Sep 21, 2022

Trò “té nước theo mưa” của Nguyễn Đình Thắng

           Tre Việt – Ai cũng biết Nguyễn Đình Thắng đối tượng cầm đầu cái gọi là tổ chức “Ủy ban cứu người vượt biển” – một tổ chức không từ thủ đoạn nào để chống phá Việt Nam. Gần đây, lợi dụng Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ công bố bản báo cáo của về tình hình mua bán người trên thế giới năm 2022; trong đó, phần nói về Việt Nam, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ cho rằng: Việt Nam dung túng, bao che cho tội phạm mua bán người và xếp Việt Nam vào nhóm ba, gồm những quốc gia không đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn tối thiểu để xóa bỏ nạn buôn người,… Nguyễn Đình Thắng và tổ chức của Y giở trò “té nước theo mưa” để xuyên tạc tình hình và phủ nhận những nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người khi trả lời phỏng vấn một số trang mạng ở hải ngoại.

Thật nực cười, bởi Nguyễn Đình Thắng, không ở Việt Nam, nhưng lại thể hiện mình hiểu biết thông qua “bàm phím” khi chỉ dựa theo những thông tin chưa được kiểm chứng, rồi Y hồ đồ quy kết rằng: Việt Nam là nước buôn người. Ấy vậy mà, theo đuôi Nguyễn Đình Thắng, một số tổ chức, cá nhân thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng hả hê tung hô và tự cho rằng những đánh giá của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ là “thành tích” từ những hoạt động tuyên truyền của chúng.

Cần khẳng định rõ rằng hành động của Nguyễn Đình Thắng không hề vì mục đích đấu tranh ngăn chặn tình trạng mua bán người ở Việt Nam và thế giới như chúng từng rêu rao. Thực chất hành động của Nguyễn Đình Thắng và đồng bọn là lợi dụng những thông tin sai lệch của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ về tình hình mua bán người để bóp méo, xuyên tạc chống phá Việt Nam. Thông qua đó “đánh bóng” tên tuổi nhằm thu hút sự chú ý của các tổ chức quốc tế, tìm kiếm nguồn tài trợ nhưng không phục vụ cho hoạt động thiện nguyện như chúng từng rêu rao mà dùng cho chi tiêu cá nhân, v.v. Và, chính sự nhập nhèm, không minh bạch của Nguyễn Đình Thắng mà ngay trong chính nội bộ của cái gọi là tổ chức “Ủy ban cứu người vượt biển” đã xảy ra những vụ tố cáo, kiện tụng lẫn nhau.

Trên thực tế, nhận xét của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ trong Bản báo cáo chứa đựng nhiều thông tin chủ quan, phiến diện một chiều, không xác thực, không phản ánh đầy đủ, chính xác về tình hình cũng như quyết tâm và nỗ lực của Việt Nam trong phòng, chống mua bán người. Những năm qua những nỗ lực, cố gắng và kết quả mà Việt Nam đạt được trong đấu tranh phòng, chống tội phạm mua bán người là toàn diện, rõ nét, không ai có thể phủ nhận và xuyên tạc. Việt Nam kiên quyết lên án, phản bác mạnh mẽ mọi hành động cản trở cuộc đấu tranh phòng, chống mua bán người; đồng thời, kịch liệt phản đối, bác bỏ mọi luận điệu tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc, bịa đặt nhằm phủ nhận những thành tựu bảo vệ quyền con người nói chung và công tác phòng, chống tệ nạn mua bán người nói riêng của Việt Nam.

          Không ai lạ gì: từ những thông tin sai lệch trong bản báo cáo của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, những kẻ cơ hội chính trị, phản động ra sức tung tin xuyên tạc, thêu dệt, nói xấu, phụ họa nhằm bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế, phủ nhận những thành quả trong sự nghiệp đổi mới của Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam; nhất là, trong bảo vệ quyền con người, đường lối phát triển kinh tế – xã hội, những chủ trương, chính sách nhằm góp phần bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, giữ gìn trật tự an toàn và ổn định xã hội của Việt Nam,... nhằm phá hoại môi trường đầu tư ở Việt Nam. Chúng suy diễn cho rằng môi trường đầu tư của Việt Nam là không an toàn, với việc bị xếp vào nhóm ba Việt Nam sẽ đối mặt với những chế tài trừng phạt, các công ty quốc tế sẽ ngần ngại làm ăn với Việt Nam, hàng hóa Việt Nam sẽ bị người tiêu dùng tẩy chay, v.v.

          Đây là âm mưu, thủ đoạn hết sức thâm độc của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị “trở cờ” trong chống phá cách mạng Việt Nam. Bởi vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, vạch mặt và kiên quyết đấu tranh bác bỏ trò “té nước theo mưa” của Nguyễn Đình Thắng nói riêng và các thế lực thù địch, phản động nói chung./.

Sep 18, 2022

Luận điệu ấu trĩ, phản động của Chí Quang

           Tre Việt - Lợi dụng vấn đề tự do, dân chủ ở Việt Nam, Chí Quang đã đăng trên trang Doithoaionline.com bài viết “Bản hùng ca trỗi dậy”, với những luận điệu sai trái, thù địch, bịa đặt, xuyên tạc sự thật về quyền tự do, dân chủ, với mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa. Y đã đưa ra nhận định là: “Từ sau 1945, khi Việt Minh (tiền thân của chế độ cộng sản Việt Nam) cướp được chính quyền cho tới nay, người dân Việt Nam đã bị tước bỏ quyền bầu cử tự nhiên, tự do và tự nguyện để chọn lựa bộ máy lãnh đạo,…”.

Ảnh: nhanvanviet.com

Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu hết sức ấu trĩ, sặc mùi phản động của Chí Quang (!)

Bởi, bầu cử là cơ chế phổ biến hiện được các nền dân chủ áp dụng, là cơ sở pháp lý cho việc hình thành các cơ quan đại diện cho quyền lực nhà nước và là cơ sở bảo đảm cho mọi công dân thực hiện quyền làm chủ của mình đối với đất nước. Trong quá trình lịch sử, các cuộc bầu cử dân chủ luôn là hoạt động tiêu biểu, quan trọng nhất trong các hoạt động dân chủ trực tiếp của người dân. Thông qua các cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền công dân, quyền làm chủ của dân được thể hiện đúng với bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Tham gia bầu cử chính là để cử tri phát huy quyền và nghĩa vụ của công dân trong việc lựa chọn, bầu ra những người tiêu biểu, xứng đáng cho ý chí, nguyện vọng, đại diện cho quyền làm chủ của mình trong cơ quan quyền lực nhà nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

          Tại Điều 27, Hiến pháp Việt Nam năm 2013 nêu rõ: “Công dân đủ mười tám tuổi trở lên có quyền bầu cử và đủ hai mươi mốt tuổi trở lên có quyền ứng cử vào Quốc hội, Hội đồng Nhân dân. Việc thực hiện các quyền này do luật định”. Như vậy, quyền bầu cử là quyền cơ bản của công dân được Hiến pháp, pháp luật quy định nhằm bảo đảm cho mọi công dân có đủ điều kiện được thực hiện việc lựa chọn đại biểu vào cơ quan quyền lực Nhà nước. Quyền của công dân không tách rời nghĩa vụ của công dân. Không ai có quyền cản trở việc công dân thực hiện những quyền này. Tuy nhiên, không phải mọi công dân đủ 18 tuổi trở lên đều có quyền bầu cử mà có những trường hợp công dân đủ 18 tuổi trở lên không được bầu cử.

Theo Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân năm 2015, có 4 trường hợp không được bầu cử như sau: (1). Người đang bị tước quyền bầu cử theo bản án, quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật. (2). Người bị kết án tử hình đang trong thời gian chờ thi hành án. (3). Người đang chấp hành hình phạt tù mà không được hưởng án treo. (4). Người mất năng lực hành vi dân sự. Trường hợp người đang bị tạm giam, tạm giữ, người đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc có quyền bầu đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh nơi người đó đang bị tạm giam, tạm giữ, đang chấp hành biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Đối với những người tham gia ứng cử đại biểu Quốc hội, đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp phải đáp ứng được những tiêu chuẩn theo quy định. Các tiêu chuẩn cơ bản đối với ứng viên đó là: Trung thành với Tổ quốc, nhân dân và Hiến pháp, phấn đấu thực hiện công cuộc đổi mới, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; có phẩm chất đạo đức tốt, cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, gương mẫu chấp hành pháp luật; có bản lĩnh, kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí, mọi biểu hiện quan liêu, hách dịch, cửa quyền và các hành vi vi phạm pháp luật khác; có trình độ văn hóa, chuyên môn, có đủ năng lực, sức khỏe, kinh nghiệm công tác và uy tín để thực hiện nhiệm vụ đại biểu Quốc hội; liên hệ chặt chẽ với nhân dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân, được nhân dân tín nhiệm, v.v.

          Thực tế cho thấy, 76 năm qua, với 14 khóa bầu cử đại biểu Quốc hội, cử tri cả nước luôn thực hiện tốt quyền và nghĩa vụ của mình, lựa chọn được những đại biểu ưu tú tham gia cơ quan quyền lực nhà nước để bàn bạc và quyết định những vấn đề quan trọng, đưa đất nước ngày một phát triển. Và, theo số liệu thống kê cả nước đã có 99,57% cử tri đi bầu cử Quốc hội khóa XV và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 với gần 70 triệu lá phiếu để bầu ra 500 đại biểu Quốc hội; gần 4.000 đại biểu Hội đồng nhân dân cấp tỉnh và thành phố; hơn hai vạn đại biểu Hội đồng nhân dân cấp huyện; và hơn 24 vạn đại biểu Hội đồng nhân dân cấp xã, phường.

          Sự thực hiển nhiên trên bác bỏ những vấn đề nêu ra trong bài viết của Chí Quang. Đồng thời, chỉ rõ sự ấu trĩ và dã tâm thâm độc của Y lợi dụng “tự do”, “dân chủ” để xuyên tạc, hòng gây hoang mang, dao động về tư tưởng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; cần đấu tranh bác bỏ./.

 

Sep 17, 2022

Trò “chọc gậy bánh xe” của các Khôi nguyên

          Tre Việt - Kênh Việt ngữ Đài RFA ngày 14/9 đăng bài “Các khôi nguyên của Giải Goldman kiến nghị Liên hợp quốc không nhận Việt Nam vào Hội đồng Nhân quyền”. Theo bài viết, 52 khôi nguyên (người được nhận giải thưởng) của Giải Môi trường Goldman đến từ 42 quốc gia hôm 14/9 đã gửi thư đến Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thúc giục tổ chức này từ chối Việt Nam làm thành viên của Hội đồng trong nhiệm kỳ 2023 - 2025. Trong thư, họ lên án việc bỏ tù các nhà hoạt động môi trường ở Việt Nam trong năm nay. 

Trước hết, cần khẳng định rằng, Việt Nam kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh các hành vi vi phạm pháp luật theo đúng quy định của pháp luật, bảo đảm sự thượng tôn pháp luật. Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật.  Và, Việt Nam không hề bỏ tù bất kỳ công dân nào liên quan đến môi trường. Vì vậy, ý kiến suy diễn cho rằng Ngụy Thị Khanh, Mai Phan Lợi,… bị xử lý hình sự vì những hoạt động và ý kiến liên quan đến biến đổi khí hậu là không có cơ sở, không đúng với bản chất của vụ việc. Thực chất, những người này bị xử lý về hành vi trốn thuế theo Điều 200, Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra, xét xử diễn ra công khai đúng người, đúng tội, các bị cáo được bảo đảm đầy đủ các quyền theo quy định của pháp luật.

          Trên thực tế, Đảng, Nhà nước, Chính phủ Việt Nam luôn nỗ lực hoàn thiện hệ thống pháp luật, chủ trương, chính sách về nhân quyền và bảo đảm việc thực thi tốt nhất. Nhân dân Việt Nam được thực hiện đầy đủ các quyền công dân, tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do tín ngưỡng, tôn giáo, được quan tâm phát triển toàn diện. Điều này đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, đánh giá với tín nhiệm cao. Riêng trong lĩnh vực môi trường, Việt Nam luôn cam kết nghiêm túc và mạnh mẽ trong bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, phát triển xanh và bền vững.

Việc Việt Nam ứng cử vào Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc thể hiện quyền ứng cử của một nước thành viên Liên hợp quốc, cho thấy sự cam kết, quyết tâm thực hiện tốt hơn nữa quyền con người, bảo đảm công bằng, bình đẳng, không phân biệt đối xử. Khi bỏ phiếu, các nước thành viên Liên hợp quốc sẽ cân nhắc trên cơ sở những đóng góp của từng ứng cử viên trong việc thúc đẩy, bảo vệ nhân quyền của từng quốc gia. Dù kết quả ra sao, nhưng những nỗ lực, cố gắng và thành tựu trong bảo đảm quyền con người của Việt Nam là không thể phủ nhận.

Sự thật là vậy. Nhưng những người được cho là Khôi nguyên của Giải Goldman đến từ nhiều nước trên thế giới, hầu hết chưa một lần đặt chân đến Việt Nam, tận mắt chứng kiến những đổi thay, phát triển của con người, đất nước Việt Nam. Họ chỉ tiếp nhận thông tin phiến diện, một chiều, không chính xác đã hồ đồ đưa ra phán xét, đánh giá thiếu khách quan. Hành động của họ chính là sự a dua, hà hơi, tiếp sức cho những kẻ “cùng hội, cùng thuyền” với dụng ý xấu, nhằm cản trở quá trình hội nhập, suy giảm uy tín, hình ảnh về đất nước, con người Việt Nam trên trường quốc tế. Vì thế, những Khôi nguyên “chọc gậy bánh xe” này cần bị lên án, phê phán./.

Sep 16, 2022

Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm quyền tự do hội họp, lập hội

Quyền tự do hội họp, lập hội ở Việt Nam
luôn được tôn trọng và  bảo đảm (Ảnh: huongsenviet.com)
         Tre Việt - Nhằm thực hiện “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam, thời gian qua các thế lực thù địch, phản động ra sức xuyên tạc, kích động, rằng: ở Việt Nam quyền tự do hội họp, lập hội không được tôn trọng và bảo đảm, còn nhiều người bị phạt tù do thực hiện quyền tự do hội họp, lập hội, v.v. Theo họ thì quyền tự do hội họp, lập hội là thứ “tự do tuyệt đối” không trong khuôn khổ pháp luật. Đây là một sự suy diễn vô lối, một đòi hỏi vô lý và rất nguy hiểm mà chúng ta cần cảnh giác đấu tranh bác bỏ.

Trong Tuyên ngôn Nhân quyền năm 1948, Điều 20 khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do hội họp và lập hội một cách hòa bình”. Tại Công ước châu Âu về nhân quyền năm 1950 (Điều 11) và Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 (Điều 21), quyền tự do hội họp và lập hội tiếp tục được khẳng định. Tuy nhiên, đây không phải là quyền tự do tuyệt đối, tự do vô hạn độ: Điều 21, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 khẳng định, quyền tự do hội họp và lập hội được giới hạn khi cần thiết vì lý do an ninh quốc gia, trật tự xã hội, bảo vệ sức khỏe cộng đồng, bảo vệ quyền và tự do của người khác và Điều 20 của Công ước này còn nêu rõ không ai được phép lợi dụng quyền tự do hội họp, tự do lập hội để tuyên truyền cho chiến tranh, hằn thù dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, kích động phân biệt đối xử, tạo thù địch, bạo lực. Theo đó, pháp luật các quốc gia đều khẳng định, tự do hội họp là quyền có thể bị giới hạn trong những trường hợp nhất định nhằm bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nhà nước, của công dân.

Ở Việt Nam, Điều 25, Hiến pháp năm 2013 quy định công dân có quyền tự do hội họp, lập hội, v.v. Ngoài ra, quyền tự do hội họp, lập hội của người dân còn được quy định cụ thể tại Bộ Luật Hình sự, Bộ Luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật khác. Cùng với việc hiến định trong Hiến pháp, Chính phủ Việt Nam cũng ban hành một số Chỉ thị liên quan đến hiệp hội, như: Chỉ thị 01-CT/HĐBT năm 1989 về quản lý tổ chức và hoạt động của các Hội quần chúng; Chỉ thị 202-CT/HĐBT năm 1990 về chấp hành các quy định của Nhà nước về lập hội. Các văn bản luật quy định về quyền tự do hội họp, lập hội của người dân ở Việt Nam đều tương thích với luật quốc tế và tình hình cụ thể của đất nước.

Hiện nay, Việt Nam đã có hàng nghìn hội, đại diện cho ý chí, lợi ích, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân, trong đó có các tổ chức và hiệp hội của thanh niên, phụ nữ, công nhân, nông dân, người cao tuổi, người khuyết tật; các hội từ thiện, các tổ chức khoa học, nghề nghiệp, các tổ chức tôn giáo, các tổ chức phi chính phủ đã đăng ký hoạt động trên phạm vi toàn quốc với hàng chục triệu hội viên. Riêng Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là tổ chức đại diện và hiệp thương ý kiến của tất cả các đoàn thể và tổ chức nhân dân trong lĩnh vực chính trị, xã hội và các tổ chức nghề nghiệp, tôn giáo, dân tộc với đại diện của tất cả 54 dân tộc anh em. Cùng với đó, ở Việt Nam còn có hàng nghìn tổ chức công đoàn được tổ chức từ trung ương đến cơ sở địa phương. Các tổ chức này đã tham gia tích cực vào việc xây dựng chính sách lao động, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động thông qua các văn bản hướng dẫn và hợp đồng lao động, đồng thời đóng vai trò đại diện cho người lao động trong thương lượng, ký kết các thỏa ước lao động tập thể, v.v. Bên cạnh các tổ chức của thanh niên, phụ nữ, nông dân, cựu chiến binh,…ở Việt Nam còn có hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ,… hoạt động trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội, trong đó chủ yếu là từ thiện và cứu trợ nhân đạo.

Các tổ chức và hiệp hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, độc lập và tuân thủ pháp luật. Chính phủ chỉ trợ giúp tài chính nếu các chương trình, dự án và hoạt động phù hợp với chính sách phát triển kinh tế – xã hội và lợi ích chung của cộng đồng. Các cơ sở của tổ chức xã hội và cơ sở của tổ chức xã hội nghề nghiệp ở Việt Nam cũng tăng nhanh. Sự phát triển mạnh của các loại cơ sở này chứng tỏ nhu cầu thành lập hiệp hội của người dân tăng nhanh, quyền tự do thành lập và tham gia các tổ chức, hiệp hội của người dân được tôn trọng và bảo đảm.

Như vậy, trên cơ sở luật pháp quốc tế, luật pháp Việt Nam công nhận quyền tự do hội họp, tự do lập hội của người dân nhưng đó không phải là “tự do vô hạn”, mà phải trong khuôn khổ pháp luật, vì lợi ích của quốc gia, dân tộc và lợi ích của nhân dân. Và, những luận điệu tuyên truyền, gieo rắc tư tưởng tự do hội họp, tự do lập hội vô hạn độ thực chất chỉ là trò xuyên tạc, bịp bợm nhằm thực hiện mưu đồ đen tối của các thế lực thù địch./.   

Sep 12, 2022

Sự xuyên tạc lố bịch của RFA

          Tre Việt - Ngày 06/9/2022, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư Võ Văn Thưởng ký ban hành Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18/8/2022 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử; Quy định này thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 của Bộ Chính trị. Quy định gồm: 06 chương, 34 điều, quy định mục đích, yêu cầu, nguyên tắc, nội dung, trách nhiệm, thẩm quyền trong quản lý cán bộ và nguyên tắc, trách nhiệm, thẩm quyền, tiêu chuẩn, điều kiện, thủ tục, quy trình bổ nhiệm, bổ nhiệm lại, giới thiệu ứng cử; tái cử, chỉ định, điều động và biệt phái cán bộ. Quy định áp dụng đối với các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị và cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị.

Thế nhưng, trang facebook Đài Á Châu Tự Do (RFA) lại có nhiều bài viết, bình luận xuyên tạc hết sức lố bịch Quy định mới của Bộ Chính trị về phân cấp quản lý, bổ nhiệm cán bộ. Họ cho rằng: “So với Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 (khóa XII) về xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp thì Quy định 80 vừa rối rắm, vừa tự mâu thuẫn, thậm chí gây ấn tượng nó nhằm hướng dẫn người ta chạy quyền, chạy chức cho đúng chỗ”. Từ đó, họ quy chụp, Quy định nhằm tăng cường “tính tập quyền” cho các Ủy viên Bộ Chính trị, nhằm xuyên tạc công tác cán bộ của Đảng, rồi đưa ra các võ đoán về nhân sự cán bộ của Đảng.

Cần khẳng định: Quy định số 80 nhằm tiếp tục cụ thể hóa các chủ trương, nghị quyết của Đảng; bảo đảm sự đồng bộ, thống nhất, tổng thể, liên thông trong công tác cán bộ của hệ thống chính trị; đánh giá cán bộ khách quan, công tâm; lựa chọn và bố trí đúng cán bộ đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu quả công tác quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể quyết định. Đồng thời, phát huy đầy đủ trách nhiệm cá nhân, trước hết là người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ

Về phân cấp quản lý cán bộ, Quy định nêu rõ nội dung quản lý, trách nhiệm và quyết định đối với cán bộ: Ban Chấp hành Trung ương Đảng thực hiện định hướng và quyết định những chủ trương, vấn đề hệ trọng về công tác cán bộ và cán bộ theo Quy chế làm việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng. Bộ Chính trị, Ban Bí thư quản lý, trực tiếp quyết định một số nội dung trong công tác cán bộ; phân công, phân cấp cho các cấp ủy, tổ chức đảng quyết định một số nội dung đối với các chức danh lãnh đạo thuộc diện Trung ương quản lý và các chức danh cán bộ khác; ủy quyền cho Chủ tịch nước, Thủ tướng Chính phủ, Chủ tịch Quốc hội, Thường trực Ban Bí thư quyết định một số khâu, nội dung trong công tác cán bộ. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý cán bộ công tác, sinh hoạt đảng ở địa phương, cơ quan, đơn vị, trong đó có cán bộ thuộc diện cấp trên quản lý và chịu trách nhiệm trước cấp có thẩm quyền về phạm vi được phân cấp, ủy quyền trong quản lý cán bộ, v.v

Về việc bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử, Quy định nêu rõ: cấp ủy, tổ chức đảng và tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị xem xét, quyết định bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử theo thẩm quyền; bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, nguyên tắc tập trung dân chủ, khách quan, công khai, minh bạch, phát huy đầy đủ quyền hạn, trách nhiệm của từng thành viên và người đứng đầu. Căn cứ tiêu chuẩn, điều kiện, phẩm chất, đạo đức, năng lực, sở trường và uy tín của cán bộ; đồng thời, xuất phát từ yêu cầu thực hiện nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị. Bảo đảm sự ổn định, kế thừa và phát triển liên tục của đội ngũ cán bộ; nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Không bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử, điều động, phong, thăng quân hàm đối với cán bộ, đảng viên đang bị xem xét, xử lý kỷ luật. Cán bộ sau khi được bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử vì một trong các lý do: sức khỏe không bảo đảm; uy tín giảm sút; không hoàn thành nhiệm vụ; vi phạm kỷ luật đảng, pháp luật của Nhà nước,... thì cấp có thẩm quyền quyết định việc thay thế, cho thôi giữ chức, miễn nhiệm, từ chức, cách chức, không chờ hết thời hạn giữ chức vụ, hết nhiệm kỳ công tác.

Về quy trình bổ nhiệm và giới thiệu cán bộ ứng cử, đối với nguồn nhân sự tại chỗ, quy trình gồm 05 bước; đối với nhân sự điều động, bổ nhiệm, giới thiệu ứng cử từ nguồn cán bộ ở nơi khác, quy trình gồm 03 bước. Đối với tổ chức có đặc thù, Ban Tổ chức Trung ương phối hợp với cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị liên quan hướng dẫn bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ và liên thông.

Đối với việc điều động, biệt phái cán bộ, phải căn cứ vào yêu cầu công tác, phẩm chất, năng lực, sở trường, uy tín và khả năng đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của cán bộ nhằm phát huy, sử dụng hiệu quả đội ngũ cán bộ; góp phần khắc phục tình trạng khép kín, cục bộ trong từng địa phương, cơ quan, đơn vị; bảo đảm sự ổn định và phát triển của đội ngũ cán bộ

So với Quy định số 105, Quy định số 80 đã bổ sung nhiều điểm mới, trong đó quy định rõ hơn về tiêu chuẩn, điều kiện bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử chức vụ cao hơn. Cụ thể, Quy định số 105 trước đây chỉ quy định chung là cán bộ bị kỷ luật từ khiển trách trở lên thì không được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn trong thời gian ít nhất 01 năm kể từ khi có quyết định kỷ luật. Đảng viên bị kỷ luật cách chức trong vòng 01 năm kể từ ngày có quyết định, không được bầu vào cấp ủy, không chỉ định, bổ nhiệm vào các chức vụ tương đương và cao hơn. Lần này, Quy định số 80 quy định rõ hơn thời gian không được quy hoạch, bổ nhiệm vào các chức vụ cao hơn căn cứ theo các mức độ kỷ luật. Cụ thể, 12 tháng đối với hình thức kỷ luật khiển trách; 30 tháng đối với hình thức kỷ luật cảnh cáo; 60 tháng đối với hình thức kỷ luật cách chức, v.v.

Như vậy, việc ban hành Quy định số 80-QĐ/TW, ngày 18/8/2022 để thay thế cho Quy định số 105-QĐ/TW, ngày 19/12/2017 về phân cấp quản lý cán bộ và bổ nhiệm, giới thiệu cán bộ ứng cử là việc làm cần thiết, nhằm góp phần xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, việc làm đó là công việc nội bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, tại sao RFA lại phải xuyên tạc. Những luận điệu xuyên tạc, phá hoại lố bịch đó cần bị lên án và bác bỏ./. 

Vạch trần chiêu trò xét lại lịch sử

          Tre Việt - Trong bài viết “Sai từ Đại hội Tua” đăng trên trang facebook Chân Trời Mới Media, ngày 08/9 có đoạn “… sai từ khi Hồ Chí Minh đưa tay gia nhập Đệ tam Quốc tế Cộng sản tại Đại hội Tours, nói rõ hơn là sai từ khi Hồ Chí Minh trở thành người cộng sản chuyên chính theo đường lối của Lênin”. Đây là chiêu trò xét lại lịch sử nhằm xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh cần vạch trần, lên án, bác bỏ.

Lịch sử trước những năm 1930 của thế kỷ 20 cho thấy: Cách mạng Việt Nam rơi vào khủng hoảng đường lối trầm trọng. Nhiều cuộc khởi nghĩa, phong trào yêu nước nổ ra chống lại ách đô hộ, bóc lột của thực dân Pháp và bọn phong kiến nhưng đều bị thất bại. Trong thời gian này, Nguyễn Ái Quốc - Người con ưu tú của dân tộc đã ra đi tìm đường cứu nước. Để tìm ra con đường cứu nước, cứu dân, giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã bôn ba qua nhiều nước, tham gia hoạt động trong nhiều tổ chức quốc tế, trong đó có Đảng Xã hội Pháp. Tại đây, Nguyễn Ái Quốc đã đọc bản Luận Cương của Lênin và tìm ra con đường duy nhất đúng đắn để giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp là cách mạng vô sản. Và Người đã đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, gia nhập Quốc tế Cộng sản, trở thành người cộng sản đầu tiên của Việt Nam.

Với việc xác định, tìm ra con đường đúng đắn để giải phóng dân tộc, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo, không ngừng truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam để lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi tới thắng lợi, giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dành trọn vẹn cả cuộc đời mình cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, cứu nước, cứu dân, trở thành lãnh tụ thiên tài, danh nhân văn hóa thế giới, được nhân dân cả nước và bạn bè quốc tế mến phục. Khi Người đi xa, trong Điếu văn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Lao Động Việt Nam (năm 1969) đã khẳng định: “Dân tộc ta, nhân dân ta, non sông đất nước ta đã sinh ra Hồ Chủ tịch, người anh hùng dân tộc vĩ đại, và chính Người đã làm rạng rỡ non sông, đất nước ta”, “Người là tượng trưng cho tinh hoa của dân tộc Việt Nam, cho ý chí kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam suốt bốn nghìn năm lịch sử,…”

Những năm qua, với nền tảng tư tưởng là chủ nghĩa Mác - Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta đã lãnh đạo đất nước thực hiện công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thu được những thành tựu vô cùng to lớn trên tất cả các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại, quốc phòng, an ninh; nhân dân ta có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc; đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế, uy tín quốc tế như ngày nay.

Sự thật đã rõ ràng, vậy nhưng có những kẻ bất mãn với chế độ, phần tử cơ hội chính trị vẫn luôn tìm mọi cách để xuyên tạc lịch sử, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh. Nhưng, chúng càng ra sức xuyên tạc, hạ bệ thần tượng Hồ Chí Minh thì ngược lại tư tưởng, đạo đức, phong cách của Người càng tỏa sáng và bất diệt./.

Sep 3, 2022

Phản bác trò “lật sử”

             Tre Việt - Vừa qua, một số tổ chức, cá nhân tìm mọi cách “lật lại lịch sử” dân tộc nhằm gây hoài nghi trong đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân. Mới đây, Việt Tân phát tán tài liệu phản động dưới dạng cuốn sách “Đôi dòng sử Việt” mang nhiều nội dung xuyên tạc, sai lệch, vu cáo cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ của Việt Nam, nói xấu Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Các thế lực xấu, chống phá luôn tìm mọi cách phủ nhận thành tựu của cách mạng Việt Nam và vai trò lãnh đạo của Đảng ta; chúng cho rằng: Cách mạng Tháng Tám năm 1945 diễn ra trong bối cảnh cánh cửa chính trị ở Việt Nam chỉ “khép hờ” vì xuất hiện “khoảng trống quyền lực”, do đó Cách mạng Tháng Tám chỉ là “quả ngọt trời cho” và sự “ăn may” chứ không gắn với vai trò lãnh đạo của Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Thậm chí chúng còn trắng trợn xuyên tạc rằng nếu không có ngày 02/9/1945 và 09 năm kháng chiến thì dân tộc Việt Nam đã: tránh được cuộc chiến tranh đẫm máu? Từ đó, chúng tìm mọi cách tách rời mối quan hệ Đảng với dân, dân với Đảng, đòi đa nguyên, đa đảng, v.v.

Ngày 18/9/1945, nhân dân Thành phố Hà Nội đánh chiếm
cơ quan đầu não của chính quyền tay sai Pháp
 ở Bắc Bộ (Ảnh: Tư liệu TTXVN)

           Cần khẳng định rõ: đây là chiêu trò “cũ rích” mà hằng năm, cứ đến dịp nhân dân cả nước long trọng tổ chức kỷ niệm Ngày Tết Độc lập, thì các thế  lực thù địch phản động, cơ hội chính trị lại “ông ổng” ca bài ca cũ, hòng thực hiện mục đích xấu.

          Lịch sử minh chứng: ngày 02/9/1945, tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc Tuyên ngôn độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa: “Chúng tôi, Chính phủ Lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng: “ Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do độc lập, và thật sự đã thành một nước tự do độc lập”. Tuyên ngôn độc lập cũng thể hiện lời thề mạnh mẽ, kiên quyết của cả dân tộc trong ngày lễ độc lập: “Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Và, để có được tự do, độc lập ấy, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định trong bản Tuyên ngôn độc lập: “Một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát – xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập”. Có được thành quả đó là sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh – Người đã tìm ra con đường cứu nước đúng đắn cho cách mạng Việt Nam, sáng lập và rèn luyện Đảng cộng sản Việt Nam - nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó còn là sự nhận định đánh giá chính xác tình hình, lựa chọn thời cơ thuận lợi, xây dựng lực lượng, huy động được sức mạnh của toàn dân tộc của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh để lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng. Tháng Tám năm 1945, khi thời cơ đến, Hồ Chí Minh kiên quyết chỉ đạo và kêu gọi toàn Đảng, toàn dân ta: “Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập”. Sự thực đó không phải là “quả ngọt trời cho” và sự “ăn may” như một số kẻ cố tình nhắm mắt, bịt tai nói bừa.


Khi vừa mới có độc lập tự do, với sự ra đời của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa non trẻ, chúng ta đã ngay lập tức cùng lúc phải chống chọi với: giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm. Cả dân tộc lại phải gồng mình chống giặc, đặc biệt là giặc ngoại xâm để giữ vững độc lập. Với đường lối: kháng chiến toàn dân, toàn diện, trường kỳ, tự lực cánh sinh, tranh thủ sự giúp đỡ quốc tế và tinh thần: “Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ… Ta phải hy sinh đến giọt máu cuối cùng, để giữ gìn đất nước” (Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946 của Chủ tịch Hồ Chí Minh). Từ 1946 đến 1954, đường lối kháng chiến trên đã được toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta thực hiện đúng đắn, sáng tạo. Trong kháng chiến toàn dân, chúng ta đã triển khai sức mạnh của cả dân tộc “bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất kỳ người già, người trẻ…” và “Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc”; cả nước đồng lòng, chung sức kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Trên lĩnh vực quân sự, chúng ta đã xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, triển khai vũ trang toàn dân, bảo toàn lực lượng, vừa đánh vừa phát triển, v.v. Nhờ vậy, kháng chiến thắng lợi, lực lượng vũ trang của ta cũng trưởng thành vững mạnh với nhiều đơn vị chủ lực, bộ đội địa phương, dân quân du kích.

Với sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn, tài tình của Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh, sức mạnh đoàn kết, ý chí quyết tâm, hành động dũng cảm của toàn dân, toàn quân cùng sự ủng hộ của bạn bè quốc tế, dân tộc Việt Nam đã kháng chiến thành công, kết thúc bằng chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Một lần nữa Chiến thắng Điện Biên Phủ - mốc son trong lịch sử dân tộc dưới thời đại Hồ Chí Minh đã bác bỏ mọi xuyên tạc.

Thực tiễn những thắng lợi to lớn của cách mạng Việt Nam từ khi có Đảng hơn 90 năm qua là sự thật không thể bác bỏ! Đồng thời, là minh chứng đập thẳng vào mọi luận điệu “lật sử” của các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị hòng chống phá Đảng, Nhà nước, phá hoại cuộc sống độc lập tự do của đất nước và nhân dân Việt Nam. Những chiêu trò chống phá chúng đã và đang nhận lấy quả đắng từ thực tiễn tốt đẹp và tương lai tươi sáng của cách mạng Việt Nam, của tinh thần cảnh giác, ý chí quyết tâm, niềm tin và hành động của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta./.

          

Aug 31, 2022

Đừng bị “lạc trôi” theo những lời tung hô, kích động

           Ngày 25/8, TAND cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm, xét đơn kháng cáo của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang (sinh năm 1978, trú tại phường Cát Linh, quận Đống Đa, Hà Nội) trong vụ án “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”.

Cũng tương tự như tại phiên sơ thẩm, các trang mạng truyền thông chống phá Việt Nam ở nước ngoài lại tiếp tục điệp khúc “kêu oan” cho bị cáo Phạm Thị Đoan Trang. Họ đưa ra các bài viết tô vẽ hình tượng, tạo dựng một bị cáo “giữ vững chí khí”, lập luận rằng Phạm Thị Đoan Trang không phạm tội, cần “trả tự do ngay lập tức”!

Cũng với cách tiếp cận này, một số trang mạng còn dùng chiêu “cập nhật diễn biến phiên toà”, đưa thông tin, hình ảnh trong và ngoài phiên toà, thông tin về sức khoẻ, thái độ bị cáo, về thân nhân, việc tranh tụng tại toà… nhằm tạo điểm nhấn gây chú ý như là một sự kiện “bất thường”! Không ít bài viết lấy cớ “minh oan” cho bị cáo, đưa ra lời lẽ phê phán, đả kích phiên toà, đả kích nền tư pháp Việt Nam, từ đó coi đây là “dẫn chứng” để rêu rao trước công luận về “phiên toà bịt miệng”, một thể chế người dân bị bỏ tù vì “dám lên tiếng đấu tranh cho tự do, dân chủ”!

Điều đáng nói, sự tung hô, đánh tráo bản chất vụ án của các trang mạng truyền thông này được sự hậu thuẫn từ những tuyên bố sai lệch của một số cơ quan ngoại giao. Sau khi kết thúc phiên toà, tuyên bố của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ nêu “Hoa Kỳ hết sức lo ngại trước bản án được giữ nguyên và bản án 9 năm tù đối với tác giả và nhà báo Việt Nam nổi tiếng Phạm Thị Đoan Trang”.

Người phát ngôn Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ Ned Price nói rằng, việc bị cáo Phạm Thị Đoan Trang tiếp tục bị giam giữ là trường hợp mới nhất trong “một mô hình đáng báo động về việc bắt giữ và kết án các cá nhân ở Việt Nam vì đã bày tỏ ý kiến một cách ôn hòa”. Từ đó, bản tuyên bố “kêu gọi chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Trang”!

Trước đó, cũng chính Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đã trao cái gọi là “Giải thưởng Phụ nữ Dũng cảm quốc tế (IWOC) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang với những lý do rất dễ tạo cớ cho các thế lực chống phá Việt Nam “bấu víu”. Cùng với đó, tuyên bố của người phát ngôn EU cũng đưa ra những thông tin lệch lạc khi cho rằng, tòa phúc thẩm Hà Nội giữ nguyên bản án đối với Phạm Đoan Trang với “tội danh mơ hồ”, “bắt giữ tuỳ tiện”, từ đó đưa ra những bình luận sai trái: “Nhiều vụ bắt giữ và kết án tùy tiện đối với các nhà hoạt động ôn hòa và các nhà báo là trái ngược trực tiếp với luật nhân quyền quốc tế”. Cũng “té nước theo mưa”, tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) ra thông cáo bày tỏ “sự bất bình trước bản án phúc thẩm của bà Trang”! Cũng chính RSF từng tung ra trò giải thưởng báo chí rồi “vinh danh” người đoạt giải RSF 2019 về quyền tự do báo chí cho Phạm Thị Đoan Trang. Lần này, RSF lấy cớ phiên phúc thẩm y án 9 năm tù với bị cáo rồi “kêu gọi các đối tác thương mại của Việt Nam, chẳng hạn như EU và Hoa Kỳ, yêu cầu trả tự do cho bà Phạm Đoan Trang như một phần trong thỏa thuận của họ với Hà Nội”.

Ông Daniel Bastard, Giám đốc văn phòng châu Á – Thái Bình Dương của RSF đưa ra những lời lẽ cố tình phớt lờ sự thật để nhằm lấy cớ chỉ trích Việt Nam: “Cuộc chiến của bà Trang cho một nền báo chí tự do cho tất cả mọi người vượt ra ngoài biên giới của đất nước, đó là cuộc chiến cho một quyền phổ biến”. “Thổi lửa” sự kiện này, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) dẫn lời ông Shawn Crispin, đại diện khu vực Đông Nam Á của tổ chức này: “CPJ mạnh mẽ lên án phán quyết của tòa án ngày hôm nay bác bỏ kháng cáo của nhà báo Phạm Thị Đoan Trang về bản án 9 năm tù của bà. Việt Nam phải trả tự do cho bà Trang và tất cả các nhà báo khác mà nước này giam giữ một cách sai trái sau song sắt”! Cũng chính CPJ mới đây đã ra tuyên bố sẽ trao “Giải thưởng Tự do báo chí Quốc tế (IPFA) năm 2022” cho Phạm Thị Đoan Trang, dự kiến vào cuối năm 2022.

Như vậy, từ những phát ngôn của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ, EU với những thông tin sai lệch về vụ án cũng như đưa ra những tuyên bố, kêu gọi phi thực tế, các tổ chức chống phá Việt Nam như RSF, CPJ… được dịp “lên đồng” với các tuyên bố, thông cáo cố tình xuyên tạc sự thật, chỉ trích, miệt thị nền tư pháp, chỉ trích Đảng, Nhà nước Việt Nam dưới chiêu bài nhân quyền, tự do báo chí, tự do ngôn luận. Hành động này cũng thể hiện tương tự như tại phiên toà sơ thẩm hồi năm ngoái, dù nội dung, bản chất vụ án đã được thể hiện rất rõ và thông tin cụ thể trên các phương tiện truyền thông.

Đây là vụ án xét xử công khai, hoàn toàn không có gì “mập mờ” hay “tuỳ tiện” như những phán xét nói trên. Việc xét xử phúc thẩm là dựa trên kháng cáo của bị cáo và TAND cấp cao tại Hà Nội đã mở thủ tục phiên toà theo đúng trình tự pháp luật tố tụng hình sự. Cáo trạng tại phiên phúc thẩm một lần nữa nêu rõ, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến 5/12/2018, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Ngoài ra, bị cáo Đoan Trang còn trả lời phỏng vấn trên truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân. Cụ thể, Phạm Thị Đoan Trang có hành vi tàng trữ các tài liệu: “Báo cáo tóm tắt về thảm họa môi trường biển Việt Nam”; “Đánh giá chung về tình hình nhân quyền tại Việt Nam”; “Báo cáo đánh giá về luật tôn giáo và tín ngưỡng năm 2016 liên quan đến việc thực hiện quyền tự do tôn giáo và tín ngưỡng ở Việt Nam”. Cơ quan tố tụng xác định, các tài liệu trên có nội dung tuyên truyền, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, tuyên truyền thông tin xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam.

Vào giữa tháng 12/2021, TAND thành phố Hà Nội đã xét xử sơ thẩm vụ án và tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam”. Cần thấy rằng, việc toà phúc thẩm có giảm nhẹ hình phạt hay không phải căn cứ hồ sơ, tài liệu, có tình tiết mới nào là căn cứ giảm nhẹ hình phạt hay thái độ của bị cáo có ăn năn, hối lỗi so phiên sơ thẩm? Tuy nhiên, diễn biến tại phiên toà cho thấy, dù cáo trạng đã nêu rõ tính chất, mức độ phạm tội, các căn cứ kết án, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang vẫn giữ thái độ như trước đó, tiếp tục cho rằng mình không phạm tội và kêu oan. Khi được HĐXX giải thích, bị cáo Phạm Thị Đoan Trang không thành khẩn khai báo, có thái độ chống đối tại phiên tòa. Trong khi đó, trên cơ sở xét hỏi công khai tại phiên phúc thẩm, căn cứ lời khai, tài liệu, kết quả giám định, tòa phúc thẩm nhận định, đủ cơ sở để kết luận hành vi phạm tội của bị cáo. Toà phúc thẩm đánh giá, việc tòa sơ thẩm tuyên án phạt 9 năm tù đối với bị cáo Phạm Thị Đoan Trang về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa XHCN Việt Nam” là đúng người, đúng tội, không oan, hình phạt phù hợp với hành vi phạm tội. HĐXX xác định hành vi của bị cáo Phạm Thị Đoan Trang là nguy hiểm cho xã hội, thực hiện với lỗi cố ý xâm phạm chế độ và Nhà nước trên lĩnh vực tư tưởng-văn hóa, xã hội, xâm phạm đến sự vững mạnh của chính quyền nhân dân. Bản thân bị cáo là người có trình độ nhận thức nhất định. Bị cáo hiểu và biết rõ hậu quả hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn tích cực thực hiện trong một thời gian dài, do vậy cần phải xử phạt nghiêm minh. Vì vậy, toà phúc thẩm tuyên y án 9 năm tù đối với bị cáo.

Rõ ràng, khi không có tình tiết nào làm thay đổi tính chất vụ án, bị cáo là người có nhận thức, hiểu hành động mình làm nhưng vẫn quanh co chối tội và có thái độ chống đối thì không có căn cứ nào để giảm nhẹ hình phạt. Căn cứ quan trọng nhất là thái độ thì đến phiên phúc thẩm, bị cáo vẫn không có dấu hiệu nào cho thấy sự hối lỗi, ăn năn về hành vi phạm tội của mình thì HĐXX lấy cơ sở nào để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo so bản án sơ thẩm. Rõ ràng, chính bị cáo đã tự tước lấy cơ hội giảm nhẹ hình phạt với thái độ ngoan cố của mình. Bị cáo hay nếu ai đó còn suy nghĩ chờ đợi những tung hô, kêu gọi của các tổ chức, cá nhân bên ngoài để được giảm án, xoá án hay để thành “thần tượng”, thành tâm điểm của sự chú ý nào đó thì đây là lúc họ cần nghĩ lại, nhìn nhận lại.

“Đánh người chạy đi, không ai đánh người chạy lại”, luật pháp nghiêm khắc nhưng cũng nhân văn, khoan hồng với những ai biết lỗi lầm mà ăn năn sám hối, điều đó tùy thuộc ý thức và hành động của chính mình chứ không phải ở sự tung hô nào khác.

(Nguồn: Nguyễn Thành, Báo Công an nhân dân điện tử)

 

Aug 30, 2022

Đấu tranh chống sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam

           Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh sáng lập, rèn luyện từ mùa xuân năm 1930 và đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, nhờ đó đất nước Việt Nam “có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Hiện thực lịch sử vẻ vang đó được toàn dân tộc thừa nhận, tự hào và bạn bè quốc tế khâm phục, quý trọng. Đó là sự thật, không ai có thể phủ nhận. Nhưng vẫn có những thế lực thù địch, phản động ở trong nước và ở nước ngoài cố tình xuyên tạc lịch sử Đảng hòng hạ thấp và chống phá sự lãnh đạo của Đảng.

1. Có một số thế lực cố tình phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và tầm vóc, giá trị lịch sử của cuộc Cách mạng Tháng Tám năm 1945. Họ coi đó chỉ là sự “ăn may” của cộng sản, Việt Minh. Thực tế lịch sử đã khẳng định Cách mạng Tháng Tám là kết quả tổng hợp của các phong trào cách mạng diễn ra liên tục suốt 15 năm với sự lãnh đạo của Đảng từ cao trào Xô viết Nghệ Tĩnh, phong trào dân chủ 1936 - 1939 đến phong trào giải phóng dân tộc 1939 - 1945. Trong phong trào giải phóng dân tộc, Đảng và lãnh tụ Hồ Chí Minh đã phát triển, hoàn thiện đường lối, đặt mục tiêu giành độc lập dân tộc lên hàng đầu; xây dựng lực lượng chính trị rộng lớn, đoàn kết toàn dân tộc trong Mặt trận Việt Minh; xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang, căn cứ địa cách mạng rộng khắp trên cả nước; xác định phương pháp đấu tranh đi từ khởi nghĩa từng phần đến tổng khởi nghĩa giành độc lập và chính quyền; dự báo và nắm bắt thời cơ cách mạng. Đó là những điều căn bản và quyết định thắng lợi của cách mạng.

Điểm nổi bật có giá trị lý luận và thực tiễn của Cách mạng Tháng Tám là Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xử lý đúng đắn vấn đề tranh thủ thời cơ, đẩy lùi nguy cơ. Thời cơ bảo đảm cho cách mạng nổ ra và giành thắng lợi là: Cao trào cách mạng của nhân dân cả nước phát triển mạnh mẽ (Đảng đã phát động cao trào kháng Nhật cứu nước ngay sau khi Nhật đảo chính Pháp ngày 09/3/1945); kẻ địch lâm vào khủng hoảng, hoang mang, mất sức chiến đấu (Pháp chạy, Nhật hàng Đồng minh); các tổ chức đảng và Việt Minh đủ mạnh trên cả nước, quyết tâm lãnh đạo đưa quần chúng vào hành động cách mạng. Cùng với nắm bắt thời cơ, Đảng đã chỉ rõ nguy cơ: Quân Đồng minh (Anh và Trung Hoa dân quốc) kéo vào giải giáp quân Nhật và lợi dụng danh nghĩa đó để xâm chiếm Việt Nam; lợi dụng sự thất bại của Nhật, quân Pháp quay lại áp đặt sự cai trị như trước ngày 09/3/1945. Đảng đã lãnh đạo cách mạng thắng lợi trước khi quân Đồng minh vào và trước khi quân Pháp quay lại.

Hội nghị toàn quốc của Đảng họp ở Tân Trào, Tuyên Quang từ ngày 14 đến 15/8/1945 quyết định tổng khởi nghĩa với nguyên tắc chỉ đạo: Tập trung, thống nhất, kịp thời và nhanh chóng giành thắng lợi trong nửa cuối tháng 8-1945. Cách mạng Tháng Tám là cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân đã xóa bỏ chế độ thuộc địa gần một thế kỷ và chế độ quân chủ phong kiến hàng nghìn năm, mở ra kỷ nguyên mới của dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do với bản Tuyên ngôn Độc lập lịch sử của Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta.

2. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược và can thiệp Mỹ (1945 - 1954) do Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh lãnh đạo là cuộc kháng chiến thần thánh với những chiến công vẻ vang mà đỉnh cao là Chiến thắng Điện Biên Phủ “chấn động địa cầu”. Bạn bè quốc tế nhắc đến Điện Biên Phủ gắn liền với Việt Nam-Hồ Chí Minh-Võ Nguyên Giáp. Vậy mà đến nay vẫn có thế lực cố tình xuyên tạc. Họ cho rằng có thể tránh được cuộc chiến tranh “nếu phía Việt Nam không hiếu chiến”.

Sự thật đã bác bỏ quan điểm sai trái đó. Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến ngày 19/12/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh nêu rõ: “Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta phải nhân nhượng. Nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta một lần nữa”. Lập trường hòa bình và sự nhân nhượng của Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa rất rõ ràng. Khi kháng chiến diễn ra ở Nam Bộ, ngày 06/3/1946, Hồ Chí Minh đã ký với J.Sainteny, Ủy viên Cộng hòa Pháp tại Hà Nội bản Hiệp định Sơ bộ cho phép 15.000 quân Pháp ra miền Bắc thay thế quân đội Trung Hoa dân quốc; Pháp công nhận Việt Nam là quốc gia tự do có Chính phủ, Nghị viện, quân đội và tài chính riêng trong liên bang Đông Dương và thuộc khối liên hiệp Pháp. Đó là sự nhân nhượng rất lớn nhưng cần thiết mặc dù Pháp chưa công nhận Việt Nam độc lập và còn phải ở trong khối liên hiệp Pháp. Nhân nhượng đó thể hiện mong muốn hòa bình và quan hệ thân thiện với nước Pháp. Để thúc đẩy quá trình đó, ngày 25/4/1946, đoàn Quốc hội Việt Nam do đồng chí Phạm Văn Đồng dẫn đầu thăm nước Pháp. Ngày 31/5/1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh rời Hà Nội thăm chính thức nước Pháp với mong muốn hòa bình và hợp tác giữa hai nước. Ngày 06/7/1946, cuộc đàm phán Việt-Pháp bắt đầu ở Fontainebleau (Pháp). Do phía Pháp không thành thật muốn đàm phán nên giải pháp hòa bình không thành. Trước khi trở về nước ngày 14/9/1946, Hồ Chí Minh ký bản Tạm ước với Bộ trưởng Hải ngoại Pháp Moutet nhân nhượng một số quyền lợi của Pháp ở Việt Nam. Ngày 18/10/1946, về đến cảng Cam Ranh, Hồ Chí Minh gặp Cao ủy Pháp D’Argenlieu trao đổi về thực hiện Tạm ước 14/9.

Sau khi ra miền Bắc, quân đội Pháp liên tiếp gây hấn, vi phạm Hiệp định Sơ bộ 06/3. Ngày 20/11/1946, Valluy, Quyền Cao ủy Pháp, ra lệnh cho quân Pháp tấn công Hải Phòng. Ở Hà Nội, quân Pháp trắng trợn dùng vũ lực và đòi kiểm soát thành phố. Trước hành động chiến tranh của Pháp, dân tộc Việt Nam buộc phải chiến đấu bảo vệ nền độc lập non trẻ. Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Hồ Chí Minh nhiều lần gửi thư cho Chính phủ, Quốc hội Pháp mong muốn chấm dứt chiến sự, nối lại đàm phán nhưng phía Pháp không đáp lại. Bàn tay hòa bình của Việt Nam đưa ra nhưng phía Pháp đã không đáp lại bằng thái độ hòa bình. Chính phủ Pháp đã lao sâu vào cuộc chiến tranh mà chính người Pháp gọi là chiến tranh phi nghĩa, “chiến tranh bẩn thỉu” để cuối cùng nhận lấy thất bại đau đớn.

3. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954 - 1975) phải vượt qua nhiều gian khổ, hy sinh mới đi đến Ngày toàn thắng 30/4/1975, thực hiện khát vọng hòa bình, độc lập hoàn toàn và thống nhất Tổ quốc. Chính giới Hoa Kỳ và các tướng lĩnh Mỹ thừa nhận hành vi chiến tranh của họ ở Việt Nam, những bài học và nguyên nhân thất bại của Mỹ trong chiến tranh Việt Nam. Nhiều cựu binh Mỹ đã trở lại Việt Nam có lời sám hối về cuộc chiến tranh phi nghĩa của Chính phủ Mỹ và những tội ác do họ gây ra, mong muốn được góp phần khắc phục hậu quả chiến tranh, nhất là sự tàn phá của chất độc da cam/dioxin. Vậy mà vẫn có những tiếng nói lạc lõng, trắng trợn, coi chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam là cuộc “nội chiến” giữa phe cộng sản và phe quốc gia. Đó là sự xuyên tạc lố bịch nhất.

Năm 1950 mở đầu sự can thiệp của Mỹ khi tàu chiến Mỹ đến cảng Sài Gòn và ngày 19/3/1950, 30 vạn nhân dân Sài Gòn biểu tình chống Mỹ can thiệp. Sau thảm bại của Pháp ở Điện Biên Phủ (07/5/1954), tháng 6-1954, Mỹ đưa Ngô Đình Diệm lên làm Thủ tướng trong Chính phủ Bảo Đại do Pháp dựng lên từ ngày 13/6/1949. Đó là sự chuẩn bị để Mỹ thay thế Pháp ở Việt Nam. Sau Hiệp định Geneva được ký kết (tháng 7-1954), Việt Nam tạm chia làm hai miền với Vĩ tuyến 17. Ở miền Nam, Mỹ chính thức thay chân Pháp khi quân Pháp rút hết về nước (28/4/1956). Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Ngô Đình Diệm làm Tổng thống, thực hiện chủ nghĩa thực dân mới của Mỹ ở miền Nam Việt Nam, từ chối hiệp thương với miền Bắc để tổng tuyển cử thống nhất đất nước như quy định của Hiệp định Geneva, mưu toan chia cắt lâu dài nước Việt Nam.

Chính quyền Việt Nam Cộng hòa do Mỹ dựng lên là bất hợp pháp, giả hiệu; là phản dân, hại nước. Ngụy là giả. Vì vậy, chính quyền và quân đội do Mỹ xây dựng được gọi là ngụy quyền, ngụy quân. Họ không đại diện cho quốc gia, dân tộc dù họ tự gọi mình là “chính phủ quốc gia”, “chính nghĩa quốc gia”. Ngày 13/5/1957, tại Mỹ, Ngô Đình Diệm trắng trợn tuyên bố: “Biên giới của Hoa Kỳ kéo dài đến Vĩ tuyến 17”. Lời tuyên bố đó và cả hành động thực tế đã cho thấy bản chất của một chính quyền tay sai, bán nước, công cụ chiến tranh của Mỹ, hoàn toàn lệ thuộc vào Mỹ suốt đến sau này. Khi chính quyền đó không đáp ứng được lợi ích của Mỹ thì Mỹ sẵn sàng gạt bỏ, “thay ngựa giữa dòng”. Cái chết bi thảm của Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu trong cuộc đảo chính ngày 01/11/1963 đã chứng tỏ điều đó.

Mỹ đã lần lượt thất bại trong mô hình thực dân mới ở miền Nam Việt Nam; trong “Chiến tranh đặc biệt” 1961 - 1964, “Chiến tranh cục bộ” 1965-1968 và “Việt Nam hóa chiến tranh” 1969 - 1975. Có những hành động chiến tranh vô cùng tàn bạo của Mỹ như rải chất độc hóa học hủy diệt sự sống ở miền Nam (10/8/1961); ném bom miền Bắc từ ngày 05/8/1964; ồ ạt đưa quân Mỹ tham chiến ở miền Nam (08/3/1965); sử dụng lượng vũ khí lớn ở Thành cổ Quảng Trị; ném bom hủy diệt Hà Nội, Hải Phòng 12 ngày đêm cuối tháng 12/1972. Cuối cùng, quân Mỹ đã thất bại, chấp nhận ký Hiệp định Paris (27/01/1973), rút hết quân Mỹ về nước. Cách mạng Việt Nam phát triển, đánh sập ngụy quân, ngụy quyền Sài Gòn, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

4. Vào những năm 1988 - 1991, các nước xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Do chủ nghĩa xét lại, cơ hội, sự suy thoái trong các Đảng Cộng sản cầm quyền và sự phản bội đã dẫn tới sự sụp đổ mô hình chủ nghĩa xã hội ở các nước Đông Âu và Liên Xô. Lợi dụng tình hình đó, các thế lực thù địch, phản động ở Việt Nam cho rằng Chủ nghĩa Mác - Lênin, chủ nghĩa xã hội đã thất bại. Họ coi việc truyền bá lý luận Mác - Lênin vào Việt Nam, thành lập Đảng Cộng sản, lựa chọn con đường xã hội chủ nghĩa là sai lầm. Họ đòi Đảng Cộng sản Việt Nam từ bỏ sự lãnh đạo, thực hiện chế độ đa đảng và đa nguyên chính trị, xóa bỏ con đường xã hội chủ nghĩa.

Đảng đã tỏ rõ bản lĩnh, trí tuệ và kinh nghiệm thực tiễn, đề ra các nguyên tắc chỉ đạo đổi mới kiên định con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ dứt khoát lựa chọn từ năm 1930; trung thành và vận dụng, phát triển sáng tạo Chủ nghĩa Má - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, bác bỏ đa nguyên, đa đảng. Đảng đề ra “Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội” (1991) và bổ sung, phát triển năm 2011. Nhờ vậy, công cuộc đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Kinh tế phát triển, chính trị, xã hội ổn định, quốc phòng, an ninh được giữ vững, hội nhập quốc tế và đối ngoại ngày càng mở rộng, đời sống về mọi mặt của nhân dân không ngừng được nâng cao.

Việt Nam vẫn vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội với sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng. Năm 2022, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã công bố tác phẩm quan trọng: “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam”. Đó là công trình tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội, nhất là trong thời kỳ đổi mới, làm sáng tỏ mục tiêu, mô hình chủ nghĩa xã hội của Việt Nam, các giải pháp và quy luật đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với lý luận khoa học và thực tiễn Việt Nam, đóng góp vào kho tàng lý luận về chủ nghĩa xã hội trên thế giới. Bản chất của chủ nghĩa xã hội Việt Nam là vì nhân dân, vì con người. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khẳng định: “Chúng ta cần một xã hội mà trong đó sự phát triển là thực sự vì con người, chứ không phải vì lợi nhuận mà bóc lột và chà đạp lên phẩm giá con người”.

Đất nước và dân tộc Việt Nam do Đảng lãnh đạo đang phát triển mạnh mẽ, vững chắc trên con đường đúng đắn dựa trên cơ sở khoa học và hiện thực. Mọi sự phá hoại, xuyên tạc lịch sử Đảng và sự lãnh đạo của Đảng không cản trở được khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất, hùng cường, phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam./.

(Nguồn: Hương Sen Việt)

Aug 26, 2022

Trả lời cho kẻ thiểu năng

          Tre Việt - Trong bài viết “Ai đang rẻ rúng Cộng sản” đăng trên trang facebook Chân Trời Mới Media, ngày 23/8 có đoạn: “… suốt gần trăm năm nay, chế độ Cộng sản đã làm mưa làm gió ở miền Bắc và gần nửa thế kỷ ở miền Nam sau nay, di họa, di chứng, di căn của nó cũng đã đầy đủ. Vậy người ta trông chờ gì và chính cái chế độ Cộng sản này trông chờ điều gì?”. Hãy cùng Tre Việt trả lời cho những kẻ thiểu năng nhưng có dã tâm xuyên tạc, chống phá chế độ.

      Việc Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời với đường lối lãnh đạo cách mạng đúng đắn ngay từ đầu đã chấm dứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối trong gần 07 thập kỷ. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, dân tộc Việt Nam mà nòng cốt là liên minh công nông đã đứng lên kháng chiến giành độc lập dân tộc, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (ngày 02/9/1945) và hai cuộc kháng chiến chống đế quốc Pháp, thực dân Mỹ xâm lược thắng lợi hoàn thành cuộc cách mạng  đấu tranh giải phóng dân tộc. Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng đã lãnh đạo thực hiện thắng lợi các cuộc chiến tranh biên giới, bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Đặc biệt, Đảng đã khởi xướng, lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và thu được những thành tựu to lớn. “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” như lời Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định. Trong giai đoạn cách mạng mới, với truyền thống yêu nước, tinh thần đoàn kết, quyết tâm, bản lĩnh, trí tuệ của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, đất nước ta nhất định sẽ thực hiện thắng lợi công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đưa cuộc sống của nhân dân ngày càng ấm no, tự do, hạnh phúc; xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội. Đây chính là mục tiêu mà Đảng Cộng sản Việt Nam luôn hướng tới, nhân dân Việt Nam đang trông chờ, mong đợi. Và điều trông chờ, mong đợi này là hoàn toàn có cơ sở để trở thành hiện thực, bởi nó phù hợp với quy luật vận động, phát triển các hình thái kinh tế - xã hội, là tất yếu khách quan. Như vậy, cả lịch sử và thực tiễn đều đã sáng tỏ, nhưng có những kẻ vẫn hoài nghi hỏi rằng:  “…, người ta trông chờ gì và chính cái chế độ Cộng sản này trông chờ điều gì?”. Phải chăng, chỉ có những kẻ thiểu năng trí tuệ mới không tự trả lời được.

Một thực tế hiển nhiên là, Việt Nam đi lên chủ nghĩa xã hội với xuất phát điểm thấp, lại bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản. Vì vậy, trong quá trình lãnh đạo đất nước, Đảng ta phải vừa nghiên cứu, vận dụng, phát triển lý luận, vừa tổng kết thực tiễn phát triển đất nước để bổ sung, điều chỉnh chủ trương, đường lối lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước cho phù hợp, hiệu quả. Dĩ nhiên, lãnh đạo đất nước trong một số bối cảnh, điều kiện, hoàn cảnh cụ thể ở Việt Nam, Đảng ta khó tránh khỏi những sai lầm, khuyết điểm, nhất là hiện nay một bộ phận cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn đến vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật, làm giảm sút niềm tin của nhân dân đối với Đảng. Song, với tinh thần nhìn thẳng vào sự thật, Đảng ta đã sớm nhận ra những khuyết điểm, sai lầm để đề ra những giải pháp khắc phục, như:tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; đẩy mạnh công cuộc phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, v.v. Nhờ đó, bước đầu đã thu được những kết quả đáng khích lệ, qua đó, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng. Vì thế, những kẻ cho rằng đó là “di họa, di chứng, di căn” của chế độ là không xác đáng, phiến diện, với dã tâm xấu./.