Feb 23, 2024

Lên án hoạt động chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

          Tre Việt - Thực hiện chỉ đạo của Tổng hội Tin lành Lutheran Mông Mỹ, vừa qua, Ban Cộng đoàn Mông Tây Bắc đã nhóm họp và thống nhất những hoạt động, như: thúc đẩy thành lập “Hội thánh Liên hữu H’mông”; xác định tôn chỉ, mục đích hoạt động theo sắc thái riêng của người Mông, lấy chủ nghĩa dân tộc làm nền tảng, phục vụ lợi ích “chính đáng” của cộng đồng Tin Lành Mông, lấy “đấu tranh chính trị” làm phương châm hoạt động; tập hợp, đào tạo đội ngũ chức sắc Tin Lành Mông trung thành với đường hướng hoạt động; tuyển chọn, đào tạo lực lượng nòng cốt từ các tín đồ Tin Lành Mông, v.v. Cần khẳng định rõ: cái gọi là: tổ chức Tin Lành Mông – một tổ chức tôn giáo bất hợp pháp, chưa được Nhà nước Việt Nam cấp phép. Vì vậy,việc làm trên của Tổng hội Tin lành Lutheran Mông Mỹ thực chất là hoạt động nhằm chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, tôn giáo. Bởi vậy, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao, xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là phương thức, sức mạnh, mục tiêu quan trọng nhất của cách mạng Việt Nam. Từ đó, đặc biệt quan tâm, chăm lo xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc nhằm tập hợp mọi lực lượng cách mạng, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Nhờ đó, tạo nên sức mạnh to lớn để nhân dân ta, dân tộc ta đánh thắng mọi kẻ thù xâm lược dù chúng mạnh hơn ta gấp nhiều lần trong đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Thực tiễn lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc đã khẳng định chân lý ấy.

Trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục xác định đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược cơ bản, lâu dài của cách mạng Việt Nam, phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trở thành động lực của công cuộc đổi mới toàn diện đất nước. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, kết luận về vấn đề này, như: Nghị quyết số 23-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khoá IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh; Kết luận số 57-KL/TW ngày 03/11/2009 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa IX) về phát huy sức mạnh đại đoàn kết dân tộc. Cùng với đó, Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách xây dựng, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc; nâng cao đời sống, văn hóa, xã hội cho đồng bào các dân tộc. Nhờ đó, đã xây dựng, không ngừng củng cố và phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Trong diễn văn khai mạc Đại hội XIII của Đảng, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định: đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Mới đây nhất, ngày 24/11/2023 Hội nghị lần thứ 8 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc, để tiếp tục khẳng định rằng: đại đoàn kết toàn dân tộc đã trở thành thuyền thống, là chân lý của dân tộc, đất nước Việt Nam.

Vậy nhưng, các thế lực thù địch, phần tử phản động sống lưu vong ở nước ngoài luôn lợi dụng vấn đề dân tộc, tôn giáo,... tìm mọi cách kích động, lôi kéo, tài trợ tài chính, hà hơi, tiếp sức để một số phần tử tiêu cực, nhẹ dạ, cả tin ở trong nước ra tăng các hoạt động nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Trong đó, hoạt động của Tổng hội Tin lành Lutheran Mông Mỹ, của Ban Cộng đoàn Mông Tây Bắc vừa qua là minh chứng điển hình. Vì thế, những mưu đồ, hành động sai trái này cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh bác bỏ./.

 

Feb 22, 2024

Cảnh giác với luận điệu xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên

          Tre Việt - Như thành thông lệ, cứ đến mùa tuyển quân, các thế lực thù địch lại dùng mọi thủ đoạn xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự, chúng rêu rao rằng: “Thanh niên hiện nay đang tìm mọi cách trốn nghĩa vụ quân sự”, “đi bộ đội không phải bảo vệ Tổ quốc”, “không có tương lai”(!) Đây là những luận điệu phản động, phiến diện, thâm độc của bọn chúng hòng làm cho thanh niên Việt Nam nói chung và thanh niên nhập ngũ thực hiện nghĩa vụ quân sự nói riêng dao động tư tưởng, hoài nghi dẫn đến phai nhạt lý tưởng cách mạng. Không những thế, những người thiếu bản lĩnh khi tiếp nhận thông tin trên sẽ hiểu sai chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và quy định của Quân đội về thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên.

Thực tiễn cho thấy, trong các cuộc kháng chiến giành độc lập dân tộc, thống nhất đất nước và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa đã có hàng triệu thanh niên tình nguyện nhập ngũ. Nhiều lá đơn được viết bằng máu, thể hiện ý chí, trách nhiệm, quyết tâm của lớp lớp thanh niên đối với đất nước. Tiếp nối truyền thống đó, thanh niên ngày nay luôn nhận thức rõ nghĩa vụ, trách nhiệm thiêng liêng của mình đối với Tổ quốc; cảm thấy vinh dự khi trở thành người chiến sĩ trong Quân đội nhân dân Việt Nam. Hằng năm, trên mọi miền Tổ quốc có hàng chục nghìn thanh niên nô nức lên đường nhập ngũ, thực hiện nghĩa vụ quân sự, việc làm này đã trở thành nét đẹp văn hóa, trách nhiệm, nguyện vọng chính đáng của bao thế hệ thanh niên Việt Nam.

Trong năm 2024, các địa phương trong cả nước, hầu hết thanh niên nhập ngũ đều bày tỏ niềm tự hào và hăng hái lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự. Tỷ lệ thanh niên viết đơn tình nguyện nhập ngũ ngày càng cao; rất nhiều thanh niên là đảng viên, công chức, có trình độ đại học, cao đẳng cũng viết đơn xung phong nhập ngũ; có gia đình có 02 người con tình nguyện thực hiện nghĩa vụ quân sự. Bởi, môi trường Quân đội giúp thanh niên được rèn luyện sức khỏe, thể lực dẻo dai; tác phong chững chạc, có trách nhiệm cao với công việc, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; giao tiếp, ứng xử đúng mực, có văn hóa; rèn giũa, tôi luyện để thanh niên phát huy hết nội lực, khả năng của bản thân, sẵn sàng đối mặt và vượt qua những khó khăn, thử thách lớn trong công việc và cuộc sống.

Trong không khí của ngày hội tòng quân ở các địa phương trong cả nước rất sôi nổi, phấn khởi; tuy nhiên, trên thực tế, do tác động của mặt trái cơ chế thị trường, mạng xã hội, một bộ phận nhỏ thanh niên bị ảnh hưởng bởi lối sống cá nhân, hưởng thụ, thực dụng nên sợ vất vả, ngại rèn luyện và có những so đo, tính toán thiệt hơn, thậm chí tìm mọi cách để trốn tránh nghĩa vụ quân sự. Đây chỉ là hiện tượng cá biệt và cũng đã có trường hợp bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật. Để phát hiện và khắc phục những hiện tượng đơn lẻ này, đòi hỏi cấp ủy chính quyền địa phương, tổ chức Đoàn Thanh niên các cấp, nhất là gia đình, dòng họ cần thường xuyên giáo dục con cháu về truyền thống dân tộc, tình yêu quê hương đất nước, làm tốt công tác tư tưởng, động viên thanh niên yên tâm lên đường nhập ngũ; tăng cường tuyên truyền Luật Nghĩa vụ quân sự. Các cơ sở giáo dục, đào tạo, cần thực hiện nghiêm túc, đầy đủ chương trình giáo dục quốc phòng và an ninh; tăng cường tổ chức hoạt động ngoại khóa nhằm giáo dục, nâng cao kỹ năng sống cho học sinh, xây dựng cho thế hệ trẻ có động cơ, thái độ và tinh thần trách nhiệm với xã hội, với đất nước, tạo “sức đề kháng” tốt khi tham gia và sử dụng các trang mạng xã hội. Các cơ quan chức năng thường xuyên quản lý và phối hợp chặt chẽ với nhà cung cấp dịch vụ tiến hành các giải pháp kỹ thuật, kịp thời ngăn chặn không để những quan điểm sai trái, thù địch phát tán trên không gian mạng tác động vào các tầng lớp nhân dân. Đồng thời, mỗi thanh niên cần phải tự giáo dục, rèn luyện, nâng cao nhận thức về quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của bản thân đối với Tổ quốc; chấp hành nghiêm Luật An ninh mạng, tỉnh táo khi tiếp nhận, chia sẻ thông tin để không vi phạm pháp luật và không mắc mưu các thế lực thù địch. Qua đó, khơi dậy niềm tự hào, tiếp thêm ý chí, nghị lực để mỗi thanh niên hăng hái tham gia thực hiện nghĩa vụ quân sự.

Bảo vệ Tổ quốc là trách nhiệm thiêng liêng, cao quý nhất cảu mỗi công dân Việt Nam khi đến tuổi trưởng thành. Lên đường thực hiện nghĩa vụ quân sự không chỉ là nghĩa vụ, mà cao còn là quyền lợi, niềm vinh dự, tự hào của mỗi thanh niên, góp phần cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Mọi thủ đoạn xuyên tạc việc thực hiện nghĩa vụ quân sự của thanh niên, xúi giục thanh niên trốn tránh nghĩa vụ quân sự của các đối tượng xấu, thù địch là sai trái, đi ngược với lợi ích quốc gia, dân tộc, cần được vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

Feb 18, 2024

Cảnh giác với chiêu trò kích động của Chân Trời Mới Media

         Tre Việt - Ngày 17/02, trang facebook Chân Trời Mới Media, đăng stuts: “Bao giờ Việt Nam ban hành Nghị định hướng dẫn thành lập các tổ chức đại diện độc lập tại doanh nghiệp? Có lẽ những tiếng nói phản biện cần phải liên tục cất lên báo động cho dư luận quốc tế và quốc nội, tạo áp lực để Việt Nam nghiêm chỉnh thi hành những cam kết đã ký”. Đây là luận điệu rất thâm hiểm nhằm kích động đòi cho phép cái gọi là “công đoàn độc lập” sớm được thành lập công khai, hợp pháp.

Như chúng ta biết, thực hiện các cam kết quốc tế trong các Hiệp định thương mại tự do, các công ước quốc tế về tiêu chuẩn lao động mà Việt Nam là thành viên và để nâng cao hiệu quả hoạt động của tổ chức đại diện người lao động, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (khóa XIV) đã thông qua Bộ Luật Lao động năm 2019 (có hiệu lực ngày 01/01/2021). Bộ Luật  này đã có 01 chương riêng (Chương 13) về “Tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở”, trong đó có quy định rõ: tổ chức đại diện người lao động tại cơ sở là tổ chức được thành lập trên cơ sở tự nguyện của người lao động tại một đơn vị sử dụng lao động nhằm mục đích bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động trong quan hệ lao động thông qua đối thoại, thương lượng tập thể hoặc các hình thức khác theo quy định của pháp luật. Thành phần, gồm: công đoàn cơ sở và tổ chức của người lao động. Tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp chỉ có cấp cơ sở - cấp doanh nghiệp, không có hệ thống các cấp như tổ chức công đoàn. Với quy định trên, có thể thấy: tổ chức công đoàn và tổ chức của người lao động tại doanh nghiệp có sự khác nhau về bản chất và mục đích. Trong đó, công đoàn là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và người lao động,… đại diện cho cán bộ, công chức, viên chức, công nhân và những người lao động khác, cùng với cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, tổ chức xã hội chăm lo và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của người lao động; tham gia quản lý nhà nước, quản lý kinh tế - xã hội, tham gia thanh tra, kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp. Còn tổ chức đại diện người lao động tại doanh nghiệp được xác định là tổ chức xã hội đơn thuần, chỉ thực hiện chức năng đại diện bảo vệ quyền hợp pháp, lợi ích chính đáng của người lao động trong phạm vi quan hệ lao động.

Quy định của pháp luật là vậy, thế nhưng lợi dụng vào đó, thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị luôn ráo riết tuyên truyền, lôi kéo công nhân và người lao động nhằm tập hợp lực lượng để cho ra đời cái gọi là tổ chức “công đoàn độc lập” ở Việt Nam. Dưới lớp vỏ bọc này, họ đã đánh tráo khái niệm “độc lập” với “đối lập”, rêu rao những luận điệu chống phá Đảng, Nhà nước ta; thậm chí xúi giục, kích động các hành vi làm bất ổn chính trị, xã hội tại Việt Nam. Họ cố tình đưa ra chiêu bài thành lập cái gọi là “công đoàn độc lập” hay “nghiệp đoàn độc lập Việt Nam” để dụ dỗ, lôi kéo công nhân và người lao động Việt Nam, hình thành tổ chức mà bản chất không không hề bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng của công nhân và người lao động, mà chỉ lấy đó là vỏ bọc cho mưu đồ chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam. Từng bước đi đến hình thành một tổ chức đối lập với Đảng Cộng sản Việt Nam và “thay thế” tổ chức công đoàn ở nước ta, tạo dựng lực lượng chính trị đối lập, kích động công nhân, người lao động tham gia các cuộc bãi công, đình công, biểu tình trái pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước ta, tiến tới thực hiện mưu đồ thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam.

Việc hình thành tổ chức mang danh “công đoàn độc lập”, “đại diện người lao động” nhưng không đại diện, bảo vệ quyền lợi của người lao động với mục đích chống đối Đảng, Nhà nước thì không thể là một tổ chức chính danh, hợp pháp. Vì không là chính danh, nên chúng không dám công khai ra mắt mà chỉ ngấm ngầm kích động làm rối loạn xã hội, nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, làm bất ổn đời sống nhân dân. Những gì chúng rêu rao chỉ là những luận điệu mị dân, không bao giờ vì quyền lợi của người lao động. Vì vậy, “công đoàn độc lập”, hay “nghiệp đoàn độc lập” sẽ không thể thay thế vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Công đoàn Việt Nam - một tổ chức mà xuyên xuốt 95 năm qua luôn đồng hành cùng giai cấp công nhân, người lao động Việt Nam; đã và đang thực hiện tốt các chức năng đại diện và bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp chính đáng của người lao động. Đồng thời, có trách nhiệm tham gia với Nhà nước phát triển sản xuất, giải quyết việc làm, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của người lao động; đại diện và tổ chức người lao động tham gia quản lý cơ quan, đơn vị, tổ chức, quản lý kinh tế - xã hội, quản lý Nhà nước trong phạm vi chức năng của mình, thực hiện quyền kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan đơn vị, tổ chức theo quy định của pháp luật; thường xuyên tổ chức, giáo dục động viên người lao động phát huy vai trò làm chủ đất nước, thực hiện nghĩa vụ công dân, xây dựng, bảo vệ Tổ quốc.

Do vậy, mỗi người dân Việt Nam, nhất là giai cấp công nhân và người lao động trong các doanh nghiệp cần nâng cao cảnh giác trước luận điệu cổ súy, kích động của Chân Trời Mới Media, nhận rõ âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, hết sức bình tĩnh, không mắc mưu, dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật; đồng thời, nghiêm khắc lên án, kiên quyết đấu tranh bác bỏ/.


Feb 17, 2024

Thông tin VOA đăng tải là phiến diện, không khách quan

           Tre Việt - Những ngày gần đây, kênh tiếng Việt, Đài Tiếng nói Hoa Kỳ (VOA) đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc tình hình thực tế tại Việt Nam. Điển hình là, ngày 13/02 đăng bài: “HRW lên tiếng về bản án đối với ông Danh Minh Quang”; ngày 14/02 đăng bài: “Nhóm chuyên gia Liên hợp quốc quan ngại việc tù nhân Đặng Đình Bách tuyệt thực”, v.v. Trong các bài viết họ cho rằng Danh Minh Quang, Đặng Đình Bách là những nhà hoạt động cho dân chủ, nhân quyền, bảo vệ môi trường và kêu gọi chính quyền Việt Nam ngừng kết án và ngược đãi những người bảo vệ “nhân quyền”, trả tự do cho những người này.

Cần khẳng định rằng: thông tin trong các bài viết mà VOA đã đăng tải đều phản ánh không đúng bản chất các vụ việc, xuyên tạc tình hình dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Bởi vì, các cơ quan chức năng thực thi pháp luật của Việt Nam có đầy đủ bằng chứng, cơ sở khẳng định Danh Minh Quang, Đặng Đình Bách là những công dân đã có hành vi vi phạm pháp luật Việt Nam. Cụ thể, từ năm 2021 đến tháng 7/2023, Danh Minh Quang đã lợi dụng quyền tự do, dân chủ, sử dụng Facebook Minh Quang để viết, đăng tải, chia sẻ công khai 51 bài viết, hình ảnh với nội dung có tính chất tiêu cực, tuyên truyền xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, vi phạm quy định tại Điều 331, Bộ Luật Hình sự. Căn cứ vào quy định của pháp luật, Tòa án Nhân dân huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng đã tuyên phạt Danh Minh Quang 03 năm 6 tháng tù vì hành vi phạm tội, là hoàn toàn đúng qui định của pháp luật hiện hành. 

Đối với Đặng Đình Bách, với vai trò là Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu pháp luật và chính sách phát triển bền vững (LPSD), trong quá trình hoạt động Bách đã liên hệ với các tổ chức nước ngoài, đàm phán nhận các khoản tiền tài trợ để triển khai nhiều chương trình, dự án hoạt động của Trung tâm LPSD, song không làm thủ tục xin phê duyệt, không được các cơ quan chức năng có thẩm quyền phê duyệt theo quy định. Tuy nhiên, biết là sai nhưng Bách vẫn chỉ đạo cho thực hiện và nắm các khoản thu chi. Từ năm 2016 đến năm 2020, Trung tâm LPSD do Bách đứng đầu đã nhiều lần không nộp hồ sơ khai thuế, trốn thuế, bỏ ngoài sổ sách các khoản tiền nhận từ nước ngoài. Tổng số tiền trốn thuế được cơ quan Thuế xác định là hơn 1,3 tỉ đồng. Do đó, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội tuyên phạt bị cáo Đặng Đình Bách phạm tội trốn thuế, với bản án 05 năm tù là đúng người, đúng tội.

Trên thực tế, quá trình thi hành các bản án, các bị cáo đều được đối xử nhân đạo theo đúng quy định của pháp luật. Việt Nam luôn tuân thủ đúng các quy định của quốc tế và Luật Thi hành án dân sự (năm 2019). Thậm chí nếu cải tạo tốt sẽ được ân xá, giảm án, rút ngắn thời gian cải tạo theo chính sách khoan hồng của pháp luật Việt Nam.

Do vậy, việc Đài VOA đăng tải các thông tin chưa được kiểm chứng, mà chỉ xuất phát từ một phía là hoàn toàn phiến diện, không khách quan. Hành động này cần bị lên án, đấu tranh bác bỏ./. 

 

Feb 16, 2024

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Mạc Văn Trang

 

          Tre Việt - Ngày 15/02, trang facebook Việt Tân trích nguồn của Mạc Văn Trang đăng “Tuyên bố 45 năm cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược Trung Quốc (17 tháng 2 năm 1979)”, trong “Tuyên bố” này, Mạc Văn Trang mượn danh “Các tổ chức xã hội dân sự”, cho rằng: “lịch sử phải được đánh giá đúng và không lãng quên... báo chí truyền hình thông tin rộng rãi trong ngoài nước... tổ chức công khai Lễ tưởng niệm đồng bào chiến sĩ đã hy sinh trong cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược Trung Quốc. Sau đó theo thông lệ 5 năm một lần làm Lễ tưởng niệm”(!). Đây là thủ đoạn quen thuộc mà các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị vẫn thường lợi dụng mỗi dịp kỷ niệm cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc (17/2) hằng năm, nhằm nhằm xuyên tạc, bôi nhọ, vu khống Đảng, Nhà nước ta né tránh, lãng quên Cuộc chiến tranh này, từ đó, kích động chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ quan hệ hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc.

Cần khẳng định rõ: không có chuyện Đảng, Nhà nước, Quân đội và Nhân dân ta né tránh, lãng quên cuộc chiến tranh Bảo vệ biên giới phía Bắc tháng 02/1979 hào hùng của dân tộc, không quan tâm đến công tác chính sách đối với những Người có công trong Cuộc chiến tranh này. Minh chứng là, vào tháng 02 hằng năm, nhân kỷ niệm Cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, trên các phương tiện thông tin đại chúng từ Trung ương, đến địa phương đều đăng tải nhiều bài viết của các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, tướng lĩnh, cựu chiến binh, nhà nghiên cứu,... nhằm tái hiện lịch sử và tuyên truyền, nêu bật tinh thần chiến đấu anh dũng, quyết tâm bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ; sự quan tâm, chăm lo của Đảng, Nhà nước đối với thương binh, bệnh binh, gia đình liệt sĩ, Người có công trong Cuộc chiến tranh này,... đồng thời,khẳng định chủ trương, chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước ta trong quan hệ với Trung Quốc.

Năm 2014, trong Hội nghị bàn về Quy chế phối hợp giữa Mặt trận Tổ quốc và Chính phủ, khi một số đại biểu đề cập tới cuộc chiến tranh biên giới phía Bắc, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng khi đó đã trả lời: “Đảng, Nhà nước không bao giờ quên công lao của đồng bào chiến đấu, hy sinh để giành thắng lợi trong cuộc chiến chống xâm lược ngày 17/2/1979”. Trước đó, ngày 09/11/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 62/2011/QĐ-TTg, quy định chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí đối với một số đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc. Tiếp đó, ngày 03/4/2012, Chính phủ đã ban hành Nghị định 23/2012/NĐ-CP, quy định về chế độ hưu trí, trợ cấp một lần, chế độ bảo hiểm y tế, mai táng phí đối với đối tượng trực tiếp tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc ở biên giới Tây Nam, biên giới phía Bắc, làm nhiệm vụ quốc tế ở Campuchia, giúp bạn Lào sau ngày 30/4/1975 có từ đủ 20 năm trở lên phục vụ trong Quân đội, Công an, Cơ yếu đã phục viên, xuất ngũ, thôi việc, v.v.

Cùng với đó, để tưởng nhớ công lao các anh hùng liệt sĩ hy sinh trong cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc, nhiều địa phương, nhất là các địa phương ở các tỉnh biên giới phía Bắc đã phối hợp với các ban, ngành Trung ương, đoàn thể địa phương xây đài tưởng niệm, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ, tìm kiếm, quy tập hài cốt liệt sĩ; lấy tên một số liệt sĩ để đặt tên đường phố, trường học, v.v. Cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 hào hùng của dân tộc ta còn được phản ánh sinh động trong nhiều tác phẩm văn học, điện ảnh, âm nhạc,... như: tiểu thuyết “Đêm tháng Hai” của nhà văn Chu Lai và tiểu thuyết “Mình và họ” của nhà văn Nguyễn Bình Phương, tác phẩm “Xác phàm” của nhà văn Nguyễn Đình Tú, bộ phim “Đất mẹ” của đạo diễn Hải Ninh và “Thị xã trong tầm tay” của đạo diễn Đặng Nhật Minh,... các bài hát “Chiến đấu vì độc lập tự do”  của nhạc sĩ Phạm Tuyên, “Lời tạm biệt lúc lên đường” của nhạc sĩ Vũ Trọng Hối, “Bốn mươi thế kỷ cùng ra trận” của nhạc sĩ Hồng Đăng, “Những đôi mắt mang hình viên đạn” của nhạc sĩ Trần Tiến và “Hát về anh” của nhạc sĩ Thế Hiển,... các tác phẩm này đều được phổ biến, tuyên truyền rộng rãi trong và ngoài nước.

 Thực tế trên là minh chứng khẳng định: Đảng, Nhà nước, Quân đội, Nhân dân ta không hề né tránh, hay lãng quên cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc năm 1979 hào hùng của dân tộc, và cũng không có chuyện Đảng, Nhà nước, Quân đội, Nhân dân ta không quan tâm đến công tác chính sách đối với những Người có công trong Cuộc chiến tranh này. Vì thế, chúng ta cần cảnh giác với âm mưu thâm độc của các thế lực thù địch, phần tử cơ hội chính trị khi chúng lợi dụng Cuộc chiến tranh này để tán phát những bài viết, tài liệu để tuyên truyền những luận điệu sai trái, thù địch nhằm xuyên tạc, kích động sự chống phá Đảng, Nhà nước ta, chia rẽ quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Và,cái gọi là: “Tuyên bố 45 năm cuộc chiến tranh tự vệ chống xâm lược Trung Quốc (17 tháng 2 năm 1979)” của Mạc Văn Trang cũng chẳng lừa bịp được ai, phải bị lên án và đấu tranh, bác bỏ./.   

Feb 14, 2024

Lật tẩy trò phá hoại sự đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc của Hoàng Lan Mộc Châu

         Tre Việt - Vừa qua, trên internet, Hoàng Lan Mộc Châu đã đăng tải bài viết “Việt Nam loạn lạc vì không có nhân quyền, tôn giáo bị tha hóa, và quan lại hủ bại”. Trong bài viết, Y vu cáo chính sách của Nhà nước Việt Nam là “triệt hạ, chia rẽ và phá hoại tôn giáo từ ngay nội bộ”. Đặc biệt, y bịa đặt “từ khi nắm quyền, các tôn giáo là đối tượng hàng đầu để Đảng Cộng sản triệt hạ. Hàng loạt cơ sở tôn giáo bị phá hủy, tịch thu, hàng loạt tu sĩ bị cầm tù, bị giết hại”. Đây là âm mưu hết sức thâm độc của Hoàng Lan Mộc Châu, hòng kích động, chia rẽ, phá hoại sự đoàn kết giữa các tôn giáo, đoàn kết toàn dân tộc. Do vậy, phải vạch trần, đấu tranh bác bỏ.


Cần khẳng định rõ: quan điểm nhất quán, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam là luôn quan tâm, bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo của nhân dân. Điều này được thể hiện trong các bản Hiến pháp, từ Hiến pháp năm 1946 cho đến bản Hiến pháp năm 2013. Việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân, được ghi tại Điều 16: và tại Khoản 1, 2, Điều 24, Hiến pháp năm 2013 khẳng định: Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào, các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo và được cụ thể hóa trong Luật Tín ngưỡng, tôn giáo (năm 2016). Đây là những cơ sở pháp lý cao nhất của Việt Nam trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân.

Trên thực tế, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu trong thực hiện quyền con người, quyền công dân về tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Đời sống tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng phong phú; số lượng chức sắc, tín đồ, cơ sở thờ tự ngày càng tăng, quan hệ quốc tế ngày càng mở rộng; nhờ đó, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân ngày càng được đảm bảo tốt hơn. Nếu năm 2003 cả nước có 15 tổ chức, 06 tôn giáo, 17 triệu tín đồ với khoảng 20.000 cơ sở thờ tự, 34.000 chức sắc, 78.000 chức việc; thì năm 2022 Nhà nước đã công nhận 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo khác nhau, với 26,7 triệu tín đồ, 55.000 chức sắc, 135.000 chức việc, trên 29.000 cơ sở thờ tự, v.v. Nhiều lễ hội lớn trong các tôn giáo được tổ chức, thu hút hàng vạn tín đồ nhân dân tham dự. Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; các hoạt động thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm; xây dựng, sửa chữa, chỉnh trang cơ sở thờ tự,... của các tôn giáo cũng được thực hiện thuận lợi theo đúng quy định của pháp luật. Việc in ấn, xuất bản, dịch thuật một khối lượng lớn kinh sách, đồ dùng việc đạo được các tôn giáo đẩy mạnh trong những năm qua. Cả nước có hơn 3.000 đầu ấn phẩm tôn giáo được xuất bản với hơn 10 triệu bản in và hàng triệu đĩa CD, DVD bằng nhiều ngôn ngữ, 12 báo, tạp chí liên quan đến tôn giáo; phần lớn các tổ chức tôn giáo đều có website riêng.

Cùng với đó, các chức sắc, chức việc, nhà tu hành tôn giáo có quyền tham gia quản lý nhà nước và xã hội, được ứng cử vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp như mọi công dân khác theo quy định của pháp luật. Riêng Quốc hội khóa XV có 05 đại biểu là chức sắc, nhà tu hành tôn giáo: 04 đại biểu Phật giáo, 01 đại biểu Công giáo; hiện có trên 10 nghìn chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo là đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026.

Như vậy, trên cả phương diện chính sách, pháp luật cũng như thực tiễn về bảo đảm thực thi quyền tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam đã chứng minh rõ rằng: quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mỗi công dân Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo vệ, cá nhân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hoặc không theo một tôn giáo nào, không một ai có quyền xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo, hoặc lợi dụng tín ngưỡng tôn giáo để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quốc gia, dân tộc, lợi ích cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác. Đồng thời, nó là minh chứng bác bỏ mọi xuyên tạc về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam của Hoàng Lan Mộc Châu./. 

 

Feb 7, 2024

Luận điệu lạc lõng của Nguyễn Gia Kiểng

           Tre Việt - Vẫn giọng điệu cũ, mới đây Nguyễn Gia Kiểng, cựu quan chức Việt Nam Cộng hòa, thành viên sáng lập ra Tập hợp Dân chủ Đa nguyên lại đăng bài viết “Tập Hợp Dân Chủ Đa Nguyên bước vào tuổi 42”, tán phát rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động. Trong bài viết Nguyễn Gia Kiểng lớn tiếng kêu gọi tranh đấu vì một tương lai khác cho đất nước, để thiết lập chế độ dân chủ đa nguyên. Mục đích của chúng vẫn là phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và hướng lái con đường phát triển của Việt Nam theo hướng đa nguyên, đa đảng.

Cần khẳng định ngay rằng: đây là luận điệu lạc lõng, phản khoa học, cổ súy cho việc thực hiện chế độ đa nguyên ở Việt Nam, muốn hướng lái con đường phát triển của đất nước và phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Thực tiễn lịch sử đã minh chứng: sự lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định bảo đảm sự thành công của cách mạng Việt Nam. Đó là sự thật hiển nhiên, được nhân dân Việt Nam và bạn bè quốc tế thừa nhận!

Ngược thời gian, chúng ta thấy lịch sử cách mạng Việt Nam không phải ngay từ ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam đã tuyên bố giành độc quyền lãnh đạo. Cùng vào thời điểm đó, Việt Nam cũng từng tồn tại nhiều đảng phái, theo những hệ tư tưởng khác nhau. Tuy nhiên, đứng trước vận mệnh dân tộc, những đòi hỏi của phong trào đấu tranh cách mạng, các đảng phái khác đã tỏ rõ sự yếu kém, từng bước thui chột, từ bỏ quyền lãnh đạo, thậm chí còn quay sang phản bội nhân dân. Lịch sử đấu tranh cách mạng của dân tộc đã tạo nên “màng lọc” khắt khe, để rồi có một sự lựa chọn duy nhất đúng đắn về lực lượng lãnh đạo – đó là Đảng Cộng sản Việt Nam. Thử hỏi, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam không kiên quyết, chủ động, sáng tạo chớp thời cơ thì sao có Cách mạng tháng Tám 1945 “long trời, nở đất”, giải thoát ách nô lệ hàng trăm năm cho dân tộc? Nếu, Đảng không nêu cao quyết tâm “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” để làm nên Đại thắng mùa Xuân (30/4/1975) thì sao có ngày thống nhất đất nước, non sông thu về một mối? Và, nếu Đảng không tìm tòi, sáng tạo, dám làm, dám chịu trách nhiệm thì sao có công cuộc đổi mới, để Việt Nam có cơ đồ, tiềm lực, vị thế quốc tế chưa từng có như ngày hôm nay? Đó là sự vĩ đại của Đảng Cộng sản Việt Nam được thể hiện rõ nét trong những “khúc quanh” của lịch sử. Sự thật này đã tạc vào lịch sử dân tộc, không một thế lực nào có thể xuyên tạc, bôi lem được!

Và, như một lẽ tự nhiên, Nhân dân Việt Nam tự hào gọi tên “Đảng ta”, luôn tin, tự nguyện đi theo sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam - một Đảng không có quyền lợi, mục tiêu nào khác: tất cả vì độc lập dân tộc, vì hạnh phúc của Nhân dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

Hiện nay, đa nguyên, đa đảng vẫn tồn tại trên khắp thế giới, nhưng nó không phải sự lựa chọn của Việt Nam. Nhân dân Việt Nam tin tưởng vào sự lựa chọn của mình, tin tưởng vào sự lãnh đạo của một chính Đảng duy nhất – Đảng Cộng sản Việt Nam. Thực tế đó không luận điệu xảo trá nào có thể xuyên tạc được. Lịch sử cách mạng nước ta vẫn vững bước dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và cuốn trôi luận điệu xuyên tạc lạc lõng của Nguyễn Gia Kiểng và những kẻ cùng hội, cùng thuyền với y./.

 

Jan 29, 2024

Civicus lại lợi dụng quyền tự do, dân chủ để “diễn trò”

           Tre Việt - Vừa qua, trên trang “voatiengviet” đã đăng bài viết: “CIVICUS (Liên minh toàn cầu vì sự tham gia của công dân): Quyền tự do dân chủ ở Việt Nam “bị đóng kín’ trong năm 2023” với nhận định xuyên tạc về quyền tự do tiếp cận thông tin ở Việt Nam cũng như những nỗ lực của Nhà nước Việt Nam nhằm bảo vệ quyền tự do thông tin của nhân dân, cho rằng: “Tại Việt Nam, hàng trăm trang web đã bị chặn và chính quyền đã gây áp lực lên các nền tảng truyền thông xã hội để tăng cường kiểm duyệt các bài đăng “chống nhà nước”. Đây lại là trò “mượn cớ” quyền tự do, dân chủ để chống phá Việt Nam của cái gọi là nhân danh “tổ chức CIVICUS”.

(Ảnh: sưu tầm trên nhanvanviet.com)

Xin nhắc để “CIVICUS” và các “nhà dân chủ” rõ: Khoản 2, Điều 29 Tuyên ngôn Quốc tế nhân quyền năm 1948 nêu rõ: “Trong khi hành xử những quyền tự do của mình, ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng, những đòi hỏi chính đáng về đạo lý, trật tự công cộng và an lạc chung trong một xã hội dân chủ cũng được thỏa mãn”. Trên thế giới, các quốc gia tuy có cách tiếp cận không giống nhau về quyền tự do dân chủ; nhất là quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đều có một nguyên tắc cơ bản là việc thực thi quyền tự do dân chủ, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí phải phù hợp với tình hình, điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ dân trí, thể chế chính trị của mỗi nước và không được phép lợi dụng quyền cơ bản này để xâm hại lợi ích quốc gia-dân tộc, làm phương hại danh dự, nhân phẩm người khác và ảnh hưởng tiêu cực đến đạo đức cộng đồng, trật tự xã hội. Điều 11, Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền năm 1789 của nước Pháp đã quy định: “… bất kỳ công dân nào cũng có thể nói, viết và công bố tự do; tuy nhiên, họ sẽ chịu trách nhiệm nếu lạm dụng quyền tự do này theo quy định của pháp luật”. Nước Mỹ tuy không ban hành luật riêng về báo chí, nhưng có nhiều điều luật khác của quốc hội, quy định có tính pháp lý của tòa án cũng đưa ra những giới hạn nhất định đối với báo chí, đối với quyền và trách nhiệm của công dân liên quan đến báo chí nhằm tránh xâm hại đến an ninh quốc gia. Thực tiễn trên cho thấy, mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định. Giới hạn này đặt ra để bảo đảm quyền tự do chính đáng cho số đông mọi người, chứ không phải cho một nhóm ít người nào đó nói năng bừa bãi, phát ngôn bạt mạng, thích gì viết đấy, nói và viết chỉ vì động cơ cá nhân ích kỷ, thiên vị mà không vì sự ổn định, đồng thuận chung của xã hội, cộng đồng. Như vậy, khi được hưởng quyền, thì đồng thời phải thực hiện nghĩa vụ của mình trong thực hiện quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận. Và có thể khẳng định rằng: không thể có tự do ngôn luận, tự do báo chí “vô chính phủ”, đi ngược lại lợi ích quốc gia, dân tộc. Điều này là một lẽ hiển nhiên không riêng ở Việt Nam.

Là quốc gia thành viên có trách nhiệm của Liên hợp quốc, Việt Nam đã sớm tham gia, ký kết các điều ước quốc tế về bảo đảm các quyền cơ bản của con người và quyền công dân, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam. Tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí được thực hiện trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; thông tin được cung cấp phải chính xác, đầy đủ; việc cung cấp thông tin phải kịp thời, minh bạch, thuận lợi cho công dân; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin. Điều 10 của luật này cũng quy định công dân có quyền tự do tiếp cận thông tin được cơ quan nhà nước công khai, đồng thời được yêu cầu cơ quan nhà nước cung cấp thông tin. Về quyền tự do ngôn luận trên báo chí của công dân được quy định tại Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 với ba nội dung cụ thể, gồm: (1). Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; (2). Tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; (3). Góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân. Và, Điều 13 luật này nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình; báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”. Điều này cho thấy: về mặt pháp lý, quyền tự do dân chủ nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin nói riêng của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.

Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định việc bảo đảm, thực thi quyền tự do dân chủ nói chung, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí nói riêng ở Việt Nam là một trong những giải pháp quan trọng để khơi dậy, phát huy ý chí, nguyện vọng, trí tuệ, sức mạnh tinh thần của mọi tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Mặt khác, trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam luôn có tinh thần cầu thị, tích cực tiếp thu, học hỏi, tham khảo những kinh nghiệm tiến bộ của các quốc gia khác để thực hiện ngày càng tốt hơn quyền tự do dân chủ, tự do ngôn luận, tự do báo chí cho đại đa số người dân.

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới, trong đó có Việt Nam đang phải đối mặt với vấn nạn tin giả tràn lan trên mạng xã hội. Phần lớn những tin giả này xuất phát từ những người lợi dụng tự do ngôn luận để lan truyền thông tin sai trái, thất thiệt, tác động tiêu cực đến dư luận xã hội và an ninh truyền thông. Do đó, ngăn chặn, xử lý những đối tượng gây ra nạn “hoang tin” trên mạng xã hội chính là góp phần bảo đảm sự trong sạch của môi trường thông tin, qua đó góp phần giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Như vậy, nhận định CIVICUS mà đài VOA đăng tải là nhận định hoàn toàn sai trái sặc mùi phản động, cố tình xuyên tạc sự thật, nói xấu chế độ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam đang ra sức xây dựng. Chúng ta cần nêu cao cảnh giác và đấu tranh kiên quyết với những nhận định sai trái nêu trên./.

 

Jan 22, 2024

Ủy ban Bảo vệ ký giả lại “đánh tráo khái niệm”

           Tre Việt - Ngày 20/1, Đài VOA tiếng Việt đăng bài: “CPJ: Việt Nam lọt vào tốp 5 quốc gia bỏ tù nhà báo nhiều nhất trên thế giới”. Theo bài viết, Ủy ban Bảo vệ ký giả (CPJ) cho biết có tới 19 nhà báo ở Việt Nam đã bị bỏ tù tính đến cuối năm 2023 vì công việc của họ. Báo cáo gọi đây là xu hướng đáng lo ngại nhằm dập tắt những tiếng nói độc lập. Đây là sự xuyên tạc về tình hình tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam.

Nhận thức rõ vai trò, tầm quan trọng của báo chí, tuyên truyền đối với công cuộc xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc, những năm qua, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn coi trọng tự do báo chí, tạo điều kiện cho báo chí phát triển, đồng hành cùng dân tộc. Về mặt pháp luật, Điều 25 của Hiến pháp 2013 ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp,... Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Cùng với đó, Việt Nam đã ban hành Luật Báo chí năm 2016 và các nghị định, thông tư, văn bản hướng dẫn thi hành,... tạo hành lang pháp lý đầy đủ để báo chí phát triển, hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam và có sự phát triển vượt bậc. Theo số liệu của Bộ Thông tin và Truyền thông, hiện nay, Việt Nam có 808 cơ quan báo chí, bao gồm 138 báo và 670 tạp chí; trong đó, có 06 cơ quan truyền thông đa phương tiện chủ lực gồm: Báo Nhân Dân, Báo Quân đội nhân dân, Báo Công an nhân dân, Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam, Đài Tiếng nói Việt Nam. Số lượng nhân lực làm việc trong lĩnh vực báo chí là hơn 42.400 người.

Trên thực tế, báo chí đã tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước đến với đông đảo các tầng lớp nhân dân, tham gia phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, đối ngoại; củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh; tuyên truyền nhân rộng những mô hình, tấm gương điển hình, cách làm hay, sáng tạo trong cộng đồng, xã hội, góp phần lan tỏa những giá trị tốt đẹp, v.v. Đặc biệt, báo chí đã phát huy tốt vai trò là kênh giám sát, phản biện xã hội, giúp Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp có những điều chỉnh, bổ sung chủ trương, đường lối, chính sách để theo kịp sự phát triển của thực tiễn; tháo gỡ, giải quyết kịp thời những vướng mắc, bất cập, bất hợp lý mà xã hội đặt ra.

Có thể thấy rằng đời sống báo chí ở Việt Nam là bức tranh vô cùng sinh động mà ở đó, mọi công dân được tự do ngôn luận, tự do báo chí, được bày tỏ ý kiến của mình,... nhằm xây dựng, phát triển xã hội, đất nước ngày càng dân chủ, phồn vinh, hạnh phúc.

Tuy nhiên, cũng như các quốc gia trên thế giới, ở Việt Nam cũng có những công dân không biết đủ, luôn đòi hỏi sự tự do, dân chủ vô chính phủ, tự do tùy tiện, đứng ngoài pháp luật. Họ là những “con sâu làm rầu nồi canh”. Đơn cử, như 05 thành viên của nhóm “Báo Sạch” nhưng họ lại “không sạch” khi đã phạm tội: “Lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Cơ quan điều tra đã xác định, họ đã làm, đăng tải hàng chục bài viết, video clip có tư tưởng phản động, đi sâu khai thác những thông tin có nội dung không phù hợp với lợi ích đất nước; xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân. Trong đó, nhiều bài viết quy chụp, suy diễn một chiều nhằm tuyên truyền, xuyên tạc, vu khống, xúc phạm các cá nhân là lãnh đạo các cơ quan, tổ chức. Hành vi của họ đã xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, ảnh hưởng đến vai trò quản lý đất nước, quản lý nhà nước tại các địa phương, gây hoang mang, nghi ngờ, làm mất ổn định trong xã hội. Như vậy chắc chắn rằng, không riêng ở Việt Nam mà ở bất kỳ quốc gia nào, những con người đó đều sẽ bị xét xử theo pháp luật nước sở tại là điều không có gì phải bàn cãi.

Thế nhưng, CPJ lại cố tình “đánh tráo khái niệm”, lên tiếng bảo vệ những con người sai trái, dựa vào đó để đánh giá sai lệch về tình hình báo chí ở Việt Nam. Vậy phải chăng những người cầm đầu CPJ đang cố tình bao biện, bảo vệ cái sai, đi ngược lại đạo đức người làm báo và chính tôn chỉ, mục đích mà họ đề ra./.

 

Jan 17, 2024

Phê phán sự lộng ngôn, xấc xược của Trần Quốc Quân

            Tre Việt – Ngày 15/01, trang facebook Việt Tân đăng status: Việt Nam là quốc gia từng nhiều lần đứng đầu châu Á, và thế giới về “chỉ số hạnh phúc” của Trần Quốc Quân, trong status này, họ xuyên tạc: hình như “chỉ số hạnh phúc” hoàn toàn ngược lại với tiêu chí “nơi đáng sống”... không biết đứa nào nghĩ ra cái “chỉ số hạnh phúc” chết tiệt để dân Việt Nam tao phải sống ảo!.

Cần khẳng định ngay rằng: đây là giọng điệu xuyên tạc lộng ngôn rất xấc xược của Trần Quốc Quân, nhằm bôi nhọ, hạ thấp hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, cần phải đấu tranh bác bỏ.

Tre Việt xin nêu một số thông tin thực tiễn để “vả vào mồm” kẻ nói xằng bậy Trần Quốc Quân. Về chỉ số hạnh phúc hành tinh được chọn lọc từ các quốc gia, các tổ chức quốc tế và các số liệu do Tổ chức nghiên cứu kinh tế xã hội New Economics Foundation (NEF) có trụ sở chính tại Vương quốc Anh điều tra, công bố, thì từ bảng xếp hạng năm 2006, Việt Nam đứng ở vị trí số 12 trên thế giới – cao nhất châu Á. Còn, kết quả xếp hạng trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới được biên soạn hàng năm bởi cơ quan Mạng lưới Giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố, Việt Nam nhiều lần đạt chuẩn quốc gia hạnh phúc. Năm 2019, Việt Nam đứng thứ 94 trong bảng xếp hạng và lần đầu tiên lọt vào top 10 quốc gia tốt nhất cho những người nước ngoài sống và làm việc, theo báo cáo HSBC Expat 2019 được HSBC công bố. Đến năm 2021, đã tăng hạng từ thứ 83 lên 79. Mới đây, đúng vào Ngày Quốc tế hạnh phúc (20/3/2023), Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên hợp quốc công bố Báo cáo Hạnh phúc toàn cầu lần thứ 10 về mức độ hạnh phúc của hơn 150 quốc gia, vùng lãnh thổ (dựa trên đánh giá trung bình từ năm 2020 đến năm 2022), Việt Nam đứng thứ 65/150, tăng 12 bậc so với năm 2020. Đánh giá trên cho thấy, chỉ số hạnh phúc của người dân Việt Nam những năm gần đây được nâng lên đáng kể. Năm 2022, tạp chí kinh doanh, thương mại hàng đầu thế giới CEOWORLD (Mỹ) công bố báo cáo xếp hạng chỉ số “chất lượng sống” của 165 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, thì chỉ số “chất lượng sống” của Việt Nam đạt 78,49 điểm, xếp vị trí 62/165 (tăng 39 bậc so với năm 2021). Đặc biệt, theo khảo sát Expat Insider mới nhất của InterNations, Việt Nam nằm trong tốp 10 quốc gia và vùng lãnh thổ mà người nước ngoài cảm thấy hạnh phúc khi sống, làm việc. Theo InterNations: 86% người nước ngoài sống ở Việt Nam tham gia khảo sát hài lòng với công việc của họ ở Việt Nam; 78% hài lòng với sự cân bằng giữa công việc và cuộc sống; 85% hài lòng với chi phí sinh hoạt; 57% hài lòng với chất lượng chăm sóc y tế; 67% nói rằng dễ dàng khi sống ở Việt Nam.

Việt Nam cũng được đánh giá cao về dịch vụ công, đến năm 2022 đã có 92% dân số đã tham gia bảo hiểm y tế. Tuổi thọ trung bình của người dân tăng từ 62 tuổi (năm 1990) lên 73,7 tuổi (năm 2020). Theo Báo cáo cập nhật tháng 4/2021 của Ngân hàng Thế giới tại Việt Nam: chỉ số bao phủ chăm sóc sức khỏe toàn dân của Việt Nam là 73 - cao hơn mức trung bình của khu vực và thế giới. Việt Nam đã hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học (năm 2000) và trung học cơ sở (năm 2010. Đời sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp nhân dân được cải thiện đáng kể; sinh hoạt văn hóa phát triển phong phú, đa dạng. Theo kết quả Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019, tiện nghi sinh hoạt của hộ dân cư đã được cải thiện với 91,9% hộ có sử dụng ti vi; 91,7% hộ có sử dụng điện thoại (cố định, di động) hoặc máy tính bảng; 30,7% hộ có sử dụng máy vi tính (gồm máy để bàn, laptop). Hiện nay, Việt Nam là một trong những nước có tốc độ phát triển công nghệ tin học cao nhất thế giới, có khoảng 70% dân số sử dụng internet. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 58% năm 1993 xuống còn 5,8% năm 2016 theo chuẩn nghèo của Chính phủ và dưới 03% năm 2020 theo chuẩn nghèo đa chiều (tiêu chí cao hơn trước); nhiều đối tượng, như: người cao tuổi, người nghèo và trẻ em dưới 06 tuổi,... được cấp bảo hiểm y tế miễn phí, v.v.

Kết quả đó không phải Việt Nam tự nhận, mà được bạn bè quốc tế ghi nhận, đánh giá cao. Bà Caitlin Wiesen - Trưởng Đại diện thường trú Chương trình Phát triển của Liên hợp quốc (UNDP) tại Việt Nam, ca ngợi: Việt Nam đạt được mức phát triển con người cao là một thành tựu đáng ghi nhận và cũng tạo cơ hội cho sự phát triển tốt hơn và nhanh hơn trong giai đoạn tới. Ông Ousmane Dione - Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới (World Bank) tại Việt Nam thì nhận định: các chính sách kinh tế và xã hội của Việt Nam đã giúp đạt được những kết quả to lớn trong mục tiêu giảm nghèo và nâng cao chất lượng cuộc sống cho hàng triệu người.

Thực tiễn sinh động trên chính là minh chứng khẳng định: đất nước, con người Việt Nam đang rất hạnh phúc. Đồng thời, tự nó bác bỏ sự xuyên tạc lộng ngôn, xấc xược của Trần Quốc Quân về đất nước, con người Việt Nam./.