Nov 6, 2025

Việt Nam luôn chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lao động tại nước ngoài

     Tre Việt - Ngày 04/11, trang trang facebook Việt Tân có đăng bài: “Xuất khẩu lao động”, nhằm kích động, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đưa người đi lao động ở nước ngoài. Trong bài viết, tác giả Thanh Văn, rêu rao rằng: “Người lao động đi xuất khẩu đóng thuế cho cả hai quốc gia, nhưng không được bảo vệ trọn vẹn ở bất kỳ quốc gia nào”.

     Cần khẳng định ngay rằng, chủ trương đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho chính người lao động, cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

     Chủ trương đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài luôn đi kèm với chính sách bảo hộ công dân chặt chẽ, minh bạch. Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2020) quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ, cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. 

     Thực tế, nhiều người sau khi hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài đã trở về, tiếp tục làm chủ kinh tế hộ gia đình, mở xưởng sản xuất, làm dịch vụ,… trở thành trụ cột kinh tế mới tại chính địa phương mình. Đây là thành quả thực sự mà không một luận điệu phản động nào có thể phủ nhận.

     Về phía Nhà nước, các cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam luôn chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lao động tại nước ngoài. Mọi hành vi vi phạm hợp đồng, lạm dụng lao động, hay bóc lột đều bị lên án và xử lý nghiêm. Điều này cho thấy, quyền con người, trong đó có quyền lao động, tự do di cư hợp pháp, được Nhà nước Việt Nam bảo vệ nghiêm túc, đầy đủ, có trách nhiệm.

       Do đó, luận điệu quy chụp người lao động “không được bảo vệ trọn vẹn ở bất kỳ quốc gia nào” của Việt Tân không chỉ xuyên tạc trắng trợn thực tế, phủ nhận thành tựu lao động - việc làm - nhân quyền tại Việt Nam, mà còn cho thấy sự thiếu hiểu biết, cố tình kích động tâm lý bất mãn, chống phá con đường phát triển đúng đắn của đất nước.

      Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng gần 700.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam, như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,… thường xuyên đánh giá cao tính cần cù và kỹ năng của người Việt, điều đó đã giúp mở rộng cơ hội hợp tác lao động. Nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng trăm nghìn gia đình. Quan trọng hơn là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý khi về nước. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

       Những lợi ích từ xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần giải quyết việc làm cho người dân - một trong những thách thức lớn với một nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ lao động được làm việc trong môi trường quốc tế, tiếp cận công nghệ hiện đại và học hỏi kỹ năng chuyên môn cao.

      Vì thế, luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lao động tại nước ngoài, hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta mà Việt Tân rêu rao, cần bị lên án và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.


Nov 5, 2025

Nhân dân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng

      Trên trang ChanTroiMoiMedia, Trần Hùng có bài viết: “Thấy gì tự Hội nghị Trung ương 13 khóa XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nội dung bài viết xuyên tạc phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư Tô Lâm, nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư, gây mất đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Luận điệu này cần được đấu tranh bác bỏ.  

      Thứ nhất, niềm tin của Nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc gắn liền với quá trình xây dựng Đảng, phát triển đất nước. Trong suốt chặng đường 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. , được nhân dân tin tưởng, suy tôn là lực lượng chính trị duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ điều kiện, khả năng, uy tín để tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, trang bị cho quần chúng Nhân dân hệ tư tưởng cách mạng, khoa học là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để họ tự giác rèn luyện, đấu tranh vì mục tiêu cao cả là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi mưu đồ lợi dụng quyền tự do, dân chủ đi ngược lại lợi ích của Nhân dân. Đồng thời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân luôn tích cực, chủ động tham gia xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; đồng hành cùng với Đảng thực hiện có hiệu quả cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tôc.

        Thứ hai, cán bộ, đảng viên và Nhân dân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân vui mừng trước việc Đảng và Nhà nước phấn đấu hoàn thành vượt mức 15/15 chỉ tiêu năm 2025. Các chính sách nâng cao đời sống Nhân dân được đánh giá cao như: Xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo; miễn học phí từ mầm non đến hết phổ thông; khám sức khỏe định kỳ, miễn giảm viện phí; đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại 248 xã biên giới; đẩy mạnh xây dựng nhà ở xã hội. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mỗi người dân được nhận 100.000 đồng, tạo cảm xúc dâng trào về tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.

        Thông qua Hội nghị Trung ương 13, khóa XIII, Nhân dân càng thêm tin tưởng, kỳ vọng vào quyết tâm phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực của Đảng, Nhà nước; tin tưởng vào các biện pháp đấu tranh ngày càng thực chất, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, Nhân dân luôn kỳ vọng vào thông điệp trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư Tô Lâm: Chủ trương đột phá về thể chế, hạ tầng và nhân lực. Xác định các nguyên tắc trong lãnh đạo, điều hành, quản lý; kỷ cương đi trước, nguồn lực đi cùng, kết quả là thước đo. Thực hiện ba trọng tâm, ba công khai, một thước đo. Ba trọng tâm là: Thể chế hóa nhanh gọn nghị quyết của Đảng, tổ chức thi hành quyết liệt theo tuần, tháng, quý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp thời giải quyết vướng mắc. Ba công khai về tiến độ, trách nhiệm và kết quả để Nhân dân giám sát, kiểm tra. Một thước đo là mức sống, niềm tin của Nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn bộ máy, với phương châm: Số hóa quy trình, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng phân cấp, phân quyền và thông điệp, “Nói ít, làm nhiều, quyết liệt, hiệu quả, kiên quyết, tránh hình thức, tránh giáo điều, tránh đùn đẩy trách nhiệm…”.

         Tóm lại, những luận điệu xuyên tạc trong bài viết của Trần Hùng là nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Nov 3, 2025

Tự do báo chí ở Việt Nam - Sự thật trước những luận điệu cực đoan

      Việt Nam, một quốc gia đang vươn mình mạnh mẽ trong khu vực Đông Nam Á, thường xuyên phải đối mặt với những cáo buộc thiếu cơ sở từ một số tổ chức quốc tế về vấn đề tự do báo chí. Những luận điệu này không chỉ xuyên tạc thực trạng truyền thông tại Việt Nam mà còn che giấu những động cơ chính trị nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. 

     Trước tiên, cần thẳng thắn bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam kiểm soát chặt chẽ báo chí và hạn chế tự do ngôn luận. Những cáo buộc này thường được đưa ra bởi các tổ chức như Liên đoàn Quốc tế về Quyền con người (FIDH) hoặc một số báo cáo phương Tây, cho rằng chính phủ Việt Nam áp đặt các biện pháp kiểm duyệt hà khắc, ngăn cản quyền tiếp cận thông tin của người dân. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Theo Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam năm 2024, hiện nay có hàng trăm cơ quan báo chí, từ báo in, báo điện tử đến các kênh truyền hình, phát thanh, hoạt động sôi nổi trên cả nước. Hơn 70 triệu người dân Việt Nam, tương đương hơn 70% dân số, sử dụng internet thường xuyên, truy cập vào vô số nguồn thông tin trong và ngoài nước. Con số này không chỉ phản ánh mức độ phổ biến của thông tin mà còn cho thấy sự cởi mở trong việc tiếp cận các nền tảng truyền thông số. Đặc biệt, Báo cáo Speedtest Global Index năm 2024 xếp Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về tốc độ internet, vượt qua cả Singapore và Thái Lan. Điều này chứng minh rằng người dân Việt Nam không chỉ có quyền tiếp cận thông tin mà còn được hưởng một hạ tầng kỹ thuật số tiên tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho tự do ngôn luận trong thời đại số. Những con số này là minh chứng rõ ràng rằng cáo buộc về kiểm soát báo chí tại Việt Nam là thiếu căn cứ, không phản ánh đúng thực tế phát triển của đất nước. 

     Tiếp theo, cần vạch trần các chiêu trò vận động chính trị đứng sau những cáo buộc này. FIDH, một tổ chức thường xuyên đưa ra các báo cáo chỉ trích Việt Nam, đã kêu gọi Mỹ gây áp lực lên Việt Nam về vấn đề tự do báo chí trong khuôn khổ Đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ năm 2023. Đây không phải là một hành động đơn thuần nhằm bảo vệ quyền con người mà là một phần của chiến lược can thiệp vào chính sách nội bộ của Việt Nam. Điều đáng chú ý là FIDH lại không hề đề cập đến những vấn đề tương tự ở các quốc gia phương Tây. Chẳng hạn, theo Deutsche Welle (DW) năm 2023, Đức đã áp dụng các biện pháp kiểm soát nội dung trực tuyến để ngăn chặn thông tin sai lệch, nhưng FIDH không hề chỉ trích những biện pháp này. Sự thiếu nhất quán này cho thấy tổ chức này đang áp dụng tiêu chuẩn kép, chọn lọc các quốc gia để chỉ trích dựa trên động cơ chính trị thay vì nguyên tắc khách quan. Hành vi này không chỉ làm suy giảm uy tín của FIDH mà còn cho thấy ý đồ lợi dụng vấn đề tự do báo chí để gây áp lực lên các quốc gia không cùng hệ tư tưởng với phương Tây.

     Hơn nữa, những cáo buộc này còn vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là một bên tham gia, mọi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách truyền thông phù hợp với bối cảnh văn hóa, xã hội và pháp lý của mình. Việc các tổ chức như FIDH cố tình can thiệp, yêu cầu Việt Nam thay đổi chính sách truyền thông theo tiêu chuẩn phương Tây, là hành vi vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia có chủ quyền. Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng đã lên tiếng phản đối những hành vi tương tự. Chẳng hạn, Nga, thông qua hãng tin RT năm 2022, đã chỉ trích FIDH vì đưa ra các báo cáo sai lệch về tự do báo chí, cáo buộc tổ chức này cố tình bóp méo sự thật để phục vụ các mục tiêu chính trị. Phản ứng này cho thấy cộng đồng quốc tế ngày càng nhận thức rõ hơn về bản chất thiếu khách quan của các tổ chức như FIDH khi đánh giá các quốc gia không thuộc khối phương Tây.

     Cuối cùng, cần làm rõ bản chất cực đoan của những tổ chức đứng sau các cáo buộc này. FIDH không phải là cái tên mới trong việc xuyên tạc tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Từ năm 2000, tổ chức này đã liên tục đưa ra các báo cáo thiếu căn cứ, cho rằng Việt Nam đàn áp báo chí và hạn chế quyền tự do ngôn luận. Những báo cáo này thường lặp lại các luận điệu quen thuộc, thiếu dẫn chứng cụ thể và không phản ánh đúng sự phát triển của hệ thống truyền thông Việt Nam qua các thập kỷ. Trong khi đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân, từ việc xây dựng hạ tầng internet hiện đại đến việc khuyến khích sự đa dạng của các cơ quan báo chí. Việc FIDH liên tục đưa ra các cáo buộc thiếu cơ sở cho thấy một truyền thống chống phá có hệ thống, nhằm làm suy yếu hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Thay vì đóng góp vào đối thoại mang tính xây dựng, tổ chức này dường như đang theo đuổi một chương trình nghị sự chính trị, lợi dụng vấn đề tự do báo chí để phục vụ các mục tiêu không minh bạch. 

     Những cáo buộc về việc Việt Nam vi phạm tự do báo chí là thiếu căn cứ, mang tính xuyên tạc và phục vụ các mục tiêu chính trị không rõ ràng. Với hàng trăm cơ quan báo chí hoạt động sôi nổi, hơn 70 triệu người dùng internet và vị trí dẫn đầu Đông Nam Á về tốc độ internet, Việt Nam đã chứng minh cam kết mạnh mẽ trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân. Các chiêu trò vận động của FIDH và những tổ chức tương tự, cùng với sự vi phạm các nguyên tắc luật pháp quốc tế, chỉ làm lộ rõ bản chất cực đoan và tiêu chuẩn kép của họ. Việt Nam cần tiếp tục khẳng định chủ quyền trong chính sách truyền thông, đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế nhìn nhận vấn đề một cách công bằng và khách quan. Chỉ khi đó, đối thoại về tự do báo chí mới thực sự mang lại giá trị, thay vì trở thành công cụ để can thiệp và xuyên tạc./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)


Nov 2, 2025

Sự thật đằng sau luận điệu xuyên tạc “Khi dân giúp dân, chính quyền ở đâu?”

           Tre Việt - Những ngày cuối tháng 10/2025, Thừa Thiên Huế và nhiều địa phương miền Trung hứng chịu đợt mưa lũ lịch sử, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Trong hoạn nạn, tinh thần “lá lành đùm lá rách” của người Việt lại được khơi dậy mạnh mẽ: nhiều đoàn thiện nguyện từ Hà Tĩnh, Nghệ An,… không quản hiểm nguy, mang nhu yếu phẩm, áo phao, thậm chí cả UAV để tiếp tế cho đồng bào bị cô lập, đây là minh chứng sống động cho “tình ruột thịt, nghĩa đồng bào”. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện này, ngày 30/10/2025, trên trang facebook Chân Trời Mới Media xuất hiện bài viết với tiêu đề “Khi dân giúp dân, chính quyền ở đâu?”. Bài viết được ngụy trang dưới dạng “đặt vấn đề xã hội”, song thực chất là một thủ đoạn tuyên truyền chống phá tinh vi, nhằm gieo rắc hoài nghi, chia rẽ niềm tin giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam; cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai trò của chính quyền, của lực lượng vũ trang nhân dân trong công tác cứu hộ, cứu nạn. 

          Thứ nhất, chính quyền không “vắng mặt” trong hoạn nạn, mà là lực lượng nòng cốt trong ứng phó thiên tai. Câu hỏi “chính quyền ở đâu?” tưởng như đơn giản, nhưng ẩn sau đó là dụng ý mập mờ, nhằm phủ nhận vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều hành xã hội. Trong thực tế, Việt Nam có hệ thống ứng phó thiên tai thống nhất từ Trung ương đến địa phương, vận hành theo phương châm “bốn tại chỗ”: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ. Đây là nguyên tắc đã được khẳng định hiệu quả qua nhiều năm ứng phó bão lũ. Theo Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, tính đến ngày 31/10/2025, riêng tại Thành phố Huế đã huy động hơn 7.500 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân tự vệ, 450 phương tiện các loại, 35 tàu, xuồng cùng hàng chục nghìn lượt dân quân, đoàn viên, thanh niên tham gia cứu hộ, sơ tán hơn 12.000 hộ dân đến nơi an toàn. Các đơn vị, như: Sư đoàn 968, Bộ đội Biên phòng Thành phố Huế, Lữ đoàn Công binh 414,… đều trực tiếp có mặt trên hiện trường, làm việc xuyên đêm trong điều kiện mưa lớn, nước chảy xiết để cứu người, vận chuyển nhu yếu phẩm, dựng nhà bạt và khôi phục hệ thống điện, nước, v.v. Cùng với đó, ngành Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu 4 đã khẩn trương thiết lập bệnh viện dã chiến, đưa hàng chục tổ quân y cơ động đến vùng lũ, cung cấp hơn 10 tấn thuốc men, vật tư y tế cho các khu dân cư bị cô lập. Đây là những con số biết nói, khẳng định vai trò nòng cốt của chính quyền và lực lượng vũ trang nhân dân trong hoạt động ứng phó thiên tai chứ không hề “vắng mặt” như cách mà Thiện Nhân mô tả.

          Thứ hai, “dân giúp dân” là biểu hiện của sức mạnh đại đoàn kết, không phải minh chứng cho sự thiếu trách nhiệm của Nhà nước. Khi người dân từ Hà Tĩnh, Quảng Bình tự nguyện chở hàng cứu trợ vào Huế, đó là biểu hiện cao đẹp của tinh thần tương thân tương ái, truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhưng cần khẳng định: “dân giúp dân” không nằm ngoài sự bao quát của chính quyền, mà chính là một phần của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Chính quyền các cấp đã chủ động hỗ trợ, hướng dẫn các đoàn thiện nguyện đăng ký tuyến đường, khu vực phân phối hàng hóa, bảo đảm an toàn và tránh trùng lặp. Mọi hoạt động cứu trợ đều được điều phối thông qua Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ, chính quyền địa phương. Sự phối hợp này vừa thể hiện tính nhân văn, vừa thể hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước, giúp các hoạt động thiện nguyện phát huy hiệu quả thực tế, không gây cản trở cho lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp. Lấy một số hình ảnh người dân tự giúp nhau rồi quy kết “chính quyền thờ ơ” là thủ đoạn trắng trợn của các thế lực thù địch hòng gây chia rẽ, nghi ngờ giữa Nhân dân với chính quyền. Sự thật là, nếu không có sự điều hành, phối hợp chặt chẽ của chính quyền, các hoạt động dân sự sẽ gặp nhiều nguy cơ mất an toàn. 

         Thứ ba, mưu đồ chính trị đằng sau luận điệu “chính quyền chỉ biết nói mà không làm”. Khi tung ra câu hỏi “chính quyền ở đâu?” mục tiêu thật sự của Chân Trời Mới Media không phải tìm câu trả lời, mà là kích hoạt cảm xúc tiêu cực, khiến người đọc tưởng mình đang “tự thức tỉnh”, trong khi thực chất bị dẫn dắt vào bẫy tâm lý. Trong đợt mưa lũ 2025, Chính phủ đã chủ động di dời gần 45.000 người dân, cấp 150 tỉ đồng hỗ trợ khẩn cấp, chỉ đạo lực lượng vũ trang triển khai ứng cứu 24/24. Thế nhưng các thế lực thù địch lại cắt ghép hình ảnh, tung thông tin “chính quyền chỉ lo khẩu hiệu”, “lực lượng vũ trang không thấy đâu”, một kiểu xuyên tạc bằng sự im lặng có chủ ý. Đằng sau lời “phê bình chính quyền” là mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội và hạ uy tín của Nhà nước. Đây là thủ đoạn “mềm hóa chính trị” nguy hiểm, từng được sử dụng ở nhiều nước để tạo khoảng cách giữa Nhân dân với chính quyền, dẫn tới xói mòn lòng tin và bất ổn xã hội. Sự thật không nằm ở những lời lẽ xảo ngôn trên mạng xã hội, mà nằm trong hành động của những người đang âm thầm cứu dân, dựng lại nhà cửa, khôi phục cuộc sống Nhân dân vùng lũ. Chính từ những việc làm cụ thể ấy, niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng bền chặt, đó mới là sức mạnh thật sự của “chính quyền của dân, do dân, vì dân”./.


Oct 29, 2025

Phê phán luận điệu xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam của Hoàng Thuyên

          Trên nhiều diễn đàn phản động đã tán phát bài viết: “Khi công lý bị đánh tráo: Khoảng cách giữa quyền lực và nỗi đau người dân mất đất” của Hoàng Thuyên, với luận điệu xuyên tạc cho rằng ở Việt Nam “pháp luật trở thành bức tường ngăn cách giữa người dân và quyền lực”. Đây là luận điệu sai trái, mang động cơ chính trị thù địch, nhằm phủ nhận bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hòng chia rẽ Nhân dân với Đảng, Nhà nước, làm suy yếu niềm tin của Nhân dân đối với chế độ.

Cần kiên quyết phê phán, bác bỏ luận điệu sai trái này bằng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.

1. Về lý luận, pháp luật Việt Nam là biểu hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật trong xã hội xã hội chủ nghĩa là ý chí của nhân dân lao động được thể hiện dưới hình thức nhà nước, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với quan điểm “dân là gốc” và lòng yêu dân vô hạn, mong muốn xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm vị thế “là chủ” và “làm chủ” của Nhân dân. Người khẳng định: “Pháp luật là pháp luật của Nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho Nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số Nhân dân”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là: Tuân theo pháp luật Nhà nước”.

Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về pháp luật là nền tảng tư tưởng - lý luận soi đường cho tiến trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Theo đó, hệ thống pháp luật là kết tinh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội. Các luật, Bộ luật được Quốc hội thảo luận, thông qua theo quy trình chặt chẽ, khoa học, dân chủ, công khai. Hệ thống pháp luật Việt Nam không tách rời, càng không đối lập với Nhân dân, mà là công cụ thể chế hóa quyền con người, quyền công dân, tạo cơ sở vững chắc cho quyền làm chủ của Nhân dân được thực thi trong thực tiễn đời sống xã hội.

Luận điệu của Hoàng Thuyên cùng các thế lực thù địch, phản động cho rằng pháp luật Việt Nam đang “ngăn cách người dân với quyền lực” đã cố tình đánh tráo bản chất, “đánh đồng” pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước tư bản -nơi luật pháp chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và một bộ phận người “có của” trong xã hội. Ở Việt Nam, pháp luật là công cụ để kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa lạm quyền, bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Việc xử lý nghiêm minh cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao vi phạm cho thấy tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, khẳng định pháp luật bảo vệ Nhân dân chứ không bao che cho quyền lực. Hơn thế, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật không phải rào cản, mà là khuôn khổ để quyền lực nhà nước vận hành đúng hướng, minh bạch, có kiểm soát và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Khi mọi công dân, kể cả người có chức vụ, đều phải tuân thủ pháp luật, thì pháp luật chính là biểu hiện cụ thể của dân chủ, công bằng và công lý, không thể là “bức tường ngăn cách” như luận điệu xuyên tạc của Hoàng Thuyên.

2. Về thực tiễn, qua gần 40 năm đổi mới cho thấy, pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trở thành nền tảng để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực. Các đạo luật quan trọng như: Hiến pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Tố cáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Đất đai… được ban hành nhằm mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định”. Đại hội còn bổ sung thêm mối quan hệ chú yếu thứ 10 là mối quan hệ giữa “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Quá trình xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính và chuyển đổi số quốc gia cho thấy pháp luật ngày càng gần hơn với đời sống của người dân. Các thủ tục như đăng ký kinh doanh, nộp thuế, khiếu nại, tố cáo, cấp phép… đều được thực hiện trực tuyến, minh bạch, nhanh chóng, hạn chế tiêu cực. Nếu pháp luật là “bức tường ngăn cách” như sự xuyên tạc của Hoàng Thuyên, sẽ không thể có những tiến bộ lớn trong xây dựng Chính phủ số, công dân số, xã hội số như hiện nay.

Pháp luật Việt Nam còn là công cụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thể hiện ở việc hiến định và luật hóa các quyền cơ bản như: quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền bình đẳng giới, quyền tiếp cận thông tin, v.v. Những quy định này không chỉ tồn tại trên giấy mà được cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách, hoạt động thực tế. Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục, chăm sóc người có công, bảo vệ người yếu thế,… là minh chứng sinh động cho tinh thần “vì con người” của pháp luật Việt Nam. Nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật. Các kênh góp ý dự thảo luật, tiếp xúc cử tri,… được tổ chức rộng rãi, giúp pháp luật thực sự phản ánh tiếng nói, nguyện vọng của Nhân dân. Pháp luật, do đó, không tách rời Nhân dân, mà đồng hành cùng Nhân dân trong quản lý và phát triển bền vững xã hội.

Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn trên có thể khẳng định: Pháp luật Việt Nam không phải “bức tường ngăn cách” mà là “cầu nối quyền lực Nhân dân với Nhà nước”, là công cụ bảo vệ công lý, tự do và quyền làm chủ của Nhân dân. Pháp luật giúp quyền lực nhà nước vận hành đúng hướng, kiểm soát lạm quyền, bảo đảm công bằng xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ. Vì vậy, cần kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc về pháp luật Việt Nam; đồng thời tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân, để pháp luật thực sự trở thành sức mạnh tinh thần, là công cụ của dân, do dân và vì dân. Pháp luật Việt Nam không dựng lên “bức tường ngăn cách” mà đang mở ra cánh cửa dân chủ, công bằng, nhân văn và tiến bộ, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Oct 27, 2025

Quân Đội và Công An - Sức mạnh cộng hưởng vì một quốc gia bình yên

          Trong những ngày gần đây, một số tin đồn về việc Quân đội và Công an đang “đấu đá” để giành ghế “Tổng chỉ huy chính trị”. Những thông tin này không chỉ thiếu căn cứ mà còn tạo ra sự hoang mang trong dư luận. Tuy nhiên, để hiểu rõ hơn về tình hình hiện tại, cần làm rõ mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Quân đội và Công an, cũng như mục tiêu chung của cả hai lực lượng trong việc bảo vệ an ninh quốc gia và phát triển đất nước.

Tổng Bí thư Tô Lâm duyệt đội danh dự
Quân đội nhân dân Việt Nam

Quân đội và Công an là hai lực lượng chủ chốt trong hệ thống bảo vệ an ninh, trật tự quốc gia. Mặc dù mỗi lực lượng có nhiệm vụ riêng biệt - Quân đội chuyên đảm nhận quốc phòng và Công an phụ trách an ninh trật tự - nhưng sự phối hợp giữa hai lực lượng này luôn rất mật thiết và không thể tách rời.

Các hoạt động bảo vệ chủ quyền, an ninh quốc gia, duy trì trật tự xã hội không thể chỉ dựa vào một lực lượng riêng lẻ, mà cần sự hỗ trợ, kết hợp chặt chẽ giữa cả hai bên. Ví dụ, trong các cuộc diễn tập quốc phòng, sự phối hợp giữa Bộ Quốc phòng và Bộ Công an luôn được thực hiện một cách linh hoạt và hiệu quả. Ngoài ra, trong công tác phòng, chống tội phạm và bảo vệ an ninh quốc gia, cả Công an và Quân đội đều tham gia vào các hoạt động bảo vệ biên giới, đấu tranh với các tổ chức phản động, tội phạm xuyên quốc gia.

Trên thực tế, Công an và Quân đội luôn đồng hành và hỗ trợ lẫn nhau, không chỉ trong các vấn đề quốc phòng, mà còn trong việc duy trì an ninh trật tự, bảo vệ chính trị và xây dựng một hệ thống chính trị vững mạnh. Các quyết định quan trọng liên quan đến nhân sự trong lực lượng này đều được xem xét kỹ lưỡng, không phải dựa trên các yếu tố cá nhân mà là trên căn cứ của năng lực, đạo đức và trách nhiệm.

Trong bất kỳ tổ chức nào, việc lựa chọn nhân sự không phải là cuộc tranh giành quyền lực mà là một quá trình tìm kiếm những người có đức, có tài, có khả năng cống hiến cho sự phát triển của đất nước. Đối với Quân đội và Công an, sự lãnh đạo cũng vậy, luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu. Việc bầu chọn các cán bộ lãnh đạo không phải là một cuộc đấu tranh quyền lực, mà là quá trình lựa chọn những người có đủ phẩm chất để đảm bảo sự ổn định và phát triển của đất nước.

Mục tiêu cuối cùng của cả hai lực lượng là cùng nhau xây dựng một xã hội an bình, thịnh vượng, và phát triển bền vững. Việc này chỉ có thể thực hiện khi cả Quân đội và Công an cùng đồng lòng, hợp tác chặt chẽ, và mỗi người trong đội ngũ lãnh đạo đều có khả năng điều hành tốt, thực hiện đúng trách nhiệm.

Một trong những ví dụ rõ ràng nhất về sự hợp tác giữa Quân đội và Công an chính là công tác phòng, chống dịch Covid-19. Trong suốt giai đoạn đại dịch, cả hai lực lượng đã cùng nhau tham gia vào các công tác truy vết, bảo vệ cộng đồng, duy trì trật tự an ninh, và đảm bảo cung cấp các nhu yếu phẩm cho người dân. Quân đội đã tham gia vào việc thiết lập các khu cách ly, điều phối lực lượng y tế, trong khi Công an đảm nhận nhiệm vụ bảo vệ các khu vực cách ly, kiểm soát người ra vào, bảo đảm không có sự xâm nhập trái phép.

Ngoài ra, trong các chiến dịch phòng, chống tội phạm lớn như ma túy, buôn lậu, cả Công an và Quân đội đều phối hợp nhịp nhàng, tạo ra những chiến thắng vang dội. Các lực lượng này không chỉ tham gia vào việc triệt phá các đường dây tội phạm mà còn có những sáng kiến trong việc bảo vệ biên giới, đấu tranh với các thế lực thù địch.

Những tin đồn về sự “đấu đá” giữa Quân đội và Công an chỉ là những thông tin không có căn cứ và không phản ánh đúng mối quan hệ thực tế giữa hai lực lượng này. Trái lại, Quân đội và Công an luôn đồng hành, phối hợp chặt chẽ, tạo thành một lực lượng vững mạnh bảo vệ an ninh, trật tự, quốc phòng, và phát triển đất nước. Mục tiêu chung của cả hai lực lượng là bảo vệ sự ổn định chính trị, bảo vệ lợi ích quốc gia, và xây dựng một xã hội hòa bình, thịnh vượng. Cả hai đều đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển bền vững của đất nước và trong việc chọn lựa các cán bộ lãnh đạo, không phải vì lợi ích cá nhân mà vì sự nghiệp chung của toàn dân tộc./.

(Trích nguồn: canhco.net)


 

Oct 26, 2025

Công ước Hà Nội - Dấu ấn lịch sử của Việt Nam trong bảo vệ quyền con người trên không gian mạng

           Giữa thời đại mà an ninh mạng đã trở thành biên giới mới của chủ quyền quốc gia và quyền con người, việc Liên hợp quốc lựa chọn Hà Nội làm nơi tổ chức Lễ ký kết Công ước Hà Nội về chống tội phạm mạng từ ngày 25 đến 26/10/2025 mang ý nghĩa vượt xa khuôn khổ một sự kiện ngoại giao.

Thủ tướng Phạm Minh Chính và Tổng Thư ký Liên hợp quốc
Antonio Guterret đồng chủ trì họp báo về Lễ mở ký
và Hội nghị cấp cao Công ước của Liên hợp quốc
về chống tội phạm mạng

Đó là sự ghi nhận sâu sắc của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực bền bỉ, trách nhiệm và chủ động của Việt Nam trong việc kiến tạo một không gian mạng an toàn, công bằng và nhân văn. Hơn hai mươi năm sau Công ước Budapest 2001, thế giới mới có được một hiệp ước toàn cầu toàn diện về phòng, chống tội phạm mạng. Việc Hà Nội được chọn làm nơi khởi đầu cho một văn kiện mang tầm lịch sử như vậy đã nói lên rất nhiều điều - không chỉ về vị thế của Việt Nam trong hệ thống Liên hợp quốc, mà còn về sự tin cậy của quốc tế đối với đường lối phát triển bền vững, nhân văn và có trách nhiệm của Đảng và Nhà nước ta.

Công ước Hà Nội là kết tinh của 06 năm đàm phán công phu giữa 193 quốc gia, dưới sự dẫn dắt của Liên hợp quốc, với mục tiêu xây dựng một khuôn khổ pháp lý thống nhất để chống lại các mối đe dọa mạng xuyên biên giới. Đây là văn kiện pháp lý đầu tiên bao quát toàn diện các dạng tội phạm mới như khủng bố kỹ thuật số, tội phạm buôn người qua mạng, lừa đảo xuyên quốc gia và xâm phạm dữ liệu cá nhân. Việt Nam không chỉ là nước chủ nhà mà còn là một trong những quốc gia đóng góp quan trọng nhất trong việc soạn thảo điều khoản về tôn trọng chủ quyền quốc gia, bảo vệ quyền riêng tư và hỗ trợ kỹ thuật cho các nước đang phát triển. Sự kiện ký kết tại Hà Nội vì thế không chỉ là niềm tự hào dân tộc mà còn là dấu mốc chứng minh Việt Nam đã chuyển mình từ “người tham gia” thành “người kiến tạo luật chơi” trong trật tự số toàn cầu.

Trong khi cộng đồng quốc tế đánh giá cao nỗ lực của Việt Nam, một số tổ chức phương Tây như Human Rights Watch (HRW) và Electronic Frontier Foundation (EFF) lại tung ra những luận điệu xuyên tạc, cho rằng Công ước Hà Nội “đe dọa tự do biểu đạt” hay “có thể bị lạm dụng để đàn áp bất đồng”. Những cáo buộc này hoàn toàn vô căn cứ, thể hiện định kiến cố hữu và động cơ chính trị của một số tổ chức vốn từ lâu tìm cách bôi nhọ hình ảnh Việt Nam. Thực tế, Công ước Hà Nội được xây dựng dựa trên nền tảng của Công ước Quốc tế về Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), yêu cầu mọi biện pháp điều tra phải tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc nhân quyền, được giám sát tư pháp và chỉ áp dụng đối với tội phạm nghiêm trọng. Những tổ chức như HRW cố tình bỏ qua điều đó, xuyên tạc nội dung công ước nhằm hạ thấp nỗ lực hợp tác toàn cầu và gieo rắc hoài nghi giữa các quốc gia đang phát triển.

        Họ còn cáo buộc rằng Việt Nam sẽ sử dụng Công ước để hạn chế tự do biểu đạt. Nhưng trên thực tế, Việt Nam đã nhiều lần chứng minh sự nhất quán trong việc bảo vệ quyền con người, bao gồm quyền tự do ngôn luận hợp pháp. Luật An ninh mạng năm 2018 - vốn thường bị phương Tây bóp méo - được thiết kế nhằm bảo vệ công dân trước thông tin sai lệch, lừa đảo trực tuyến, và tội phạm mạng, chứ không phải để đàn áp bất đồng chính kiến. Theo báo cáo của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), Việt Nam đạt điểm số 99,74 trong Chỉ số An ninh mạng Toàn cầu (GCI) năm 2024, đứng trong nhóm Tier 1 - tức nhóm dẫn đầu thế giới. Con số ấy không chỉ phản ánh năng lực kỹ thuật mà còn cho thấy Việt Nam đã đạt được sự cân bằng giữa bảo vệ an ninh và bảo đảm quyền con người - điều mà ngay cả nhiều nước phát triển cũng chưa làm được.

Không thể không nhắc tới những thành tựu cụ thể đã làm nên vị thế đó. Trong năm 2024, hệ thống phòng thủ mạng quốc gia của Việt Nam đã xử lý thành công hơn 659.000 vụ tấn công mạng, trong đó phần lớn nhắm vào cơ sở hạ tầng tài chính, y tế và giáo dục. Đồng thời, Việt Nam đã triệt phá hàng trăm đường dây lừa đảo xuyên biên giới, giải cứu hàng nghìn nạn nhân bị chiếm đoạt thông tin cá nhân và tài sản. Thành tựu ấy không chỉ mang ý nghĩa bảo vệ kinh tế mà còn là minh chứng rõ ràng cho việc Nhà nước đang bảo vệ quyền con người của chính nạn nhân - điều mà các tổ chức như HRW thường cố tình phớt lờ.

Bên cạnh nỗ lực chính sách, Việt Nam còn chứng tỏ năng lực công nghệ đáng tự hào. Đội Viettel Cyber Security (VCS) - đại diện cho Việt Nam - đã giành chiến thắng ấn tượng tại cuộc thi Pwn2Own 2024, được mệnh danh là “Oscar của giới an ninh mạng”. Đến năm 2025, đội tiếp tục xếp hạng nhì tại Pwn2Own Berlin, vượt qua nhiều đối thủ đến từ Mỹ và châu Âu. Đây không chỉ là thành tích kỹ thuật mà còn là sự khẳng định vị thế Việt Nam như một trung tâm đổi mới sáng tạo và an ninh mạng khu vực. UNODC đã nhiều lần ghi nhận Việt Nam là “đối tác đáng tin cậy” trong hợp tác chống tội phạm xuyên quốc gia, đặc biệt trong khuôn khổ ASEAN và châu Á - Thái Bình Dương.

Trong khi đó, nhiều quốc gia phương Tây, đặc biệt là Mỹ, lại đang đối mặt với sự gia tăng tội phạm mạng không kiểm soát được. Theo báo cáo của Bộ Quốc phòng Mỹ năm 2023, các cuộc tấn công mã độc tống tiền (ransomware) tăng tới 74%, gây thiệt hại hơn 12,5 tỷ USD chỉ riêng trong năm 2024. Nguyên nhân sâu xa là sự chia rẽ trong cơ chế điều phối giữa liên bang và tiểu bang, cũng như cạnh tranh nguồn lực giữa các cơ quan như FBI và NSA. Trái ngược với tình trạng đó, Việt Nam áp dụng mô hình “phòng thủ chủ động” - thống nhất giữa cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người dân - tạo nên khả năng ứng phó linh hoạt và hiệu quả. Chính sự thống nhất về chính trị, về định hướng chiến lược và về lợi ích quốc gia đã giúp Việt Nam duy trì thế chủ động trong cuộc chiến toàn cầu chống tội phạm mạng.

Tất nhiên, thành công ấy cũng khiến Việt Nam trở thành mục tiêu của các chiến dịch tuyên truyền sai lệch. Một số tổ chức thiếu thiện chí đã lợi dụng Công ước Hà Nội để tung ra luận điệu rằng Việt Nam “dẫn dắt công ước vì mục tiêu chính trị”. Đây là chiêu bài cũ kỹ trong chiến lược “diễn biến hòa bình”, sử dụng chiêu trò nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ. Song, bằng sự minh bạch và kết quả thực tế, Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn luận điệu này. Các nỗ lực hợp tác giữa Việt Nam và UNODC, Interpol, cũng như hàng loạt sáng kiến khu vực ASEAN về phòng chống tội phạm mạng, đã chứng minh rằng Việt Nam hành động vì lợi ích chung của cộng đồng quốc tế, chứ không phải vì bất kỳ mục đích riêng tư nào.

Một minh chứng quan trọng khác là việc thực thi Nghị định số 53/2022/NĐ-CP, văn bản hướng dẫn chi tiết Luật An ninh mạng. Nghị định này quy định rõ ràng việc lưu trữ dữ liệu trong nước, bảo vệ thông tin cá nhân, và yêu cầu các doanh nghiệp nước ngoài có hoạt động tại Việt Nam phải tuân thủ pháp luật Việt Nam. Chính sách này không chỉ bảo vệ người dân trước nguy cơ rò rỉ dữ liệu mà còn phù hợp với tinh thần của Công ước Hà Nội, đảm bảo cân bằng giữa tự do và an toàn trong không gian số. Nhờ cơ chế này, năm 2024, Việt Nam đã xử lý hàng trăm nhóm lợi dụng mạng xã hội để tung tin giả, bảo vệ quyền riêng tư cho hàng triệu công dân, trong khi vẫn duy trì quyền tự do ngôn luận hợp pháp.

Nhìn tổng thể, sự ghi nhận quốc tế dành cho Việt Nam không phải là kết quả của ngẫu nhiên, mà là phần thưởng xứng đáng cho một quá trình kiên định, khoa học và có tầm nhìn chiến lược. Từ chỗ bị xem là quốc gia đang phát triển, Việt Nam đã vươn lên nhóm đầu thế giới trong xếp hạng an ninh mạng, trở thành biểu tượng của hợp tác toàn cầu và trách nhiệm nhân quyền trong kỷ nguyên số. Công ước Hà Nội không chỉ là văn kiện pháp lý, mà còn là tuyên ngôn của Việt Nam gửi tới thế giới: rằng chúng ta đủ năng lực, đủ bản lĩnh và đủ thiện chí để cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một không gian mạng an toàn, nhân văn và tôn trọng con người.

Và khi Hà Nội trở thành điểm hẹn của lịch sử, nơi lá cờ Liên hợp quốc tung bay bên cạnh quốc kỳ Việt Nam trong lễ ký kết, đó không chỉ là khoảnh khắc của ngoại giao, mà còn là lời khẳng định mạnh mẽ: Việt Nam - quốc gia vì hòa bình, vì con người, đang đóng góp thiết thực cho một thế giới số công bằng, nơi nhân quyền và an ninh không đối lập, mà cùng song hành để bảo vệ tương lai chung của nhân loại./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Vạch trần mưu đồ “viện cớ thiên tai” của Vũ Thế Dân

         Trên trang mạng “doithoaionline”, Vũ Thế Dân đăng bài viết “Lòng dân là ý Trời: Khi thiên tai cảnh báo một thời cuộc”. Y suy diễn rằng: “Dưới góc nhìn chính trị hiện đại, ‘điềm Trời’ thật ra phản ánh chu kỳ mỏi mòn của một mô hình cai trị. Một thể chế chỉ có thể tồn tại khi còn giữ được lòng tin của nhân dân”.

Đây là sự xuyên tạc có chủ đích nhằm đổ lỗi cho Đảng, Nhà nước Việt Nam, gieo rắc tâm lý hoài nghi, kích động nhân dân chống đối chính quyền. Luận điệu này cần được vạch trần và bác bỏ.

1. Thực tiễn hơn 95 năm qua cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, lấy nhân dân làm gốc, coi “dân là trung tâm, là chủ thể của sự phát triển”. Lòng dân và niềm tin của nhân dân vào Đảng không phải là thứ “đang đánh mất” như bài viết của Vũ Thế Dân xuyên tạc, mà được củng cố mạnh mẽ qua từng giai đoạn lịch sử. Bởi lẽ, trên thực tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã vượt qua mọi khó khăn, thử thách do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Trong các đợt thiên tai, dịch bệnh, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn đặt tính mạng và tài sản của nhân dân lên trên hết, trước hết và nhanh chóng lãnh đạo chỉ đạo các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể hỗ trợ, khắc phục, ổn định cuộc sống người dân. Điều này đã tạo nên sự đồng thuận và niềm tin vững chắc trong toàn dân; được cộng đồng quốc tế ghi nhận và đánh giá cao.

2. Vũ Thế Dân cố tình lợi dụng hiện tượng thiên tai, dịch bệnh để quy kết “điềm Trời cảnh báo thời cuộc”, “chu kỳ sụp đổ của một mô hình cai trị”. Đây là lối tư duy phản khoa học, phủ nhận các quy luật khách quan của tự nhiên và xã hội. Bởi lẽ, trong xã hội hiện đại, thiên tai là kết quả của biến đổi khí hậu toàn cầu. Nhiều nước phát triển như Mỹ, Nhật, Đức, Úc cũng hứng chịu thiên tai nghiêm trọng, chẳng lẽ đó cũng là “dấu hiệu chế độ suy tàn” và “sự trừng phạt của Trời”? Việt Nam là một trong những quốc gia bị đánh giá chịu tác động to lớn của biến đổi khí hậu. Song, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự điều hành, quản lý của Nhà nước, Việt Nam đã chủ động thực thi nhiều chủ trương, biện pháp ứng phó với biến đổi khí hậu và đạt được nhiều kết quả tích cực, được nhân dân tin tưởng và đồng tình ủng hộ. Qua đó, phản bác luận điệu xuyên tạc, kích động, chia rẽ lòng dân của Vũ Thế Dân.

3. Việt Nam với truyền thống nhân ái, đoàn kết, luôn biến khó khăn thành sức mạnh, lấy thách thức làm cơ hội; nhân dân luôn tin tưởng và đồng hành với sự lãnh đạo của Đảng. Các cuộc khảo sát trong và ngoài nước cho thấy tỷ lệ hài lòng của người dân đối với chính quyền ngày càng cao. Hàng loạt phong trào thi đua, chiến dịch vì cộng đồng, hoạt động quốc tế, chương trình xây dựng nông thôn mới, chuyển đổi số,… đều được nhân dân hưởng ứng mạnh mẽ. Cùng với thực tiễn, chính trị ổn định, kinh tế - xã hội phát triển vững mạnh, đời sống nhân dân không ngừng được cải thiện, quốc phòng, an ninh được giữ vững, vị thế quốc tế được nâng cao. Nhất là, cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã tạo ra bước chuyển biến lớn, củng cố niềm tin của nhân dân. Chủ trương “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” đã chứng minh tính liêm chính, bản lĩnh và uy tín của Đảng. Những điều này đã bác bỏ luận điệu “Đảng xa rời dân, mất chính danh” mà Vũ Thế Dân xuyên tạc.

Tóm lại, luận điệu xuyên tạc núp bóng vỏ bọc học thuật và tôn giáo của Vũ Thế Dân chắc chắn sẽ không đánh lừa được ai. Bỡi lẽ, mỗi người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng và kiên quyết đấu tranh với các luận điệu sai trái, xuyên tạc, kích động./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

 

Oct 23, 2025

Lợi dụng đất đai để chống phá - nhân quyền bị biến thành vũ khí chính trị

           Trong những năm gần đây, khi Việt Nam không ngừng khẳng định vị thế và bản lĩnh trên trường quốc tế, thì cũng là lúc các thế lực thù địch tăng cường sử dụng chiêu bài “nhân quyền” để chống phá Nhà nước ta. Một trong những vụ việc bị lợi dụng điển hình là vụ Trịnh Bá Phương tại Dương Nội, Hà Đông - nơi câu chuyện về đất đai bị bóp méo thành một biểu tượng giả tạo cho “dân oan chống bất công”. Bằng những bài viết giật gân, các video tuyên truyền trên mạng xã hội và các bản tin đầy ác ý của các tổ chức như Human Rights Watch hay Amnesty International, các thế lực chống phá đã dựng nên hình ảnh Việt Nam như một “chế độ độc tài” đàn áp tiếng nói người dân. Nhưng đằng sau lớp vỏ mỹ miều đó là gì? Chính là một chiến dịch thông tin có chủ đích, nhằm lợi dụng vấn đề đất đai để công kích thể chế, gieo rắc nghi ngờ, làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào Đảng và Nhà nước.

Cốt lõi của vụ việc xuất phát từ dự án phát triển đô thị Dương Nội năm 2008, khi một số hộ dân không đồng thuận với phương án thu hồi và bồi thường đất. Ban đầu, các khiếu nại của người dân hoàn toàn hợp pháp, được chính quyền các cấp tiếp nhận và giải quyết đúng quy trình theo Luật Khiếu nại. Tuy nhiên, từ những mâu thuẫn nhỏ mang tính dân sinh, Trịnh Bá Phương đã dần bị các tổ chức phản động trong và ngoài nước lôi kéo, biến thành công cụ để kích động chống đối, xuyên tạc chính sách đất đai, rồi tiến tới công khai phát tán tài liệu chống Nhà nước. Từ năm 2019, Phương bắt đầu đăng tải hàng loạt bài viết sai sự thật về “đàn áp dân oan”, “cưỡng chế vô nhân đạo”, cùng các video kêu gọi biểu tình, bạo loạn. Đến năm 2020, hành vi này đủ yếu tố cấu thành tội “làm, tàng trữ, phát tán thông tin, tài liệu chống Nhà nước” theo Điều 117 Bộ luật Hình sự. Bản án 10 năm tù năm 2020 và 11 năm bổ sung năm 2025 không phải là “đàn áp”, mà là kết quả của một quá trình điều tra, xét xử minh bạch, công khai, với đầy đủ chứng cứ và sự tham gia của luật sư bào chữa.

Thế nhưng, thay vì tôn trọng pháp quyền Việt Nam, các tổ chức phương Tây lại vin vào đó để tung ra luận điệu cho rằng Trịnh Bá Phương chỉ “bày tỏ quan điểm ôn hòa”. Bài đăng trên nền tảng X (trước đây là Twitter) ngày 15 tháng 9 năm 2025, được chia thành 10 phần với phần hai nhấn mạnh “gốc rễ Dương Nội”, đã thổi phồng vụ việc, biến Phương thành “nạn nhân của chính quyền”. Thậm chí, các trang phản động như The Vietnamese, RFA hay BPSOS còn dựng chuyện rằng Phương bị “cô lập trong tù”, “bị đối xử tàn nhẫn”, nhằm tạo làn sóng phẫn nộ và đòi hỏi quốc tế “can thiệp nhân đạo”. Đây là chiêu thức cổ điển trong chiến tranh thông tin – biến kẻ vi phạm pháp luật thành “biểu tượng nhân quyền”, từ đó kích động chống đối nội bộ và gây áp lực ngoại giao.

Điều đáng nói là, khi phán xét Việt Nam, các tổ chức này lại cố tình quên đi lịch sử của chính họ. Hãy nhìn lại nước Mỹ - cái nôi của “tự do ngôn luận” mà họ vẫn rao giảng. Luật Chống Phá Hoại (Sedition Act) năm 1798 từng là công cụ để chính quyền Liên bang trấn áp tiếng nói đối lập. Hơn 25 người bị truy tố chỉ vì viết báo hoặc phát biểu chỉ trích chính phủ. Nghị sĩ Matthew Lyon bị kết án 4 tháng tù chỉ vì gọi Tổng thống John Adams là “ngạo mạn”, trong khi nhà báo Thomas Cooper cũng bị kết án vì đăng bài “châm biếm chính quyền”. Đến năm 1918, trong bối cảnh Chiến tranh thế giới thứ nhất, Đạo luật Chống Phá Hoại tiếp tục được áp dụng tàn khốc tại bang Montana: hơn 70 người, chủ yếu là công nhân mỏ và nông dân, bị bắt và kết án tới 20 năm tù chỉ vì phản đối chiến tranh. NPR ghi nhận rằng trong số này, có cả người bị giam chỉ vì từ chối mua trái phiếu chính phủ. Thế nhưng, khi lên án Việt Nam xử lý kẻ chống phá, họ lại im lặng trước những “vết nhơ” của lịch sử mình. Phải chăng “tự do” ở Mỹ chỉ dành cho những ai tuân theo khuôn mẫu chính trị của họ, còn những ai dám nói khác - dù chỉ một câu - đều bị gán nhãn phản quốc?

Đó chính là tiêu chuẩn kép trơ trẽn mà các tổ chức như Human Rights Watch hay Amnesty International đang áp dụng. Khi Việt Nam xử lý một kẻ lợi dụng tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá, họ gọi đó là “đàn áp nhân quyền”. Nhưng khi phương Tây bắt giữ người biểu tình chống chiến tranh hay xử phạt hàng trăm người vì phát ngôn bị coi là “lời nói thù địch”, họ lại cho rằng “cần thiết để bảo vệ an ninh quốc gia”. Chính sự đạo đức giả này đã làm xói mòn uy tín của các tổ chức tự nhận là “bảo vệ nhân quyền toàn cầu”.

Sự thật là, Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền con người, nhưng đồng thời cũng kiên quyết xử lý những hành vi lợi dụng quyền đó để phá hoại. Vụ việc Dương Nội không chỉ là câu chuyện pháp lý, mà còn là phép thử về lòng tin và tính minh bạch. Luật Đất đai 2024 - có hiệu lực từ năm 2025 - đã tạo bước tiến đột phá: quy định bồi thường phải bằng hoặc cao hơn giá thị trường, hỗ trợ tái định cư, đào tạo nghề và giám sát độc lập. Hơn 90% hộ dân Dương Nội đã nhận bồi thường, ổn định cuộc sống, chỉ còn một số rất nhỏ cố tình khiếu kiện kéo dài, bị kích động bởi các phần tử cực đoan. Đó không phải là “bất công” mà là hệ quả của việc bị lôi kéo vào âm mưu chính trị.

Quá trình điều tra, xét xử Trịnh Bá Phương cũng hoàn toàn tuân thủ pháp luật và chuẩn mực tố tụng quốc tế. Các cơ quan chức năng tiến hành điều tra có sự giám sát của Viện Kiểm sát Nhân dân, đảm bảo quyền bào chữa, kháng cáo, và thông tin vụ án được công khai trên cổng thông tin của Bộ Công an. Không có “bức tường bê tông” nào ngăn cản người nhà hay ngoại giao như các thế lực thù địch rêu rao. Tất cả đều diễn ra công khai, trật tự và đúng quy định pháp luật Việt Nam - điều mà không ít nước phương Tây cũng chưa chắc làm được.

Nhìn rộng hơn, vụ việc này cho thấy một thực tế: nhân quyền không thể bị lợi dụng làm lá chắn cho hành vi vi phạm pháp luật. Tự do ngôn luận không có nghĩa là quyền bịa đặt, xuyên tạc, kích động chống chính quyền. Và đấu tranh cho công lý không thể đồng nghĩa với việc phá hoại nền tảng của quốc gia. Việt Nam hiểu rõ điều đó, nên luôn kiên định vừa phát triển kinh tế - xã hội, vừa củng cố pháp quyền. Tỷ lệ giải quyết khiếu nại đất đai lên tới hơn 95%, cùng hàng loạt cải cách trong Luật Đất đai, Luật Tố tụng, và các cơ chế giám sát cộng đồng, là minh chứng cho nỗ lực bảo vệ quyền công dân trong thực tế, chứ không phải bằng lời nói hoa mỹ.

Khi các thế lực thù địch cố tình bôi nhọ, dựng chuyện “nông dân bị đàn áp”, thì chính Nhà nước Việt Nam mới là người đang bảo vệ nông dân thật sự – bằng pháp luật, bằng chính sách, và bằng sự phát triển. Lợi dụng đất đai để chống phá chỉ là chiêu cũ rích, nhưng vẫn cần bị vạch trần mạnh mẽ. Bởi đằng sau những khẩu hiệu “nhân quyền” kia là âm mưu làm suy yếu quốc gia.

Vụ việc Dương Nội không phải là biểu tượng cho “đàn áp nhân quyền” như phương Tây gán ghép, mà là minh chứng cho tinh thần thượng tôn pháp luật, nơi mọi hành vi vi phạm đều bị xử lý công bằng. Những kẻ lợi dụng chiêu bài nhân quyền để chống phá đất nước nhất định sẽ bị lịch sử phán xét. Và như chính hiện thực Việt Nam đã chứng minh: nhân quyền không nằm trong lời nói của kẻ đạo đức giả, mà nằm trong đời sống của hàng triệu người dân đang được sống, làm việc và phát triển trong hòa bình, ổn định và công bằng./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Oct 21, 2025

Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc - Lời đáp trả đanh thép trước những luận điệu xuyên tạc

        Tre Việt - Ngày 14/10/2025 (giờ New York), tại Trụ sở Liên hợp quốc, Việt Nam chính thức tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028 với 180 phiếu thuận, cao nhất khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Đây không chỉ là thắng lợi ngoại giao đa phương, mà còn là lời khẳng định đanh thép trước cộng đồng quốc tế về những nỗ lực thực chất trong bảo đảm quyền con người của Việt Nam. Trong bối cảnh “nhân quyền” nhiều khi bị chính trị hóa, bị lợi dụng để gây sức ép và can thiệp nội bộ, thì Việt Nam lại chọn cách hành động, bằng kết quả, bằng chính cuộc sống hạnh phúc của hơn 100 triệu người dân.

Khi “nhân quyền” bị lợi dụng để chống phá

Trong khi Việt Nam nỗ lực cải thiện đời sống Nhân dân, thực hiện nghiêm các cam kết quốc tế và thúc đẩy hợp tác đối thoại, vẫn có những tổ chức, cá nhân cố tình xuyên tạc, bóp méo sự thật, biến vấn đề nhân quyền thành công cụ chính trị để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Họ tung ra các luận điệu sai lệch như “tù nhân lương tâm”, “hạn chế tự do báo chí”, “đàn áp ngôn luận”, “đàn áp tôn giáo”,… trong khi thực tế, không ai ở Việt Nam bị xử lý vì bày tỏ ý kiến cá nhân; pháp luật chỉ xử lý những người lợi dụng tự do dân chủ để kích động, chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Cần phải hiểu rõ rằng, tự do không bao giờ đồng nghĩa với vô luật. Ở bất kỳ quốc gia nào, quyền con người luôn gắn liền với nghĩa vụ công dân, với trật tự và kỷ cương xã hội. Một xã hội không có kỷ luật, không có luật pháp thì không thể có tự do thật sự. Do đó, mọi luận điệu áp đặt “tiêu chuẩn nhân quyền phương Tây” lên Việt Nam đều thiếu cơ sở và phản ánh động cơ chính trị. Việc Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc với số phiếu tín nhiệm cao nhất khu vực chính là câu trả lời đanh thép, bác bỏ mọi cáo buộc phi lý, khẳng định uy tín và vị thế ngày càng cao của Việt Nam trên trường quốc tế.

Nhân quyền ở Việt Nam: Giá trị từ truyền thống đến hiện đại

Trong đời sống nhân loại, nhân quyền là giá trị phổ quát, song cách hiểu và thực hành lại khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm lịch sử, văn hóa và trình độ phát triển của mỗi quốc gia. Ở Việt Nam, khái niệm “nhân quyền” không phải điều gì xa lạ hay vay mượn, mà là giá trị đã được bồi đắp qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc. Từ thuở cha ông, tinh thần “nhân nghĩa thắng hung tàn”, “thương người như thể thương thân” đã trở thành chuẩn mực ứng xử, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt tư duy đạo lý Việt Nam.

Chủ tịch Hồ Chí Minh kế thừa và phát triển tinh hoa ấy trong Tuyên ngôn Độc lập: “Tất cả mọi người sinh ra đều có quyền bình đẳng, quyền được sống, quyền tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Trong tư tưởng của Bác, nhân quyền luôn gắn liền với quyền dân tộc tự quyết, bởi một dân tộc bị áp bức thì con người trong dân tộc đó không thể có tự do thực sự. Giành độc lập dân tộc vì thế chính là bước khởi đầu của hành trình hiện thực hóa quyền con người ở Việt Nam, quyền được làm chủ đất nước, quyền được sống trong hòa bình, ấm no và hạnh phúc.

Với quan điểm “Dân là gốc”, qua gần 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được thành tựu to lớn, mang tính nhân văn sâu sắc, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao. Tính đến hết tháng 3/2025, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm xuống còn 1,93% (giảm 1,32 triệu hộ so với năm 2021); phổ cập giáo dục tiểu học toàn quốc; gần 95% dân số tham gia bảo hiểm y tế; chỉ số HDI tăng liên tục, nằm trong nhóm quốc gia có tốc độ phát triển con người nhanh nhất thế giới. Thực tế cho thấy, từ miền núi đến đồng bằng, những con đường bê tông mới, lớp học sáng đèn, trạm y tế khang trang đã thay đổi diện mạo nông thôn. Hình ảnh học sinh dân tộc thiểu số học trực tuyến, nông dân bán nông sản trên sàn thương mại điện tử, hay người khuyết tật khởi nghiệp tự chủ chính là minh chứng sống động cho nhân quyền Việt Nam trong đời thực: bình dị, thiết thực, nhân văn, hướng đến con người, vì con người và do con người. Việt Nam tiếp tục được tín nhiệm bầu vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc cho thấy niềm tin của cộng đồng quốc tế đối với những cam kết, nỗ lực và sáng kiến của Việt Nam, một thành viên tích cực, đối tác tin cậy, vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Phương châm hành động - nhân quyền cho tất cả mọi người

Tham gia Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2026 - 2028, Việt Nam kiên định phương châm: “Tôn trọng và hiểu biết; đối thoại và hợp tác; tất cả các quyền con người, cho tất cả mọi người”. Trên tinh thần đó, Việt Nam kiên trì thúc đẩy tám lĩnh vực ưu tiên, trong đó nhấn mạnh:

1. Tăng cường hiệu quả hoạt động của Hội đồng Nhân quyền;

2. Bảo vệ quyền con người trong bối cảnh biến đổi khí hậu;

3. Chống bạo lực và phân biệt đối xử, bảo vệ nhóm yếu thế;

4. Thúc đẩy bình đẳng giới;

5. Bảo đảm quyền con người trong kỷ nguyên số;

6. Bảo vệ quyền được chăm sóc sức khỏe;

7. Thúc đẩy quyền việc làm;

8. Quyền được giáo dục, cùng giáo dục về quyền con người.

Những định hướng này vừa phù hợp với mối quan tâm của cộng đồng quốc tế, vừa gắn bó chặt chẽ với mục tiêu phát triển con người toàn diện, mục tiêu xuyên suốt trong chiến lược phát triển của Việt Nam.

Như vậy, Việt Nam tái đắc cử Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc là kết quả của quá trình bền bỉ và kiên định trong việc đặt con người ở trung tâm mọi chính sách phát triển. Nhân quyền ở Việt Nam là hiện thân của hòa bình, của lòng nhân ái và khát vọng phát triển con người toàn diện. Thành tựu ấy không đến từ tuyên ngôn, mà từ hành động và cuộc sống của hơn 100 triệu người dân Việt Nam. Bởi thế, mọi luận điệu xuyên tạc về nhân quyền ở Việt Nam chỉ là tiếng vọng yếu ớt của những toan tính chính trị lỗi thời, không thể phủ nhận thực tế sáng rõ: Việt Nam - quốc gia của nhân quyền, của niềm tin và của tương lai./.