Nov 17, 2025

“Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam 2025” - “Trò hề” của các “nhà dân chủ”

Tre Việt – Ngày 16/11, trang facebook Việt Tân thông tin: Mạng Lưới Nhân Quyền Việt Nam (VCHR) vừa công bố danh sách những người được trao Giải Nhân quyền Việt Nam năm 2025. Ba tù nhân lương tâm được vinh danh năm nay, gồm: Phan Tất Thành, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và Nguyễn Chí Tuyến (Tuyến No-U).

Cần khẳng định ngay rằng, đây là chiêu trò lố bịch, kệch cỡm quen thuộc mà các “nhà dân chủ” vẫn thường sử dụng, khi núp bóng trao “Giải thưởng nhân quyền” để chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam.

Bởi vì, những cá nhân được họ “trao giải thưởng” đều là những phần tử núp dưới danh nghĩa “dân chủ”, “nhân quyền” chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Họ có điểm chung khi đều là những người đang phải chịu án phạt tù do vi phạm pháp luật của Việt Nam.

Với trường hợp Phan Tất Thành (38 tuổi, lao động tự do tại Thành phố Hồ Chí Minh), ngày 08/5/2024, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử sơ thẩm, tuyên phạt bị cáo Phan Tất Thành 08 năm tù về tội: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, được quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Theo cáo trạng, quá trình sử dụng mạng xã hội, Phan Tất Thành quen biết người sử dụng tài khoản facebook “Thao Nguyen” (không rõ nhân thân, lai lịch) và được người này cấp quyền quản trị  fanpage “Nhật ký yêu nước” (sau đổi tên là “Văn Toàn”). Trang này có hơn 728.000 lượt thích và 820.000 người theo dõi. Từ đó, bị cáo thực hiện kiểm duyệt và đăng tải nhiều bài viết với nội dung tuyên truyền, vu khống, xuyên tạc đường lối, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Phan Tất Thành còn chia sẻ quyền truy cập 03 tài khoản facebook do bị cáo tạo lập cho “Thao Nguyen” để cùng đăng tải các bài viết có nội dung chống phá Nhà nước, bội nhọ, phỉ báng các anh hùng dân tộc, lãnh đạo cấp cao Đảng và Nhà nước, lên trang fanpage có nội dung chống Nhà nước nêu trên.

Cáo trạng xác định, Phan Tất Thành là người có đầy đủ nhận thức, năng lực, trình độ, để biết rằng việc giao, chia sẻ các tài khoản facebook do mình tạo lập cho “Thao Nguyen” soạn thảo, đăng tải các bài viết có nội dung phản động, chống Nhà nước lên một trang fanpage có lượng người theo dõi cao, để ở chế độ công khai thì sẽ ảnh hưởng đến suy nghĩ, từ đó hình thành tư tưởng chống chính quyền nhưng bị cáo vẫn để “Thao Nguyen” thực hiện. 

Quá trình điều tra, bị cáo Thành có thái độ không hợp tác, thách thức cơ quan điều tra khi xóa hết dữ liệu, khóa tài khoản mạng xã hội và không cung cấp thông tin đăng nhập. Song bằng nhiều biện pháp nghiệp vụ, cơ quan điều tra xác định bị cáo Thành phạm tội rất nghiêm trọng, xâm phạm đến an ninh quốc gia, nên cần xử lý nghiêm mới tác dụng giáo dục với bị cáo, và răn đe, phòng ngừa chung. Hội đồng xét xử đã tuyên phạt bị cáo Phan Tất Thành 08 năm tù về hành vi vi phạm của mình.

Đối với trường hợp Nguyễn Thị Ngọc Hạnh (sinh năm 1976, trú tại huyện Bình Chánh (cũ), Thành phố Hồ Chí Minh), ngày 31/7/2020, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra xét xử vụ án phá rối an ninh đối với 08 bị cáo nhóm kín “Hiến pháp” tội phá rối an ninh; trong đó, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và Hoàng Thị Thu Vang (sinh năm 1966, hộ khẩu thường trú ở khu phố 3, phường Trung Mỹ Tây, quận 12 (cũ),) được xác định là những người giữ vai trò chủ mưu, bị Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố về tội “Phá rối an ninh”, theo Khoản 1, Điều 118, Bộ luật Hình sự năm 2015. Đây là vụ án xâm phạm an ninh quốc gia do bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Hạnh cùng một số đối tượng là các thành viên của một nhóm kín có tên là “Hiến pháp”, lôi kéo thêm người khác thực hiện.

Theo cáo trạng, đây là nhóm những người có tư tưởng bất mãn với chính quyền, thường xuyên tiếp xúc với các thông tin trên có nội dung xấu trên mạng xã hội. Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Hạnh, Hoàng Thị Thu Vang, Đỗ Thế Hóa, Hồ Đình Cương, Ngô Văn Dũng, Trần Thanh Phương, Đoàn Thị Hồng và Lê Quý Lộc đã chia sẻ các video trên facebook cá nhân để kêu gọi, kích động, lôi kéo người tham gia biểu tình. Quá trình thực hiện hành vi phạm tội, các bị cáo đã tổ chức họp bàn để lên kế hoạch, phân công nhiệm vụ, kêu gọi tài trợ, chuẩn bị hung khí, công cụ hỗ trợ để tổ chức một cuộc biểu tình mang tính chất bạo động, gây bạo loạn với mục đích gây mất trật tự xã hội, an ninh chính trị nhằm chống phá chính quyền Nhà nước Việt Nam, nhưng đã bị các cơ quan chức năng kịp thời phát hiện và ngăn chặn. Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh khẳng định: hành vi của các bị cáo là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, nếu không được ngăn chặn kịp thời sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến an toàn trật tự xã hội, xâm phạm an ninh quốc gia nên cần phải xử lý nghiêm để giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung.

          Cuối cùng là trường hợp của Nguyễn Chí Tuyến (sinh năm 1974, trú tại: số 14, ngách 243/7, Ngọc Thụy, phường Ngọc Thụy, quận Long Biên (cũ), Thành phố Hà Nội), thường được các thế lực thù địch, phản động tung hô là một nhà hoạt động dân chủ và môi trường qua các cuộc biểu tình chống Trung Quốc, hay tuần hành kêu gọi bảo vệ cây xanh ở Hà Nội. Nhiều cuộc biểu tình với thái độ quá khích, gây rối an ninh trật tự nên nhiều lần bị đưa về đồn, bị xử phạt hành chính. Ngoài ra, ông còn tham gia cổ súy người dân trong các vụ tranh chấp đất đai với chính quyền ở một số địa phương. Nguyễn Chí Tuyến sở hữu kênh YouTube có khá nhiều người đăng ký, thường đăng tải các nội dung xuyên tạc, bịa đặt về vấn đề dân chủ, nhân quyền của Việt Nam, tích cực trả lời phỏng vấn đài báo nước ngoài, nhiều kênh thông tin chống Nhà nước, chế độ. Hoạt động vi phạm pháp luật có hệ thống nên bị điều tra và kết án về tôi: “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, được quy định tại Điều 117, Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, Phan Tất Thành, Nguyễn Thị Ngọc Hạnh và Nguyễn Chí Tuyến - các đối tượng mà Mạng lưới Nhân quyền Việt Nam tung hô là “Khôi nguyên” của cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam năm 2025” đều là những thành phần bất hảo, đã có những hoạt động chống phá chính quyền nhân dân, phỉ báng chế độ, bôi nhọ Đảng và Nhà nước Việt Nam trong nhiều năm qua.

Những đối tượng trên chẳng hề có đóng góp gì cho sự phát triển về dân chủ, nhân quyền của đất nước. Thậm chí, họ còn đang dẫm đạp lên nền dân chủ, nhân quyền của Nhân dân Việt Nam, xâm phạm nghiêm trọng lợi ích của quốc gia, dân tộc, đi ngược lại sự phát triển của cộng đồng. Vậy, mà lại được nhận “Giải thưởng về nhân quyền”?. Điều đó khẳng định, cái gọi là “Giải thưởng Nhân quyền Việt Nam năm 2025” chẳng có giá trị gì, mà chỉ là “trò hề” của các “nhà dân chủ”./.

 

Tôn sư trọng đạo - Nền tảng của nền giáo dục hiện đại

         Tre Việt - Gần đây, khi đọc tin về trường hợp một cô giáo ở Gia Lai bị chấm dứt hợp đồng vì dùng thước nhựa “đánh” vào tay học sinh (dù trước đó cô và trò đã thỏa thuận với nhau), tôi giật mình nghĩ: chuyện cô răn dạy học trò, lẽ ra phải là chuyện tốt cho con trẻ, sao cô giáo lại phải buộc thôi việc? Có một thực tế đáng suy ngẫm: đối với người dạy, dù chỉ là hành động như cô giáo ở Gia Lai cũng có thể khiến họ đánh mất cả sự nghiệp; còn đối với học trò, xúc phạm hay hành hung giáo viên, mức cao nhất cũng dừng lại ở… khiển trách!

Hiếu học và kính trọng người thầy luôn là đạo lý cơ bản
của người Việt Nam

Phải chăng, đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến bạo lực học đường đang có xu hướng ngày càng phức tạp. Theo thống kê của Bộ Giáo dục và Đào tạo, năm học 2023 - 2024, cả nước xảy ra 466 vụ bạo lực học đường, liên quan đến 1.453 học sinh. Cũng theo nguồn tin từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, chỉ trong 5 tháng đầu năm 2025, đã ghi nhận 28 trường hợp bắt nạt trên môi trường mạng (Báo Thanh tra Online, ngày 08/11/2025). Nhiều vụ việc có yếu tố xúc phạm hoặc chống đối người dạy. Như vụ việc ngày 16/9/2025, một học sinh lớp 7, Trường Trung học cơ sở Đại Kim (Hà Nội) túm tóc, quật ngã cô giáo chủ nhiệm ngay tại lớp học khiến dư luận bàng hoàng. Trước đó, nhiều clip học sinh quay lại cảnh thầy cô bị thách thức, bị chế giễu đăng lên mạng xã hội; hay cảnh học sinh cãi lại khi bị phê bình, ra vào lớp không xin phép, gặp thầy cô không chào, v.v. Tất cả đang gióng lên hồi chuông báo động về sự phai nhạt truyền thống “Tôn sư trọng đạo”, giá trị vốn là “gốc rễ” của đạo đức học đường Việt Nam; đồng thời, cho thấy sự đứt gãy trong mối liên kết giữa ba trụ cột trong giáo dục là gia đình, nhà trường và xã hội.

Bạo lực học đường có nhiều nguyên nhân sâu xa. Trong đó, nhiều học sinh bước vào tuổi dậy thì với biến động tâm lý và chưa được trang bị kỹ năng kiểm soát cảm xúc, nên dễ bị kích động, dẫn đến hành vi bạo lực. Gia đình đôi khi quá nuông chiều, hoặc ngược lại quá nghiêm khắc mà thiếu trao đổi, thiếu gắn kết với nhà trường, khiến học sinh rơi vào trạng thái “không người dẫn đường”. Mạng xã hội, phim ảnh, môi trường số với hình ảnh bạo lực dễ tiếp cận đã làm cho các em “thử” thể hiện bản thân qua xung đột ngoài đời thực. Nhà trường ở một số nơi nặng về “bệnh thành tích”, hoặc chỉ tập trung vào dạy “chữ” mà quên dạy “người”, nghĩa là kiến thức nhiều, kỹ năng sống ít; mối quan hệ thầy - trò, trò - trò thiếu trao đổi chân thành.

Đặc biệt, chúng ta vẫn thiếu một khung pháp lý thật sự vững chắc, đồng bộ và khả thi về kỷ luật học đường. Các quy định hiện hành chưa đủ cơ chế bảo vệ người dạy và người học trong những tình huống xung đột cụ thể. Khi xảy ra vụ việc, cách xử lý thường cứng nhắc, thậm chí phụ thuộc vào dư luận hoặc truyền thông, thay vì căn cứ vào chuẩn mực pháp lý. Điều đó vừa khiến giáo viên chịu nhiều áp lực, vừa làm học sinh mất đi cơ hội được giáo dục đúng nghĩa. Một cái nhìn sai lệch rằng “thầy nghiêm” đồng nghĩa với “bạo lực” sẽ là rào cản sự cống hiến của người thầy trong sự nghiệp giáo dục. Bình luận về vụ việc cô giáo ở Gia Lai bị buộc thôi việc, một người có tài khoản facebook Nhu Chung viết: “Một thời gian ngắn nữa thôi, vì lo bị đuổi việc mà tất cả giáo viên sẽ dạy học sinh theo cách hoàn thành chương trình; mặc cho học sinh không học bài, không làm bài, hay đạt điểm thấp vì việc học là của học sinh và phụ huynh; việc của họ chỉ dạy mà thôi”. Nếu điều đó xảy ra, thì sẽ là “một bước lùi” rất lớn trong sự nghiệp giáo dục.

Thật đáng buồn khi trong một nền giáo dục mà người thầy phải “sợ” người học: sợ bị hành hung, sợ bị quay clip, sợ bị bêu rếu trên mạng,… thì đó không còn là môi trường nuôi dưỡng nhân cách, mà là nơi cả người dạy và người học đều rơi vào “thế phòng thủ”. Trong văn hóa dân tộc ta, người thầy luôn được tôn kính, được xem như cha mẹ thứ hai. Ca dao có câu: “Muốn sang thì bắc cầu Kiều / Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”; hay triết lý dân gian “Không thầy đố mày làm nên” đã khẳng định: học chữ phải học làm người, mà để làm người thì phải biết kính thầy, trọng đạo. Khi học sinh không còn kính trọng người gieo chữ, khi xã hội dễ dàng “kết tội người thầy”, đó không chỉ là sự xuống cấp đạo đức học đường, mà là vết nứt trong nền tảng văn hóa dân tộc.

Nhà bác học Lê Quý Đôn từng cảnh báo năm nguy cơ mất nước, trong đó có hai nguy cơ là “Trẻ không kính già” “Trò không trọng thầy”. Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng nhấn mạnh: “Nhiệm vụ của giáo dục là rất quan trọng và vẻ vang, vì nếu không có thầy giáo thì không có giáo dục. Không có giáo dục, không có cán bộ thì cũng không nói gì đến kinh tế - văn hóa”. Thầy giáo, cô giáo chính là người định hướng và dẫn dắt thế hệ trẻ đi từ con chữ đến nhân cách. Bởi vậy, thời nào cũng vậy, vai trò của người thầy luôn đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp “trồng người”.

Chúng ta cần có cái nhìn tách biệt giữa sự nghiêm khắc của người thầy và bạo lực học đường. Ở đây, sự nghiêm khắc không đồng nghĩa với bạo lực; ngược lại, đó là biểu hiện của tình thương có trách nhiệm. Thầy cô không thể chỉ dạy bằng nụ cười; đôi khi, sự nghiêm khắc chính là lời yêu thương giúp học trò nhận ra giới hạn, biết tự rèn mình, khép mình vào tổ chức và đứng dậy sau lỗi lầm. Giáo dục không chỉ là “truyền đạt kiến thức”, mà phải là quá trình rèn người, mà “rèn” thì phải có khuôn, có phép, có giới hạn. Một nền giáo dục mà người thầy mất quyền răn dạy thì xã hội cũng mất đi khả năng tự sửa mình.

Trong kỷ nguyên phát triển mới của dân tộc và hội nhập quốc tế sâu rộng, để nền giáo dục nước nhà tiếp tục đi đúng hướng và cho về “những trái ngọt”, trước hết phải giữ vững các giá trị truyền thống, trong đó, “Tôn sự trọng đạo” vẫn phải là “gốc rễ bền vững” của sự phát triển. Đồng thời, phải tiến tới việc xây dựng giá trị mới cho nền giáo dục hiện đại. Trong đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo, cùng các bộ, ngành liên quan cần chủ trì rà soát, hoàn thiện hệ thống quy định về kỷ luật học đường, quy tắc ứng xử, bảo vệ quyền và nghĩa vụ của giáo viên và học sinh. Các địa phương, nhà trường cần cụ thể hóa bằng quy chế nội bộ, cơ chế phản hồi và hòa giải sư phạm, tạo môi trường an toàn, nhân văn nhưng nghiêm minh, bảo đảm mỗi bên đều được tôn trọng và chịu trách nhiệm. Một khung pháp lý rõ ràng sẽ giúp người thầy yên tâm cống hiến, người trò hiểu giới hạn của tự do, phụ huynh và xã hội có cơ sở giám sát công bằng, văn minh.

Bên cạnh đó, cần đề cao hơn trách nhiệm của cả gia đình, nhà trường và xã hội, cùng hướng về một mục tiêu: giúp thế hệ trẻ lớn lên trong yêu thương nhưng không vô kỷ luật, được tôn trọng nhưng biết tôn trọng người khác.

Với gia đình, cha mẹ là người thầy đầu tiên của con. Mỗi lời nói, mỗi cách ứng xử của cha mẹ đều gieo vào các con của mình hạt giống về đạo đức. Khi cha mẹ chê bai thầy cô trước mặt con, là họ đang vô tình dạy con coi thường người gieo chữ. Ngược lại, khi cha mẹ biết phối hợp với giáo viên, cùng chia sẻ, cùng định hướng, đứa trẻ sẽ hiểu rằng học không chỉ để biết, mà còn để nên người. Trẻ con nào cũng cần được yêu, nhưng tình yêu đúng đắn phải đi cùng ranh giới, để các em học được hai chữ “trách nhiệm”.

Với nhà trường, điều cần nhất hôm nay không phải là thêm chương trình, mà là trả lại nhân văn cho lớp học. Cần để giáo viên được làm nghề bằng niềm tin, không bị bó buộc bởi nỗi sợ “mạng xã hội phán xét”. Mỗi tiết học, mỗi buổi sinh hoạt lớp phải trở thành nơi học trò được lắng nghe, được khuyến khích bày tỏ cảm xúc, để giáo dục không chỉ là “truyền thụ” mà là “chạm đến tâm hồn”. Cần khơi dậy lại truyền thống “Tôn sư trọng đạo” bằng những việc nhỏ: lời chào đầu buổi, ánh mắt biết ơn, câu xin lỗi chân thành.

Với xã hội, hãy thôi nhìn giáo dục như một ngành “phục vụ” mà phải coi đó là “nền móng văn hóa” của quốc gia. Mỗi bài báo, mỗi bình luận trên mạng xã hội nên hướng đến sự thấu hiểu thay vì kết tội; mỗi người lớn cần góp tay xây lại niềm tin cho nghề dạy học. Khi xã hội biết ơn người thầy, thì người thầy sẽ có thêm dũng khí để nghiêm khắc, để yêu thương, để giữ cho ngọn lửa tri thức không tàn lụi giữa đời sống nhiều biến động.

Giáo dục không chỉ là truyền tri thức, mà còn truyền cả nhân cách. Nếu mỗi người chúng ta, dù là cha mẹ, thầy cô hay người ngoài cuộc đều “Tôn su trọng đạo”, giữ vững trong lòng sự kính trọng với người gieo chữ, chỉ khi ấy lớp học mới trở thành ngôi nhà chung, thầy giáo, cô giáo như cha mẹ hiền, và mỗi học sinh mới biết trân trọng giá trị của việc học chữ, rèn người, phấn đấu trở thành những công dân gương mẫu, đóng góp tích cực vào sự phát triển của đất nước trong kỷ nguyên mới./.

 

Nov 14, 2025

Trần Thái Hưng lại chống phá công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng

           Đã thành thói quen, trước thềm Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, các thế lực thù địch, phản động lại gia tăng tần suất xuyên tạc, chống phá, đặc biệt là về công tác nhân sự của Đảng. Cụ thể, trên trang Thoibao, Trần Thái Hưng đăng bài: “Ai mạnh hơn ai trong cuộc đua quyền lực?”, xuyên tạc, chống phá công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Luận điệu xuyên tạc này cần nhận diện và kiên quyết đấu tranh bác bỏ.

1. Vạch trần chiêu trò xuyên tạc, chống phá công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng của Trần Thái Hưng. Đọc toàn bộ bài viết của Trần Thái Hưng cho thấy rõ mưu đồ thâm độc, mục đích xuyên tạc, chống phá công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng. Thủ đoạn của Trần Thái Hưng là dùng chiêu trò tung tin sai sự thật, suy diễn, quy chụp, bịa đặt, vu khống về công tác chuẩn bị nhân sự bầu Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, nhằm gây nhiễu loạn thông tin; tạo sự chú ý của nhiều người, của dư luận xã hội; gây nghi ngờ, mất đoàn kết nội bộ trong Bộ Chính trị, giữa lực lượng Công an và Quân đội, làm giảm niềm tin của Nhân dân vào đội ngũ cán bộ, đảng viên, vào sự lãnh đạo của Đảng trong công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng.

Y xuyên tạc rằng: “Có thể nói, cho đến giờ phút này Đại hội XIV trở thành ván cờ quyền lực vô cùng phức tạp lẫn gay cấn. Nếu các kỳ đại hội trước, cán cân quyền lực và sự quan tâm của dư luận chủ yếu xoay quynh các vị trí “Tứ trụ”, thì nay còn chứng kiến thêm sự so kè tranh giành ghế, thậm chí là đối đầu âm thầm nhưng khốc liệt giữa hai lực lượng: Công an và Quân đội”. Cần khẳng định những suy diễn của Trần Thái Hưng về công tác cán bộ theo kiểu “trong nhà chưa tỏ ngoài ngõ đã thông”, như: Đại hội XIV của Đảng, ai sẽ vào Bộ Chính trị, ai sẽ làm Tổng Bí thư, ai sẽ làm Chủ tịch nước là phản động, sai trái, nhằm thực hiện âm mưu của các thế lực thù địch chống phá Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng.

2. Công tác chuẩn bị nhân sự là một trong những nhiệm vụ có ý nghĩa đặc biệt quan trọng để Đại hội Đảng thành công tốt đẹp. Công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng được tiến hành song song nhiều nội dung, nhiệm vụ, trong đó, chuẩn bị nhân sự là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, được Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương rất quan tâm. Ngày 14/6/2024, Bộ Chính trị đã ban hành Chỉ thị số 35-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, đã nêu rõ về tiêu chuẩn nhân sự tham gia cấp ủy các cấp, đặc biệt nhân sự Ban Chấp hành Trung ương nhiệm kỳ tới. Ngày 25/3/2025, Tổng Bí thư Tô Lâm đã chủ trì phiên họp lần thứ tư Tiểu ban Nhân sự Đại hội XIV của Đảng, Tổng Bí thư đã nhấn mạnh tầm quan trọng của chất lượng nhân sự, yêu cầu có cơ cấu hài hòa, hợp lý. Mục tiêu là xây dựng một Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư với những cán bộ lãnh đạo chủ chốt tiêu biểu về phẩm chất, năng lực, uy tín, đoàn kết, thống nhất cao, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, thực hiện tốt vai trò lãnh đạo của Đảng, góp phần mang lại ấm no, hạnh phúc cho Nhân dân. Công tác cán bộ là khâu then chốt trong công tác xây dựng Đảng, là mắt xích trọng yếu trong toàn bộ hoạt động của Đảng, quyết định sự thành bại của cách mạng. Do đó, công tác nhân sự phải được chuẩn bị chu đáo, kỹ lưỡng, thận trọng.

Ngày 14/4/2025 Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 45-CT/TW về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, thay thế Chỉ thị số 35-CT/TW. Nội dung Chỉ thị số 45-CT/TW nêu rõ: công tác nhân sự phải bảo đảm sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng, cấp ủy các cấp và đề cao vai trò, trách nhiệm của tập thể lãnh đạo và người đứng đầu theo quy định. Bảo đảm sự kế thừa, đổi mới và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; đề cao, coi trọng chất lượng, có số lượng và cơ cấu hợp lý, v.v. Cấp ủy khóa mới phải tiêu biểu về bản lĩnh chính trị, trí tuệ, phẩm chất đạo đức, lối sống, năng lực, uy tín; thực sự là trung tâm đoàn kết, trong sạch, vững mạnh, thống nhất ý chí và hành động; có bản lĩnh chính trị vững vàng, có tầm nhìn, tư duy đổi mới, gắn bó mật thiết với Nhân dân; có năng lực lãnh đạo, cầm quyền, có sức chiến đấu cao, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong giai đoạn phát triển mới để thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng. Ngày 30/8/2025, Bộ Chính trị đã ban hành Quy định số 365-QĐ/TW về tiêu chuẩn chức danh cán bộ thuộc diện Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý và khung tiêu chuẩn chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, làm cơ sở cho công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng.

Công tác chuẩn bị nhân sự Đại hội XIV của Đảng đang được thực hiện theo đúng quy định, quy trình, bảo đảm khoa học, dân chủ, công khai, minh bạch; xác định đây không chỉ là nhiệm vụ của Tiểu ban Nhân sự, của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương mà là nhiệm vụ quan trọng của cả hệ thống chính trị, các cấp ủy, tổ chức đảng, các cơ quan, đơn vị và các địa phương. Tại Hội nghị lần thứ mười ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII, Bộ Chính trị đã báo cáo Trung ương cho ý kiến đối với tờ trình về kết quả và phương án giới thiệu nhân sự tham gia Ban Chấp hành Trung ương khóa XIV, tham gia Ủy ban kiểm tra Trung ương khóa XIV và tiến hành lấy phiếu biểu quyết giới thiệu nhân sự Ban Chấp hành Trung ương, Ủy Ban kiểm tra Trung ương khóa XIV theo quy định; làm cơ sở để tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng, lựa chọn bầu được những cán bộ lãnh đạo, nhất là ở cấp chiến lược vừa có đức, vừa có tài, bảo đảm đủ các tiêu chuẩn, đáp ứng tốt yêu cầu phát triển của đất nước trong kỷ nguyên phát triển mới.

Vì vậy, trong công tác chuẩn bị nhân sự cho Đại hội XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam hoàn toàn không có chuyện “tranh giành ghế”, “đối đầu âm thầm” như lời lẽ vu khống, bịa đặt của Trần Thái Hưng. Mỗi cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần nâng cao cảnh giác, đồng thời kiên quyết đấu tranh bác bỏ những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đại hội XIV của Đảng./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Nov 10, 2025

Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng kết tinh trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân

        Tre Việt - Ngày 15/10/2025, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII đã công bố dự thảo các Văn kiện trình Đại hội XIV của Đảng để lấy ý kiến rộng rãi trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân (từ ngày 15/10/2025 đến ngày 15/11/2025), tập hợp và phát huy trí tuệ, quyền làm chủ của Nhân dân tham gia đóng góp với Đảng trong việc hoạch định đường lối, chủ trương, quyết sách quan trọng của đất nước, góp phần nâng cao chất lượng dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng; củng cố, bồi đắp niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, làm cho ý Đảng hợp với lòng dân. Đây là bước đi dân chủ, thể hiện tinh thần cầu thị, lắng nghe ý kiến toàn dân nhằm hoàn thiện Văn kiện.

       Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện này, các thế lực thù địch và phần tử cơ hội chính trị đã tung ra nhiều luận điệu sai trái, xuyên tạc cho rằng dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là “bổn cũ soạn lại”, “lạc hậu, giáo điều”, “thiếu đổi mới tư duy”, v.v. Những luận điệu này không chỉ phi lý mà còn thể hiện rõ dụng ý chính trị đen tối: Phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, làm giảm niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Chúng cố tình đánh đồng việc Đảng kiên định Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh với sự bảo thủ, trì trệ. Đây là sự ngụy biện về nhận thức cần lên án đấu tranh. 

       Chúng ta cần phải khẳng định rằng: dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng không chỉ kế thừa truyền thống, mà còn thể hiện rõ bước phát triển mới về tư duy lý luận, tầm nhìn chiến lược và phương pháp lãnh đạo. Đảng Cộng sản Việt Nam luôn kiên định nền tảng tư tưởng, với bản chất cách mạng, khoa học, đồng thời không ngừng đổi mới, sáng tạo để đưa đất nước tiến lên. Sức sống của Đảng chính là ở sự kiên định trong nguyên tắc và linh hoạt trong đổi mới, đó là bảo chứng cho tương lai phát triển bền vững của dân tộc Việt Nam.

        Sự kế thừa và phát triển tư duy lý luận của Đảng qua mỗi kỳ Đại hội luôn gắn liền với đổi mới. Từ Đại hội VI đến nay, các văn kiện của Đảng không ngừng bổ sung, hoàn thiện, tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận về mô hình chủ nghĩa xã hội Việt Nam. Dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng tiếp tục phát triển tư duy này, vừa khẳng định nguyên tắc, vừa mở rộng tầm nhìn chiến lược, phù hợp với yêu cầu thời đại mới. Điểm nổi bật của dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là sự đổi mới mạnh mẽ trong tầm nhìn phát triển đất nước, đặt ra khát vọng vươn lên tầm cao mới: “hiện thực hoá tầm nhìn đến năm 2045 kỷ niệm 100 năm thành lập nước, trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩa”. Đó là minh chứng cho tầm nhìn nhân văn và thực tiễn. Đây không phải là sự “lặp lại” mà là bước tiến về tư duy chiến lược, phản ánh khát vọng phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc.

       Trong lĩnh vực văn hóa, dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng khẳng định: “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”, “phát triển văn hóa với phát triển kinh tế - xã hội, để văn hóa thật sự trở thành nền tảng vững chắc, là động lực, nguồn lực nội sinh quan trọng của sự phát triển bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc”. Đây là bước phát triển lý luận quan trọng, thể hiện quan điểm mới về vị thế của văn hóa, vừa là nền tảng, vừa là động lực cho phát triển quốc gia.

       Về kinh tế, dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng nêu rõ định hướng chuyển đổi mô hình tăng trưởng dựa vào khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, coi đây là động lực chính để công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Những khái niệm như kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn lần đầu tiên được xác định là trụ cột chiến lược, minh chứng cho sự phát triển tư duy kinh tế của Đảng phù hợp với xu thế toàn cầu.

       Đặc biệt, việc đề cập đến “chuyển đổi số trong Đảng” thể hiện tư duy quản trị hiện đại, bắt nhịp với thời đại Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, một bước tiến chưa từng có trong các kỳ Đại hội trước.

       Bên cạnh đó, dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng được xây dựng dựa trên quá trình tổng kết 05 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII, 15 năm thi hành Điều lệ Đảng và 40 năm công cuộc đổi mới đất nước. Toàn bộ nội dung được biên soạn qua quá trình nghiên cứu, phản biện, tổng kết thực tiễn nghiêm túc, bảo đảm tính khoa học, khách quan. Đây chính là cơ sở khẳng định giá trị lý luận và tính đổi mới của văn kiện, điều này hoàn toàn không thể coi là “sao chép” mà các thế lực thù địch xuyên tạc.

       Cấu trúc dự thảo cũng có nhiều đổi mới: Tích hợp nội dung 3 văn kiện gồm Báo cáo chính trị, Báo cáo kinh tế - xã hội, Báo cáo Tổng kết xây dựng Đảng thành Báo cáo chính trị trình Đại hội XIV của Đảng là tư duy mới, đột phá, thể hiện cách làm sáng tạo, tránh được sự trùng lặp, thiếu thống nhất giữa các báo cáo, thể hiện đúng tầm vóc của Báo cáo chính trị, qua đó góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của các văn kiện Đại hội XIV của Đảng, trở thành một hệ thống logic, cô đọng, dễ tiếp cận; tăng cường tính định lượng với các chỉ tiêu cụ thể, thể hiện tầm nhìn quản trị quốc gia hiện đại, thực chất.

       Chúng ta khẳng định rằng, dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng được công bố công khai, tiếp thu đông đảo ý kiến góp ý từ các tầng lớp nhân dân, trí thức, cán bộ, chiến sĩ và kiều bào. Đây là minh chứng sinh động khẳng định tính dân chủ, khoa học và nhân văn trong quá trình chuẩn bị văn kiện. Văn kiện không chỉ là sản phẩm của các cơ quan lãnh đạo, mà là kết tinh trí tuệ tập thể của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, phản ánh tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. 

       Vì vậy, những luận điệu phản động, sai trái của các thế lực thù địch phủ nhận giá trị và tính đổi mới trong dự thảo các Văn kiện Đại hội XIV của Đảng là hoàn toàn sai trái, phi lý, cần lên án và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.


Nov 7, 2025

Không thể phủ nhận tầm vóc của Cách mạng Tháng Mười Nga

            108 năm qua, thế giới đã có quá nhiều đổi thay, các thế lực thù địch đã tung ra rất nhiều chiêu trò xuyên tạc, nhưng tầm vóc, ý nghĩa lịch sử của Cách mạng Tháng Mười vẫn giữ nguyên giá trị, mang tính thời sự, đặc biệt trong bối cảnh quốc tế hiện nay.

Ngày 07/11/1917 (tức ngày 25/10/1917 theo lịch Nga lúc đó), Cách mạng Tháng Mười Nga do V.I.Lenin và Đảng Bolshevik lãnh đạo đã giành thắng lợi, lập nên nhà nước xã hội chủ nghĩa đầu tiên trên thế giới, mở ra một thời đại mới của xã hội loài người.

Thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười Nga cùng với sự ra đời của nhà nước công nông đầu tiên trên thế giới được xem là sự kiện lịch sử vĩ đại nhất của thế kỷ XX. Từ chỗ chỉ là ước mơ cao đẹp của loài người, sau Cách mạng Tháng Mười Nga, chủ nghĩa xã hội đã trở thành hiện thực và có sức mạnh vô cùng to lớn, mở đường cho các dân tộc bị áp bức vùng lên đấu tranh giành độc lập, tự do.

Có Cách mạng Tháng Mười Nga mới có Đảng cộng sản Việt Nam, có Cách mạng Tháng Tám của Việt Nam và có Tổ quốc Việt Nam hùng cường ngày hôm nay.

Thế nhưng, trong nhiều năm qua, đã có không ít kẻ cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách xuyên tạc, phủ nhận giá trị, ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười. Thậm chí, có người còn cho rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga là “sai lầm lịch sử” nên cần phải xóa bỏ mọi sản phẩm ra đời từ “sai lầm” đó, bao gồm Nhà nước Liên Xô, Đảng Cộng sản Liên Xô, hệ thống xã hội chủ nghĩa và cả Chủ nghĩa Mác - Lênin, v.v. Đặc biệt từ khi Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu do mắc các sai lầm và sụp đổ (năm 1991), họ đã “kết luận” rằng, Cách mạng Tháng Mười Nga kéo nước Nga theo con đường xã hội chủ nghĩa là trái với quá trình “lịch sử-tự nhiên”.

Có lẽ những người nói trên không biết hoặc cố tình không muốn biết rằng, ngay sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lenin và Đảng Bolshevik Nga đã tập trung củng cố chính quyền Xô viết, xây dựng chế độ xã hội mới, đem lại cuộc sống tốt đẹp cho quần chúng nhân dân rất nhiều so với trước khi cuộc cách mạng diễn ra.   Nhờ sức mạnh công nghiệp hùng hậu, nhờ sức động viên của chế độ xã hội mới, nhờ sự quên mình của nhân dân, tài tổ chức lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô, một đảng được tôi luyện trong ngọn lửa Tháng Mười, Liên Xô đã trở thành lực lượng quyết định nhất tiêu diệt chủ nghĩa phát-xít, cứu loài người khỏi thảm họa hủy diệt. Chỉ trong vòng 20 năm sau chiến tranh, Liên Xô đã đạt những thành tựu vĩ đại làm cả thế giới khâm phục: nước đầu tiên khai phá con đường chinh phục vũ trụ, cũng là nước đầu tiên đưa năng lượng hạt nhân vào phục vụ đời sống hòa bình của con người…

Thực tế cũng đã khẳng định rằng,  ngay sau khi ra đời, hệ thống các nước xã hội chủ nghĩa  đã phát triển   rất mạnh mẽ, vượt qua chủ nghĩa tư bản về tốc độ tăng trưởng kinh tế, công nghiệp hóa thành công, nhanh chóng xóa bỏ tình trạng nghèo nàn ở nhiều quốc gia, trở thành một lực lượng kinh tế - vật chất hùng hậu trên thế giới. Phát triển xã hội với nhiều ưu việt về văn hóa, giáo dục, y tế, nhà ở, thể thao, bình đẳng giới, phúc lợi xã hội và quyền của nhân dân lao động nói chung. Phát triển khoa học, kỹ thuật, công nghệ với tốc độ và thành tựu bước ngoặt, dẫn đầu thế giới trên nhiều lĩnh vực, điển hình là khoa học vũ trụ, kỹ thuật quân sự, v.v.  

 Thế nhưng, vào những năm 80, 90 của thế kỷ trước, do những sai lầm về đường lối và phương thức tổ chức sản xuất, Liên Xô và các nước xã hội chủ nghĩa Đông Âu đã lâm vào khủng hoảng trầm trọng, dẫn tới sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội  tại đây.

Hiện nay, chủ nghĩa xã hội hiện thực mặc dù đang gặp nhiều khó khăn, nhưng xu thế phát triển tất yếu của thời đại từ chủ nghĩa tư bản lên chủ nghĩa xã hội vẫn luôn tỏ rõ trong thực tế. Chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn tồn tại ở một số nước và khẳng định sức sống mãnh liệt, triển vọng phát triển. Sự phát triển của Việt Nam, Trung Quốc trong những năm qua là một ví dụ sinh động.

Tại Việt Nam, tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2021 - 2025  ước đạt bình quân 6,2%/năm, thuộc nhóm tăng trưởng cao của khu vực và thế giới. Quy mô GDP của nền kinh tế Việt Nam năm 2025 ước đạt trên 510 tỷ USD, gấp 1,48 lần so với năm 2020 và xếp thứ 32 trên thế giới.

Hiện nay, dù thế giới có đổi thay nhiều so với  hơn 100 năm trước, nhưng những tư tưởng về một xã hội công bằng, bình đẳng vẫn tiếp tục thẩm thấu trong nhận thức và biến thành hành động cách mạng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động trên thế giới. Các định hướng về giải phóng lực lượng sản xuất, xóa bỏ áp bức, bóc lột, bất công, sự phân hóa giàu nghèo,… để hướng tới một xã hội văn minh, giàu mạnh vẫn là những giá trị cơ bản, phù hợp với tình cảm, nguyện vọng và lợi ích của đại đa số nhân dân lao động trên toàn thế giới.

Thực tế là như vậy, nhưng một số người lại xuyên tạc lịch sử, họ lợi dụng sự sai lầm của một số đảng cộng sản để phản bác Chủ nghĩa Mác - Lênin, cho rằng, “Chủ nghĩa xã hội là không tưởng”, là “sai lầm của lịch sử”, v.v.

 Nếu chỉ coi sự sụp đổ của mô hình chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô và các nước Đông Âu là bằng chứng để thừa nhận thời đại hiện nay là của chủ nghĩa tư bản thì đó là một cách nhìn thiển cận, thiếu kiến thức lịch sử và khoa học về thời đại. Vì quá trình ra đời, phát triển và thay thế thời đại này bằng một thời đại khác phải trải qua một chặng đường lâu dài, quanh co, phức tạp, chứa đựng cả bước tiến mạnh mẽ và cả sự tụt lùi, đổ vỡ.

Không thể phủ nhận tầm vóc, ý nghĩa và giá trị lịch sử của Cách mạng Tháng Mười Nga ./.

(Trích nguồn: cuuchienbinh.vn)

 

Nov 6, 2025

Việt Nam luôn chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lao động tại nước ngoài

     Tre Việt - Ngày 04/11, trang trang facebook Việt Tân có đăng bài: “Xuất khẩu lao động”, nhằm kích động, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đưa người đi lao động ở nước ngoài. Trong bài viết, tác giả Thanh Văn, rêu rao rằng: “Người lao động đi xuất khẩu đóng thuế cho cả hai quốc gia, nhưng không được bảo vệ trọn vẹn ở bất kỳ quốc gia nào”.

     Cần khẳng định ngay rằng, chủ trương đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho chính người lao động, cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

     Chủ trương đưa người lao động Việt Nam ra nước ngoài luôn đi kèm với chính sách bảo hộ công dân chặt chẽ, minh bạch. Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (2020) quy định rõ quyền lợi, nghĩa vụ, cơ chế kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm. 

     Thực tế, nhiều người sau khi hoàn thành hợp đồng ở nước ngoài đã trở về, tiếp tục làm chủ kinh tế hộ gia đình, mở xưởng sản xuất, làm dịch vụ,… trở thành trụ cột kinh tế mới tại chính địa phương mình. Đây là thành quả thực sự mà không một luận điệu phản động nào có thể phủ nhận.

     Về phía Nhà nước, các cơ quan ngoại giao, lãnh sự Việt Nam luôn chủ động bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lao động tại nước ngoài. Mọi hành vi vi phạm hợp đồng, lạm dụng lao động, hay bóc lột đều bị lên án và xử lý nghiêm. Điều này cho thấy, quyền con người, trong đó có quyền lao động, tự do di cư hợp pháp, được Nhà nước Việt Nam bảo vệ nghiêm túc, đầy đủ, có trách nhiệm.

       Do đó, luận điệu quy chụp người lao động “không được bảo vệ trọn vẹn ở bất kỳ quốc gia nào” của Việt Tân không chỉ xuyên tạc trắng trợn thực tế, phủ nhận thành tựu lao động - việc làm - nhân quyền tại Việt Nam, mà còn cho thấy sự thiếu hiểu biết, cố tình kích động tâm lý bất mãn, chống phá con đường phát triển đúng đắn của đất nước.

      Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng gần 700.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam, như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,… thường xuyên đánh giá cao tính cần cù và kỹ năng của người Việt, điều đó đã giúp mở rộng cơ hội hợp tác lao động. Nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng trăm nghìn gia đình. Quan trọng hơn là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý khi về nước. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

       Những lợi ích từ xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần giải quyết việc làm cho người dân - một trong những thách thức lớn với một nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ lao động được làm việc trong môi trường quốc tế, tiếp cận công nghệ hiện đại và học hỏi kỹ năng chuyên môn cao.

      Vì thế, luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân lao động tại nước ngoài, hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta mà Việt Tân rêu rao, cần bị lên án và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.


Nov 5, 2025

Nhân dân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng

      Trên trang ChanTroiMoiMedia, Trần Hùng có bài viết: “Thấy gì tự Hội nghị Trung ương 13 khóa XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam”. Nội dung bài viết xuyên tạc phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư Tô Lâm, nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư, gây mất đoàn kết, thống nhất trong Đảng, chia rẽ mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Luận điệu này cần được đấu tranh bác bỏ.  

      Thứ nhất, niềm tin của Nhân dân với Đảng được hình thành, củng cố ngày càng vững chắc gắn liền với quá trình xây dựng Đảng, phát triển đất nước. Trong suốt chặng đường 95 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. , được nhân dân tin tưởng, suy tôn là lực lượng chính trị duy nhất cầm quyền lãnh đạo Nhà nước và toàn xã hội. Chỉ có Đảng Cộng sản Việt Nam mới có đủ điều kiện, khả năng, uy tín để tuyên truyền, giáo dục, thuyết phục, trang bị cho quần chúng Nhân dân hệ tư tưởng cách mạng, khoa học là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh để họ tự giác rèn luyện, đấu tranh vì mục tiêu cao cả là giải phóng con người, giải phóng giai cấp, xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh và đấu tranh có hiệu quả chống lại mọi mưu đồ lợi dụng quyền tự do, dân chủ đi ngược lại lợi ích của Nhân dân. Đồng thời, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân luôn tích cực, chủ động tham gia xây dựng Đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; đồng hành cùng với Đảng thực hiện có hiệu quả cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy đưa đất nước vào kỷ nguyên phát triển mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tôc.

        Thứ hai, cán bộ, đảng viên và Nhân dân luôn tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân vui mừng trước việc Đảng và Nhà nước phấn đấu hoàn thành vượt mức 15/15 chỉ tiêu năm 2025. Các chính sách nâng cao đời sống Nhân dân được đánh giá cao như: Xóa nhà tạm, nhà dột nát cho hộ nghèo; miễn học phí từ mầm non đến hết phổ thông; khám sức khỏe định kỳ, miễn giảm viện phí; đầu tư xây dựng các trường phổ thông nội trú liên cấp tại 248 xã biên giới; đẩy mạnh xây dựng nhà ở xã hội. Đặc biệt, nhân dịp kỷ niệm 80 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2/9, mỗi người dân được nhận 100.000 đồng, tạo cảm xúc dâng trào về tinh thần yêu nước và lòng tự hào dân tộc.

        Thông qua Hội nghị Trung ương 13, khóa XIII, Nhân dân càng thêm tin tưởng, kỳ vọng vào quyết tâm phòng, chống tham nhũng, lãng phí và tiêu cực của Đảng, Nhà nước; tin tưởng vào các biện pháp đấu tranh ngày càng thực chất, hiệu quả, gắn kết chặt chẽ với công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Đặc biệt, Nhân dân luôn kỳ vọng vào thông điệp trong bài phát biểu bế mạc Hội nghị Trung ương 13 của Tổng Bí thư Tô Lâm: Chủ trương đột phá về thể chế, hạ tầng và nhân lực. Xác định các nguyên tắc trong lãnh đạo, điều hành, quản lý; kỷ cương đi trước, nguồn lực đi cùng, kết quả là thước đo. Thực hiện ba trọng tâm, ba công khai, một thước đo. Ba trọng tâm là: Thể chế hóa nhanh gọn nghị quyết của Đảng, tổ chức thi hành quyết liệt theo tuần, tháng, quý; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát thường xuyên, kịp thời giải quyết vướng mắc. Ba công khai về tiến độ, trách nhiệm và kết quả để Nhân dân giám sát, kiểm tra. Một thước đo là mức sống, niềm tin của Nhân dân. Tiếp tục hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp, tinh gọn bộ máy, với phương châm: Số hóa quy trình, đơn giản hóa thủ tục, mở rộng phân cấp, phân quyền và thông điệp, “Nói ít, làm nhiều, quyết liệt, hiệu quả, kiên quyết, tránh hình thức, tránh giáo điều, tránh đùn đẩy trách nhiệm…”.

         Tóm lại, những luận điệu xuyên tạc trong bài viết của Trần Hùng là nhằm hạ thấp uy tín của đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Nov 3, 2025

Tự do báo chí ở Việt Nam - Sự thật trước những luận điệu cực đoan

      Việt Nam, một quốc gia đang vươn mình mạnh mẽ trong khu vực Đông Nam Á, thường xuyên phải đối mặt với những cáo buộc thiếu cơ sở từ một số tổ chức quốc tế về vấn đề tự do báo chí. Những luận điệu này không chỉ xuyên tạc thực trạng truyền thông tại Việt Nam mà còn che giấu những động cơ chính trị nhằm can thiệp vào công việc nội bộ của một quốc gia có chủ quyền. 

     Trước tiên, cần thẳng thắn bác bỏ luận điệu cho rằng Việt Nam kiểm soát chặt chẽ báo chí và hạn chế tự do ngôn luận. Những cáo buộc này thường được đưa ra bởi các tổ chức như Liên đoàn Quốc tế về Quyền con người (FIDH) hoặc một số báo cáo phương Tây, cho rằng chính phủ Việt Nam áp đặt các biện pháp kiểm duyệt hà khắc, ngăn cản quyền tiếp cận thông tin của người dân. Tuy nhiên, thực tế lại hoàn toàn trái ngược. Theo Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam năm 2024, hiện nay có hàng trăm cơ quan báo chí, từ báo in, báo điện tử đến các kênh truyền hình, phát thanh, hoạt động sôi nổi trên cả nước. Hơn 70 triệu người dân Việt Nam, tương đương hơn 70% dân số, sử dụng internet thường xuyên, truy cập vào vô số nguồn thông tin trong và ngoài nước. Con số này không chỉ phản ánh mức độ phổ biến của thông tin mà còn cho thấy sự cởi mở trong việc tiếp cận các nền tảng truyền thông số. Đặc biệt, Báo cáo Speedtest Global Index năm 2024 xếp Việt Nam đứng đầu Đông Nam Á về tốc độ internet, vượt qua cả Singapore và Thái Lan. Điều này chứng minh rằng người dân Việt Nam không chỉ có quyền tiếp cận thông tin mà còn được hưởng một hạ tầng kỹ thuật số tiên tiến, tạo điều kiện thuận lợi cho tự do ngôn luận trong thời đại số. Những con số này là minh chứng rõ ràng rằng cáo buộc về kiểm soát báo chí tại Việt Nam là thiếu căn cứ, không phản ánh đúng thực tế phát triển của đất nước. 

     Tiếp theo, cần vạch trần các chiêu trò vận động chính trị đứng sau những cáo buộc này. FIDH, một tổ chức thường xuyên đưa ra các báo cáo chỉ trích Việt Nam, đã kêu gọi Mỹ gây áp lực lên Việt Nam về vấn đề tự do báo chí trong khuôn khổ Đối thoại Nhân quyền Việt – Mỹ năm 2023. Đây không phải là một hành động đơn thuần nhằm bảo vệ quyền con người mà là một phần của chiến lược can thiệp vào chính sách nội bộ của Việt Nam. Điều đáng chú ý là FIDH lại không hề đề cập đến những vấn đề tương tự ở các quốc gia phương Tây. Chẳng hạn, theo Deutsche Welle (DW) năm 2023, Đức đã áp dụng các biện pháp kiểm soát nội dung trực tuyến để ngăn chặn thông tin sai lệch, nhưng FIDH không hề chỉ trích những biện pháp này. Sự thiếu nhất quán này cho thấy tổ chức này đang áp dụng tiêu chuẩn kép, chọn lọc các quốc gia để chỉ trích dựa trên động cơ chính trị thay vì nguyên tắc khách quan. Hành vi này không chỉ làm suy giảm uy tín của FIDH mà còn cho thấy ý đồ lợi dụng vấn đề tự do báo chí để gây áp lực lên các quốc gia không cùng hệ tư tưởng với phương Tây.

     Hơn nữa, những cáo buộc này còn vi phạm các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế. Theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), mà Việt Nam là một bên tham gia, mọi quốc gia có quyền tự quyết định chính sách truyền thông phù hợp với bối cảnh văn hóa, xã hội và pháp lý của mình. Việc các tổ chức như FIDH cố tình can thiệp, yêu cầu Việt Nam thay đổi chính sách truyền thông theo tiêu chuẩn phương Tây, là hành vi vi phạm nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia có chủ quyền. Không chỉ Việt Nam, nhiều quốc gia khác cũng đã lên tiếng phản đối những hành vi tương tự. Chẳng hạn, Nga, thông qua hãng tin RT năm 2022, đã chỉ trích FIDH vì đưa ra các báo cáo sai lệch về tự do báo chí, cáo buộc tổ chức này cố tình bóp méo sự thật để phục vụ các mục tiêu chính trị. Phản ứng này cho thấy cộng đồng quốc tế ngày càng nhận thức rõ hơn về bản chất thiếu khách quan của các tổ chức như FIDH khi đánh giá các quốc gia không thuộc khối phương Tây.

     Cuối cùng, cần làm rõ bản chất cực đoan của những tổ chức đứng sau các cáo buộc này. FIDH không phải là cái tên mới trong việc xuyên tạc tình hình tự do báo chí tại Việt Nam. Từ năm 2000, tổ chức này đã liên tục đưa ra các báo cáo thiếu căn cứ, cho rằng Việt Nam đàn áp báo chí và hạn chế quyền tự do ngôn luận. Những báo cáo này thường lặp lại các luận điệu quen thuộc, thiếu dẫn chứng cụ thể và không phản ánh đúng sự phát triển của hệ thống truyền thông Việt Nam qua các thập kỷ. Trong khi đó, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu đáng kể trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân, từ việc xây dựng hạ tầng internet hiện đại đến việc khuyến khích sự đa dạng của các cơ quan báo chí. Việc FIDH liên tục đưa ra các cáo buộc thiếu cơ sở cho thấy một truyền thống chống phá có hệ thống, nhằm làm suy yếu hình ảnh của Việt Nam trên trường quốc tế. Thay vì đóng góp vào đối thoại mang tính xây dựng, tổ chức này dường như đang theo đuổi một chương trình nghị sự chính trị, lợi dụng vấn đề tự do báo chí để phục vụ các mục tiêu không minh bạch. 

     Những cáo buộc về việc Việt Nam vi phạm tự do báo chí là thiếu căn cứ, mang tính xuyên tạc và phục vụ các mục tiêu chính trị không rõ ràng. Với hàng trăm cơ quan báo chí hoạt động sôi nổi, hơn 70 triệu người dùng internet và vị trí dẫn đầu Đông Nam Á về tốc độ internet, Việt Nam đã chứng minh cam kết mạnh mẽ trong việc đảm bảo quyền tiếp cận thông tin của người dân. Các chiêu trò vận động của FIDH và những tổ chức tương tự, cùng với sự vi phạm các nguyên tắc luật pháp quốc tế, chỉ làm lộ rõ bản chất cực đoan và tiêu chuẩn kép của họ. Việt Nam cần tiếp tục khẳng định chủ quyền trong chính sách truyền thông, đồng thời kêu gọi cộng đồng quốc tế nhìn nhận vấn đề một cách công bằng và khách quan. Chỉ khi đó, đối thoại về tự do báo chí mới thực sự mang lại giá trị, thay vì trở thành công cụ để can thiệp và xuyên tạc./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)


Nov 2, 2025

Sự thật đằng sau luận điệu xuyên tạc “Khi dân giúp dân, chính quyền ở đâu?”

           Tre Việt - Những ngày cuối tháng 10/2025, Thừa Thiên Huế và nhiều địa phương miền Trung hứng chịu đợt mưa lũ lịch sử, gây thiệt hại nặng nề về người và tài sản. Trong hoạn nạn, tinh thần “lá lành đùm lá rách” của người Việt lại được khơi dậy mạnh mẽ: nhiều đoàn thiện nguyện từ Hà Tĩnh, Nghệ An,… không quản hiểm nguy, mang nhu yếu phẩm, áo phao, thậm chí cả UAV để tiếp tế cho đồng bào bị cô lập, đây là minh chứng sống động cho “tình ruột thịt, nghĩa đồng bào”. Tuy nhiên, lợi dụng sự kiện này, ngày 30/10/2025, trên trang facebook Chân Trời Mới Media xuất hiện bài viết với tiêu đề “Khi dân giúp dân, chính quyền ở đâu?”. Bài viết được ngụy trang dưới dạng “đặt vấn đề xã hội”, song thực chất là một thủ đoạn tuyên truyền chống phá tinh vi, nhằm gieo rắc hoài nghi, chia rẽ niềm tin giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam; cố tình xuyên tạc, phủ nhận vai trò của chính quyền, của lực lượng vũ trang nhân dân trong công tác cứu hộ, cứu nạn. 

          Thứ nhất, chính quyền không “vắng mặt” trong hoạn nạn, mà là lực lượng nòng cốt trong ứng phó thiên tai. Câu hỏi “chính quyền ở đâu?” tưởng như đơn giản, nhưng ẩn sau đó là dụng ý mập mờ, nhằm phủ nhận vai trò của Nhà nước trong quản lý, điều hành xã hội. Trong thực tế, Việt Nam có hệ thống ứng phó thiên tai thống nhất từ Trung ương đến địa phương, vận hành theo phương châm “bốn tại chỗ”: chỉ huy tại chỗ, lực lượng tại chỗ, phương tiện tại chỗ, hậu cần tại chỗ. Đây là nguyên tắc đã được khẳng định hiệu quả qua nhiều năm ứng phó bão lũ. Theo Ban Chỉ đạo quốc gia về phòng, chống thiên tai, tính đến ngày 31/10/2025, riêng tại Thành phố Huế đã huy động hơn 7.500 cán bộ, chiến sĩ quân đội và dân quân tự vệ, 450 phương tiện các loại, 35 tàu, xuồng cùng hàng chục nghìn lượt dân quân, đoàn viên, thanh niên tham gia cứu hộ, sơ tán hơn 12.000 hộ dân đến nơi an toàn. Các đơn vị, như: Sư đoàn 968, Bộ đội Biên phòng Thành phố Huế, Lữ đoàn Công binh 414,… đều trực tiếp có mặt trên hiện trường, làm việc xuyên đêm trong điều kiện mưa lớn, nước chảy xiết để cứu người, vận chuyển nhu yếu phẩm, dựng nhà bạt và khôi phục hệ thống điện, nước, v.v. Cùng với đó, ngành Hậu cần - Kỹ thuật Quân khu 4 đã khẩn trương thiết lập bệnh viện dã chiến, đưa hàng chục tổ quân y cơ động đến vùng lũ, cung cấp hơn 10 tấn thuốc men, vật tư y tế cho các khu dân cư bị cô lập. Đây là những con số biết nói, khẳng định vai trò nòng cốt của chính quyền và lực lượng vũ trang nhân dân trong hoạt động ứng phó thiên tai chứ không hề “vắng mặt” như cách mà Thiện Nhân mô tả.

          Thứ hai, “dân giúp dân” là biểu hiện của sức mạnh đại đoàn kết, không phải minh chứng cho sự thiếu trách nhiệm của Nhà nước. Khi người dân từ Hà Tĩnh, Quảng Bình tự nguyện chở hàng cứu trợ vào Huế, đó là biểu hiện cao đẹp của tinh thần tương thân tương ái, truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam. Nhưng cần khẳng định: “dân giúp dân” không nằm ngoài sự bao quát của chính quyền, mà chính là một phần của sức mạnh tổng hợp quốc gia. Chính quyền các cấp đã chủ động hỗ trợ, hướng dẫn các đoàn thiện nguyện đăng ký tuyến đường, khu vực phân phối hàng hóa, bảo đảm an toàn và tránh trùng lặp. Mọi hoạt động cứu trợ đều được điều phối thông qua Mặt trận Tổ quốc, Hội Chữ thập đỏ, chính quyền địa phương. Sự phối hợp này vừa thể hiện tính nhân văn, vừa thể hiện trách nhiệm quản lý Nhà nước, giúp các hoạt động thiện nguyện phát huy hiệu quả thực tế, không gây cản trở cho lực lượng cứu hộ chuyên nghiệp. Lấy một số hình ảnh người dân tự giúp nhau rồi quy kết “chính quyền thờ ơ” là thủ đoạn trắng trợn của các thế lực thù địch hòng gây chia rẽ, nghi ngờ giữa Nhân dân với chính quyền. Sự thật là, nếu không có sự điều hành, phối hợp chặt chẽ của chính quyền, các hoạt động dân sự sẽ gặp nhiều nguy cơ mất an toàn. 

         Thứ ba, mưu đồ chính trị đằng sau luận điệu “chính quyền chỉ biết nói mà không làm”. Khi tung ra câu hỏi “chính quyền ở đâu?” mục tiêu thật sự của Chân Trời Mới Media không phải tìm câu trả lời, mà là kích hoạt cảm xúc tiêu cực, khiến người đọc tưởng mình đang “tự thức tỉnh”, trong khi thực chất bị dẫn dắt vào bẫy tâm lý. Trong đợt mưa lũ 2025, Chính phủ đã chủ động di dời gần 45.000 người dân, cấp 150 tỉ đồng hỗ trợ khẩn cấp, chỉ đạo lực lượng vũ trang triển khai ứng cứu 24/24. Thế nhưng các thế lực thù địch lại cắt ghép hình ảnh, tung thông tin “chính quyền chỉ lo khẩu hiệu”, “lực lượng vũ trang không thấy đâu”, một kiểu xuyên tạc bằng sự im lặng có chủ ý. Đằng sau lời “phê bình chính quyền” là mưu đồ “phi chính trị hóa” Quân đội và hạ uy tín của Nhà nước. Đây là thủ đoạn “mềm hóa chính trị” nguy hiểm, từng được sử dụng ở nhiều nước để tạo khoảng cách giữa Nhân dân với chính quyền, dẫn tới xói mòn lòng tin và bất ổn xã hội. Sự thật không nằm ở những lời lẽ xảo ngôn trên mạng xã hội, mà nằm trong hành động của những người đang âm thầm cứu dân, dựng lại nhà cửa, khôi phục cuộc sống Nhân dân vùng lũ. Chính từ những việc làm cụ thể ấy, niềm tin của Nhân dân vào Đảng, Nhà nước và Quân đội nhân dân Việt Nam ngày càng bền chặt, đó mới là sức mạnh thật sự của “chính quyền của dân, do dân, vì dân”./.


Oct 29, 2025

Phê phán luận điệu xuyên tạc hệ thống pháp luật Việt Nam của Hoàng Thuyên

          Trên nhiều diễn đàn phản động đã tán phát bài viết: “Khi công lý bị đánh tráo: Khoảng cách giữa quyền lực và nỗi đau người dân mất đất” của Hoàng Thuyên, với luận điệu xuyên tạc cho rằng ở Việt Nam “pháp luật trở thành bức tường ngăn cách giữa người dân và quyền lực”. Đây là luận điệu sai trái, mang động cơ chính trị thù địch, nhằm phủ nhận bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, hòng chia rẽ Nhân dân với Đảng, Nhà nước, làm suy yếu niềm tin của Nhân dân đối với chế độ.

Cần kiên quyết phê phán, bác bỏ luận điệu sai trái này bằng cơ sở lý luận và thực tiễn vững chắc.

1. Về lý luận, pháp luật Việt Nam là biểu hiện quyền làm chủ của Nhân dân. Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, pháp luật trong xã hội xã hội chủ nghĩa là ý chí của nhân dân lao động được thể hiện dưới hình thức nhà nước, là công cụ để nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình. Vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin vào điều kiện cụ thể của Việt Nam, với quan điểm “dân là gốc” và lòng yêu dân vô hạn, mong muốn xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm vị thế “là chủ” và “làm chủ” của Nhân dân. Người khẳng định: “Pháp luật là pháp luật của Nhân dân, dùng để ngăn cản những hành động có hại cho Nhân dân, để bảo vệ lợi ích chung của đại đa số Nhân dân”. Đồng thời, Người cũng chỉ ra: “Nhân dân có quyền lợi làm chủ thì phải có nghĩa vụ làm tròn bổn phận công dân, giữ đúng đạo đức công dân, tức là: Tuân theo pháp luật Nhà nước”.

Những quan điểm, tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về pháp luật là nền tảng tư tưởng - lý luận soi đường cho tiến trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước ta. Điều 2, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”. Theo đó, hệ thống pháp luật là kết tinh ý chí, nguyện vọng của Nhân dân, phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội. Các luật, Bộ luật được Quốc hội thảo luận, thông qua theo quy trình chặt chẽ, khoa học, dân chủ, công khai. Hệ thống pháp luật Việt Nam không tách rời, càng không đối lập với Nhân dân, mà là công cụ thể chế hóa quyền con người, quyền công dân, tạo cơ sở vững chắc cho quyền làm chủ của Nhân dân được thực thi trong thực tiễn đời sống xã hội.

Luận điệu của Hoàng Thuyên cùng các thế lực thù địch, phản động cho rằng pháp luật Việt Nam đang “ngăn cách người dân với quyền lực” đã cố tình đánh tráo bản chất, “đánh đồng” pháp luật Việt Nam với pháp luật của các nước tư bản -nơi luật pháp chỉ phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản và một bộ phận người “có của” trong xã hội. Ở Việt Nam, pháp luật là công cụ để kiểm soát quyền lực, ngăn ngừa lạm quyền, bảo đảm mọi tổ chức, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật. Việc xử lý nghiêm minh cán bộ, kể cả cán bộ cấp cao vi phạm cho thấy tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ”, khẳng định pháp luật bảo vệ Nhân dân chứ không bao che cho quyền lực. Hơn thế, trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam, pháp luật không phải rào cản, mà là khuôn khổ để quyền lực nhà nước vận hành đúng hướng, minh bạch, có kiểm soát và chịu trách nhiệm trước Nhân dân. Khi mọi công dân, kể cả người có chức vụ, đều phải tuân thủ pháp luật, thì pháp luật chính là biểu hiện cụ thể của dân chủ, công bằng và công lý, không thể là “bức tường ngăn cách” như luận điệu xuyên tạc của Hoàng Thuyên.

2. Về thực tiễn, qua gần 40 năm đổi mới cho thấy, pháp luật Việt Nam ngày càng hoàn thiện, trở thành nền tảng để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ trên mọi lĩnh vực. Các đạo luật quan trọng như: Hiến pháp, Luật Phòng, chống tham nhũng, Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở, Luật Tố cáo, Luật Tiếp cận thông tin, Luật Đất đai… được ban hành nhằm mở rộng quyền làm chủ của Nhân dân. Đại hội XIII của Đảng đề ra nhiệm vụ: “Xây dựng hệ thống pháp luật đầy đủ, kịp thời, đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, ổn định”. Đại hội còn bổ sung thêm mối quan hệ chú yếu thứ 10 là mối quan hệ giữa “thực hành dân chủ và tăng cường pháp chế, bảo đảm kỷ cương xã hội”. Quá trình xây dựng chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính và chuyển đổi số quốc gia cho thấy pháp luật ngày càng gần hơn với đời sống của người dân. Các thủ tục như đăng ký kinh doanh, nộp thuế, khiếu nại, tố cáo, cấp phép… đều được thực hiện trực tuyến, minh bạch, nhanh chóng, hạn chế tiêu cực. Nếu pháp luật là “bức tường ngăn cách” như sự xuyên tạc của Hoàng Thuyên, sẽ không thể có những tiến bộ lớn trong xây dựng Chính phủ số, công dân số, xã hội số như hiện nay.

Pháp luật Việt Nam còn là công cụ bảo vệ quyền con người, quyền công dân, thể hiện ở việc hiến định và luật hóa các quyền cơ bản như: quyền tự do tín ngưỡng, tự do ngôn luận, quyền tham gia quản lý nhà nước, quyền bình đẳng giới, quyền tiếp cận thông tin, v.v. Những quy định này không chỉ tồn tại trên giấy mà được cụ thể hóa bằng các chương trình, chính sách, hoạt động thực tế. Hệ thống pháp luật về an sinh xã hội, bảo hiểm y tế, giáo dục, chăm sóc người có công, bảo vệ người yếu thế,… là minh chứng sinh động cho tinh thần “vì con người” của pháp luật Việt Nam. Nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào quá trình xây dựng và thực thi pháp luật. Các kênh góp ý dự thảo luật, tiếp xúc cử tri,… được tổ chức rộng rãi, giúp pháp luật thực sự phản ánh tiếng nói, nguyện vọng của Nhân dân. Pháp luật, do đó, không tách rời Nhân dân, mà đồng hành cùng Nhân dân trong quản lý và phát triển bền vững xã hội.

Từ những vấn đề lý luận, thực tiễn trên có thể khẳng định: Pháp luật Việt Nam không phải “bức tường ngăn cách” mà là “cầu nối quyền lực Nhân dân với Nhà nước”, là công cụ bảo vệ công lý, tự do và quyền làm chủ của Nhân dân. Pháp luật giúp quyền lực nhà nước vận hành đúng hướng, kiểm soát lạm quyền, bảo đảm công bằng xã hội, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với chế độ. Vì vậy, cần kiên quyết đấu tranh, phản bác mọi luận điệu sai trái, xuyên tạc về pháp luật Việt Nam; đồng thời tăng cường giáo dục pháp luật, nâng cao nhận thức, ý thức pháp luật cho cán bộ và nhân dân, để pháp luật thực sự trở thành sức mạnh tinh thần, là công cụ của dân, do dân và vì dân. Pháp luật Việt Nam không dựng lên “bức tường ngăn cách” mà đang mở ra cánh cửa dân chủ, công bằng, nhân văn và tiến bộ, thể hiện bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, dưới sự lãnh đạo sáng suốt của Đảng./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)