Sep 24, 2015

LẠI LÀ SỰ ĐỊNH KIẾN

       TRE VIỆT - Trên trang Ba Sàm, ngày 23/9/2015, có bài viết: “Đàn áp vẫn gia tăng ở Việt Nam” do Trần Văn Minh dịch của Zachary Abuza (được giới thiệu là giáo sư tại Đại học Chiến tranh Quốc gia , chuyên nghiên cứu về các đề tài chính trị và an ninh Đông Nam Á), Guest Contributor, New Mandela. Bài viết của Zachary Abuza tập trung phê phán về quyền con người, chủ yếu là quyền tự do ngôn luận của Việt Nam. Ông ta viết: “Trên nhiều phương diện, việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam vẫn không thỏa đáng” và “Việt Nam là một trong những môi trường truyền thông bị kiểm soát nhất trên thế giới” (!). Ông ta còn đoán già đoán non: “trước Đại hội Đảng thứ 12 vào đầu năm 2016, bất đồng quan điểm thậm chí còn ít được dung thứ hơn”(!).
Xin thưa, Việt Nam chỉ bắt giam những người vi phạm pháp luật Nhà nước. Công dân Việt Nam cũng như công dân nhiều nước khác, trong khi thực thi quyền con người thì phải chấp hành pháp luật của nước mình. Điều này hoàn toàn đúng với các quy định của “Bộ luật quốc tế về quyền con người”[1]. Bộ luật này quy định mỗi thành viên của xã hội trong khi thực hiện quyền con người đều phải chấp hành luật pháp của mỗi nước.
Thật vậy, Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền đã nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với cộng đồng. Điều 29 quy định: “Trong việc thụ hưởng các quyền và tự do, mỗi cá nhân chỉ có thể bị pháp luật hạn chế các quyền và tự do đó vì các mục đích bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác cũng như nhằm bảo đảm các yêu cầu về trật tự công cộng, đạo đức và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, hiến định: “1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận…; 3. Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
Trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo…”[2].
Công ước nhân quyền châu Âu có hiệu lực từ ngày 03-9-1953 đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[3]. Rõ ràng, trong khi khoản 1 của Ðiều luật này quy định: ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới, thì khoản 2 lại quy định: việc thực thi các quyền đó gắn với các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận của công dân nói riêng. Không có thứ tự do “tuyệt đối” mà không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, ở sự ổn định xã hội, mà thiếu nó thì mọi nỗ lực cố gắng của con người đều trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền con người; trong đó, có quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Công ước nhân quyền châu Âu nói trên.
Điều đó cho thấy, quyền con người luôn đặt trong môi trường hoàn cảnh cụ thể. Thụ hưởng quyền con người còn tùy thuộc vào lịch sử, truyền thống, văn hóa, đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán,… cụ thể của từng nơi, của mỗi quốc gia. Cho nên, không thể lấy những người vi phạm pháp luật bị bắt, bị giam giữ cho rằng Việt Nam “gia tăng đàn áp”. Đó là chỉ là sự định kiến, áp đặt mà thôi.
Nhân dịp 70 năm Quốc khánh, Việt Nam đã ân xá 18.298 phạm nhân; trong đó, có những người bất đồng chính kiến, hoặc lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật. Mới đây, là Trương Duy Nhất, Tạ Phong Tần, trước đó là Nguyễn Văn Hải,… đã được tha tù chẳng nhẽ các vị không thấy sao?
Dù có phê phán việc thực thi quyền con người ở Việt Nam, nhưng trong bài viết Zachary Abuza vẫn phải thừa nhận: “về cơ bản, Việt Nam đã khác hơn so với ngay cả 5 năm trước đây, với những thay đổi sâu sắc trong việc tiếp cận thông tin, quyền tự do kinh tế, sự phát triển của xã hội dân sự, quyền thực hành đức tin, và những cải cách gần đây”. Và rằng, “Việt Nam… đã có một sự cải thiện có ý nghĩa trong năm qua”./.


[1] - Bao gồm Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và hai nghị định thư bổ sung của công ước này.
2 - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
3 - Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.

Nguyễn Hưng Quốc - Kẻ “đầu lú, nói càn”

Tre Việt - Ngày 07/9/2015, VOA (Tiếng Việt) đăng bài “Tính chính đáng của Đảng Cộng sản” của Nguyễn Hưng Quốc. Sau khi bàn nhăng cuội đủ chuyện, đưa ra nhận định vớ vẩn, ông ta kết luận đại ý rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không có “tính chính đáng” về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam ngày nay! Phải nói ngay rằng, cái đầu của Nguyễn Hưng Quốc bị “lú”, nên “nói càn”! Điều này, theo kiểu nói ví của người Việt, thì Nguyễn Hưng Quốc là kẻ đầu óc có vấn đề, ngớ ngẩn, ăn nói vớ vẩn, càn xiên. Vì sao nói vậy?
Xin thưa, cơ sở chính trị, xã hội và pháp lý về sự ra đời, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được các nhà lịch sử, chính trị, xã hội, các học giả có uy tín ở trong nước và nước ngoài khẳng định, nên chẳng phải bàn nhiều. Tôi chỉ nhắc lại mấy vấn đề cơ bản để mở mang cái “đầu lú” của ông.
Về cơ sở chính trị, xã hội. Phải khẳng định ngay rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam sinh ra từ trong lòng nhân dân và tất cả đều vì dân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây cũng là kết quả của cuộc vận động vì dân chủ, đảm bảo cho giai cấp công nhân Việt Nam chính thức bước lên vũ đài chính trị lãnh đạo dân tộc đấu tranh với chế độ chuyên chế thực dân - phong kiến nhằm giành quyền làm chủ cho nhân dân - khát vọng dân chủ cháy bỏng của nhân dân.  Ra đời từ trong xã hội, do nhân dân lập nên, không vì mục đích tự thân mà là vì quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, nên Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân ủy thác quyền lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước, vì: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với mục tiêu như vậy, nên “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện làm một. Xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh cũng là khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam, là giá trị quy định bản chất của chế độ chính trị của Việt Nam hiện nay. Những luận điệu cố tình lu loa cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là tổ chức đại diện cho hơn 3 triệu đảng viên, chứ không thể đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam(!) Hay, Đảng không thể và không có quyền đại diện cho xu hướng phát triển của dân tộc, nên không thể và không có quyền xác định mục tiêu phát triển cho dân tộc, v.v (!) Thực chất là cố tình chối bỏ sự thật lịch sử về sự vận động và phát triển của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam! Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ mãi là trí tuệ, lương tâm, danh dự, luôn phấn đấu vì mục tiêu của toàn dân tộc và điều chủ yếu nhất là dân tộc Việt Nam tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo đất nước. Đảng xứng đáng là lực lượng lãnh đạo, còn xuất phát từ việc tự nguyện làm “đầy tớ”, làm “công bộc”, làm “trâu ngựa” cho nhân dân. Nhờ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã huy động được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm nên những thắng lợi to lớn có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ thành dân tộc bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt Nam trở thành một dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh cho sự nghiệp phi thực dân hóa, xóa bỏ vết nhơ lớn nhất trong lịch sử loài người. Lịch sử đã khẳng định, thực dân - đế quốc là thế lực phản dân chủ, tiến hành xâm chiếm thuộc địa, đưa nhân dân thuộc địa vào cảnh nô lệ, lầm than. Nhưng, để lòe bịp thiên hạ, chúng luôn núp dưới chiêu bài “khai hóa văn minh”, “bảo vệ tự do”, “bảo vệ dân chủ” và trưng ra những thứ bánh vẽ dân chủ, trưng diện những trò chơi dân chủ. Nhân đây, cũng xin khẳng định rằng, là một đảng mác-xít – lê-nin-nít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đảng càng chứng tỏ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì nước ta càng phát triển vững chắc trên con đường xã hội chủ nghĩa để tiến lên cộng sản chủ nghĩa, mà đó cũng là quá trình tất yếu để các giai cấp và Đảng dần tự tiêu vong.
Về cơ sở pháp lý. Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013 đã khẳng định rõ ràng bản chất cách mạng và hiến định rõ cả mục đích lẫn trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiến pháp cũng quy định rõ, các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Nên nhớ rằng, Hiến pháp là do nhân dân - người chủ đích thực của chế độ - xây dựng, thực hiện và bảo vệ, nên nhân dân chẳng những thừa nhận bản chất, vai trò, tôn vinh Đảng để Đảng có địa vị pháp lý vững chắc, mà còn bảo vệ Đảng. Điều đó, chứng tỏ một lần nữa về lý luận rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Hưng Quốc tự xưng là “Người Việt Nam yêu nước” thì hãy đọc Hiến pháp nước nhà và thực hiện theo Hiến pháp!
Hiện nay, đất nước Việt Nam đã và đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Để thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành đại hội các cấp để tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Đây là đợt sinh hoạt dân chủ cao nhất của các tổ chức đảng, để không chỉ đánh giá đúng những thành tựu, mà còn chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết, tìm ra nguyên nhân, rút ra những bài học để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân. Vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã công khai công bố Dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI trình Đại hội XII của Đảng để xin ý kiến đóng góp của nhân dân. Điều này, một lần nữa khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là đội tiền phong của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Bằng trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức trong sáng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là một đảng cầm quyền “đạo đức, văn minh”.

Sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự đảm bảo cho chiều hướng phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong suốt 85 năm qua. Đây là sự thật lịch sử mà không thế lực nào phủ nhận được! Mang danh là nguyên chủ bút của tạp chí Việt và đồng chủ bút của tờ báo mạng Tiền vệ, là chủ nhiệm Ban Việt học lại trường Đại học Victoria (Úc) thế mà “trí thức rởm” Nguyễn Hưng Quốc chẳng hiểu gì về lịch sử vận động và phát triển của Việt Nam và sự ra đời, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Vì thế, nói rằng, Nguyễn Hưng Quốc mang cái “đầu lú”, nên “nói càn” chẳng sai chút nào! 

Sep 13, 2015

NHỮNG KẺ KHÔNG CÓ TRÁI TIM

Tre Việt - Đó là Uyên Vũ, RFA, Ba Sàm,… Tại sao nói bọn này không có trái tim? Chuyện là, ngày 11-9 trên trang RFA có bài “Nghĩ về tấm bia căm thù” của Uyên Vũ, lại được Ba Sàm và một vài trang khác đăng tải bài viết này vào ngày hôm sau. Uyên Vũ viết nhưng những trang này cho đăng chứng tỏ bọn họ cùng một giuộc, đều không có trái tim vì không có cảm xúc, không biết căm thù và không biết yêu thương.

Nhân dịp nước Mỹ kỷ niệm 14 năm sự kiện 11-9, Uyên Vũ viết bài trên cho rằng, tại tòa tháp đôi World Trade Center bị bọn khủng bố đánh sập, chính nơi đó, nay có các tòa tháp khác mọc lên, nhưng ở đấy không có tấm bia căm thù bọn khủng bố nào dù “nhỏ nhoi”. Vì vậy, nước Mỹ cứ phát triển. Còn ở Việt Nam, những tượng đài chiến thắng 30-4 và tấm bia căm thù giặc Mỹ xâm lược có ở nhiều nơi. “Tại Sài Gòn, ngay trên đoạn vỉa hè phía trước tòa Tổng lãnh sự Hoa Kỳ là một tấm “bia căm thù” như thế và khói hương, hoa đèn vẫn được cung kính tưởng niệm tại tấm bia này. Chính vì thế, những người trẻ lớn lên, mũi chưa từng ngửi thấy mùi thuốc súng, mắt chưa từng thấy những tử thi không nguyên vẹn trong những bộ quân phục… Họ vẫn âm ỉ sâu kín trong lòng mối căm thù” - Uyên Vũ viết. Xin hỏi Uyên Vũ, RFA, Ba Sàm,… tại sao lại không cần những tấm bia này? Xin thưa, ở Việt Nam không chỉ có những tấm bia như thế, mà còn có những chứng tích chiến tranh để lên án tội ác của đế quốc Mỹ, như tháp Tam tòa ở Quảng Bình. Làm như thế để làm gì? Một mặt, để giáo dục thế hệ sau biết rằng, ông cha họ đã phải gánh chịu nhiều đau thương vì đất nước không có độc lập, tự do do ngoại bang xâm lược, áp bức bóc lột; đất nước có được thành quả như ngày nay thì con cháu phải biết giữ gìn. Mặt khác, cũng cho thế giới thấy giá trị to lớn của hòa bình, đừng bao giờ mang quân đi xâm lược, gây đau thương, chết chóc cho nhân loại. Điều đó há chẳng tốt hay sao mà mấy vị lại tỏ ý chê bai nhằm mục đích gì? Những tấm bia như thế, nhưng nhân dân Việt Nam rất công minh không “vơ đũa cả nắm”. Ngay khi đế quốc Mỹ đang xâm lược, gây bao đau thương cho đồng bào Việt Nam thì nhân dân Việt Nam đã phân biệt rõ ràng căm thù đế quốc Mỹ hiếu chiến, xâm lược; đoàn kết với nhân dân tiến bộ Mỹ để phản đối chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ. Điều đó cho thấy nhân dân Việt Nam chỉ căm thù những kẻ đã xâm lược, gây đau thương cho đồng bào mình; còn những nước thật thà hợp tác với Việt Nam vì sự tiến bộ, lợi ích của mỗi quốc gia thì nhân dân Việt Nam luôn tôn trọng và cũng thật thà hợp tác, cho dù nước đó trước kia có xâm lược Việt Nam, như: thực dân Pháp, phát xít Nhật và đế quốc Mỹ thì những nước này ngày nay đã và đang là đối tác của Việt Nam. Ngày nay, giữa Việt Nam và Hoa Kỳ đã bình thường hóa quan hệ được 20 năm, có quan hệ ngoại giao và trở thành đối tác của nhau vì sự phát triển của mỗi nước và vì hòa bình, ổn định của khu vực và trên thế giới. Vậy nên, với lối viết có ý chia rẽ mối quan hệ giữa Việt Nam và Hoa Kỳ như Uyên Vũ được RFA, Ba Sàm,… tán dương cũng chẳng thể phá vỡ được quan hệ Việt - Mỹ. Vậy nên, nhắc các vị rằng, đã là con người thì phải có cảm xúc tình cảm với những sắc thái khác nhau trước các hiện tượng không giống nhau. Đừng như mấy vị để chó tha mất trái tim thì chỉ có tắc tử ngay tức khắc./. 

Aug 18, 2015

DƯƠNG NGUYỆT ÁNH - TIẾN SĨ THIỂN CẬN

Tre Việt - Cuộc phỏng vấn phần 2 giữa phóng viên Xuân Hồng với tiến sĩ Dương Nguyệt Ánh trên đài BBC đã bộc lộ rõ về cách nhìn rất thiển cận của Bà. Chủ nghĩa Mác-xít không đem đến cường thịnh thì đất nước Liên Xô hùng mạnh trước đây và Trung Quốc giàu có hiện nay đi theo chủ nghĩa gì? Tre Việt lấy làm hổ thẹn khi một người Việt Nam có học vị tiến sĩ - là Bà - lại hiểu “sâu” đến vậy!
          Một cách nhìn thiển cận về chủ nghĩa Mác-xít
          Bà Dương Nguyệt Ánh cho rằng: những nước Cộng sản ngày nay đã không còn là Cộng sản nữa, cả thế giới đã nhận ra sự sai lầm của chủ nghĩa Mác-xít, vì không đem đến hạnh phúc cho con người, không phải là con đường hay nhất đưa một dân tộc đến cường thịnh. Thật là ngộ nhận, Bà biết một mà không biết hai, Bà thấy một số hiện tượng trước mắt mà không luận giải tới tận cùng của sự việc theo góc độ khoa học.
Bà “Tiến sĩ”, có biết vấn đề này không? Khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng, cần phải khách quan, toàn diện, gắn với lịch sử và sự phát triển của nó. Lịch sử loài người đã chứng minh: một xã hội mới ra đời với tính ưu việt của nó sẽ thay thế một chế độ xã hội cũ đã lỗi thời, lạc hậu. Cụ thể, xã hội Chiếm hữu nô lệ thay thế xã hội Cộng sản nguyên thủy, xã hội Phong kiến thay thế xã hội Chiếm hữu nô lệ, xã hội Tư bản thay thế xã hội Phong kiến. Theo quy luận đó, phải chăng xã hội Cộng sản chủ nghĩa theo tư tưởng Mác-xít mà giai đoạn đầu là Chủ nghĩa xã hội sẽ thay thế xã hội Tư bản khi nó không còn phù hợp nữa. Mục đích của xã hội Cộng sản chủ nghĩa là đem lại dân chủ, hạnh phúc, đủ đầy cho mọi người dân trên toàn thế giới và cũng là mục đích mà loài người cần vươn tới. Đó chính là một xã hội ưu việt.
Thực tế xã hội Cộng sản chủ nghĩa đã làm được những gì? Chủ nghĩa xã hội (giai đoạn đầu của chủ nghĩa Cộng sản) đã làm nên những kỳ tích mà lịch sử không thể phủ nhận được. Đó là: nếu như trước đây, Cách mạng Tháng Mười Nga thành công, nhà nước Xô-viết ra đời đã chiến thắng chủ nghĩa phát-xít mà nó đã đem đến bao tội lỗi cho nhân dân trên thế giới; thì hiện nay, nền kinh tế của Trung Quốc đã vượt qua Nhật Bản, đứng thứ hai trên thế giới và vẫn đang phát triển mạnh. Thực tế đó đã chứng minh: chủ nghĩa Mác-xít sẽ là con đường để đưa một dân tộc đến cường thịnh.
Mặt khác, một sự vật, hiện tượng có thể ở một giai đoạn nhất định nào đó bị thụt lùi, nhưng sự thụt lùi đó lại chứa đựng những yếu tố để thúc đẩy nó phát triển cao hơn. Không có sự vật, hiện tượng nào phát triển một cách thuận lợi cả, mà đều phải trải qua những khó khăn, phức tạp nhất định, để rồi vươn tới cái lớn hơn, tốt đẹp hơn. Đúng vậy, Chủ nghĩa xã hội hiện nay đang lâm vào thoái trào, đó không phải là sai lầm của chủ nghĩa Mác-xít, mà do sự vận dụng một cách chưa phù hợp mà thôi. V.L. Lê-nin đã từng nói: Chủ nghĩa Mác không phải là một giáo điều, mà là “kim chỉ nam cho cuộc sống”. Vì vậy, nếu vận dụng chủ nghĩa Mác-xít một cách khoa học, phù hợp với điều kiện của mỗi nước trong từng giai đoạn cụ thể thì chắc chắn sẽ đưa đất nước đến cường thịnh và loài người sẽ tiến tới đích: dân chủ, hạnh phúc, đủ đầy.
Một cách nhìn thiển cận về Việt Nam
Bà “Tiến sĩ” cho rằng: Việt Nam vẫn còn trong tăm tối, là một trong số những quốc gia nghèo khổ nhất thế giới, mặc dù có nhiều tài nguyên thiên nhiên; sở dĩ không khai thác được, không giàu mạnh lên được, không tiến bộ được là vì thể chế chính trị. Đúng là “không ưa thì dưa có giòi”; hay vì một yếu tố nào đó làm cho Bà mờ mắt để không nhìn thấy một đất nước Việt Nam anh hùng trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm; hiện nay, trên tất cả các mặt: kinh tế, chính trị, ngoại giao, quốc phòng, an ninh đều phát triển bền vững. Tre Việt xin đưa ra một số vấn đề để minh chứng:
Một đất nước Việt Nam, đất không rộng, người không đông đã phải chụi 1.117 năm Bắc thuộc, luôn luôn bị ngoại bang có tiềm lực hơn đến xâm lược nhiều lần. Mặc dù bị bóc lộc tới tận xương tủy, bị đàn áp vô cùng dã man; nhưng với truyền thống “mất nước mà không mất làng”, cả dân tộc Việt Nam đã “rũ bùn đứng dậy”, từ già đến trẻ đều đoàn kết một lòng; trăm người như một, tất cả đứng lên đánh đuổi hết kẻ thù này đến kẻ thù khác, gành lấy độc lập, tự do, dân chủ. Thử hỏi, trên thế giới, từ trước đến nay đã có bao nhiêu dân tộc làm nên những kỳ tích như dân tộc Việt Nam nhỏ bé này?
Khi đất nước sạch bóng quân thù, trên mình còn mang đầy vết thương mà phải mất nhiều năm mới có thể chữa lành; nhưng Đảng Cộng sản Việt Nam luôn trung thành và vận dụng linh hoạt, sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lãnh đạo đất nước đã và đang đạt được nhiều thành tích quan trọng có ý nghĩa lịch sử. Cụ thể, kinh tế ổn định, duy trì được tốc độ tăng trưởng khá; đời sống nhân dân được bảo đảm và từng bước được cải thiện; quốc phòng, an ninh được tăng cường; thế và lực của đất nước được nâng lên; thiết lập quan hệ ngoại giao với 180 nước trên thế giới và vùng lãnh thổ, trong đó quan hệ đối tác chiến lược và đối tác toàn diện với 13 nước. Việt Nam đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc. Hiện là thành viên chính thức của WTO; Ủy viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2014 - 2016; Tổng Thư ký ASEAN nhiệm kỳ 2013 - 2017; Chủ tịch Đại hội đồng Liên minh Nghị viện (IPU)-132, v.v. Vị thế và uy tín của Việt Nam không ngừng được nâng cao trên trường quốc tế.
Mặc dù, Đảng Cộng sản Việt Nam còn một số hạn chế nhất định trong lãnh đạo đất nước, tham nhũng trong bộ máy nhà nước chưa được đẩy lùi,... nhưng Đảng đã đánh giá khách quan trên tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, định ra đường lối và lãnh đạo đất nước ngày càng hoàn thiện, phù hợp với tình hình cụ thể. Tuy nhiên, để đưa đất nước đến cường thịnh không phải một sớm, một chiều, mà là cả quá trình tìm tòi, phát hiện. Hơn nữa, 70 năm nay chỉ là những bước đi đầu tiên của cả một chặng đường dài để tiến lên xã hội ưu việt. Những bước đi đầu tiên làm sao tránh khỏi những vấp ngã, nhưng qua đó chắc chắn sẽ hoàn thiện dần.
Bà “Tiến sĩ”! Với cách nhìn thiển cận, hời hợt bên ngoài, chưa đi vào chiều sâu của sự việc thì không nên vội vàng đánh giá. Dù thế nào chăng nữa thì lịch sử đã và đang chứng minh: Chủ nghĩa Mác-xít vẫn là con đường duy nhất đưa xã hội đến hạnh phúc; Việt Nam sẽ trung thành đi theo con đường mà nhân dân đã lựa chọn./.

Aug 6, 2015

BBC DỪNG NGAY TRÒ DÈM PHA, XUYÊN TẠC NHẢM NHÍ

Tre Việt - ngày 5-7-2015, BBC tiếng Việt đăng bài viết của một vị người Việt Nam định cư ở Mỹ tự xưng là Phó giáo sư, Khoa Chính trị, Đại học Oregon, Hoa Kỳ với chủ đề: “Chính trị Việt Nam qua chuyến đi của ông Trọng”. Bài viết có đoạn: … chúng tôi không đánh giá cao chuyến đi của ông Trọng. Bởi đó là “áp lực từ Trung Quốc” và “đấu đá nội bộ”, không được những người Việt Nam ở Hoa Kỳ ủng hộ. Mặc dù, ông Giôn Mắc-kên ủng hộ nhưng không đủ quyền tự ý quyết định quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, v.v. 
         Vẫn là tư duy, cách nhìn thiện cận của một bộ phận người Việt Nam đã đi “giầy Mỹ” trong thời gian Mỹ xâm lược miền Nam Việt Nam. Sau Chiến thắng 30/4/1975, do nhận thức sai lệch đã khăn gói, quả mướp chạy theo Mỹ sang định cư ở Hợp chủng quốc Hoa Kỳ. Từ đó, đến nay, do tay đã nhúng chàm, phần tư duy của não bộ đã hư nên không nhận biết được sự thay da, đổi thịt từng giờ, từng ngày ở nước nhà (Việt Nam), trong đó có sự phát triển quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, sau 20 năm bình thường hóa (1995 - 2015). Do vậy trước một sự kiện chính trị lớn không chỉ riêng của Hoa Kỳ và Việt Nam mà với cả thế giới. Bởi họ mang nặng đầu óc chủ quan, định kiến, ác cảm với quê hương, đất nước Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Họ luôn có tư duy rằng, “Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo”, nội bộ lãnh đạo không phải vì dân, vì nước mà chỉ vì “lợi ích cá nhân, lợi ích nhóm”,… và chịu sự chi phối của một số nước. Thật là sự dèm pha, xuyên tạc nhảm nhí!
          Thực ra, họ cố tình không biết Đảng, Nhà nước ta từ khi lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành chính quyền (8/1945); trong suốt 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 - 1975) giành độc lập, tự do cho đất nước, dân tộc đến công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc ngày nay, Đảng ta đều có đường lối đối ngoại nhất quán là độc lập, tự chủ, tích cực hội nhập quốc tế, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Hiện nay, đường lối của Đảng là tiếp tục đưa quan hệ với các đối tác, nhất là các nước láng giềng, các nước trong khối ASEAN, các nước lớn, các nước bạn bè truyền thống đi vào chiều sâu, ổn định, vững chắc. Tiếp tục phát triển quan hệ với các nước, trước hết là các nước đối tác chiến lược, đối tác toàn diện; thúc đẩy quan hệ hữu nghị, đoàn kết, tăng cường hợp tác với các nước bạn bè truyền thống, các nước đang phát triển; các diễn đàn đa phương, song phương. Đồng thời, tiếp tục mở rộng quan hệ kinh tế, đối ngoại, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ cao cho sự nghiệp phát triển đất nước, tạo lợi ích đan xen với các đối tác. Chủ động tham gia và đóng góp vào các diễn đàn, tổ chức quốc tế và khu vực, nhất là trên lĩnh vực Việt Nam có lợi thế, những vấn đề trực tiếp liên quan đến an ninh, phát triển, lợi ích chiến lược của quốc gia. Việt Nam luôn thực hiện đường lối đa dạng hóa, đa phương hóa các quan hệ đối ngoại; đồng thời, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm của các tổ chức quốc tế. Vì thế, Việt Nam luôn thực hiện phối hợp chặt chẽ đối ngoại nhà nước, đối ngoại của Đảng và ngoại giao nhân dân, nhằm nâng cao vị thế và uy tín trên trường quốc tế; trong đó, có đưa quan hệ của Đảng ta đi vào chiều sâu, hiệu quả thiết thực, mở rộng quan hệ với các đảng cầm quyền, các đảng có vị thế trên chính trường các nước, các nước láng giềng, các nước ASEAN, các nước lớn, các đối tác quan trọng.
Chuyến thăm của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng và đoàn cấp cao Việt Nam sang Trung Quốc (tháng 4-2015), Hoa Kỳ (tháng 7/2015) và rất nhiều các nước khác của các đoàn đại biểu Đảng, Nhà nước Việt Nam thời gian qua chính là những hoạt động triển khai đường lối đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam không phải do sức ép, đấu đá nào cả như ai đó cố tình tượng tượng, gán ghép. Đặc biệt, chuyến thăm của Tổng bí thư Đảng cộng sản Việt Nam đến Hoa Kỳ là một dấu ấn lịch sử không chỉ riêng của Việt Nam và Hoa Kỳ mà cho cả thế giới, dù là khác biệt về chế độ chính trị vẫn có thể là bạn, đối tác của nhau.
Đường lối đối ngoại đúng đắn đó của Đảng được sự đồng tình ủng hộ mạnh mẽ của toàn thể nhân dân Việt Nam và bạn bè thế giới đã và đang huy động được sức mạnh to lớn của toàn thể dân tộc Việt Nam và của thế giới cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.


Aug 4, 2015

KHẨU PHẬT, TÂM XÀ

Tre Việt - Trung Quốc một trong 5 nước Ủy viên Thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc - một tổ chức có vai trò to lớn trong gìn giữ hòa bình, thúc đẩy thế giới phát triển bền vững - và cũng là nước được đánh giá có nền kinh tế lớn đứng thứ 2 trên thế giới (sau Mỹ), v.v. Với tiềm lực chính trị, kinh tế, quân sự mạnh, sự ảnh hưởng của Trung Quốc đối với khu vực Châu Á - Thái Bình Dương và thế giới là rất lớn. Đi đâu, ở đâu, trên bất cứ diễn đàn nào, lãnh đạo Trung Quốc cũng luôn tuyên bố mạnh mẽ về sức mạnh và sự “hữu hảo” của họ đối với các quốc gia, dân tộc, trong đó nhấn mạnh, Trung Quốc là một nhân tố có vai trò to lớn đối với sự ổn định, hòa bình và phát triển của khu vực và thế giới.
Tuy nhiên, lời nói của họ không được biểu hiện bằng việc làm, thậm chí còn ngược lại! Xin đơn cử ra đây hai việc:
Thứ nhất, năm nào cũng vậy, cứ khoảng trung tuần tháng 5, Trung Quốc lại đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá ở Biển Đông. Lý do mà họ đưa ra “cực kỳ tốt đẹp”, đó là nhằm “bảo vệ môi trưởng”, “bảo vệ, tái tạo nguồn hải sản lâu dài”, v.v. Tốt quá! Thế giới phải “ngả mũ kinh phục” tầm nhìn xa, trông rộng, tinh thần bảo vệ môi trường, môi sinh của Trung Quốc đối với Biển Đông!
Thứ hai, Trung Quốc đã tuyên bố về cái gọi “đường lười bò”, nhằm độc chiếm Biển Đông. Họ đã trắng trợn ăn cướp quần đảo Hoàng Sa và một phần quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Họ ngang ngược thành lập cái gọi là Tam Sa (quần đảo Hoàng Sa của Việt Nam), trao quyền lập pháp, đưa dân, mở các tua du lịch, đặt căn cứ quân sự,… ở cái gọi là Tam Sa. Hành động như vậy của họ phải chăng là vì hòa bình, hữu nghị, có xứng là một nước được trao chức Ủy viên Thường Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc? Có đúng với những lời rêu rao thường xuyên của họ? Đối với quần đảo Trường Sa, họ ngang ngược “ỷ mạnh, hiếp yếu”, đưa lực lượng quân sự đến xâm chiếm các đảo, bãi cạn của Việt Nam thuộc quần đảo này. Đồng thời, đẩy mạnh xây dựng biến các đảo, bãi cạn đó thành cứ điểm quân sự để tập trung lực lượng nhằm thực hiện âm mưu độc chiếm Biển Đông. Song song với hành động ngang ngược trên, họ ra sức tuyên truyền về việc làm “tốt đẹp” của mình, lớn tiếng dọa nạt các nước “nhỏ” trong khu vực, vuốt ve các nước “lớn” trên thế giới, che mắt dư luận quốc tế bằng “trách nhiệm lịch sử” của mình đối với hòa bình trên thế giới và khu vực.  Mưu đồ của họ thật là thâm hiểm, xấu xa.
Cho nên, chẳng ai tin vào những lời nói “tốt đẹp” đó của họ.
Nếu họ thật lòng, có trách nhiệm với tư cách “đàn anh”, “nước lớn”, thì họ hãy gắn nói với làm. Hãy trả lại quần đảo Hoàng Sa và các đảo, bãi cạn mà họ đã ăn cướp của Việt Nam cho Việt Nam. Nếu họ làm vậy, chắc rằng dư luận quốc tế sẽ đánh giá cao, nhân dân Việt Nam tin tưởng vào tình “đoàn kết, hữu nghị” của nước Trung Quốc láng giềng, “thân thiện”! Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử, chính trị và pháp lý để chứng minh và đã chứng minh rõ trước công luận quốc tế là Hoàng Sa và Trường Sa là một phần lãnh thổ không thể chia cắt thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Hay là việc “cấm đánh bắt cá ở Biển Đông” của Trung Quốc đâu phải là hành động bảo vệ môi sinh, môi trường. Mà chính là họ âm mưu ngang ngược hợp thức hóa cái “đường lưỡi bò”, tuyên bố chủ quyền với Biên Đông. Ở Biển Đông, Trung Quốc không có cái quyền cấm ai đó, bởi Biển Đông không phải thuộc chủ quyền của họ. Họ muốn ra lệnh cấm thì về đất nước họ, sông ngòi, ao hồ, vùng biển của họ mà ra lệnh. Họ không và không được ỷ thế nước lớn đó áp đặt cho người khác. Nếu xét thấy là cần thiết, Việt Nam sẽ làm điều đó. Nếu thật tâm muốn bảo vệ môi trường, môi sinh, họ hãy dừng ngay hành động xây dựng trái phép biến Hoàng Sa và một số đảo, bãi đá cạn ở Trưng Sa thành những căn cứ quân sự. Hành động này của họ đã và đang phá hoại môi trường hòa bình, ổn định; làm tổn hại nghiêm trọng môi trường sinh thái, làm biến dạng và phá hủy nhiều rạn san hô, làm cạn kiệt nguồn khai thác của hằng triệu triệu ngư dân truyền thống trên Biển Đông. Thực tế cho thấy, việc xây dựng trái phép đảo nhân tạo của Trung Quốc đâu phải là để “nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, phòng chống thiên tai và… chống cướp biển” như họ nói, mà chính là họ đang ngăn cản những hoạt động nghiên cứu khoa học, họ phá hoại và tàn phá môi sinh,… hay thực chất chính họ là những kẻ cướp biển của Việt Nam.
Ngày 01-8 năm nay, sau thời hạn cái lệnh “cấm” đơn phương và trái phép của họ hết hiệu lực, 15.000 con tàu cùng với hàng chục vạn ngư dân và thủy thủ của Trung Quốc lại hùng hục lao đến Biển Đông. Đồng thời, ngư dân Trung Quốc đã giở thói côn đồ tấn công và cướp tài sản trên tàu cá của ngư dân Việt Nam. Điều này ai cũng biết, chỉ cần đưa ra một ví dụ: ngày 30-7, khi nhận thông tin cầu cứu từ tàu cá QNg 95987-TS bị chết máy và trôi dạt tự do trên biển gần quần đảo Hoàng Sa, tàu cá QNg 90127-TS đến ứng cứu. Đến nơi, thì bị tàu Trung Quốc (số hiệu 02) lao đến và áp sát. Ngư dân Trương Quang Thiên (thuyền viên tàu QNg 90127-TS) cho biết: “Khi vừa áp sát tàu cá, nhóm người Trung Quốc tràn qua tàu cá khống chế, rồi dồn 13 ngư dân ở mũi tàu. Sau đó, bọn chúng lục tung đồ đạc lên, chúng lấy máy dò, máy Icom, đập bể cửa kính cabin, cướp bành dây hơi và khoảng 6 tấn hải sản. Bọn chúng còn dùng dùi cui đánh đập vào người, đầu ngư dân. Khi không còn gì để lấy nữa, chúng bám theo chúng tôi khoảng 5 hải lý rồi mới cho đi”. Ước tính tổng thiệt hại ban đầu khoảng 500 triệu đồng. Nghiệp đoàn Nghề cá xã An Hải (huyện Lý Sơn) cũng cho biết, lúc 9h ngày 31-7, tàu cá QNg 96507-TS do ngư dân Nguyễn Lợi (ngụ xã An Hải, huyện Lý Sơn) làm thuyền trưởng đang khai thác thủy hải sản tại vùng biển quần đảo Hoàng Sa bị nhóm người Trung Quốc đi trên 3 chiếc tàu (số hiệu 46102, 45101 và 37102) dùng súng AK và dùi cui điện đánh đập, tấn công ngư dân gây thương tích. Sau đó, phía Trung Quốc đập phá trang thiết bị cùng ngư lưới cụ và cướp toàn bộ hải sản khai thác được. Việt Nam kiên quyết phản đối, lên án những hành động ăn cướp của Trung Quốc.

Những hành động của Trung Quốc chỉ nhằm tới một mục đích duy nhất và lớn nhất, đó là độc chiếm Biển Đông. Mưu đồ hiểm độc, xấu xa và mọi hành động được che đậy bằng những lời “tốt đẹp”. Song, dư luận quốc tế, mọi người dân Việt Nam đều thừa biết đó là thói “miệng nam mô, bụng bồ dao găm”, “khẩu Phật, tâm xà” - luận điệu của những kẻ cướp./.

Jul 15, 2015

TRUNG QUỐC ĐỪNG TỎ THÁI ĐỘ HẬM HỰC

TRE VIỆT - Ngày 14-7-2015, VOA tiếng Việt với bài: “Báo chí Việt - Trung khẩu chiến về chuyến đi Mỹ của ông Trọng”. Bởi lẽ, sau chuyến thăm Hoa Kỳ của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, kết thúc cuối tuần trước, tờ Hoàn Cầu Thời Báo, một ấn phẩm của tờ Nhân dân Nhật Báo, thuộc Đảng Cộng sản Trung Quốc viết rằng, Hà Nội “đang chịu sức ép chính trị ngày càng tăng từ Mỹ mà về lâu dài sẽ là một thách thức đối với sự ổn định của Việt Nam”. Tờ báo này hậm hực và đe dọa: “Mối quan hệ thân cận hơn giữa Việt Nam và Mỹ một phần là nhằm đối phó với Trung Quốc, và kéo theo biện pháp trả đũa từ Trung Quốc. Điều này sẽ gây áp lực lên cả ba phía, và khi đó, Việt Nam có thể trở thành kẻ chịu thiệt hại nhiều nhất”. Qua đó cho thấy, Trung Quốc đừng tỏ thái độ hậm hực như vậy, vì nó chỉ làm tổn thương danh dự của chính nước này mà thôi. Ai cũng biết, Trung Quốc là nước lớn, mọi hành xử phải tỏ rõ là người đàng hoàng, đĩnh đạc, đừng vì sự tiến bộ của người khác, nước khác, chỉ sợ người ta hơn mình mà tỏ thái độ ghen ghét, đố kỵ. Đó là thói xấu cần phải thay đổi. Không ai ưa cái tính tiểu nhân ấy cả, cần tỏ rõ là người quân tử chứ. Với đường lối đối ngoại ngày càng rộng mở theo tinh thần đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ đối ngoại, Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và có trách nhiệm của tất cả các nước và cộng đồng quốc tế phấn đấu vì hòa bình, ổn định và thịnh vượng của mỗi nước, khu vực và thế giới. Trên tinh thần đó, Việt Nam đã gác lại quá khứ (chứ không quên quá khứ), vì không ai có thể thay đổi được quá khứ để hướng tới tương lai, cùng các nước, các dân tộc trong cộng đồng quốc tế phấn đấu cho một tương lai tốt đẹp cho mỗi nước, mỗi dân tộc và cả nhân loại. Vì thế, với truyền thống nhân nghĩa, lòng bao dung, vị tha, Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam luôn coi những nước cựu thù thành đối tác, thành bạn trong công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, như các nước: Nhật Bản, Pháp và ngày nay là Hoa Kỳ, hay ngay như Trung Quốc đã từng “dạy” cho Việt Nam một bài học vào tháng 02-1979 (và không biết ai dạy ai) thì ngày nay cũng là bạn, là đối tác của nhau đấy thôi. Thế mà, khi Việt Nam quan hệ ngoại giao với Hoa Kỳ, Trung Quốc tỏ thái độ hậm hực là sao? Trung Quốc muốn “tọa sơn con hổ đấu” hay sao? Thói xấu này phải từ bỏ ngay! Nếu không Trung Quốc sẽ trở nên đơn độc trong thế giới ngày càng văn minh hiện đại. Bởi người ta có đặt quan hệ ngoại giao với Trung Quốc cũng chỉ “bằng mặt không bằng lòng” mà thôi.
          Tờ Hoàn Cầu - tờ báo có tư tưởng dân tộc chủ nghĩa còn hù dọa: “Cho tới nay, chưa có nước nào hưởng lợi từ việc lôi kéo Mỹ can thiệp vào cuộc tranh chấp với Trung Quốc, và việc này chắc chắn sẽ thất bại”. Xem ra lời lẽ trên của tờ báo này chẳng hù dọa được ai. Nước nào cũng có độc lập, chủ quyền, chẳng ai có thể lôi kéo được ai. Chỉ có những người, những nước bảo vệ lẽ phải và chân lý, tuân theo luật pháp quốc tế, còn kẻ nào tự đặt cho mình một luật riêng, mà luật ấy chỉ căn cứ vào lòng tham mà không có căn cứ vào lịch sử, chính trị, pháp lý nào thì nhất định thất bại mà thôi. Kẻ ấy sẽ bị cô lập, đơn độc và nhất định chuốc lấy thất bại. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ nhất định sẽ ngày càng phát triển tốt đẹp, vượt qua mọi sự thử thách, lòng đố kỵ, hậm hực của ai đó, để cùng xây dựng sự thịnh vượng, phát triển của mỗi nước, góp phần vào việc gìn giữ hòa bình, sự ổn định của khu vực và thế giới

Jul 12, 2015

KẾT QUẢ CHUYẾN THĂM HOA KỲ CỦA TỔNG BÍ THƯ NGUYỄN PHÚ TRỌNG ĐÃ BÁC BỎ MỌI LUẬN ĐIỆU XUYÊN TẠC

TRE VIỆT - Chuyến thăm Hoa Kỳ từ ngày 06 đến ngày 11/7/2015 của TBT Nguyễn Phú Trọng thực sự là một sự kiện, một bước ngoặt có tính lịch sử trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Chuyến thăm đã thảo luận hàng loạt các vấn đề then chốt tạo nền tảng vững chắc cho quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong tương lai. Điều đó đã bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, xấu độc.
Kết quả chuyến thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng đã mở ra các định hướng và tầm nhìn chung tạo nền tảng đưa quan hệ song phương Việt Nam - Hoa Kỳ phát triển trong thời gian tới. Bởi có thể thấy chuyến thăm đã mang lại những kết quả chủ yếu sau:
Thứ nhất, đây là chuyến thăm Hoa Kỳ đầu tiên của TBT ĐCS Việt Nam và cũng là lần đầu tiên TT Obama dành nghi lễ đón tiếp nguyên thủ đối với người đứng đầu đảng chính trị của một quốc gia, mà lại là người đứng đầu ĐCS. Điều này cho thấy lòng tin chính trị và sự phát triển vượt bậc của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ. Đồng thời, nó đã bác bỏ một số ý kiến trước chuyến thăm, như Bùi Tín cho rằng, “vị khách cồng kềnh”, làm cho Hoa Kỳ bối rối không biết đón tiếp theo nghi thức nào? Và ông già gần 90 tuổi đón già đón non các kịch bản có thể xảy ra. Cuối cùng, chính Bùi Tín đã thể hiện mình là ông già lẩm cẩm, không thức thời, mà lại hay nói. Việc làm ấy của Bùi Tín đã không như các cụ dạy “biết thì thưa thớt, không biết dựa cột mà nghe”, vì ông ta quên cả văn hóa dân tộc chăng?
Thứ hai, hai nhà lãnh đạo Việt Nam - Hoa Kỳ đã xem xét và ghi nhận kết quả thực chất đạt được trong nhiều lĩnh vực hợp tác giữa hai nước, từ kinh tế, thương mại đến giáo dục, khoa học và công nghệ; từ môi trường, biến đổi khí hậu đến quốc phòng, an ninh, rồi các lĩnh vực “nhạy cảm” như dân chủ, nhân quyền. Thực chất, đây chính là sự ghi nhận về sự phát triển bình thường trên tất cả các mặt của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sau 20 năm bình thường hóa. Bên cạnh đó, TBT Nguyễn Phú Trọng và TT Obama cũng bàn về cách thức làm sâu sắc và đa dạng hơn các lĩnh vực hợp tác ghi trong thỏa thuận Đối tác toàn diện. Điều này cho thấy, sự đan xen và có chung lợi ích giữa Việt Nam và Hoa Kỳ trong rất nhiều vấn đề. Lợi ích và sự hợp tác này không chỉ giới hạn trong khuôn khổ quan hệ song phương, mà còn trong các hợp tác khu vực, đa phương và toàn cầu.
Thứ ba, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi sâu và đạt được nhận thức quan trọng về một số vấn đề “cốt lõi” có tính lan tỏa, tăng cường lòng tin hoặc giúp thúc đẩy việc đan xen lợi ích tạo nền tảng vững chắc hơn trong quan hệ, như Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), hợp tác quốc phòng.
Về TPP, trong Tuyên bố về tầm nhìn chung Việt Nam - Hoa Kỳ, hai nước thể hiện muốn hợp tác để sớm hoàn tất tiến trình đàm phán. Là Hiệp định thương mại được coi là có tiêu chuẩn quốc tế cao nhất hiện nay, việc hoàn tất TPP sẽ giúp tạo sự liên kết giữa các thành viên một cách chặt chẽ hơn, giúp thúc đẩy sự thịnh vượng ở châu Á - Thái Bình Dương và sự thịnh vượng chung trên thế giới. Điều đó đã bác bỏ một số ý kiến đề nghị Hoa Kỳ, đưa vấn đề nhân quyền như là điều kiện để  ký kết TPP với Việt Nam.
Về hợp tác quốc phòng, Việt Nam và  Hoa Kỳ đều thể hiện quyết tâm làm sâu sắc và cụ thể hóa các lĩnh vực hợp tác được ghi trong Tuyên bố tầm nhìn chung về quan hệ quốc phòng ký tháng 6/2015. Trong bất kỳ quan hệ song phương nào, hợp tác quốc phòng sẽ tạo cơ sở xây dựng sự tin cậy chính trị và thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực khác.
Thứ tư, hai bên đã đạt được nhận thức mới quan trọng trong các vấn đề liên quan đến an ninh, an toàn hàng hải và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông. Đây là những chủ đề được các nhà lãnh đạo Việt Nam - Hoa Kỳ quan tâm và được đề cập trong hầu hết các cuộc gặp, các tuyên bố quan trọng. Điều này cho thấy: (1) Đây là các vấn đề ảnh hưởng trực tiếp nhất đến lợi ích quốc gia của Việt Nam và Hoa Kỳ; (2) Đây không chỉ là vấn đề liên quan đến an ninh khu vực, lợi ích của hai nước mà còn liên quan đến thịnh vượng và an ninh toàn cầu; (3) Việc kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế và xử lý hòa bình các tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông cho thấy, trách nhiệm của Việt Nam và Hoa Kỳ đối với các vấn đề toàn cầu.
Thứ năm, hai bên trao đổi thẳng thắn và cởi mở về các khác biệt, các điểm từng được coi là “nhạy cảm”, như: tôn giáo, dân chủ, nhân quyền, v.v. Điều này cho thấy: (1) Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, sau 20 năm đã trưởng thành, hai bên không còn lo ngại việc đề cập đến các khác biệt sẽ làm ảnh hưởng quan hệ giữa hai nước; (2) Các khác biệt về nhận thức, về cách tiếp cận trong các vấn đề “nhạy cảm” trên là lẽ đương nhiên, do sự khác nhau về thể chế chính trị, trình độ phát triển, khác biệt về văn hóa, tôn giáo, v.v. ; (3) Điều quan trọng là hai bên coi đối thoại là con đường tốt nhất để thu hẹp khác biệt, để hiểu biết nhau hơn, mở rộng các điểm tương đồng và đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tiếp tục phát triển. Vấn đề này cho thấy, một số ý kiến của những người có nhận thức sai trái, thù địch luôn luôn muốn Hoa Kỳ đưa những vấn đề nhạy cảm trên thành điều kiện để quan hệ hai nước. Kết quả của chuyến thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng hẳn đã làm cho họ sáng mắt và liệu họ có từ bỏ kiểu “chọc gậy bánh xe” chăng? Thực tế lịch sử Việt Nam đã khẳng định, có những nước là cựu thù sau trở thành quan hệ tốt đẹp, như: Việt Nam - Nhật Bản, Việt Nam - Pháp. Quan Việt Nam - Hoa Kỳ rồi cũng sẽ tốt đẹp như thế !
Đặc biệt là, bên cạnh việc tuyên bố tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi, Hoa Kỳ còn công nhận thể chế chính trị mà thực chất là tôn trọng sự lựa chọn chính trị của Việt Nam.
Sự có chung lợi ích quốc gia trên nhiều vấn đề là một trong những nhân tố quan trọng đưa quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ có những bước tiến dài, mà theo như TBT Nguyễn Phú Trọng nói là ít ai có thể hình dung nổi cách đây 20 năm và Phó Thủ tướng, Bộ trưởng bộ Ngoại giao Phạm Bình Minh thì cho rằng, “thời gian ngắn, bước tiến dài”.
Khi lên cầm quyền tháng 01/2009, Chính quyền của TT Obama đã thực hiện chiến lược xoay trục sang khu vực châu Á - Thái Bình Dương, coi quan hệ của Hoa Kỳ với khu vực này là ưu tiên hàng đầu, quyết định sự “thành, bại” trong việc tiếp tục duy trì vị thế siêu cường số 1 thế giới của nước này trong thế kỷ XXI.
Trong chiến lược xoay trục, Hoa Kỳ thấy tầm quan trọng ngày càng tăng của Việt Nam. Tuy chỉ là nước đang phát triển tầm trung, nhưng Việt Nam lại có nền kinh tế phát triển nhanh, tích cực hội nhập với khu vực và quốc tế. Quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ tốt sẽ giúp nước này mở rộng thị trường hàng hóa xuất khẩu, dịch vụ và đầu tư. Đồng thời, Hoa Kỳ nhìn thấy vai trò quan trọng cũng như tầm ảnh hưởng quốc tế của Việt Nam. Việt Nam đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đoàn kết, thống nhất nội khối làm cho ASEAN ngày một lớn mạnh, đóng vai trò trung tâm trong việc đảm bảo hòa bình và xây dựng cấu trúc khu vực về kinh tế, an ninh, chính trị ở khu vực. Hoa Kỳ coi Việt Nam là nhân tố quan trọng đóng góp vào sự thịnh vượng chung của khu vực và toàn cầu, cũng như trong việc đảm bảo an ninh, an toàn hàng hải ở Biển Đông.
Về kinh tế - thương mại, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất, đứng thứ 7 trong số các quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư lớn nhất tại Việt Nam. Ngoài ra, Hoa Kỳ còn là nước đi đầu trong lĩnh vực giáo dục, khoa học và công nghệ - những lĩnh vực then chốt đối với tiến trình phát triển và hội nhập của Việt Nam. Bên cạnh đó, là sự tương đồng trong cách tiếp cận giữa hai nước trong vấn đề an ninh, an toàn hàng hải và tranh chấp chủ quyền ở Biển Đông; đặc biệt là các hoạt động đơn phương gần đây nhằm tìm cách thay đổi nguyên trạng.
Như vậy, sau chuyến thăm Hoa Kỳ của TBT Nguyễn Phú Trọng đã đạt được một số kết quả đặc biệt quan trọng, tạo niềm tin cho chúng ta về sự tiếp tục phát triển của quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong những năm tới. Điều đó là  minh chứng bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc, xấu độc của những kẻ có tâm không trong sáng, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc của Việt Nam - Hoa Kỳ./.



Jun 24, 2015

CHỈ LÀ DỰ ÁN “LÝ THUYẾT XUÔNG”

Tre Việt - Vừa qua, trên kênh VOA tiếng Việt có đăng tải bài viết của tác giả Bùi Tín cho biết: tổ chức Tập hợp dân chủ đa nguyên - một tổ chức bao gồm nhiều trí thức người Việt và gốc Việt ở châu Âu, châu Mỹ và châu Úc, có trụ sở chính ở Paris (Pháp) đã cho ra mắt bản Dự án chính trị mang tên “Khai sáng Kỷ nguyên thứ hai”. Dự án muốn chỉ ra rằng “… từ khi lập quốc đến nay là Kỷ nguyên thứ nhất của các chế độ cũ, phong kiến, thực dân, cộng sản toàn trị, không có dân chủ tự do, kìm hãm dân tộc trong vòng lạc hậu tăm tối triền miên. Nay là lúc lịch sử sang trang,…”.
Từ trước đến nay, đã xuất hiện nhiều luận điểm, đề án, dự án,…có nội dung tương tự như vậy. Và lần này xem ra, đây lại là một Dự án “lý thuyết xuông” nữa, sẽ không thuyết phục được ai, trừ những người đã “cố dặn” ra nó.
Hãy cùng nhìn vào thực tế đang diễn ra ở Việt Nam. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam xác định: “Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bản chất của chế độ ta, vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự phát triển đất nước”. Vì thế, Đảng luôn coi trọng xây dựng và từng bước hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân. Trên thực tế, dân chủ được thực hiện trên tất cả các lĩnh vực thông qua hoạt động của Nhà nước do nhân dân bầu ra đã được thể chế hóa bằng pháp luật, được pháp luật bảo đảm. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Ðảng ta đã chỉ rõ một trong những nguyên tắc cơ bản để chỉ đạo đổi mới là xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân, thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội. Cương lĩnh và Hiến pháp nước ta luôn khẳng định: Dân chủ xã hội chủ nghĩa là bảo đảm mọi quyền lực thuộc về nhân dân; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân và phải được thể chế hóa quyền lực đó bằng pháp luật, được pháp luật bảo hộ. Chính vì thế, dân chủ là một trong những thành tựu quan trọng của công cuộc đổi mới, được thể hiện sinh động trên tất cả các lĩnh vực của đời sống: kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội,… từ thể chế đến chính sách. Nhân dân ta ở khắp mọi vùng, miền của đất nước cũng như đồng bào ta đang làm ăn, sinh sống ở nước ngoài đều cảm nhận thành tựu này qua đời sống hằng ngày, qua những đổi thay của đất nước.
Một trong những biểu hiện sinh động của việc phát huy quyền làm chủ của người dân là trong quá trình xây dựng dự thảo các văn bản luật, dưới luật đều được Đảng, Nhà nước ta giới thiệu công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để tham khảo ý kiến của đông đảo nhân dân. Mặt khác, Đảng, Nhà nước ta luôn chăm lo, quan tâm, tạo điều kiện để đồng bào thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, sống tốt đời, đẹp đạo; bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và thông tin được bảo vệ và tạo điều kiện phát triển, v.v. Điều đó bác bỏ luận điệu cho rằng, ở Việt Nam không có tự do dân chủ!
Dưới sự lãnh đạo của Đảng, đất nước ta đang tiến hành công cuộc đổi mới, đến nay đã được gần 30 năm và thu được nhiều thành tựu toàn diện trên các lĩnh vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế được thế giới đánh giá cao, sức mạnh kinh tế của đất nước tăng lên nhiều; phát triển văn hóa, xã hội hài hòa với phát triển kinh tế; xây dựng nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi văn hóa vừa là mục tiêu, vừa là động lực, là nguồn lực nội sinh của phát triển, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc. Đồng thời, quan tâm thực hiện các chính sách an sinh xã hội vì hạnh phúc của con người. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ, hệ thống cơ sở y tế được hình thành rộng khắp trong cả nước; số bác sĩ, số giường bệnh trên một vạn dân tăng nhanh. Cùng với đó, Việt Nam chủ động và tích cực mở rộng giao lưu, hợp tác, hội nhập quốc tế, uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao.
Như vậy, họ đã cố tình phủ nhận thực tế khách quan đang diễn ra ở Việt Nam, cho rằng, Đảng kìm hãm dân tộc trong vòng tăm tối triền miên là hoàn toàn vô căn cứ. Chính sự vô căn cứ đó đã nói lên sự thất bại tất yếu của cái gọi là “Dự án”.

Vẫn theo bài viết của Bùi Tín: “…Theo ban lãnh đạo của Tập họp dân chủ đa nguyên, đối lập dân chủ ở Việt Nam chưa thành công, còn yếu kém chủ yếu là do thiếu một dự án chính trị sát đúng với tình hình thực tiễn của nước ta và thế giới, đi sát nguyện vọng của nhân dân ”. Thế mới thấy: làm gì có Dự án nào sáng suốt, đúng đắn hơn quan điểm, đường lối lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đó là sự thật không thể phủ nhận!

Jun 21, 2015

SỰ NGỤY BIỆN CỦA TƯƠNG LAI

TRE VIỆT - Ngày 15-6-2015, trên trang boxit Việt Nam, Tương Lai có bài: “Góp ý kiến vào quá trình tiến đến Đại hội lần thứ XII của Đảng”. Trong bài viết ông ta nói rằng, “sẽ tập trung trình bày mấy vấn đề sau đây: Từ bỏ mô hình đã lựa chọn sai, mô hình Xã hội chủ nghĩa. Từ bỏ cái gọi là “Chủ nghĩa Mác –Lê-nin”. Trung thực và nghiêm túc thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Bài viết này, chỉ đề cập đến vấn đề thứ nhất mà ông góp ý: từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội để thấy sự ngụy biện của ông ta.
          Tương Lai cho rằng, “Hiện nay, loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa nữa, mà cũng chưa từng có chủ nghĩa xã hội đích thực. Hai thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội”, thì một không còn phản ánh một thực tế nào nữa, và một thì chưa hề phản ánh một thực tế nào cả. Cái thứ nhất là “chủ nghĩa tư bản”, cái thứ hai là “chủ nghĩa xã hội”. Cũng có nghĩa là mục tiêu mà chúng ta, nói đúng hơn là Đảng áp đặt cho cả dân tộc ta, cho toàn xã hội phải hướng tới một mục tiêu mù mờ để ra sức xây dựng”. Tương lai đã đúng khi cho rằng, chủ nghĩa tư bản không còn nguyên nghĩa nữa. Nhưng xin lưu ý ông, những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi. Đó là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất. Đã từ lâu, giai cấp tư sản thực hiện bán cổ phần cho giai cấp công nhân, nhưng ông chủ tư sản vẫn chiếm số lượng cổ phiếu áp đảo. Nói cách khác, cơ sở sản xuất vẫn do ông chủ nắm giữ và chính ông ta có quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy là, vai trò, vị trí của chủ - thợ cũng rất rõ ràng, không có gì khác trước cả.
Các nước tư bản còn khả năng phát triển, vì sự phát triển của nó chưa tới giới hạn, nên trong quá trình phát triển điều tất yếu là phải quan tâm đến an sinh xã hội. Mặc dù vậy, bần cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối mà C. Mác đã chỉ ra đến nay xã hội tư bản vẫn không có gì thay đổi. Cho nên, mặc dù, chủ nghĩa tư bản không còn nguyên nghĩa, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn là chính nó. Bởi cái mà chủ nghĩa này thay đổi chỉ là sự thay đổi những cái không thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản mà thôi.
          Về chủ nghĩa xã hội, đúng là chưa có trong thực tiễn. Xin lưu ý ông rằng, chưa có chứ không phải không có. Nhưng thực tiễn đã chứng tỏ rằng, chưa có mà không dám dấn thân thì không bao giờ tìm ra chân lý. Lịch sử nước ta cho thấy, phong kiến phương Bắc đô hộ dân tộc Việt Nam cả nghìn năm. Nghìn năm so với một đời người thì quá dài và đời người quá ngắn ngủi. Nếu cứ suy nghĩ như Tương Lai: cả nghìn năm dân tộc ta đã chịu cảnh đô hộ của phong kiến phương Bắc như thế rồi, thì phải chấp nhận thôi. Và như vậy, không có cuộc cách mạng nào đánh đổ phong kiến phương Bắc để giành độc lập dân tộc chứ gì? Nhưng không. Dân tộc ta không phải ai cũng suy nghĩ như ông. Những người con yêu nước Việt Nam với ý thức tự tôn dân tộc, nên dù phong kiến phương Bắc có đô hộ cả nghìn năm, vẫn có những người đứng lên tạo dựng ngọn cờ tập hợp nhân dân vùng lên quyết đánh đổ phong kiến phương Bắc, dân tộc ta mới được độc lập như ngày nay đấy ông ạ. Lịch sử hiện đại của dân tộc ta cũng cho thấy, dù thực dân Pháp đô hộ gần thế kỷ, nhưng không chịu khuất phục, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã đứng lên đánh đổ thực dân giành độc lập dân tộc. Nếu cứ lối suy nghĩ của ông: gần thế kỷ có làm gì được thực dân Pháp đâu, thôi thì cam chịu kiếp ngựa trâu chứ gì? Trong khoa học cũng vậy, nếu tìm chân lý mà không dám dấn thân, chỉ dám đi theo con đường mà người khác đã đi thì làm gì có sự phát triển, làm gì tìm ra được chân lý mới. Thực tế cho thấy, trong khi cả giáo hội, thế giới quan niệm: trái đất đứng im, chỉ có một nhà khoa học với niềm tin khoa học của mình quả quyết rằng: trái đất không đứng im mà nó tự quay quanh mặt trời, dù có phải trả giá bằng tính mạng, nhà khoa học đó vẫn khẳng định và điều đó về sau được khoa học chứng minh nhà khoa học này đã đúng. Như vậy, thực tiễn chứng tỏ, chân lý không phải thuộc về số đông. Cho nên, ngày nay, mặc dù các nước kiên định con đường phát triển xã hội chủ nghĩa không nhiều, nhưng không không vì thế mà cho rằng, các nước lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xã hội là sai lầm. Thế thì làm sao phải từ bỏ con đường phát triển chủ nghĩa xã hội hả Tương Lai?
          Ông nói đưa dân tộc đi theo chủ nghĩa xã hội là “sự mù mờ” (!), lại chứng tỏ ông chưa nghiên cứu Cương lĩnh xây dựng đất nước lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh đã xác định rõ các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Ông hãy tìm nghiên cứu! Ở đó, cho thấy, những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà dân tộc ta đang xây dựng. Tất nhiên, xã hội đó do chưa có trong lịch sử, nên trong quá trình xây dựng, phải vừa thiết kế, vừa thi công để làm sao xã hội đó khắc phục được những khuyết tật của các chế độ xã hội trước, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhất cho nhân dân; đồng thời, bảo vệ được độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, v.v. Vì thế, nó đòi hỏi phải có thời gian dài, rất dài. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: không biết đến thế kỷ XXI đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện hay chưa cũng vì thế! Xin lưu ý là chủ nghĩa xã hội hoàn thiện, nói cách khác chủ nghĩa xã hội đích thực, còn hiện nay chúng ta xây dựng xã hội hướng tới chủ nghĩa xã hội, nên có mặt đạt được, có mặt chưa đạt được cần tiếp tục xây dựng, mặt đạt được cũng cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao. Điều đó chứng tỏ việc xây dựng xã hội mới đòi hỏi quá trình gian khổ và lâu dài, nhất là xã hội ấy chưa có trong lịch sử, nhưng là người cách mạng phải có niềm tin cách mạng ông ạ. Tương Lai về già xem ra lập trường thiếu sự kiên định, niềm tin cách mạng không biết đánh mất từ bao giờ? Để ông ta luôn luôn có những phát biểu, ý kiến không đồng thuận với đường lối của Đảng như thế. Nên có người gọi ông là người đi ngược quả không sai!