May 13, 2015

VIỆT NAM CÓ ĐẦY ĐỦ CƠ CHẾ ĐỂ THỰC HIỆN DÂN CHỦ

Tre Việt - Ngày 11-5-2015, RFI có bài “Việt Nam cần một khung pháp lý cho tổ chức xã hội dân sự độc lập” của tác giả Anh Vũ. Nội dung bài viết cổ vũ cho hoạt động của cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự độc lập”, kêu gọi Nhà nước Việt Nam thừa nhận và có khung pháp lý cho các “tổ chức” này hoạt động. Nhưng xin thưa, Việt Nam hiện nay có đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để mọi người dân, mọi tổ chức, đoàn thể xã hội phát huy, thực hiện quyền làm chủ của mình, mà không cần đến cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự” gì đó. Vì:
          Chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng với mục tiêu là xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa “cao gấp triệu lần dân chủ tư sản”, như V.I. Lê-nin nói. Đó là một nền dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội có thể làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên. Đó là mục tiêu cao cả của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, là nhiệm vụ lịch sử mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đang thực hiện. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 đã quy định các cách thức, cụ thể là “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Nguyên tắc này được thể hiện nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp, từ chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đến các thiết chế trong bộ máy nhà nước.
Dân chủ trực tiếp, là cách thức người dân trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình mà không phải thông qua bất kỳ cá nhân hay tổ chức đại diện nào. Hiến pháp năm 2013 quy định nhiều nội dung mà Nhân dân có thể thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, cụ thể như: Công dân có quyền biểu tình (Điều 25); Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 27); Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (Điều 28); Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29), v.v.
          Dân chủ đại diện, là cách thức Nhân dân thông qua các cơ quan đại biểu do mình bầu ra và trao quyền, như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước để thực hiện ý chí, nguyện vọng của mình. Cơ quan nhà nước được nhân dân ủy quyền không chỉ là các cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà còn bao gồm cả các cơ quan trong hệ thống hành pháp và tư pháp; các cơ quan này thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước để điều hành, quản lý xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân. Tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, với quy định này đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân và Nhân dân ủy thác quyền lực đó cho Quốc hội. Tại Điều 113 Hiến pháp 2013 quy định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương…”, với quy định này thì Nhân dân sẽ thông qua Hội đồng nhân dân để thực hiện quyền làm chủ của mình. Và các cơ quan này, được hình thành từ việc bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Còn đối với các cơ quan khác của Nhà nước do Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp lập ra, Nhân dân cũng đã gián tiếp ủy thác quyền lực và thông qua những cơ quan này, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Không chỉ có thế, để phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân, ngày 18-02-1998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ, Chính phủ ban hành các nghị định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp nhà nước.
          Với hệ thống luật pháp, hình thức, cách thức đó, thì quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân ngày càng được phát huy đầy đủ, hiệu quả, nhân dân thực hiện tốt việc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong mọi hoạt động ở địa phương, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, đơn vị hành chính, sự nghiệp, v.v. Qua đó, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển đất nước mà không cần phải có các “tổ chức xã hội dân sự” như RFI đề cập./. 

May 6, 2015

CẦN “TẨY NÃO” KẺ MANG LÒNG HẬN THÙ

Tre việt - Trong khi tại Thành phố mang tên Bác - Thành phố Hồ Chí Minh chúng ta long trọng tổ chức lễ kỷ niệm 40 năm Ngày Chiến thắng 30/4, thì ngược lại, một số rất ít người mang dòng máu đỏ, da vàng tập trung trước cửa Đại sứ quán Việt Nam tại Mỹ có một số hành vi, lời nói phản động, phản quốc. Chúng coi ngày 30/4 là ngày quốc hận. Đây là những người mang nặng tâm lý bại trận, có ý đồ chống phá Đảng Cộng sản và chế độ xã hội chính trị ở Việt Nam. Vì Đảng Cộng sản Việt Nam đã lấy đi “quyền sinh, quyền sát, quyền ngồi mát ăn bát vàng,... và quyền bám gót dày Mỹ” của họ.
Bất chấp sự thật lịch sử, chúng đổi trắng thay đen, đổ lỗi cho Đảng Cộng sản Việt Nam không “khôn khéo, mềm mỏng hơn” trong quan hệ với Mỹ và cố tình quên rằng chính Mỹ, Diệm đã phá hoại Hiệp định Giơ-ne-vơ; trong đó không chấp nhận Tổng tuyển cử dân chủ trên phạm vi cả nước nhằm thống nhất đất nước trong hòa bình. Nguyện vọng chính đáng đó của nhân dân ta đâu có thực hiện được?
Thay vào đó, bọn phản động tay sai đã “mời” quân viễn chinh Mỹ ồ ạt vào Nam Việt Nam để bảo vệ, giúp chúng xây dựng một chính quyền đi ngược lại lợi ích dân tộc và nguyện vọng của đồng bào. Sau hơn 20 năm, Mỹ, ngụy ra sức xây dựng, củng cố chính quyền hòng chia cắt lâu dài đất nước ta, nhưng chúng đã bị thất bại thảm hại. Vậy mà, có kẻ còn biện hộ cho rằng đây là cuộc “chiến tranh chống Cộng sản Bắc Việt xâm lăng miền Nam nhưng do chính quyền Việt Nam Cộng hòa kém cỏi nên đã thảm bại”. Có kẻ thì tung ra luận điệu “đây là cuộc nội chiến” - chiến tranh giữa những người Việt Nam - cuộc chiến giữa hai miền Nam - Bắc Việt Nam, v.v.
 Khỏi phải nói những luận điệu như thế là phi lý, phi lịch sử! Phải chăng những người này đã bị “tẩy não” nên không phân biệt được trắng đen, phải trái?
Vậy Tre Việt - xin trích dẫn một số nhận xét, đánh giá về cuộc chiến tranh này của giới chính trị, quân sự, học giả Mỹ.
Những người Mỹ tiến bộ phản đối chiến tranh xâm lược khi nghe tin Việt Nam đại thắng đã coi thắng lợi của nhân dân Việt Nam là “thắng lợi vô song của lòng yêu nước và trí tuệ con người”; trong đó có rất nhiều người đã tìm được câu trả lời cho “Sự thất bại cay đắng của Mỹ ở Việt Nam”.
Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, Mắc Na-ma-ra đã thú nhận trong cuốn hồi ký (nhà xuất bản Random house (Mỹ) ra mắt tháng 4-1975) của mình, rằng: đây là “tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam”, “chúng tôi (tức Chính phủ Mỹ - TG) đã sai lầm, sai lầm khủng khiếp”. Đồng thời, Ông chỉ ra việc không nhận thức đúng đắn sức mạnh truyền thống của dân tộc Việt Nam được nhân lên gấp nhiều lần dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh, v.v.
Trong cuốn Giải phẫu một cuộc chiến tranh của Giáo sư Sử học, Tiến sĩ Triết học Mỹ, Ga-bri-en Côn-cô đã chỉ ra nguyên nhân tạo nên sức mạnh đoàn kết của Dân tộc Việt Nam. Đó là: “Đường lối quần chúng và sự động viên của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa tỏ ra là một phương pháp rất có hiệu quả…”. Ngoài tính chất ưu việt của chế độ xã hội chính trị - chế độ xã hội chủ nghĩa được thể hiện qua việc tổ chức và tiến hành chiến tranh, huy động toàn dân, toàn lực để giành chiến thắng còn một yếu tố cực kỳ quan trọng là Quân đội nhân dân Việt Nam có đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy luôn phát huy dân chủ, thân thiết đối với binh sĩ của mình như người cha, người anh, người bạn, v.v.
Tháng 11-2000, Tổng thống Mỹ B. Clin-tơn sang thăm chính thức Việt Nam đã nói: “Nhiều người ở Mỹ đã hiểu sai, lầm tưởng rằng họ sang chiến đấu để giúp người Việt Nam được tự do và tự quyết”, v.v.
Ngay trong Lễ kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30/4 năm nay tại thành phố Hồ Chí Minh nhiều tờ báo lớn của thế giới đưa tin đậm nét, như: AFP đưa hàng tít lớn kèm tường thuật: “Việt Nam đang kỷ niệm 40 năm kết thúc chiến tranh với một lễ duyệt binh,..”. Thông tin này còn được nhiều tờ báo lớn khác đăng tải lại, như: Aljazeera tại Trung Đông, Business Insider tại Mỹ, Inquirer của Philippines, Bưu điện Bangkok tại Thái Lan, SBS và Sky news tại Úc, v. v.
Ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong hơn 30 năm đổi mới, đời sống của nhân dân được nâng cao, chủ quyền, lãnh thổ được giữ vững. Việt Nam đã có quan hệ với gần 200 quốc gia; trong đó Việt Nam - Hoa Kỳ đã trở thành đối tác toàn diện của nhau, mang lại nhiều lợi ích cho hai nước. Tới đây, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng có chuyến công du tới Mỹ theo lời mời của chính quyền B. Ô-ba-ma. Vậy mà, một số kẻ lưu vong trên đất Mỹ đã hiểu sai giá trị lịch sử của Ngày Chiến thắng 30/4 và còn có những hành vi trái với đạo lý.
Để cho những kẻ lưu vong kia hiểu đúng sự thật, đánh giá đúng vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, Tre Việt kính đề nghị đồng bào là con rồng, cháu tiên hãy đoàn kết góp công, góp sức “phục hồi” bộ não cho những kẻ lưu vong trên đất Mỹ, Ca-na-đa và một số nước phương Tây khác trở về bình thường để nhớ về đất tổ, “Uống nước, nhớ nguồn” như lời căn dặn của tiên tổ! 

Bùi Tín - kẻ tráo trở, xuyên tạc lịch sử

Tre Việt - Bùi Tín, sinh năm 1927, là con của cố Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (cụ Bùi Bằng Đoàn). Thủa trẻ, ông ta được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện học tập, phấn đấu và từng bước trưởng thành với quân hàm đại tá, nhà báo, Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân Việt Nam. Năm 1990, khi được cấp trên cử sang dự hội nghị hằng năm của báo Nhân đạo (thuộc Đảng Cộng sản Pháp), Bùi Tín đã trốn ở lại để “ăn nhờ, ở đậu” ở nước mẹ Đại Pháp. Từ đó đến nay, Bùi Tín luôn tự cho mình là “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”. Dưới cái mác nhà báo tự do, Bùi Tín đã trở thành công cụ phục vụ cho lợi ích hèn hạ của các thế lực chống cộng, ra sức xuyên tạc lịch sử, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Nhưng “bàn tay không che nổi mặt trời”, bộ mặt tráo trở của Bùi Tín đã bị nhân dân Việt Nam, những người yêu chuộng công lý, hòa bình trên thế giới nhận rõ và lên án. Trong con mắt của họ, Bùi Tín là kẻ có tâm địa xấu xa, mưu toan “cõng rắn, cắn gà nhà”, “rước voi dày mả tổ”, phản bội lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và dân tộc Việt Nam.
          Vào ngày 30-4-2015, trong khi cả dân tộc Việt Nam hân hoan chào mừng kỷ niệm 40 năm ngày Chiến thắng (30-4-1975/30-4-2015), Bùi Tín lại trơ tráo đưa ra bài viết “Về ngày 30/4: Chỗ đứng của Đảng Cộng sản phải là vành móng ngựa” và được BBC nhanh nhảu đăng tải. Trong bài viết, Bùi Tín đã “cố gắng độc lập suy nghĩ bằng đầu óc tỉnh táo,…” và “chỉ lấy sự thật và lẽ phải làm mục tiêu”,… để đi đến kết luận là “Đảng Cộng sản Việt Nam đã liên tiếp phạm phải sai lầm này đến sai lầm khác”. Đó là: “đã sai lầm chọn chủ nghĩa Mác – Lê-nin,…”; “… chủ động gây nên cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn,… “; “đày đọa, trả thù hàng chục vạn viên chức và sĩ quan Việt Nam Cộng hòa,…”, v.v. Cần phải khẳng định ngay rằng, đây là hành động trơ tráo, vô liêm xỉ, trắng trợn xuyên tạc sự thật lịch sử của Bùi Tín - kẻ trở cờ, bán nước hại dân. Vì sao nói vậy?
          Thứ nhất, về cái gọi là sai lầm “lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lê-nin”(!) Cần khẳng định ngay rằng, sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự kết hợp đúng đắn giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như vậy, cơ sở ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam mang tính khách quan, xuất phát từ đòi hỏi thực tiễn của cách mạng Việt Nam, có cơ sở chính trị, xã hội vững chắc. Vốn là người đã được nghiên cứu kỹ về mục tiêu, lý tưởng, cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng, tự nguyện viết đơn xin vào Đảng, có “44 năm ở trong Đảng Cộng sản”, là “Đại tá, nhà báo” chắc Bùi Tín chẳng bị mù, hay thiểu năng trí tuệ mà không biết. Từ năm 1930 đến nay, đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phất cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, lãnh đạo nhân dân phát huy sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước chân chính, của tinh thần đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, “đánh Pháp, đuổi Nhật”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đóng góp quý báu vào phong trào giải phóng dân tộc, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Việt Nam trở thành biểu tượng của nhân loại tiến bộ trong công cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất công do chủ nghĩa thực dân cũ và mới gây ra. Đây là sự thật lịch sử không thể bác bỏ! Từ ngày 30-4-1975 đến nay, kiên trì và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”, thành tựu về xóa đói giảm nghèo, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, thế và lực mới của Việt Nam trên trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Trong vòng 40 năm (1975 - 2015), đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. Từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi những cuộc chiến tranh xâm lược và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thực dân, đế quốc, Việt Nam đã thoát ra khỏi tình trạng nước nghèo, trở thành nước phát triển trung bình, với tốc độ tăng trưởng GDP gần 7%/năm, thu nhập bình quân 2.200 đôla/người/năm (năm 2015); có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 54 dân tộc anh em luôn đoàn kết, giúp nhau cùng tiến bộ, chung sức dựng xây và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam đã có quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ; là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước là ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc; là thành viên có uy tin và trách nhiệm với nhiều tổ chức lớn trong khu vực và trên thế giới, v.v. Việt Nam là điểm sáng trong thu hút các nguồn vốn ODA, FDI từ các thể chế kinh tế, tài chính lớn của thế giới. Việt Nam luôn đồng hành cũng các dân tộc, quốc gia để bảo vệ hòa bình, xây dựng môi trường quốc tế hòa bình, ổn định và cùng nhau phát triển.
Thứ hai, về cái gọi là “… chủ động gây nên cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn”(!) Bùi tín biết rõ, sau khi Mỹ thất bại ở Việt Nam đã có nhiều nhà lịch sử, nhà khoa học, nhiều chính khách, tướng lĩnh trên thế giới, trong đó có cả của nước Mỹ đã đi tìm nguyên nhân. Câu trả lời mà họ nhận được là: Mỹ thua, bởi Mỹ đã tiến hành cuộc chiến tranh xâm lược phi nghĩa. Việt Nam thắng, bởi Việt Nam đã tiến hành cuộc chiến tranh bảo vệ Tổ quốc chính nghĩa. Đó là sự thật khách quan.
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”, thực dân Pháp và can thiệp Mỹ buộc ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, kết thúc chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt nam (năm 1954); trong đó quy định rõ, năm 1956, Việt Nam sẽ tổ chức tổng tuyển cử thống nhất đất nước. Tuy nhiên, với âm mưu thế chân Pháp, xâm lược Việt Nam, đế quốc Mỹ đã dựng lên chính quyền tay sai Ngô Đình Diệm ở miền Nam nhằm chia cắt Việt Nam thành hai miền, có hai chế độ khác nhau. Hiệp định Giơ-ne-vơ vừa ký, chưa ráo mực, Mỹ - Diệm đã ra sức đàn áp, khủng bố nhân dân và chiến sĩ cách mạng miền Nam bằng súng, đạn và máy chém. Đế quốc Mỹ đã trực tiếp tiến hành chiến tranh xâm lược Việt Nam. Nền độc lập, thống nhất dân tộc Việt Nam lại đứng trước một thử thách to lớn. Quyết không chịu mất nước, không chịu làm nô lệ, “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý đó không bao giờ thay đổi”, cả dân tộc Việt Nam lại đứng lên “sẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước”. Từ năm 1954 đến 30-4-1975, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, cả dân tộc Việt Nam ra trận đánh bại hết chiến lược chiến tranh này, đến chiến lược chiến tranh khác của đế quốc Mỹ. Thất bại của chiến dịch Lai-nơ-bếch-cơ, sử dụng pháp đài bay B.52, ném bom Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc Việt Nam, nhằm “đưa Hà Nội, miền Bắc trở về thời kỳ đồ đá” đã buộc Mỹ phải ký Hiệp định Pari (1973), rút quân về nước. Mỹ đã “cút”, nhưng ngụy chưa “nhào”. Với chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh”, đế quốc Mỹ đã đổ đô-la, vũ khí và hệ thống cố vấn quân sự vào miền Nam Việt Nam, âm mưu biến nơi đây thành thuộc địa kiểu mới của chúng. Để đánh cho “ngụy nhào”, đập tan chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” của đế quốc Mỹ, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, quân và dân Việt Nam đã liên tục tiến công và nổi dậy đánh tan hệ thống ngụy quân, ngụy quyền trên khắp miền Nam. Sau chiến thắng Phước Long (1974), thời cơ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước đã xuất hiện rõ. Mùa Xuân 1975, cuộc Tổng tiến công và nổi dậy của quân và dân ta mở đầu bằng đòn điểm huyệt Buôn Ma Thuột, phát triển đến chiến dịch Huế - Đà Nẵng và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử. Ngày 30-4-1975, tổng thống của cái gọi là Việt Nam cộng hòa Dương Văn Minh tuyên bố đầu hàng vô điều kiện, miền Nam sạch bóng quân thù, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Thời khắc này là mốc son chói lọi của thời đại Hồ Chí Minh trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Điều này chắc Bùi Tín biết rõ và nhớ lắm. Ông ta trước đây từng nhận vơ là “sĩ quan cao cấp, nhà báo đầu tiên vào dinh Độc Lập” mà(!) Và cũng chính ông ta đã đăng nhiều bài viết trên Báo Quân đội nhân dân, Báo Nhân Dân để ca ngợi chiến thắng của dân tộc Việt Nam. Thế mà, bây giờ chính ông ta lại phủ nhận điều đó. Đây chỉ có thể là hành động của những kẻ “trở cờ”, phản bội lại lợi ích của dân tộc, nhằm phục vụ cho những thế lực chống cộng. Sau ngày Chiến thắng (30-4-1975), có không cái gọi là “cuộc tắm máu”; sự ngược đãi những sĩ quan, nhân viên của chế độ cũ,… như Mỹ đã tuyên truyền và đến giờ Bùi Tín “sủa lại”? Không, không và không bao giờ có điều đó! Những luận điệu trên là phi thực tế, phi lịch sử, nhằm lừa bịp, kích động, bôi xấu bản chất của chế độ mới - chế độ xã hội chủ nghĩa.

Thế giới có câu châm ngôn, đại thể là: ai bắn vào lịch sử bằng súng lục, kẻ đó sẽ nhận ở tương lai bằng đại bác. Là một kẻ trở cờ, phản bội dân tộc, xuyên tạc, bôi đen lịch sử, chà đạp lên anh linh của hàng triệu người con ưu tú đã ngã xuống vì độc lập, thống nhất của dân tộc Việt Nam, Bùi Tín đã và đang “cõng rắn, cắn gà nhà”, “rước voi dày mả tổ”, nhất định bị nhân dân vạch mặt, lên án./. 

May 3, 2015

USCIRF CHỦ QUAN, ÁP ĐẶT

Tre Việt - Ngày 30-4, VOA tiếng Việt với bài: “Việt Nam bị đề nghị trở lại danh sách cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo” của Trà My. Bài viết cho biết: Ủy hội Hoa Kỳ Bảo vệ Tự do Tôn giáo trên Thế giới (USCIRF) trong phúc trình thường niên 2015 công bố hôm 30-4 nêu rõ: “dù có một số tiến bộ, nhưng nhà cầm quyền Việt Nam vẫn tiếp tục giới hạn chặt chẽ các sinh hoạt tôn giáo độc lập”.  USCIRF đề nghị Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ liệt kê Việt Nam trở lại danh sách cần đặc biệt quan tâm về tự do tôn giáo trên thế giới (CPC).
 Đề nghị của USCIRF như trên hoàn toàn không có căn cứ. Thật vậy, Việt Nam là một quốc gia đa tín ngưỡng và tôn giáo với sự hiện diện của hầu hết các tôn giáo lớn trên thế giới. Tôn giáo Việt Nam rất đa dạng, với sự hiện diện của cả các tôn giáo được truyền từ ngoài vào, như: Phật giáo, Công giáo, Tin lành; có tôn giáo hình thành trong nước, như: Cao đài, Phật giáo Hòa Hảo; nhiều tôn giáo có bề dày lịch sử, như: Phật giáo, Hồi giáo cũng như có tôn giáo mới phát triển tại Việt Nam, như: Cao Ðài, Baha'i, v.v. Người nước ngoài sinh sống tại Việt Nam, khách du lịch khi đến Việt Nam đều rất ngạc nhiên và ấn tượng trước đời sống tín ngưỡng, tôn giáo phong phú, sinh động tại đây với gần 9.000 lễ hội tín ngưỡng dân gian mỗi năm, người dân Việt Nam đi lễ chùa, đi lễ tại nhà thờ thường xuyên và các lễ hội tín ngưỡng đều có sự tham gia của đông đảo người dân. Những tín ngưỡng truyền thống lâu đời của đại đa số người dân Việt Nam, như: tôn thờ tổ tiên, tưởng niệm và tôn vinh các anh hùng trong lịch sử dựng nước và giữ nước, thờ cúng thần thánh, các biểu tượng tâm linh,... đã phản ánh đầy đủ sự phong phú và sinh động của đời sống tín ngưỡng, tôn giáo tại Việt Nam. Thực tế hiện nay, Việt Nam có 38 tổ chức tôn giáo và 01 pháp môn tu hành được Nhà nước công nhận. Khoảng 95% dân số trên tổng số 90 triệu dân Việt Nam có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo; trong đó, đại đa số thực hành tín ngưỡng dân gian và trên 24 triệu tín đồ của các tôn giáo khác nhau, gồm 11 triệu người theo đạo Phật; 6,5 triệu người theo đạo Công giáo; 2,5 triệu người theo đạo Cao đài; 1,5 triệu người theo đạo Tin lành; trên 1,3 triệu người theo Phật giáo Hòa hảo; khoảng 78.000 người theo đạo Hồi; 7.000 người theo đạo Baha'i, v.v. Số lượng cơ sở thờ tự tại Việt Nam có khoảng 25.000 và khoảng 83.000 chức sắc tôn giáo, 250.000 chức việc, 46 trường đào tạo chức sắc tôn giáo. Số lượng các cơ sở đào tạo chức sắc các tôn giáo - Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao Ðài và những tôn giáo khác - tăng lên đáng kể trong những thập kỷ vừa qua, v.v. Tại khu vực Tây Bắc, hiện nay có gần 200.000 tín đồ, trong đó hầu hết là người dân tộc thiểu số với 90% là người Mông. Trong thời gian qua, chính quyền các cấp đã tạo điều kiện cho đồng bào theo đạo Tin lành sinh hoạt tôn giáo tại gia đình hoặc tập thể theo điểm nhóm. Ðến nay, đa số các điểm nhóm Tin lành tại các tỉnh Tây Bắc sinh hoạt bình thường, trong đó có hơn 400 điểm nhóm đăng ký với chính quyền. Thực tế, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được bảo đảm tốt tại khu vực Tây Nguyên, được dư luận quốc tế ghi nhận. Hiện tại, ở đây có khoảng 448.000 tín đồ, trong đó đại bộ phận là người dân tộc thiểu số, đang sinh hoạt tại 201 chi hội và 1.331 điểm nhóm đăng ký với chính quyền địa phương. Số tín đồ sinh hoạt tại các chi hội và điểm nhóm nói trên chiếm khoảng 95% tổng số tín đồ. Ðể đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của tín đồ dân tộc thiểu số, khoảng 30.000 quyển Kinh thánh song ngữ (Việt - BaNa, Việt - Ê Ðê, Việt - Jrai) đã được phát hành. Vì thế, nhiều đại diện các cộng đồng tôn giáo khác nhau thừa nhận rằng, hiện nay, có nhiều không gian hơn cho việc thực hiện quyền tự do tôn giáo ở Việt Nam. Ðời sống tôn giáo là một thực tế rõ ràng, bằng chứng là những cơ sở thờ tự thuộc về nhiều tôn giáo hay hệ phái khác nhau và sự tham gia hành đạo của người dân từ nhiều tôn giáo và tín ngưỡng. Trong những năm gần đây, Việt Nam đã có những cố gắng để bảo tồn hoặc phục hồi những nghi lễ truyền thống của các nhóm dân tộc hoặc tôn giáo thiểu số.
Cộng đồng quốc tế cũng ghi nhận trong quá trình Rà soát UPR chu kỳ II rằng, Việt Nam đã đạt được những bước tiến đáng kể trong việc củng cố khuôn khổ pháp luật nhằm bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Hiến pháp Việt Nam, dược Quốc hội thông qua ngày 28-11-2013 có một chương về “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Ðiều 24 của Hiến pháp 2013 liên quan đến tự do tôn giáo và tín ngưỡng là tất cả mọi người, không như Hiến pháp 1992 chỉ giới hạn đối với công dân Việt Nam. Ðiều này cũng được cho là thể hiện một thái độ tích cực hơn đối với tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việc Quốc hội Việt Nam thông qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện một bước tiến trong việc xây dựng cơ sở pháp lý cho các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều 38 của Pháp lệnh cũng quy định các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia sẽ có giá trị cao hơn các quy định của Pháp lệnh trong trường hợp mâu thuẫn. Nghị định cụ thể hóa việc thực hiện Pháp lệnh (Nghị định 92) được thông qua ngày 8-11-2012, tiếp tục quy định chi tiết hơn các biện pháp thực hiện Pháp lệnh. Một số đại diện các cơ quan Chính phủ cũng thể hiện sẵn sàng xem xét một số sửa đổi thực chất đối với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay trong tiến trình chuẩn bị xây dựng dự án luật tôn giáo. Việt Nam đang xây dựng và dự kiến sẽ thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào năm 2016.
Xuất phát từ quan điểm tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của con người, nên Nhà nước Việt Nam chủ trương nhất quán là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam cũng coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều này được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (1946 - trước cả khi Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 đề cập), được phản ánh xuyên suốt đến Hiến pháp 2013, cũng như các văn bản pháp luật liên quan khác, v.v.
Ở Việt Nam không có tù nhân lương tâm. Thế mà, Báo cáo của USCIRF nói: hiện có ít nhất từ 100 - 200 tù nhân lương tâm đang bị giam cầm tại Việt Nam, trong số này có những người bị tù tội chỉ vì hoạt động tôn giáo hoặc cổ súy cho tự do tôn giáo (!) Cần khẳng định, các trường hợp truy tố, xét xử và kết án là do vi phạm pháp luật, không phải vì lý do chính kiến hay tôn giáo và được thực hiện theo đúng các quy trình, thủ tục như quy định của pháp luật. Tại Việt Nam, Tòa án hoạt động độc lập và chỉ tuân theo pháp luật khi xét xử. Hoạt động tố tụng được tiến hành trên nguyên tắc bảo đảm cho những người tham gia tố tụng được thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình một cách đầy đủ, công bằng và dân chủ; đồng thời, bảo đảm cho việc xét xử được công khai, minh bạch, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Ðiều này đã được quy định rõ trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, v.v.
Phúc trình của USCIRF nhận xét hồ đồ rằng, nhà cầm quyền Việt Nam vẫn dùng luật và các nghị định hành chính kiểm soát hoạt động tôn giáo và đàn áp các cá nhân hay tổ chức tôn giáo nào bị họ xem là mối đe dọa, trong đó có các tổ chức tôn giáo độc lập của Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa giáo, và Tin lành. Trên thực tế, các cộng đồng tôn giáo đăng ký hoạt động tại các cấp chính quyền khác nhau tùy vào phạm vi, quy mô hoạt động của mình, thí dụ các điểm, nhóm (không phải là một cấp hành chính đạo của tổ chức tôn giáo, chỉ là tập hợp một nhóm người có niềm tin theo tôn giáo) chỉ phải đăng ký hoạt động với UBND cấp xã, v.v. Các cộng đồng tôn giáo có thể bổ nhiệm, sắc phong chức sắc tôn giáo theo quy định, giáo luật của họ. Nhìn chung, họ không cần sự chấp thuận của nhà chức trách đối với các quyết định của mình. Việc bãi nhiệm các chức sắc, tăng ni (vốn rất hiếm), các quyết định nhìn chung cũng thuộc về các cộng đồng tôn giáo, theo giáo luật của họ. Giáo hội Phật giáo Việt Nam tăng cường làm phận sự trong trại giam, bao gồm thuyết giảng khai trí đạo đức và xã hội của tù nhân. Các linh mục Công giáo cũng làm phép cho tù nhân theo đạo.

Với đời sống tín ngưỡng, tôn giáo đa dạng, phong phú đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tinh thần của nhân dân thì rõ ràng bản phúc trình của USCIRF hoàn toàn chủ quan, áp đặt, không có căn cứ./.

May 2, 2015

CẦN CÓ CÁI NHÌN KHÁCH QUAN, LỊCH SỬ

           Tre Việt - Trong dịp kỷ niệm 40 năm ngày Chiến thắng 30-4 có nhiều ý kiến về Chiến thắng này. Mới đây, trên trang danlambao lại có bài: “Diễn văn ăn mừng 30-4: Nguyễn Tấn Dũng chửi Mỹ, cảm ơn Trung Cộng”. Bài viết phê phán Diễn văn do Thủ tướng đọc tại Lễ kỷ niệm Chiến thắng sáng 30-4 ở thành phố Hồ Chí Minh, nhưng không có cái nhìn khách quan, lịch sử mà phê phán bừa.
            Ngay từ tít bài viết của danlambao đã cho thấy ý đồ sỏ xiên của nó. Diễn văn nhấn mạnh: “Tại buổi lễ trọng thể này, một lần nữa chúng ta chân thành cảm ơn các nước XHCN, nhất là Liên Xô, Trung Quốc”, là đúng quá còn gì? Ai chẳng biết, trong các cuộc kháng chiến chống thực dân, đế quốc của dân tộc ta, sự giúp đỡ to lớn của các nước XHCN, nhất là của Liên Xô, Trung Quốc, nếu không Việt Nam một nước nhỏ, kinh tế còn nghèo làm sao có đủ vật chất, vũ khí trang bị,… cùng với con người tạo nên sức mạnh vượt trội để chiến thắng những tên xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XX, theo đúng quy luật của chiến tranh: mạnh được yếu thua. Điều đó còn chứng tỏ, nhân dân Việt Nam giàu lòng trọng nghĩa, biết ơn những tổ chức, cá nhân luôn hết lòng giúp đỡ mình, không như một số kẻ “ăn cháo đá bát”. Thế mà danlambao lại tỏ thái độ phê phán là sao? Nó chỉ cho người ta thấy danlambao là kẻ vong ơn mà thôi.
          Lại nữa, cũng trong bài viết ấy người ta trích dẫn bài Diễn văn do Thủ tướng trình bày: “Đế quốc Mỹ đã ngang nhiên áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp tàn bạo Cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền Bắc. Chúng đã gây ra biết bao tội ác dã man, biết bao đau thương, mất mát đối với đồng bào ta, đất nước ta”. Cần thấy rằng, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ (năm 1954), sau khi thắng thực dân Pháp, Việt Nam tạm chia thành 2 miền. Một trong những nội dung của Hiệp định Giơ-ne-vơ ghi rõ: “Sông Bến Hảivĩ tuyến 17, được dùng làm giới tuyến quân sự tạm thời chia Việt Nam làm hai vùng tập kết quân sự tạm thời. Chính quyền và quân đội Việt Nam dân chủ cộng hòa tập trung về miền Bắc; Chính quyền và quân đội khối Liên hiệp Pháp tập trung về miền Nam. Khoản a, Điều 14 ghi rõ: “Trong khi đợi tổng tuyển cử thống nhất Việt Nam, bên nào có quân đội của mình tập hợp ở vùng nào theo quy định của Hiệp định này thì bên ấy sẽ phụ trách quản lý hành chính ở vùng ấy”. Hiệp định Giơ-ne-vơ không có điều khoản nào quy định chi tiết về thời điểm cũng như cách thức tổ chức Tổng tuyển cử thống nhất hai miền Nam - Bắc Việt Nam. Nhưng Bản tuyên bố cuối cùng của Hội nghị Giơ-ne-vơ ghi rõ cuộc Tổng tuyển cử sẽ được tổ chức vào tháng 7/1956. Nhưng Hiệp định Giơ-ne-vơ đã bị đế quốc Mỹ xé nát. Chúng đã hất cẳng thực dân Pháp áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp tàn bạo Cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền Bắc như Diễn văn khẳng định, là nói ở thời điểm ấy, chứ không phải nước Mỹ hiện nay. Nước Mỹ của những năm 50 thế kỷ XX, khác với nước Mỹ hiện nay. Do vậy, nên không thể viết như danlambao: “chửi Mỹ, cảm ơn Trung Cộng” là kiểu viết cố tình “lập lờ đánh lận con đen”. Ngay với nước Mỹ, chúng ta cũng phân biệt rõ nhân dân tiến bộ Mỹ với tập đoàn đế quốc, không phải mọi người Mỹ là như nha. Chúng ta không “vơ đũa cả nắm”. Do vậy, cần phải khách quan, toàn diện, lịch sử và cụ thể khi nhìn nhận đánh giá về một vấn đề nào đó, đừng có phiến diện, chủ quan như danlambao thì không bao giờ có đánh giá đúng được cả./.

May 1, 2015

KHÔNG ƯA THÌ DƯA CÓ DÒI

Tre Việt - Ngày 30-4, Nguyễn Văn Tuấn với bài “Chờ nhìn quê hương Việt Nam sáng chói” đăng trên Basam.info. Bài viết cho rằng, có hai hình ảnh về Việt Nam: một là, Việt Nam hào nhoáng ở các trung tâm của thành phố và hai là, Việt Nam còn nghèo ở các vùng ngoại vi và nông thôn. Nguyên nhân của tình trạng đó là do Đảng Cộng sản Việt Nam đưa đất nước đi theo con đường xã hội chủ nghĩa (!) Nói vậy, là Nguyễn Văn Tuấn đã không khách quan, không chịu suy nghĩ, thể hiện rõ thái độ không đồng tình khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân xây dựng chủ nghĩa xã hội, nên như các cụ nói “không ưa thì dưa có dòi”.
Thực tế cho thấy: bất cứ tấm huy chương nào cũng có mặt trái và ngay dưới chân Nữ thần tự do cũng có bóng tối. Nước Mỹ và các nước phương Tây dù là những nước giàu có hàng đầu thế giới, nhưng vẫn còn rất nhiều người vô gia cư, phải sống ở ống cống và trong các thùng cốt-tông,… mà các phương tiện thông tin đại chúng trong và ngoài nước đưa tin. Ở Việt Nam hiện nay, tình trạng phân hóa giàu nghèo vẫn còn hiện hữu. Đó là thực tế không ai phủ nhận. Nhưng cần phải thấy rằng, sau 40 năm thống nhất đất nước, nhất là sau 30 năm thực hiện công cuộc đổi mới, uy tín và vị thế của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế. Từ một nước thiếu lương thực hằng năm phải nhập khẩu, Việt Nam đã vươn lên nước xuất khẩu đứng thứ hai, ba trên thế giới. Thu nhập bình quân của Việt Nam năm 2015 vào khoảng 2.200 USD/ người/năm, trở thành nước có thu nhập trung bình. Hiện nay, tỷ lệ hộ nghèo còn khoảng 6%. Đặc biệt, Việt Nam đã về đích trước thời hạn 5/8 mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ do Liên hợp quốc phát động, nhất là thành tựu về xóa đói giảm nghèo. Do vậy, Việt Nam đã trở thành hình mẫu, điểm sáng về xóa đói giảm nghèo luôn được thế giới học tập và không tiếc lời ngợi ca. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh với nhiều công trình hiện đại, tạo diện mạo mới cho đất nước, công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực. Số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia đã đạt hơn 98%. Tuổi thọ trung bình tăng từ 64,8 tuổi (năm 1986) lên 73,5 tuổi (năm 2015). Việt Nam tham gia ngày càng mạnh mẽ vào đời sống chính trị thế giới. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ đối tác Chiến lược và đối tác Toàn diện với 13 nước. Việt Nam là: thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO); Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2008 - 2009; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền tại Đại hội đồng Liên hợp quốc (khóa 68); Tổng Thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013 - 2017; Chủ tịch Đại hội đồng Liên minh Nghị viện (IPU) 132, v.v. Trong bối cảnh thế giới có nhiều diễn biến phức tạp bởi những xung đột, chiến tranh, khủng bố,… Việt Nam trở thành nước có môi trường đầu tư hấp dẫn các nhà đầu tư nước ngoài, hiện có hơn 18.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD. Điều đó một lần nữa chứng tỏ uy tín và vị thế của Việt Nam không ngừng nâng cao, bất chấp những tiếng nói, cái nhìn thiếu thiện chí, cố tình gán ghép theo kiểu “không ưu thì dưa có dòi” như Nguyễn Văn Tuấn, thì cũng không thể phủ nhận thực tế, Việt Nam đang phát triển ngày càng lớn mạnh./. 

Apr 30, 2015

TUYỆT THỰC BẰNG... SỮA!

Tre Việt - “Ngày 27/4 tôi có đi thăm mẹ tôi. Trước đó ngày 26 thì mẹ tôi có gọi điện về thông báo là bà đã tuyệt thực từ ngày 02/4 đến hôm gọi điện thoại là ngày 26. Trong thời gian tuyệt thực thì bà vẫn uống nước và uống sữa. Bà có nói thêm là trong trại người ta tịch thu hết quần áo thường của bà để bắt mặc đồ giống như phạm nhân trong trại...”
Đó là nguyên văn lời của Bùi Trung Nhân, con trai Bùi Thị Minh Hằng (đối tượng đang thụ án tù về tội gây rối trật tự công cộng tại trại giam Gia Trung - Gia Lai) được RFA, VOA, BBC và một số trang mạng trích dẫn những ngày qua.
          Chưa cần quan tâm đến Bích Hằng là ai và các nhà đài đưa tin đó vì mục đích gì, chỉ cần đọc đã thấy phì cười vì sự phi lý đến ngây ngô của mẹ con bà Hằng và cả các trang mạng đưa cái tin này nữa!
“Tuyệt thực bằng... sữa”?!, điều phi thường này có lẽ chỉ có các rận, đầu óc siêu tưởng mới dám nghĩ đến và cũng chỉ những nhà đài cố nói lấy được, như: RFA, VOA, BBC mới dám phụ họa cho cái sự điên rồ đó.
          Thực ra không phải đến bây giờ mới có cái khái niệm “uống sữa tuyệt thực”. Trước đó chưa lâu, các con rận như Vũ “bệu” (Cù Huy Hà Vũ), Hải Điếu cày (Nguyễn Văn Hải) cũng ầm ĩ chuyện tuyệt thực để phản đối trại giam, nhưng cuối cùng sau thời gian “tuyệt thực” Vũ “bệu” lại càng phát phì ra bởi vì trong thời gian “tuyệt thực” anh ta liên tục thưởng thức gà hầm, nước cốt gà, sữa ngoại, hoa quả từ gia đình gửi vào, vậy là Vũ không những không chết mà còn nặng tới hơn 90kg, người cứ trắng như lợn cạo...!
          Tuyệt thực tức là không ăn gì, mà không ăn thì sẽ chết, “không ăn mẻ cũng chết” - dân ta đã đúc kết như thế. Quả không sai. Chứ còn giở trò tuyệt thực như mấy con rận này thì bao giờ… mới chết?! Xem ra lũ rận này còn ham sống sợ chết lắm!
Còn nữa, con trai bà Hằng cung cấp thông tin cho RFA rằng, bà Hằng tuyệt thực là do trại giam yêu cầu bà mặc đồ của... phạm nhân. Ôi trời ơi! Đã vi phạm pháp luật, đã vào tù không mặc đồ phạm nhân thì thử hỏi mặc cái gì? Mặc váy ngắn, áo hai dây hay quần bò, áo thun như đi dạo phố nhé? Bà Hằng ơi, bà nên nhớ bà là phạm nhân chứ không phải bà hoàng để thích cái gì thì yêu cầu, thích ăn, thích mặc cái gì là có cái đấy nhé! Bà hãy tẩy não đi, hãy sống như một người dân bình thường đi rồi bà sẽ không phải mặc áo phạm nhân, v. v.
Câu chuyện tuyệt thực của Bùi Hằng đã xưa như trái đất và độ kệch cỡm cũng chẳng khác gì các rận trước đó đã làm, nhưng Bùi Hằng cũng chả còn trò gì khác, đành theo các bậc tiền bối, làm trò hề cho thiên hạ./.

KHÉP LẠI QUÁ KHỨ, CÙNG XÂY DỰNG NƯỚC VIỆT NAM GIÀU MẠNH

Tre Việt - Trong những ngày tháng 4, khi cả nước tưng bừng kỷ niệm Ngày Chiến thắng 30-4, trên một số trang mạng xã hội, vẫn bắt gặp ý kiến thể hiện sự hằn thù, xuyên tạc mà không nhìn thẳng vào sự thật, cùng nhau xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu. Ngày 29-4, trên trang Basam.info có bài: 30 tháng 4: Bốn mươi năm nhìn lại của Việt Nguyên, là một bài như thế.

        Tác giả bài viết trắng trợn xuyên tạc: “Chiến tranh giải phóng thực chất là chiến tranh nô lệ cho chủ nghĩa Cộng Sản bắt đầu khi ông Hồ Chí Minh và Đảng Cộng Sản xé nát Hiệp định Giơ-ne-vơ 1954” (!) Ai cũng biết, sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, theo Hiệp định Giơ-ne-vơ, Việt Nam sẽ tiến hành tổng tuyển cử ở cả hai miền vào năm 1956, thế nhưng, đế quốc Mỹ đã ngang nhiên áp đặt chế độ thực dân kiểu mới, biến miền Nam Việt Nam thành căn cứ quân sự của Mỹ, đàn áp tàn bạo Cách mạng miền Nam và tiến hành chiến tranh phá hoại khốc liệt ở miền Bắc. Chúng đã gây ra biết bao tội ác dã man, biết bao đau thương, mất mát đối với đồng bào ta, đất nước ta. Tổ quốc ta đã phải trải qua những thử thách cực kỳ nghiêm trọng. Song, nhân dân Việt Nam quyết không sợ. Không có gì quý hơn độc lập tự do. Thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành mệnh lệnh thiêng liêng của lý trí và trái tim của mỗi người Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng và Bác Hồ kính yêu, quân và dân cả nước đã vượt qua muôn vàn khó khăn, gian khổ, kiên cường, sáng tạo, anh dũng chiến đấu, hy sinh, lập nên những chiến công oanh liệt, đánh cho Mỹ cút (năm 1973), đánh cho Ngụy nhào mà đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975, kết thúc bằng sự toàn thắng của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, Bắc - Nam sum họp một nhà. Đồng bào ta tràn ngập niềm vui trong Ngày đại thắng. Thắng lợi vĩ đại này đã làm nức lòng bè bạn gần xa và nhân dân yêu chuộng hòa bình trên thế giới, như Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định trong Diễn văn Kỷ niệm Chiến thắng tại thành phố Hồ Chí Minh, sáng 30-4. 

        Trong bài, chính Việt Nguyên đã viết: “Chiến tranh từ 1954 đến 1975 đã kết thúc vì sự phản bội của Hoa Kỳ sau Hiệp định Pa-ri năm 1973. Một cuộc chiến phức tạp, bên phía Hoa Kỳ gọi là chiến tranh Việt Nam, bên phía Cộng Sản gọi là chiến tranh chống Mỹ, còn phía Việt Nam Cộng hòa gọi là chiến tranh chống cộng”. Điều đó cho thấy, rõ ràng đây là cuộc chiến tranh chống sự xâm lược của đế quốc Mỹ, chính quyền Việt Nam Cộng hòa chỉ là con bài của chính giới Mỹ mà thôi. Nói cách khác, Việt Nam Cộng hòa không có độc lập mà lệ thuộc vào đế quốc Mỹ. Một chính quyền lệ thuộc vào nước ngoài, chắc chắn sẽ không thể tồn tại, vì không phù hợp với truyền thống của dân tộc ta. Đúng vậy, Việt Nguyên đã làm rõ điều đó trong bài viết: “Hoa Kỳ từ con số cố vấn quân sự 865 người quy định bởi Hiệp Định Giơ-ne-vơ đã tăng số quân lên 16 ngàn. Năm 1965, Tổng Thống Johnson đổ thêm quân vào Việt Nam. Sau năm 1968, quân Mỹ ở Việt Nam lên đến hơn 1/2 triệu. Năm 1968, trong kỳ tranh cử tổng thống, ứng cử viên Nixon đã hứa rút hết quân Mỹ ra khỏi Việt Nam. Tháng 6 năm 1969 Tổng Thống Nixon đã tỏ ý này với Tổng Thống Nguyễn Văn Thiệu ở Hội Nghị Midway”. Vậy nên, khi Mỹ rút quân theo Hiệp định Pa-ri, sau 2 năm chính quyền Việt Nam Cộng hòa sụp đổ. Một chính quyền hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ thì còn tiếc nỗi gì. Nó sụp đổ là xứng đáng để xây dựng một nước Việt Nam độc lập, thống nhất, hòa bình, tự do và hạnh phúc. Đúng vậy, trong Diễn văn kỷ niệm ngày Chiến thắng, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã khẳng định: “Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước, đất nước ta đứng trước muôn vàn khó khăn thách thức. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước và sự đoàn kết nhất trí, nỗ lực phấn đấu của toàn dân, toàn quân, chúng ta đã tập trung sức khắc phục hậu quả nặng nề của chiến tranh, phá thế bao vây cấm vận, anh dũng kiên cường chiến đấu bảo vệ biên giới phía Bắc, biên giới phía Tây Nam, giúp nhân dân Cam-pu-chia thoát khỏi họa diệt chủng và tiến hành công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Sau 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, chúng ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Nước ta đã thoát khỏi tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình. Tăng trưởng kinh tế bình quân đạt gần 7%/năm. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, công nghiệp và dịch vụ đã chiếm 83% trong tổng GDP. Quy mô và tiềm lực của nền kinh tế không ngừng tăng lên; GDP tăng gấp gần 7 lần và kim ngạch xuất khẩu tăng gấp hơn 200 lần. GDP bình quân đầu người năm 2015 đạt khoảng 2.200 USD. Kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội phát triển khá nhanh với nhiều công trình hiện đại, tạo diện mạo mới cho đất nước. Tiến bộ, công bằng xã hội, phát triển văn hóa và công cuộc xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều kết quả tích cực. An sinh xã hội cơ bản được bảo đảm, phúc lợi xã hội và đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm mạnh, còn dưới 6%. Đã có hơn 98% số hộ gia đình được sử dụng điện lưới quốc gia. Tuổi thọ trung bình tăng từ 64,8 tuổi năm 1986 lên khoảng 73,5 tuổi năm 2015. Đã hoàn thành trước thời hạn nhiều Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc. Quốc phòng an ninh được tăng cường, chủ quyền quốc gia được giữ vững. Công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế được chủ động đẩy mạnh và đạt nhiều kết quả tích cực. Đến nay, nước ta đã có quan hệ ngoại giao, thương mại và đầu tư với hầu hết các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới; hiện có hơn 18.200 dự án đầu tư trực tiếp nước ngoài với tổng số vốn đăng ký 256 tỷ USD. Vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao”.

Thủ tướng cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, khuyết điểm của đất nước cần khắc phục: “Kinh tế - xã hội phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Việc tạo nền tảng để đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại chưa đáp ứng yêu cầu. Chất lượng tăng trưởng, môi trường kinh doanh và sức cạnh tranh của nền kinh tế còn nhiều hạn chế. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa thực sự trở thành động lực mạnh mẽ cho phát triển kinh tế - xã hội. Chất lượng nguồn nhân lực và kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội vẫn chưa đáp ứng kịp yêu cầu. Khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế so với nhiều nước trong khu vực chậm được thu hẹp. Văn hoá, xã hội, bảo vệ môi trường nhiều mặt còn yếu kém, khắc phục còn chậm. Khoảng cách giàu nghèo còn lớn. Hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo và quản lý kinh tế - xã hội nhiều mặt còn hạn chế. Hệ thống chính trị đổi mới chưa đồng bộ, năng lực và hiệu quả hoạt động chưa ngang tầm nhiệm vụ. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận cán bộ, đảng viên và tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí chưa bị đẩy lùi. Sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa của chúng ta còn nhiều khó khăn, thách thức”.

          Thủ tướng cam kết: “Với truyền thống hòa hiếu của dân tộc Việt Nam, chúng ta nhất quán thực hiện chủ trương khép lại quá khứ, hướng tới tương lai - Việt Nam là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế; hợp tác bình đẳng, cùng có lợi; tuân thủ Hiến chương Liên hợp quốc; tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau; góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới”. Đồng thời, kêu gọi: “Thực hiện lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết - Thành công, thành công, đại thành công, đồng bào ta ở trong nước cũng như ở nước ngoài, mỗi người chúng ta hãy nêu cao tinh thần dân tộc, lòng yêu nước thương nòi, truyền thống nhân nghĩa, khoan dung, không phân biệt quá khứ, vượt lên trên những khác biệt, cùng nhau chân thành hòa hợp dân tộc, vun đắp và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân, tất cả vì một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ, giàu mạnh như mong muốn cuối cùng trong Di chúc thiêng liêng của Bác Hồ kính yêu”. Là người Việt Nam, chúng ta cùng nhau thực hiện tốt lời kêu gọi trên của Thủ tướng: hãy khép lại quá khứ, để xây dựng đất nước hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh./.

Apr 29, 2015

MỘT ĐẠO LUẬT PHI LÝ

           Tre Việt - Ngày 22-4-2015, Quốc hội Ca-na-đa đã thông qua Đạo luật S-219 do Ngô Thanh Hải, một Thượng nghị sĩ gốc Việt bảo trợ. Đây là việc làm bình thường của các quốc gia độc lập có chủ quyền, nhằm điều chỉnh các quan hệ trong quốc gia. Tuy nhiên, với cái cớ tưởng nhớ đến những “thuyền nhân” di tản và coi ngày 30-4 hằng năm là ngày của “hành trình đến tự do”, Đạo luật S-219 mà Quốc hội Ca-na-đa thông qua là một đạo luật phi lý, xuyên tạc tình hình thực tiễn, can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam. Vì sao nói vậy?
Cách đây 40 năm, ngày 30-4-1975 chính quyền ngụy Sài Gòn sụp đổ, đầu hàng vô điều kiện, miền Nam Việt Nam được giải phóng khỏi ách đô hộ của đế quốc Mỹ xâm lược, đất nước Việt Nam hoàn toàn thống nhất. Ngày 30-4-1975, là ngày chiến thắng của chính nghĩa với phi nghĩa, bạo tàn; là ngày chiến thắng của quá trình đấu tranh của nhân dân Việt Nam vì quyền tự quyết dân tộc, vì quyền con người. Đây là sự thực lịch sử mà chẳng thế lực nào có thể phủ nhận. Sau ngày 30-4-1975, dân tộc Việt Nam đã giành được độc lập hoàn toàn, chính quyền cách mạng đã thực thi hàng loạt chính sách tiến bộ để ổn định cuộc sống của nhân dân. Cái gọi là “cuộc tắm máu” theo tuyên truyền của Mỹ đã không xảy ra; mỗi người dân Việt Nam đều nhanh chóng bắt tay vào lao động, sản xuất, ổn định cuộc sống tự do, hạnh phúc mới giành được của mình. Tuy nhiên, một số ít cá nhân bị luận điệu tuyên truyền của Mỹ tẩy não, hoặc những kẻ có nợ máu với nhân dân,… đã tìm mọi cách để chạy ra nước ngoài, trong đó có Ca-na-đa. Với chính sách nhân đạo, hòa hợp, hòa giải dân tộc, trong 40 năm qua, Nhà nước Việt Nam đã tích cực thông tin đến người Việt ở nước ngoài về tình hình phát triển của đất nước và có nhiều chính sách để họ được về thăm quê hương. Hiện nay, cộng đồng người Việt ở Mỹ, Ca-na-đa, Đức, Anh, Pháp,… đều hiểu rõ điều đó, họ đã có nhiều đóng góp cho sự phát triển của đất nước. 
Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam đã lên tiếng phản đối, về những sai trái của Đạo luật này, xem đây là một việc làm “hoàn toàn sai trái… ảnh hưởng tiêu cực tới quan hệ đang phát triển tốt đẹp giữa Việt Nam và Ca-na-đa, xúc phạm tình cảm của nhân dân Việt Nam cũng như một bộ phận lớn cộng đồng người Việt tại Ca-na-đa”. Tục ngữ Việt Nam có câu: “Mất lòng trước hơn được lòng sau”, với mong muốn không để Đạo luật này tác động xấu đến quan hệ giữa hai nước và nhất là không để lặp lại những sai lầm mới, thiết tưởng cần thẳng thắn chỉ ra những sai trái của việc làm này.
Không chỉ xuyên tạc sự thật, Đạo luật S-219 còn đi ngược lại lợi ích giữa nhân dân Việt Nam và nhân dân Ca-na-đa. Trong các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, nhiều thế hệ nhân dân Ca-na-đa đều ủng hộ cuộc đấu tranh chính nghĩa của nhân dân Việt Nam. Đạo luật S-219 đã xúc phạm tình cảm, đạo đức của nhân dân Ca-na-đa. Hiện nay, quan hệ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội giữa Việt Nam và Ca-na-đa đang trên đà phát triển tốt đẹp, vì lợi ích chính đáng của hai nước. Nên, Đạo luật S-219, đã làm tổn hại đến lợi ích của hai quốc gia, tổn hại đến uy tín, sự hợp tác của Ca-na-đa và Việt Nam, làm chia rẽ nhân dân Ca-na-đa và cộng đồng người Việt ở nước này. Phát biểu với báo chí Ca-na-đa, Thượng nghị sĩ James Cowan cho rằng, Ông không thể hiểu được vì sao “Chính phủ Ca-na-đa có thể phê chuẩn một dự luật gây tranh cãi như vậy trong lúc chúng ta muốn tăng cường quan hệ kinh tế với châu Á, trong đó có Việt Nam… Chúng ta đang nỗ lực cải thiện quan hệ với Việt Nam. Chúng ta đã ký một biên bản ghi nhớ về tăng cường liên kết thương mại và văn hóa. Tại sao các vị lại muốn khơi lên sự chia rẽ này”. Quốc hội Ca-na-đa, qua Đạo luật S-219 đã làm tổn hại đến chính dân tộc, đất nước mình.
Cùng với đó, Đạo luật này đã góp phần chia rẽ cộng đồng người Việt ở Ca-na-đa và nhân dân Việt Nam. Với chỉ có 05% người Việt ở Ca-na-đa đồng quan điểm với Đạo luật S-219, có nghĩa Đạo luật này chỉ đáp ứng của một số nhỏ người Việt ở Ca-na-đa. Đây chính là những người vẫn bám giữ hận thù trong thời kỳ chiến tranh, luôn chống đối Việt Nam. Xuân Ất Mùi - 2015, hàng trăm Việt kiều ở Ca-na-đa đã về nước, nhiều người vui mừng khi chứng kiến đất nước ngày càng phát triển và không ít người bày tỏ mong muốn được trở về quê hương làm ăn, sinh sống, đóng góp vào công cuộc xây dựng đất nước. Có thể khẳng định rằng, Đạo luật S-219 đã tiếp tục khơi sâu hận thù, “phớt lờ” lợi ích và tình cảm của lớp trẻ, phục vụ cho lợi ích chính trị ích kỷ của một số nhỏ người Việt ở Ca-na-đa. Thực tế cho thấy, quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Ca-na-đa đã được thiết lập hơn 40 năm (từ năm 1973) và liên tục được củng cố và phát triển. Năm 2013, kim ngạch hai chiều đạt 2,5 tỷ USD. Việt Nam hiện nằm trong danh sách ưu tiên của chiến lược Hành động thị trường toàn cầu, chiến lược Giáo dục quốc tế và Chương trình phát triển quốc tế của Ca-na-đa. Trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, với chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, “đa dạng hóa, đa phương hóa” với các nước trên thế giới vì lợi ích mỗi bên, vì hòa bình, phát triển của thế giới, Việt Nam luôn luôn coi trọng quan hệ hữu nghị và hợp tác với Ca-na-đa. Đồng thời, ủng hộ chính sách chuyển hướng sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Ca-na-đa và hoan nghênh sự đóng góp của Ca-na-đa cho hòa bình, ổn định và phồn vinh trong khu vực. Như vậy, Đạo luật S-219 đã đi ngược lại lợi ích của cả hai quốc gia.
Ngày nay, tất cả các quốc gia đều có quyền dân tộc tự quyết, về chính trị, kinh tế, xã hội và văn hóa. Các quốc gia, kể cả Liên hợp quốc, cũng phải tôn trọng quyền này. Đạo luật S-219 thể hiện rõ sự kỳ thị với chế độ xã hội do nhân dân Việt Nam đã lựa chọn. Người bảo trợ Đạo luật S-219 (Thượng nghị sĩ Ngô Thanh Hải) vốn là một người đã chạy ra nước ngoài sau 30-4-1975, luôn bám giữ tư duy cổ hủ, lạc hậu của thời kỳ chiến tranh lạnh, kỳ thị với chế độ chính trị của Việt Nam. Thực ra, Ông ta luôn là một kẻ bảo trợ cho các hoạt động chống cộng, chống Việt Nam, nên ông ta chẳng quan tâm đến thực tế khách quan, chỉ lấy thông tin một chiều từ thiểu số những kẻ chống cộng.
Thực tế cho thấy, sau 40 năm giành độc lập dân tộc, tự do cho nhân dân, 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã có bước phát triển vượt bậc về mọi mặt. Với đường lối đối ngoại là: sẵn sàng phát triển quan hệ với tất cả các quốc gia, không phân biệt chế độ chính trị, hệ tư tưởng,… trên cơ sở tôn trọng độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ của nhau và hai bên cùng có lợi, đến nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ hợp tác với hơn 180 quốc gia, trong đó có đầy đủ các thành viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc. Nền kinh tế Việt Nam, được các quốc gia, các tổ chức tài chính, kinh tế lớn trên thế giới đánh giá là năng động, sáng tạo. Hàng loạt các hiệp định kinh tế giữa các nước lớn, vùng lãnh thổ,… đã ký kết với Việt Nam. Việt Nam cũng là điểm đến của các nguồn vốn, như: ODA, FDI,… và đã, đang phát triển mạnh mẽ cả về thế và lực trong xu thế phát triển văn minh của nhân loại. Ngô Thanh Hải - người bảo trợ Đạo luật S-219 - cũng như người ủng hộ nó đang đi ngược lại xu hướng chung của nền văn minh nhân loại. Và như thế, hành động can thiệp vào nội bộ Việt Nam nhất định sẽ bị nhân dân Việt Nam, nhân dân Ca-na-đa và cộng đồng quốc tế lên án.
Đạo luật S-219 do Quốc hội Ca-na-đa thông qua ngày 22-4-2015 là một Đạo luật phi lý./.

THỪA GIẤY VẼ VOI

Tre Việt - Đã tròn 40 năm trôi qua, cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, với đỉnh cao là cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng là một sự kiện lịch sử trọng đại, một đề tài vô cùng phong phú cho nhiều cuộc hội thảo, công trình khoa học, lĩnh vực mà nhiều giới, nhiều ngành trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu. Cũng chính vì sự vĩ đại, chiến công vô cùng oanh liệt ấy nên còn nhiều giá trị phải được nghiên cứu, bàn thảo, tiếp tục khẳng định và làm sáng tỏ thêm để đánh giá đầy đủ, đúng đắn tầm vóc và ý nghĩa lịch sử to lớn của Chiến thắng đó đối với dân tộc và thời đại.

Trong khi cả Dân tộc đang tràn ngập niềm vui, cờ hoa rực rỡ phố phường, thôn xóm khắp dải đất hình chữ S thanh bình, thì Giáo sư Tương Lai - vị Giáo sư tự phong, vì Ông chỉ là Phó giáo sư thôi, như thế cũng đủ biết tư cách của Ông - chuyên viết bài phản biện chính trị, xã hội và giáo dục trên mạng lại đi ngược với trào lưu trên. Ông đã mượn những tác phẩm của Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn để phản biện chính trị, xã hội. Khổ thật cho ông bởi có chút “trình độ, học vấn” nên giấy còn chẳng biết làm gi, đành phải vẽ voi cho kín.

Cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn có khoảng 600 tác phẩm; trong đó, khoảng hơn 230 tác phẩm được đông đảo công chúng biết đến với cả phần lời và nhạc. Các bài hát Ông sáng tác phần lớn là tình ca. Tuy nhiên, nhiều ca khúc của Ông sáng tác trong thời kỳ chiến tranh chống Mỹ, cứu nước có thông điệp phản chiến bị cả chính quyền Việt Nam dân chủ cộng hòa  Việt Nam cộng hòa cấm biểu diễn. Mặc dù, gần đây - sau ngày đất nước giải phóng - một số ca khúc của Ông được đông đảo tầng lớp nhân dân đón nhận, nhất là giới trẻ, tiêu biểu là ca khúc “Nối vòng tay lớn”.
Ca khúc này được nhiều tầng lớp nhân dân đón nhận như một món quà Nhạc sĩ tặng cho các buổi giao lưu, hội họp, thể hiện sự đoàn tụ trong gia đình Việt. Gần đây, trong buổi tưởng niệm Trịnh Công Sơn của những người hâm mộ ở Huế tại Gác Trịnh, trường Đại học Khoa học Huế với đêm nhạc “14 năm nhớ Trịnh Công Sơn - Hành trình nối vòng tay lớn” mà “Tuổi Trẻ” đã tường thuật.
Nhưng cũng thật đáng tiếc, trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta do Đảng và Bác Hồ lãnh đạo, các ca khúc của Trịnh Công Sơn không được chấp nhận. Bởi lẽ, lời các ca khúc của Ông đều mang tính ủy mỵ, làm nhụt ý chí chiến đấu của chiến sĩ trên chiến trường. Riêng ca khúc Nối vòng tay lớn tuy nhạc và lời rất nhộn, vui lại thể hiện tinh thần đoàn tụ, gắn bó với nhau, nhưng vào thời điểm đó thì chưa phù hợp. Bởi vì, sau thắng lợi của Chiến dịch Điện Biên Phủ (năm 1954) miền Bắc hoàn toàn giải phóng, miền Nam vẫn nằm dưới sự kiểm soát của thực dân Pháp, Đảng và Bác Hồ muốn hòa hợp dân tộc bằng cuộc Tổng tuyển cử trên khắp cả nước. Nhưng không, Ngô Đình Diệm và bè lũ tay sai được Mỹ hà hơi, tiếp sức đã ngang nhiên phá hoại và tạo cớ để Mỹ đưa quân viễn chinh vào miền Nam Việt Nam. Và nhiệm vụ của cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam là phải “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dạy.

Lợi dụng ngày giỗ (01/4 tức 08/3 âm lịch) của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, những ngày tháng 3, tháng 4 vừa qua, trên mạng xuất hiện nhiều bài viết tạo ra Hiện tượng Trịnh Công Sơn của Trịnh Vĩnh Trinh, Cao Huy Thuần và nổi hơn là Giáo sư Tương Lai - người tự cho mình có quyền phản biện xã hội đã chắp bút, thêm mắm muối - không ngớt là ca tụng các ca từ trong từng tác phẩm của Nhạc sĩ. Bên cạnh đó, cũng khéo léo cài vào những cụm từ nói xấu, bôi nhọ Đảng, chế độ.

Trong chiến tranh vấn đề công tác lý luận, công tác chính trị, tư tưởng có vị trí vô cùng quan trọng không kém gì súng, đạn, thậm trí nó có tác dụng rất lớn như những khẩu đại bác, một binh đoàn hùng mạnh. Bởi vậy, công tác sáng tác văn học, hay sáng tác các ca khúc phục vụ chiến tranh đã được coi trọng, nhằm tuyên truyền, xây dựng niềm tin chiến thắng, thúc giục tinh thần chiến đấu cho binh lính được cả hai bên triệt để thực hiện.

Thực tế, tại thời điểm đó, Đảng, Nhà nước và Quân đội ta đang phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc và thời đại để giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước thì công tác văn hóa, văn nghệ là một trong những nhiệm vụ đặc biệt quan trọng. Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ kính yêu nhiều ca khúc cách mạng đã được các nhạc sĩ sáng tác nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp, thúc giục tinh thần toàn dân tộc tiến lên giải phóng miền Nam, thống nhất nước nhà. Những ca khúc cách mạng đã được các chiến sĩ văn công mang vào khắp các chiến trường, trận địa phục vụ bộ đội - tiếng hát át tiếng bom.    

Có thể nói, những ca khúc trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ là những tác phẩm đạt đến trình độ cao cả về mặt nghệ thuật và nội dung, với nhiều mảng đề tài như về Tổ quốc, về Đảng, lực lượng vũ trang, về tình yêu, về quê hương, đất nước, con người phản ánh được các sự kiện nổi bật, các mốc lịch sử quan trọng. Nhiều tác phẩm trong giai đoạn này đều mang cả tính lãng mạn cách mạng, đậm màu sắc hào hùng, phóng khoáng có tác dụng cảm hóa lòng người, động viên tinh thần của biết bao chiến sĩ. Hình tượng người chiến sĩ trong các ca khúc cách mạng mạnh mẽ nhưng không khô cứng, trữ tình bay bổng nhưng không ủy mỵ. Mỗi ca khúc sáng tác trong những năm tháng chống Mỹ ác liệt đều thể hiện phong cách riêng của từng tác giả, nhưng tựu trung là mang đậm tính cách mạng, tính khoa học và tính nhân dân sâu sắc. Một số ca khúc tiêu biểu của Nhạc sĩ Huy Du: Anh vẫn hành quân (năm 1964), Bạch Long Vĩ đảo quê hương (năm 1965), Chưa hết giặc ta chưa về (năm 1965), Có chúng tôi trên hải đảo xa xôi (năm 1965), Cùng anh tiến quân trên đường dài (năm 1967), Nổi lửa lên em (năm 1968), Đường chúng ta đi (năm 1968), Trên đỉnh Trường Sơn ta hát (năm 1971), v.v.
Vậy thì cớ sao, Giáo sư lại chọn những ca khúc (Mỗi ngày tôi chọn một niềm vui, Trong nỗi đau tình cờ, Tôi ơi đừng tuyệt vọng,…) của Trịnh Công Sơn có ca từ ủy mỵ, làm nhụt ý chí chiến đấu của binh lính khi cuộc cách mạng đang ở giai đoạn quyết liệt; thậm chí chính quyền Việt Nam cộng hòa cũng cấm những ca khúc này. Vậy, có phải trong sâu thẳm tâm thức của Giáo sư có uẩn khúc gì với Đảng, Nhà nước và Dân tộc, nên thời gian này lại đổ đốn như vậy. Nếu nguồn tài nguyên trong Ông đã cạn kiệt thì Tre Việt khuyên Ông nên vẽ voi cho kín là được chẳng ai chê cười Giáo sư?