Jun 21, 2015

SỰ NGỤY BIỆN CỦA TƯƠNG LAI

TRE VIỆT - Ngày 15-6-2015, trên trang boxit Việt Nam, Tương Lai có bài: “Góp ý kiến vào quá trình tiến đến Đại hội lần thứ XII của Đảng”. Trong bài viết ông ta nói rằng, “sẽ tập trung trình bày mấy vấn đề sau đây: Từ bỏ mô hình đã lựa chọn sai, mô hình Xã hội chủ nghĩa. Từ bỏ cái gọi là “Chủ nghĩa Mác –Lê-nin”. Trung thực và nghiêm túc thực hiện “Điều mong muốn cuối cùng” trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh”. Bài viết này, chỉ đề cập đến vấn đề thứ nhất mà ông góp ý: từ bỏ mô hình chủ nghĩa xã hội để thấy sự ngụy biện của ông ta.
          Tương Lai cho rằng, “Hiện nay, loài người không còn chủ nghĩa tư bản nguyên nghĩa nữa, mà cũng chưa từng có chủ nghĩa xã hội đích thực. Hai thuật ngữ “chủ nghĩa tư bản” và “chủ nghĩa xã hội”, thì một không còn phản ánh một thực tế nào nữa, và một thì chưa hề phản ánh một thực tế nào cả. Cái thứ nhất là “chủ nghĩa tư bản”, cái thứ hai là “chủ nghĩa xã hội”. Cũng có nghĩa là mục tiêu mà chúng ta, nói đúng hơn là Đảng áp đặt cho cả dân tộc ta, cho toàn xã hội phải hướng tới một mục tiêu mù mờ để ra sức xây dựng”. Tương lai đã đúng khi cho rằng, chủ nghĩa tư bản không còn nguyên nghĩa nữa. Nhưng xin lưu ý ông, những dấu hiệu đặc trưng cơ bản của chủ nghĩa tư bản không hề thay đổi. Đó là chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản về tư liệu sản xuất. Đã từ lâu, giai cấp tư sản thực hiện bán cổ phần cho giai cấp công nhân, nhưng ông chủ tư sản vẫn chiếm số lượng cổ phiếu áp đảo. Nói cách khác, cơ sở sản xuất vẫn do ông chủ nắm giữ và chính ông ta có quyền quyết định mọi hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp. Vậy là, vai trò, vị trí của chủ - thợ cũng rất rõ ràng, không có gì khác trước cả.
Các nước tư bản còn khả năng phát triển, vì sự phát triển của nó chưa tới giới hạn, nên trong quá trình phát triển điều tất yếu là phải quan tâm đến an sinh xã hội. Mặc dù vậy, bần cùng hóa tương đối và bần cùng hóa tuyệt đối mà C. Mác đã chỉ ra đến nay xã hội tư bản vẫn không có gì thay đổi. Cho nên, mặc dù, chủ nghĩa tư bản không còn nguyên nghĩa, nhưng chủ nghĩa tư bản vẫn là chính nó. Bởi cái mà chủ nghĩa này thay đổi chỉ là sự thay đổi những cái không thuộc về bản chất của chủ nghĩa tư bản mà thôi.
          Về chủ nghĩa xã hội, đúng là chưa có trong thực tiễn. Xin lưu ý ông rằng, chưa có chứ không phải không có. Nhưng thực tiễn đã chứng tỏ rằng, chưa có mà không dám dấn thân thì không bao giờ tìm ra chân lý. Lịch sử nước ta cho thấy, phong kiến phương Bắc đô hộ dân tộc Việt Nam cả nghìn năm. Nghìn năm so với một đời người thì quá dài và đời người quá ngắn ngủi. Nếu cứ suy nghĩ như Tương Lai: cả nghìn năm dân tộc ta đã chịu cảnh đô hộ của phong kiến phương Bắc như thế rồi, thì phải chấp nhận thôi. Và như vậy, không có cuộc cách mạng nào đánh đổ phong kiến phương Bắc để giành độc lập dân tộc chứ gì? Nhưng không. Dân tộc ta không phải ai cũng suy nghĩ như ông. Những người con yêu nước Việt Nam với ý thức tự tôn dân tộc, nên dù phong kiến phương Bắc có đô hộ cả nghìn năm, vẫn có những người đứng lên tạo dựng ngọn cờ tập hợp nhân dân vùng lên quyết đánh đổ phong kiến phương Bắc, dân tộc ta mới được độc lập như ngày nay đấy ông ạ. Lịch sử hiện đại của dân tộc ta cũng cho thấy, dù thực dân Pháp đô hộ gần thế kỷ, nhưng không chịu khuất phục, nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Bác Hồ đã đứng lên đánh đổ thực dân giành độc lập dân tộc. Nếu cứ lối suy nghĩ của ông: gần thế kỷ có làm gì được thực dân Pháp đâu, thôi thì cam chịu kiếp ngựa trâu chứ gì? Trong khoa học cũng vậy, nếu tìm chân lý mà không dám dấn thân, chỉ dám đi theo con đường mà người khác đã đi thì làm gì có sự phát triển, làm gì tìm ra được chân lý mới. Thực tế cho thấy, trong khi cả giáo hội, thế giới quan niệm: trái đất đứng im, chỉ có một nhà khoa học với niềm tin khoa học của mình quả quyết rằng: trái đất không đứng im mà nó tự quay quanh mặt trời, dù có phải trả giá bằng tính mạng, nhà khoa học đó vẫn khẳng định và điều đó về sau được khoa học chứng minh nhà khoa học này đã đúng. Như vậy, thực tiễn chứng tỏ, chân lý không phải thuộc về số đông. Cho nên, ngày nay, mặc dù các nước kiên định con đường phát triển xã hội chủ nghĩa không nhiều, nhưng không không vì thế mà cho rằng, các nước lựa chọn con đường phát triển chủ nghĩa xã hội là sai lầm. Thế thì làm sao phải từ bỏ con đường phát triển chủ nghĩa xã hội hả Tương Lai?
          Ông nói đưa dân tộc đi theo chủ nghĩa xã hội là “sự mù mờ” (!), lại chứng tỏ ông chưa nghiên cứu Cương lĩnh xây dựng đất nước lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). Cương lĩnh đã xác định rõ các đặc trưng của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng. Ông hãy tìm nghiên cứu! Ở đó, cho thấy, những đặc trưng cơ bản của xã hội xã hội chủ nghĩa mà dân tộc ta đang xây dựng. Tất nhiên, xã hội đó do chưa có trong lịch sử, nên trong quá trình xây dựng, phải vừa thiết kế, vừa thi công để làm sao xã hội đó khắc phục được những khuyết tật của các chế độ xã hội trước, mang lại cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc nhất cho nhân dân; đồng thời, bảo vệ được độc lập dân tộc, thống nhất, toàn vẹn chủ quyền lãnh thổ quốc gia, v.v. Vì thế, nó đòi hỏi phải có thời gian dài, rất dài. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng nói: không biết đến thế kỷ XXI đã có chủ nghĩa xã hội hoàn thiện hay chưa cũng vì thế! Xin lưu ý là chủ nghĩa xã hội hoàn thiện, nói cách khác chủ nghĩa xã hội đích thực, còn hiện nay chúng ta xây dựng xã hội hướng tới chủ nghĩa xã hội, nên có mặt đạt được, có mặt chưa đạt được cần tiếp tục xây dựng, mặt đạt được cũng cần tiếp tục hoàn thiện và nâng cao. Điều đó chứng tỏ việc xây dựng xã hội mới đòi hỏi quá trình gian khổ và lâu dài, nhất là xã hội ấy chưa có trong lịch sử, nhưng là người cách mạng phải có niềm tin cách mạng ông ạ. Tương Lai về già xem ra lập trường thiếu sự kiên định, niềm tin cách mạng không biết đánh mất từ bao giờ? Để ông ta luôn luôn có những phát biểu, ý kiến không đồng thuận với đường lối của Đảng như thế. Nên có người gọi ông là người đi ngược quả không sai!

TỘI THAM NHŨNG KHÔNG CÓ ÁN TỬ HÌNH KHÁC GÌ KHUYẾN KHÍCH VƠ VÉT CỦA CÔNG

Bạn đoc Mộng Tưởng có bài viết sau gửi đến Tre Việt, xin giới thiệu cùng bạn đọc

TỘI THAM NHŨNG KHÔNG CÓ ÁN TỬ HÌNH
KHÁC GÌ KHUYẾN KHÍCH VƠ VÉT CỦA CÔNG
                                                                               

          Nhìn chung, dư luận xã hội hiện nay là muốn các cơ quan công quyền cần mạnh tay hơn nữa trước tình trạng nạn tham nhũng ngày càng diễn biến phức tạp, tinh vi. Từ thực tiễn cuộc sống, nhiều câu hỏi đã được đặt ra như: tại sao nạn tham nhũng càng chống càng nở rộ như nấm sau mưa; tỷ lệ xét xử án tham nhũng chiếm quá ít trong tổng số vụ việc tham nhũng được phát hiện; tình trạng “giơ cao đánh khẽ” trong xử lý tội tham nhũng khá phổ biến…do vậy, chuyện “hy sinh đời bố, củng cố đời con” đã, đang và sẽ tiếp tục củng cố quan niệm sống hết sức thực dụng của những đối tượng có điều kiện tham nhũng.
          Tình trạng tham nhũng ở nước ta hiện nay đã thật sự trở thành quốc nạn, gây bức xúc đặc biệt trong tư tưởng, tâm lý của cán bộ, đảng viên và toàn dân. Quần chúng nêu thắc mắc là: Với hệ thống lãnh đạo chặt chẽ của Đảng từ Trung ương xuống cơ sở, với bộ máy Nhà nước đồ sộ như hiện nay và hệ thống các cơ quan hành pháp, tư pháp đầy đủ ở các cấp, tại sao không “giết” được nạn tham nhũng? mà ngược lại, cả hệ thống chính trị và toàn dân đang đành phải chấp nhận “sống chung” với nạn tham nhũng. Thật là trớ trêu!.
          Có phải niềm tin của nhân dân vào khả năng phòng, chống tham nhũng ở nước ta đang “bị treo”. Nhiều con đường được đầu tư ngân sách cả ngàn, chục ngàn tỷ đồng mới đưa vào sử dụng  đã lún, nứt; cầu mới khánh thành dân chưa kịp mừng đã sập; cầu treo vừa xây dựng hoặc tu bổ đã đứt cáp gây thương vong cho dân; nhiều tượng đài, công trình công cộng đã bị sự cố “cháy nhà ra mặt chuột”…chắc chắn từ tham nhũng mà ra. Khi bàn đến vấn đề phòng, chống tham nhũng để chuẩn bị tham gia ý kiến vào Bộ luật Hình sự (sửa đổi), một vị đại biểu đã phát biểu thẳng thắn tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XIII với đại ý là “…mới làm cán bộ mấy năm mà gia tài đã có đến hàng tỷ, hàng trăm tỷ, nếu không tham nhũng thì lấy đâu ra…”, đây là cách lập luận có cơ sở khoa học và thực tiễn rất đáng hoan nghênh.
          Từ rất sớm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng cảnh báo có tính giáo dục cho cán bộ, đảng viên bằng bài viết mang tiêu đề ĐẠO ĐỨC CÁCH MẠNG đăng trên báo Nhân Dân số 460, ra ngày 06/6/1955 có đoạn: “Ảnh hưởng xấu của xã hội cũ làm cho một số đảng viên và cán bộ (trong Đảng và ngoài Đảng) hủ hóa. Họ tưởng rằng cách mạng là cốt để làm cho họ có địa vị, được hưởng thụ. Do đó, mà họ mắc những sai lầm: kiêu ngạo, trưng diện, hưởng lạc, lãng phí của công, tự tư tự lợi, không tiết kiệm đồng tiền bát gạo là mồ hôi nước mắt của nhân dân.
          Họ quên mất tác phong gian khổ phấn đấu, lạt lẽo với công việc cách mạng, xa rời Đảng, xa rời quần chúng. Dần dần họ mất cả tư cách và đạo đức người cách mạng, sa vào tham ô, hủ bại và biến thành người có tội với Đảng, với Chính phủ, với nhân dân”(*)
          Ngày nay, khi công cuộc đổi mới đất nước đang tiếp tục tiến xa hơn, hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới, thì tội phạm tham nhũng càng có thêm điều kiện thuận lợi để hoành hành, bằng các thủ đoạn mới nham hiểm hơn, khó lường hơn, đáng chú ý là sự thao túng nền kinh tế đất nước của các phần tử thuộc “lợi ích nhóm” mà báo giới và nhiều nhà nghiên cứu đã lên tiếng phân tích sự tác hại ghê gớm của nó.
          Quay lại vấn đề bỏ hay không án tử hình đối với tội phạm tham nhũng. Điều này đã và đang được các nhà nghiên cứu luật pháp, các chuyên gia kinh tế và đặc biệt là nhiều đại biểu Quốc hội hết sức quan tâm bàn luận, và dường như việc giữ nguyên án tử hình đối với tội phạm tham nhũng trong Bộ luật Hình sự hiện hành đang chiếm xu thế lớn. Người viết bài này thử đặt giả thiết là không còn áp dụng án tử hình đối với tội phạm tham nhũng nữa (tức là chỉ còn án chung thân hoặc có thời hạn), thì quan niệm sống theo kiểu “hy sinh đời bố, củng cố đời con” được những người còn điều kiện tham nhũng “tận dụng triệt để” hơn bao giờ hết, và chắc chắn người bị thiệt hại trước hết và trên hết vẫn là dân. Qua thực tế cho thấy, có rất nhiều tội phạm được ban quản lý các trại giam đánh giá, nào là“gương mẫu” chấp hành án theo đúng quy định của pháp luật, nào là luôn chịu khó “rèn luyện” sửa chữa lỗi lầm trong thời gian thụ án…nói chung là cải tạo tốt, để rồi qua chính sách nhân đạo của Đảng và Nhà nước ta, họ sẽ được xem xét giảm án từ tù chung thân chuyển thành án tù có thời hạn, từ án tù dài hạn chuyển thành án tù ngắn hạn và cuối cùng thì ra tù một cách “ngoạn mục”, sống phè phỡn sung túc trong cộng đồng như thể trêu ngươi (?!). Như vậy, đối với tội phạm tham nhũng mà không có án tử hình, khác gì “khuyến khích” cho các hành vi vơ vét của công?. Rất mong có sự trao đổi nghiêm túc, cân nhắc kỹ lưỡng, phân tích thấu đáo về vấn đề này trước khi quyết định của cấp có thẩm quyền.
                                                ________________
(*)Hồ Chí Minh - Toàn tập, Tập 7, Nxb CTQG, H. 1996, tr. 568 – 569.
                                                                          


Jun 2, 2015

ĐỪNG NGHE CON NGHIỆN NÓI

Tre Việt - Mấy ngày vừa qua, cư dân mạng đang “nóng” lên vì các bài viết về Nguyễn Chí Tuyến; đặc biệt, BBC tiếng Việt còn đưa tin Nguyễn Chí Tuyến và một số nhà dân chủ - nhà hoạt động xã hội dân sự đã có cuộc tiếp xúc với vị Thượng nghị sỹ Mỹ John McCain trong chuyến thăm hai ngày (27 - 28/5/2015) của Ông ở Việt Nam. Nguyễn Chí Tuyến nói với BBC rằng: Đoàn thượng nghị sỹ Hoa Kỳ đã đặt nhiều câu hỏi về tình hình phát triển dân chủ, nhân quyền ở trong nước. “Ông McCain bày tỏ cảm kích về công việc của chúng tôi và hỏi nước Mỹ có thể giúp được điều gì?".
Vậy, Nguyễn Chí Tuyến là ai? Một người yêu nước hay phản dân hại nước? Trước hết, phải xem con người này làm gì? sinh sống ra sao? Chẳng phải nói chắc mọi người cũng biết rõ từng chân tơ, kẽ tóc, nhưng Tre Việt cũng xin cung cấp cho độc giả biết: Nguyễn Chí Tuyến có “phẩm chất” bẩm sinh khác người là thích “ngồi mát ăn bát vàng”, cho nên khi cả xã hội và gia đình của Tuyến đang miệt mài lao động, sản xuất thì Tuyến lại lông bông, lười biếng. Ngay từ nhỏ, y đã biết hành nghề “trộm cắp”, biển thủ tài sản gia đình, nên tài sản trong gia đình của y không cánh mà bay. Bởi vì, hắn đã mang hết đi bán tống, bán tháo và cầm cố. Khi gia đình không còn gì đáng giá, Tuyến lại tích cực “thăm hỏi” người trong họ, hàng xóm, rồi làng trên, xóm dưới, thậm chí lang bạt cả nơi “đầu đường xó chợ” rình mò những sơ hở của bà con để thực hiện các phi vụ trộm cắp. Mặc dù, sống trong một gia đình có truyền thống cách mạng, thế nhưng, chính Tuyến lại phá tan những gì mà cả tổ tiên, ông bà, cha mẹ Tuyến đã dầy công xây dựng. 
Từ những việc làm và hành vi phá phách của Tuyến là nguyên nhân chính khiến bố mẹ từ con, hàng xóm xa lánh, đặc biệt khi bộ mặt của con nghiện phơi bày. Không còn gì để mất, để có tiền hút, trích, Tuyến đã không từ một thủ đoạn nào, kể cả việc đâm thuê, chém mướn, hễ có ai thuê thì sẵn sàng làm.
Gần đây, “ma xui, quỷ khiến” đã giúp y móc nối với các tổ chức phản động và Tuyến được chúng sử dụng như một “diễn viên đóng thế”, “người mẫu ảnh” diện những bộ trang phục của một kẻ “khố rách áo ôm” và tô vẽ, “làm đẹp” bằng phẩm màu của tiết lợn, tiết chó lòe loạt để trở thành một “hình nộm” chính hiệu Chí phèo thế kỷ XXI, tạo dáng cho đồng bọn chụp ảnh và viết bài xuyên tạc, bôi nhọ Đảng, Nhà nước ta.
Một kẻ lưu manh, chuyên “rạch mặt ăn vạ” nay được các thế lực “o bế”, “khích lệ” tham gia hoạt động chính trị. Các thế lực này không ngớt lời ca tụng và còn nhận xét Tuyến có tố chất của một “chính trị gia” (!) Nhưng rất tiếc, ở Việt Nam chưa bao giờ và không bao giờ cần những “nhà chính trị” lưu manh như Tuyến. Những hành động và lời nói của Tuyến không một người dân yêu nước nào quan tâm, để ý, mà chỉ có “đồng đảng” của chúng, nhất là các thế lực thù địch, thậm chí cả những người bất đồng chính kiến ủng họ mà thôi.

          Vậy, lời nói của Tuyến mà BBC tiếng Việt đưa tin và các bài viết về Tuyến trên mạng xã hội trong thời gia qua, mọi người Việt Nam yêu nước cần cảnh giác, kiên quyết đấu tranh chống mọi luận điệu nhằm xuyên tạc, bôi nhọ hình ảnh nước nhà, chống lại những kẻ lưu manh, kiếm tiền bằng mọi thủ đoạn như Tuyến, góp phần nhỏ bé để bảo vệ đất nước ngàn năm văn hiến. 

May 26, 2015

ĐỪNG ĂNG ẲNG NỮA

           Tre Việt - Ngày 22-5-2015, trên VOA tiếng Việt có bài: “Tổng thư ký Liên hợp quốc phải thúc đẩy nhân quyền Việt Nam, của Trà My. Bài viết cho biết, nhân chuyến thăm Việt Nam của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon theo lời mời của Chủ tịch nước Trương Tấn Sang vào ngày 22 và 23-5-2015, một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí với Việt Nam cho rằng, “Tổng thư ký Ban nên nhân chuyến thăm lần này nêu vấn đề nhân quyền với các nhân vật cao cấp nhất trong Chính phủ Việt Nam. Trong vô số rất nhiều vấn đề nhân quyền của Việt Nam, chí ít ông Ban nên đề cập tới ba ưu tiên chính là yêu cầu Hà Nội hủy bỏ các điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền, phóng thích tù nhân lương tâm, và yêu cầu nhà nước Việt Nam chấm dứt các hành động sách nhiễu, hành hung, trấn áp những nhà hoạt động bảo vệ nhân quyền” (!)
          “Trong vô số rất nhiều vấn đề nhân quyền của Việt Nam” mà họ đề cập đã bị chính trả lời phóng vấn của phóng viên trước chuyến thăm của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom sau đây là cái vả vào miệng những kẻ đơm đặt. Trước chuyến thăm, Tổng Thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã trả lời phỏng vấn về mục đích chuyến thăm cũng như khuyến nghị trong giai đoạn chuyển đổi sang các Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015 ở Việt Nam. Khi được phóng viên phỏng vấn: Việt Nam là một trong những quốc gia đã thực hiện thành công các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ (MDGs). Ông có khuyến nghị gì đối với Việt Nam trong giai đoạn chuyển đổi sang các Mục tiêu phát triển bền vững sau 2015?
         
Tổng Thư ký Ban Ki-moon: Việt Nam đã có những tiến bộ đáng kể trong việc thực hiện các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ và đã hoàn thành phần lớn các mục tiêu đó, chẳng hạn như: giảm một nửa tỷ lệ nghèo đói; cải thiện tiếp cận của người dân với nước và vệ sinh; hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và bình đẳng giới trong giáo dục. Tôi rất vui mừng trước quyết tâm và thành tựu của Việt Nam, đặc biệt là qua việc xây dựng các mục tiêu phát triển quốc gia đã giúp Việt Nam từ một trong những nước nghèo nhất thế giới thành một nước có thu nhập trung bình trong những thập kỷ gần đây.
          Tuy nhiên, Ông cũng cho rằng, hướng tới tương lai sau năm 2015, Việt Nam cần bảo đảm đạt được những tiến bộ tương tự ở tất cả các nhóm dân cư, kể cả các cộng đồng dân tộc thiểu số và người dân sống gần ngưỡng nghèo. Việt Nam cần đảm bảo sao cho không ai bị rơi lại vào tình trạng nghèo cùng cực do bị ảnh hưởng bởi những thảm họa thiên tai hoặc kinh tế. Đó cũng là những vấn đề mà Đảng, Nhà nước, Chính phủ và nhân dân Việt Nam đang quyết tâm thực hiện. Song, Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moom nhấn mạnh: “Tôi tin rằng kỷ nguyên sau 2015 sẽ mở ra nhiều cơ hội mới cho Việt Nam và giúp đất nước các bạn vượt qua những thách thức còn tồn tại để đạt được phát triển bền vững cho tất cả mọi người”. Thiết nghĩ những đánh giá khách quan, khái quát trên của Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon đã bác bỏ những tiếng nói lạc lõng cho rằng Việt Nam “còn vô số các vấn đề về nhân quyền”.
           Họ đề nghị Tổng thư ký Liên hợp quốc “yêu cầu Việt Nam hủy bỏ các điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền”, là một đề nghị phi lý. Là một đất nước độc lập, có đầy đủ chủ quyền, Việt Nam phải có hệ thống luật pháp riêng phù hợp với luật pháp quốc tế và đặc điểm, văn hóa, truyền thống mình. Thật vậy, trong “Tuyên bố Viên và Chương trình hành động”, cộng đồng quốc tế khẳng định: “Tất cả các quyền con người đều mang tính phổ cập, không thể chia cắt… Trong khi phải luôn ghi nhớ ý nghĩa của tính đặc thù dân tộc và khu vực về lịch sử, văn hóa và tôn giáo…”[1]. Điều 19, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị, cũng quy định: “1: Mọi người đều có quyền giữ quan điểm của mình mà không ai được can thiệp; 2: Mọi người có quyền tự do ngôn luận…”, khoản 3 mục 2 Điều 19 quy định nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt. Do đó, trong khi thực hiện các quyền này phải chịu một số hạn chế nhất định… để: Tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác; Bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe hoặc đạo đức của công chúng”. Như vậy, họ yêu cầu Việt Nam hủy bỏ cái gọi là “điều luật mượn danh an ninh quốc gia để đàn áp nhân quyền” là yêu cầu không căn cứ, không theo luật pháp quốc tế nên không thể chấp nhận.
             Họ yêu cầu Việt Nam “phóng thích tù nhân lương tâm” (!), Việt Nam đã nhiều lần khẳng định, ở đất nước này không có “tù nhân lương tâm”, chỉ có những người vi phạm pháp luật thì bị trừng trị theo quy định của luật pháp. Việt Nam đang xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nên pháp luật phải được thượng tôn, không có ai đứng trên pháp luật, ngoài pháp luật. Bất cứ ai, là công dân Việt Nam vi phạm pháp luật đều phải xử phạt bình đẳng trước luật pháp. Những người theo đạo vi phạm pháp luật, những người mượn danh tự do ngôn luận vi phạm pháp luật đều phải xử phạt theo luật pháp. Họ không thể đứng trên pháp luật, ngoài pháp luật. Vậy nên, hỡi các người, đừng có ăng ẳng mãi mà chán tai lắm rồi!
          Họ cho rằng, “tự do tôn giáo tại Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng thông qua Dự thảo Luật Tôn giáo và Tín ngưỡng với nội dung tăng cường siết chặt kiểm soát sinh hoạt của các cộng đồng tôn giáo” (!) Hiến pháp Việt Nam, được Quốc hội thông qua ngày 28-11-2013 có một chương về “quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Ðiều 24 của Hiến pháp 2013 khẳng định mọi người sinh sống trên đất nước Việt Nam đều có quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng, không như Hiến pháp 1992 chỉ giới hạn đối với công dân Việt Nam. Ðiều này cũng được cho là thể hiện một thái độ tích cực hơn đối với tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam. Việc Quốc hội Việt Nam thông qua Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo thể hiện một bước tiến trong việc xây dựng cơ sở pháp lý cho các cộng đồng tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều 38 của Pháp lệnh cũng quy định các quy định của các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia sẽ có giá trị cao hơn các quy định của Pháp lệnh trong trường hợp mâu thuẫn. Nghị định 92 cụ thể hóa việc thực hiện Pháp lệnh được thông qua ngày 8-11-2012, tiếp tục quy định chi tiết hơn các biện pháp thực hiện Pháp lệnh. Một số đại diện các cơ quan Chính phủ cũng thể hiện sẵn sàng xem xét một số sửa đổi thực chất đối với Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo hiện nay trong tiến trình chuẩn bị xây dựng dự án luật tôn giáo. Việt Nam đang xây dựng và dự kiến sẽ thông qua Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo vào năm 2016. Xuất phát từ quan điểm tín ngưỡng, tôn giáo là nhu cầu tinh thần chính đáng của con người, nên Nhà nước Việt Nam chủ trương nhất quán là tôn trọng và tạo điều kiện thuận lợi để mọi người dân thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nhà nước Việt Nam cũng coi trọng chính sách đoàn kết và hòa hợp giữa các tôn giáo, bảo đảm sự bình đẳng, không phân biệt đối xử vì lý do tôn giáo, tín ngưỡng. Ðiều này được thể hiện trong Hiến pháp đầu tiên của Việt Nam (1946 - trước cả khi Tuyên ngôn Nhân quyền 1948 đề cập), được phản ánh xuyên suốt đến Hiến pháp 2013, cũng như các văn bản pháp luật liên quan khác, v.v. Vậy nên, lo ngại “tự do tôn giáo tại Việt Nam đang bị đe dọa nghiêm trọng” quả là “lo bò trắng răng”./.



[1] - Viện nghiên cứu quyền con người - Các văn kiện quốc tế cơ bản về quyền con người, H. 2002,  tr 44.

May 25, 2015

Phá hoại


Con ơi bố cũng lạy mày
Mày dùng như thế bố đây hết nhờ
Bao năm bố chỉ dám sờ
Dám xoa, dám nắn, mà giờ mày xơi
Kiểu gì vừa cắn vừa lôi
Như này hỏng hết đồ chơi con à
Bố xin mày đấy nhả ra
Để cho nguyên vẹn cả nhà dùng chung...
************

P/s: Ảnh chôm từ Nét, Nhời thơ chôm từ Nhà Đùa

TRUNG QUỐC DỪNG NGAY CÁC HÀNH ĐỘNG PHI PHÁP Ở BIỂN ĐÔNG

Tre Việt - Thế giới đã và đang chứng kiến Trung Quốc ngang ngược tăng cường các hoạt động phi pháp trên Biển Đông, trong đó có hai qun đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Họ xâm chiếm Hoàng Sa, tuyên bố chủ quyền với hầu hết Biển Đông, biến một số bãi đá thuộc quần đảo Trường Sa (thuộc chủ quyền của Việt Nam) thành đảo nổi, đơn phương đưa ra cái gọi là “lệnh cấm đánh bắt cá trên Biển Đông, v.v. Những hành động đó của Trung Quốc là phi pháp coi thường luật pháp và công luận quốc tế.
Thực tế cho thấy, Trung Quốc luôn tìm mọi cách để hợp thức hóa cái gọi là “đường lưỡi bò” và “chủ quyền” đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa của Việt Nam. Họ đã sử dụng vũ lực để đánh chiếm hoàn toàn quần đảo Hoàng Sa  và  một số thực thể phía Tây Bắc quần đảo Trường Sa của Việt Nam. Họ ngang nhiên từng bước biến Hoàng Sa thành “quận, huyện”, xây dựng các căn cứ kinh tế, quân sự, hậu cần, kỹ thuật; tiến hành biến một số bãi đá, bãi cạn ở Trường Sa thành đảo nổi. Từ những căn cứ này, họ âm mưu tiến hành xâm lược ra toàn bộ Biển Đông.
Những việc làm của Trung Quốc nói trên là đi ngược lại các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, các quy định của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS 1982). Nhưng với bản chất “vừa ăn cướp, vừa la làng”, Trung Quốc đã và đang tìm mọi cách thanh minh, biện bạch rằng, họ có quyền làm như vậy vì đây là “nhà”, là “vườn” của họ; các nước khác cũng đang xây đảo trên Trường Sa(!) Đây là những lập luận ngụy biện! Bởi quần đảo Hoàng Sa và phần lớn quần đảo Trường Sa hoàn toàn thuộc chủ quyền Việt Nam. Nhà nước Việt Nam là Nhà nước đầu tiên trong lịch sử đã chiếm hữu 02 quần đảo này từ khi còn vô chủ, ít nhất là từ thế kỷ thứ XVII. Việc chiếm hữu và thực thi chủ quyền này là thật sự, rõ ràng, liên tục và hòa bình; phù hợp với nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế hiện hành. Việt Nam có đầy đủ các căn cứ pháp lý và chứng cứ lịch sử có giá trị pháp lý đề chứng minh và bảo vệ cho chân lý này. Nhiều học giả quốc tế, thậm chí cả học giả Trung Quốc cũng đã chỉ rõ cơ sở lịch sử, pháp lý về chủ quyền của Việt Nam đối với Hoàng Sa và Trường Sa, đồng thời phê phán, bác bỏ quan điểm của Trung Quốc về vấn đề này. Quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa không phải là “nhà”, là “vườn” của họ. Trung Quốc đã dùng vũ lực để chiếm đoạt “nhà, vườn” của Việt Nam - đó là thực tế không thể chối cãi được. Việc chiếm đóng và tiến hành xây dựng trên các thực thể thuộc quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa là hoàn toàn phi pháp, vi phạm chủ quyền quốc gia của Việt Nam, làm mất an ninh đường hàng không, hàng hải quốc tế qua Biển Đông.
Dư luận quốc tế và hầu hết các quốc gia trên thế giới đã thấy rõ sự nguy hiểm và phi pháp của Trung Quốc, nhất là hành động đã và đang bồi đắp, xây cất biến những bãi đá thành đảo nổi có các đường băng sân bay, các công trình quân sự, các khu dịch vụ kinh tế, kỹ thuật, hậu cần. Đây là mối hiểm họa hiện hữu, hội đủ các điều kiện để trước mắt là khống chế và cản trở việc thông thương qua lại của tàu thuyền, máy bay các nước hoạt động qua Biển Đông; sớm khống chế toàn diện, tiến tới độc chiếm Biển Đông theo đúng kịch bản mà Trung Quốc đã ôm ấp từ lâu. Vì thế dư luận quốc tế cực lực lên án những hành động của Trung Quốc. Nhiều nhà bình luận quốc tế cho rằng, tình hình Biển Đông nóng lên là bởi những hành động phi pháp của Trung Quốc, đồng thời yêu cầu Trung Quốc hành xử văn minh, theo đúng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế, tôn trọng các quyền và lợi ích chính đáng của các nước có liên quan đến Biển Đông, trong đó có Việt Nam.
Nhân đây, chúng ta cùng nói thêm về đảo, đảo nhân đạo trong luật pháp quốc tế. Theo Điều 121 về Chế độ các đảo của UNCLOS 1982 - văn kiện được coi là Hiến chương của thế giới về đại dương - đảo là một vùng đất hình thành tự nhiên, có nước bao bọc, khi thủy triều lên vẫn nổi trên mặt nước. Các bãi đá, đảo đá không thể duy trì sự sống con người hay đời sống kinh tế thì không có vùng đặc quyền kinh tế hay thềm lục địa. Như vậy, một hòn đảo phải hình thành tự nhiên và vẫn nổi trên mặt nước khi thủy triều dâng, có thể duy trì sự sống con người với đời sống kinh tế riêng thì mới đem lại nhiều ý nghĩa cho bên tuyên bố chủ quyền. Hiện nay, chưa có văn bản luật quốc tế nào định nghĩa về đảo nhân tạo, kể cả UNCLOS 1982 hay Công ước Thềm lục địa 1958. Tuy nhiên, giới học giả luật pháp quốc tế chấp nhận một định nghĩa là: Đảo nhân tạo là một nền tảng cố định vĩnh viễn hoặc tạm thời do con người tạo nên bằng cách đặt, đổ lên các vật chất tự nhiên như sỏi, cát và đá, bao quanh là nước và nổi trên mặt nước khi thủy triều lên. Mặc dù không định nghĩa về đảo nhân tạo, nhưng UNCLOS 1982 lại quy định: Trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình, quốc gia ven biển có quyền xây dựng, cho phép và quy định việc xây dựng, khai thác và sử dụng đảo nhân tạo, áp dụng quyền tài phán đặc biệt, kể cả về mặt các luật và quy định hải quan, thuế khóa, y tế, an ninh và nhập cư. Nhưng, theo Điểm 8, Điều 60, UNCLOS 1982: Các đảo nhân tạo không được hưởng quy chế của các đảo. Chúng không có lãnh hải riêng và sự có mặt của chúng không có tác động gì đối với việc hoạch định ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa. Như vậy, quốc gia ven biển không thể “nhờ” đảo nhân tạo mà “nới” thêm chủ quyền. Việc Trung Quốc bồi đắp xây đảo nhân tạo ở Trường Sa trên các bãi đá: Gạc Ma, Subi, Gaven, Châu Viên, Tư Nghĩa, Vành Khăn,… là hành động vi phạm nghiêm trọng luật pháp quốc tế này sẽ không đem lại chủ quyền cho Trung Quốc ở Biển Đông.

Trung Quốc hãy dừng ngay các hành động phi pháp ở Biển Đông. Những hành động đó đã và đang làm tổn hại đến tình hình an ninh hàng không, hàng hải quốc tế trên Biển Đông và xâm phạm nghiêm trọng chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán của Việt Nam ở Biển Đông. Cứ cố tình hành động, Trung Quốc chỉ làm xấu đi hình ảnh của mình trong con mắt của bạn bè quốc tế, mà còn bị dư luận thế giới lên án và nhất định bị thất bại! Tham thì thâm xưa nay là thế mà!

May 17, 2015

Trò hề!

Tre Việt - Vừa qua, tại Trụ sở Quốc hội Mỹ diễn ra một trò hề gọi là Lễ kỷ niệm Ngày Nhân quyền cho Việt Nam. Gọi là trò hề, bởi nó không chính danh, bởi buổi lễ này không phải do Quốc hội, Chính phủ Mỹ tổ chức; không có đại biểu nhân dân Mỹ, nhân dân Việt Nam cũng như chính phủ của hai nước, đặc biệt là đại biểu của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, mà chỉ có những người tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho dân chủ”, thực chất là những kẻ chống cộng, chống Nhà nước Việt Nam! Có thể điểm mặt một số kẻ điển hình, như: Libby Liu - Tổng giám đốc Đài Châu Á tự do (RFA) - kẻ chuyên đăng tải những bài viết có nội dung xuyên tạc, bôi xấu tình hình nhân quyền ở Việt Nam; Nguyễn Quốc Quân, Cù Huy Hà Vũ, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh (Mẹ Nấm), Lê Công Định,… những kẻ tự xưng là “nhà dân chủ”, “nhà đấu tranh cho dân chủ”, thường xuyên chống Nhà nước Việt Nam quyết liệt. Cùng với đó là một số “dân biểu”, Thượng nghị sĩ, nhân viên của Mỹ có tư tưởng chống cộng, kỳ thị chế độ XHCN ở Việt Nam, như: Tim Kaine (Thượng nghị sĩ), Barbara Comstock (Dân biểu),… và những “đồng bạn (bọn)” ở Trung Quốc, Myanmar, Tây Tạng, Mông Cổ. Nội dung chủ yếu của buổi lễ là “sơ kết” những “thành tích” bán nước, hại dân của những kẻ lưu vong, phản bội lại dân tộc Việt Nam; đồng thời, kêu gọi “cộng đồng người Việt Nam ở Mỹ, đứng lên, đoàn kết đấu tranh cho dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam”(!). Đúng là một trò hề! Bởi nhìn vào những cái tên có nhiều “thành tích” chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam, bị pháp luật trừng trị, giờ đây tị nạn ở Mỹ, họ chẳng thể làm gì để kiếm sống, phải “ngựa quen đường cũ” tiếp tay cho những kẻ ngoại bang có thâm thù với nhân dân và dân tộc Việt Nam để chống phá sự bình yên trong cuộc sống ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân Việt Nam.
          Gọi là trò hề, bởi, tại buổi lễ này, họ trơ tráo cho rằng, “Hiện nay, vấn đề nhân quyền ở Việt Nam trở nên tồi tệ dưới rất nhiều hình thức, rất thách thức cho một số tổ chức báo chí ở Việt Nam”. Đồng thời, vu cáo Chính phủ Việt Nam “bóp nghẹt” tự do ngôn luận, tự do báo chí, hạn chế, ngăn cấm sử dụng mạng in-tơ-nét và tuyên bố tiếp tục đấu tranh cho “tình trạng nhân quyền nghèo nàn ở Việt Nam”(!) Những phát biểu trên là sự vu cáo trắng trợn tình hình nhân quyền ở Việt Nam, nhằm chống phá chế độ Việt Nam! Nhân dân Việt Nam ở trong và ngoài nước, cũng như cộng đồng quốc tế nhận rõ “mặt thật” của chúng và kiên quyết lên án, bác bỏ.
Thực tế cho thấy, nhân quyền ở Việt Nam luôn được đảm bảo ngày càng tốt hơn. Quyền con người, quyền công dân ở Việt Nam là do nhân dân Việt Nam đã đoàn kết, anh dũng đứng lên, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam để đánh đuổi bọn thực dân, đế quốc tự giành lấy cho mình. Hiến pháp, pháp luật Việt Nam tiến bộ, phù hợp với thông lệ quốc tế, quy định và bảo vệ các quyền về kinh tế, văn hóa, chính trị, xã hội, tín ngưỡng,… của người dân. Việt Nam đã tham gia, thực hiện có hiệu quả các luật quốc tế, các chương trình, mục tiêu về việc bảo đảm, phát triển quyền con người của Liên hợp quốc, cũng như những tổ chức quốc tế có uy tín trên thế giới. Việt Nam có quan hệ bình đẳng, hợp tác vì lợi ích dân tộc và sự phát triển, hòa bình trên thế giới với hầu hết các nước, các vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, khu vực; là thành viên tích cực, có trách nhiệm của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, v.v. Tốc độ phát triển kinh tế của Việt Nam luôn đạt gần 7%/năm. Hiện nay, Việt Nam có thu nhập bình quân khoảng 2.200 đôla/người/năm, từ một nước nghèo Việt Nam đã trở thành nước có thu nhập trung bình; từ một nước bị các thế lực thực dân, đế quốc bao vây, cấm vận, Việt Nam trở thành điểm đến đầu tư của các vùng lãnh thổ và tổ chức kinh tế trên thế giới, v.v.
Cùng với đó, hoạt động báo chí, in-tơ-nét, blog ở Việt Nam luôn diễn ra hết sức sôi động, phong phú, có nhiều đóng góp cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Ở Việt Nam, báo chí đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức chính trị xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của cá nhân. Mọi người đều có quyền đề đạt nguyện vọng, phát biểu và đóng góp ý kiến trên tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa và xã hội thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, trong đó có báo chí. Thời gian qua, báo chí Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ cả về số lượng (các cơ quan báo chí), chất lượng và loại hình. Cả nước hiện nay, về báo in, có 845 cơ quan, trong đó có 199 cơ quan báo chí (tăng 07 cơ quan so với năm 2013), 646 tạp chí, 01 hãng thông tấn quốc gia; về báo điện tử, có 98 báo, tạp chí điện tử; về phát thanh, truyền hình, có 67 đài; có 05 cơ quan thông tấn, báo chí Việt Nam mở cơ quan thường trú ở nước ngoài. Tại Việt Nam hiện có 30 văn phòng báo chí nước ngoài với 35 phóng viên đăng ký thường trú. Trung bình hằng năm, có khoảng 230 đoàn với hơn 1.000 phóng viên nước ngoài vào nước ta tác nghiệp.   
Ngày nay, người dân Việt Nam “đã được tiếp cận với 75 kênh truyền hình nước ngoài, trong đó có những kênh được phát rộng rãi trên thế giới, như: CNN, BBC, Bloomberg, TV5, DW, NHK, KBS, Australia Network, v.v. Tất cả các hãng thông tấn và báo chí lớn của thế giới đều đến với người dân Việt Nam thông qua mạng in-tơ-nét, như: Reuters, BBC, VOA, AP, AFP, CNN, Kyodo, Economist, Financial Times, v.v.”[1]. Khoan hãy bàn nội dung thông tin của những “kênh” này, nhưng rõ ràng là điều đó thể hiện rõ sự tôn trọng quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin đối với người dân của Đảng và Nhà nước ta.
Nhà báo Việt Nam được chính quyền và mọi người dân giúp đỡ, khuyến khích hoạt động tự do, sáng tạo trong khuôn khổ pháp luật và bình đẳng trước pháp luật. Hiện nay, Nhà báo được Bộ Thông tin và Truyền thông cấp thẻ hành nghề, còn blogger viết ý kiến cá nhân, họ không phải là nhà báo. Phần lớn blogger chuyên viết nhật ký mạng, tác phẩm của họ là các bài viết về văn học, nghệ thuật, cảm nghĩ, nêu thái độ cá nhân về cuộc sống hiện tại trong công việc mà họ thích. Tuy nhiên, cũng có blogger lợi dụng quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí để phát tán những bài viết có nội dung xấu, độc; thậm chí có kẻ còn đang tâm “rước voi dày mả tổ”, xuyên tạc, bôi nhọ tình hình nhân quyền Việt Nam, thực chất là chống lại sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam, xâm hại đến lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân. Những hành động của chúng đều bị xử lý đích đáng theo quy định của pháp luật.
Đó là những thực tế mà không thế lực nào bác bỏ được. Hành động của những kẻ tổ chức lễ Ngày Nhân quyền Việt Nam ở Mỹ chỉ là trò hề, của những con rối, nhất định sẽ bị nhân dân Việt Nam và cộng đồng quốc tế lên án, bác bỏ./.


[1] - Theo “Báo cáo Quốc gia về thực hiện Quyền con người ở Việt Nam theo cơ chế rà soát định kỳ phổ quát (UPR) chu kỳ II”, Cổng thông tin điện tử của Bộ Ngoại giao Việt Nam.

May 15, 2015

Đúng là “Vừa ăn cướp vừa la làng”

          Tre Việt - Thời gian qua tình hình Biển Đông có diễn biến ngày càng phức tạp. Nguyên nhân chủ yếu là do những hành động “vừa ăn cướp vừa la làng” của nhà cầm quyền Trung Quốc. Họ luôn coi Biển Đông là “ao nhà” của mình muốn làm gì thì làm, bất chấp luật pháp quốc tế, sự phản đối của dư luận quốc tế và những nước có liên quan.
Quần đảo Hoàng Sa và phần lớn Quần đảo Trường Sa trên Biển Đông là thuộc chủ quyền của Việt Nam. Đây là điều không thể bác bỏ. Việt Nam có đầy đủ cơ sở lịch sử, pháp lý để chứng minh rõ điều đó. Thế nhưng, năm 1994, nhà cầm quyền Trung Quốc đã ngang nhiên ra cái gọi là “nghị quyết” thành lập tỉnh Hải Nam, trong đó có Hoàng Sa và Trường Sa. Trước đó, họ đã sử dụng quân đội, dùng vũ lực đánh chiếm toàn bộ quần đảo Hoàng Sa (năm 1974) và một phần quần đảo Trường Sa trong đó có những đảo của Việt Nam. Từ đó, mặc cho sự phản đối kịch liệt của Việt Nam và dư luận quốc tế, họ từng bước đẩy mạnh xây dựng cơ sở chính trị, văn hóa, du lịch, quân sự,… nhằm biến quần đảo này thành địa bàn để tiến hành vũ trang xâm lược ra toàn Biển Đông, phục vụ cho cái gọi là chiến lược “đường lười bò”, mở rộng biên giới biển của mình. Đầu năm 1988, một lần nữa, nhà cầm quyền Trung quốc lại đưa quân đến xâm chiếm các bãi đá: Chữ Thập, Châu Viên, Ga Ven, Tư Nghĩa, Xu Bi của Việt Nam thuộc quần đảo Trường Sa. Tháng 5-2014, nhà cầm quyền Trung Quốc lại ngang ngược đưa Giàn khoan Hải Dương - 981 vào vùng đặc quyền kinh tế 200 hải lý và thềm lục địa Việt Nam, khoan thăm dò dầu khí, v.v. Gần đây, nhà cầm quyền Trung Quốc liên tiếp có những hành động bồi đắp, xây dựng các bãi đá đã lấn chiếm trên quần đảo Trường Sa thành đảo nổi, có các cơ sở hậu cần, căn cứ quân sự. Những hành động trên đây của nhà cầm quyền Trung Quốc là hành động “ăn cướp”, xâm chiếm chủ quyền biển, đảo của Việt Nam và đã bị dư luận quốc tế, khu vực, trong đó có nhân dân Trung Quốc và nhân dân Việt Nam cực lực phản đối. Chính phủ Việt Nam đã sử dụng các căn cứ lịch sử, pháp lý, các quy định của thông lệ quốc tế để liên tục đấu tranh đòi nhà cầm quyền Trung Quốc phải trả lại Hoàng Sa và một phần Trường Sa cho Việt Nam, dừng ngay các hành động xâm chiếm, làm phức tạp tình hình Biển Đông. Cuộc đấu tranh chính nghĩa của Chính phủ và nhân dân Việt Nam là chính nghĩa và nhất định thắng lợi.
Không chỉ tiến hành xâm chiếm Hoàng Sa và một phần Trường Sa của Việt Nam, nhà cầm quyền Trung Quốc còn đẩy mạnh tuyên truyền về cái gọi là “đường chữ U”, “đường lười bò”, “đường chín đoạn” để đơn phương tuyên bố chủ quyền đối với hầu hết Biển Đông. Họ liên tục ra những cái gọi là tuyên bố chủ quyền, quyền chủ quyền đối với Hoàng Sa và Trường Sa, vu cáo Việt Nam có hành động ngăn cản việc thực thi “chủ quyền” với các đảo và vùng biển của các lực lượng Trung Quốc. Đồng thời, vẽ ra những cứ liệu, tư liệu, lập thành văn bản ma để lưu hành trong Đại hội đồng Liên hợp quốc, chứng minh cái gọi là chủ quyển của họ đối với hầu hết Biển Đông và hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa. Nhưng “bàn tay chẳng che nổi mặt trời”, hành động “vừa ăn cướp, vừa la làng” của nhà cầm quyền Trung quốc bị dư luận quốc tế cực lực lên án, bác bỏ. Chính phủ các nước lớn, như: Mỹ, Anh, Pháp, Nga,… đều “rất quan ngại” trước hành động của Trung Quốc ở Biển Đông. Tổ chức ASEAN (Hiệp hội các nước Đông Nam Á) đã ra tuyên bố về hành động làm phức tạp tình hình ở Biển Đông. Có nước trong khu vực Đông Nam Á đã kiện Trung Quốc ra tòa án quốc tế. Không ít các học giả, nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế, trong đó có học giả, nhà nghiên cứu của Trung Quốc đã công bố những nghiên cứu khoa học chứng minh hành động phi lý của Trung Quốc trên Biển Đông; trong đó, khẳng định, cái gọi là “đường lưỡi bò”,... là sản phẩm tưởng tưởng của những người mang cái “đầu bò”!
Để khẳng định chủ quyền với Hoàng Sa và Trường Sa, Chính phủ Việt Nam đã công bố hàng loạt những cứ liệu, tư liệu lịch sử, những căn cứ pháp lý từ luật pháp trong nước và quốc tế. Đồng thời, tích cực đẩy mạnh đấu tranh bằng chính trị, ngoại giao và dư luận quốc tế, dư luận của nhân dân trong nước và ở trong chính Trung Quốc, chỉ rõ hành động phi nghĩa, phi lý của nhà cầm quyền Trung Quốc. Ngày 08-5-2015, trước tuyên bố của Trung Quốc “tố cáo” Việt Nam “chiếm Biển Đông”, một lần nữa Người phát ngôn Bộ ngoại giao Lê Hải Bình ra tuyên bố mạnh mẽ bác bỏ, lên án quan điểm và những hành động sai trái của Trung Quốc ở Biển Đông và khẳng định: “Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý và bằng chứng lịch sử để khẳng định chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của mình ở Biển Đông phù hợp với luật pháp quốc tế”; đồng thời, nêu rõ “Một lần nữa Việt Nam yêu cầu Trung Quốc chấm dứt ngay các hành động này, nghiêm túc tuân thủ và thực thi luật pháp quốc tế, nhất là Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982 cũng như tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC); không có thêm các hành động gây phức tạp, mở rộng tranh chấp trên Biển Đông”.
          Ỷ thế nước lớn, hành động “vừa ăn cướp, vừa la làng” của nhà cầm quyền Trung Quốc đang bị thế giới vạch mặt và nhất định thất bại. 

ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM TUYỆT ĐỐI TRUNG THÀNH VỚI NHÂN DÂN

           Tre Việt - Ngày 11-5-2015, BBC tiếng Việt có bài về Diễn văn bế mạc Hội nghị Trung ương 11 của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với nhận định, bình luận, suy diễn thiếu căn cứ, quy chụp và phản động. Đáng chú ý là, BBC trích dẫn trả lời phỏng vấn của tay “Tiến sĩ” Nguyễn Chí Dũng rằng: “Đối với nhiều người dân đánh giá Đảng Cộng sản chỉ là nhóm lợi ích mà thôi chứ không phải cái gì mang tính chất ý thức hệ như hồi xưa”. Đây thực sự là một sự vu khống, bịa đặt nhằm bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.
          Đảng Cộng sản Việt Nam luôn lấy Chủ nghĩa Mác – Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hoạt động nên về ý thức hệ không có gì thay đổi, vẫn là ý thức hệ của giai cấp công nhân. Song Đảng Cộng sản Việt Nam thừa nhận có một bộ phận có lợi ích nhóm như Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) đã chỉ ra. Toàn Đảng, toàn dân đang kiên quyết đấu tranh với tình trạng đó. Đó là những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng toàn Đảng, mọi hoạt động đều vì lợi ích và quyền lợi của nhân dân. Đảng Cộng sản Việt Nam không có lợi ích nào khác là phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân, Đảng luôn tuyệt đối trung thành với mục tiêu lý tưởng đã xác định, trung thành với nhân dân, với dân tộc, với Tổ quốc. Đảng viên luôn luôn lấy việc phục vụ nhân dân làm lẽ sống và mục tiêu phấn đấu, vì vậy mà Đảng được nhân dân yêu mến, tin tưởng gọi là “Đảng ta”.
          Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội đã khẳng định: Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và của dân tộc Việt Nam; đại biểu trung thành lợi ích của giai cấp công nhân, nhân dân lao động và của dân tộc.
          Thực tiễn cách mạng Việt Nam 85 năm qua đã chứng minh rằng, ở Việt Nam không có một lực lượng chính trị nào khác, ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, có đủ bản lĩnh, trí tuệ, kinh nghiệm, uy tín và khả năng lãnh đạo đất nước vượt qua mọi khó khăn, thử thách cam go để đưa dân tộc đến bến bờ vinh quang. Đảng đã cùng toàn dân, toàn quân vượt qua mọi khó khăn, gian khổ bền bỉ đấu tranh giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển.
          Và đặc biệt, sau gần 30 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, từ một nước nghèo nàn, lạc hậu, chịu hậu quả nặng nề của nhiều năm chiến tranh, lại bị bao vây cấm vận, Việt Nam đã vượt lên phát triển kinh tế khá nhanh theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, chủ động hội nhập quốc tế. Mức tăng trưởng GDP bình quân gần 07%/năm; thu nhập bình quân năm 2015 khoảng 2.200 đô la/người/năm, trở thành nước có thu nhập trung bình; đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện rõ rệt. Tỉ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 8% năm 2014. Đây là kết quả của cả một quá trình tìm tòi, đổi mới tư duy lý luận, mở rộng dân chủ, phát huy trí tuệ của toàn Đảng, sự năng động, sáng tạo, không quản ngại gian khổ vì sự phát triển của đất nước vì hạnh phúc nhân dân của đội ngũ đảng viên ở mọi lúc mọi nơi.
          Tuy nhiên, Đảng Cộng sản Việt Nam cũng nhận thấy, với tư cách là Đảng cầm quyền, hoạt động trong môi trường phát triển kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập, một bộ phận cán bộ, đảng viên còn biểu hiện tham nhũng, lãng phí, quan liêu, xa dân làm ảnh hưởng đến bản chất, uy tín của Đảng. Song, Đảng Cộng sản Việt Nam đã nghiêm túc nhìn nhận và đề ra biện pháp khắc phục để xây dựng Đảng thực sự xứng đáng với niềm tin của nhân dân, và đã đạt được kết quả rất quan trọng.
          Dẫn giải mấy lời ngắn gọn để minh chứng rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn tuyệt đối trung thành vô hạn với lợi ích của dân tộc và giai cấp, kiên định mục tiêu, lý tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên cơ sở chủ nghĩa Mác – Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Mọi hoạt động của Đảng, của đảng viên đều vì độc lập - tự do - hạnh phúc của nhân dân, ngoài ra không có mục đích, lợi ích nào khác như BBC nói./.

May 13, 2015

VIỆT NAM CÓ ĐẦY ĐỦ CƠ CHẾ ĐỂ THỰC HIỆN DÂN CHỦ

Tre Việt - Ngày 11-5-2015, RFI có bài “Việt Nam cần một khung pháp lý cho tổ chức xã hội dân sự độc lập” của tác giả Anh Vũ. Nội dung bài viết cổ vũ cho hoạt động của cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự độc lập”, kêu gọi Nhà nước Việt Nam thừa nhận và có khung pháp lý cho các “tổ chức” này hoạt động. Nhưng xin thưa, Việt Nam hiện nay có đủ điều kiện và cơ sở pháp lý để mọi người dân, mọi tổ chức, đoàn thể xã hội phát huy, thực hiện quyền làm chủ của mình, mà không cần đến cái gọi là “tổ chức xã hội dân sự” gì đó. Vì:
          Chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam xây dựng với mục tiêu là xây dựng một nền dân chủ xã hội chủ nghĩa “cao gấp triệu lần dân chủ tư sản”, như V.I. Lê-nin nói. Đó là một nền dân chủ toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, tạo điều kiện cho mọi thành viên trong xã hội có thể làm chủ bản thân, làm chủ xã hội, làm chủ thiên nhiên. Đó là mục tiêu cao cả của sự nghiệp xã hội chủ nghĩa, là nhiệm vụ lịch sử mà Đảng Cộng sản và nhân dân Việt Nam đang thực hiện. Nhà nước tôn trọng và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân; chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người. Quyền và nghĩa vụ công dân do Hiến pháp và pháp luật quy định. Nhân dân thực hiện quyền làm chủ thông qua hoạt động của Nhà nước, của cả hệ thống chính trị và các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện.
Điều 6 Hiến pháp năm 2013 đã quy định các cách thức, cụ thể là “Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước bằng dân chủ trực tiếp, bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng nhân dân và thông qua các cơ quan khác của Nhà nước”. Nguyên tắc này được thể hiện nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp, từ chế độ chính trị, quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân đến các thiết chế trong bộ máy nhà nước.
Dân chủ trực tiếp, là cách thức người dân trực tiếp thể hiện ý chí, nguyện vọng của mình mà không phải thông qua bất kỳ cá nhân hay tổ chức đại diện nào. Hiến pháp năm 2013 quy định nhiều nội dung mà Nhân dân có thể thực hiện quyền lực nhà nước bằng hình thức dân chủ trực tiếp, cụ thể như: Công dân có quyền biểu tình (Điều 25); Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng nhân dân (Điều 27); Công dân có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, tham gia thảo luận và kiến nghị với cơ quan nhà nước về các vấn đề của cơ sở, địa phương và cả nước (Điều 28); Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền biểu quyết khi Nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân (Điều 29), v.v.
          Dân chủ đại diện, là cách thức Nhân dân thông qua các cơ quan đại biểu do mình bầu ra và trao quyền, như: Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan khác của Nhà nước để thực hiện ý chí, nguyện vọng của mình. Cơ quan nhà nước được nhân dân ủy quyền không chỉ là các cơ quan dân cử như Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp mà còn bao gồm cả các cơ quan trong hệ thống hành pháp và tư pháp; các cơ quan này thay mặt nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước để điều hành, quản lý xã hội và chịu sự giám sát của nhân dân. Tại Điều 69 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, với quy định này đã nhấn mạnh vai trò của Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, tất cả quyền lực nhà nước đều thuộc về Nhân dân và Nhân dân ủy thác quyền lực đó cho Quốc hội. Tại Điều 113 Hiến pháp 2013 quy định “Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân, do Nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước Nhân dân địa phương…”, với quy định này thì Nhân dân sẽ thông qua Hội đồng nhân dân để thực hiện quyền làm chủ của mình. Và các cơ quan này, được hình thành từ việc bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng, trực tiếp và bỏ phiếu kín. Còn đối với các cơ quan khác của Nhà nước do Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp lập ra, Nhân dân cũng đã gián tiếp ủy thác quyền lực và thông qua những cơ quan này, Nhân dân thực hiện quyền làm chủ của mình.
Không chỉ có thế, để phát huy quyền làm chủ của các tầng lớp nhân dân, ngày 18-02-1998, Bộ Chính trị Trung ương Đảng khóa VIII đã ban hành Chỉ thị 30-CT/TW về xây dựng và thực hiện Quy chế Dân chủ ở cơ sở. Tiếp đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ra Nghị quyết về ban hành Quy chế thực hiện dân chủ, Chính phủ ban hành các nghị định về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan doanh nghiệp nhà nước.
          Với hệ thống luật pháp, hình thức, cách thức đó, thì quyền dân chủ của các tầng lớp nhân dân ngày càng được phát huy đầy đủ, hiệu quả, nhân dân thực hiện tốt việc: “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” trong mọi hoạt động ở địa phương, các cơ quan, đoàn thể, tổ chức, đơn vị hành chính, sự nghiệp, v.v. Qua đó, góp phần tích cực vào công cuộc phát triển đất nước mà không cần phải có các “tổ chức xã hội dân sự” như RFI đề cập./.