Apr 30, 2015
KHÉP LẠI QUÁ KHỨ, CÙNG XÂY DỰNG NƯỚC VIỆT NAM GIÀU MẠNH
Tre Việt - Trong
những ngày tháng 4, khi cả nước tưng bừng kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30-4, trên
một số trang mạng xã hội, vẫn bắt gặp ý kiến thể hiện sự hằn thù, xuyên tạc mà
không nhìn thẳng vào sự thật, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh,
sánh vai với các cường quốc năm châu. Ngày 29-4, trên trang Basam.info có bài: 30 tháng 4: Bốn mươi năm nhìn lại của
Việt Nguyên, là một bài như thế.
Tác giả bài viết trắng trợn xuyên tạc: “Chiến tranh giải phóng thực chất
là chiến tranh nô lệ cho chủ nghĩa Cộng Sản bắt đầu khi ông Hồ Chí Minh và Đảng
Cộng Sản xé nát Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954” (!) Ai cũng biết, sau Chiến thắng
Điện Biên Phủ, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử ở
cả hai miền vào năm 1956, thế nhưng, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên áp đặt chế độ
thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp
tàn bạo Cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền
Bắc. Chúng đã gây ra biết bao tội ác dã man, biết bao đau thương, mất mát đối
với đồng bào ta, đất nước ta. Tổ quốc ta đã phải trải qua những thử thách cực
kỳ nghiêm trọng. Song, nhân dân Việt
Trong
bài, chính Việt Nguyên đã viết: “Chiến tranh từ 1954 đến 1975 đã kết thúc vì sự
phản bội của Hoa Kỳ sau Hiệp định Pa-ri năm 1973. Một cuộc chiến phức tạp, bên
phía Hoa Kỳ gọi là chiến tranh Việt Nam, bên phía Cộng Sản gọi là chiến tranh chống
Mỹ, còn phía Việt Nam Cộng hòa gọi là chiến tranh chống cộng”. Điều đó cho
thấy, rõ ràng đây là cuộc chiến tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ, chính
quyền Việt Nam Cộng hòa chỉ là con bài của chính giới Mỹ mà thôi. Nói cách
khác, Việt Nam Cộng hòa không có độc lập mà lệ thuộc vào đế quốc Mỹ. Một chính
quyền lệ thuộc vào nước ngoài, chắc chắn sẽ không thể tồn tại, vì không phù hợp
với truyền thống của dân tộc ta. Đúng vậy, Việt Nguyên đã làm rõ điều đó trong
bài viết: “Hoa Kỳ từ con số cố vấn quân sự 865 người quy định bởi Hiệp Định
Giơ-ne-vơ đã tăng số quân lên 16 ngàn. Năm 1965, Tổng Thống Johnson đổ thêm
quân vào Việt Nam. Sau năm 1968, quân Mỹ ở Việt Nam lên đến hơn 1/2 triệu. Năm
1968, trong kỳ tranh cử tổng thống, ứng cử viên Nixon đã hứa rút hết quân Mỹ ra
khỏi Việt Nam. Tháng 6 năm 1969 Tổng Thống Nixon đã tỏ ý này với Tổng Thống
Nguyễn Văn Thiệu ở Hội Nghị Midway”. Vậy nên, khi Mỹ rút quân theo Hiệp định
Pa-ri, sau 2 năm chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Một chính quyền hoàn
toàn lệ thuộc vào Mỹ thì còn tiếc nỗi gì. Nó sụp đổ là xứng đáng để xây dựng
một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, tự do và hạnh phúc. Đúng vậy,
trong Diễn văn kỷ niệm ngày Chiến thắng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng
định: “Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đất nước ta
đứng trước muôn vàn khó khăn thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của
Nhà nước và sự đoàn kết nhất trí, nỗ lực phấn đấu của toàn dân, toàn quân,
chúng ta đã tập trung sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, phá thế
bao vây cấm vận, anh dũng kiên cường chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, biên
giới phía Tây Nam, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng và tiến
hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau 30 năm thực hiện đường
lối đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử.
Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển
có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm. Cơ cấu
kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 83% trong tổng
GDP. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; GDP tăng gấp gần
7 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp hơn 200 lần. GDP bình quân đầu người
năm 2015 đạt khoảng 2.200 USD. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá
nhanh với nhiều công trình hiện đại, tạo diện mạo mới cho đất nước. Tiến bộ,
công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt
được nhiều kết quả tích cực. An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã
hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn
dưới 6%. Đã có hơn 98% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia. Tuổi thọ
trung bình tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015. Đã hoàn
thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc.
Quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Công tác
đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích
cực. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu
hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; hiện có hơn 18.200 dự án đầu
tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD. Vị thế và uy tín
của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao”.
Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của đất nước
cần khắc phục: “Kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng.
Việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng
hiện đại chưa đáp ứng yêu cầu. Chất lượng tăng trưởng, môi trường kinh doanh và
sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Thể chế kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho phát
triển kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng kinh tế,
xã hội vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế
so với nhiều nước trong khu vực chậm được thu hẹp. Văn hoá, xã hội, bảo vệ môi
trường nhiều mặt còn yếu kém, khắc phục còn chậm. Khoảng cách giàu nghèo còn
lớn. Hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý kinh tế - xã hội nhiều mặt còn hạn
chế. Hệ thống chính trị đổi mới chưa đồng bộ, năng lực và hiệu quả hoạt động
chưa ngang tầm nhiệm vụ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức,
lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng
phí chưa bị đẩy lùi. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của
chúng ta còn nhiều khó khăn, thách thức”.
Thủ tướng cam kết: “Với
truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, chúng ta nhất quán thực hiện chủ
trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai - Việt Nam là bạn, là đối tác tin
cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; hợp tác bình đẳng,
cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc; tôn trọng độc lập, chủ quyền,
toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; góp phần vào
sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”.
Đồng thời, kêu gọi: “Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đoàn kết, đoàn
kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công, đồng bào ta ở trong
nước cũng như ở nước ngoài, mỗi người chúng ta hãy nêu cao tinh thần dân tộc,
lòng yêu nước thương nòi, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, không phân biệt
quá khứ, vượt lên trên những khác biệt, cùng nhau chân thành hòa hợp dân tộc,
vun đắp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tất cả vì một nước
Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh như mong muốn cuối
cùng trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu”. Là người Việt Nam,
chúng ta cùng nhau thực hiện tốt lời kêu gọi trên của Thủ tướng: hãy khép lại
quá khứ, để xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu
mạnh./.
Apr 29, 2015
MỘT ĐẠO LUẬT PHI LÝ
Tre Việt - Ngày 22-4-2015, Quốc hội Ca-na-đa đã thông qua Đạo luật S-219 do Ngô
Thanh Hải, một Thượng nghị sĩ gốc Việt bảo
trợ. Đây là việc làm bình thường của các quốc gia độc lập có chủ quyền, nhằm
điều chỉnh các quan hệ trong quốc gia. Tuy nhiên, với cái cớ tưởng nhớ đến
những “thuyền nhân” di tản và coi ngày 30-4 hằng năm là ngày của “hành trình
đến tự do”, Đạo luật S-219 mà Quốc hội Ca-na-đa thông qua là một đạo luật phi
lý, xuyên tạc tình hình thực tiễn, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.
Vì sao nói vậy?
Cách đây 40 năm, ngày 30-4-1975 chính
quyền ngụy Sài Gòn sụp đổ, đầu hàng vô điều kiện, miền Nam Việt Nam được giải
phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Mỹ xâm lược, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống
nhất. Ngày 30-4-1975, là ngày chiến thắng của chính nghĩa với phi nghĩa, bạo
tàn; là ngày chiến thắng của quá trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì quyền
tự quyết dân tộc, vì quyền con người. Đây là sự thực lịch sử mà chẳng thế lực
nào có thể phủ nhận. Sau ngày 30-4-1975, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập
hoàn toàn, chính quyền cách mạng đã thực thi hàng loạt chính sách tiến bộ để ổn
định cuộc sống của nhân dân. Cái gọi là “cuộc tắm máu” theo tuyên truyền của Mỹ
đã không xảy ra; mỗi người dân Việt Nam đều nhanh chóng bắt tay vào lao động,
sản xuất, ổn định cuộc sống tự do, hạnh phúc mới giành được của mình. Tuy
nhiên, một số ít cá nhân bị luận điệu tuyên truyền của Mỹ tẩy não, hoặc những
kẻ có nợ máu với nhân dân,… đã tìm mọi cách để chạy ra nước ngoài, trong đó có
Ca-na-đa. Với chính sách nhân đạo, hòa hợp, hòa giải dân tộc, trong 40 năm qua,
Nhà nước Việt Nam đã tích cực thông tin đến người Việt ở nước ngoài về tình
hình phát triển của đất nước và có nhiều chính sách để họ được về thăm quê
hương. Hiện nay, cộng đồng người Việt ở Mỹ, Ca-na-đa, Đức, Anh, Pháp,… đều hiểu
rõ điều đó, họ đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước.
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt
Nam đã lên tiếng phản đối, về những sai trái của Đạo luật này, xem đây là một
việc làm “hoàn toàn sai trái… ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ đang phát
triển tốt đẹp giữa Việt Nam và Ca-na-đa, xúc phạm tình cảm của nhân dân Việt
Nam cũng như một bộ phận lớn cộng đồng người Việt tại Ca-na-đa”. Tục ngữ Việt
Nam có câu: “Mất lòng trước hơn được lòng sau”, với mong muốn không để Đạo luật
này tác động xấu đến quan hệ giữa hai nước và nhất là không để lặp lại những
sai lầm mới, thiết tưởng cần thẳng thắn chỉ ra những sai trái của việc làm này.
Không chỉ xuyên tạc sự thật, Đạo luật S-219 còn đi
ngược lại lợi ích giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Ca-na-đa. Trong các
cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhiều thế hệ nhân dân Ca-na-đa đều ủng hộ
cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam . Đạo luật S-219 đã xúc phạm
tình cảm, đạo đức của nhân dân Ca-na-đa. Hiện nay, quan hệ chính trị, kinh tế,
văn hóa, xã hội giữa Việt Nam và Ca-na-đa đang trên đà phát triển tốt đẹp, vì
lợi ích chính đáng của hai nước. Nên, Đạo luật S-219, đã làm tổn hại đến lợi
ích của hai quốc gia, tổn hại đến uy tín, sự hợp tác của Ca-na-đa và Việt Nam,
làm chia rẽ nhân dân Ca-na-đa và cộng đồng người Việt ở nước này. Phát biểu với
báo chí Ca-na-đa, Thượng nghị sĩ James Cowan cho rằng, Ông không thể hiểu được
vì sao “Chính phủ Ca-na-đa có thể phê chuẩn một dự luật gây tranh cãi như vậy
trong lúc chúng ta muốn tăng cường quan hệ kinh tế với châu Á, trong đó có Việt
Nam …
Chúng ta đang nỗ lực cải thiện quan hệ với Việt Nam . Chúng ta đã ký một biên bản
ghi nhớ về tăng cường liên kết thương mại và văn hóa. Tại sao các vị lại muốn
khơi lên sự chia rẽ này”. Quốc hội Ca-na-đa, qua Đạo luật S-219 đã làm tổn hại
đến chính dân tộc, đất nước mình.
Cùng với đó, Đạo luật này đã góp phần chia rẽ cộng đồng
người Việt ở Ca-na-đa và nhân dân Việt Nam . Với chỉ có 05% người Việt ở
Ca-na-đa đồng quan điểm với Đạo luật S-219, có nghĩa Đạo luật này chỉ đáp
ứng của một số nhỏ người Việt ở Ca-na-đa. Đây chính là những người vẫn bám giữ
hận thù trong thời kỳ chiến tranh, luôn chống đối Việt Nam . Xuân Ất Mùi - 2015, hàng trăm Việt
kiều ở Ca-na-đa đã về nước, nhiều người vui mừng khi chứng kiến đất nước ngày
càng phát triển và không ít người bày tỏ mong muốn được trở về quê hương làm
ăn, sinh sống, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Có thể khẳng định
rằng, Đạo luật S-219 đã tiếp tục khơi sâu hận thù, “phớt lờ” lợi ích và tình
cảm của lớp trẻ, phục vụ cho lợi ích chính trị ích kỷ của một số nhỏ người Việt
ở Ca-na-đa. Thực tế cho thấy, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ca-na-đa đã được thiết lập
hơn 40 năm (từ năm 1973) và liên tục được củng cố và phát triển. Năm 2013, kim
ngạch hai chiều đạt 2,5 tỷ USD. Việt Nam hiện nằm trong danh sách ưu
tiên của chiến lược Hành động thị trường toàn cầu, chiến lược Giáo dục quốc tế
và Chương trình phát triển quốc tế của Ca-na-đa. Trong quá trình xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc, với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, “đa dạng hóa, đa
phương hóa” với các nước trên thế giới vì lợi ích mỗi bên, vì hòa bình, phát
triển của thế giới, Việt Nam
luôn luôn coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác với Ca-na-đa. Đồng thời, ủng hộ
chính sách chuyển hướng sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Ca-na-đa và
hoan nghênh sự đóng góp của Ca-na-đa cho hòa bình, ổn định và phồn vinh trong
khu vực. Như vậy, Đạo luật S-219 đã đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia.
Ngày nay, tất cả các quốc gia đều có quyền dân tộc tự
quyết, về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Các quốc gia, kể cả Liên hợp
quốc, cũng phải tôn trọng quyền này. Đạo luật S-219 thể hiện rõ sự kỳ thị với
chế độ xã hội do nhân dân Việt Nam
đã lựa chọn. Người bảo trợ Đạo luật S-219 (Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải) vốn là
một người đã chạy ra nước ngoài sau 30-4-1975, luôn bám giữ tư duy cổ hủ, lạc
hậu của thời kỳ chiến tranh lạnh, kỳ thị với chế độ chính trị của Việt Nam. Thực
ra, Ông ta luôn là một kẻ bảo trợ cho các hoạt động chống cộng, chống Việt Nam , nên ông ta
chẳng quan tâm đến thực tế khách quan, chỉ lấy thông tin một chiều từ thiểu số
những kẻ chống cộng.
Thực tế cho thấy, sau 40 năm giành độc lập dân tộc, tự
do cho nhân dân, 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc
về mọi mặt. Với đường lối đối ngoại là: sẵn sàng phát triển quan hệ
với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, hệ tư tưởng,…
trên cơ sở tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của
nhau và hai bên cùng có lợi, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với
hơn 180 quốc gia, trong đó có đầy đủ các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an
Liên hợp quốc. Nền kinh tế Việt Nam ,
được các quốc gia, các tổ chức tài chính, kinh tế lớn trên thế giới đánh giá là
năng động, sáng tạo. Hàng loạt các hiệp định kinh tế giữa các nước lớn, vùng
lãnh thổ,… đã ký kết với Việt Nam .
Việt Nam
cũng là điểm đến của các nguồn vốn, như: ODA, FDI,… và đã, đang phát triển mạnh
mẽ cả về thế và lực trong xu thế phát triển văn minh của nhân loại. Ngô Thanh
Hải - người bảo trợ Đạo luật S-219 - cũng như người ủng hộ nó đang đi ngược lại
xu hướng chung của nền văn minh nhân loại. Và như thế, hành động can thiệp vào
nội bộ Việt Nam nhất định sẽ
bị nhân dân Việt Nam ,
nhân dân Ca-na-đa và cộng đồng quốc tế lên án.
Đạo luật S-219 do Quốc hội Ca-na-đa thông qua
ngày 22-4-2015 là một Đạo luật phi lý./.
THỪA GIẤY VẼ VOI
Tre Việt - Đã tròn 40 năm trôi qua, cuộc
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy
mùa Xuân 1975 toàn thắng là một sự kiện lịch sử trọng đại, một đề tài vô cùng
phong phú cho nhiều cuộc hội thảo, công trình khoa học, lĩnh vực mà nhiều giới,
nhiều ngành trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cũng chính vì sự vĩ đại,
chiến công vô cùng oanh liệt ấy nên còn nhiều giá trị phải được nghiên cứu, bàn
thảo, tiếp tục khẳng định và làm sáng tỏ thêm để đánh giá đầy đủ, đúng đắn tầm
vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn của Chiến thắng đó đối với dân tộc và thời đại.
Trong khi cả Dân tộc đang tràn ngập niềm vui, cờ hoa
rực rỡ phố phường, thôn xóm khắp dải đất hình chữ S thanh bình, thì Giáo sư
Tương Lai - vị Giáo sư tự phong, vì Ông chỉ là Phó giáo sư thôi, như thế
cũng đủ biết tư cách của Ông - chuyên viết bài phản biện chính trị, xã hội
và giáo dục trên mạng lại đi ngược với trào lưu trên. Ông đã mượn
những tác phẩm của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để phản biện chính trị, xã hội. Khổ
thật cho ông bởi có chút “trình độ, học vấn” nên giấy còn chẳng biết làm gi,
đành phải vẽ voi cho kín.
Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có khoảng 600 tác phẩm;
trong đó, khoảng hơn 230 tác phẩm được đông đảo công chúng biết đến với cả phần
lời và nhạc. Các bài hát Ông sáng tác phần lớn là tình ca. Tuy nhiên, nhiều ca khúc của Ông sáng tác trong thời kỳ
chiến tranh chống Mỹ, cứu nước có thông điệp
phản chiến bị cả chính quyền Việt Nam dân chủ
cộng hòa và Việt Nam cộng hòa cấm biểu diễn. Mặc dù, gần đây - sau ngày đất nước
giải phóng - một số ca khúc của Ông được đông đảo tầng lớp nhân dân đón nhận,
nhất là giới trẻ, tiêu biểu là ca khúc “Nối
vòng tay lớn”.
Ca khúc này được nhiều tầng lớp nhân dân đón
nhận như một món quà Nhạc sĩ tặng cho các buổi giao lưu, hội họp, thể hiện sự
đoàn tụ trong gia đình Việt. Gần đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn của
những người hâm mộ ở Huế tại Gác Trịnh, trường Đại học Khoa học Huế với đêm nhạc
“14 năm nhớ Trịnh Công Sơn - Hành trình nối vòng tay lớn” mà “Tuổi Trẻ” đã tường
thuật.
Nhưng cũng thật đáng tiếc, trong cuộc kháng
chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, các ca
khúc của Trịnh Công Sơn không được chấp nhận. Bởi lẽ, lời các ca khúc của Ông đều
mang tính ủy mỵ, làm nhụt ý chí chiến đấu của chiến sĩ trên chiến trường. Riêng
ca khúc Nối vòng tay lớn tuy nhạc và
lời rất nhộn, vui lại thể hiện tinh thần đoàn tụ, gắn bó với nhau, nhưng vào thời
điểm đó thì chưa phù hợp. Bởi vì, sau thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm
1954) miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn nằm dưới sự kiểm soát của thực
dân Pháp, Đảng và Bác Hồ muốn hòa hợp dân tộc bằng cuộc Tổng tuyển cử trên khắp
cả nước. Nhưng không, Ngô Đình Diệm và bè lũ tay sai được Mỹ hà hơi, tiếp sức
đã ngang nhiên phá hoại và tạo cớ để Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt
Nam. Và nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là phải
“đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.
Lợi dụng ngày giỗ (01/4 tức 08/3 âm
lịch) của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, những ngày
tháng 3, tháng 4 vừa qua, trên mạng xuất hiện nhiều bài viết tạo ra Hiện tượng Trịnh Công Sơn của Trịnh Vĩnh
Trinh, Cao
Huy Thuần và nổi hơn là Giáo sư Tương Lai - người tự cho mình có quyền phản biện xã
hội đã chắp bút, thêm mắm muối - không ngớt là ca tụng các ca từ trong từng tác
phẩm của Nhạc sĩ. Bên cạnh đó, cũng khéo léo cài vào những cụm từ nói xấu, bôi nhọ Đảng, chế độ.
Trong chiến tranh vấn đề công tác lý
luận, công tác chính trị, tư tưởng có vị trí vô cùng quan trọng không kém gì
súng, đạn, thậm trí nó có tác dụng rất lớn như những khẩu đại bác, một binh
đoàn hùng mạnh. Bởi vậy, công tác sáng tác văn học, hay sáng tác các ca khúc
phục vụ chiến tranh đã được coi trọng, nhằm tuyên truyền, xây dựng niềm tin
chiến thắng, thúc giục tinh thần chiến đấu cho binh lính được cả hai bên triệt
để thực hiện.
Thực tế, tại thời điểm đó,
Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đang phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc và
thời đại để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì công tác văn hóa, văn
nghệ là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng
và Bác Hồ kính yêu nhiều ca khúc cách mạng đã được các nhạc sĩ sáng tác nhằm
phát huy sức mạnh tổng hợp, thúc giục tinh thần toàn dân tộc tiến lên giải
phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Những ca khúc cách mạng đã được các chiến
sĩ văn công mang vào khắp các chiến trường, trận địa phục vụ bộ đội - tiếng hát
át tiếng bom.
Có thể nói, những ca khúc
trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là những tác phẩm đạt đến trình độ cao cả về
mặt nghệ thuật và nội dung, với nhiều mảng đề tài như về Tổ quốc, về Đảng, lực
lượng vũ trang, về tình yêu, về quê hương, đất nước, con người phản ánh được
các sự kiện nổi bật, các mốc lịch sử quan trọng. Nhiều tác phẩm trong giai đoạn
này đều mang cả tính lãng mạn cách mạng, đậm màu sắc hào hùng, phóng
khoáng có tác dụng cảm hóa lòng người, động viên tinh thần của biết bao chiến
sĩ. Hình tượng người chiến sĩ trong các ca khúc cách mạng mạnh mẽ nhưng không
khô cứng, trữ tình bay bổng nhưng không ủy mỵ. Mỗi ca khúc sáng tác trong những
năm tháng chống Mỹ ác liệt đều thể hiện phong cách riêng của từng tác giả,
nhưng tựu trung là mang đậm tính cách mạng, tính khoa học và tính nhân dân sâu
sắc. Một số ca khúc tiêu biểu của Nhạc sĩ Huy Du: Anh vẫn hành quân (năm 1964), Bạch Long Vĩ đảo quê hương (năm 1965), Chưa hết giặc ta chưa về (năm 1965), Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi (năm
1965), Cùng anh tiến quân trên
đường dài (năm 1967), Nổi lửa lên em (năm 1968), Đường chúng ta đi (năm 1968), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (năm 1971), v.v.
Vậy thì cớ sao, Giáo sư lại chọn những ca khúc
(Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Trong nỗi đau tình cờ, Tôi
ơi đừng tuyệt vọng,…) của Trịnh Công Sơn có ca từ ủy mỵ, làm nhụt ý
chí chiến đấu của binh lính khi cuộc cách mạng đang ở giai đoạn quyết liệt; thậm
chí chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng cấm những ca khúc này. Vậy, có phải
trong sâu thẳm tâm thức của Giáo sư có uẩn khúc gì với Đảng, Nhà nước và Dân tộc,
nên thời gian này lại đổ đốn như vậy. Nếu nguồn tài nguyên trong Ông đã cạn kiệt
thì Tre Việt khuyên Ông nên vẽ voi
cho kín là được chẳng ai chê cười Giáo sư?
Apr 28, 2015
Ngày 30-4-1975 – Ngày chiến thắng của quyền tự quyết dân tộc, quyền con người ở Việt Nam
Tre Việt - Ngày Chiến thắng 30-4-1975 đã đi vào trang
vàng lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam như một mốc son chói lọi nhất.
Đây là ngày chiến thắng của quyền tự quyết dân tộc, quyền con người ở Việt Nam .
Ngày
02-9-1945, tại Quảng trường Ba Đình (Hà Nội), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thay mặt
toàn thể nhân dân Việt Nam đọc bản Tuyên Ngôn độc lập, trong đó khẳng định:
“Tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng, dân tộc nào cũng có
quyền sống, quyền sung sướng, tự do”. Đây cũng là Tuyên ngôn về nhân quyền của
dân tộc Việt Nam .
Từ đó, để bảo vệ quyền độc lập, tự do của dân tộc, quyền con người, nhân dân
Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản và Chủ tịch Hồ Chí Minh tiến hành
cuộc đấu tranh kéo dài 30 năm (1945 - 1975) đánh đuổi thực dân Pháp và đế quốc
Mỹ xâm lược.
Trên
thế giới, ai cũng biết tự do của cộng đồng và tự do cá nhân có mối quan hệ nội
tại, chế định lẫn nhau. Một dân tộc mà chưa giành được độc lập thì mỗi cá nhân
trong dân tộc đó không thể có hạnh phúc, tự do. Nhưng nếu, giành được độc lập
dân tộc mà mỗi người dân không được hưởng hạnh phúc, tự do, thì độc lập ấy cũng
chẳng có ý nghĩa gì như Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định. Như vậy, quyền tự
quyết của dân tộc, quyền con người luôn có mối quan hệ biện chứng, không tách
rời nhau. Đây là điều không thể bác bỏ!
Năm
1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam . Không cam chịu làm nô lệ, nhân
dân Việt Nam
đã liên tục đứng lên đấu tranh chống lại ách đô hộ tàn bạo của chúng, nhưng đều
bị tất bại. Năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Gương cao ngọn cờ độc
lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo toàn dân
tộc đứng lên đánh Pháp, đuổi Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân. Ngày
02-9-1945, nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - nhà nước công nông đầu tiên ở Đông
Nam Á - ra đời đã mở ra kỷ nguyên mới - kỷ nguyên dân tộc độc lập, mọi người
dân Việt Nam được sống trong hạnh phúc, tự do quyết định cuộc sống của chính
mình. Khát vọng về quyền tự quyết dân tộc, quyền con người ở Việt Nam
bước đầu đã được thực hiện. Tuy nhiên, với âm mưu xâm lược, xóa bỏ thành tựu về
quyền tự quyết dân tộc, quyền con người mà nhân dân Việt Nam mới giành được,
chỉ sau 03 tuần Lễ tuyên bố độc lập, thực dân Pháp đã quay lại xâm lược Việt
Nam lần thứ hai. Nhân dân Việt Nam
quyết không chịu! Với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập tự do” cả dân tộc
Việt Nam ,
dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản đã đứng lên quyết đánh và đánh bại âm mưu
của thực dân Pháp.
Trải qua 9 năm kháng chiến trường kỳ (1945 -
1954), toàn dân, toàn quân ta đã làm nên một chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn
động địa cầu”, đập tan ý chí cuối cùng của thực dân Pháp, buộc chúng ký Hiệp
định Pa-ri về chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Theo quy định của Hiệp định này,
năm 1956, ở Việt Nam
sẽ tổ chức tổng tuyển cử, thống nhất đất nước. Nhưng, với âm mưu thế chân thực
dân Pháp đô hộ Việt Nam, đế quốc Mỹ đã vội vã dựng lên ở miền Nam Việt Nam
chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm, xóa bỏ Hiệp định Pari, nhằm chia cắt hai
miền Nam - Bắc Việt Nam. Sau năm 1954, miền Bắc Việt Nam đã được giải phóng,
nhưng nhân dân miền Nam vẫn sống dưới sự áp bức, đô hộ của đế quốc Mỹ và bè lũ
tay sai. Quyền tự quyết dân tộc, quyền con người ở Việt Nam bị đế quốc Mỹ ngang nhiên xâm
phạm. Nhân dân Việt Nam quyết không chịu cảnh một thân chia đôi, nên quyết tâm
đấu tranh để “ân tộc Việt Nam là một, đất nước Việt Nam là một, sông có thể
cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi” Nhân dân Việt Nam
quyết không để một thế lực hung hãn nào xâm phạm quyền tự quyết dân tộc, quyền
con người của mình. Trong 21 năm (1954 - 1975), chống Mỹ, cứu nước, dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, dân tộc Việt Nam đã đoàn kết đứng lên
“quyết đánh, biết đánh và đánh thắng” mọi kiểu chiến lược chiến tranh của đế
quốc Mỹ, tiến tới “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng miền Nam,
thống nhất đất nước. Ngày 30-4-1975, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất, rợp bóng
cờ hoa chiến thắng. Từ đây, dân tộc Việt Nam
đã giành được độc lập trọn vẹn, người dân Việt Nam đã giành được tự do thật sự.
Quyền tự quyết dân tộc, quyền con người ở Việt Nam đã chiến thắng cuộc chiến tranh
phi nghĩa, bạo tàn do đế quốc Mỹ gây ra. Việt Nam đã trở thành biểu tưởng của
nhân loại tiến bộ trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng con người
khỏi mọi áp bức, đau khổ.
40 năm qua, vượt qua mọi nỗi đau, mất mát,
nhân dân Việt Nam, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã không ngừng
phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, đứng lên từng
bước hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng Tổ quốc Việt Nam “ngày càng đàng
hoàng hơn, to đẹp hơn”. Hiện nay, Việt Nam - sau 30 năm đổi mới - đã vượt qua
đói nghèo, trở thành nước có thu nhập trung bình; có quan hệ bình đẳng với các
nước, vùng lãnh thổ và các tổ chức quốc tế trên thế giới. Đặc biệt, Việt Nam có
quan hệ đối tác chiến lược với Nga, Trung Quốc, Pháp, Anh,… đối tác toàn diện
với Mỹ (vốn là cựu thù của dân tộc Việt nam), v.v. Đó là các nước Thường trực
Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Không chỉ là thành viên Liên hợp quốc, Việt Nam còn là
thành viên tin cậy, có trách nhiệm với các tổ chức chính trị lớn trên thế giới,
như: Hội đồng Bảo an, Hội đồng Nhân quyền,… Miền Nam Việt Nam Việt Nam, từ một
vùng đất có hạ tầng cơ sở phục vụ cho chiến tranh xâm lược, phụ thuộc vào đồng
đôla viện trợ của Mỹ, nay đã cất cánh trở thành vùng đất “chín rồng” bay cao,
vươn xa - động lực phát triển cho nền kinh tế cả nước, mà thành phố Hồ Chí Minh
(Sài Gòn trước đây) là đầu tàu. Nền kinh tế Việt Nam đã trở nên năng động, sáng
tạo, từng bước tiệm cận với nền kinh tế tri thức, là điểm đến của các dòng vốn
đầu tư của các nền kinh tế, các tổ chức kinh tế quốc tế. Quyền con người về
kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của người dân Việt Nam ngày càng
đảm bảo tốt hơn. Mọi người dân đều có quyền tự do phát huy sức lực, trí tuệ cá
nhân để làm giàu cho cá nhân, gia đình và đất nước. Đây là một thực tế hiển nhiên
đã và đang diễn ra hằng ngày ở đất nước Việt Nam
đổi mới và phát triển được nhân dân Việt Nam và cả thế giới thừa nhận.
Ấy thế mà, có thế lực, cá nhân với nhiều lý
do khác nhau, không chịu nhìn, không chịu nghĩ, không chịu thừa nhận thực tế
khách quan đó. Người dân Việt Nam
đều biết đó là thế lực nào, cá nhân nào. Lịch sử đã chứng minh: Sự thất bại của
đế quốc Mỹ ở Việt Nam là sự thất bại của thế lực chống cộng hiếu chiến - thế
lực luôn tìm mọi cách áp đặt ách đô hộ, bóc lột lên quyền tự quyết dân tộc,
quyền con người của nhân dân lao động, trong đó có dân tộc và người dân Việt
Nam. Vì thế, chúng ra sức chống phá Việt Nam . Chúng dựng chuyện, xuyên tạc
tình hình nhân quyền ở Việt Nam ;
nói xấu sự lãnh đạo, quản lý xã hội của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam ,
v.v. Nhân dân Việt Nam và nhân
loại tiến bộ trên thế giới nhận rõ điều đó và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.
Lịch sử dân tộc Việt Nam mãi mãi ghi vào
trang vàng dựng nước và giữ nước Ngày Chiến thắng 30-4-1975 là mốc son chói lọi
trong công cuộc đấu tranh vì quyền tự quyết dân tộc và quyền con người của nhân
dân và dân tộc yêu chuộng hòa bình, công lý./.
Apr 20, 2015
LỊCH SỬ VÀ HIỆN THỰC ĐẤT NƯỚC BÁC BỎ MỌI SỰ XUYÊN TẠC
Tháng 4-2015, Nhà
nước và nhân dân Việt Nam
tưng bừng kỷ niệm Ngày Chiến thắng. Gọi là ngày Chiến thắng, bởi đây là sự
chiến thắng của chính nghĩa trước sự phi nghĩa, bạo tàn.
Ngày này cách đây
40 năm (30-4-1975/30-4-2015), dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Quân
đội nhân dân Việt Nam cùng với các tầng lớp nhân dân đã đập tan bộ máy ngụy
quân, ngụy quyền tay sai của đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất
nước. Từ đây dân tộc Việt Nam đã thoát khỏi mọi sự áp bức, bóc lột, bất công;
quyền con người được đảm bảo ngày càng tốt hơn; người dân được sống trong độc
lập, tự do hướng tới xây dựng đất nước giàu mạnh, dân chủ, văn minh. Ngày Chiến
thắng 30-4 đã viết tiếp trang sử vàng trong tiến trình dựng nước và giữ nước
như một mốc son chói lọi nhất. Việt Nam đã trở thành biểu tượng cho
khát vọng độc lập, tự do, thống nhất, tiến bộ và phát triển của loài người tiến
bộ trên thế giới. Đó là sự thật lịch sử, không một thế lực nào có thể bác bỏ
được.
Thế mà, có những
thế lực, có một số ít kẻ đang tâm xuyên tạc thực tế lịch sử đó. Với nhiều thủ
đoạn khác nhau, chúng ra sức xuyên tạc bản chất cuộc chiên tranh. Chúng cho
rằng cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
(1954 - 1975) chỉ là cuộc chiến tranh ủy nhiệm; là cuộc nội chiến giữa những
người Việt Nam ;
là cuộc đối đầu ý thức hệ,…(!) Chúng tuyên truyền rằng, ngày 30-4-1975 sẽ có
cuộc “tắm máu” ở Sài Gòn và toàn miền Nam do cộng sản gây ra,… Đặc biệt,
có những kẻ tự nhận mình là “nhà lịch sử”, “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho
nhân quyền”,… lại cho rằng, chỉ khi nào chế độ cộng sản ở Việt Nam bị lật đổ
thì nhân dân Việt Nam mới được giải thoát khỏi mọi sự khổ đau, dân tộc mới có
thể hòa hợp(!) Hay, chiến thắng của dân
tộc ta trước cuộc xâm lược của đế quốc Mỹ là nguyên nhân hiện nay đất nước đứng
trước “họa ngoại bang thống trị”, của sự chia ly dân tộc, của đói nghèo, v.v. Thực ra, chúng ta đều biết đó là luận điệu của những thế lực, những kẻ
chống cộng điên cuồng, chúng tìm mọi cách để hạ thấp giá trị lịch sử của Ngày
Chiến thắng 30-4, lung lạc ý chí tự lực tự cường, độc lập, tự do, thống nhất
của dân tộc Việt Nam, tiến tới âm mưu hạ bệ “thần tượng”, lái con thuyền Việt
Nam đi theo con đường của chúng. Thật hoang đường. Nhân dân Việt Nam và nhân
yêu chuộng hòa bình trên thế giới chẳng ai tin vào những luận điệu xuyên tạc ấy
và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.
40 năm qua, nhiều nhà lịch sử, văn hóa, nhà khoa học,
chính trị gia, nhà quân sự ở cả Việt Nam, Mỹ và trên thế giới đã đi tìm nguyên
nhân thất bại của Mỹ ở Việt Nam. Dẫu đứng trên lập trường nào, họ đều thống nhất ở một
điểm: Mỹ thua, bởi Mỹ không hiểu Việt Nam . Chính quyền Mỹ gây ra cuộc
chiến tranh ở Việt Nam
- một hành động phi lý, đi ngược lại nguyện vọng của nhân dân Mỹ và xu thế phát
triển của thế giới. Đó là cuộc chiến tranh phi nghĩa. Cuộc đấu tranh giải phóng
dân tộc, thống nhất đất nước của nhân dân Việt Nam là chính nghĩa. Chính nghĩa tất
thắng phi nghĩa. Hơn nữa, nhân dân Việt Nam anh hùng, có Quân đội nhân dân anh
hùng, được lãnh đạo bởi một đảng mác-xít chân chính, có đường lối, phương pháp
đấu tranh chính trị, quân sự đúng đắn, khoa học, tập hợp được sức mạnh tổng hợp
của dân tộc và thời đại.
Năm 1954, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản
Việt Nam, Quân đội và nhân dân Việt Nam đã làm nên Chiến thắng Điện Biên Phủ,
đánh tan ý chí xâm lược của thực dân Pháp, buộc chính phủ Pháp phải ký vào Hiệp
định Giơ-ne-vơ. Hiệp định đã quyết định nhiều vấn đề về Việt Nam; trong đó, quy
định rõ, thực dân Pháp phải rút khỏi Việt Nam, năm 1956, sẽ tổ chức tổng tuyển
cử thống nhất trên cả nước, bầu ra chính phủ thống nhất dưới sự chứng kiến của
các tổ chức quốc tế, Việt Nam là nước độc lập, tự do, thống nhất. Nhưng, với âm
mưu thế chân thực dân Pháp, nhằm độ hộ Việt Nam, chính quyền Mỹ đã dựng lên
chính phủ tay sai Ngô Đình Diệm, đẩy mạnh phá hoại mọi nỗ lực tổng tuyển cử.
Dưới cái ô của đồng Đô la, bằng sự tàn bạo họng súng và máy chém của chế độ Ngô
Đình Diệm, tổng tuyển cử đã bị phá hoại, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt
làm hai miền Nam - Bắc. Nhân dân miền Nam Việt Nam sống dưới ách đô hộ của bọn
đế quốc và chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm. Mọi quyền con người của nhân dân
miền Nam
bị chà đạp. Nhân dân Việt Nam
quyết không chịu. Với tinh thần “không có gì quý hơn độc lập, tự do” và khát
vọng “đất nước Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn, nhưng chân lý
đó không bao giờ thay đổi”, cả dân tộc Việt nam đã nhất tề đứng lên, xẻ dọc Trường
Sơn đi cứu nước, quyết giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước. Và dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh quân và dân hai
miền Nam - Bắc đã đoàn kết, vượt mọi khó khăn thử thách quyết đánh và đánh thắng
các kiểu chiến tranh của đế quốc Mỹ. Lịch sự đã ghi nhận, Mỹ đã tiến hành các
chiến lược, như: Chiến lược chiến tranh đặc biệt; Chiến lược chiến tranh cục
bộ; Chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh, v.v. Biết bao tỷ Đô la được giới cầm
quyền nước Mỹ bơm vào miền Nam Việt Nam để hà hơi, tiếp sức cho ngụy quân, ngụy
quyền; để biến thành bom đạn dội vào đầu người dân Việt Nam; để chống lại cuộc
chiến “trong lòng nước Mỹ”, v.v. Đau thương, nối tiếp đau thương. Hằng triệu,
triệu người con ưu tú của dân tộc Việt Nam đã ngã xuống vì độc lập, tự do
của Tổ quốc, hạnh phúc của nhân dân. Hằng chục vạn lính Mỹ đã chết bởi cuộc
chiến tranh phi nghĩa mà chính phủ của họ gây ra; nền kinh tế Mỹ chịu tổn thất
nghiêm trọng; hình ảnh nước Mỹ trong con mắt của loài người tiến bộ trên thế
giới thật xấu xa, ác độc. Các nhà nghiên cứu đã chỉ rõ vấn đề này, thiết nghĩ
chẳng cần nhắc lại.
Với quyết tâm “Đánh
cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, để Nam Bắc một nhà thống nhất, quân và dân ta
đã “bám vào thắt lực địch mà đánh”, đánh bại các chiến lược chiến tranh hung
bạo của đế quốc Mỹ. Những chiến thắng của quân và dân Việt Nam, mà điển hình là
Chiến thắng Mậu Thân (1968), Chiến thắng “Điện Biên Phủ trên không” (1972),… đã
buộc đế quốc Mỹ ký vào Hiệp định Pari, chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam, rút
quân về nước. Mỹ đã “cút”, nhưng Ngụy chưa “nhào”. Ngụy quân, ngụy quyền Sài
Gon vẫn được đế quốc Mỹ hà hơi, tiếp sức bằng Đô la, vũ khí và hệ thống cố vấn
quân sự, chính trị. Nhân dân miền Nam Việt Nam vẫn chịu ách đô hộ tàn bạo của ngụy
quân, ngụy quyền dưới cái ô bảo trợ, gậy chỉ huy của Mỹ. Quân và dân Việt Nam
quyết không chịu. Để giải phóng hoàn toàn miền Nam ,
thống nhất đất nước, quân và dân Việt Nam đã liên tục tấn công và giành
những thắng lợi to lớn, như: Chiến dịch Tây Nguyên, Chiến dịch Huế - Đà Nẵng,…
làm rung chuyển nước Mỹ, từng bước làm tan rã tận gốc hệ thống ngụy quân, ngụy
quyền. Mùa xuân 1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam , quân và dân
nước Việt đã Tổng tiến công và nổi dậy chiến lược mùa Xuân 1975. Ngày 30-4-1975,
chiến dịch giành thắng lợi, tổng thống Việt Nam cộng hòa Dương Văn Minh tuyên
bố đầu hàng vô điều kiện. Miền Nam
đã được giải phóng, đất nước Việt Nam nối liền một dải từ Mục Nam
Quan đến mũi Cà Mau. Từ đây, Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới: kỷ nguyên
thống nhất, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên toàn đất nước. Đó là sự
thật lịch sử mà không có thế lực nào có thể bác bỏ. Ngày Chiến thắng 30-4, đã
đi vào trang vàng chói lọi thực hiện khát vọng độc lập, thống nhất, dân chủ, tự
do của dân tộc Việt Nam
trong tiến trình dựng nước và giữ nước.
Sau bốn 40
giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước và ba mươi năm Đổi mới, dưới
sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã ra khỏi tình trạng kém phát triển, bước vào
nhóm nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Việt
Nam
đã trở thành biểu tượng mới của các dân tộc trên thế giới về phát triển kinh tế
- xã hội, xóa đói giảm nghèo và bảo đảm quyền con người.
Thực tế cho thấy, các tỉnh thành phía Nam đã có sự phát triển vượt bậc,
diện mạo nhiều đổi thay cùng với sự đổi mới của đất nước. Số lượng các doanh ngiệp
của các thành phần kinh tế đang hoạt động ở phía Nam tăng nhiều lần; hạ
tầng thiết yếu phục vụ cho phát triển kinh tế - xã
hội được xây
dựng. Từ chỗ hạ tầng chủ yếu phục vụ chiến
tranh xâm lược của Mỹ, nay
đã chuyển sang
phục vụ phát triển kinh tế - xã hội, với sự
hài hòa các phương thức vận tải, giữa hàng không, đường bộ, đường thủy và hàng
hải, tận dụng được các lợi thế của đất nước. Đặc biệt, sự phát triển mạnh mẽ
các nhà máy điện cũng như lưới truyền tải điện, nhất là đường dây 500kV Bắc Nam
đã bước đầu giải quyết được bài toán năng lượng cho khu vực phía Nam. Từ chỗ
chỉ có ngành công nghiệp cơ khí sửa chữa nhỏ, chủ yếu phục vụ cho quốc phòng, phía
Nam đã hình thành được một loạt các tỉnh thành công nghiệp. Thành phố Hồ Chí
Minh (Sài Gòn 40 năm về trước) chủ yếu sống bằng nguồn ngoại viện, kinh tế trong
trạng thái què quặt, phục vụ nhu cầu chiến tranh đã vươn mình đứng lên trở
thành trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa, khoa học kỹ thuật của cả nước, là
hạt nhân của khu kinh tế trọng điểm phía Nam và là đầu tàu kinh tế của cả nước.
Hằng năm, Thành phố đóng góp khoảng 1/5 GDP của cả nước và 1/3 tổng thu sách
nhà nước. Các địa phương, như: Bình Dương, Đồng Nai,… đã là những tỉnh công
nghiệp. Đặc biệt, Bà Rịa - Vũng Tàu trước là một tỉnh rất nghèo nhưng nay đã
hình thành một khu công nghiệp dầu khí và cụm công nghiệp dịch vụ hàng hải lớn
nhất cả nước, đang hướng tới trở thành trung tâm dịch vụ hàng hải của khu vực. Bình
Dương trước giải phóng miền Nam không phải là một tỉnh có vai trò lớn về công
nghiệp nhưng nay đã trở thành một tỉnh công nghiệp hiện đại có tốc độ đổi thay
lớn lao và là một điểm sáng trên bản đồ kinh tế Việt Nam với những thành tựu về
đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế. Các tỉnh cực Nam Trung Bộ chuyển hướng
mạnh mẽ, phát triển thương mại dịch vụ, du lịch, như: Nha Trang, Phan Thiết, v.v.
Các tỉnh miền Tây Nam Bộ với thế mạnh về nông nghiệp không chỉ đảm bảo an ninh
lương thực mà còn đã có đóng góp lớn lao vào thành tựu xuất khẩu 06 triệu tấn
gạo, 08 tỷ Đô la thủy hải sản xuất khẩu của cả nước. Gạo Việt Nam, tôm, cá basa
đã ghi dấu ấn trên bản đồ xuất khẩu thế giới. Hiện nay, Chính phủ đã quy hoạch
vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, gồm: Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh miền
Đông, miền Tây Nam Bộ (Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương,
Bình Phước, Tây Ninh, Long An, Tiền Giang). Trong đó, Thành phố Hồ Chí Minh vai
trò kết nối trung tâm, chủ lực cho toàn vùng Nam Bộ trong quá trình chuyển đổi
và phát triển cơ chế kinh tế thị trường dù mức độ lan tỏa chưa như tiềm năng
vốn có. Theo Tổng cục Thống kê, Vùng Kinh tế trọng điểm phía Nam chiếm khoảng
17% dân số, hơn 8% diện tích, sản xuất chiếm hơn 42% GDP, gần 40% kim ngạch
xuất khẩu cả nước, đóng góp gần 60% ngân sách quốc gia. Đây là vùng kinh tế
trọng điểm lớn nhất, là trung tâm công nghiệp, thương mại, dịch vụ, tài chính
hàng đầu và là động lực phát triển năng động của cả nước và có tầm cỡ khu vực.
Lịch sử và hiện thực khách quan nêu trên đã bác bỏ mọi luận
điệu xuyên tạc./.
Apr 19, 2015
“ĐÁNH KẺ CHẠY ĐI KHÔNG AI NỠ ĐÁNH NGƯỜI CHẠY LẠI”
Tre Việt - Ngày
17/4 vừa qua, trên VOA tiếng Việt có bài: “Chế độ cộng sản Việt Nam sụp đổ,
người Việt mới có hòa hợp hòa giải?” ghi lại cuộc phỏng vấn giữa Trà My - phóng
viên của VOA tiếng Việt - với Cù Huy Hà Vũ - người phải tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Qua
cuộc trả lời phỏng vấn cho thấy, Cù Huy Hà Vũ đúng là người “cái nết đánh chết
không chừa”.
Nghe
cái tên Cù Huy Hà Vũ, chúng ta không lạ gì kẻ đã bị tòa kết án 7 năm tù giam vì
tội tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam theo Bộ luật Hình sự và
sau đó cho tỵ nạn tại Hoa Kỳ. Ở Hoa Kỳ, Vũ phải kiếm sống bằng cách “theo đóm
ăn tàn”, đi theo, làm theo những thế lực thù địch chống phá cách mạng Việt Nam,
những mong kiếm ít bơ thừa, sữa cặn nơi đất khách quên người. Vậy nên, Vũ lại
“phát huy sở trường” của mình là tiếp tục chống phá, xuyên tạc Đảng Cộng sản,
Nhà nước Việt Nam .
Khi VOA
hỏi: “Nếu muốn tôi thay đổi cách nhìn và tạo niềm tin hơn nữa đối với tôi,
thì anh cũng phải thay đổi cách nhìn về tôi. Thay vì anh chỉ muốn xóa bỏ chế độ
cộng sản Việt Nam ,
thì có thể có một cách khác cùng hàn gắn và cùng nhau phát triển”. Phản hồi của
ông thế nào?
Vũ trả lời: “Tôi đã có những kinh nghiệm rất cụ thể rồi.
Năm 2010, chính tôi đã đưa ra những giải pháp đầu tiên để bắt đầu những sự hòa
hợp hòa giải. Đó là phải gọi tên đúng của cuộc chiến tranh Việt Nam là
một cuộc nội chiến. Tôi cũng đưa ra một giải pháp nữa là công nhận những chiến
sĩ Việt Nam Cộng hòa đã hy sinh tại Hoàng Sa trong cuộc chiến chống quân xâm
lược Trung Quốc để bảo vệ lãnh thổ Việt Nam. Thế nhưng, cho tới giờ, chính
quyền cộng sản Việt Nam
không những không chấp nhận đề nghị của tôi (tôi đã làm kiến nghị gửi Quốc
hội), mà lại còn bỏ tù tôi. Thành ra, cuối cùng tôi rút ra kết luận là không
thể có hòa giải với chính quyền cộng sản Việt Nam mà chỉ có thể giải thể chế độ
cộng sản này đi,… Khi đó không còn ai bị
coi là thù địch với ai nữa, mà đó chỉ là sự khác biệt hay đối lập về mặt chính
trị mà thôi”.
Qua trả lời của Vũ cho thấy có hai
cái sai:
Một là, cuộc kháng chiến chống
đế quốc Mỹ, cứu nước, Vũ lại cho là cuộc “nội chiến”. Chúng ta đều biết,
chế độ Việt Nam
cộng hòa chỉ là con rối trong tay của chính giới Mỹ mà thôi. Bởi, chế độ ấy hoạt
động hoàn toàn dựa vào sự chu cấp của chính quyền Mỹ. Chẳng thế mà, R. Nixon đã nói thẳng với cố vấn đặc biệt của Nguyễn Văn Thiệu: “Các
ông hãy nhớ thật kỹ rằng: nếu không có viện trợ Mỹ thì Sài Gòn không thể tồn
tại..., không có ngân quỹ Mỹ thì Sài Gòn coi như chấm dứt”. Chính vì nhận ra số
phận bù nhìn của mình, Nguyễn Văn Thiệu mới phải công khai thú nhận: “Mỹ còn
viện trợ thì chúng ta còn chống cộng”, “Nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi
nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng
tôi sẽ rời khỏi dinh Ðộc Lập”! Chính vì vậy, mà một đội quân có hơn một triệu
người, ở thời điểm năm 1975 được đánh giá đứng thứ tư trên thế giới về lục
quân, không quân, đứng thứ chín về hải quân,... gấp đối phương hai lần về quân
số, bốn lần về xe tăng, hơn tuyệt đối về không quân và hải quân, đã nhanh chóng
tan rã và thất bại trong chưa đầy hai tháng. Vì tính chất phi nghĩa của sự tồn
tại mà đội quân ấy đã thất bại. Đúng như GS N. Chomsky nhận định “đội quân
thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn)”, hay theo cách nói của W.
Colby - người từng đứng đầu phái bộ CIA tại miền Nam Việt Nam - đó là đội quân
được Mỹ cho mọi thứ cần thiết, “trừ sự dũng cảm”!
Hai là, Vũ đã đánh đồng sự hy
sinh của những người con ưu tú vì một Việt Nam độc lập, tự do với cái chết của
những người vì chế độ bù nhìn, lệ thuộc vào ngoại bang. Tổ quốc bao giờ
cũng phải nhìn trên hai phương diện: tự nhiên lịch sử (vùng đất, vùng trời, vùng biển,…) và chính trị - xã hội (thể
chế chính trị - xã hội). Nói như Vũ thì những người lính Việt Nam cộng hòa bảo vệ Hoàng Sa trước
sự xâm chiếm của Trung Quốc thì mới đề cập một nửa - bảo vệ mặt tự nhiên lịch
sử. Nhưng việc bảo vệ ấy để duy trì chế độ bù nhìn, lệ thuộc như đề cập ở phần
thứ nhất thì nhân dân Việt Nam không bao giờ cam chịu, trừ những kẻ vô liêm sỉ
như Vũ. Vậy nên, sự đánh đồng của Vũ giữa sự hy sinh của những người con ưu tú
của dân tộc vì một Việt Nam độc lập, tự do, hạnh phúc với cái chết của những
người muốn duy trì một chế độ bù nhìn, tay sai, lệ thuộc là không thể chấp
nhận, dù Vũ có đưa ra cái vỏ bọc hòa hợp hòa giải dân tộc. Tất nhiên, cùng là
máu đỏ da vàng, nên chúng ta đều thấy sót xa, đau đớn trước cái chết của bất kỳ
người Việt Nam
nào. Những người lính Việt Nam
cộng hòa cũng chỉ là nạn nhân của chế độ bù nhìn, tay sai Việt Nam
cộng hòa. Chúng ta cũng trân trọng họ khi quyết tâm bảo vệ Hoàng Sa, nhưng
không vì thế mà đánh đồng cái chết của họ với sự hy sinh của những người quyết
tâm “đánh cho Mỹ cút / đánh cho ngụy nhào”. Vì như thế sẽ là không công bằng và
có tội với sự hy sinh đầy ý nghĩa của những người vì một Việt Nam thống nhất, hòa bình, độc lập,
tự do, hạnh phúc!
Khi VOA hỏi: Nhiều người đặt vấn đề vì sao đối với “người
ngoài” như quốc gia cựu thù Mỹ, chính phủ cộng sản Việt Nam có thể hòa hợp hòa
giải, bỏ qua quá khứ, tiến tới cùng hợp tác xây dựng nhanh chóng và hiệu quả
hơn đối với “người nhà” là những đồng bào khác ý thức hệ với họ? Phải chăng
lòng hận thù của người Việt mình chưa được hóa giải nên mâu thuẫn mới kéo dài
cho tới ngày hôm nay?
Vũ trả lời: “Trước hết, tôi khẳng định chuyện chính quyền
cộng sản Việt Nam
hiện nay thiết lập quan hệ ngoại giao với Mỹ, nước cựu thù trong chiến tranh,
là vì vấn đề ngoại giao và vụ lợi về mặt kinh tế. Tiếp nữa, chính quyền cộng
sản Việt Nam
đang bị Trung Quốc tấn công trên mọi phương diện nên họ cần tìm kiếm những hỗ
trợ từ bên ngoài”.
Vũ nói vậy chứng tỏ chẳng hiểu gì
lịch sử Việt Nam .
Xin hỏi, với Nhật Bản, với Pháp trước đây xâm chiếm nước ta, nay Việt Nam có
quan hệ hợp tác, hữu nghị với các nước này thì là cái gì? Xa hơn nữa, giữa các
triều đại phong kiến Việt Nam
khi đánh thắng các triều đại phong kiến Trung Quốc, sau đó cũng trở lại quan hệ
bình thường vì sự phát triển và phồn thịnh của mỗi nước. Việt Nam không có tính thù dai, mà truyền thống văn
hóa Việt Nam
là “đánh kẻ chạy đi không ai nỡ đánh người chạy lại”. Những người biết sai lầm,
sửa chữa thì nhân dân Việt Nam
bao giờ cũng đón nhận với tấm lòng rộng mở và bao dung. Chỉ những kẻ cố tình,
bảo thù, không nhìn thấy sai lầm của mình theo kiểu “cái nết đánh chết không
chừa” thì nhân dân Việt Nam kiến quyết “đánh kẻ chạy đi” đấy Vũ ạ. Vì vậy, hãy
mở mắt to ra để nhìn cho thấu, nhanh chóng hối cải, “quay đầu là bờ”, nếu không
sẽ “chết không có đất chôn”, nên nhớ thế Vũ nhé!
Apr 16, 2015
THEO VOI ĂN BÃ MÍA
Kính chào vợ, chồng
ông “nghệ sĩ” Vũ Linh và bà Nguyễn Thị Kim Chi, địa chỉ số 4 ngách 31/43 đường Xuân Diệu, quận Tây Hồ, Hà
Nội.
Trước hết, Tre Việt xin chúc ông bà luôn khỏe, có
cuộc sống bình an để thấy, tận hưởng sự đổi thay từng ngày của đất nước dưới sự
lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Thật lấy làm tiếc,
mấy ngày qua, trên mạng xã hội xuất hiện nhiều thông tin về việc ông, bà cho Công khai
hóa bức thư cũ - Hà Nội, ngày 31/12/2014 gửi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản
Việt Nam và đồng kính gửi ông Nguyễn Văn Thắng, Bí thư Quận ủy, Quận Tây Hồ, Hà
Nội. Nội dung bức thư ông, bà đã thể hiện nhiều lập trường, quan điểm nào là
góp ý vào bản Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 và một
số ý kiến về các sự kiện diễn ra vừa qua.
Về thủ tục pháp lý
chắc ông bà quá rõ? Bởi vì, ông, bà là người chủ của bức thư. Nhưng thưa! ông,
bà đã cố tình không chấp hành theo đúng quy định của pháp luật; gửi đơn, thư
phải từ dưới lên trên, mỗi cấp đều có khoảng thời gian nhất định để nghiên cứu
và trực tiếp trả lời công dân, nếu vượt quá thẩm quyền của mình thì cấp đó sẽ
hướng dẫn công dân gửi đơn, thư lên cấp có thẩm quyền cao hơn để giải quyết
theo đúng quy định của pháp luật.
Mặt khác, nếu ông,
bà vẫn còn là đảng viên thì trong sinh hoạt chi bộ có quyền phát biểu, bảo vệ,
thậm chí bảo lưu ý kiến cá nhân. Ý kiến trong sinh hoạt đảng cũng như các tổ
chức chính trị-xã hội khác, kể cả trong gia đình thiểu số phải phục tùng đa số
phải không ông, bà?
Đọc những lời ông,
bà viết trong thư, tôi thấy lúc còn trẻ ông, bà cũng có một “quãng đường” đi
theo tiếng gọi của Đảng, của Dân tộc đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ
Tổ quốc đấy chứ, đâu phải là kẻ bỏ đi!
Ông, bà Linh - Chi
thân mến! Nhìn ảnh của ông bà trên mạng có thể nói là rất “đẹp đôi”, “tâm đầu, ý hợp”, có được như vậy phải
chăng ông, bà đã được Đảng đổi đời từ cuộc sống nô lệ lên người làm chủ vận
mệnh của chính mình, dân tộc mình.
Đúng như Tố Hữu,
một nhà thơ cách mạng đã viết - Đảng là cuộc sống của tôi, mãi mãi đi theo
người. Từ thuở còn thơ, đời tôi chưa quen sóng gió, Đảng đã cho tôi lẽ sống
niềm tin,… bài thơ đã được phổ nhạc. Ông bà lúc còn trẻ, là đảng viên có khi
nào hát bài này chưa? Hiện tại do tuổi “già sức yếu”, ông, bà đã quên hết thảy
mọi việc, kể cả ai đã cho ta cuộc sống này! Thôi cũng chẳng trách thân phận làm
chi! Vì đó là tất yếu, quy luật của sinh tồn mà. Nhưng thật là đáng buồn, người
đã có những tháng, năm đứng trong hàng ngũ của Đảng, cầm súng chiến đấu trên
chiến trường nay lại theo “voi ăn bã mía” nói những điều phản quốc.
Trở lại bức thư của
ông, bà. Trước khi kèm nội dung bức thư, ông bà đã không quên đưa những vấn đề
bức xúc của xã hội vừa qua, như: chuyện Trung
Quốc xây dựng sân bay quân sự trên đảo Gạc Ma, chuyện chặt cây xanh giữa thủ đô
Hà Nội, chuyện lấp lấn sông Đồng Nai, v,v.
Thưa ông, bà! Kể ra ông, bà cũng có thời
gian rỗi đi gom góp được nhiều chuyện - đều là chuyện không hay, thế còn nhiều
chuyện nữa ở ngoài xã hội rất hay, như: việc làm tử tế của nhiều cá nhân; việc
Đảng, Nhà nước ta đã tỉnh táo, linh hoạt đấu tranh ngoại giao, tranh thủ sự
đồng tình, ủng hộ của cộng đồng quốc tế buộc Trung Quốc phải rút giàn khoan Hải
Dương-981 ra khỏi vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam; Việt Nam tổ chức thành
công Hội nghị Liên minh Nghị viện thế giới (IPU) 132 ở Hà Nội vừa qua mà báo,
đài đã đưa; trong đó còn có cả những ý kiến của các đoàn ca ngợi Việt Nam, v.v.
Chắc “con ngươi” của ông, bà có vấn đề, chỉ nhìn thấy “màu sám”, chẳng nhìn
thấy gam “màu hồng”. Nếu đó là sự thật, lời khuyên chân tình đến ông, bà nghệ
sĩ là, phải khẩn trương đi “viện” làm cuộc đại phẫu thuật để tránh bước theo
“chân voi”!!!
Bàn về những việc ông, bà nói, làm ở
đây có phải là cho Đảng, cho nước, cho dân không? Xin thưa mới đọc, mới nghe
thì lầm tưởng những việc đó đều xuất phát từ đáy lòng, tâm huyết của người con
đất Việt - Con Lạc cháu Hồng, nhưng không? Đó toàn là những điều mà các thế lực
thù địch có những lúc công khai, có những lúc ngấm ngầm chống phá cách mạng
Việt Nam. Thử hỏi ông, bà Quân đội nhân dân Việt Nam là do Đảng Cộng sản Việt
Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, giáo dục và rèn luyện hay nói cách khác
đó là con đẻ của Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa! Đâu phải
là con chung của ai mà chia sự lãnh đạo Quân đội cho nó. Do vậy, Hiến pháp năm
2013 xác định Đảng lãnh đạo Quân đội nhân dân Việt Nam là đúng đắn.
Vậy, lời khuyên khẩn thiết cho ông,
bà nghệ sĩ là, hãy lựa chọn chỗ ngồi cho “sáng” để tĩnh tâm suy nghĩ làm những
việc “chân, thiện, mỹ”, góp phần nhỏ bé của mình xây dựng quê hương, đất nước
ngày càng giàu đẹp, tránh bước tiếp con đường “theo voi ăn bã mía”, “theo đóm
ăn tàn”, rồi hổ danh với tiên tổ, con cháu chê cười và hổ thẹn vì việc làm tội
lỗi của ông, bà.
CÒN TIẾC NỖI GÌ CÁI THÂY MA CHẾT RỮA
Tre Việt - VOA tiếng Việt vài ngày trước có
bài: “Dời địa
điểm kỷ niệm vì không được treo cờ Việt Nam Cộng hòa”. Bài viết cho hay: Cộng
đồng người Mỹ gốc Việt đã phải hủy bỏ kế hoạch kỷ niệm ngày 30/4 tại một căn cứ
thủy quân lục chiến ở Nam California, sau khi hay tin họ không thể treo cờ Việt
Nam Cộng hòa tại đây. Bởi lẽ, ông Jason Johnston, phát ngôn viên của căn cứ
này, cho biết các quan chức tại trụ sở của lực lượng thủy quân lục chiến Mỹ nói
rằng: “lá cờ của miền Nam Việt Nam trước đây không thể được treo lên tại các cơ
quan liên bang vì Chính phủ Mỹ chỉ công nhận chính quyền Việt Nam hiện thời”.
Một số người Mỹ gốc Việt còn tiếc nỗi gì chế độ Việt Nam Cộng hòa mà đòi treo
cờ. Vì đây là chế độ bù nhìn, chỉ sống dựa vào sự viện trợ của Mỹ mà thôi. Đúng
vậy, R. Nixon còn nói thẳng với cố vấn đặc biệt của Nguyễn Văn Thiệu: “Các ông
hãy nhớ thật kỹ rằng: nếu không có viện trợ Mỹ thì Sài Gòn không thể tồn tại...,
không có ngân quỹ Mỹ thì Sài Gòn coi như chấm dứt”. Ðó là ngôn ngữ của người
biết mình có tư thế “ông chủ”, ngôn ngữ của người chi tiền. Chính vì nhận ra số
phận bù nhìn của mình, Nguyễn Văn Thiệu mới phải công khai thú nhận: “Mỹ còn
viện trợ thì chúng ta còn chống cộng”, “Nếu Hoa Kỳ không viện trợ cho chúng tôi
nữa thì không phải là một ngày, một tháng hay một năm mà chỉ sau ba giờ, chúng
tôi sẽ rời khỏi dinh Ðộc Lập”! Ấy thế mà, gần đến ngày 30/4 một số người Mỹ gốc
Việt còn luyến tiếc cái chế độ ấy, còn muốn treo cờ của Việt Nam Cộng hòa thì
thật chẳng khác nào ôm cái thây ma chết rữa vậy! Thật nực cười. Thực tế chứng tỏ
rằng, sự sụp đổ của chính quyền Sài Gòn vào tháng 4/1975, trước hết do tính
chất bù nhìn và mục đích phản dân tộc của nó. Ðó là một trong các nguyên nhân
đưa tới quyết định sai lầm về sách lược chính trị, chiến thuật quân sự của
Nguyễn Văn Thiệu. Thất bại ở Buôn Ma Thuột vào tháng 3/1975 nhanh chóng làm đảo
lộn thế trận của chính quyền bù nhìn này trên toàn miền Nam . Một đội
quân có hơn một triệu người, ở thời điểm năm 1975 được đánh giá đứng thứ tư
trên thế giới về lục quân, không quân, đứng thứ chín về hải quân,... gấp đối
phương hai lần về quân số, bốn lần về xe tăng, hơn tuyệt đối về không quân và
hải quân, đã nhanh chóng tan rã và thất bại trong chưa đầy hai tháng. Vì tính
chất phi nghĩa của sự tồn tại mà đội quân ấy đã thất bại. Nói như GS N. Chomsky
thì đó là “đội quân thiếu sự ủng hộ của nhân dân (nhất là ở nông thôn)”, hay
theo cách nói của W. Colby - người từng đứng đầu phái bộ CIA tại miền Nam Việt
Nam - đó là đội quân được Mỹ cho mọi thứ cần thiết, “trừ sự dũng cảm”!
Apr 14, 2015
LÀM GÌ CÓ QUÂN ĐỘI PHI CHÍNH TRỊ
Tre Việt - Mới
đây, cái gọi là “Hội Nhà báo độc lập Việt Nam” phát tán tài liệu “đã đến lúc
nhìn về Quân đội phi đảng phái” với nội dung kích động “phi chính trị hóa quân
đội đã trở thành yêu cầu bức thiết, chính đáng cho sự tồn vong của đất nước”(!)
Lạ thật, không
biết họ căn cứ vào đâu mà đưa ra những luận điệu thật nực cười. Trong khi đó, cả
lý luận và thực tiễn lịch sử đều cho thấy: trong xã hội có giai cấp, mọi giai
cấp cầm quyền đều trực tiếp nắm quân đội và sử dụng làm công cụ để bảo vệ lợi
ích giai cấp mình. Ở các nước tư bản chủ nghĩa, quân đội là một bộ phận cấu
thành của nhà nước, được nhà nước tư sản lập ra và nuôi dưỡng, nên quân đội bao
giờ cũng là một lực lượng chính trị, mang bản chất của nhà nước tư sản. Mặc dù các
nước tư bản chủ nghĩa phần lớn thực hiện chế độ đa đảng; các đảng luôn đấu
tranh với nhau để giành quyền lãnh đạo, nhưng tính nhất nguyên về chính trị của
nhà nước tư sản không vì thế mà mất đi; bất kể chính đảng nào lên nắm chính
quyền thì quân đội các nước này vẫn bảo vệ quyền lợi của giai cấp tư sản.
Ở Việt Nam, lịch
sử hơn 70 năm xây dựng, chiến đấu và trưởng thành của Quân đội nhân dân luôn
gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngay từ ngày đầu thành
lập, “Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân” đã được tổ chức theo nguyên
tắc lấy chi bộ đảng làm hạt nhân lãnh đạo; bên cạnh người đội trưởng, có chính
trị viên làm công tác chính trị. Trải qua nhiều lần thay đổi cơ chế lãnh đạo,
nhưng nguyên tắc Đảng lãnh đạo Quân đội tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt luôn
được quán triệt. Nhờ đó, quân đội ta không ngừng trưởng thành, lớn mạnh, đã
đánh thắng hai đế quốc lớn là Pháp và Mỹ, góp phần to lớn vào sự nghiệp giải
phóng dân tộc, cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Hiện nay, công
cuộc đổi mới đất nước của chúng ta đã thu được những thành tựu rất đáng khích
lệ, đời sống của nhân dân ngày càng được nâng cao; vị thế của Việt Nam trên
trường quốc tế ngày càng được khẳng định; quốc phòng - an ninh không ngừng được
củng cố và tăng cường. Với chủ trương giải quyết các vấn đề mâu thuẫn, tranh
chấp thông qua đàm phán hòa bình, song Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm, đầu tư để
từng bước hiện đại hóa quân đội, có nhiều quân, binh chủng tiến thẳng lên hiện
đại, có đủ khả năng để bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ thiêng
liêng của Tổ quốc.
Thực tiễn lịch
sử đã cho thấy, bài học về sự sụp đổ của chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và Đông Âu luôn
nhắc nhở chúng ta phải kiên định quan điểm: Đảng lãnh đạo quân đội tuyệt đối,
trực tiếp về mọi mặt là nguyên tắc cơ bản, bất di bất dịch. Mọi suy nghĩ và
hành động xa rời sự lãnh đạo của Đảng đều dẫn đến Quân đội sẽ mất phương hướng
hành động, biến chất về chính trị, không còn là công cụ bạo lực sắc bén của
Đảng, Nhà nước để bảo vệ Tổ quốc, bảo vệ nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa.
Vì thế, không có một quân đội nào "đứng ngoài chính trị", là phi chính trị, tài liệu này cũng chỉ là sự lừa bịp, dối trá, hòng a dua theo phong trào chống phá của các thế lực thù địch, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ ta mất cảnh giác, phai nhạt lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mất phương hướng, dẫn đến suy giảm sức mạnh chiến đấu, mất khả năng bảo vệ Tổ quốc. Nhưng đúng như các cụ ta đã nói “không biết thì dựa cột mà nghe” là không có sai đâu, hỡi “Hội Nhà báo độc lập”./.
Vì thế, không có một quân đội nào "đứng ngoài chính trị", là phi chính trị, tài liệu này cũng chỉ là sự lừa bịp, dối trá, hòng a dua theo phong trào chống phá của các thế lực thù địch, nhằm làm cho cán bộ, chiến sĩ ta mất cảnh giác, phai nhạt lòng tin vào sự lãnh đạo của Đảng, mất phương hướng, dẫn đến suy giảm sức mạnh chiến đấu, mất khả năng bảo vệ Tổ quốc. Nhưng đúng như các cụ ta đã nói “không biết thì dựa cột mà nghe” là không có sai đâu, hỡi “Hội Nhà báo độc lập”./.
Apr 13, 2015
BBC MỞ MẮT NHÌN CHO RÕ, CĂNG TAI NGHE CHO THẤU
TreViêt - Trong năm 2015, Tổng Bí
thư Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ đi thăm Trung Quốc và Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Mượn
gió bẻ măng, ngày 04/4/2015 (tức thứ Bảy) Đài BBC tiếng Việt có đăng một số tin
bình luận cho là của giới phân tích tại Hà Nội và nhà nghiên cứu quan hệ Việt –
Trung, nguyên Tổng Lãnh sự Việt Nam tại Trung Quốc, ông Dương
Danh Dy nói:
nào là “chuyến đi bất ngờ” không có trong kế hoạch; không biết hai bên bàn việc
gì; mục đích, động cơ chuyến đi thế nào? Và quan trọng hơn là tại sao lại đi
Trung Quốc trước??? Đài BBC tiếng Việt có vẻ đầy hoài nghi!
Thật nực cười! Đây là vấn đề thuộc
lĩnh vực đối ngoại của cả một quốc gia đâu phải là chuyện đi chợ mua “mớ rau,
con tép” của nhà các “người” mà thích đi lúc nào thì đi? Để chuẩn bị cho một
chuyến công du của một vị lãnh đạo cấp cao của một quốc gia dù là nước nhỏ hay
một cường quốc cũng phải tuân thủ luật pháp quốc tế và nghi thức ngoại giao của
mỗi nước. Trước chuyến đi hai nước đã phải triển khai không ít các cuộc họp ở
các cấp để trao đổi, thống nhất nghi thức, thời gian, nội dung, chương trình làm
việc…; kể cả chuyện bảo đảm hậu cần, an ninh cho Đoàn.
Và sự thật đã rõ, Đoàn cán bộ cấp
cao của Đảng Cộng sản Việt Nam do Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đẫn đầu đã chính
thức sang thăm Trung Quốc từ ngày 07/4 đến 10/4/2015. Chuyến thăm của Đoàn được
Đảng Cộng sản, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc đón tiếp nồng nhiệt, với nghi
thức cao nhất của quốc gia. Có thể nói nghi thức đón Đoàn diễn ra hết sức hoành
tráng và trang nghiêm, cờ hoa rực rỡ hai bên đường. Cùng với đó là những nụ
cười thân thiện, cái vẫy tay, bắt tay đầm ấm, hữu nghị đã được vun đắp trong 65
năm qua. Truyền thống quan hệ làng giềng, hữu nghị Việt Nam – Trung Quốc được
Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông đặt nền móng và được Đảng Cộng
sản và nhân dân hai nước tiếp tục vun đắp cho thế hệ tương lai.
Trong các cuộc hội đàm của Đoàn với
nước chủ nhà đều được các phóng viên quốc tế và phóng viên của hai nước theo
dõi, phản ánh trên các phương tiện thông tin đại chúng, chẳng nhẽ BBC vẫn chưa
nhìn, nghe thấy sao? Hai
bên đã thảo luận nhiều vấn đề, đặc biệt trong đó có vấn đề Biển Đông. Hai bên
đã có thông cáo chung đề nghị BBC hãy tìm đọc.
Còn vì sao Đoàn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc trước khi Đoàn sang thăm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng là điều dễ hiểu. Đây là quan hệ hữu nghị được xây đắp từ năm 1950. Hiện tại, Việt Nam – Trung Quốc là đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện. Những năm qua, lãnh đạo cấp cao của hai đảng, hai nhà nước luôn có chuyến viếng thăm lẫn nhau. Tháng 11/2010, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã có chuyến thăm Trung Quốc và hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam ngày 31/10/2005.
Còn vì sao Đoàn của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng thăm Trung Quốc trước khi Đoàn sang thăm Hợp chủng quốc Hoa Kỳ cũng là điều dễ hiểu. Đây là quan hệ hữu nghị được xây đắp từ năm 1950. Hiện tại, Việt Nam – Trung Quốc là đối tác, hợp tác chiến lược toàn diện. Những năm qua, lãnh đạo cấp cao của hai đảng, hai nhà nước luôn có chuyến viếng thăm lẫn nhau. Tháng 11/2010, Tổng Bí Thư Nguyễn Phú Trọng đã có chuyến thăm Trung Quốc và hội kiến với Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Hồ Cẩm Đào. Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa Hồ Cẩm Đào sang thăm Việt Nam ngày 31/10/2005.
Tuy
nhiên, gần đây, Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương-981 trái phép trong vùng
đặc quyền kinh tế của Việt Nam, lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước chưa gặp
nhau. Bởi vậy, chuyến thăm lần này của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng,
nhằm “củng cố và duy trì sự ổn định trong quan hệ song phương, mở đường cho
việc giải quyết các tranh chấp giữa hai nước và góp phần vào việc duy trì một
môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực".
Đối với Hoa Kỳ, không phải đương
nhiên chính quyền nước này lại mời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng - nhà lãnh đạo
cao cấp của Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng cầm quyền duy nhất ở Việt Nam mà bấy
lâu nay Oa-sinh-tơn không thể chấp nhận - sang thăm Hoa Kỳ vào thời điểm hai
nước kỷ niệm 20 năm quan hệ ngoại giao, Việt Nam Kỷ niệm tròn 40 năm, giải
phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Phải chăng lời mời này ngấm ngầm gửi đến
Việt Nam một thông điệp: Hoa Kỳ chấp nhận chế độ chính trị ở Việt Nam do Đảng
Cộng sản Việt Nam lãnh đạo?
Dù là mục đích gì đi nữa, chuyến
thăm này của Tổng Bí thư Đảng Cộng Sản Việt Nam cũng gửi thông điệp ra thế
giới, nhất là các nước phương Tây rằng: Đảng Cộng sản Việt Nam - Nhà nước Việt
Nam sẵn sàng đối thoại với tất cả các nước, các tổ chức chính trị, tổ chức xã
hội trên thế giới là, vì hòa bình, tiến bộ xã hội, vì độc lập dân tộc và vì một
Việt Nam cường thịnh.
Việt Nam sẵn sàng khép lại quá khứ
để hướng về tương lai tốt đẹp hơn. Bởi vậy, trong chuyến công du đến Hoa Kỳ sắp
diễn ra của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng cũng như các chuyến viếng thăm lịch sử
đã từng diễn ra trước đây của Chủ tịch tịch nước Nguyễn Minh Triết (tháng
6/2007) và Chủ tịch Trương Tấn Sang (tháng 7/2013), Việt Nam sẽ tiếp tục thảo
luận nhiều vấn đề hai nước cùng quan tâm, như: chính
trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ, giáo dục, giao lưu nhân
dân và các vấn đề khác. Về hợp tác đa phương, hai bên chia sẻ những lợi ích
chiến lược trong việc thúc đẩy xây dựng Cộng đồng ASEAN và củng cố vai trò
trung tâm của ASEAN trong các cấu trúc khu vực đang định hình; đồng thời, tiếp
tục hợp tác trong các diễn đàn khu vực như Cấp cao Đông Á (EAS), Diễn đàn Hợp
tác Kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC), Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF).
Thăm Trung Quốc trước hay Hoa Kỳ trước
không phải là vấn đề quan trọng, quan trọng hơn, đó là vị thế của Đảng Cộng sản
Việt Nam trên trường quốc tế!