Oct 18, 2015

THẤT BẠI LÀ ĐIỀU TẤT YẾU

          TRE VIỆT - “Trước quốc nạn, chúng ta phải làm gì, và làm thế nào?” là tên bài viết của Bùi Tín trên blog của ông ta, lại được mõ làng - VOA tiếng Việt - đăng ngày 18/10/2015. Đọc bài viết thấy rõ tâm địa đen tối của Bùi Tín (kẻ đảo tẩu đã mấy chục năm rồi, nay đã gần 90 tuổi) như con rắn độc.
          Cuối bài viết này, Bùi Tín “nhắn nhủ”: “Rất mong những suy tư, góp ý của một cựu đảng viên cộng sản, nay là nhà báo tự do sắp tròn 90 tuổi, sẽ là chút cống hiến nhỏ bé cho cuộc cách mạng dân chủ đang độ chín tới hoàn toàn”. Đọc lời lẽ trên thấy ám ảnh nỗi thất vọng của kẻ “gần đất xa trời”. Hãy xem “cống hiến nhỏ bé” của kẻ này như thế nào?
          Kẻ sắp chết này “cống hiến” trên 4 nội dung: “I- Chúng ta làm gì?  II- Chúng ta làm cuộc cách mạng ấy như thế nào? III - Những ai tham gia cuộc cách mạng này? IV - Thời cơ đã đến?”. Nhưng đọc xem ra chẳng có gì gọi là “cống hiến” cả, chỉ là sự ăn cắp, cóp nhặt của người khác, nhằm kiếm ít bơ thừa, sữa cặn sống những ngày tháng cuối đời nơi đất khách quê người. Thật tội nghiệp cho ông già Bùi Tín.
          Bùi Tín nhai lại Trần Đĩnh trong cuốn Đèn Cù, khi Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo nhân dân đánh thực dân, đế quốc giành độc lập dân tộc thì nói là “tốt đen” cho Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc thì chỉ là cách diễn đạt khác với Trần Đĩnh mà thôi. Ai cũng biết trong cuộc kháng chiến chống xâm lược của dân tộc ta, thì chẳng những nhân dân Việt Nam mà nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới đều có chung kẻ thù là thực dân, đế quốc; đặc biệt là nhân dân các nước XHCN, tiêu biểu là nhân dân Liên Xô, Trung Quốc. Ấy thế mà, hết Trần Đĩnh, nay lại Bùi Tín cho rằng Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là “Đèn Cù”, “tốt đen” của Đảng Cộng sản Liên Xô, Trung Quốc. Bọn họ cố tình có mắt như mù, có tai như điếc không thấy rõ điều hiển nhiên: kẻ thù của bạn cũng là kẻ thù của ta, bạn của bạn cũng là bạn của ta, nên cứ nói xiên xỏ mà lại tự nhận là “cống hiến”. Cống hiến của họ là thế đấy!
          Bùi Tín lại nhai lại bài viết “Năm cùm một gông” mới đây của ông ta cũng trên mõ làng - VOA. Mà không chỉ ông ta, có một số kẻ khác cũng ra sức kêu gào chủ nghĩa Mác – Lê-nin đã hết thời, CNXH mơ hồ, phê phán kinh tế quốc doanh, thì cũng chẳng qua ông ta tham gia dàn đồng ca lạc điệu mà thôi. Xin thưa, tư tưởng của C. Mác vẫn tỏa sáng trong thế kỷ XXI là nhận định của nhiều học giả, chính khách trên thế giới. Các tác phẩm của C. Mác được nhà xuất bản ở Đức giữ bản quyền vẫn tái bản nhiều lần nhằm đáp ứng yêu cầu nghiên cứu của các nhà kinh tế tư sản. Hiện nay, mặc dù số nước đi theo con đường XHCN có ít hơn trước, nhưng vẫn chiếm 1/5 dân số thế giới. Và dù ít vẫn là chân lý. Lịch sử đã chứng minh cả giáo hội và nhận thức của con người trước đó đã thua nhận thức của một nhà khoa học khi chứng minh: Trái đất không đứng yên, mà nó tự quay quanh mặt trời. Sau đó, người ta mới thấy rõ tư duy vượt trước thời đại của nhà khoa học thiên tài và phải ngả mũ trước sự thiên tài này. Còn với kinh tế nhà nước mà ông gọi là quốc doanh (tuy không hoàn toàn đồng nhất), như ông đã biết, bất kỳ nước nào cũng phải dựa trên tiềm lực kinh tế nhất định, phải có cơ sở kinh tế để nhà nước thực hiện chức năng của mình. Với nhà nước XHCN phải có kinh tế nhà nước để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, thực hiện chính sách an sinh xã hội. Nhờ có kinh tế nhà nước mà Việt Nam thực hiện xóa đói giảm nghèo trở thành “điểm sáng”, “hình mẫu” trong thực hiện Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ của Liên hợp quốc, được cộng đồng quốc tế đánh giá cao, và mong muốn Việt Nam chia sẻ kinh nghiệm. Ông chuyên theo dõi tình hình đất nước, nhưng chỉ để ý các tin phục vụ tâm địa đen tối, làm nọc độc của con rắn, mà cố tình nhắm mắt làm ngơ trước đánh giá của Hội nghị phát triển bền vững của Liên hợp quốc vừa mới họp ở Hoa Kỳ hay sao?
Ông lại cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam “lừa dân” nói đổi mới, nhưng “đổi mà không mới”. Ông già Bùi Tín ơi, Đảng Cộng sản Việt Nam đã công khai tuyên bố là đổi mới, nhưng không đổi màu. Cái ông đòi hỏi là phải đổi màu, muốn Việt Nam xa rời con đường phát triển XHCN thì chỉ có nằm mơ giữa ban ngày. Trong quá trình đổi mới xây dựng đất nước vì mục tiêu: “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, Đảng Cộng sản Việt Nam phải lãnh đạo giữ vững định hướng XHCN. Điều đó đã thể hiện rõ, công khai trong các văn kiện của Đảng, ông nói “mỵ dân” là sao?
Con rắn độc Bùi Tín, cổ súy cho cách mạng màu ở Việt Nam. Ông ta cho rằng: “Ngày nay, nhờ phương tiện truyền thông bén nhạy, Internet, điện thoại cầm tay, Facebook để tổ chức điều hành các cuộc xuống đường nhanh nhạy, chặt chẽ”. Đây là cách mà các thế lực thù địch đã tận dụng lật đổ chính quyền của một số nước trên thế giới, ai cũng biết mà lão già này tự nhận là mình “cống hiến” (!). “Cống hiến” của ông ta là nhằm thay đổi chế độ XHCN ở Việt Nam, đòi đa nguyên, đa đảng, đòi hiến pháp khác, quốc hội khác. Đúng là rắn độc. Nhưng ông già gần đất xa trời thì làm được gì chứ? Hơn nữa, nhân dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, tin vào con đường Đảng, Bác Hồ và nhân dân đã lựa chọn. Đành rằng, trong quá trình dựng xây đất nước, ở chỗ này chỗ khác, lúc này lúc khác trong đội ngũ của Đảng vẫn còn một bộ phận suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Số cán bộ, đảng viên này không thực sự vì dân làm hoen ố hình ảnh của Đảng mà Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng đã chỉ ra. Một Đảng giấu diếm khuyết điểm của mình là một đảng yếu, đảng có gan chỉ ra khuyết điểm của mình là một đảng mạnh, như Hồ Chí Minh đã nói. Đảng Cộng sản Việt Nam đã nhìn thấy, chỉ rõ khuyết điểm của mình và quyết tâm khắc phục, nhằm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, đáp ứng yêu cầu lãnh đạo đất nước trong thời kỳ mới, thì đó là một đảng mạnh. Vậy nên, “cống hiến” của Bùi Tín thất bại là điều tất yếu./.

Oct 17, 2015

PHÚC TRÌNH CỦA BỘ NGOẠI GIAO HOA KỲ VỀ TỰ DO TÔN GIÁO LẠI BỊ SAI LỆCH

TRE VIỆT - “Đáng tiếc Báo cáo tự do Tôn giáo quốc tế 2014 của Hoa Kỳ, mặc dù đã ghi nhận những thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này, vẫn tiếp tục đưa ra một số đánh giá không khách quan, trích dẫn những thông tin sai lệch về Việt Nam”. Đó là khẳng định, của Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Lê Hải Bình, tại cuộc họp báo thường kỳ ngày 15/10 vừa qua, phản đối Phúc trình hằng năm về tự do tôn giáo thế giới, của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố ngày 14/10/2015.
Điều 24, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 ghi rõ: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”.
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân Việt Nam được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp quy khác. Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo có hiệu lực từ 15/11/2004, đã thể chế hóa đường lối, chủ trương, chính sách về tín ngưỡng, tôn giáo của Nhà nước Việt Nam, bảo đảm cho công dân thực hiện quyền về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Ngày 01/3/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định 22/2005/NĐ-CP để hướng dẫn một số điều trong Pháp lệnh Tín ngưỡng, Tôn giáo. Trên cơ sở đánh giá thực tiễn hoạt động tôn giáo tại Việt Nam, tháng 11/2012, Việt Nam đã ban hành Nghị định 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết về biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo với nhiều điểm mới phù hợp với thực tiễn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho sinh hoạt tôn giáo của người dân; trong đó, có quy định điều kiện và thời gian để một hoạt động tôn giáo được cấp có thẩm quyền công nhận là tổ chức tôn giáo. Theo đó:
Về thời gian, sau 03 năm kể từ ngày được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo, tổ chức có hoạt động tôn giáo liên tục, không vi phạm các quy định của Điều 8, Nghị định 92/2012/NĐ-CP, ngày 08/11/2012 của Chính phủ và đáp ứng các điều kiện:
- Là tổ chức của những người có cùng tín ngưỡng, có giáo lý, giáo luật, lễ nghi không trái với thuần phong, mỹ tục, lợi ích của dân tộc;
- Có hiến chương, điều lệ thể hiện tôn chỉ, mục đích, đường hướng hành đạo gắn bó với dân tộc và không trái với quy định của pháp luật;
- Có đăng ký hoạt động tôn giáo và hoạt động tôn giáo ổn định;
- Có trụ sở, tổ chức và người đại diện hợp pháp;
- Có tên gọi không trùng với tên gọi của tổ chức tôn giáo đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận thì được quyền đề nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận tổ chức tôn giáo.
Về thẩm quyền công nhận và thời hạn trả lời:
Khoản 3, Điều 8, Nghị định 92 quy định:
- Trong thời hạn 45 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Thủ tướng Chính phủ xét công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động ở nhiều tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; trường hợp không công nhận phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do.
- Trong thời hạn 30 ngày làm việc kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xét công nhận tổ chức tôn giáo có phạm vi hoạt động chủ yếu ở một tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Chính phủ Việt Nam đã quy định rõ ràng như vậy, tín đồ các tôn giáo đã biết và hiểu rõ, muốn được cấp có thẩm quyền công nhận là tổ chức tôn giáo, thì phải đăng ký để được hoạt động theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Không đăng ký, hoặc đăng ký nhưng không đủ điều kiện trên thì không được công nhận là tổ chức tôn giáo thì không hoạt động như tổ chức tôn giáo được. Bởi lẽ, Việt Nam cũng như các quốc gia có chủ quyền khác, mọi hoạt động của tổ chức, cá nhân, trong đó có hoạt động tôn giáo đều phải tuân theo Hiến pháp và pháp luật. Thế mà, Báo cáo tự do Tôn giáo quốc tế 2014 của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ lại cho rằng, nhà cầm quyền Việt Nam tiếp tục giới hạn hoạt động của các tổ chức tôn giáo không đăng ký (!).
Khi được hỏi: Tại sao các tổ chức này không đăng ký hoạt động với nhà nước để được công nhận và sinh hoạt đạo dễ dàng hơn? Một số hội nhóm tôn giáo nói “thực hành tín ngưỡng là quyền căn bản, công dân có quyền sinh hoạt tôn giáo độc lập với nhà nước, không phải xin - cho”. Điều đó cho thấy, rõ ràng họ không muốn đăng ký vì muốn sống ngoài pháp luật, bất chấp luật pháp mà không nơi nào trên thế giới có được. Đó là sự đòi hỏi phi lý, không chấp nhận được. Đây chỉ là số ít, không phản ánh đúng bức tranh tôn giáo Việt Nam hiện nay, với 95% dân số có đời sống tín ngưỡng. Hằng năm, Việt Nam có khoảng 8.500 lễ hội tôn giáo hoặc tín ngưỡng cấp quốc gia và địa phương được tổ chức. Tín đồ tôn giáo hoàn toàn tự do trong việc thực hiện các nghi lễ tôn giáo, bày tỏ và thực hành đức tin tôn giáo của mình. Chức sắc, nhà tu hành các tôn giáo được tự do trong việc thực hành các hoạt động tôn giáo theo giáo luật. Việc phong chức, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc được thực hiện theo quy định của giáo hội. Các tổ chức tôn giáo đã được công nhận tư cách pháp nhân trong những năm qua đều có sự phát triển về số lượng cơ sở giáo hội, về tín đồ, chức sắc nhà tu hành, về việc xây dựng mới hoặc tu bổ các cơ sở thờ tự, bảo đảm kinh sách, các hoạt động tôn giáo theo hiến chương, điều lệ và giáo lý, giáo luật. Các chức sắc, nhà tu hành được tham gia học tập, đào tạo ở trong nước và nước ngoài hoặc tham gia các sinh hoạt tôn giáo ở nước ngoài. Nhiều tổ chức tôn giáo nước ngoài đã vào giao lưu với các tổ chức tôn giáo Việt Nam. Điển hình là, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức thành công Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc 2008 và 2014 tại Việt Nam.
Việc in kinh sách và xuất bản các ấn phẩm khác liên quan đến tôn giáo được duy trì thường xuyên, bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động tôn giáo tại Việt Nam. Hầu hết các tổ chức tôn giáo đã có báo, tạp chí, bản tin, như: Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Báo Giác ngộ của Phật giáo; Tập san Hiệp thông, Báo Người Công giáo Việt Nam, Báo Công giáo và Dân tộc của Công giáo; Tạp văn Hương sen của Phật giáo Hòa Hảo; Bản tin Mục vụ và Bản tin Thông công của Tin lành,… đã nói lên bức tranh phong phú, sinh động của tôn giáo Việt Nam. Đồng thời, bác bỏ báo cáo sai lệch về tình hình tôn giáo Việt Nam của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ./. 

Oct 11, 2015

ĐỪNG ĐÁNH TRÁO KHÁI NIỆM

Tre Việt - Ngày 08/10/2015, trên trang Ba Sàm có bài: “Đại hội Đảng XII: Sao phải chống “diễn biến hòa bình”? của Nguyễn Văn Do đã cho rằng: “DIỄN BIẾN HÒA BÌNH là điều vô cùng tốt đẹp! Vậy mà trong Dự thảo báo cáo Đại hội Đảng XII lại chống diễn biến hòa bình”. Nguyễn Văn Do còn viết tiếp: “Sử dụng giai cấp đấu tranh để giành chính quyền thì bất quá trở thành giai cấp thống trị chứ làm sao mang tới công bằng, hạnh phúc cho mọi người… Ở Sing, Thái Lan, Nhật, Mỹ, Âu châu,… có nước nào phải ra sức chống diễn biến hòa bình đâu. Khi có suy thoái về kinh tế, suy thoái về chính trị,… người ta lúc nào cũng chờ mong diễn biến, nhất là diễn biến hòa bình để thoát khỏi bế tắt, đâu có ai ngu đến nỗi chống lại điều tốt đẹp ấy,…”. Viết vậy, là ông ta đã đánh tráo khái niệm. 
          Cần thấy rằng: “Diễn biến hòa bình” là chiến lược cơ bản của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực thù địch, nhằm xóa bỏ CNXH và phong trào độc lập dân tộc. Chiến lược “Diễn biến hòa bình” được thực hiện thông qua phương thức tổng hợp, bằng các biện pháp phi quân sự là chủ yếu, thẩm thấu dần từng bước; tạo nên các nhân tố, lực lượng đối lập ngay trong lòng các nước XHCN và dân tộc độc lập để chống phá, tiến tới làm chệch hướng và lật đổ chế độ, giành thắng lợi cho chủ nghĩa tư bản mà không cần chiến tranh.
“Diễn biến hòa bình” có đặc trưng cơ bản sau:
          - Về mục đích: xóa bỏ CNXH trên quy mô toàn cầu, chống phá phong trào độc lập dân tộc, thiết lập trật tự thế giới mới do Mỹ lãnh đạo, chi phối.
          - Về phương thức: Với phương châm, “mềm, ngầm, sâu, trực tiếp, toàn diện”; tiến hành chống phá trên tất cả các mặt, thẩm thấu từ bên ngoài vào, đồng thời làm suy yếu và diễn biến từ bên trong.
          - Về lực lượng tiến hành: Bên trong nội bộ là chính kết hợp với xâm nhập, hỗ trợ từ bên ngoài thông qua các hoạt động phi quân sự.
          - Về không gian, thời gian: Mang tính toàn cầu, lâu dài.
          - Về thủ đoạn chủ yếu: Dùng biện pháp tổng hợp trên các mặt (chính trị, tư tưởng, văn hóa, kinh tế, an ninh, đối ngoại, quân sự...) lấy phi quân sự là chính, kết hợp răn đe can thiệp quân sự. Đồng thời, triệt để khai thác khoét sâu những sai lầm, yếu kém trong nội bộ để thúc đẩy tự diễn biến từ bên trong.
          Thực tiễn cho thấy, để lật đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước ở Đông Âu, chủ nghĩa đế quốc đã áp dụng các biện pháp, thủ đoạn sau:
          Chuyển hóa nội bộ, lợi dụng tôn giáo và khủng hoảng chính trị - xã hội, xóa bỏ chế độ XHCN thông qua bầu cử hợp hiến, như ở Ba Lan, Hung-ga-ri. Chuyển hóa bên trong, tạo khủng hoảng chính trị - xã hội, kết hợp kích động biểu tình, tạo áp lực của quần chúng đòi thay đổi chế độ, như ở Cộng hòa dân chủ Đức, Tiệp Khắc, Bun-ga-ri, Ru-ma-ni. Chuyển hóa và chia rẽ bên trong và bên trên, vô hiệu hóa lực lượng vũ trang, tạo ra tình thế phản cách mạng để thay đổi chế độ, như ở Liên Xô. Lợi dụng vấn đề dân tộc để kích động ly khai làm suy yếu hoặc tan rã quốc gia thống nhất, như ở Nam Tư.
          Một dạng của “Diễn biến hòa bình” là cách mạng màu. Đây là cuộc cách mạng dưới sự chỉ đạo, hỗ trợ về mọi mặt của Mỹ và phương Tây, các thế lực chống đối khoét sâu sai lầm, yếu kém của chính quyền, khó khăn của đất nước (khủng hoảng kinh tế - xã hội, tham nhũng - quan liêu, phân hóa chia rẽ nội bộ...); lợi dụng dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền để tiến công toàn diện về: chính trị, kinh tế, văn hóa, tư tưởng,... kết hợp với răn đe và gây áp lực của nước ngoài; lực lượng đối lập tập trung đánh thẳng vào cơ quan lãnh đạo nhà nước bằng thủ đoạn: vu cáo, xuyên tạc, bôi nhọ chính phủ, chia rẽ quân đội, cảnh sát, viện kiểm sát với ban lãnh đạo cấp cao, vô hiệu hóa lực lượng vũ trang và cơ quan bảo vệ pháp luật; đẩy đất nước lún sâu vào khủng hoảng toàn diện về: chính trị - kinh tế - xã hội. Vào thời điểm bầu cử, lực lượng chính trị đối lập huy động một bộ phận lớn quần chúng bị kích động, mua chuộc, tiến hành bạo loạn chính trị (có thể có vũ trang); lật đổ, cướp chính quyền ở thủ đô và các thành phố lớn, dựng chính quyền bất hợp pháp, được phương Tây ủng hộ.
           Vì vậy ngày nay, chống “Diễn biến hòa bình” là cuộc đấu tranh giai cấp, dân tộc hết sức quyết liệt, phức tạp và lâu dài của các nước XHCN và dân tộc độc lập trên thế giới với chủ nghĩa đế quốc. Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng đặt vấn đề phải chống “Diễn biến hòa bình” là vì thế./.

Oct 7, 2015

Tập Cận Bình nói càn xiên, ngang ngược!

Tre Việt - Nhân dịp chuyến thăm nước chính thức Hoa Kỳ vừa qua, tại cuộc họp báo chung với với Tổng thống Hoa Kỳ Brak Obama tại Vườn Hồng, ông Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa tuyên bố càn xiên, ngang ngược, rằng: Hoàng Sa (Trung Quốc gọi là Tây Sa) và Trường Sa (Trung quốc gọi là Nam Sa) từ xa xưa đã là của Trung Quốc(!?)
Thực ra, những tuyên bố càn xiên, ngang theo kiểu bá quyền nước lớn của các quan chức nhà nước Trung Quốc kiểu như vậy, vốn chẳng lại gì đối người dân Việt Nam. Và những lời nói đã bị nhân dân Việt Nam cũng như nhân dân Trung Quốc cực lực lên án. Thời gian qua, Trung Quốc liên tục có những lời nói, hành động nhằm thể hiện quyết tâm bành trướng ra toàn Biển Đông, điển hình là nhà cầm quyền Trung Quốc đã ra tuyên bố về cái gọi là “đường lưỡi bò”, xâm chiếm quần đảo Hoàng Sa và một số bãi đá, bãi cạn thuộc quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam); rồi đưa Giàn khoan Hải Dương-981 vào hoạt động thăm dò trái phép, hay cải tạo các bãi đá, bãi cạn trên vùng biển thuộc quần đảo Trường Sa của Việt Nam; liên tục có những hành động gây mất ổn định, an ninh, an toàn hàng hải trên Biển Đông, v.v. Những hành động ấy của Trung Quốc đã bị nhân dân Việt Nam, nhân dân yêu chuộng hòa bình, tiến bộ và công lý trong khu vực và trên thế giới lên án mạnh mẽ.
Xin thưa ông Tập! Việt Nam là một quốc gia độc lập có chủ quyền. Nhân dân Việt Nam luôn yêu chuộng hòa bình, phấn đấu chung sống hòa bình, là bạn, là đối tác có trách nhiệm với các nước trong khu vực và trên thế giới trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền của mỗi quốc gia, trong đó có Trung Quốc. Mọi lời nói, hành động làm tổn hại bầu không khí chung sống hòa bình, chủ quyền của các nước trong khu vực và trên thế giới đều bị Việt Nam lên án. Hơn nữa, Việt Nam và Trung Quốc là hai nước “núi liền núi, sông liền sông”, vốn có mối quan hệ rất đặc biệt, “vừa là đồng chí, vừa là anh em”, thường xuyên ủng hộ, giúp đỡ lẫn nhau lúc hoạn nạn, khó khăn. Ngày nay, Việt Nam và Trung Quốc đã có mối quan hệ hữu nghị, đối tác hợp tác chiến lược toàn diện; nhân dân Việt Nam và nhân dân Trung Quốc vốn có mối quan hệ chung sống hòa bình, hòa hợp, hòa hiếu, cùng nhau cần cù lao động dựng xây đất nước. Mối quan hệ này, đã tạo môi trường thuận lợi để nền kinh tế Việt Nam cũng như nền kinh tế của Trung Quốc từng bước phát triển vững chắc; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân hai nước. Trung Quốc được thế giới đánh giá là nền kinh tế lớn đứng thứ 2 thế giới, có tiềm lực quân sự mạnh trong khu vực, có tầm ảnh hưởng chính trị và kinh tế toàn cầu. Còn Việt Nam được đánh giá là nền kinh tế phát triển năng động, góp phần tích cực vào hòa bình và phát triển ở khu vực và trên thế giới
Trước phát biểu càn xiên, ngang ngược của ông Tập Cận Bình, Việt Nam có quyền đặt câu hỏi: Phải chăng, ông ta là lãnh đạo của Trung Quốc - nước lớn,… nên nói sao cho sướng mồm là được? Theo Tre Việt biết, người dân Việt Nam cũng như người dân Trung Quốc luôn tin tưởng vào lời phát biểu và hành động của lãnh đạo nước mình. Vì thế, phát biểu càn xiên, ngang ngược của ông cũng phải chăng là khuyến kích tư tưởng đại hán, bá quyền nước lớn vốn đã bị lịch sử lên án và đánh đổ?
 Thưa ông Tập! Người xưa nói rằng: “lời nói đọi máu”. Hoàng Sa và Trường Sa là của Việt Nam. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử và pháp lý để chứng minh điều đó và đã chứng minh rõ trước thế giới. Nhân dân Việt Nam sẵn sàng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ từng tấc đất của Tổ quốc. Tinh thần này luôn cuộn chảy trong máu, thịt của mỗi người con dân đất Việt trước đây cũng như hiện nay. Để bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán đối với các vùng biển của mình phù hợp với luật pháp quốc tế, Việt Nam, là nước đã tham gia Hội nghị lần thứ ba của Liên hợp quốc về Luật Biển từ năm 1977, là một trong 130 quốc gia tán thành ký thông qua Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 và cũng là một trong 119 quốc gia (trong đó có Trung Quốc) ký Công ước này. Ngày 23/6/1994, Quốc hội nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra Nghị quyết phê chuẩn Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982; ngày 12/5/1997, Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam ra công bố về lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của Việt Nam. Quá trình xác lập chủ quyền biển, đảo của mình trong khu vực đã được Đảng và Chính phủ Việt Nam cụ thể hóa bằng việc phê duyệt, ký kết song phương và đa phương giữa Chính phủ nước Cộng hòa XHCN Việt Nam với các nước có liên quan về vấn đề chủ quyền và quyền tài phán quốc gia trên các vùng biển chồng lấn hoặc có tranh chấp như: Hiệp định về vùng nước lịch sử Việt Nam - Campuchia (07/7/1982); Thỏa thuận hợp tác khai thác chung Việt Nam - Malaixia (05/6/1992); Phân định biển Việt Nam - Thái Lan (09/8/1997); Hiệp định Phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá ở vịnh Bắc Bộ giữa Việt Nam - Trung Quốc (25/12/2000); Nguyên tắc ứng xử ở Biển Đông giữa các nước ASEAN và Trung Quốc (DOC) ngày 04/11/2002; Hiệp định phân định thềm lục địa Việt Nam - Inđônêxia (26/6/2003), v.v.
Vậy việc tuyên bố càn xiên, ngang ngược của ông Tập Cận Bình liệu có đúng Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982? Hơn nữa, mối quan hệ hữu nghị truyền thống giữa Việt Nam và Trung Quốc do Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chủ tịch Mao Trạch Đông cùng nhân dân hai nước vun đắp, dựng xây đã được lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nhà nước Việt Nam - Trung Quốc ký thỏa thuận cùng nhau gìn giữ theo phương châm 16 chữ (do chính Trung Quốc khởi xướng) là: “Láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai” và 4 tốt “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt” bị ông quẳng đi đâu rồi? Chẳng nhẽ, chữ ký của lãnh đạo Trung Quốc vào Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 và những văn kiện, thỏa thuận nói trên là không có giá trị, chỉ để “cho vui” hay sao? Lãnh đạo Việt Nam và Trung Quốc cũng đã ký Tuyên bố Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản chỉ đạo giải quyết vấn đề trên biển phù hợp với các quy định và thực tiễn pháp luật quốc tế và nhiều văn kiện mang tính pháp lý khác giữa hai nước cũng như trong khu vực về việc giải quyết những bất đồng trên biển,… ông Tập Cận Bình quên, hay cố tình quên vậy? Thực ra Ông không quên đâu, nhưng cái tư tưởng đại hán, bành trướng bá quyền, âm mưu độc chiếm Biển Đông, biến tuyên bố cái gọi là “Đường lưỡi bò trên biển” thành hiện thực đã bị cả thế giới lên án, ngăn chặn. Cho nên, Ông nói càn xiên, ngang ngược như thế nhằm mục đích tiếp tục thực hiện những âm mưu xâm chiếm lãnh thổ đất đai của người khác thành của Trung Quốc, mà Ông là đại diện lãnh đạo tối cao chưa làm được. Một người hay một đất nước như thế thì không chỉ khó kết bạn, mà còn có lẽ chẳng ai dám kết bạn!
Việt Nam đã và đang đấu tranh cả về chính trị, ngoại giao và pháp lý buộc Trung Quốc chấm dứt hành động ngang ngược của mình trên Biển Đông. Hành động của Việt Nam được các nước trên thế giới (trong đó có Mỹ, Pháp, Anh) các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới ủng hộ (trong đó có ASEAN). Việt Nam có đầy đủ các nguồn lực, biện pháp, trước hết là những biện pháp hòa bình để bảo vệ chủ quyền của đất nước.
Lời phát biểu càn xiên, ngang ngược của ông Tập Cận Bình đã và sẽ tiếp tục bị nhân dân Việt Nam, nhân dân Trung Quốc và nhân dân yêu chuộng hòa bình, công lý trên thế giới lên án, bác bỏ./. 

Oct 1, 2015

Bùi Tín lại sủa

Tre Việt - Về bài viết: “Gỡ bỏ năm cùm và một xích” của Bùi Tín trên VOA Tiếng Việt, ngày 28/9/2015, bạn đọc Minh Quân đồng quan điểm với Tre Việt và giử đến bài viết: “Bùi Tín lại sủa”, xin giới thiệu cùng bạn đọc.

Bùi Tín lại sủa!

                                         Minh Quân

Bùi Tín, sinh năm 1927, là con của cố Chủ tịch Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa(cụ Bùi Bằng Đoàn). Ông ta được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện học tập, phấn đấu và từng bước trưởng thành với quân hàm đại tá, nhà báo, Phó Tổng biên tập Báo Nhân Dân (Việt Nam). Năm 1990, khi được cấp trên cử sang dự hội nghị hằng năm của báo Nhân đạo (thuộc Đảng Cộng sản Pháp), Bùi Tín đã “trở cờ”, trốn ở lại để “ăn nhờ, ở đậu” tại Pháp và tự cho mình là “nhà bất đồng chính kiến”, “nhà đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền”. Với cái mác nhà báo”, Bùi Tín cung cúc phục vụ cho lợi ích của các thế lực chống cộng - ông chủ đích thực của ông ta. Đặc biệt, Bùi Tín thường xuyên “lập công” với các ông chủ bằng cách ra sức xuyên tạc lịch sử, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Bộ mặt bẩn thỉu, có tâm địa xấu xa, mưu toan “cõng rắn, cắn gà nhà”, “rước voi dày mả tổ”, phản bội lại lợi ích của Đảng, Nhà nước và dân tộc Việt Nam của Bùi Tín đã được nhân dân Việt Nam, những người yêu chuộng công lý, hòa bình trên thế giới nhận rõ và lên án.
Ngày 28/9/2015, trên VOA (Tiếng Việt), lợi dụng Đảng Cộng sản Việt Nam lấy ý kiến đóng góp của nhân dân trong nước và người Việt Nam ở nước ngoài vào bản Dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, trình Đại hội XI của Đảng, Bùi Tín lại sủa lên ông ổng! Ông ta lu loa lên rằng, việc Văn phòng Trung ương và Ban Tuyên giáo Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam hướng dẫn về nội dung, phương pháp, hình thức góp ý của các tầng lớp nhân dân vào bản Dự thảo nói trên là chỉ nhằm “bịt mồm dân khi dân chưa kịp phát biểu” và “né tránh việc toàn Đảng và toàn dân góp ý về những vấn đề cơ bản mà rất nhiều trí thức, đảng viên cao cấp đang đòi thay đổi” những cái gọi là “năm cùm và một xích” và Việt Nam muốn tiến bộ, phát triểnnhất thiết phải “gỡ bỏ” những thứ đó!
Việc Đảng Cộng sản Việt Nam công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng để nhân dân đóng góp ý kiến vào Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XII của Đảng là chính đáng, nhằm để “ý Đảng, lòng dân” luôn hòa quyện, vì sự phát triển bền vững của dân tộc. Còn cái gọi là “năm cùm và một xích” như Bùi Tín sủa lên ông ổng, không có gì mới. Vẫn là “bổn cũ soạn lại”, mang giọng điệu của những kẻ trở cờ, núp danh “nhà yêu nước, mang cái mác “nhà trí thức”,… vẫnluôn ra rả chống phá sự phát triển bền vững của đất nước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.Chắc dạo này “đói”, nên Bùi Tín lại phải ông ổng lên để ông chủ thí cho tý bơ thừa, sữa cặn để duy trì kiếp sống vong nô, hèn hạ mà thôi!
V cái gọi là sai lầm “lựa chọn chủ nghĩa Mác – Lê-nin”, như Bùi Tín đã nói, cả về lý luận và thực tiễn vận động của lịch sử dân tộc Việt Nam đã khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là sự kết hợp đúng đắn giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin, phong trào công nhân và phong trào yêu nước ở Việt Nam cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Như vậy, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời có cơ sở chính trị, xã hội vững chắc, từ đòi hỏi thực tiễn của cách mạng Việt Nam. Vốn có “44 năm ở trong Đảng Cộng sản”, là “Đại tá, nhà báo”, nên chắc Bùi Tín được nghiên cứu kỹ, nắm chắc nguồn gốc ra đời, mục tiêu, lý tưởng, cương lĩnh chính trị, Điều lệ Đảng. Vì thế, ông ta thấy rõ, từ năm 1930 - 1975, đứng vững trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lê-nin, Đảng Cộng sản Việt Nam đã phất cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đề ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn, lãnh đạo nhân dân phát huy chủ nghĩa yêu nước chân chính, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, đoàn kết quốc tế, “đánh Pháp, đuổi Nhật”, “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào”, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước bước vào thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; đồng thời, đóng góp quý báu vào phong trào giải phóng dân tộc, vì hòa bình, tiến bộ trên thế giới. Việt Nam trở thành biểu tượng của nhân loại tiến bộ trong công cuộc đấu tranh xóa bỏ áp bức, bất công do chủ nghĩa thực dân cũ và mới gây ra. Từ năm 1975 đến nay,kiên trì, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo nhân dân từng bước hàn gắn vết thương chiến tranh, xây dựng đất nước Việt Nam “ngày càng đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Những thành tựu về xóa đói giảm nghèo, vì dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,… đã được khẳng định trên thực tế.
Hiện nay, thế và lực mới của Việt Nam trên trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Đất nước, con người Việt Nam đều đổi mới. 
Việt Nam đã từ một đất nước nghèo nàn, lạc hậu, bị tàn phá nặng nề bởi những cuộc chiến tranh xâm lược và sự chống phá quyết liệt của các thế lực thực dân, đế quốc, đã thoát khỏi tình trạng nước nghèo, trở thành nước phát triển trung bình, với tốc độ tăng trưởng GDP gần 7%/năm (giai đoạn 1986-2015), thu nhập bình quân 2.200 đôla/người/năm (năm 2015); có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; 54 dân tộc anh em luôn đoàn kết, giúp nhau cùng tiến bộ, chung sức dựng xây và bảo vệ Tổ quốc. 
Việt Nam đã có quan hệ hữu nghị, hợp tác cùng phát triển với trên 180 quốc gia, vùng lãnh thổ; là đối tác chiến lược, đối tác toàn diện với các nước là ủy viên thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc; là thành viên có uy tín và trách nhiệm với nhiều tổ chức lớn trong khu vực và trên thế giới, v.v. Việt Nam là điểm sáng trong thu hút các nguồn vốn ODA, FDI từ các thể chế kinh tế, tài chính lớn của thế giới; luôn đồng hành cùng các dân tộc, quốc gia để bảo vệ hòa bình, xây dựng môi trường quốc tế hòa bình, ổn định và cùng nhau phát triển.
Như vậy, việc Đảng Cộng sản Việt Nam lấy chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động là đảm bảo cho Đảng có cương lĩnh đúng đắn, lãnh đạo nhân dân xây dựng nước Việt Nam giàu mạnh là hoàn toàn phù hợp. Và vì tin tưởng vào nền tảng tư tưởng, cương lĩnh của Đảng, nên nhân dân Việt Nam đã trao quyền lãnh đạo Nhà nước và xã hội cho Đảng. 
Đây là sự thật lịch sử không thể bác bỏ!
Chỉ có những kẻ bị mù, hay thiểu năng trí tuệ như Bùi Tín mới không biết!

Sep 29, 2015

CHỈ VÌ TIỀN

Tre Việt - “Gỡ bỏ năm cùm và một xích” là bài viết của Bùi Tín trên VOA tiếng Việt, ngày 28/9/2015. Đọc bài viết thấy đáng thương cho Bùi Tín chỉ vì miếng cơm, manh áo nơi đất khách quê người, khi tuổi đã cao mà vẫn phải viết những điều không đúng lương tâm.
Ngày 15/9 vừa qua, Dự thảo các văn kiện sẽ trình Đại hội XII của Đảng được các phương tiện thông tin đại chúng đồng loạt đăng tải để lấy ý kiến đóng góp của các tầng lớp nhân dân. Theo đó, có Hướng dẫn tiếp nhận sự góp ý của toàn dân vào Dự thảo các văn kiện ấy, do Văn phòng Trung ương Đảng và Ban Tuyên giáo Trung ương thực hiện. Để ý kiến tập trung thì phải có hướng dẫn, bất kỳ văn bản hay cuộc họp sơ kết, tổng kết của cấp nào, bộ, ban, ngành đoàn thể nào cũng vậy. Đó là lẽ đương nhiên. Thế mà Bùi Tín lại cho rằng: “Họ khoanh lại, cứ như bịt mồm dân khi dân chưa kịp phát biểu” (!). Sao ông ta lại có thể viết như thế được? Câu trả lời chỉ có thể là vì miếng cơm, manh áo nên phải viết những điều trái lương tâm, đạo lý, lẽ phải thì mới được VOA đăng tải. Như vậy, thì mới có tiền để sống những ngày tháng cuối đời chứ! Thật tội nghiệp cho ông Bùi Tín ạ!
Ông ta đòi Đảng phải lấy ý kiến vào những thứ đã rõ ràng, bất di bất dịch, không cần tranh cãi. Đó là, kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tên gọi Đảng Cộng sản, chế độ một đảng, phương châm lấy quốc doanh làm chủ đạo nền kinh tế, và có tiếp tục xây dựng CNXH nữa không? Bởi vì, những thứ đó thay đổi thì cũng thay đổi bản chất, mục tiêu của Đảng và dân tộc mà biết bao thế hệ người Việt Nam đã phải hy sinh để đánh đổi, giành cho được; trong đó, có một phần nhỏ của chính ông - Bùi Tín ạ, khi ông là chiến sĩ giải phóng quân ấy. Những nội dung ông đòi lấy ý kiến nhân dân thực chất là ông muốn thay đổi, xa rời những điều đó với những lập luận cũ rích, được bao kẻ nhai đi nhai lại, nay ông tiếp tục lại nhai chẳng có gì mới cả, mà chỉ là kiểu “ăn theo nói leo” thôi. Ông cho rằng, học thuyết Mác – Lê-nin là sai lầm (!). Xin thưa, trong cuộc khủng hoảng kinh tế trên thế giới thì cuốn Tư Bản của Mác được tái bản nhiều lần và các nhà doanh nghiệp tìm đọc, nghiên cứu về Mác, nhằm cứu cánh cho sự phá sản chẳng nhẽ ông không thấy sao? Hay cố tình “mũ ni che tai” hả Bùi Tín? Ông cho rằng: chủ nghĩa cộng sản là tội ác của nhân loại (!) Ông lại có mắt như mù rồi Bùi Tín ơi. Đầu tháng 5 vừa qua, nước Nga đã long trọng kỷ niệm 70 năm chiến thắng phát xít và nhiều nguyên thủ quốc gia các nước trên thế giới có mặt tại buổi Lễ. Điều đó chứng tỏ ý nghĩa và tầm vóc lớn lao của Chiến thắng này đối với nhân loại. Thế giới phải thừa nhận không có Liên Xô và Hồng quân Xô-viết thì chủ nghĩa phát xít có thể sẽ tiêu diệt, xóa sổ nhiều dân tộc trên thế giới, không biết cái mạng sống của ông có còn giữ được như ngày nay không đấy để mà ngồi đó “nói quàng nói xiên”! Việc duy trì một đảng hay nhiều đảng là do nhu cầu của mỗi nước. Với Việt Nam, lịch sử đã chứng minh chỉ từ khi có Đảng Cộng sản ra đời lãnh đạo nhân dân ta mới giành được độc lập dân tộc. Trước đó, dân tộc Việt Nam không thiếu các phong trào mặc dù sáng ngời tinh thần yêu nước và đã thử nghiệm con đường cứu nước với nhiều phương án khác nhau nhưng đều không giành được thắng lợi do thiếu đường lối lãnh đạo đúng đắn. Vậy nên, Việt Nam không có nhu cầu phải đa đảng. Việc lựa chọn một đảng hay đa đảng là quyền tự quyết của mỗi dân tộc được pháp luật quốc tế thừa nhận, ông không thấy điều đó sao? Bùi Tín còn cho rằng, có nên “lấy sở hữu quốc doanh làm chủ đạo của nền kinh tế” hay không? Xin thưa, nước nào cũng phải dựa trên một cơ sở kinh tế nhất định, nền tảng kinh tế, cơ sở hạ tầng quyết định tính chất, bản chất của nhà nước. Với nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam, nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân thì phải có thực lực trong tay để điều tiết vĩ mô nền kinh tế và bảo đảm an sinh xã hội. Nếu không “lấy sở hữu quốc doanh làm chủ đạo của nền kinh tế” thử hỏi Nhà nước lấy gì để điều tiết vĩ mô nền kinh tế, lấy gì để thực hiện an sinh xã hội, để hướng đến phục vụ người nghèo, những người yếu thế trong xã hội? Hay là xã hội như ở các nước tư bản, số người giàu có chiến tỉ lệ nhỏ, nhưng lại chiếm hầu hết tài sản của xã hội, tạo nên bất bình đẳng “kẻ ăn chẳng hết, người lần không ra” hả Bùi Tín? Như vậy, đã rõ cái tâm của ông không vì cộng đồng mà vì thiểu số, số ít. Rõ ràng, như thế thì nhân dân Việt Nam không chấp nhận bởi truyền thống, đạo lý văn hóa của dân tộc “thương người như thể thương thân”, “Bầu ơi thương lấy bí cùng…” và “Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”, v.v. Ông đảo tầu đã mấy chục năm, xa quê hương đất nước lâu ngày nên hẳn đã quên truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc rồi chăng? Thật tội nghiệp cho ông “sai một ly đi một dặm”, không đảo tẩu thì giờ đây ông đã là cán bộ hưu trí, an nhàn tuổi già chẳng phải lo nghĩ gì, vì đã có chính sách xã hội chăm lo tuổi già cho ông. Đằng này, không viết thì ông lấy tiền đâu để lo những tháng ngày cuối đời bây giờ? Viết chỉ để kiếm tiền, bất chấp đúng sai phải trái à Bùi Tín ơi!

Ông cho rằng, những điều không lấy ý kiến trên chính là do sợi “dây xích Trung Quốc” (!) Từ đó ông kêu gọi phải “thoát Trung” (!) Ông còn trắng trợn nói như “đinh đóng cột”: “Bọn bành trướng Trung Quốc không thiếu mưu mô thâm hiểm, thừa tiền để đe dọa, mua chuộc với giá rẻ Bộ Chính trị Hà Nội vốn yếu bóng vía, thiếu dũng khí lại hám của” (!). Bùi Tín lại nhắm mắt làm ngơ, ngay tại Liên hợp quốc khi tham dự hội nghị về phát triển bền vững mấy ngày qua, Chủ tịch nước Trương Tấn Sang đã “lồng” vấn đề Biển Đông vào bài phát biểu. Nói thế để Bùi Tín thấy rằng, trong các hội nghị quốc tế, khu vực lãnh đạo Đảng, Nhà nước, bộ ngành,… đều quốc tế hóa vấn đề Biển Đông thể hiện lập trường trước sau như một của Việt Nam: kiên quyết bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; biển, đảo là một phần lãnh thổ thiêng liêng mà các thế hệ trước đã dày công xây dựng, vun đắp nên con cháu đời đời kiếp kiếp phải giữ vững chủ quyền thiêng liêng của dân tộc. Có điều là bảo vệ bằng biện pháp hòa bình, dựa vào luật pháp quốc tế và công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 để đấu tranh, hết sức tránh đối đầu và tránh dùng biện pháp quân sự. Vì như vậy, chỉ làm sâu sắc thêm mâu thuẫn về chủ quyền biển, đảo mà thôi Bùi Tín - ông già lẩm cẩm ạ! Đừng chỉ vì tiền mà viết bất chấp phải trái, đúng sai nhé Bùi Tín./.

Sep 27, 2015

UỔNG CÔNG

Tre Việt - Ngày 24/9/2015, VOA Tiếng Việt có bài “Phát động chiến dịch ủng hộ Linh mục Nguyễn Văn Lý”. Bài viết cho hay, cộng đồng người Việt tại Mỹ trong tháng này phát động chiến dịch thỉnh nguyện thư kêu gọi các tổ chức bảo vệ nhân quyền quốc tế vinh danh một nhà “bất đồng chính kiến hàng đầu” bị cầm tù lâu nay tại Việt Nam - Nguyễn Văn Lý. Vậy, Nguyễn Văn Lý là người như thế nào mà người ta phải làm như vậy? Liệu ông ta có xứng đáng với việc làm của họ?  
Nguyễn Văn Lý sinh ngày 15/5/1946, tại làng Ba Bình, Vĩnh Chấp, Vĩnh Linh, Quảng Trị. Năm 1974 tốt nghiệp khóa đào tạo linh mục của Đại chủng viện Huế, được bổ nhiệm làm thư ký Tòa Tổng giám mục Huế. Tháng 9/1977, bị bắt giam vì tội tuyên truyền phát tán nhiều tài liệu nội dung chống chính quyền cách mạng. Sau đó, Tòa Tổng Giám mục đã cách chức thư ký Tòa Tổng Giám mục và điều linh mục Lý về làm quản xứ Đốc Sơ, Hương Sơ. Là linh mục quản xứ, Nguyễn Văn Lý tiếp tục thực hiện hành vi phá hoại việc thực hiện chủ trương của Nhà nước về chính sách tôn giáo, kích động quần chúng, gây rối trật tự an ninh. Năm 1981, cố Tổng Giám mục Nguyễn Kim Điền đã quyết định tước quyền hoạt động mục vụ đối với Nguyễn Văn Lý. Ngày 09/12/1983, Tòa án Nhân dân tỉnh Bình Trị Thiên (cũ) đã kết án ông Lý 10 năm tù về tội phá hoại khối đoàn kết toàn dân. Mãn hạn tù, ông Lý về sinh sống ở Tòa Tổng giám mục Huế và tiếp tục nói xấu các chức sắc trong giáo phận, thường xuyên lôi kéo, chia rẽ nội bộ hàng ngũ linh mục, tu sĩ và liên tục có những lời nói vu cáo “chính quyền đàn áp tôn giáo”.
Nguyễn Văn Lý đã xa rời con đường hành đạo chân chính, lợi dụng chiếc áo của nhà tu hành tham gia nhiều hoạt động chống phá chính quyền nhân dân, như: ngày 10/11/2000, ông ta kích động một số giáo dân ở Nguyệt Biều (xứ Phường Đúc, TP Huế) cản trở công trình bê tông hóa con mương thủy lợi đi ven nhà thờ và tổ chức lôi kéo nhiều người ngang nhiên chiếm, dựng lều trên lô đất sản xuất của 3 hộ nông dân đã được Nhà nước cấp quyền sử dụng đất từ lâu. Tháng 02/2001, UBND tỉnh Thừa Thiên - Huế ra quyết định quản chế hành chính đối với Nguyễn Văn Lý tại xã Phú An, huyện Phú Vang, nhưng Lý không chấp hành, tiếp tục có hoạt động lôi kéo, lừa gạt và kích động giáo dân chống đối chính quyền. Ngày 19/10/2001, TAND tỉnh Thừa Thiên - Huế tuyên phạt Lý 15 năm tù về tội không chấp hành quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền và phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc và 5 năm quản chế tại nơi cư trú sau khi mãn hạn tù. Tháng 02/2005, Nguyễn Văn Lý được đặc xá và tiếp tục chấp hành hình phạt quản chế tại số 69 Phan Đình Phùng, Thành phố Huế.
Mặc dù, Nhà nước khoan hồng, nhưng Nguyễn Văn Lý vẫn không ăn năn hối cải, mà ngược lại, tiếp tục công khai hoạt động chống phá chính quyền quyết liệt hơn; biến nơi ở của mình thành nơi làm ra và tàng trữ, lưu hành,̀ phát tán nhiều tài liệu, hoạt động chống phá Nhà nước. Từ khi được đặc xá tha tù và chấp hành hình phạt quản chế, Lý đã nhiều lần vi phạm án phạt bổ sung, ra khỏi địa phương (thậm chí ra khỏi tỉnh) không xin phép cơ quan có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Hằng tháng, Lý cũng không đến trình diện tại trụ sở chính quyền địa phương như pháp luật quy định; và khi chính quyền thông báo, nhắc nhở, cảnh cáo, yêu cầu đến trình diện nhưng ông ta vẫn không chấp hành.
Nghiêm trọng hơn, Nguyễn Văn Lý đã tiếp tục móc nối, cấu kết với các thế lực phản động trong và ngoài nước chống đối Nhà nước, đi ngược lại lợi ích nhân dân và dân tộc ta, vi phạm nghiêm trọng pháp luật của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngày 08/4/2006, Nguyễn Văn Lý thành lập nhóm 8406 (còn gọi là khối 8406) và đã cùng đồng bọn biên tập, soạn thảo nhiều tài liệu xuyên tạc vu cáo nói xấu Nhà nước Việt Nam, ra các số “bán nguyệt san - tự do ngôn luận” với nội dung xuyên tạc, chống đối Nhà nước; kêu gọi tẩy chay cuộc bầu cử Quốc hội vào năm 2007.
Nguyễn Văn Lý đã chỉ đạo thành lập cái gọi là “Đảng thăng tiến Việt Nam” gồm Nguyễn Phong, Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào, Lê Thị Công Nhân, Lê Thị Lệ Hằng, do Nguyễn Phong cầm đầu. Đặc biệt, vào dịp Tết Nguyên đán Đinh Hợi (năm 2007), Nguyễn Văn Lý đã lôi kéo Nguyễn Phong cùng một số đối tượng như Nguyễn Bình Thành, Hoàng Thị Anh Đào, Lê Thị Lệ Hằng,… cấu kết với đảng “Vì dân” của các tổ chức phản động ở nước ngoài, thành lập cái gọi là “Liên đảng Lạc Hồng”. Chúng dự định tổ chức công khai hóa cái gọi là “Liên đảng Lạc Hồng” vào đêm giao thừa Tết Đinh Hợi (năm 2007), bằng các hình thức tán phát tài liệu, cương lĩnh, điều lệ trên internet và công bố trên đài phát thanh phản động ở hải ngoại. Nhưng, âm mưu của bọn chúng chưa thực hiện được thì bị cơ quan bảo vệ pháp luật phát hiện và ngăn chặn kịp thời. Trong quá trình điều tra, cơ quan Công an thu được tại nơi ở của Nguyễn Văn Lý 6 máy vi tính, 6 máy in, 7 máy điện thoại di động, 02 máy cố định kết nối internet, trong đó có 136 Sim điện thoại di động và hơn 200 kg giấy tờ, tài liệu liên quan việc thành lập, công bố các tổ chức phản động chống đối Đảng và Nhà nước ta.
Ông Lý tự xưng mình là người thuần túy tôn giáo, nhưng lại soạn thảo, nhân bản, tán phát nhiều tài liệu đẫm màu sắc chính trị, lợi dụng nhà thờ của Chúa để tuyên truyền chống phá chính quyền cách mạng, đòi xóa bỏ chế độ XHCN, xúc phạm hình ảnh Bác Hồ. Nguyễn Văn Lý gọi cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước của cả dân tộc ta là “cuộc chiến tranh xâm lược miền Nam”. Vì vậy, Hội đồng Giám mục Việt Nam, Tòa thánh Vatican - nơi quản lý, bảo vệ quyền lợi cho các linh mục trên toàn thế giới - cũng đồng tình ủng hộ Chính phủ Việt Nam, họ có đầy đủ thông tin rằng ông Lý có một số hoạt động vi phạm luật pháp Việt Nam. Thế mà, một số người Việt ở Mỹ sao phải tốn công sức vào việc làm cho người không xứng đáng - Nguyễn Văn Lý? Thật chẳng uổng công lắm sao?

Sep 24, 2015

LẠI LÀ SỰ ĐỊNH KIẾN

       TRE VIỆT - Trên trang Ba Sàm, ngày 23/9/2015, có bài viết: “Đàn áp vẫn gia tăng ở Việt Nam” do Trần Văn Minh dịch của Zachary Abuza (được giới thiệu là giáo sư tại Đại học Chiến tranh Quốc gia , chuyên nghiên cứu về các đề tài chính trị và an ninh Đông Nam Á), Guest Contributor, New Mandela. Bài viết của Zachary Abuza tập trung phê phán về quyền con người, chủ yếu là quyền tự do ngôn luận của Việt Nam. Ông ta viết: “Trên nhiều phương diện, việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam vẫn không thỏa đáng” và “Việt Nam là một trong những môi trường truyền thông bị kiểm soát nhất trên thế giới” (!). Ông ta còn đoán già đoán non: “trước Đại hội Đảng thứ 12 vào đầu năm 2016, bất đồng quan điểm thậm chí còn ít được dung thứ hơn”(!).
Xin thưa, Việt Nam chỉ bắt giam những người vi phạm pháp luật Nhà nước. Công dân Việt Nam cũng như công dân nhiều nước khác, trong khi thực thi quyền con người thì phải chấp hành pháp luật của nước mình. Điều này hoàn toàn đúng với các quy định của “Bộ luật quốc tế về quyền con người”[1]. Bộ luật này quy định mỗi thành viên của xã hội trong khi thực hiện quyền con người đều phải chấp hành luật pháp của mỗi nước.
Thật vậy, Tuyên ngôn toàn thế giới về Nhân quyền đã nhấn mạnh trách nhiệm, nghĩa vụ của mỗi cá nhân đối với cộng đồng. Điều 29 quy định: “Trong việc thụ hưởng các quyền và tự do, mỗi cá nhân chỉ có thể bị pháp luật hạn chế các quyền và tự do đó vì các mục đích bảo đảm sự thừa nhận và tôn trọng các quyền và tự do của người khác cũng như nhằm bảo đảm các yêu cầu về trật tự công cộng, đạo đức và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ”.
Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, hiến định: “1. Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2. Mọi người có quyền tự do ngôn luận…; 3. Việc thực hiện những quy định tại mục 2 của điều này (Điều 19) kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, có thể phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”.
Trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế cũng khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo…”[2].
Công ước nhân quyền châu Âu có hiệu lực từ ngày 03-9-1953 đã đưa ra các quy định về các quyền cơ bản của con người; trong đó, quyền tự do ngôn luận được ghi ở Ðiều 10: “1. Tất cả mọi người đều có quyền tự do bày tỏ ý kiến. Quyền này bao gồm việc được tự do bày tỏ ý kiến và tự do trao đổi các thông tin mà không cần phải nhận được bất kỳ việc cho phép nào từ phía cơ quan công quyền và không phân biệt biên giới. 2. Việc thực hiện các quyền nói trên, bao gồm cả các nghĩa vụ và trách nhiệm, hình thức, điều kiện, các hạn chế hoặc các biện pháp trừng phạt cần phải được ghi rõ trong các văn bản pháp luật có cân nhắc đến việc cần thiết đối với một xã hội dân chủ, vì lợi ích đối với an ninh quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, duy trì trật tự công cộng và ngăn ngừa tội phạm, bảo vệ sức khỏe và đạo đức, nhân phẩm hoặc danh dự của con người, ngăn ngừa việc phát tán các thông tin mật hoặc để bảo đảm quyền lực và tính độc lập của các cơ quan tư pháp”[3]. Rõ ràng, trong khi khoản 1 của Ðiều luật này quy định: ai cũng có quyền được bày tỏ, trao đổi quan điểm của mình mà không phân biệt địa vị xã hội, giới tính, biên giới, thì khoản 2 lại quy định: việc thực thi các quyền đó gắn với các hạn chế được cụ thể hóa trong pháp luật của mỗi quốc gia. Trên thực tế, mỗi quốc gia đều cân nhắc tình hình thực tế của mình để đưa ra các đạo luật nhằm cụ thể hóa việc thực hiện quyền con người nói chung, quyền tự do ngôn luận của công dân nói riêng. Không có thứ tự do “tuyệt đối” mà không bị hạn chế vì những lợi ích nhiều mặt của quốc gia, dân tộc, ở sự ổn định xã hội, mà thiếu nó thì mọi nỗ lực cố gắng của con người đều trở nên vô nghĩa. Bởi vậy, Liên minh châu Âu (gồm 28 quốc gia) cho phép các nước thành viên cân nhắc lợi ích của mỗi quốc gia để đưa ra các quy định cụ thể, nhằm hướng dẫn công dân thực hiện quyền con người; trong đó, có quyền tự do ngôn luận theo tinh thần Công ước nhân quyền châu Âu nói trên.
Điều đó cho thấy, quyền con người luôn đặt trong môi trường hoàn cảnh cụ thể. Thụ hưởng quyền con người còn tùy thuộc vào lịch sử, truyền thống, văn hóa, đạo đức, tôn giáo, phong tục, tập quán,… cụ thể của từng nơi, của mỗi quốc gia. Cho nên, không thể lấy những người vi phạm pháp luật bị bắt, bị giam giữ cho rằng Việt Nam “gia tăng đàn áp”. Đó là chỉ là sự định kiến, áp đặt mà thôi.
Nhân dịp 70 năm Quốc khánh, Việt Nam đã ân xá 18.298 phạm nhân; trong đó, có những người bất đồng chính kiến, hoặc lợi dụng quyền tự do ngôn luận để vi phạm pháp luật. Mới đây, là Trương Duy Nhất, Tạ Phong Tần, trước đó là Nguyễn Văn Hải,… đã được tha tù chẳng nhẽ các vị không thấy sao?
Dù có phê phán việc thực thi quyền con người ở Việt Nam, nhưng trong bài viết Zachary Abuza vẫn phải thừa nhận: “về cơ bản, Việt Nam đã khác hơn so với ngay cả 5 năm trước đây, với những thay đổi sâu sắc trong việc tiếp cận thông tin, quyền tự do kinh tế, sự phát triển của xã hội dân sự, quyền thực hành đức tin, và những cải cách gần đây”. Và rằng, “Việt Nam… đã có một sự cải thiện có ý nghĩa trong năm qua”./.


[1] - Bao gồm Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa; Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị và hai nghị định thư bổ sung của công ước này.
2 - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.
3 - Báo Nhân Dân, ngày 17-9-2013.

Nguyễn Hưng Quốc - Kẻ “đầu lú, nói càn”

Tre Việt - Ngày 07/9/2015, VOA (Tiếng Việt) đăng bài “Tính chính đáng của Đảng Cộng sản” của Nguyễn Hưng Quốc. Sau khi bàn nhăng cuội đủ chuyện, đưa ra nhận định vớ vẩn, ông ta kết luận đại ý rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam không có “tính chính đáng” về vai trò lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam ngày nay! Phải nói ngay rằng, cái đầu của Nguyễn Hưng Quốc bị “lú”, nên “nói càn”! Điều này, theo kiểu nói ví của người Việt, thì Nguyễn Hưng Quốc là kẻ đầu óc có vấn đề, ngớ ngẩn, ăn nói vớ vẩn, càn xiên. Vì sao nói vậy?
Xin thưa, cơ sở chính trị, xã hội và pháp lý về sự ra đời, lãnh đạo Nhà nước và xã hội Việt Nam của Đảng Cộng sản Việt Nam đã được các nhà lịch sử, chính trị, xã hội, các học giả có uy tín ở trong nước và nước ngoài khẳng định, nên chẳng phải bàn nhiều. Tôi chỉ nhắc lại mấy vấn đề cơ bản để mở mang cái “đầu lú” của ông.
Về cơ sở chính trị, xã hội. Phải khẳng định ngay rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam sinh ra từ trong lòng nhân dân và tất cả đều vì dân. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả của sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác – Lê-nin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước Việt Nam. Đây cũng là kết quả của cuộc vận động vì dân chủ, đảm bảo cho giai cấp công nhân Việt Nam chính thức bước lên vũ đài chính trị lãnh đạo dân tộc đấu tranh với chế độ chuyên chế thực dân - phong kiến nhằm giành quyền làm chủ cho nhân dân - khát vọng dân chủ cháy bỏng của nhân dân.  Ra đời từ trong xã hội, do nhân dân lập nên, không vì mục đích tự thân mà là vì quyền lợi của dân tộc, của nhân dân, nên Đảng Cộng sản Việt Nam được nhân dân ủy thác quyền lãnh đạo công cuộc đấu tranh giành độc lập, thống nhất và xây dựng đất nước, vì: dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Với mục tiêu như vậy, nên “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện làm một. Xây dựng đất nước dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh cũng là khát vọng của toàn thể nhân dân Việt Nam, là giá trị quy định bản chất của chế độ chính trị của Việt Nam hiện nay. Những luận điệu cố tình lu loa cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam chỉ là tổ chức đại diện cho hơn 3 triệu đảng viên, chứ không thể đại diện cho toàn thể dân tộc Việt Nam(!) Hay, Đảng không thể và không có quyền đại diện cho xu hướng phát triển của dân tộc, nên không thể và không có quyền xác định mục tiêu phát triển cho dân tộc, v.v (!) Thực chất là cố tình chối bỏ sự thật lịch sử về sự vận động và phát triển của dân tộc Việt Nam từ khi có Đảng Cộng sản Việt Nam! Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang và sẽ mãi là trí tuệ, lương tâm, danh dự, luôn phấn đấu vì mục tiêu của toàn dân tộc và điều chủ yếu nhất là dân tộc Việt Nam tin tưởng trao cho Đảng quyền lãnh đạo đất nước. Đảng xứng đáng là lực lượng lãnh đạo, còn xuất phát từ việc tự nguyện làm “đầy tớ”, làm “công bộc”, làm “trâu ngựa” cho nhân dân. Nhờ đó, Đảng Cộng sản Việt Nam đã huy động được sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc làm nên những thắng lợi to lớn có ý nghĩa thời đại sâu sắc. Thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám năm 1945 đã lập ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước dân chủ nhân dân đầu tiên ở Đông Nam châu Á, mở ra một kỷ nguyên mới, kỷ nguyên độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đưa dân tộc Việt Nam từ thân phận nô lệ thành dân tộc bình đẳng với các dân tộc khác trên thế giới đấu tranh cho hòa bình, dân chủ và tiến bộ xã hội. Việt Nam trở thành một dân tộc tiên phong trên thế giới đấu tranh cho sự nghiệp phi thực dân hóa, xóa bỏ vết nhơ lớn nhất trong lịch sử loài người. Lịch sử đã khẳng định, thực dân - đế quốc là thế lực phản dân chủ, tiến hành xâm chiếm thuộc địa, đưa nhân dân thuộc địa vào cảnh nô lệ, lầm than. Nhưng, để lòe bịp thiên hạ, chúng luôn núp dưới chiêu bài “khai hóa văn minh”, “bảo vệ tự do”, “bảo vệ dân chủ” và trưng ra những thứ bánh vẽ dân chủ, trưng diện những trò chơi dân chủ. Nhân đây, cũng xin khẳng định rằng, là một đảng mác-xít – lê-nin-nít chân chính, Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, coi đó là nền tảng tư tưởng và kim chỉ nam cho hành động. Đảng càng chứng tỏ năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh thì nước ta càng phát triển vững chắc trên con đường xã hội chủ nghĩa để tiến lên cộng sản chủ nghĩa, mà đó cũng là quá trình tất yếu để các giai cấp và Đảng dần tự tiêu vong.
Về cơ sở pháp lý. Điều 4, Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, năm 2013 đã khẳng định rõ ràng bản chất cách mạng và hiến định rõ cả mục đích lẫn trách nhiệm của Đảng Cộng sản Việt Nam. Hiến pháp cũng quy định rõ, các tổ chức của Đảng và đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam hoạt động trong khuôn khổ hiến pháp và pháp luật. Nên nhớ rằng, Hiến pháp là do nhân dân - người chủ đích thực của chế độ - xây dựng, thực hiện và bảo vệ, nên nhân dân chẳng những thừa nhận bản chất, vai trò, tôn vinh Đảng để Đảng có địa vị pháp lý vững chắc, mà còn bảo vệ Đảng. Điều đó, chứng tỏ một lần nữa về lý luận rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam là trí tuệ, lương tâm và danh dự của dân tộc Việt Nam.
Nguyễn Hưng Quốc tự xưng là “Người Việt Nam yêu nước” thì hãy đọc Hiến pháp nước nhà và thực hiện theo Hiến pháp!
Hiện nay, đất nước Việt Nam đã và đang đẩy mạnh phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Để thực hiện mục tiêu: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng Cộng sản Việt Nam đang tiến hành đại hội các cấp để tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Đây là đợt sinh hoạt dân chủ cao nhất của các tổ chức đảng, để không chỉ đánh giá đúng những thành tựu, mà còn chỉ rõ những hạn chế, khiếm khuyết, tìm ra nguyên nhân, rút ra những bài học để xây dựng Đảng ngày càng trong sạch, vững mạnh, xứng đáng với lòng tin cậy, yêu mến của nhân dân. Vừa qua, Đảng Cộng sản Việt Nam đã công khai công bố Dự thảo các văn kiện của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI trình Đại hội XII của Đảng để xin ý kiến đóng góp của nhân dân. Điều này, một lần nữa khẳng định, Đảng Cộng sản Việt Nam không chỉ là đội tiền phong của giai cấp công nhân Việt Nam, mà còn là đội tiền phong của cả dân tộc Việt Nam, đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và cả dân tộc. Bằng trí tuệ, bản lĩnh, đạo đức trong sáng Đảng Cộng sản Việt Nam xứng đáng là một đảng cầm quyền “đạo đức, văn minh”.

Sức sống của Đảng Cộng sản Việt Nam là sự đảm bảo cho chiều hướng phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam trong suốt 85 năm qua. Đây là sự thật lịch sử mà không thế lực nào phủ nhận được! Mang danh là nguyên chủ bút của tạp chí Việt và đồng chủ bút của tờ báo mạng Tiền vệ, là chủ nhiệm Ban Việt học lại trường Đại học Victoria (Úc) thế mà “trí thức rởm” Nguyễn Hưng Quốc chẳng hiểu gì về lịch sử vận động và phát triển của Việt Nam và sự ra đời, vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam từ khi thành lập đến nay. Vì thế, nói rằng, Nguyễn Hưng Quốc mang cái “đầu lú”, nên “nói càn” chẳng sai chút nào!