Jul 18, 2014

Tại sao Nguyễn Trung lại đặt vấn đề hiện nay phải "cứu nước"?

        Tre Việt - Trước hết, phải nói luôn rằng, cách đặt vấn đề hiện nay phải “cứu nước” trong bài viết “Còn cay đắng hơn cả câu chuyện Mỵ Châu - Trọng Thủy” của Nguyễn Trung được một số trang mạng đăng tải vừa qua, là cách đặt vấn đề sai trái.
          Tại sao lại SAI TRÁI?
          Ai cũng biết đất nước ta được độc lập, tự do từ năm 1945, khi Bác Hồ đọc Tuyên ngôn độc lập, ngày 02-9, Người thay mặt quốc dân đồng bào đã trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập”. Vậy mà ngày nay, Nguyễn Trung lại đặt vấn đề phải “cứu nước” là sao? Đành rằng, Việt Nam cũng như mọi quốc gia khác trên thế giới không thể có một thể chế chính trị nào mà mang lại sự vừa lòng cho tất cả mọi người, nhưng những người không hài lòng là số ít. Do vậy, không nên đem sự không “vừa lòng” của mình để suy diễn mọi người cũng không hài lòng như mình nên phải “cứu nước”. Nó cũng tương tự như trong gia đình ông, những điều ông đang làm chắc gì đã vừa lòng mọi con cháu ông. Điều này thể hiện chính trong một bài viết của ông, đã nói rằng, con cháu khuyên ông già rồi, nên nghỉ ngơi, không nên viết những điều “góp ý” này nọ, nhưng ông vẫn “phải viết góp ý” cho đất nước. Chỉ có điều, những “góp ý” của ông luôn tỏ sự “chọc ngoáy”, thiếu sự chân thành. Con cháu ông khuyên ông nghỉ ngơi là vì thế. Nói vậy, để thấy rằng, mọi nhà nước trên thế giới không có nhà nước nào vừa lòng với tất thảy thành viên của đất nước. Nếu vậy, thì chẳng cần đến nhà tù, nhưng điều này là chưa thể. Trên thế giới hiện nay, đất nước nào mà chẳng có nhà tù giam giữ những người vi phạm pháp luật. Hãy hỏi những người này xem họ có vừa lòng với đất nước của mình không? Câu trả lời chắc chắn sẽ là không. Họ có đòi “cứu nước” như ông không? Cũng là không nốt. Điều ấy cho thấy, tư cách ông với những người đã vi phạm pháp luật phải ở tù thì ông còn phải rèn giũa nhiều hơn rồi. Tôi được biết ông tuổi đã cao, sức yếu, trước đây có đóng góp chút ít cho đất nước, nhưng không hiểu sao về già ông lại giở chứng mấy cái trò này, làm mờ ám những đóng góp trước đây của ông cho đất nước, dân tộc. Há chẳng uổng lắm sao? Mong ông hãy tỉnh lại để những năm cuối đời không mắc phải sai lầm ngớ ngẩn như thế này nữa, để con cháu không phải xấu hổ khi có ai đó nói về ông.
          SAI như thế nào?
          1. Ông hiểu đất nước một cách thiển cận và xóa nhòa gianh giới giữa các nhà nước. Theo cách ông viết thì đất nước chỉ là nơi cộng đồng người Việt sinh sống từ thế hệ này sang thế hệ khác (chỉ về mặt tự nhiên, lịch sử). Điều ấy đúng, nhưng chưa đủ. Đất nước không chỉ là nơi cộng đồng các thế hệ người Việt sinh sống từ thế hệ này sang thế hệ khác, mà còn phải gắn liền với một thể chế chính trị nhất định (dưới góc nhìn chính trị - xã hội). Có như vậy, mới phân biệt được các nhà nước khác nhau trong lịch sử phát triển của dân tộc Việt Nam ta, như: nhà nước phong kiến Việt Nam, nhà nước Việt Nam XHCN,… Nhưng với cách lập luận của ông thì nhà nước nào cũng giống nhà nước nào. Vậy há chẳng phải nhân dân ta đã đổ biết bao xương máu để đánh đổ chế độ thực dân, phong kiến để xây dựng lên một nước Việt Nam mới - nhà nước công nông và nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ngày nay - lại uổng công sao? Chính cái nhìn thiển cận của ông, nên ông mới phê phán Tổng Bí thư yêu cầu bảo vệ Tổ quốc “lúc này vẫn kiên định hàng đầu là bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng”. Bởi theo ông như thế “thì làm sao giữ được nước?”. Từ đó, ông chất vấn: “Tại sao không đặt vấn đề ngược lại: Lấy giữ nước, cứu nước làm nhiệm vụ trung tâm, qua đó thay đổi chế độ, thay đổi hay là lột xác Đảng để trở thành Đảng của dân tộc? Đất nước không cứu được, liệu Đảng sẽ còn tồn tại?”. Ông còn nhấn mạnh “Đặt vấn đề hay không đặt vẫn đề cứu nước chính là ở điểm nghiêm trọng này”. Với cách lập luận trên cho thấy rõ tim đen của ông là muốn thay đổi thể chế chính trị ở nước ta hiện nay. Chẳng qua, ông mượn cớ bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ đất nước để thay đổi thể chế chính trị. Đó mới thực sự là cái đích ông nhắm tới, còn về mặt chủ quyền lãnh thổ quốc gia có bị sứt mẻ chút ít ông cũng chẳng quan tâm. Xin nhắc lại quan niệm bảo vệ Tổ quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam được ghi trong các văn kiện của các đại hội có nội hàm rất rộng mà ông chắc chắn đã biết. Đó là: Bảo vệ Tổ quốc XHCN là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và nền văn hóa; bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ XHCN; bảo vệ sự nghiệp đổi mới và lợi ích quốc gia, dân tộc. Qua đó cho thấy, quan niệm của ông về đất nước, Tổ quốc quá thiển cận.
          Mặt khác, ông không nhìn nhận đất nước dưới con mắt lịch sử. Với cái nhìn phiến diện như vậy, ông mới cho rằng: “Đất nước không cứu được, liệu Đảng sẽ còn tồn tại?”. Sao ông không thấy rằng, không có Đảng Cộng sản Việt Nam thì đất nước có được độc lập, tự do như ngày nay, hay vẫn chìm đắm trong nô lệ? Trước khi Đảng Cộng sản ra đời, đất nước Việt Nam có độc lập, tự do rồi chắc. Thế mà ông viết như rô-bốt không biết nghĩ như vậy! 
          2. Ông đã “vơ đũa cả nắm” khi kêu gọi chống Trung Quốc. Đúng là Trung Quốc có hành động sai trái khi đưa giàn khoan Hải Dương-981 ngang nhiên đặt trong vùng biển Việt Nam. Hành động đó bị người người Việt Nam ta ở trong nước hay sinh sống, học tập, công tác ở nước ngoài cùng cộng đồng quốc tế cực lực lên án được các phương tiện thông tin đại chúng đưa tin nên ai cũng biết. Cần khẳng định rằng, không một người Việt Nam nào từ trẻ đến già mà lại không tỏ rõ thái độ căm phẫn trước hành động tai quái đó của Trung Quốc. Nhiều tổ chức, cá nhân đã không ngần ngại đóng góp công sức của mình tạo thành sức mạnh tổng hợp kiên quyết đấu tranh yêu cầu Trung Quốc rút giàn khoan chết tiệt ấy ra khỏi vùng biển của Tổ quốc. Nhưng rất ít người nhầm lẫn như Nguyễn Trung đòi chống cả Trung Quốc. Chỉ chống hành động hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép của Trung Quốc thôi, còn các hoạt động khác vẫn phải diễn ra bình thường, nhất là về giao thương kinh tế và cả về chính trị nữa,… Chỉ chống một bộ phận người Trung Quốc có hành động sai trái đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào đặt trong vùng biển Việt Nam, chứ không phải chống mọi người Trung Quốc. Cần có sự phân biệt rành ròi giữa nhân dân Trung Quốc với bộ phận có hành động sai trái này, sao ông lại “vơ đũa cả nắm”. Ngay thời kỳ đất nước chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Bác Hồ cũng chỉ rõ chống nước Pháp thực dân và nước Mỹ đế quốc, chứ không chống nhân Pháp, nhân dân Mỹ. Thực tế cũng chứng minh rất nhiều người dân Pháp, Mỹ đã lên án chính phủ Pháp, Mỹ xâm lược Việt Nam và họ đã ủng hộ cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta đấy chứ. Với Trung Quốc hiện nay cũng tương tự như vậy - nhiều nhà đầu tư Trung Quốc đang làm ăn ở Việt Nam, tất nhiên đều vì lợi ích của cả hai bên - sao ông lại đặt vấn đề chống Trung Quốc là chống tất cả? Chính vì cái nhìn phiến diện của ông, nên ông đã phê phán Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, khi tiếp xúc với cử  tri Hà Nội và một số nơi khác có nói: phải kiên định giữ hòa bình, đoàn kết, bảo vệ chế độ, bảo vệ Đảng, bảo vệ nhà nước, bảo vệ nhân dân, không lầm lẫn đấu tranh chống những sai trái trên Biển Đông với 1,3 tỷ nhân dân Trung Quốc, phải kiên trì gìn giữ mối quan hệ hai nước đã xây dựng được từ lâu đời, phải đấu tranh bằng mọi biện pháp hòa bình - kể cả những biện pháp luật pháp quốc tế, phải đề phòng kẻ xấu kích động,… Từ đó, ông đưa ra kết luận sai như đã đề cập ở điểm 1 là: “Tất cả những điều Tổng bí thư đã nói trên hiển nhiên vẫn là nếp nghĩ cũ, vẫn là cách tính toán có giữ được chế độ mới giữ được nước”.
          3. Không có ai cho rằng làm cho Việt Nam mạnh lên là chống Trung Quốc cả. Phải chăng ông mắc bệnh hoang tưởng nên mới cho rằng: “Nếu ai nghĩ rằng làm cho Việt Nam mạnh như thế là chống Trung Quốc, thì cứ để cho họ bênh và bảo vệ Trung Quốc”. Ngay từ ngày khai giảng đầu tiên của nước ta Bác Hồ đã viết thư gửi các cháu học sinh và căn dặn: Non sông Việt Nam có trở nên vẻ vang hay không, có bước lên vũ đài vinh quang sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các cháu. Và ngày nay, khi Trung Quốc có hành động hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 sai trái trong vùng biển của ta, một số người có hành động sai trái do nhận thức chưa thấu đáo đã đập phá các cơ sở sản xuất của nhà đầu tư Trung Quốc ở Đồng Nai, Bình Dương, Hà Tĩnh gây thiệt hại không chỉ cho nhà đầu tư, mà còn cho cả đất nước ta nữa. Vì thế, các lãnh đạo của Việt Nam đều kêu gọi mọi người hãy làm tốt công việc được giao của mình là thể hiện tinh thần yêu nước, làm cho Việt Nam mạnh lên là thể hiện yêu nước. Thế mà ông lại cho rằng, có người suy nghĩ làm cho Việt Nam mạnh lên là chống Trung Quốc là sao?
     4. Tại sao ông lại nói: “Cho đến nay chưa thấy một thông báo nào đặt vấn đề đại hội tới sẽ phải làm gì, Đảng sẽ phải làm gì, để đất nước mạnh lên”? Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã nói rõ đặc trưng của xã hội XHCN mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền văn hóa phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp; có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; con người có cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc, có điều kiện phát triển toàn diện; các dân tộc trong cộng đồng Việt Nam bình đẳng, đoàn kết, tôn trọng và cùng giúp nhau phát triển; có Nhà nước pháp quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo; có quan hệ hữu nghị và hợp tác với các nước trên thế giới”[1]. Đại hội XI, tới đây là Đại hội XII và những đại hội tiếp theo của Đảng cũng bàn đến việc xây dựng xã hội có các đặc trưng mà Cương lĩnh đã xác định ở trên. Vấn đề ấy đã công khai cho toàn dân và thế giới biết từ năm 2011 rồi còn gì? Sao ông lại cho rằng “Cho đến nay chưa thấy một thông báo nào đặt vấn đề đại hội tới sẽ phải làm gì, Đảng sẽ phải làm gì, để đất nước mạnh lên”. Không chỉ công khai cho bàn dân thiên hạ biết, mà trước đại hội toàn dân đã được tham gia ý kiến đóng góp vào bản Dự thảo Cương lĩnh và Dự thảo Văn kiện của Đại hội XI của Đảng nữa đấy. Ông đã quên sao? Đảng có giấu diếm gì đâu mà ông lại cho rằng, “Chẳng lẽ đấy là bí mật của Đảng - nghĩa là đất nước này là của riêng Đảng”. Xin thưa, chưa bao giờ và không bao giờ Đảng tuyên bố đất nước này là của riêng Đảng như ông suy diễn. Trái lại, Đảng khẳng định: “Đại đoàn kết dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam; là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[2]. Để làm được điều đó, Đảng đang đẩy mạnh thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng, làm cho Đảng trong sạch vững mạnh đủ sức lãnh đạo toàn dân tộc thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc./.


[1] Đảng Cộng sản Việt Nam- Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr. 70.
[2] Đảng Cộng sản Việt Nam- Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nxb CTQG, H. 2011, tr.48.

Jul 14, 2014

Sự phi lý trong bài "Nước xa & lửa gần" của GS Tương Lai

         Tre Việt - GS Tương Lai gần đây có bài viết “Nước xa & lửa gần” được một số trang mạng đăng tải. Bài viết trên của GS Tương Lai viết nhiều, nhưng tựu trung là từ khi giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc ngang nhiên đặt trong vùng biển Việt Nam đã tạo ra thời cơ để Việt Nam liên minh với Mỹ chống Trung Quốc. Vị GS viết: “Còn gì xuẩn ngốc hơn khi kẻ cướp hung tợn đã đạp rào vào đến sân nhà, nhưng vì một “quan điểm đã được công khai nhiều lần” nên nhất quyết thà để cướp tràn vào giết cả nhà mình mà không kêu gọi hàng xóm góp sức đánh cướp. Ngược lại, vẫn trấn an hàng xóm rằng “về tổng thể trên các mặt đang phát triển tốt đẹp” khiến cho những bạn bè muốn giúp chủ nhà đánh cướp ngỡ ngàng! Vào thời điểm vận nước đang lâm nguy mà vẫn còn định làm vừa lòng Trung Quốc với luận điệu không “liên minh, liên kết, đồng minh với nước nào, không dùng nước thứ ba, để chống lại nước khác”. Phải chỉ rõ rằng, chìm sâu trong quyết sách đó là sự nhu nhược, hèn nhát sợ làm tổn hại đến “tình hữu nghị truyền thống” và kéo theo đó là những đòn trừng phạt của “người anh em cùng chung ‎‎ý thức hệ”!

        Tre Việt cho rằng dựa vào Mỹ để chống Trung Quốc là dốt và hèn.

          Tại sao lại DỐT? 
          1. Bên cạnh đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển, chính sách đối ngoại rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế của Đảng và Nhà nước, Việt Nam đã thực hiện chính sách quốc phòng độc lập, tự chủ. Theo đó, Việt Nam không tham gia các liên minh quân sự, không là đồng minh quân sự của bất kỳ nước nào, không cho bất cứ nước nào đặt căn cứ quân sự ở nước mình và không dựa vào nước này để chống nước kia. Vậy thì việc kêu gọi liên minh với Mỹ để chống Trung Quốc là một hành động trái với chính sách của Đảng và Nhà nước cũng như nguyện vọng hòa bình của dân tộc Việt Nam.
          2. Mỹ đã làm gì đối với thế giới này và đã diễn trò đi đêm với Trung Quốc để “bứng” quần đảo Hoàng Sa của chúng ta đấy chứ. Thế giới bây giờ không còn là đơn cực như cách đây hơn 20 - 30 năm, khi mà Liên Xô tan rã còn Trung Quốc thì đang loay hoay tìm đường tiến lên. Mỹ và đàn em NATO bây giờ chỉ “võ mồm” và ngậm đắng nuốt cay khi nhìn Nga tát vỡ mồm Cruzia năm 2008 và mới đây là “xin tí đất” Ukraina (2014), cũng như “ngậm hột thịt” khi Trung Quốc chiếm bãi cạn Scarborough do Philippine quản lý (2013). Mà đâu chỉ có Philippine, các “đồng minh nhớn” của Mỹ tại khu vực là Nhật Bản và Hàn Quốc cũng chẳng đang phải tự bơi trong các cuộc tranh chấp đảo với Trung Quốc và Nga từ hàng chục năm nay đó thôi.
          Mặt khác, trong mấy năm gần đây, cựu nhân viên tình báo Mỹ Edward Snowden đã tiết lộ chương trình nghe lén của Mỹ, ngay cả những đồng minh thân cận của Mỹ cũng bị Mỹ nghe lén. Điều đó cho thấy, Mỹ liên minh không phải vì nước đó mà vì chính quyền và lợi ích của Mỹ mà thôi. Tương tự như vậy, hiện nay, đừng vội lầm tưởng Mỹ lên tiếng phản đối Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trong vùng biển Việt Nam mà vội cho rằng Mỹ ủng hộ Việt Nam, vì Việt Nam mà vì chính quyền và lợi ích của Mỹ trong giao thương hàng hải, hàng không qua khu vực quan trọng này.
          3. Việt Nam không gây thù oán nước nào, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của tất cả các nước và các dân tộc phấn đầu vì hoàn bình, độc lập dân tộc, thực hiện kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhưng không phải bằng cách liên minh với nước này để chống nước khác. Bởi vì, khi “liên minh” với một nước nào đó để chống nước khác tức là chúng ta đã tự tạo cho mình thêm một kẻ thù. Và càng ngu xuẩn hơn nếu kẻ thù đó lại là một gã khổng lồ, “núi liền núi, sông liền sông” với chúng ta. Hàng ngàn năm nay, đất nước ta tồn tại độc lập bên cạnh Trung Quốc không chỉ nhờ vào những chiến công đánh thắng sự xâm lược của tay láng giềng xấu tính này mà còn nhờ vào chính sách ngoại giao mềm dẻo ngay sau mỗi chiến thắng của các vị vua anh minh xưa kia. Thực dân Pháp, đế quốc Mỹ xưa kia từ nơi xa xôi đến gây họa cho dân tộc ta bằng những vũ khí tối tân nhưng với một kẻ thù láng giềng thì các “đòn thù” có thể đến từ mọi hướng, mọi lĩnh vực và dù không thể quật ngã được chúng ta thì cũng đủ khiến đất nước ta phải ôm tấm thân chưa lành thương tật chiến tranh này “cầm hơi sống qua ngày”. Tệ hơn nữa, Việt Nam sẽ trở thành một bãi chiến trường để tiêu thụ các loại vũ khí tồn kho của phương Tây đồng thời gánh thêm món nợ cho số vũ khí này (và các hợp đồng “tái thiết đất nước”) như tình trạng các nước Iraq, Lybia, Afghanistan,... đang phải gánh chịu. “Bán anh em xa, mua láng giềng gần”, nước xa không cứu được lửa gần”, những câu dặn dò của ông cha xưa vẫn chưa hề lỗi thời mà minh chứng gần nhất cho sự vi phạm quy tắc này là chính Ukraina, Cruzia đó thôi. Trung Quốc có thể là một gã láng giềng tham lam và xấu tính (thì cũng như Mỹ với Mỹ La-tinh, Israel với Palestine vậy), nhưng đối thoại với họ vẫn tốt hơn rất nhiều việc đối đầu.
          4. GS Tương Lai hẳn biết rằng Mỹ là một con buôn của thế giới. Mà với con buôn thì chỉ có lợi nhuận mới là mục đích sống còn. Hơn thế nữa, đây là một con buôn đang trong giai đoạn khó khăn, suýt cháy túi vì cuộc chơi tài chính - bất động sản mới đây. Vậy mà đòi liên minh với Mỹ, đề nghị Chính phủ Mỹ “xem xét các biện pháp trừng phạt về mặt kinh tế đối với Trung Quốc”. Chắc GS hẳn thấy rõ Mỹ đã phải muối mặt diễn trò hề “trừng phạt kinh tế” Nga khi  Nga xử Ukraina? Thật là khôi hài khi yêu cầu “con nợ” đi “trừng phạt kinh tế” chủ nợ, nhất là khi làm chuyện đó vì một đối tác tí hon như Việt Nam. Bỏ qua chuyện hầu như tất cả các sản phẩm đầu vào của các công ty Mỹ được gia công tại Trung Quốc, nhìn vào giá trị thương mại giữa hai siêu cường này những năm vừa qua cho thấy giá trị thương mại giữa Mỹ và Việt Nam chỉ bằng 3% đến 5% giá trị thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc mà thôi. Do vậy, chúng ta có thể tưởng tượng rằng “kiến nghị” này cũng tựa như chuyện một cô gái quê nghèo đề nghị “ông chủ” đại gia phải “trừng phạt tình cảm” đối với cô bồ siêu mẫu và giàu có bởi cô bồ này đã “khinh khi” mình (!)
          Chuyện này cũng như chuyện một số người cổ vũ cho người dân “tẩy chay hàng Trung Quốc” hoặc “không tiếp khách người Trung Quốc”, là hành động thể hiện chủ nghĩa dân tộc hẹp hòi, thiếu hiểu biết. Những người kêu gào “tẩy chay hàng Trung Quốc” có giỏi thì hãy vứt bỏ ngay toàn bộ những thiết bị điện tử, máy móc, phương tiện,... có dán mác “Made in China” ở nhà mình trước khi hô hào người khác thực hiện theo? Đừng nói là Việt Nam mà ngay ở những nước có trình độ sản xuất phát triển cao thì nhiệm vụ “tẩy chay hàng Trung Quốc” trong thời đại hiện nay cũng là bất khả thi. Ngay cả trong thời kỳ mà thực dân Pháp, đế quốc Mỹ gieo bao tang thương trên đất nước này thì cũng chẳng có ai hô hào chống thực dân, đế quốc bằng cách “tẩy chay hàng hóa Pháp, Mỹ” cả! Thay vì nghĩ ra những “mưu hèn kế mọn” như vậy, nên dành thời gian đó để giúp “người Việt dùng hàng Việt”, “làm sao để hàng hóa Việt đến được với người tiêu dùng”, “làm sao nâng cao chất lượng hàng hóa Việt”, v.v.
          Tại sao lại HÈN?
          Từ thuở lập quốc, các thế hệ người Việt đã trải qua biết bao khói lửa chiến tranh, đánh tan biết bao kẻ thù hùng mạnh khắp thế giới để có được một đất nước Việt Nam độc lập, tự chủ ngày hôm nay bằng chính sức lực, trí tuệ của con người Việt chứ chưa bao giờ phải cầu cạnh nước khác làm giúp mình việc đó cả. Bởi hơn ai hết, cha ông chúng ta hiểu rằng chẳng có độc lập, tự do nào mà không phải hy sinh bằng máu và nước mắt của mình cả, rằng cái độc lập kiếm được bằng công sức của người khác là một thứ độc lập giả hiệu, rằng điều đó chẳng khác gì “tiễn sói cửa trước, rước hổ cửa sau”!
          Ngay trong kháng chiến chống Mỹ, ở cái thế “trứng chọi đá” như vậy nhưng Bác Hồ và Đảng CSVN vẫn từ chối sự giúp đỡ binh lực từ các nước bạn vì “nợ tiền bạc chúng tôi còn có thể trả nhưng nợ xương máu thì không bao giờ trả được!”. Ấy vậy mà ngày nay, trước sự việc gây hấn giữa biển khơi của Trung Quốc, khi mà Nhà nước Việt Nam đang kiên quyết và khéo léo giải quyết tình hình thì GS Tương Lai lại muốn mượn Mỹ để chống Trung.
          Trải qua hàng ngàn năm lịch sử thăng trầm, thế sự xoay vần, Việt Nam vẫn trường tồn bên cạnh gã khổng lồ Trung Hoa. Và dẫu hàng ngàn năm nữa thì cái mối quan hệ “láng với giềng như chó với mèo” này cũng khó lòng đổi thay nhưng chắc chắn là thế giới này sẽ lại có những lần thay ngôi đổi chủ, nước Mỹ sẽ chẳng thể ngồi mãi ở ngôi “vương”. Vậy nếu cứ chạy theo cái tâm thế dặt dẹo của những kẻ yêu nước bằng mồm, đất nước này sẽ ra sao khi “cái ô” đã mất, chỉ còn lại mình với gã khổng lồ đầy hận thù kế bên?

          Chân lý không thay đổi, đã được ông cha ta đúc kết hàng ngàn năm nay và được Đảng CSVN vận dụng phát huy hiện nay: phải đứng vững được trên đôi chân mình, phải tự lực tự cường người người Việt Nam ta phải nên khắc ghi./.

Jul 11, 2014

Vẫn cái nhìn định kiến về tình hình nhân quyền ở Việt Nam

          Tre Việt - Trên VOA tiếng Việt ngày 10-7 có bài viết: “Tình hình nhân quyền ở Việt Nam không cải thiện, thậm chí còn xấu đi”, của Linh Đan. Thú thực nhìn thấy tít bài Tre Việt đã không muốn đọc. Bởi chưa đọc đã biết bài viết viết gì, chẳng có gì mới, toàn là những thứ đã nói nhiều, nhàm lắm rồi. Thế mà chẳng hiểu sao Tre Việt lại lướt qua, làm cho Tre Việt thấy cứ tưng tức với nội dung bài viết mà Linh Đan đề cập. Bởi nó không đúng với tình hình nhân quyền ở Việt Nam.
          Bài viết của Linh Đan cho rằng: “Tình hình nhân quyền ở Việt Nam không được cải thiện mà thậm chí còn đang xấu đi”. Tác giả dẫn lời của Chủ tịch Ủy ban Đối Ngoại Hạ Nghị Viện Mỹ Ed Royce, vẫn với cái điệp khúc “tù nhân lương tâm”, “tự do ngôn luận”,… Họ ước tính có khoảng 150 đến 200 tù nhân chính trị ở Việt Nam và 63 người trong số đó bị kết án trong năm 2013. Xin thưa, ở Việt Nam không có tù nhân chính trị, chỉ có những người vi phạm pháp luật được tòa án xét  xử theo tội danh và họ phải chịu hình phạt theo quy định của pháp luật hiện hành của Việt Nam và quốc tế. Điều 29 của Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền (năm 1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng,… trong khi thụ hưởng các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền và tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”. Thực tế cho thấy, ở Việt Nam trong các phiên tòa xét xử, những người vi phạm pháp luật đều có các luật sư bào chữa và chính họ cũng tự bào chữa cho hành vi của mình. Nhưng với chứng cứ rõ ràng, họ đều cúi đầu nhận tội và mong muốn tòa án giảm nhẹ hình phạt cho mình. Như thế, sao gọi là vi phạm nhân quyền. Nước nào trên thế giới hiện nay mà chẳng có nhà tù để giam giữ những người vi phạm luật pháp của nước mình. Bởi vậy, không thể lấy con số những người bị giam giữ để chứng minh cho việc vi phạm nhân quyền ở Việt Nam. Có điều, hãy xem tại sao họ thống kê những người vi phạm trên lĩnh vực thông tin, truyền thông để cho rằng Việt Nam vi phạm tự do ngôn luận, mà không thấy rằng, chính Công ước về các quyền dân sự, chính trị (năm 1966) được hơn 150 quốc gia tán thành và phê chuẩn hàng loạt các quyền về dân sự, chính trị, như: quyền tự do đi lại, lựa chọn nơi cư trú; quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo; quyền tự do ngôn luận; quyền tự do lập hội; quyền hội họp hòa bình,… đều là các quyền bị hạn chế và sự hạn chế đó do pháp luật quy định. Điều 19, mục 3 của Công ước trên ghi rõ: “Việc thực hiện những  quyền quy định tại mục 2 Điều này (quyền tự do ngôn luận), kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó có thể là đối tượng chịu một số hạn chế nhất định, tuy nhiên, những hạn chế này phải được pháp luật quy định và cần thiết để: a) nhằm tôn trọng quyền hoặc uy tín của người khác; b) nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy, dự luật H.R. 4254 về nhân quyền ở Việt Nam đang được bàn thảo ở Hạ viện và Thượng viện Hoa Kỳ cũng chịu chung số phận như các dự luật trước đây mà thôi. Bởi dự thảo ấy vẫn giữ cái nhìn định kiến phản ánh không đúng tình hình nhân quyền ở Việt Nam.

          Nhìn vào nước Mỹ cho thấy chính Mỹ là nước bị chỉ trích vi phạm tự do ngôn luận. Ngày 12-02-2014, Tổ chức Nhà báo không biên giới (RSF) đã chỉ trích Mỹ xâm phạm tự do báo chí. Báo cáo thường niên của Tổ chức này đã chỉ đích danh Mỹ là “một trong những quốc gia bị tụt lùi nghiêm trọng trong việc tôn trọng tự do báo chí” trong năm 2013. Theo báo cáo, “các quốc gia luôn tự hào về nền dân chủ và tôn trọng tự do báo chí đã không còn là một ví dụ điển hình cho việc này” - ám chỉ đến Mỹ - và đánh tụt thứ hạng của Mỹ từ 13 xuống vị trí thứ 46 trong danh sách các quốc gia tự do báo chí. Rộng ra cho thấy, Hoa Kỳ vẫn chưa phê chuẩn Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa và chưa trở thành thành viên của Công ước về quyền trẻ em. Và nữa, Mỹ đã bị Liên hợp quốc bỏ phiếu loại ra khỏi Ủy ban Nhân quyền quốc tế (tháng 5-2001), nơi mà Mỹ là thành viên từ năm 1948, do vi phạm của nước này xung quanh vấn đề dân chủ, nhân quyền. Còn Việt Nam được bầu vào Hội đồng Nhân quyền của Liên hợp quốc nhiệm kỳ (2014 - 2016) với số phiếu cao nhất. Ấy thế mà mấy dân biểu Hoa Kỳ lại cứ bận tâm về tình hình nhân quyền của nước khác. Xin “cảm ơn” sự quan tâm này, nhưng mong các ngài hãy vì quyền con người của người dân Hoa Kỳ trước đã, đừng có mà “Việc nhà thì nhác, việc chú bác thì siêng” chẳng hay ho gì đâu./.

Jun 13, 2014

Trung Quốc giở trò "gái đĩ già mồm"

           Tre Việt - Vào hồi 06:31 GMT - thứ tư, ngày 11-6-2014, trên BBC tiếng Việt có bài Trung Quốc phản công “chiến dịch bôi nhọ” của Việt Nam”. Đọc bài viết thấy rõ Trung Quốc đang giở trờ “gái đĩ già mồm”.
            Bài viết cho biết: Tân Hoa Xã dẫn lời ông Vương Minh, phó đại sứ Trung Quốc tại Liên hợp quốc, nói rằng nước ông sẽ “nói cho cộng đồng quốc tế sự thật và giúp cho họ hiểu đúng vấn đề”. Ơ hay, sự thật đã rõ ràng là Trung Quốc ngang nhiêm đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào hạ đặt trong vùng biển Việt Nam mà không có bất kỳ cơ sở khoa học, phát lý nào cho rằng đó là vùng biển đang tranh chấp. Mà sự thật, vị trí giàn khoan Hải Dương-981 hạ đặt thuộc vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam theo Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Quần đào Hoàng Sa của Việt Nam bị Trung Quốc dùng vũ lực chiếm giữ từ năm 1974 đã không được luật pháp quốc tế thừa nhận là của Trung Quốc. Trái lại, cơ sở lịch sử và pháp lý (quốc tế và Việt Nam) đều khẳng định, quần đảo Hoàng Sa là một phần lãnh thổ thiêng liêng của Việt Nam. Việc Trung Quốc đang chiếm giữ một cách phi pháp quần đảo Trường Sa của Việt Nam đã không được tổ chức, cá nhân nào thừa nhận. Do vậy, Trung Quốc không thể lấy phần lãnh thổ của Việt Nam mà mình đang chiếm giữ bất hợp pháp để làm căn cứ cho hành động sai trái khác: đặt giàn khoan Hải Dươg-981. Ấy thế mà Vương Minh lại to mồm là “nói cho cộng đồng quốc tế sự thật và giúp cho họ hiểu đúng vấn đề”. Việt Nam cũng đang mong muốn nói rõ sự thật để Trung Quốc một phen bẽ mặt trước bàn dân thiên hạ về hành động xâm chiếm lãnh thổ Việt Nam trái phép. Rõ ràng Trung Quốc đang chơi trò Cáo gửi chân, gửi một chân rồi muốn gửi cả hai chân để “được đằng chân lân đằng đầu”. Xin nhắc nhở Trung Quốc rằng, nhân dân Việt Nam từ đời này sang đời khác không một ai quên bài Thơ Thần của Lý Thường Kiệt:
Sông núi nước Nam vua Nam
Rành rành định phận ở sách trời
Cớ sao chúng bay sang xâm phạm
Chúng bay sẽ bị đánh tơi bời
          Nhân dân Việt Nam thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của dân tộc với tinh thần: Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, như lời Bác Hồ khẳng định.
          Ông Vương Minh, phó đại sứ Trung Quốc tại Liên hợp quốc, nói rằng nước ông sẽ “nói cho cộng đồng quốc tế sự thật và giúp cho họ hiểu đúng vấn đề”. Vâng. Ông hãy nói đi. Cơ sở của đường lưỡi bò mà mấy đứa trẻ vẽ ngoạch ngoạc khi thì 9 đoạn, lúc lại 11 đoạn không có tọa độ, chiếm 90% diện tích Biển Đông là gì vậy? Không có chứ gì. Vậy nên, trước vụ kiện của Philippin, Tòa án quốc tế cho hạn 6 tháng để Trung Quốc phải nộp bằng chứng khẳng định chủ quyền của mình, Trung Quốc đã từ chối. Việt Nam có câu: “Cây ngay không sợ chết đứng”, sao Trung Quốc lại không dám đưa ra bằng chứng? Vì có đâu mà đưa ra cơ chứ. Không đưa ra được bằng chứng nào, nó chứng tỏ lòng tham đã làm mờ mắt, không còn phân biệt phải trái, đúng sai mà chỉ biết “cuốc vơ vào lòng” là không thay đổi phải không? Thật tệ. 
          Chưa hết, bài báo còn cho biết: “bà Hoa Xuân Oánh, phát ngôn nhân Bộ Ngoại giao Trung Quốc, cáo buộc Hà Nội đang “tăng cường quấy rối trên biển” và “tìm cách bôi xấu Trung Quốc trên trường quốc tế”. Thật là lạ đời. Việc các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam (kiểm ngư, cảnh sát biển) và ngư dân Việt Nam đánh bắt thủy sản trên ngư trường Hoàng Sa truyền thống của mình Trung Quốc lại cho rằng “tăng cường quấy rối trên biển”. Chính các vị khách mang tên Hải Dương-981 không mời mà đến đang thực hiện hành động ăn cướp trên vùng biển Việt Nam mới là lực lượng cản trở giao lưu hàng hải, hàng không và an ninh, an toàn hàng hải của khu vực và thế giới. Chính nó - Hải Dương-981 mới là kẻ phải cuốn gói ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý của Việt Nam để trả lại sự bình yên của vùng biển này. Cũng chính hành động ngang ngược của Trung Quốc ngang nhiên đưa giàn khoan Hải Dương-981 vào hạ đặt trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam đã nói lên hành động xấu xa của Trung Quốc. Việt Nam chỉ cần nói lên sự thật thì đã làm cho Trung Quốc phải “đeo mo vào mặt”, nếu Trung Quốc còn một chút liêm sỉ.

          Với những cách hành xử của Trung Quốc ở khu vực giàn khoan Hải Dương-981 thuộc vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam và phát ngôn của ông Vương Minh và bà Hoa Xuân Oánh cho thấy rõ Trung Quốc đang giở trò “gái đĩ già mồm”./. 

Jun 8, 2014

Nguyễn Hưng Quốc buồn vì nhận thức sai lầm

          Tre Việt - Trong blog của mình vào đầu tháng 6, Nguyễn Hưng Quốc có bài viết Còn Đảng còn mình lại được VOA tiếng Việt loan tin. Trong bài viết Quốc phân tích, phê phán câu còn Đảng còn mình và kết thúc bài viết rằng “Buồn”. Tại sao buồn? Hãy xem Quốc phân tích gì? Nhận thức của anh ta đúng hay sai?
          Mở đầu bài viết, Quốc cho rằng: “Câu khẩu hiệu “còn Đảng còn mình”, cho đến nay, chỉ xuất hiện trước các đồn công an và, từ đó, trở thành một đối tượng để phê phán của những người ngoài đảng và có tinh thần dân chủ và độc lập”. Tại sao vậy? Quốc phân tích: “trên thế giới, từ lâu, người ta đã biết và đã thực thi nguyên tắc: Công an phải độc lập với đảng cầm quyền. Nhiệm vụ của công an không phải là để phục vụ và kiếm lợi từ cái đảng ấy. Nhiệm vụ của công an là bảo đảm an toàn và an ninh cho xã hội và chỉ tuân theo luật pháp”. Nói vậy, là Quốc mới thấy hiện tượng chưa thấy bản chất của vấn đề. Ở một số nước gọi là đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, nhưng về thực chất chỉ có đảng của giai cấp tư sản thay nhau nắm quyền. Ở nước Mỹ, chỉ có Đảng Dân chủ và Đảng Cộng hòa thay nhau nắm quyền, còn các đảng khác chưa từng và không thể nắm quyền. Dù là Đảng Dân chủ hay Đảng Cộng hòa đều là đảng của giai cấp tư sản, sự tranh giành giữa hai đảng này về thực chất là tranh giành lợi ích giữa các nhóm tư sản chóp bu. Cho nên, nhiệm vụ của công an ở những nước như thế “là bảo đảm an toàn và an ninh cho xã hội và chỉ tuân theo luật pháp” là đúng. Còn ở Việt Nam lại khác, hiện nay, giai cấp công nhân chỉ có một đảng duy nhất là Đảng Cộng sản. Đảng đó lãnh đạo nhà nước và xã hội, nên công an vừa bảo vệ Đảng, vừa bảo đảm an toàn và an ninh cho xã hội, tất nhiên, phải tuân theo luật pháp nữa.
          Quốc còn có tình “mũ ni che tai” khi cho rằng: “câu khẩu hiệu trên phản ánh không những tình trạng đảng trị và phi dân chủ mà còn cả sự mua chuộc của Đảng Cộng sản đối với lực lượng công an”. Thực tế cho thấy, bằng cơ sở lý luận và thực tiễn nhiều học giả đã phân tích, chứng minh để có kết luận: tình trạng dân chủ hay mất dân chủ không phụ thuộc vào chế độ đa đảng hay độc đảng mà phụ thuộc vào bản chất của đảng cầm quyền, đảng ấy phục vụ cho ai và cho giai cấp nào? Theo đó, đảng của giai cấp tư sản chỉ phục vụ lợi ích của giai cấp tư sản, còn chính đảng của giai cấp công nhân phục vụ lợi ích của giai cấp công nhân và nhân dân lao động. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, trong những năm gần đây, Việt Nam đã trở thành hình mẫu trong thực hiện Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc được các nước và các tổ chức quốc tế đánh giá cao, nhất là thành tựu về xóa đói giảm nghèo. Đáng chú ý là Việt Nam đã đạt và về đích trước 5/8 Mục tiêu Thiên niên kỷ. Điều đó chẳng phải Đảng Cộng sản Việt Nam vì lợi ích của quảng đại nhân dân lao động hay sao? Ấy thế mà Quốc lại nói là “phi dân chủ”, thật nực cười.
          Quốc còn cho rằng, “Hiện nay, Đảng Cộng sản bảo vệ thế đứng độc tôn của mình trên chiếc kiềng ba chân: một là, quân đội; hai là, công an; và ba là, nền kinh tế quốc doanh,…”. Điều đó cho thấy, Quốc không biết hay cố tình lờ đi lý luận ra đời của nhà nước. Lịch sử phát triển của xã hội loài người đã chứng minh, khi giai cấp xuất hiện thì nhà nước cũng ra đời và từ đó xuất hiện công cụ bạo lực để bảo vệ quyền lợi của giai cấp và nhà nước đã sinh ra mình. Do vậy, không chỉ Đảng Cộng sản mà bất kỳ đảng cầm quyền nào cũng phải dựa vào quân đội, công an để quản lý, điều hành và duy trì vai trò lãnh đạo của mình.
          Đảng Cộng sản phải dựa trên kinh tế quốc doanh, chính xác là kinh tế nhà nước thì cũng không sai. Bởi cơ sở hạ tầng quyết định kiến trúc thượng tầng. Đảng Cộng sản phải dựa trên kinh tế nhà nước, thì đảng cầm quyền của giai cấp tư sản phải dựa trên kinh tế tư bản tư nhân - dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân TBCN về tư liệu sản xuất. Đó cũng là điểm khác nhau về bản chất giữa Đảng Cộng sản Việt Nam với đảng của giai cấp tư sản. Về điểm này cho thấy sự tiến bộ, văn minh của Đảng Cộng sản so với đảng của giai cấp tư sản. Bởi sự ra đời của chế độ công hữa về tư liệu sản xuất thể hiện rõ sự tiến bộ hơn so với chế độ chiếm hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Như vậy, sự phê phán của Quốc vô tình cho người ta thấy điều ngược lại.
          Quốc nhận xét một cách hàm hồ rằng, “trước khi vụ giàn khoan Hải Dương-981 bùng nổ, tất cả những toan tính chiến lược của nhà cầm quyền Việt Nam không phải là bảo vệ đất nước mà, trước hết, bảo vệ quyền lực và quyền lợi của chính họ; và vì những quyền lực và quyền lợi ấy gắn bó với sự tồn tại, hơn nữa, tồn tại một cách độc tôn của Đảng Cộng sản, do đó, hệ quả là, mọi người cứ lo chăm chăm bảo vệ đảng dù cái giá phải trả có khi là mất đi một phần lãnh thổ hay lãnh hải”. Xin hỏi Quốc: cuộc chiến đấu của quân và dân Việt Nam bảo vệ biên giới Tây Nam năm 1978, bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 là gì?
          Quốc võ đoán cho là cách tư duy “còn đảng còn mình” chi phối thái độ và chính sách của Việt Nam đối với Mỹ và Tây phương nói chung: Các quốc gia ấy lúc nào cũng đòi hỏi dân chủ và nhân quyền tức là lúc nào cũng âm mưu “diễn biến hòa bình” để lật đổ chế độ XHCN. Mà tất cả những kẻ nào có ý định lật đổ chế độ XHCN đều bị xem là “lực lượng thù nghịch”. Nói thế cho thấy Quốc là người xa Tổ quốc và bị “cấm cửa” không còn đường quay về đã không hiểu chủ trương và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố từ những năm 1990 rằng: Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy của các nước và các dân tộc phấn đấu vì hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội. Trên thực tế, Việt Nam đã và đang thực hiện chính sách đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại. Việt Nam đã trở thành đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với nhiều quốc gia, dân tộc; trong đó, là đối tác toàn diện với Hoa Kỳ. Đâu có phải Mỹ và các nước phương Tây là thù nghịch của Việt Nam như Quốc nói. Việt Nam đã công bố quan điểm của mình rằng: những ai cản trở con đường xây dựng CNXH ở Việt Nam đều là đối tượng phải đấu tranh; những ai ủng hộ con đường đó đều là đối tác. Và rằng, trong mỗi đối tượng có mặt cần hợp tác, trong mỗi đối tác có mặt phải đấu tranh.

          Quốc hồ đồ rằng: “dưới mắt giới lãnh đạo Việt Nam, những kẻ bị xem là “thù nghịch” không phải là những kẻ mưu toan lấn chiếm vùng biển và hải đảo Việt Nam mà chính là những kẻ muốn Việt Nam được dân chủ hóa. Nói cách khác nữa, với họ, việc bảo vệ đảng quan trọng hơn việc bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ và lãnh hải”. Đúng là Quốc nói không có suy nghĩ. Mọi người dân Việt Nam, từ người lãnh đạo đến những người dân bình thường sinh sống ở trong nước và hay ở nước ngoài luôn luôn ý thức rằng, chủ quyền, lãnh thổ quốc gia là thiêng liêng, bất khả xâm phạm. Mới đây, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: Việt Nam quyết không đánh đổi chủ quyền quốc gia lấy tình hữu nghị một cách viển vông. Đó cũng là ý chí của mọi người Việt Nam. Vậy thì hà cớ gì mà Nguyễn Hưng Quốc phải “buồn”. Buồn vì chính Quốc có nhận thức sai lầm. Những mong Quốc học hỏi thêm; đồng thời, cập nhật tình hình trong nước thường xuyên và kịp thời khỏi bị lạc hậu để không còn “buồn” và cùng góp sức bảo vệ chủ quyền quốc gia, dân tộc như mọi người Việt Nam yêu nước./. 

May 29, 2014

Về cái gọi là “Thư chung” gửi Nhà nước Việt Nam trên internet!

Tre Việt - Vừa qua trên internet xuất hiện cái gọi là “Thư chung” do 61 “nhân vật quốc tế” ký tên gửi Nhà nước Việt Nam. Với nội dung chủ yếu là lên án, phản đối Nhà nước Việt Nam đã “đàn áp nghiêm trọng với Phật giáo” cái gọi là “Thư chung” này không chỉ xuyên tạc tình hình hoạt động bình thường theo đúng pháp luật của Phật giáo nói riêng và các tôn giáo khác nói chung, mà còn vu khống một cách trắng trợn về quan điểm, chính sách và pháp luật của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam!
Ai cũng biết rằng, Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, với khoảng 95% dân số có tín ngưỡng, tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có 13 tôn giáo (Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Hồi giáo, Cao đài, Hòa hảo,…), với gần 23 triệu tín đồ, chiếm khoảng 27% dân số; đồng thời, có hàng chục tổ chức tín ngưỡng, tôn giao đang tồn tại và xin cấp phép hoạt động. Từ trước đến nay, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam luôn có quan điểm, chính sách và pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo tiến bộ, phù hợp với thực tiễn đất nước và các công ước quốc tế về quyền con người, đảm bảo tự do hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đồng thời góp phần tích cực vào hòa bình, ổn định, phát triển của khu vực và trên thế giới.
Về quan điểm, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn nhất quán coi: tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, luôn tồn tại cùng dân tộc trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN; đồng bào các tôn giáo là một bộ phận của khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Đảng luôn thực hiện chính sách đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết giữa đồng bào theo các tôn giáo, giữa đồng bào theo tôn giáo hoặc không theo tôn giáo; tạo mọi điều kiện để đồng bào các tôn giáo luôn bình đẳng, đoàn kết, giúp đỡ nhau cùng chung sức phấn đấu “tốt đời, đẹp đạo”.
Về pháp luật, cụ thể hóa quan điểm trên, Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tín ngưỡng, tôn giáo nhằm đảm bảo quyền tự do tôn giáo cho mọi người dân và các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo được thực thi theo pháp luật, phù hợp với điều kiện Việt Nam và thông lệ quốc tế. Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam năm 2013 khẳng định: “Mọi người có quyền tự do theo tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Quốc hội Việt Nam đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo, Chính phủ đã ban hành các nghị định để hướng dẫn, quy định chi tiết về thực hiện Pháp lệnh nêu trên,... Hiến pháp, các văn bản pháp luật về tín ngưỡng, tôn giáo và công tác tôn giáo của Nhà nước Việt Nam đã được công bố rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, trên internet, những ai quan tâm, tìm hiểu đều có thể tra cứu dễ dàng. Như vậy, về quan điểm, đường lối và chính sách, pháp luật của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam về tín ngưỡng, tôn giáo là rõ ràng, minh bạch, được mọi người dân ủng hộ. Đây là sự thật không thể bác bỏ! Chính điều đó đã làm cho đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người dân nói chung, hoạt động của các tôn giáo nói riêng ở Việt Nam đều diễn ra bình thường, thậm chí phát triển rất sống động, theo đúng pháp luật.
Trên thực tiễn, đến nay, ở Việt Nam đã có 37 tổ chức tôn giáo và 01 pháp môn tu hành đã được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động; trên 20.000 cơ sở thờ tự của các tôn giáo đã được sửa chữa, trùng tu, 2.000 cơ sở được xây mới; trên 50 cơ sở đào tạo của các tôn giáo, với các cấp đào tạo khác nhau. Các tín đồ tôn giáo đều thực hiện tốt phương châm “sống tốt đời, đẹp đạo”, đẩy mạnh các hoạt động “đồng hành cùng dân tộc”, phát triển kinh tế, xóa đói giảm nghèo,… để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, vì mục tiêu: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Các hoạt động báo chí, xuất bản ấn phẩm tôn giáo cũng rất sống động. Nhà nước đã cấp phép xuất bản cho khoảng 4.000 đầu sách tôn giáo, với hàng chục triệu bản in; cấp phép cho 15 tờ báo và tạp chí của các tôn giáo hoạt động,… Các hoạt động tôn giáo quốc tế lớn, đối ngoại của các tôn giáo được Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện thuận lợi, như: Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (VESAK) năm 2008, Hội nghị nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ XI năm 2009 - 2010, Lế Khai mạc Năm Thánh của Giáo hội Công giáo năm 2009, Kỷ niệm 100 năm đạo Tin lành đến Việt Nam năm 2011, Hội nghị Liên Hội đồng Giám mục châu Á lần thứ X năm 2013,… gần đây nhất là Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (VESAK) năm 2014 được tổ chức tại Chùa Bái Đính, tỉnh Ninh Bình, Việt Nam. Điều đó, chứng tỏ đời sống tôn giáo ở Việt Nam luôn lành mạnh; Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện để các tôn giáo hoạt động bình đẳng trước pháp luật, thực hiện tốt phương châm “tốt đời, đẹp đạo”, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mọi luận điệu xuyên tạc tình hình tôn giáo ở Việt Nam, vu cao Nhà nước Việt Nam “đàn áp” tôn giáo đều cần phải bị lên án và bác bỏ!
Quay trở lại cái gọi là “Thư chung” do 61 “nhân vật quốc tế” gửi Nhà nước Việt Nam cho rằng: Nhà nước Việt Nam đàn áp nghiêm trọng Phật giáo(!) Không biết các tác giả “Thư chung” căn cứ vào cơ sở lý luận, thực tiễn và pháp lý nào để đưa ra nhận định trên? Phải chăng họ bị lừa dối, hay cố tình vẽ ra, chơi trò “đánh lận con đen”? Không. Họ là những “nhân vật quốc tế” có đầy đủ nhận thức, điều kiện để nhìn thấy, cảm nhận và đánh giá khách quan về tình hình hoạt động của tôn giáo Việt Nam. Đó là, những ông, bà “thân quen”, mang những cái chức vụ “to tướng”, của những tổ chức “quốc tế” cũng “to tướng” như: Katrine Lanstos Swett, “Phó Chủ tịch Ủy ban Hoa kỳ bảo vệ tự do tôn giáo trên thế giới”, “Chủ tịch Ủy ban nhân quyền Tom Lantos”, người lớn tiếng “…chúng tôi cực kỳ lên án sự đàn áp tôn giáo tiếp diễn tại Việt Nam, nhắm trực tiếp vào Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất, cũng như các cộng đồng Tin lành, Công giáo, người Thượng Thiên Chúa giáo,… và nhiều trường hợp khác nữa mà tôi không thể kể hết ra đây”!? Và còn có nhiều ông, bà khác nữa mà không tiện nêu tên ở đây với nhiều “chức vị, danh hiệu” cũng rất oách; bởi, nếu nêu tên họ ra thì các tổ chức quốc tế, các chính phủ của họ sẽ xấu hổ bởi đã có những công dân lú lẫn, luôn tìm mọi cách để “thay trắng, đổi đen”! Như vậy, 61 cá nhân, mà tiêu biểu những cái tên nêu trên có đầy đủ nhân thức, điều kiện để hiểu rõ tình hình tôn giáo Việt Nam. Nhưng họ đã không làm vậy. Họ đã cố tình dựa vào những thông tin không đúng sự thật, với cái nhìn sai lệch đầy định kiến, để xuyên tạc tình hình tôn giáo và vu khống Nhà nước Việt Nam “đàn áp các tôn giáo”!
Thực ra nhân dân, cũng như tín đồ các tôn giáo Việt Nam và trên thế giới đều thấy rõ bản mặt xấu xa của họ là: muốn tín đồ các tôn giáo phải là một lực lượng chính trị đối lập với chế độ, Nhà nước Việt Nam và sử dụng lực lượng này để thực hiện mưu đồ đưa đất nước Việt Nam đi theo “chế độ dân chủ” phục vụ cho lợi ích của họ! Thực tế, thời gian qua, cùng những con người “đáng kính”, ở những tổ chức chống cộng nêu trên đã lợi dụng tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam ra sức cổ vũ cho những cái gọi là: “Chính phủ Đề-ga” lưu vong; “Chính phủ Khmer tự do”,… Rồi kích động ly khai dân tộc, đòi thành lập cái gọi là: “Vương quốc Mông” ở Tây Bắc, “Nhà nước Đề-ga độc lập” ở Tây Nguyên, “Nhà nước Khmer – Crôm độc lập” ở Tây Nam Bộ, “Nhà nước Chăm độc lập” ở Nam Trung Bộ của Việt Nam. Nhưng tất cả những âm mưu của họ đã bị nhân dân Việt Nam đập tan, đồng báo các tôn giáo luôn đồng hành cùng dân tộc để dựng xây và bảo vệ Tổ quốc.
Về Phật giáo, có thật “Nhà nước Việt Nam đàn áp Phật giáo” như lời bà Katrine Lanstos Swett nói không? Không có và cũng không bao giờ có. Phật giáo đã có mặt ở Việt Nam hàng nghìn năm nay và luôn đồng hành cùng dân tộc trong quá trình dựng nước và giữ nước, nhiều thời kỳ đã trở thành Quốc đạo của Việt Nam (thời Nhà Lý, Nhà Trần,…). Hiện nay, với đội ngũ nhà tu hành, phật tử đông đảo, cơ sở thờ tự, hệ thống trường đào tạo khang trang,… Phật giáo đã đóng góp quan trọng trong xây dựng xã hội an bình, nhân dân hạnh phúc, đất nước vững mạnh. Việc Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện để Giáo hội Phật giáo Việt Nam đăng cai, chủ trì và tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc (VESAK) năm 2014 (với sự phối hợp của Ủy ban Tổ chức quốc tế (ICDV), có sự tham gia của 1.500 đại biểu đến từ 95 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và cùng hơn 20.000 Phật tử trong nước và quốc tế) đã bác bỏ luận điệu xuyên tạc, vu cáo của cái gọi là “Thư chung” do 61 “nhân vật quốc tế” cùng ký tên gửi Nhà nước Việt Nam.

Những cái nhìn thiếu thiện chí, khách quan, hay những âm mưu, thủ đoạn nhằm xuyên tạc tình hình hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, vu cáo Nhà nước Việt Nam “đàn áp tôn giáo” chẳng che giấu được ai, nhất định sẽ bị nhân dân lên án và đấu tranh làm thất bại./.

May 20, 2014

Chính nghĩa thuộc về Việt Nam

Tre Việt - Biển, đảo Việt Nam có vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng cả về kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo đảm môi trường và quốc phòng - an ninh đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng như mối quan hệ giao thương hàng hải, hàng không đối với các nước trong khu vực và trên thế giới. Trong lịch sử, cũng như hiện tại và tương lai, nhân dân Việt Nam luôn thấy rõ vị trí, tầm quan trọng biển, đảo của Tổ quốc, kiên quyết bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của mình theo đúng pháp luật Việt Nam, luật pháp và thông lệ quốc tế, củng cố hòa binh, an ninh trên biển. Trên cơ sở đó, nhân dân Việt Nam đã khai thác có hiệu quả các nguồn tài nguyên biển, đảo phục vụ cho công cuộc dựng xây và bảo vệ đất nước. Trong Chiến lược Biển Việt Nam đến năm 2020, Đảng ta nêu rõ: Phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế - xã hội với bảo đảm quốc phòng - an ninh, hợp tác quốc tế và bảo vệ môi trường, v.v.
Ngày nay, các nước trên thế giới đều thấy rõ vai trò, vị trí của biển, đảo. Khi các nguồn tài nguyên trên đất liền ngày càng cạn kiệt, cùng với sự gia tăng dân số và phát triển của khoa học, kỹ thuật và công nghệ, các nước đều tìm mọi cách để vươn ra biển, khai thác các nguồn lợi to lớn trên biển, như: đánh bắt hải sản, khai thác nguồn tài nguyên đáy biển, bảo đảm giao thông, vận tải hàng hóa bằng đường biển và đường không trên biển,... Chính điều đó, cùng với nhiều nguyên nhân khác, trong đó có những hành xử bất chấp đạo lý, luật pháp và thông lệ quốc tế của một số nước đã làm cho vấn đề tranh chấp chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán ở các vùng biển, đảo trên thế giới, trong đó có khu vực biển của Việt Nam trở nên gay gắt, thậm chí bị biến thành vấn đề chính trị nóng bỏng, tác động mạnh mẽ đến môi trường hòa bình, ổn định, an ninh, an toàn trên biển của thế giới, nhất là với các quốc gia, vùng lãnh thổ ven biển, có đường biên giới biển liền kề. Đó là hành động phi nghĩa.
Việt Nam và Trung quốc có mối quan hệ rất đặc biệt, “núi liền núi, sông liền sông”, “chung Biển Đông,... chung tình hữu nghị”, có cả đường biên giới trên đất liền và trên biển. Trong quá trình phát triển, Việt Nam và Trung Quốc đều đã tập trung khai thác các nguồn lợi từ các vùng biển thuộc chủ quyền của mình và có những thỏa thuận để cùng nhau khai thác nguồn lợi từ các vùng biển có tranh chấp một cách hòa bình, phục vụ cho sự phát triển mỗi nước, phù hợp với đặc điểm của mình và thông lệ quốc tế. Chính điều đó đã tạo điều kiện để cả Việt Nam và Trung Quốc đều có bước phát triển mạnh mẽ cả về thế và lực, đời sống nhân dân hai nước không ngừng được cải thiện, nâng cao, quốc phòng - an ninh được tăng cường, môi trường hòa bình, ổn đỉnh, an ninh, an toàn trên biển thuộc chủ quyền hai nước và các nước trong khu vực và quốc tế được đảm bảo,... Trung Quốc đã trở thành nước có nền kinh tế đứng thứ 2 trên thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh,... Tuy nhiên, với tham vọng độc chiếm Biển Đông, biến tuyên bố đường biên giới “lưỡi bò” trên biển thành hiện thực, Trung Quốc đã không ít lần có những hành động ngang ngược, ảnh hưởng đến môi trường hòa bình, gây mất an ninh, an toàn hàng hải, hàng không trên Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới. Đặc biệt, từ ngày 01-5-2014 đến nay, Trung Quốc đã ngang ngược, bất chấp luật pháp và thông lệ quốc tế đã đơn phương hạ đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 vào thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam. Khi các lực lượng thực thi pháp luật trên biển của Việt Nam ra nhắc nhở, thì Trung Quốc huy động các loại tầu, trong đó cả tầu quân sự để tấn công trực diện các lực lượng bảo vệ chủ quyền biển của Việt Nam. Nguy hiểm hơn, bất chấp sự phản đối của Việt Nam, của các nước, các tổ chức quốc tế và nhân dân trên thế giới (cả những người dân, các học giả Trung Quốc), Trung Quốc ngang ngược tuyên bố về cái gọi là “chủ quyền” trên vùng biển, thềm lục địa Việt Nam; dựng chuyện “Việt Nam khiêu khích, gây gia tăng căng thẳng”, đòi Việt Nam phải “rút hết các tầu đang ngăn chặn hoạt động của Hải Dương-981 của Trung Quốc” về nước, để “đàm phá hòa bình, giảm căng thẳng trong tranh chấp” (!). Nên nhớ, theo Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982, vị trí giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc hạ đặt là thuộc chủ quyền Việt Nam! Hành động trên của Trung Quốc vi phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam, trực tiếp đe dọa đến nền độc lập, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam, cũng như an ninh, an toàn hàng hải, hàng không, môi trường hoà bình trong khu vực và trên thế giới.
Trước âm mưu độc chiếm Biển Đông và hành động khiêu khích ngang ngược của Trung Quốc, toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta đã nêu cao chính nghĩa, phát huy cao độ sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, huy động tối đa các nguồn lực, tiềm lực trong nước và ngoài nước để bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo của Tổ quốc. Chúng ta đã và đang đấu tranh hòa bình, bằng các biện pháp chính trị, ngoại giao và luật pháp, nhưng Trung Quốc vẫn tiếp tục gia tăng lực lượng xâm phạm chủ quyền Việt Nam. Luật pháp và dư luận quốc tế, chính nghĩa, lẽ phải đứng về chúng ta - Việt Nam!
Việt Nam là một đất nước có truyền thống yêu chuộng hòa bình, hòa giải, hòa hiếu, hòa hợp dân tộc, quốc gia và quốc tế. Việt Nam đã là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế có uy tín trong khu vực và trên thế giới (Liên hợp quốc, ASEAN,... Việt Nam đã ký kết, xây dựng mối quan hệ tốt, làm đối tác kinh tế, chính trị, quốc phòng - an ninh với nhiều nước trên thế giới; trong đó, là đối tác hợp tác toàn diện với Mỹ, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện với các nước: Anh, Pháp, Nga,... và cả Trung Quốc. Như vậy, chứng tỏ Việt Nam luôn là bạn, là đối tác có trách nhiệm với các nước, luôn phấn đấu vì hòa bình, phát triển của thế giới. Và chính điều này, Việt Nam có đủ các nguồn lực trong nước và quốc tế để bảo vệ chủ quyền của đất nước. Lịch sử dựng xây và phát triển của đất nước, dân tộc Việt Nam đã chững minh rõ: mọi hành động xâm phạm chủ quyền của đất nước Việt Nam đều bị thất bại.
Lẽ phải, chính nghĩa thuộc về Việt Nam! Âm mưu, hành động trắng trợn đưa giàn khoan Hải Dương – 981 và sâu trong vùng biển thuộc chủ quyền Việt Nam của Trung Quốc là phi nghĩa, vi phạm trắng trợn chủ quyền, quyền quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển của Việt Nam.
Hệ thống pháp lý về chủ quyền biển, đảo Việt Nam (bao gồm những văn bản của Nhà nước Việt Nam và quốc tế) đã chỉ rõ điều đó. Việt Nam, là nước đã tham gia Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về luật biển từ năm 1977, là một trong 130 quốc gia tán thành Công ước quốc tế về Luật Biển năm 1982 và cũng là một trong 119 quốc gia ký Công ước này từ ngày đầu (10-12-1982). Ngày 23-6-1994, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; ngày 12-5-1997, Chính phủ Việt Nam ra công bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Quá trình xác lập chủ quyền biển, đảo của Việt Nam trong khu vực đã được Đảng và Chính phủ ta cụ thể hóa bằng việc phê duyệt, ký kết song phương và đa phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với các nước có liên quan về vấn đề chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển chồng lấn hoặc có tranh chấp như: Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam – Cam-pu-chia (07-7-1982); Thỏa thuận hợp tác khai thác chung Việt Nam – Ma-lai-xi-a (05-6-1992); Phân định biển Việt Nam - Thái Lan (09-8-1997); Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc (25-12-2000); Nguyên tắc ứng xử ở Biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc (DOC) ngày 04-11-2002; Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam – In-đô-nê-xi-a (26-6-2003),... Như vậy về khía cạnh pháp lý, lẽ phải thuộc về Việt Nam.
Trước thực trạng chủ quyền biển, đảo Việt Nam bị vi phạm nghiêm trọng, ảnh hưởng trực tiếp đến vị thế và quyền lợi quốc gia dân tộc, bằng những căn cứ pháp lý, thực tiễn chính xác, có tính thuyết phục cao, các nước, các tổ chức, các học giả, nhà nghiên cứu và nhân dân trên thế giới đã phản đối mạnh mẽ hành động ngang ngược của Trung Quốc. Các nước, như: Anh, Pháp, Mỹ, Úc,.... các tổ chức như: Liên hợp quốc, EU, ASEAN,... các học giả, nhà nghiên cứu (trong đó có cả ở Trung Quốc) đều cho rằng hành động của Trung Quốc là “ngang ngươc”, “khiêu khích”, “cực kỳ nguy hiểm”,... làm mất ổn định ở Biển Đông, trong khu vực và trên thế giới,... Công luận trong nước và quốc tế đứng về Việt Nam, bởi Việt Nam chính nghĩa, hành động của Trung Quốc là phi nghĩa. Cùng với đó, các tổ chức chính trị - xã hội, đoàn thể, nghề nghiệp, các học giả, nhà khoa học và nhân dân Việt Nam trong nước và sinh sống, công tác ở nước ngoài đã đoàn kết một lòng tạo sức mạnh tổng hợp cùng Đảng, Chính phủ kiên quyết đẩy lùi các hành động ngang ngược của Trung Quốc một cách hòa bình. Đặc biệt, trước hành động hung hăng, nguy hiểm của các lực lượng hộ tống giàn khoan Hải Dương-981 của Trung Quốc, các lực lượng bảo vệ chủ quyền, thục thi pháp luật, nhất là lực lượng thực thi pháp luật, bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán trên biển luôn nêu cao tinh thần cảnh giác, sẵn sàng đối phó, đối phó thắng lợi với mọi hành động gây hấn, khiêu khích trắng trợn vi phạm chủ quyền đất nước của Trung Quốc.

Biển, đảo là bộ phận không thể tách rời của lãnh thổ quốc gia, có vị trí, vai trò to lớn đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Bảo vệ chủ quyền biển, đảo Việt Nam không chỉ là nhiệm vụ thường xuyên mà còn là vấn đề mang tính cấp bách hiện nay, là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, của mỗi người dân. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, huy động mọi nguồn lực trong nước và quốc tế, đẩy mạnh đấu tranh trên mặt trận chính trị, ngoại giao và pháp lý, nhất định chúng ta sẽ bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc. Bởi, chính nghĩa thuộc về Việt Nam./.

May 16, 2014

Đấu tranh bảo vệ chủ quyền không nên "quá sốt ruột"


          Tre việt - Vừa qua Trung Quốc đưa giàn khoan Hải Dương - 981 vào đặt trái phép trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục đại của Việt Nam[1] và cho hàng chục tàu các loại, trong đó có cả tàu quân sự hộ tống, bảo vệ. Trước việc làm đó đó, những ngày qua, trên khắp cả nước, các tầng lớp nhân dân có nhiều hành động cụ thể như tuần hành, mít tinh, ra tuyên bố,… phản đối việc làm sai trái của Trung Quốc. Đây là những việc làm tỏ rõ quyết tâm bảo vệ chủ quyền đất nước, thể hiện tinh thần đoàn kết, yêu nước, nêu cao chính nghĩa, truyền thống nhân đạo, khoan dung, hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, được quốc tế ủng hộ. Tuy nhiên, một số ít người, do chưa nhận thức được vấn đề đã tỏ ra “quá suốt ruột”, muốn giải quyết sớm sự việc trong ngày một, ngày hai, thậm chí bị kích động có việc làm vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến sản xuất, phát triển kinh tế, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Những việc làm đó là không thể chấp nhận, cần lên án, xử lý nghiêm khắc.
          Phải thấy rằng, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng, “núi liền núi, sông liền sông”, có quan hệ truyền thống lâu đời, tuy có lúc thăng trầm nhưng hợp tác, hữu nghị là chủ yếu. Nhất là, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, Trung Quốc đã giúp đỡ quân và dân Việt Nam với số lượng hàng trăm tấn vũ khí, đạn, thuốc, quân trang,… tạo điều kiện để chúng ta đấu tranh giành thắng lợi. Sự giúp đỡ chí tình, chí nghĩa đó của Chính phủ, nhân dân Trung Quốc chúng ta luôn ghi nhớ, không bao giờ quên. Trong quan hệ giữa hai nước, tuy còn có điểm bất đồng, tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ, song, Đảng, Nhà nước, nhân dân hai nước luôn quam tâm xây đắp tình hữu nghị đã được Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng, theo phương châm: 16 chữ “Đoàn kết hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai”, và 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”. Hiện nay, Việt Nam và Trung Quốc là đối tác chiến lược của nhau. Trung Quốc là thị trường lớn tiêu thụ hàng nông sản Việt Nam, đồng thời phía Trung quốc có nhiều doanh nghiệp đầu tư, làm ăn tại Việt Nam.
          Mặt khác, đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển, đảo không chỉ là đấu tranh trên thực địa mà còn là cuộc đấu tranh về mặt pháp lý tuân theo quy định của Công ước, luật pháp quốc tế, cần phải có cơ sở, chứng cứ pháp lý để thế giới công nhận và buộc Trung Quốc phải thừa nhận. Do đó cần có thời gian nhất định, không thể kết thúc trong ngày một, ngày hai.
          Hơn ai hết, chúng ta hiểu rất rõ giá trị của hòa bình. Để có được hòa bình như ngày hôm nay, dân tộc ta đã phải đổi bằng bao xương máu của các thế hệ người Việt Nam, nên chúng ta luôn mong muốn được chung sống hòa bình với các dân tộc, các quốc gia trên trái đất, nhất là các nước trong khu vực.
          Từ những lý do trên, việc đấu tranh bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, chúng ta phải hết sức tỉnh táo, bình tĩnh, thực hiện đúng quan điểm của Đảng, không nóng vội, chủ quan; không để các thế lực thù địch lợi dụng lòng yêu nước của nhân dân kích động gây rối, ảnh hưởng đến phát triển kinh tế - xã hội.
          Nói như vậy, không phải để “bao biện”, “nguôi dần” rối chấp nhận giàn khoan của Trung Quốc cắm trên vùng biển của ta, mà để thấy tính khó khăn, phức tạp của việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo, từ đó mỗi người có nhận thức đúng và sự chuẩn bị cho một cuộc đấu tranh lâu dài để bảo vệ độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Dân tộc Việt Nam có truyền thống kiên cường, bất khuất, khi cần mọi người Việt Nam sẵn sàng hy sinh tính mạng để bảo vệ độc lập, chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc. Lịch sử đã chứng minh, ở Việt Nam, “giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”, “Đánh cho để dài tóc, đánh cho để đen răng. Đánh cho nó chích luân bất phản, đánh cho nó phiến giáp bất hoàn. Đánh cho sử tri Nam quốc anh hùng chi hữu chủ”. Song, chúng ta phải tỉnh táo, bình tĩnh có phương pháp đấu tranh phù hợp, vừa bảo vệ được chủ quyền, vừa giữ được môi trường hòa bình để phát triển đất nước.
          Việc Trung Quốc đặt trái phép giàn khoan Hải Dương - 981 trong vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa của Việt Nam là việc làm ngang ngược, thách thức, bất chấp luật pháp quốc tế, gây nguy hiểm cho giao thông hàng hải, hàng không trong khu vực. Cho nên, ngay sau khi phát hiện Trung Quốc đưa giàn khoan vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của ta, Bộ Ngoại giao đã điện đàm với phía Trung Quốc phản đối việc làm trên và yêu cầu họ đưa giàn khoan ra khỏi vùng biển của ta. Đồng thời, Cảnh sát biển, Kiểm ngư đã cử lực lượng ra đấu tranh tại thực địa. Các lực lượng của Trung Quốc tại khu vực giàn khoan không những không hợp tác với ta mà ngày càng hung hăng, ngoan cố, còn dùng các phương tiện, lực lượng ngăn chặn, phá hoại các tàu, gây thương tích đối với lực lượng ta. Song, Đảng, Nhà nước ta đã khẳng định, tuyên bố rõ ràng và chỉ đạo các lực lượng kiên quyết, kiên trì, kiềm chế bằng các biện pháp hòa bình để đấu tranh bảo vệ chủ quyền.
          Ngày 11-5-2014 ở thủ đô Nay Pyi Taw (My-an-ma) trong phiên họp toàn thể của các nhà lãnh đạo ASEAN, trong bài phát biểu của mình, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã vạch rõ hành động của Trung Quốc, đồng thời, nhấn mạnh quan điểm của Việt Nam là mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết sự việc bằng biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế. Song lãnh thổ là thiêng liêng, Việt Nam cực lực phản đối các hành động xâm phạm và kiên quyết bảo vệ chủ quyền quốc gia và lợi ích chính đáng của mình phù hợp với luật pháp quốc tế.
          Ngày 14-5-2014, phát biểu tại buổi bế mạc Hội Nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ chín, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “…giải quyết những bất đồng, tranh chấp bằng giải pháp hòa bình trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hiệp quốc về Luật Biển năm 1982, Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và những thỏa thuận giữa lãnh đạo cấp cao Việt Nam - Trung Quốc”. Các hoạt động của Đảng, Nhà nước, nhân dân ta tỏ rõ tinh thần hòa hiếu, khoan dung, mong muốn cùng Trung Quốc giải quyết vấn đề bằng các biện pháp hòa bình, trên cơ ở luật pháp quốc tế. Những việc làm đó của chúng ta được dư luận quốc tế đánh giá cao và đồng tình. Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều phản đối việc làm của Trung Quốc, là ngang ngược, khiêu khích, nguy hiểm, vi phạm pháp luật quốc tế. Điều đó cho thấy, phương pháp giải quyết của chúng ta là phù hợp, được quốc tế đồng tình, ủng hộ, từng bước “cô lập” Trung Quốc. Song, tiếc rằng, trong cơn thèm khát tài nguyên ở Biển Đông mà bộ phận nào đó của chính quyền Trung Quốc đã bất chấp tất cả, vẫn ngoan cố, tăng thêm tàu các loại đến bảo vệ giàn khoan làm cho tình hình trên thực địa thêm phức tạp.
          Việc các lực lượng nhân dân tổ chức tuần hành, mít tinh phản đối Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương 891 là việc làm cần thiết, đúng đắn, song để xảy ra hành động quá khích của một số công nhân đập phá các công ty người Trung Quốc ở Bình Dương, Đồng Nai, Hà Tĩnh là việc làm vi phạm pháp luật, đi quá giới hạn cho phép và rất nguy hiểm, có hại cho phát triển kinh tế, an ninh, xã hội, môi trường đầu tư của ta và quan hệ hợp tác lâu dài giữa Việt Nam với Trung Quốc và các quốc gia khác. Những người đó phải bị xử lý nghiêm khắc theo pháp luật làm gương cho kẻ khác. Chúng ta không thể để “mồi lửa nhỏ” làm ảnh hưởng đến nỗ lực của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân trong công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ Quốc; đồng thời, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển bền vững đất nước.
          Đối với Trung Quốc khi gây hấn đến mức ngang ngược như vậy, chắc chắn, họ cũng đã chuẩn bị cho mọi phương án, thậm chí sẵn sàng tạo cớ và mượn cớ để sử dụng quân sự, nhằm hiện thực ý đồ độc chiếm Biển Đông. Do đó, chúng ta càng phải tỉnh táo để không tạo cớ cho Trung Quốc dựa vào đó mà gây xung đột, cho nên, lúc này mọi người Việt Nam phải bình tĩnh, không nên “sốt ruột”, nóng vội mà mắc phải sai lầm. Tinh thần yêu nước, đoàn kết của nhân dân Việt Nam sẽ là làn sóng “thần” nhấn chìm tất cả lũ cướp nước như Bác Hồ đã khẳng định./.

                                                                                     




[1] - Giàn khoan Hải Dương – 981 của Trung Quốc đặt tại tọa độ 15°29′58″B 111°12′1″Đ cách đảo Tri Tôn (Trung Quốc gọi là đảo Trung Kiến), thuộc quần đảo Hoàng Sa Việt Nam 17 hải lý (khoảng 30 km) về phía Nam, cách đảo Hải Nam 180 hải lý về phía Nam, cách đảo Lý Sơn (tỉnh Quảng Ngãi, Việt Nam) khoảng 120 hải lý về phía Đông.

Chiêu trò “vừa ăn cướp, vừa la làng” của Trung Quốc

Tre Việt - Những ngày gần đây, phủ kín trên các trang báo và đầy ắp các chương trình phát thanh, truyền hình cả trong và ngoài nước đều chỉ trích thái độ, hành động ngang ngược bất chấp luật pháp quốc tế của Trung Quốc về việc đưa giàn khoan Hải Dương-981 (Haiyang Shiyou 981) vào vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Vị trí của giàn khoan này chỉ nằm cách đảo Tri Tôn (thuộc quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam) 17 hải lý và cách đảo Lý Sơn 120 hải lý.
Giàn khoan nước sâu Hải Dương-981 do chính Trung Quốc chế tạo và được giới cầm quyền Bắc Kinh gọi là những lãnh thổ di động, vũ khí chiến lược để phát triển ngành công nghiệp dầu khí ngoài khơi của Trung Quốc. Cách gọi đó đã làm cho nhiều người hết sức khó hiểu về hàm ý sâu xa của Trung Quốc, song nó không còn gì là bí ẩn nữa khi những hành động phi pháp của Trung Quốc ở Biển Đông đã minh chứng, đó chính là “ngoại giao giàn khoan”.
Mọi người đều dễ dàng nhìn thấy mục đích của Trung Quốc đặt giàn khoan Hải Dương-981 vào vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam trước hết là nhằm làm thay đổi hiện trạng thực tế trên Biển Đông, tiến tới khoan dầu, ăn cắp tài nguyên và tạo ra một tiền lệ để tiếp tục hành xử tương tự ở các vùng đặc quyền kinh tế của những nước khác trong khu vực. Nếu phản ứng của Việt Nam lặp lại như bãi cạn Scarborough (Philipines) thì bước tiếp theo là Trung Quốc sẽ triển khai khu nhận dạng phòng không (ADIZ) trên Biển Đông, tương tự như ADIZ mà Họ đã áp đặt ở biển Hoa Đông (11-2013). Bởi, Bắc Kinh cho rằng: đã đơn phương thiết lập được chủ quyền trên vùng biển thì tất yếu sẽ thiết lập được chủ quyền vùng trời, đây là tư duy logic của vấn đề theo kiểu Trung Quốc,… Điều đó cho thấy, Bắc Kinh đang mạo hiểm thực hiện từng bước hợp pháp hóa cái gọi là “Đường lưỡi bò”, mở màn cho chiến lược độc chiếm Biển Đông.
Khi bị Việt Nam và thế giới lên án, thì Trung Quốc lại trở mặt phủ nhận sạch trơn những hành động cố tình gây hấn của mình; đồng thời, trắng trợn vu khống rằng: Việt Nam “khiêu khích”, “bắt nạt” Trung Quốc, chiếm đoạt biển của Trung Quốc,… Hơn thế nữa, họ còn tạo dựng nhiều thông tin gây “kinh ngạc”, như: Tàu Việt Nam đâm tàu Trung Quốc; người nhái Việt Nam lặn sâu xuống biển đặt lưới và nhiều vật dụng quanh tàu Trung Quốc,… đe dọa về an ninh an toàn hàng hải, làm ảnh hưởng đến mối quan hệ “láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và tinh thần “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”, v.v.

Tuy nhiên, những lời lu loa theo kiểu đó của các nhà cầm quyền Bắc Kinh đã làm cho nhiều người từ các chính trị gia, học giả, các chuyên gia bình luận sự kiện và mọi người dân trên toàn thế giới nghe thấy rất nực cười và vô giá trị. Bởi lẽ, mưu đồ  muốn nuốt trọn Biển Đông của Trung Quốc bằng những lập luận vô căn cứ và bằng hành động quân sự mang tính khiêu khích, đe dọa đã quá rõ ràng, không thể nào che đậy được, nên đành phải dùng lối “hành văn” của những kẻ ngang ngược để bao biện cho hành động phi pháp của mình. Đúng là Họ đang chơi trò “vừa ăn cướp, vừa la làng”.

May 9, 2014

Hành xử ngang ngược theo kiểu bá quyền nước lớn!


Tre Việt - Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Hiện nay, Việt Nam không chỉ là thành viên của Liên hợp quốc, của nhiều tổ chức quốc tế, mà còn có quan hệ đối tác toàn diện với Mỹ, đối tác toàn diện chiến lược với nhiều nước, trong đó có Anh, Pháp, Nga và Trung quốc. Điều này khẳng định rõ: Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, phấn đấu chung sống hòa bình, làm bạn, là đối tác có trách nhiệm với các nước trong khu vực và trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia. Mọi hành động làm tổn hại bầu không khí chung sống hòa bình, đến chủ quyền của các nước trong khu vực và trên thế giới đều bị Việt Nam lên án.
Vừa qua, Tổng Công ty Dầu khí Hải Dương (CNOOC) Trung Quốc đã điều giàn khoan HD – 981 đến đặt tại khu vực lô dầu khí 143 thuộc thềm lục địa Việt Nam. Không chỉ thế, khi Việt Nam điều các lực lượng bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa ra nhắc nhở, ngăn chặn, thì họ đã ra lệnh cho lực lượng hộ tống, trong đó có cả tầu quân sự tấn công vào các lực lượng thực thi pháp luật của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc là bất hợp pháp, ngang nhiên vi phạm luật pháp và thông lệ quốc tế; vi phạm nghiêm trọng chủ quyền của Việt Nam. Hành động của Trung Quốc còn làm ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường chung sống hòa bình của các nước trong khu vực; đến sự tin cậy, hợp tác, cùng phát triển giữa hai nước. Đặc biệt hơn, khi hành động của Trung Quốc bị các nước, các tổ chức quốc tế, các học giả lên án mạnh mẽ, thì đại diện Bộ Ngoại giao và đại diên CNOOC lại cố tình vu cáo, đổ lỗi cho “Tàu Việt Nam quấy nhiễu Trung Quốc”(!) Thật ngang ngược!

Nhân dân Việt Nam rất phẫn nộ và kiên quyết phản đối và lên án hành động ngang ngược này!
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước “núi liền núi, sông liền sông”, có mối quan hệ rất đặc biệt, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”. Trong lịch sử, nhân dân Trung Quốc đã có những giúp đỡ quý báu đối với nhân dân Việt Nam trong công cuộc đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, nhân dân Việt Nam không bao giờ quên những sự giúp đỡ quý báu đó. Ngày nay, Việt Nam và Trung Quốc đã có mối quan hệ hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện; nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc vốn có mối quan hệ chung sống hòa hiếu, cùng nhau cần cù lao động. Mối quan hệ này, đã tạo môi trường thuận lợi để mỗi nước tập trung phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc phù hợp với đặc điểm của mình và luật pháp quốc tế. Đến nay, nền kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế của Trung Quốc đã có bước phát triển vững chắc, đời sống vật chất, tinh thần của người dân hai nước được nâng lên; Trung Quốc được thế giới đánh giá là nền kinh tế đứng thứ 2 thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh trong khu vực, có tầm ảnh hưởng chính trị, kinh tế toàn cầu,... Hành động ngang ngược của Trung Quốc, nhân dân Việt Nam có quyền đặt câu hỏi: Phải chăng, Trung Quốc cậy là “nước lớn”, đông dân, có nền kinh tế “đứng thứ 2” trên thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh,… nên có hành động theo kiếu bá quyền nước lớn?
Việt Nam và Trung Quốc đã cùng ký Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982. Hành động của Trung Quốc có đúng với Công ước nói trên. Chẳng nhẽ, chữ ký của lãnh đạo Trung Quốc vào Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 chỉ để đùa hay sao? Hơn nữa, lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc cũng đã ký Thảo thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển phù hợp với các quy định và thực tiễn pháp luật quốc tế và nhiều văn kiện mang tính pháp lý khác giữa hai nước cũng như trong khu vực về việc giải quyết những bất đồng trên biển,… Vậy mà Trung Quốc nhanh quên vậy! “Quên” để ăn người thì cả thế giới lên án. Một người hay một đất nước như thế thì khó mà kết bạn.

Việt Nam có đầy đủ các nguồn lực, biện pháp, trước hết là những biện pháp hòa bình để bảo vệ chủ quyền của đất nước.