Sep 16, 2022

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do hội họp, lập hội

Quyền tự do hội họp, lập hội ở Việt Nam
luôn được tôn trọng và  bảo đảm (Ảnh: huongsenviet.com)
         Tre Việt - Nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, thời gian qua các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, kích động, rằng: ở Việt Nam quyền tự do hội họp, lập hội không được tôn trọng và bảo đảm, còn nhiều người bị phạt tù do thực hiện quyền tự do hội họp, lập hội, v.v. Theo họ thì quyền tự do hội họp, lập hội là thứ “tự do tuyệt đối” không trong khuôn khổ pháp luật. Đây là một sự suy diễn vô lối, một đòi hỏi vô lý và rất nguy hiểm mà chúng ta cần cảnh giác đấu tranh bác bỏ.

Trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948, Điều 20 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”. Tại Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950 (Điều 11) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Điều 21), quyền tự do hội họp và lập hội tiếp tục được khẳng định. Tuy nhiên, đây không phải là quyền tự do tuyệt đối, tự do vô hạn độ: Điều 21, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 khẳng định, quyền tự do hội họp và lập hội được giới hạn khi cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền và tự do của người khác và Điều 20 của Công ước này còn nêu rõ không ai được phép lợi dụng quyền tự do hội họp, tự do lập hội để tuyên truyền cho chiến tranh, hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, kích động phân biệt đối xử, tạo thù địch, bạo lực. Theo đó, pháp luật các quốc gia đều khẳng định, tự do hội họp là quyền có thể bị giới hạn trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân.

Ở Việt Nam, Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền tự do hội họp, lập hội, v.v. Ngoài ra, quyền tự do hội họp, lập hội của người dân còn được quy định cụ thể tại Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật khác. Cùng với việc hiến định trong Hiến pháp, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành một số Chỉ thị liên quan đến hiệp hội, như: Chỉ thị 01-CT/HĐBT năm 1989 về quản lý tổ chức và hoạt động của các Hội quần chúng; Chỉ thị 202-CT/HĐBT năm 1990 về chấp hành các quy định của Nhà nước về lập hội. Các văn bản luật quy định về quyền tự do hội họp, lập hội của người dân ở Việt Nam đều tương thích với luật quốc tế và tình hình cụ thể của đất nước.

Hiện nay, Việt Nam đã có hàng nghìn hội, đại diện cho ý chí, lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các tổ chức và hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật; các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ đã đăng ký hoạt động trên phạm vi toàn quốc với hàng chục triệu hội viên. Riêng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện và hiệp thương ý kiến của tất cả các đoàn thể và tổ chức nhân dân trong lĩnh vực chính trị, xã hội và các tổ chức nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc với đại diện của tất cả 54 dân tộc anh em. Cùng với đó, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức công đoàn được tổ chức từ trung ương đến cơ sở địa phương. Các tổ chức này đã tham gia tích cực vào việc xây dựng chính sách lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua các văn bản hướng dẫn và hợp đồng lao động, đồng thời đóng vai trò đại diện cho người lao động trong thương lượng, ký kết các thỏa ước lao động tập thể, v.v. Bên cạnh các tổ chức của thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh,…ở Việt Nam còn có hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ,… hoạt động trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó chủ yếu là từ thiện và cứu trợ nhân đạo.

Các tổ chức và hiệp hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, độc lập và tuân thủ pháp luật. Chính phủ chỉ trợ giúp tài chính nếu các chương trình, dự án và hoạt động phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội và lợi ích chung của cộng đồng. Các cơ sở của tổ chức xã hội và cơ sở của tổ chức xã hội nghề nghiệp ở Việt Nam cũng tăng nhanh. Sự phát triển mạnh của các loại cơ sở này chứng tỏ nhu cầu thành lập hiệp hội của người dân tăng nhanh, quyền tự do thành lập và tham gia các tổ chức, hiệp hội của người dân được tôn trọng và bảo đảm.

Như vậy, trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật pháp Việt Nam công nhận quyền tự do hội họp, tự do lập hội của người dân nhưng đó không phải là “tự do vô hạn”, mà phải trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của nhân dân. Và, những luận điệu tuyên truyền, gieo rắc tư tưởng tự do hội họp, tự do lập hội vô hạn độ thực chất chỉ là trò xuyên tạc, bịp bợm nhằm thực hiện mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch./.   

Sep 12, 2022

Sự xuyên tạc lố bịch của RFA

          Tre Việt - Ngày 06/9/2022, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng ký ban hành Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18/8/2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định này thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị. Quy định gồm: 06 chương, 34 điều, quy định mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền trong quản lý cán bộ và nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục, quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử; tái cử, chỉ định, điều động và biệt phái cán bộ. Quy định áp dụng đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị.

Thế nhưng, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA) lại có nhiều bài viết, bình luận xuyên tạc hết sức lố bịch Quy định mới của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý, bổ nhiệm cán bộ. Họ cho rằng: “So với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thì Quy định 80 vừa rối rắm, vừa tự mâu thuẫn, thậm chí gây ấn tượng nó nhằm hướng dẫn người ta chạy quyền, chạy chức cho đúng chỗ”. Từ đó, họ quy chụp, Quy định nhằm tăng cường “tính tập quyền” cho các Ủy viên Bộ Chính trị, nhằm xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, rồi đưa ra các võ đoán về nhân sự cán bộ của Đảng.

Cần khẳng định: Quy định số 80 nhằm tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ của hệ thống chính trị; đánh giá cán bộ khách quan, công tâm; lựa chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định. Đồng thời, phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân, trước hết là người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ

Về phân cấp quản lý cán bộ, Quy định nêu rõ nội dung quản lý, trách nhiệm và quyết định đối với cán bộ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện định hướng và quyết định những chủ trương, vấn đề hệ trọng về công tác cán bộ và cán bộ theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trực tiếp quyết định một số nội dung trong công tác cán bộ; phân công, phân cấp cho các cấp ủy, tổ chức đảng quyết định một số nội dung đối với các chức danh lãnh đạo thuộc diện Trung ương quản lý và các chức danh cán bộ khác; ủy quyền cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư quyết định một số khâu, nội dung trong công tác cán bộ. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ công tác, sinh hoạt đảng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có cán bộ thuộc diện cấp trên quản lý và chịu trách nhiệm trước cấp có thẩm quyền về phạm vi được phân cấp, ủy quyền trong quản lý cán bộ, v.v

Về việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, Quy định nêu rõ: cấp ủy, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét, quyết định bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử theo thẩm quyền; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, phát huy đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của từng thành viên và người đứng đầu. Căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, đạo đức, năng lực, sở trường và uy tín của cán bộ; đồng thời, xuất phát từ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Bảo đảm sự ổn định, kế thừa và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Không bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, phong, thăng quân hàm đối với cán bộ, đảng viên đang bị xem xét, xử lý kỷ luật. Cán bộ sau khi được bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vì một trong các lý do: sức khỏe không bảo đảm; uy tín giảm sút; không hoàn thành nhiệm vụ; vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước,... thì cấp có thẩm quyền quyết định việc thay thế, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, từ chức, cách chức, không chờ hết thời hạn giữ chức vụ, hết nhiệm kỳ công tác.

Về quy trình bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử, đối với nguồn nhân sự tại chỗ, quy trình gồm 05 bước; đối với nhân sự điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử từ nguồn cán bộ ở nơi khác, quy trình gồm 03 bước. Đối với tổ chức có đặc thù, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ và liên thông.

Đối với việc điều động, biệt phái cán bộ, phải căn cứ vào yêu cầu công tác, phẩm chất, năng lực, sở trường, uy tín và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cán bộ nhằm phát huy, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ; góp phần khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm sự ổn định và phát triển của đội ngũ cán bộ

So với Quy định số 105, Quy định số 80 đã bổ sung nhiều điểm mới, trong đó quy định rõ hơn về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chức vụ cao hơn. Cụ thể, Quy định số 105 trước đây chỉ quy định chung là cán bộ bị kỷ luật từ khiển trách trở lên thì không được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời gian ít nhất 01 năm kể từ khi có quyết định kỷ luật. Đảng viên bị kỷ luật cách chức trong vòng 01 năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không chỉ định, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn. Lần này, Quy định số 80 quy định rõ hơn thời gian không được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn căn cứ theo các mức độ kỷ luật. Cụ thể, 12 tháng đối với hình thức kỷ luật khiển trách; 30 tháng đối với hình thức kỷ luật cảnh cáo; 60 tháng đối với hình thức kỷ luật cách chức, v.v.

Như vậy, việc ban hành Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18/8/2022 để thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử là việc làm cần thiết, nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, việc làm đó là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tại sao RFA lại phải xuyên tạc. Những luận điệu xuyên tạc, phá hoại lố bịch đó cần bị lên án và bác bỏ./. 

Vạch trần chiêu trò xét lại lịch sử

          Tre Việt - Trong bài viết “Sai từ Đại hội Tua” đăng trên trang facebook Chân Trời Mới Media, ngày 08/9 có đoạn “… sai từ khi Hồ Chí Minh đưa tay gia nhập Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tours, nói rõ hơn là sai từ khi Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản chuyên chính theo đường lối của Lênin”. Đây là chiêu trò xét lại lịch sử nhằm xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh cần vạch trần, lên án, bác bỏ.

Lịch sử trước những năm 1930 của thế kỷ 20 cho thấy: Cách mạng Việt Nam rơi vào khủng hoảng đường lối trầm trọng. Nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra chống lại ách đô hộ, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến nhưng đều bị thất bại. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc - Người con ưu tú của dân tộc đã ra đi tìm đường cứu nước. Để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba qua nhiều nước, tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Đảng Xã hội Pháp. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản Luận Cương của Lênin và tìm ra con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp là cách mạng vô sản. Và Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

Với việc xác định, tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo, không ngừng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn vẹn cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân, trở thành lãnh tụ thiên tài, danh nhân văn hóa thế giới, được nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế mến phục. Khi Người đi xa, trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam (năm 1969) đã khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ non sông, đất nước ta”, “Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử,…”

Những năm qua, với nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thu được những thành tựu vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; nhân dân ta có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay.

Sự thật đã rõ ràng, vậy nhưng có những kẻ bất mãn với chế độ, phần tử cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách để xuyên tạc lịch sử, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Nhưng, chúng càng ra sức xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh thì ngược lại tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người càng tỏa sáng và bất diệt./.

Sep 3, 2022

Phản bác trò “lật sử”

             Tre Việt - Vừa qua, một số tổ chức, cá nhân tìm mọi cách “lật lại lịch sử” dân tộc nhằm gây hoài nghi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mới đây, Việt Tân phát tán tài liệu phản động dưới dạng cuốn sách “Đôi dòng sử Việt” mang nhiều nội dung xuyên tạc, sai lệch, vu cáo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của Việt Nam, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực xấu, chống phá luôn tìm mọi cách phủ nhận thành tựu của cách mạng Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng ta; chúng cho rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong bối cảnh cánh cửa chính trị ở Việt Nam chỉ “khép hờ” vì xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, do đó Cách mạng Tháng Tám chỉ là “quả ngọt trời cho” và sự “ăn may” chứ không gắn với vai trò lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Thậm chí chúng còn trắng trợn xuyên tạc rằng nếu không có ngày 02/9/1945 và 09 năm kháng chiến thì dân tộc Việt Nam đã: tránh được cuộc chiến tranh đẫm máu? Từ đó, chúng tìm mọi cách tách rời mối quan hệ Đảng với dân, dân với Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng, v.v.

Ngày 18/9/1945, nhân dân Thành phố Hà Nội đánh chiếm
cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp
 ở Bắc Bộ (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

           Cần khẳng định rõ: đây là chiêu trò “cũ rích” mà hằng năm, cứ đến dịp nhân dân cả nước long trọng tổ chức kỷ niệm Ngày Tết Độc lập, thì các thế  lực thù địch phản động, cơ hội chính trị lại “ông ổng” ca bài ca cũ, hòng thực hiện mục đích xấu.

          Lịch sử minh chứng: ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và thật sự đã thành một nước tự do độc lập”. Tuyên ngôn độc lập cũng thể hiện lời thề mạnh mẽ, kiên quyết của cả dân tộc trong ngày lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và, để có được tự do, độc lập ấy, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong bản Tuyên ngôn độc lập: “Một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát – xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”. Có được thành quả đó là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, sáng lập và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó còn là sự nhận định đánh giá chính xác tình hình, lựa chọn thời cơ thuận lợi, xây dựng lực lượng, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, Hồ Chí Minh kiên quyết chỉ đạo và kêu gọi toàn Đảng, toàn dân ta: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Sự thực đó không phải là “quả ngọt trời cho” và sự “ăn may” như một số kẻ cố tình nhắm mắt, bịt tai nói bừa.


Khi vừa mới có độc lập tự do, với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, chúng ta đã ngay lập tức cùng lúc phải chống chọi với: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Cả dân tộc lại phải gồng mình chống giặc, đặc biệt là giặc ngoại xâm để giữ vững độc lập. Với đường lối: kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế và tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước” (Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Từ 1946 đến 1954, đường lối kháng chiến trên đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện đúng đắn, sáng tạo. Trong kháng chiến toàn dân, chúng ta đã triển khai sức mạnh của cả dân tộc “bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ…” và “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”; cả nước đồng lòng, chung sức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trên lĩnh vực quân sự, chúng ta đã xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, triển khai vũ trang toàn dân, bảo toàn lực lượng, vừa đánh vừa phát triển, v.v. Nhờ vậy, kháng chiến thắng lợi, lực lượng vũ trang của ta cũng trưởng thành vững mạnh với nhiều đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích.

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh đoàn kết, ý chí quyết tâm, hành động dũng cảm của toàn dân, toàn quân cùng sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, dân tộc Việt Nam đã kháng chiến thành công, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Một lần nữa Chiến thắng Điện Biên Phủ - mốc son trong lịch sử dân tộc dưới thời đại Hồ Chí Minh đã bác bỏ mọi xuyên tạc.

Thực tiễn những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng hơn 90 năm qua là sự thật không thể bác bỏ! Đồng thời, là minh chứng đập thẳng vào mọi luận điệu “lật sử” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị hòng chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại cuộc sống độc lập tự do của đất nước và nhân dân Việt Nam. Những chiêu trò chống phá chúng đã và đang nhận lấy quả đắng từ thực tiễn tốt đẹp và tương lai tươi sáng của cách mạng Việt Nam, của tinh thần cảnh giác, ý chí quyết tâm, niềm tin và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta./.

          

Aug 31, 2022

Đừng bị “lạc trôi” theo những lời tung hô, kích động

           Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!

Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!

Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!

Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”. Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.

Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á – Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”. “Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.

Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.

Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.

Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm. Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.

(Nguồn: Nguyễn Thành, Báo Công an nhân dân điện tử)

 

Aug 30, 2022

Đấu tranh chống sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

           Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng.

1. Có một số thế lực cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tầm vóc, giá trị lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Họ coi đó chỉ là sự “ăn may” của cộng sản, Việt Minh. Thực tế lịch sử đã khẳng định Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng diễn ra liên tục suốt 15 năm với sự lãnh đạo của Đảng từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936 - 1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945. Trong phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện đường lối, đặt mục tiêu giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng rộng khắp trên cả nước; xác định phương pháp đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành độc lập và chính quyền; dự báo và nắm bắt thời cơ cách mạng. Đó là những điều căn bản và quyết định thắng lợi của cách mạng.

Điểm nổi bật có giá trị lý luận và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn vấn đề tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ. Thời cơ bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là: Cao trào cách mạng của nhân dân cả nước phát triển mạnh mẽ (Đảng đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1945); kẻ địch lâm vào khủng hoảng, hoang mang, mất sức chiến đấu (Pháp chạy, Nhật hàng Đồng minh); các tổ chức đảng và Việt Minh đủ mạnh trên cả nước, quyết tâm lãnh đạo đưa quần chúng vào hành động cách mạng. Cùng với nắm bắt thời cơ, Đảng đã chỉ rõ nguy cơ: Quân Đồng minh (Anh và Trung Hoa dân quốc) kéo vào giải giáp quân Nhật và lợi dụng danh nghĩa đó để xâm chiếm Việt Nam; lợi dụng sự thất bại của Nhật, quân Pháp quay lại áp đặt sự cai trị như trước ngày 09/3/1945. Đảng đã lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước khi quân Đồng minh vào và trước khi quân Pháp quay lại.

Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang từ ngày 14 đến 15/8/1945 quyết định tổng khởi nghĩa với nguyên tắc chỉ đạo: Tập trung, thống nhất, kịp thời và nhanh chóng giành thắng lợi trong nửa cuối tháng 8-1945. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ chế độ thuộc địa gần một thế kỷ và chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945 - 1954) do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc kháng chiến thần thánh với những chiến công vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Bạn bè quốc tế nhắc đến Điện Biên Phủ gắn liền với Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp. Vậy mà đến nay vẫn có thế lực cố tình xuyên tạc. Họ cho rằng có thể tránh được cuộc chiến tranh “nếu phía Việt Nam không hiếu chiến”.

Sự thật đã bác bỏ quan điểm sai trái đó. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”. Lập trường hòa bình và sự nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất rõ ràng. Khi kháng chiến diễn ra ở Nam Bộ, ngày 06/3/1946, Hồ Chí Minh đã ký với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định Sơ bộ cho phép 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc; Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và thuộc khối liên hiệp Pháp. Đó là sự nhân nhượng rất lớn nhưng cần thiết mặc dù Pháp chưa công nhận Việt Nam độc lập và còn phải ở trong khối liên hiệp Pháp. Nhân nhượng đó thể hiện mong muốn hòa bình và quan hệ thân thiện với nước Pháp. Để thúc đẩy quá trình đó, ngày 25/4/1946, đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước Pháp. Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội thăm chính thức nước Pháp với mong muốn hòa bình và hợp tác giữa hai nước. Ngày 06/7/1946, cuộc đàm phán Việt-Pháp bắt đầu ở Fontainebleau (Pháp). Do phía Pháp không thành thật muốn đàm phán nên giải pháp hòa bình không thành. Trước khi trở về nước ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet nhân nhượng một số quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Ngày 18/10/1946, về đến cảng Cam Ranh, Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Argenlieu trao đổi về thực hiện Tạm ước 14/9.

Sau khi ra miền Bắc, quân đội Pháp liên tiếp gây hấn, vi phạm Hiệp định Sơ bộ 06/3. Ngày 20/11/1946, Valluy, Quyền Cao ủy Pháp, ra lệnh cho quân Pháp tấn công Hải Phòng. Ở Hà Nội, quân Pháp trắng trợn dùng vũ lực và đòi kiểm soát thành phố. Trước hành động chiến tranh của Pháp, dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp mong muốn chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán nhưng phía Pháp không đáp lại. Bàn tay hòa bình của Việt Nam đưa ra nhưng phía Pháp đã không đáp lại bằng thái độ hòa bình. Chính phủ Pháp đã lao sâu vào cuộc chiến tranh mà chính người Pháp gọi là chiến tranh phi nghĩa, “chiến tranh bẩn thỉu” để cuối cùng nhận lấy thất bại đau đớn.

3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh mới đi đến Ngày toàn thắng 30/4/1975, thực hiện khát vọng hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Chính giới Hoa Kỳ và các tướng lĩnh Mỹ thừa nhận hành vi chiến tranh của họ ở Việt Nam, những bài học và nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam có lời sám hối về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ và những tội ác do họ gây ra, mong muốn được góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là sự tàn phá của chất độc da cam/dioxin. Vậy mà vẫn có những tiếng nói lạc lõng, trắng trợn, coi chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa phe cộng sản và phe quốc gia. Đó là sự xuyên tạc lố bịch nhất.

Năm 1950 mở đầu sự can thiệp của Mỹ khi tàu chiến Mỹ đến cảng Sài Gòn và ngày 19/3/1950, 30 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ can thiệp. Sau thảm bại của Pháp ở Điện Biên Phủ (07/5/1954), tháng 6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên từ ngày 13/6/1949. Đó là sự chuẩn bị để Mỹ thay thế Pháp ở Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), Việt Nam tạm chia làm hai miền với Vĩ tuyến 17. Ở miền Nam, Mỹ chính thức thay chân Pháp khi quân Pháp rút hết về nước (28/4/1956). Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ chối hiệp thương với miền Bắc để tổng tuyển cử thống nhất đất nước như quy định của Hiệp định Geneva, mưu toan chia cắt lâu dài nước Việt Nam.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bất hợp pháp, giả hiệu; là phản dân, hại nước. Ngụy là giả. Vì vậy, chính quyền và quân đội do Mỹ xây dựng được gọi là ngụy quyền, ngụy quân. Họ không đại diện cho quốc gia, dân tộc dù họ tự gọi mình là “chính phủ quốc gia”, “chính nghĩa quốc gia”. Ngày 13/5/1957, tại Mỹ, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến Vĩ tuyến 17”. Lời tuyên bố đó và cả hành động thực tế đã cho thấy bản chất của một chính quyền tay sai, bán nước, công cụ chiến tranh của Mỹ, hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ suốt đến sau này. Khi chính quyền đó không đáp ứng được lợi ích của Mỹ thì Mỹ sẵn sàng gạt bỏ, “thay ngựa giữa dòng”. Cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính ngày 01/11/1963 đã chứng tỏ điều đó.

Mỹ đã lần lượt thất bại trong mô hình thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; trong “Chiến tranh đặc biệt” 1961 - 1964, “Chiến tranh cục bộ” 1965-1968 và “Việt Nam hóa chiến tranh” 1969 - 1975. Có những hành động chiến tranh vô cùng tàn bạo của Mỹ như rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống ở miền Nam (10/8/1961); ném bom miền Bắc từ ngày 05/8/1964; ồ ạt đưa quân Mỹ tham chiến ở miền Nam (08/3/1965); sử dụng lượng vũ khí lớn ở Thành cổ Quảng Trị; ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972. Cuối cùng, quân Mỹ đã thất bại, chấp nhận ký Hiệp định Paris (27/01/1973), rút hết quân Mỹ về nước. Cách mạng Việt Nam phát triển, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

4. Vào những năm 1988 - 1991, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Do chủ nghĩa xét lại, cơ hội, sự suy thoái trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và sự phản bội đã dẫn tới sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động ở Việt Nam cho rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Họ coi việc truyền bá lý luận Mác - Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Họ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ sự lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng và đa nguyên chính trị, xóa bỏ con đường xã hội chủ nghĩa.

Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Má - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bác bỏ đa nguyên, đa đảng. Đảng đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (1991) và bổ sung, phát triển năm 2011. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hội nhập quốc tế và đối ngoại ngày càng mở rộng, đời sống về mọi mặt của nhân dân không ngừng được nâng cao.

Việt Nam vẫn vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đó là công trình tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới, làm sáng tỏ mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các giải pháp và quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn Việt Nam, đóng góp vào kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vì nhân dân, vì con người. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”.

Đất nước và dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, vững chắc trên con đường đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực. Mọi sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng và sự lãnh đạo của Đảng không cản trở được khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam./.

(Nguồn: Hương Sen Việt)

Aug 26, 2022

Trả lời cho kẻ thiểu năng

          Tre Việt - Trong bài viết “Ai đang rẻ rúng Cộng sản” đăng trên trang facebook Chân Trời Mới Media, ngày 23/8 có đoạn: “… suốt gần trăm năm nay, chế độ Cộng sản đã làm mưa làm gió ở miền Bắc và gần nửa thế kỷ ở miền Nam sau nay, di họa, di chứng, di căn của nó cũng đã đầy đủ. Vậy người ta trông chờ gì và chính cái chế độ Cộng sản này trông chờ điều gì?”. Hãy cùng Tre Việt trả lời cho những kẻ thiểu năng nhưng có dã tâm xuyên tạc, chống phá chế độ.

      Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn ngay từ đầu đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối trong gần 07 thập kỷ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam mà nòng cốt là liên minh công nông đã đứng lên kháng chiến giành độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 02/9/1945) và hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, thực dân Mỹ xâm lược thắng lợi hoàn thành cuộc cách mạng  đấu tranh giải phóng dân tộc. Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã lãnh đạo thực hiện thắng lợi các cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng đã khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thu được những thành tựu to lớn. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong giai đoạn cách mạng mới, với truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, quyết tâm, bản lĩnh, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đưa cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đây chính là mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hướng tới, nhân dân Việt Nam đang trông chờ, mong đợi. Và điều trông chờ, mong đợi này là hoàn toàn có cơ sở để trở thành hiện thực, bởi nó phù hợp với quy luật vận động, phát triển các hình thái kinh tế - xã hội, là tất yếu khách quan. Như vậy, cả lịch sử và thực tiễn đều đã sáng tỏ, nhưng có những kẻ vẫn hoài nghi hỏi rằng:  “…, người ta trông chờ gì và chính cái chế độ Cộng sản này trông chờ điều gì?”. Phải chăng, chỉ có những kẻ thiểu năng trí tuệ mới không tự trả lời được.

Một thực tế hiển nhiên là, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, lại bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta phải vừa nghiên cứu, vận dụng, phát triển lý luận, vừa tổng kết thực tiễn phát triển đất nước để bổ sung, điều chỉnh chủ trương, đường lối lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước cho phù hợp, hiệu quả. Dĩ nhiên, lãnh đạo đất nước trong một số bối cảnh, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, Đảng ta khó tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm, nhất là hiện nay một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn đến vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Song, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã sớm nhận ra những khuyết điểm, sai lầm để đề ra những giải pháp khắc phục, như:tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, v.v. Nhờ đó, bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, những kẻ cho rằng đó là “di họa, di chứng, di căn” của chế độ là không xác đáng, phiến diện, với dã tâm xấu./.

Bản án đối với Phạm Đoan Trang là đúng người, đúng tội

           Tre Việt - Ngày 25/8, Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã mở phiên tòa xét xử phúc thẩm vì có đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Kết quả  , cấp phúc thẩm Tòa án nhân dân Cấp cao tại Hà Nội đã tuyên y án đối với Phạm Đoan Trang.

Lợi dụng việc này, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA), đăng bài: “Nhà báo Phạm Đoan Trang phủ nhận cáo buộc, bị tuyên y án chín năm tù”, rêu rao: “Thân chủ của họ là công dân có ý thức trách nhiệm trước xã hội và cộng đồng, một nhà báo chân chính, dấn thân muốn lên tiếng về những vấn đề về môi trường, bất công, nhân quyền, bảo vệ phẩm giá con người …  việc kết án của Toà án Nhân dân Thành phố Hà Nội trong phiên sơ thẩm là bất công và cần phải được xem xét để tuyên vô tội và trả tự do ngay tại toà... Nếu nỗ lực bào chữa của các luật sư để bào chữa cho bị cáo, sự lên tiếng của nhiều tổ chức nhân quyền quốc tế chưa làm thay đổi được quan điểm của cơ quan nhà nước và cơ quan toà án thì các ông cứ kết án cô Phạm Đoan Trang nhưng lịch sử sẽ xóa án cho cô ấy”. Đây là luận điệu nố bịch nhằm bao che, cổ súy cho hành vi phạm tội cũng như những “chiến tích” chống phá chính quyền nhân dân của Phạm Đoan Trang; đồng thời, xuyên tạc bản án do Tòa án các cấp đã tuyên phạt đối với Phạm Đoan Trang.

Theo cáo trạng, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 05/12/2018, bị cáo Phạm Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân.

Cụ thể, bị cáo Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Trước đó, tháng 12/2021, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 09 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điểm a, b, c, Khoản 1, Điều 88, Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Sau đó, bị cáo Trang có đơn kháng cáo. Tại phiên phúc thẩm, bị cáo Phạm Đoan Trang tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan.

Tuy nhiên, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, Hội đồng xét xử phúc thẩm xác định hành vi của bị cáo Phạm Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ xã hội chủ nghĩa và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng - văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định, bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình, song vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài nên cần phải xử phạt nghiêm minh. Tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Và Hội đồng xét xử phúc thẩm cho rằng Tòa sơ thẩm tuyên án phạt đối với bị cáo Phạm Đoan Trang là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật Việt Nam.

Việc kêu gọi Việt Nam phải trả tự do ngay lập tức cho Phạm Đoan Trang của các tổ chức “nhân quyền” quốc tế, như: Theo dõi Nhân quyền (HRW), Ân xá Quốc tế (AI), Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ) và Văn bút Hoa Kỳ (PEN America) không chỉ là sự vô duyên đến nực cười, mà còn hoàn toàn vô ích. Bởi ai cũng biết: thực chất đây là một sự can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam. Hành động này cần bị đấu tranh, lên án, bác bỏ./.

Aug 23, 2022

Những luận điệu xuyên tạc kệch cỡm

           Để đẩy mạnh hơn nữa cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực (PCTN, TC), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã quyết định thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (viết tắt là Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC).

Đến nay, tất cả 63 tỉnh, thành phố đã thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC. Các thế lực thù địch, cơ hội chính trị đang xuyên tạc trắng trợn chủ trương đúng đắn này. Chúng nhận định bừa rằng “việc thành lập càng nhiều ban bệ thì càng tham nhũng hơn, thêm một cấp là thêm tham nhũng…”. Thực tế đã cho thấy rõ những luận điệu trên của thế lực thù địch là hoàn toàn sai trái, kệch cỡm.

Xuyên tạc trắng trợn, bất chấp thực tế

Bất chấp hiệu quả của công tác đấu tranh PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua được nhân dân và cộng đồng quốc tế ghi nhận, các thế lực thù địch, phản động vẫn cố tình đăng tải, chia sẻ nhiều thông tin sai trái, xuyên tạc, suy diễn, quy chụp chủ trương của Đảng thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC. Đặc biệt, các tổ chức phản động như Việt Tân, Hội Anh em dân chủ; các hãng truyền thông nước ngoài và các chương trình có phát sóng bằng tiếng Việt như RFA, VOA, RFI, BBC,… tán phát nhiều bài viết, hình ảnh xuyên tạc, công kích, đả phá kịch liệt chủ trương thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC của Đảng, Nhà nước ta.

Đài Á Châu Tự Do (RFA), Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA)… đưa ra luận điệu: “Vì sao “lò” chống tham nhũng đang cháy mà hàng loạt cán bộ cao cấp vẫn không sợ?”. Những kẻ thiếu tử tế vu khống rằng, đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực tại Việt Nam thực chất là việc các phe phái tranh quyền để triệt hạ nhau dưới vở kịch chống tham nhũng. Họ hồ đồ cho rằng, “trên thế giới này, không có quốc gia nào mà người dân lại phải còng lưng đóng thuế để nuôi nhiều cơ quan chống tham nhũng đến vậy”,… Hoặc “hơn 10 năm chống tham nhũng, càng chống thì càng tham nhũng, vụ sau lớn hơn vụ trước cả về số tiền của và quan chức với chức vụ cao hơn, diễn ra ở nhiều ngành, nhiều cấp…”. Cá biệt, có đối tượng còn đưa ra luận điệu xuyên tạc, suy diễn vô căn cứ rằng, chính quyền sinh ra tham nhũng rồi lại thành lập Ban chỉ đạo PCTN, TC thì chỉ để làm khổ người dân mà thôi; không cần thiết và tốn tiền, tốn của. Từ đó chúng hô hào, kêu gọi: Muốn chống tham nhũng thì phải thay đổi chế độ, phải “đa nguyên, đa đảng”, phải thực hiện cái gọi là “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập”, v.v.

Hiệu quả rõ ràng của cuộc đấu tranh PCTN, TC

Đầu tiên có thể thấy rõ ràng rằng, công tác PCTN, TC ở Việt Nam thời gian qua có nhiều bước đột phá mạnh mẽ, mang lại hiệu quả, được cán bộ, đảng viên và nhân dân đồng tình, ủng hộ, cộng đồng quốc tế ghi nhận. Theo thông tin được công bố sau Phiên họp thứ 22 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC, thời gian qua, nhiều chủ trương, chính sách lớn về xây dựng Đảng và PCTN, TC được ban hành tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động. Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán được đẩy mạnh. Nhiều cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên vi phạm, cả cán bộ cấp cao, đương chức và nghỉ hưu bị xử lý nghiêm minh. Từ đầu nhiệm kỳ đến nay đã thi hành kỷ luật cán bộ liên quan đến tham nhũng, tiêu cực ở các cấp, trong đó có 56 cán bộ thuộc diện Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, có 10 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương Đảng.

Thời gian qua, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã chỉ đạo triển khai khá toàn diện, đồng bộ, quyết liệt nhiều giải pháp để xây dựng, hoàn thiện thể chế về PCTN, TC cả trong Đảng và Nhà nước. Từ nghiên cứu, ban hành mới đến rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện một số quy định của Đảng và các quy định của pháp luật còn bất cập hoặc chưa phù hợp với thực tiễn, để kịp thời bổ sung, điều chỉnh; từng bước hình thành khuôn khổ pháp lý vững chắc để cán bộ không thể tham nhũng, tiêu cực. Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã từng bước gắn kết đồng bộ giữa phòng, chống tham nhũng với phòng, chống tiêu cực. Nếu như ở các nước chỉ có quy định, chế tài xử lý các hành vi tham nhũng, thì tại Việt Nam hiện nay đã có cả quy định, chế tài xử lý các hành vi tiêu cực. Đó là một bước tiến vượt trội!

Từ đầu năm 2022 đến nay, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC đã ban hành gần 30 văn bản về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị và PCTN, TC. Đặc biệt, việc ban hành Quy định số 69-QĐ/TW, ngày 6/7/2022 của Bộ Chính trị về kỷ luật tổ chức đảng, đảng viên vi phạm và Hướng dẫn số 25-HD/BCĐTW, ngày 01/8/2022 của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC hướng dẫn một số nội dung về công tác phòng, chống tiêu cực đã hình thành cơ chế đấu tranh ngăn chặn, phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng, tiêu cực ngày càng đồng bộ, thống nhất, chặt chẽ.

Trong 6 tháng đầu năm 2022, Quốc hội đã thông qua 06 dự án luật; Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành 44 nghị định, 15 quyết định; các bộ, ngành ban hành 216 thông tư, thông tư liên tịch hướng dẫn thực hiện các quy định của pháp luật về quản lý kinh tế - xã hội, kịp thời thể chế hóa các đường lối, chủ trương của Đảng, góp phần phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực. Bên cạnh đó, Quốc hội, Chính phủ cũng đang chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan đến việc đấu thầu, đấu giá, quy hoạch, quản lý, sử dụng đất, tài sản công, tài chính công, chứng khoán, trái phiếu doanh nghiệp,… theo đề xuất của Ban chỉ đạo Trung ương về PCTN, TC.

Những luận điệu cho rằng chỉ có “đa nguyên, đa đảng”, “tam quyền phân lập” mới chống được tham nhũng thật nực cười. Bởi nếu chỉ đơn giản vậy, sao nhiều quốc gia được gọi là “đa nguyên, đa đảng”, “xã hội dân sự”, “tam quyền phân lập” mà tham nhũng vẫn tràn lan? Tại sao với chế độ một đảng lãnh đạo, Việt Nam vẫn đang thực hiện hiệu quả công tác PCTN, TC? Có thể thấy, thực tế kết quả công tác PCTN, TC tại Việt Nam thời gian qua đã khiến những luận điệu xuyên tạc của thế lực thù địch trở nên kệch cỡm.

Bảo đảm công tác đấu tranh PCTN, TC chặt chẽ, thông suốt 

Việc thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC là thực sự cần thiết, phù hợp với thực tiễn hiện nay. Việc làm này thể hiện rõ quyết tâm của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đẩy mạnh hơn nữa đấu tranh PCTN, TC ở mọi cấp, mọi ngành, thực hiện cam kết của Việt Nam với cộng đồng quốc tế. Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC được thành lập sẽ góp phần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ từ Trung ương đến địa phương công tác PCTN, TC, thể hiện tinh thần “trên dưới đồng lòng, dọc ngang thông suốt”, khắc phục tình trạng “trên nóng, dưới lạnh”. Ban chỉ đạo cấp tỉnh là cánh tay nối dài của Ban chỉ đạo Trung ương nhằm nâng cao sức chiến đấu của Đảng, bảo đảm cho công tác đấu tranh PCTN, TC được liền mạch, chặt chẽ, thống nhất từ Trung ương đến địa phương; kịp thời giải quyết những vướng mắc, bức xúc của nhân dân về tham nhũng, tiêu cực và đưa công tác này tiến lên một bước mới.

Vì vậy, cần phải đẩy mạnh công tác tuyên truyền sâu rộng hơn nữa trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân, kiều bào ta ở nước ngoài, cộng đồng quốc tế về những thành tựu đạt được trong PCTN, TC ở Việt Nam; về sự cần thiết phải thành lập Ban chỉ đạo cấp tỉnh về PCTN, TC, từ đó củng cố vững chắc niềm tin của nhân dân. Cùng với đó, cần tỉnh táo nhận diện và bác bỏ các luận điệu sai trái của các thế lực phản động, thù địch, chống phá cách mạng Việt Nam.

PCTN, TC là cuộc đấu tranh lâu dài, gian nan, vất vả để chống “giặc nội xâm”. Để giành thắng lợi trong cuộc đấu tranh này, không được chủ quan, không nóng vội, không được thỏa mãn và né tránh, cầm chừng mà phải thật kiên trì, đấu tranh không ngừng, không nghỉ; vừa phải kiên quyết phát hiện, xử lý tham nhũng, vừa phải kiên trì giáo dục, quản lý, ngăn ngừa, răn đe, không để xảy ra tham nhũng; đồng thời phải cảnh giác, đấu tranh với những âm mưu, hoạt động của các thế lực thù địch, phần tử xấu lợi dụng đấu tranh PCTN, TC để kích động, chia rẽ, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta./.

          (Nguồn: Hương Sen Việt)

Aug 21, 2022

Việt Nam không đàn áp tôn giáo và lợi dụng tôn giáo

          Tre Việt - Trang facebook Việt Nam Thời Báo ngày 18/8 đăng bài “Một phép thử của nhà cầm quyền Việt Nam trên vấn đề trấn áp tôn giáo”. Bài viết có đoạn: “Từ khi cộng sản nắm quyền cai trị họ đã không ngừng tìm cách đàn áp, tiêu diệt các tôn giáo bằng mọi thủ đoạn”. Đây là những lời lẽ vu cáo về tình hình tôn giáo ở Việt Nam, cần lên án, bác bỏ.

Chúng ta đều biết:, Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo. Trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, sau khi giành được độc lập, trong phiên họp Chính phủ lâm thời đầu tiên (ngày 03/9/1945), một trong những vấn đề cấp bách được Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu ra là thực hiện tự do tín ngưỡng, đoàn kết lương giáo. Trong Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến (ngày 19/12/1946), Chủ tịch Hồ Chí Minh tiếp tục kêu gọi toàn thể dân tộc Việt Nam: Bất kỳ đàn ông, đàn bà, bất kỳ người già, người trẻ không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc. Hễ là người Việt Nam thì phải đứng lên đánh thực dân Pháp để cứu Tổ quốc,…”. Khi đất nước thống nhất, bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta đã quan tâm, đề ra các chính sách, tạo điều kiện thuận lợi để đồng bào theo tôn giáo được hoạt động, sinh hoạt, phát triển bình đẳng như mọi người dân khác theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Thống kê đến nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận, cấp phép hoạt động với khoảng hơn 26,5 triệu tín đồ, hàng trăm nghìn chức sắc, chức việc tôn giáo. Trên thực tế, ở Việt Nam các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật, hoạt động đúng theo giáo lý, tôn chỉ, mục đích, làm thỏa mãn nhu cầu tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân, các tín đồ. Đời sống sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo trên cả nước ngày càng phát triển. Phần lớn các tín đồ, chức sắc, chức việc tôn giáo luônchấp hành nghiêm đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, “sống tốt đời, đẹp đạo”, “phúc âm trong lòng dân tộc”, đóng góp tích cực vào việc xây dựng quê hương, đất nước. Chính vì thế, bài viết nêu rằng: “Từ khi cộng sản nắm quyền cai trị họ đã không ngừng tìm cách đàn áp, tiêu diệt các tôn giáo” là không có cơ sở, cố tình xuyên tạc, vu cáo tình hình tôn giáo ở Việt Nam với dã tâm xấu.

Thời gian qua, có một số đối tượng đã lợi dụng tự do tôn giáo, có những hành động, việc làm vi phạm pháp luật; tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ; chống đối chính quyền. Cá biệt có linh mục còn xúi giục, kích động giáo dân cản trở việc thực hiện các dự án phát triển kinh tế - xã hội của địa phương, chống đối chính quyền, ngăn cản con em giáo dân đến trường, không cho giáo dân treo cờ Tổ quốc, v.v. Những hành động, việc làm đó đã đi ngược lại giáo lý tôn giáo, tôn chỉ, mục đích hoạt động, xâm phạm lợi ích của quốc gia, dân tộc, vi phạm pháp luật. Chính vì thế, họ không xứng đáng với vị trí được giao đảm nhiệm và phải bị thay thế bằng những linh mục có đủ tâm, tầm, trí để quản lý, phụ trách các giáo xứ, giáo phận là điều đương nhiên. Thậm chí, họ còn phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về những hành động sai trái của mình. Chứ hoàn toàn không có chuyện tôn giáo nào thân chính phủ hơn tôn giáo nào và càng không có chuyện lợi dụng tôn giáo này để chia rẽ, đàn áp tôn giáo kia như bài viết cho rằng: “… đã sử dụng một số chức sắc trong giáo hội và tổ chức công giáo thân chính phủ để đàn áp các chức sắc, tu sĩ, giáo hội công giáo,…”. Mà thực chất, đây là âm mưu kích động, chia rẽ đoàn kết giữa các tôn giáo, cần phải vạch trần trước công luận./.