thẻ đảng viên là yêu cầu khách quan, xuất phát từ thực tiễn quản lý và sinh hoạt Đảng

Thẻ đảng viên không chỉ là giấy tờ tùy thân chính trị, mà còn là minh chứng cho tư cách, trách nhiệm và nghĩa vụ của mỗi đảng viên. Trong bối cảnh hiện nay, nhiều thẻ đảng viên đã cấp từ hàng chục năm trước, chất lượng vật liệu kém, dễ hư hỏng, khó khăn trong lưu giữ và sử dụng. Đặc biệt, trước yêu cầu chuyển đổi số, việc đổi thẻ đảng viên mới có tích hợp công nghệ hiện đại, mã định danh, bảo mật cao là hoàn toàn cần thiết. Điều này giúp nâng cao hiệu quả quản lý tổ chức, tạo thuận lợi cho sinh hoạt, chuyển sinh hoạt Đảng, đồng thời hạn chế tình trạng giả mạo, lợi dụng thẻ đảng viên vào mục đích xấu.

Trong suốt quá trình xây dựng và phát triển, Đảng ta đã nhiều lần đổi thẻ đảng viên cho phù hợp với tình hình và yêu cầu thực tiễn. Sau mỗi lần đổi, công tác quản lý đảng viên đều thuận lợi, hiệu quả hơn, góp phần nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Vì vậy, lần đổi thẻ này là bước đi tất yếu, khoa học, phù hợp xu thế quản lý hiện đại, không hề liên quan đến những luận điệu xuyên tạc mà các thế lực thù địch bịa đặt.

2. Đổi thẻ đảng viên không phải “thay máu”, càng không phải “phủ nhận di sản”

Các thế lực thù địch cố tình gán ghép việc đổi thẻ đảng viên với khái niệm “thay máu”, hàm ý rằng Đảng đang thay đổi bản chất, phủ nhận lịch sử, “xóa bỏ” thế hệ đảng viên hiện nay. Đây là sự bịa đặt thâm độc, bởi trên thực tế, đổi thẻ đảng viên không hề làm thay đổi tư cách, quyền lợi hay nghĩa vụ của mỗi đảng viên. Người đảng viên vẫn là thành viên của tổ chức, vẫn được ghi nhận cống hiến, thành tích và quá trình rèn luyện của mình. Việc đổi thẻ đảng viên là một nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chính trị sâu sắc, gắn liền với công tác quản lý hồ sơ đảng viên, an ninh chính trị nội bộ. Mỗi đảng viên khi nhận được thẻ đảng viên mới là sự ghi nhận của Đảng về phẩm chất, tư cách của người đảng viên, càng thấy vinh dự, trách nhiệm cao trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, trình độ, năng lực. Vì vậy, những luận điệu “thay máu” chính là âm mưu phá hoại từ bên trong, làm suy yếu tổ chức mà chúng ta cần hết sức cảnh giác và nhận diện rõ.

Không dừng lại ở đó, một trong những luận điệu nham hiểm khác mà các thế lực thù địch rêu rao là việc đổi thẻ đảng viên đồng nghĩa với “phủ nhận di sản” mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng để lại. Đây là sự xuyên tạc trắng trợn và vô đạo đức, bởi di sản chính trị to lớn của cố Tổng Bí thư để lại được thể hiện ở đường lối xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ở tư tưởng kiên định chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; ở quyết tâm đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, làm trong sạch đội ngũ. Đó mới là giá trị bền vững, là kim chỉ nam cho hành động, đã và đang được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân quán triệt, vận dụng và phát huy. Thực chất, đổi thẻ đảng viên chính là sự kế thừa và cụ thể hóa tinh thần “xây dựng, chỉnh đốn Đảng” mà cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã dày công vun đắp; một tổ chức đảng kỷ luật, nghiêm minh, một đội ngũ đảng viên có hồ sơ, quản lý rõ ràng, minh bạch chính là biểu hiện sinh động của việc giữ gìn và phát huy di sản ấy.

3. Bản chất phản động của luận điệu xuyên tạc và yêu cầu kiên quyết đấu tranh

Phân tích kỹ sẽ thấy, luận điệu xuyên tạc việc đổi thẻ đảng viên chỉ là một trong muôn vàn chiêu trò chống phá mà các thế lực thù địch thường xuyên sử dụng nhằm vào Đảng ta. Mục tiêu sâu xa của chúng là gieo rắc hoang mang trong cán bộ, đảng viên để làm suy giảm niềm tin vào sự lãnh đạo; kích động mâu thuẫn, chia rẽ nội bộ, tạo ra sự nghi ngờ lẫn nhau giữa các thế hệ; hạ thấp uy tín của đội ngũ lãnh đạo, phủ nhận thành tựu xây dựng, chỉnh đốn mà nhiều nhiệm kỳ đã kiên trì thực hiện; từng bước tiến tới phủ nhận vai trò lãnh đạo, tác động tiêu cực đến sự ổn định chính trị, xã hội, phục vụ cho âm mưu “diễn biến hòa bình”. Như vậy, xuyên tạc về đổi thẻ đảng viên không chỉ là hành vi vu khống trắng trợn, mà còn là một đòn tấn công chính trị có chủ ý, có hệ thống, cần phải kiên quyết đấu tranh, làm thất bại.

Trước các luận điệu sai trái đó, mỗi cán bộ, đảng viên cần nhận thức đúng đắn, đầy đủ về chủ trương đổi thẻ đảng viên, coi đây là nhiệm vụ quản lý thường xuyên, khoa học, góp phần hiện đại hóa công tác Đảng; đồng thời, tích cực tuyên truyền, giải thích cho quần chúng nhân dân, đồng chí, đồng đội hiểu rõ bản chất của việc đổi thẻ, tránh để bị kẻ xấu lôi kéo, kích động. Mỗi cá nhân cần chủ động tham gia đấu tranh, phản bác trên các phương tiện thông tin đại chúng, đặc biệt là mạng xã hội, nhằm vạch trần sự phi lý, phản động trong các luận điệu xuyên tạc; mỗi tổ chức cơ sở đảng phải tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, bồi dưỡng niềm tin, củng cố bản lĩnh, tạo “kháng thể” vững chắc trước các thông tin xấu độc, góp phần bảo vệ sự trong sạch, vững mạnh của Đảng./.

Không thể xuyên tạc mối quan hệ thủy chung, trong sáng giữa Việt Nam và Cuba

         Tre Việt - Thời gian gần đây, lợi dụng tình hình khó khăn của đất nước Cuba và Chương trình vận động ủng hộ nhân dân Cuba của Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba (1960 - 2025), một số phần tử phản động, cơ hội đã lợi dụng không gian mạng để phát tán thông tin xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ thủy chung, trong sáng giữa Việt Nam và Cuba. Họ cho rằng, Việt Nam là quốc gia còn nghèo mà đi “lo chuyện bao đồng”, Chương trình Việt Nam ủng hộ Cuba là “làm màu”, “Việt Nam - Cuba chỉ là quan hệ hình thức”, “để tiền ủng hộ lo cho Nhân dân bị thiên tai, bão lũ”, v.v. Thực chất đây là những quan điểm phiến diện, với âm mưu chính trị hết sức tinh vi và nguy hiểm, cần phải nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

Trước hết, quan hệ Việt Nam - Cuba là một trong những mối quan hệ hiếm có trong lịch sử quan hệ quốc tế, được xây dựng bằng máu, sự hy sinh vô tư và lòng thủy chung son sắt của cả hai dân tộc. Câu nói bất hủ của lãnh tụ Fidel Castro: “Vì Việt Nam, Cuba sẵn sàng hiến dâng cả máu của mình” đã trở thành biểu tượng sáng ngời cho tình nghĩa quốc tế vô sản. Trong giai đoạn chiến tranh gian khổ, Cuba luôn giúp đỡ Nhân dân Việt Nam cả về vật chất và tinh thần, là nước đi đầu lên án Mỹ xâm lược Việt Nam và vận động các nước ủng hộ Việt Nam trên các lĩnh vực. Năm 1973, Cuba đã xây dựng 5 công trình lớn trị giá hơn 80 triệu USD (tương đương khoảng 600 triệu USD hiện nay) cho Việt Nam (gồm: Khách sạn Thắng lợi, Bệnh viện Đồng Hới, đường Xuân Mai, một trại gà và một trang trại bò sữa Ba Vì). Trong thời kỳ đổi mới và trong những giai đoạn khó khăn như đại dịch Covid-19, Cuba tiếp tục chia sẻ với Việt Nam bằng những hành động thiết thực, dù chính Nhân dân Cuba còn nhiều khó khăn.

Với đạo lý “Uống nước nhớ nguồn”, “Ăn quả nhớ kẻ trồng cây”, Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam mãi ghi nhớ tình cảm và xem việc đoàn kết, ủng hộ và hợp tác với Cuba là mệnh lệnh của trái tim, là chủ trương nhất quán không bao giờ thay đổi. Năm 2018, Việt Nam quyết định xóa toàn bộ khoản nợ cũ cho Cuba, thường xuyên cử các chuyên gia kinh tế đến Cuba để chia sẻ kinh nghiệm; đồng thời, kêu gọi Mỹ sớm dỡ bỏ lệnh cấm vận Cuba. Nhân dịp kỷ niệm 65 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam - Cuba (1960 - 2025), Việt Nam phát động Chương trình vận động ủng hộ Nhân dân Cuba, với chủ đề “65 năm nghĩa tình Việt Nam - Cuba” (thời gian từ 13/8 - 16/10/2025). Tính đến 11h00 ngày 26/8, Chương trình đã thu hút gần 1,9 triệu lượt người tham gia, với số tiền ủng hộ trên 377,5 tỉ đồng, gấp gần 6 lần mức mục tiêu đề ra (65 tỉ đồng). Sự giúp đỡ của Việt Nam giành cho Cuba không chỉ hợp lý, mà còn là hành động nhân văn, nghĩa cử cao cả của một quốc gia trọn nghĩa, vẹn tình, ngày càng đi vào thực chất, chứ đâu phải “lo chuyện bao đồng”, hay “làm màu” như các thế lực thù địch xuyên tạc.

Thứ hai, sự sẻ chia với đất nước và Nhân dân Cuba thể hiện rõ bản lĩnh và trách nhiệm quốc tế của Việt Nam. Một dân tộc từng trải qua chiến tranh, từng bị bao vây cấm vận, hơn ai hết, Việt Nam hiểu giá trị của sự giúp đỡ, đoàn kết. Đảng và Nhà nước ta nhiều lần khẳng định: “Việt Nam sẵn sàng làm bạn, đối tác tin cậy, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”. Chính vì vậy, việc giúp đỡ đất nước và Nhân dân Cuba không chỉ là nghĩa tình, mà còn là minh chứng khẳng định uy tín, vị thế, bản lĩnh và trách nhiệm của Việt Nam trong thời đại hội nhập. Bên cạnh đó, giúp đất nước và Nhân dân Cuba sẽ mở ra nhiều kênh hợp tác thực chất, nhất là trong nông nghiệp, y tế, giáo dục và dược phẩm. Cuba là quốc gia có thế mạnh về công nghệ sinh học và y tế; nhiều sản phẩm vắc-xin, thuốc đặc trị của Cuba đã được chuyển giao, hỗ trợ Việt Nam. Ngược lại, Việt Nam có kinh nghiệm trong phát triển nông nghiệp, sản xuất lúa gạo, có thể chia sẻ để giúp Cuba bảo đảm an ninh lương thực. Mối quan hệ này vừa là nghĩa tình thủy chung, vừa là hợp tác đôi bên cùng phát triển, không hề “hình thức” như các luận điệu xuyên tạc.

Thứ ba, họ cho rằng, Việt Nam nên “dành tiền ủng hộ cho đồng bào bị thiên tai, bão lũ” trong nước thay vì giúp Cuba. Đây là sự đánh tráo trắng trợn và cố tình gây chia rẽ trong lòng Nhân dân. Thực tế, Việt Nam chưa bao giờ thờ ơ với Nhân dân mình. Hằng năm, Quỹ Cứu trợ Trung ương cùng các địa phương, tổ chức, cá nhân đã quyên góp, hỗ trợ hàng nghìn tỉ đồng cho đồng bào vùng bão lũ, thiên tai và Nhân dân ở các địa bàn còn gặp nhiều khó khăn. Năm 2020, khi miền Trung trải qua đợt lũ lụt lịch sử, chỉ trong vài tuần, Nhân dân cả nước và kiều bào ta ở nước ngoài đã quyên góp được trên 2.000 tỉ đồng để cứu trợ, giúp hàng triệu người dân sớm ổn định cuộc sống. Năm 2023, trong đợt mưa lũ tại miền Bắc, tổng số tiền hỗ trợ, cứu trợ cũng lên tới hàng trăm tỷ đồng, v.v.

Không chỉ hỗ trợ đồng bào trong thiên tai, bão lũ, Việt Nam còn triển khai nhiều chương trình an sinh xã hội và đạt được nhiều kết quả tích cực, chính sách không ngừng cải thiện, đời sống vật chất và tinh thần của người dân được chăm lo ngày một tốt hơn. Đặc biệt, Chương trình hỗ trợ xóa nhà tạm, nhà dột nát trên phạm vi cả nước với chủ đề “Mái ấm cho đồng bào tôi” giai đoạn 2021 - 2025 đã tạo sự lan tỏa tích cực trên phạm vi cả nước. Đến nay, đã có hơn 330.000 căn nhà được xây mới hoặc sửa chữa, với tổng kinh phí hàng chục nghìn tỉ đồng. Qua đó, giúp Nhân dân còn khó khăn có chỗ ở an toàn, kiên cố, hiện thực hóa phương châm của Đảng và Nhà nước ta: “Không để ai bị bỏ lại phía sau”. Như vậy, việc Việt Nam ủng hộ Nhân dân Cuba không hề đồng nghĩa với việc lãng quên đồng bào mình. Ngược lại, nó cho thấy tinh thần nhân ái, vừa lo cho dân tộc, vừa sẻ chia với bạn bè quốc tế. Đó là cách ứng xử nhân văn, khẳng định tầm vóc, bản lĩnh của một đất nước biết “nghĩa tình trước sau”, khác xa với những luận điệu hẹp hòi, ích kỷ mà các thế lực thù địch cố tình gieo rắc.

Quan hệ đoàn kết, hữu nghị giữa Việt Nam và Cuba do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Fidel Castro đặt nền móng mãi mãi là biểu tượng bất diệt của chủ nghĩa quốc tế trong sáng, vô tư và thủy chung, là niềm tự hào của các thế hệ Nhân dân hai nước; là nguồn cảm hứng giáo dục thế hệ trẻ. Chúng ta cần nhận diện kịp thời và kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chia rẽ mối quan hệ thủy chung, trong sáng giữa hai dân tộc./.

 

 

Aug 26, 2025

Bản báo cáo thiếu khách quan về tình hình nhân quyền tại Việt Nam

         Ngày 12/8/2025, Bộ Ngoại giao Mỹ công bố Báo cáo tình hình nhân quyền năm 2024 của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Giống như báo cáo thường niên các năm trước, tài liệu này tiếp tục đưa ra những nhận định tiêu cực, phản ánh không đúng về tự do ngôn luận, báo chí, internet và tôn giáo ở Việt Nam.Ngay sau khi công bố, bản báo cáo đã nhận nhiều ý kiến chỉ trích từ các chuyên gia về tính thiên lệch và động cơ chính trị đằng sau cách chọn lọc dữ kiện.

Lễ hoa đăng kĩnh mừng Phật đản tại chùa Pháp Hoa,
Thành phố Hồ Chí Minh thu hút đông đảo phật tử,
người dân tham dự (Ảnh: BTC)

Theo các chuyên gia, cách thức trình bày bản báo cáo năm nay từ Bộ Ngoại giao Mỹ có nhiều điểm bất hợp lý, như cấu trúc bị cắt xén, bỏ qua nhiều chủ đề vốn là trọng tâm trong đánh giá quyền con người như quyền của phụ nữ, người khuyết tật, chống tham nhũng hay quyền hội họp ôn hòa. Đồng thời, bản báo cáo cũng vấp phải sự chỉ trích từ một số tổ chức nhân quyền lẫn giới chuyên gia về tính thiên lệch và động cơ chính trị đằng sau cách sử dụng dữ liệu để đánh giá, vì vậy “bản báo cáo lẫn lộn giữa sự thật, đánh tráo và tô hồng”; “cách lựa chọn quốc gia mang màu sắc chính trị khiến công cụ giám sát truyền thống của Quốc hội Mỹ suy giảm độ tin cậy”, v.v.

Thí dụ trong việc chọn lọc nguồn thông tin để kiểm chứng, mặc dù đưa ra cáo buộc với một số quốc gia, trong đó có Việt Nam, nhưng văn bản chỉ dùng cụm từ chung chung đó là “có báo cáo đáng tin cậy” mà thiếu dẫn chứng cụ thể hoặc phớt lờ những số liệu chính thống vốn là yêu cầu có tính bắt buộc. Bởi vậy bản báo cáo bị đặt dấu hỏi về tiêu chí, sự độc lập, và tính khách quan.

Bày tỏ quan điểm về vấn đề này, người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nhấn mạnh: “Báo cáo nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ, công bố ngày 12/8, chưa phản ánh được các thành tựu và bước tiến của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người. Báo cáo tiếp tục đưa ra những nhận định không khách quan, dựa trên thông tin không chính xác, chưa được kiểm chứng về tình hình thực tế tại Việt Nam”.

Thực tiễn đã chứng minh, 80 năm qua, kể từ khi thành lập nước cho đến nay, Đảng, Nhà nước ta luôn nhất quán thực hiện chính sách bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, lấy con người làm trung tâm, chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển. Cụ thể Hiến pháp 2013, tại Chương II quy định các quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, trong đó Điều 14 khẳng định: “các quyền con người, quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật”. Các điều từ 15 đến 26 quy định cụ thể quyền tự do ngôn luận, báo chí, tín ngưỡng, tôn giáo, cư trú, đi lại, bình đẳng giới,... các nội dung này đều được luật hóa, như Luật Báo chí 2016; Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016; Luật An ninh mạng 2018, v.v.

Những thành tựu về quyền con người ở Việt Nam gắn liền với những cải cách thể chế, kinh tế-xã hội, và có chiều sâu: từ xóa đói giảm nghèo, mở rộng giáo dục, y tế đến bảo đảm an sinh cho nhóm yếu thế. Một trong những minh chứng đó là tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế toàn dân đạt mức cao và liên tục tăng: năm 2023 là 93,2%, năm 2024 là 94,1% và năm 2025 là 95,15% dân số được tiếp cận dịch vụ y tế cơ bản, rộng khắp. Về xóa nghèo, các báo cáo nghèo đa chiều cấp quốc gia cho thấy tỷ lệ nghèo tiếp tục xu hướng giảm: năm 2024 tỷ lệ nghèo đa chiều chung toàn quốc là 4,06%, giảm 1,65% so với năm 2023.

Ngân hàng Thế giới (WB) mô tả Việt Nam là câu chuyện thành công nổi bật về đổi mới, chuyển đổi và giảm nghèo, đồng thời chỉ ra rằng chính sách của Việt Nam đã hướng đến các nhóm dễ tổn thương, phù hợp tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau”.

Còn ở bình diện phát triển con người, bà Ramla Khalidi, Trưởng Đại diện Thường trú của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam ghi nhận: “Việt Nam đã duy trì vị thế là một quốc gia có sự phát triển con người cao trong suốt những năm tháng khó khăn của đại dịch Covid-19. Phát triển con người tiếp tục là một trọng tâm trong chiến lược phát triển của Việt Nam, và chúng ta đã thấy những tiến bộ rất đáng kể trong vài thập kỷ qua”.

Theo báo cáo của UNDP năm 2023 chỉ số HDI của Việt Nam đạt 0,766, xếp hạng 93/193 quốc gia và vùng lãnh thổ, thuộc nhóm các quốc gia có mức phát triển con người cao. Từ năm 1990-2023, chỉ số HDI của Việt Nam đã tăng 53,5%, đây là một bước tiến ngoạn mục. Những con số này không chỉ phản ánh nỗ lực nội tại mà còn là minh chứng trong việc Việt Nam quan tâm, bảo vệ quyền cơ bản như quyền sống, quyền được chăm sóc sức khỏe và quyền phát triển, đặc biệt với phụ nữ, trẻ em và người khuyết tật - những lĩnh vực mà báo cáo nhân quyền năm 2024 của Bộ Ngoại giao Mỹ đã bỏ qua, dẫn đến sự đánh giá thiếu toàn diện.

Từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đã hai lần được bầu làm thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025), điều này cho thấy sự tin cậy của cộng đồng quốc tế với Việt Nam trong lĩnh vực nhân quyền. Đáng chú ý tại chu kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát (UPR) lần thứ tư, phiên đối thoại tháng 5/2024 và thông qua kết quả tháng 9/2024 ghi nhận Việt Nam chấp nhận 271/320 khuyến nghị - tỷ lệ 84,7%, cao nhất trong bốn chu kỳ, phản ánh thái độ cầu thị và tinh thần cải cách thông qua cơ chế đa phương.

Quay trở lại với bản báo cáo gây tranh cãi của Bộ Ngoại giao Mỹ, báo cáo không đặt Việt Nam trong bối cảnh lịch sử - văn hóa đặc thù, nhất là khi đánh giá các quyền vừa đòi hỏi mở rộng không gian tự do, vừa phải gắn với yêu cầu thượng tôn pháp luật và bảo vệ an ninh, trật tự. Liên quan đến hai nội dung nổi bật mà trong bản báo cáo đề cập tới đó là tự do internet và tự do tôn giáo ở Việt Nam, báo cáo đã đưa ra những đánh giá không phản ánh đúng tình hình thực tế. Như vấn đề tự do internet, Việt Nam lựa chọn con đường “mở có trách nhiệm”: theo đó mở rộng truy cập, kỹ năng số và dịch vụ số cùng với việc thiết lập rào chắn pháp lý trước tội phạm công nghệ cao, lừa đảo xuyên biên giới, xâm phạm trẻ em, kích động thù hằn, khủng bố mạng. Luật An ninh mạng và Nghị định số 13/2023/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 17/4/2023 về bảo vệ dữ liệu cá nhân 2023 là thí dụ điển hình về nỗ lực tìm điểm cân bằng giữa quyền riêng tư, tự do biểu đạt và an ninh cộng đồng. Tại Liên minh châu Âu hay các nền dân chủ phát triển cũng đang xử lý bài toán này bằng những bộ khung như GDPR (Luật bảo mật và quyền riêng tư dữ liệu mới của châu Âu), DSA (Đạo luật Dịch vụ Kỹ thuật số), v.v. Báo cáo cũng bỏ qua những nỗ lực của Việt Nam trong việc chuyển đổi số, phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số đến năm 2030.

Với những chính sách kịp thời, đúng đắn, Việt Nam trở thành điểm sáng trong khu vực về chính phủ số và hạ tầng. Việc người dân có thể chủ động đăng ký kinh doanh trực tuyến, khám chữa bệnh bảo hiểm y tế dùng căn cước công dân, hay cổng dịch vụ công tích hợp… cho thấy internet ở Việt Nam không chỉ là “không gian biểu đạt ý kiến” (năm 2024 Việt Nam có hơn 72 triệu người sử dụng mạng xã hội, chiếm khoảng 73% dân số) mà còn là hạ tầng thực thi quyền cơ bản của công dân, mang lại điều kiện sống ngày càng dân chủ, văn minh hơn.

Trong lĩnh vực tôn giáo, năm 2024, diễn ra nhiều hoạt động tôn giáo sôi nổi như: trao Quyết định công nhận tổ chức tôn giáo cho Hội thánh Tin Lành Liên hiệp Truyền giáo Việt Nam (tháng 4); Đại lễ Phật đản 2024 (tháng 5); ngày 13/6/2024 Chủ tịch nước Tô Lâm gặp mặt Đoàn đại biểu các chức sắc, lãnh đạo các tổ chức tôn giáo; Đại hội đồng Giáo phẩm Hội thánh Tin Lành Việt Nam (miền nam) lần thứ 11 (tháng 7); Đại hội đồng lần thứ IV Giáo hội Phúc âm Ngũ tuần Việt Nam, Đại lễ kỷ niệm 100 năm ngày hoằng khai Đại đạo Tam kỳ Phổ độ (tháng 11), v.v.

          Tính đến tháng 8/2025, cả nước có 95% dân số theo tín ngưỡng, tôn giáo; 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp giấy chứng nhận đăng ký hoạt động với trên 27,7 triệu tín đồ. Cùng với Hiến pháp, Luật Tín ngưỡng, tôn giáo 2016 và các nghị định hướng dẫn tạo khung pháp lý vững chắc và thiết lập cơ chế minh bạch để thực thi quyền tự do tôn giáo, gắn với mục tiêu đoàn kết dân tộc và phát triển đất nước.

Việt Nam đã tham gia phần lớn các điều ước quốc tế cốt lõi về quyền con người của Liên hợp quốc, bao gồm: Công ước ICCPR về quyền dân sự, chính trị; ICESCR về quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; CEDAW về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ; CRC về quyền trẻ em; CERD về xóa bỏ phân biệt chủng tộc; CAT về chống tra tấn; CRPD về quyền của người khuyết tật… Từ đây thể hiện sự nhất quán của Việt Nam trong việc thực hiện nghiêm túc các tiêu chuẩn phổ quát của quốc tế và kiên trì mục tiêu phát triển bao trùm, toàn diện về quyền con người.

Cần nhấn mạnh rằng, năm 2023, Việt Nam và Mỹ nâng cấp quan hệ lên “Đối tác chiến lược toàn diện” vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững. Tại Tuyên bố chung tái khẳng định các nguyên tắc cơ bản đã được hai bên thống nhất khi xác lập quan hệ Đối tác toàn diện từ năm 2013, đó là tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, tôn trọng thể chế chính trị, độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau.

Trên cơ sở đó, nhân quyền cần được xem là lĩnh vực tăng cường hiểu biết lẫn nhau. Việt Nam luôn bày tỏ thiện chí đón các đoàn, các tổ chức quốc tế tới tìm hiểu thực tế tại Việt Nam, đồng thời sẵn sàng trao đổi thẳng thắn với Mỹ về những khác biệt trên tinh thần xây dựng, qua đó góp phần củng cố lòng tin, làm giàu thêm sự hiểu biết. Những đánh giá không chính xác thiếu khách quan về Việt Nam trong báo cáo tình hình nhân quyền thường niên của Bộ Ngoại giao Mỹ rất cần được điều chỉnh trong những năm tới vì lợi ích của người dân hai nước và vì tương lai phát triển bền vững của mỗi quốc gia./.

(Trích nguồn: nhandan.vn)