Nov 11, 2024

Phản bác luận điệu xuyên tạc, kích động của Việt Tân

        Tre Việt – Ngày 10/11, trang facebook Việt Tân có status: “Từ xưa đến giờ, tất cả các quốc gia tây phương là vậy. Ngoại trừ những quốc gia độc tài”, xuyên tạc, kích động rằng: “Quân đội chỉ trung thành với Tổ quốc, bảo vệ Tổ quốc; chứ không trung thành, bảo vệ bất cứ đảng phải, tổ chức nào”.

Đây là luận điệu xuyên tạc nhằm phủ nhận bản chất, truyền thống “Bộ đội Cụ Hồ”, nhất là sự trung thành tuyệt đối của Quân đội ta với Đảng, Nhà nước và Nhân dân. Chúng không những xuyên tạc phẩm chất trung thành của Quân đội, mà còn tách rời, đối lập một cách vô lối các nội dung trong phẩm chất trung thành của Quân đội và các mối quan hệ của Quân đội với Đảng, Tổ quốc, dân tộc và nhân dân. Với thủ đoạn đó, Việt Tân đã khéo léo che giấu mưu đồ nhằm loại bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đối với Quân đội, xóa nhòa bản chất chính trị - giai cấp của Quân đội, tiến tới làm biến chất Quân đội ta; làm cho Quân đội mất phương hướng và mục tiêu chiến đấu; sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội bị vô hiệu hóa, Đảng không thể nắm được, không thể “điều khiển” được Quân đội, đặc biệt trong những tình huống phức tạp; làm cho Quân đội ngả theo các thế lực phản cách mạng, chống lại Đảng và chế độ.

Cần khẳng định rõ: Đảng Cộng sản Việt Nam là người tổ chức, lãnh đạo Quân đội và Quân đội phục tùng sự lãnh đạo của Đảng là hai mệnh đề song hành ngay từ khi mới thành lập đến nay suốt gần tám thập kỷ xây dựng, trưởng thành và chiến thắng của Quân đội ta. Mục tiêu lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, mục tiêu, nhiệm vụ của cách mạng, của dân tộc cũng là mục tiêu lý tưởng chiến đấu của Quân đội ta. Nói cách khác, Quân đội ta chiến đấu là nhằm thực hiện thắng lợi mục tiêu, lý tưởng của Đảng, của giai cấp công nhân, của dân tộc và nhân dân Việt Nam, thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể của cách mạng, của dân tộc trong từng giai đoạn. Đó là sự biểu hiện sâu sắc bản chất giai cấp công nhân, tính nhân dân, tính dân tộc của Quân đội ta, một tổ chức quân sự kiểu mới của giai cấp công nhân và nhân dân Việt Nam.

Lịch sử đã chứng minh, Quân đội ta không chỉ là công cụ, lực lượng chính trị tin cậy, trung thành của Đảng, Nhà nước mà còn là của nhân dân, của dân tộc, chiến đấu cho lý tưởng giải phóng dân tộc, giải phóng hoàn toàn và triệt để quần chúng nhân dân lao động, phấn đấu không mệt mỏi cho mục tiêu, lý tưởng của Đảng và cũng là vì độc lập, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Quân đội ta sẵn sàng hy sinh phục vụ lợi ích của dân tộc, của giai cấp và của nhân dân Việt Nam; bảo vệ độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, bảo vệ Đảng, Nhà nước và bảo vệ nhân dân, bảo vệ lợi ích và cuộc sống an bình của nhân dân.

Quân đội nhân dân Việt Nam là của dân tộc, của nhân dân Việt Nam, đồng thời là của giai cấp công nhân Việt Nam, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo. Việc từ bỏ nội dung phẩm chất trung thành với Đảng, tách vấn đề trung thành với Đảng và trung thành với nhân dân, với dân tộc là không thể chấp nhận được vì nó không đúng với bản chất chính trị - xã hội của Quân đội nhân dân Việt Nam. Đó là thủ đoạn hết sức nham hiểm, cố tình xuyên tạc, bóp méo sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, cũng như thực tiễn mối quan hệ giữa Quân đội với Đảng, với Tổ quốc, với dân tộc và nhân dân, nhằm thủ tiêu sự lãnh đạo của Đảng đối với Quân đội, chống phá cách mạng Việt Nam. Luận điệu xuyên tạc này chẳng lừa bịp được ai, cần bị vạch mặt, lên án, đấu tranh, bác bỏ./.

 

 

Vạch mặt mưu đồ của những kẻ “gia cát dự”

          Tre Việt - Như đã biết, tại Hội nghị lần thứ mười (khóa XIII), Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã thống nhất chủ trương đầu tư Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam và hiện Báo cáo nghiên cứu tiền khả thi đang được Bộ Giao thông vận tải hoàn tất, chuẩn bị trình tự, hồ sơ thủ tục để trình Quốc hội xem xét cho ý kiến tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội khóa XV. Những vấn đề này đều được đưa tin trên các phương tiện thông tin đại chúng. Song, lợi dụng vấn đề này, một số kẻ thi nhau trổ tài “gia cát dự”; trong đó đáng chú ý, chúng cho rằng: “nếu giao toàn bộ việc thiết kế và xây dựng đường sắt Bắc Nam cho Trung Quốc, thì đó là trao “nỏ thần” cho “đối tượng”. Đây là luận điệu sai trái, xuyên tạc mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước ta.

          Cần khẳng định rõ: Dự án đường sắt cao tốc Bắc-Nam đã được bắt đầu nghiên cứu từ năm 2006, đến năm 2010 được trình ra Quốc hội, nhưng Quốc hội chưa quyết định. Đến nay là 14 năm (kể từ khi được nghiên cứu, đề xuất), chúng ta đã có đầy đủ các yếu tố để triển khai Dự án quan trọng này. Bởi, thực tiễn đất nước và trên thế giới cho thấy, sự phát triển của giao thông vận tải đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. Để đáp ứng nhu cầu đi lại và vận chuyển hàng hóa bằng đường sắt giữa hai miền Bắc, Nam, việc xây dựng đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam là rất cần thiết, góp phần rút ngắn thời gian di chuyển giữa Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; giảm tải hệ thống giao thông đường bộ vốn đang quá tải hiện nay; thúc đẩy phát triển kinh tế các vùng, tạo cơ hội cho các địa phương thu hút đầu tư, du lịch; tăng cường kết nối và hội nhập về kinh tế – xã hội giữa các vùng miền đất nước; từng bước hiện đại hóa cơ sở hạ tầng giao thông quốc gia, tạo tiền đề cho phát triển bền vững.

          Đây là Dự án có ý nghĩa rất quan trọng đối với phát triển đất nước, nhưng còn phải chờ Quốc hội đánh giá, quyết định. Yêu cầu đặt ra, cần chú ý đến khâu tổ chức thực hiện, lựa chọn nhà thầu và giám sát của các cơ quan liên quan. Và, các nhà thầu có năng lực thực sự và đủ uy tín đều được tham gia đấu thầu thực hiện dự án trong đó có các doanh nghiệp trong nước và các doanh nghiệp nước ngoài. Được biết, cho đến hiện nay, vẫn chưa có bất kỳ thỏa thuận hay quyết định nào liên quan đến việc lựa chọn nhà thầu. Vì vậy việc: chỉ vì có thông tin nhà thầu Trung Quốc muốn tham gia đầu tư vào Dự án này mà các nhà “gia cát dự” đã thi nhau nổ, vội vàng phản đối và xuyên tạc rằng: “nếu giao toàn bộ việc thiết kế và xây dựng đường sắt Bắc Nam cho Trung Quốc, thì đó là trao “nỏ thần” cho “đối tượng” là không đúng sự thật. Tre Việt xin nêu một ví dụ để các nhà “gia cát dự” biết: Dự án này có rất nhiều nước quan tâm theo dõi và mong muốn tham gia đấu thầu xây dựng. Gần đây nhất, sáng 9/11/2024, tại lễ vận hành thương mại đoạn trên cao tuyến đường sắt đô thị số 3 Nhổn - ga Hà Nội đã diễn ra tại ga S8 (ga Cầu Giấy), với sự tham dự của lãnh đạo Hà Nội cùng một số bộ, ngành. Bên lề buổi lễ, Đại sứ Pháp tại Việt Nam Olivier Brochet nhận được nhiều câu hỏi từ báo chí về sự quan tâm của Pháp đối với Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam. Trả lời về vấn đề này, ông Brochet nhắc lại việc trong chuyến thăm Pháp gần đây của Tổng Bí thư Tô Lâm, Việt Nam và Pháp đã trở thành Đối tác chiến lược toàn diện. Trong đó, vấn đề phát triển bền vững, bao gồm phát triển giao thông bền vững, là một trong những ưu tiên. Chúng tôi đặc biệt quan tâm, theo dõi rất sát sao Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam mà Quốc hội Việt Nam đang xem xét về chủ trương đầu tư. Trên cơ sở quyết định đó, chúng tôi sẽ xem xét Pháp có thể đáp ứng theo cách tốt nhất như thế nào cho Dự án.

          Như vậy, việc các nhà “gia cát dự” đưa ra luận điệu: “nếu giao toàn bộ việc thiết kế và xây dựng đường sắt Bắc Nam cho Trung Quốc, thì đó là trao “nỏ thần” cho “đối tượng” là sự hồ đồ, quy chụp. Rõ ràng, đây là luận điệu sai trái, hòng kích động mọi người hình thành tâm lý bài xích Trung Quốc, chia rẽ mối quan hệ Việt Nam – Trung Quốc; đồng thời phá hoại các dự án phát triển kinh tế – xã hội của đất nước; gây nghi kỵ, mâu thuẫn giữa nhân dân với Đảng và Nhà nước. Vì thế, chúng ta cần nêu cao tinh thần cảnh giác, tỉnh táo, sàng lọc thông tin và tích cực đấu tranh với các luận điệu sai trái này./.

Nov 8, 2024

Liên Xô tan rã và luận điệu do Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm của lịch sử”

             Bài 2: Những điều căn cốt, thời sự

Như đã luận giải ở bài viết trước, trong các nguyên nhân khách quan và chủ quan dẫn tới sự sụp đổ của Liên Xô thì xét đến cùng là do nguyên nhân chủ quan quyết định. Sự sụp đổ đó là của mô hình cụ thể, chứ tuyệt nhiên không phải sự sụp đổ hay cáo chung của chủ nghĩa xã hội (CNXH) như thế lực thù địch, phản động thường xuyên tạc. Nhận diện đầy đủ và đúng bản chất vấn đề này là những điều có ý nghĩa căn cốt và thời sự với sự nghiệp đổi mới, xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng của Việt Nam hiện nay.

Lễ mít tinh kỷ niệm 106 năm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại
 tại Quảng trường Đỏ ở thủ đô Moskva (Ngày 07/11/2023). Ảnh: nhandan.vn

Trong bài viết với tiêu đề “Vì sao Đảng Cộng sản Liên Xô tan rã?” đăng trên Tạp chí Cộng sản năm 1992, GS, TS Nguyễn Phú Trọng (từ năm 2011 đến tháng 7-2024 là Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam) đã chỉ ra nguyên nhân có ý nghĩa quyết định làm tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô là quá trình “vận động” của chính đảng này. Về sau, Đảng ta khái quát quá trình “vận động” này và gọi đó là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” được thể hiện trên nhiều bình diện.

Theo GS, TS Nguyễn Phú Trọng, có 3 biểu hiện của sự “vận động” đó. Một là, không xác lập đúng đắn vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Hai là, phủ nhận Chủ nghĩa Mác-Lênin là nền tảng tư tưởng của Đảng. Ba là, coi nhẹ hoặc phủ nhận nguyên tắc tập trung dân chủ là nguyên tắc tổ chức cơ bản của Đảng Cộng sản. Bốn là, xa rời quần chúng, mất uy tín nghiêm trọng trước nhân dân, không được nhân dân ủng hộ. Năm là, từ bỏ chủ nghĩa quốc tế của giai cấp công nhân, thổi lên ngọn lửa kỳ thị dân tộc, dân tộc hẹp hòi.

Từ thực tiễn và lý luận cơ bản được Đảng ta tổng kết trong nhiều văn kiện, chúng ta có thể rút ra những bài học lớn với Việt Nam từ quá trình “tự diễn biến” trong nội bộ Đảng Cộng sản Liên Xô dẫn tới hậu quả tan rã Liên bang Xô viết-cường quốc xã hội chủ nghĩa (XHCN) đầu tiên trên thế giới, như sau:

Thứ nhất, Liên Xô tan rã không phải do Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm của lịch sử”. Từ khẳng định này, Đảng ta kiên định và quyết tâm đưa Việt Nam tiếp tục phát triển đi lên CNXH trên nền tảng Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. 

Với quyết tâm chính trị đó, Đại hội lần thứ VI (1986) của Đảng ta đã thông qua đường lối đổi mới đất nước. Tiếp đến, Đại hội lần thứ VII (1991) thông qua Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH, thể hiện lập trường kiên định của Đảng ta về mục tiêu và định hướng phát triển đi lên CNXH ở Việt Nam. Đường lối đổi mới của Đảng ta được thông qua tại Đại hội lần thứ VI trên cơ sở kế thừa sáng tạo Chính sách kinh tế mới của V.I.Lenin với nội dung cốt lõi là phát triển nền kinh tế nhiều thành phần theo cơ chế kinh tế thị trường định hướng XHCN. Thành công của gần 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Việt Nam kể từ Đại hội lần thứ VI của Đảng chứng tỏ giá trị trường tồn của Cách mạng Tháng Mười, mở ra kỷ nguyên quá độ từ chủ nghĩa tư bản (CNTB) phát triển đi lên CNXH.

Thứ hai, không đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB. Ở Liên Xô, trong giai đoạn “cải tổ” đã đồng nhất việc áp dụng cơ chế kinh tế thị trường với việc xóa bỏ chế độ XHCN và vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản. Còn Đảng ta vận dụng chính sách kinh tế mới của V.I.Lenin để phát triển kinh tế thị trường nhằm giải phóng nguồn lực và phát triển sức sản xuất trong thời kỳ quá độ lên CNXH. Đảng ta cho rằng, việc áp dụng cơ chế kinh tế thị trường phải có chọn lọc trên quan điểm khoa học và phát triển, không đồng nhất kinh tế thị trường với CNTB. Trên cơ sở đó, Đảng ta đề ra chủ trương xây dựng ở Việt Nam nền kinh tế thị trường định hướng XHCN.

Ba là, giữ vững và phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng, coi đó là yếu tố có ý nghĩa quyết định thắng lợi của công cuộc đổi mới ở Việt Nam. Cương lĩnh của Đảng ta về xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH đã xác định rõ, sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố hàng đầu bảo đảm thắng lợi của cách mạng ở nước ta. Vai trò lãnh đạo của Đảng ta đối với cách mạng Việt Nam đã được xác định tại Điều 4, Hiến pháp năm 2013.

Bốn là, kiên quyết và kiên trì đấu tranh nhằm ngăn chặn các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, kết hợp với việc cảnh giác và làm thất bại âm mưu“diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Rút kinh nghiệm từ tác động phá hoại hết sức nguy hiểm của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch kết hợp với quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng ta đặc biệt chú ý đấu tranh ngăn chặn tình trạng tham nhũng, lãng phí, suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống đang diễn ra trong một bộ phận cán bộ, đảng viên.

Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa V trình tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã sớm cảnh báo hiện tượng tiêu cực trong xã hội phát triển, hành vi lộng quyền, tham nhũng của một số cán bộ và nhân viên nhà nước chưa bị trừng trị nghiêm khắc và kịp thời. Từ giữa nhiệm kỳ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VII, Đảng ta tiếp tục cảnh báo tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát triển, là hiểm họa đe dọa sự tồn vong của Đảng và chế độ XHCN. Với quyết tâm chính trị cao và các giải pháp đồng bộ, Đảng ta đã bước đầu ngăn chặn được hiểm họa này.

Tổng kết thành tựu và kinh nghiệm 30 năm thực hiện đường lối đổi mới, ngày 30-10-2016, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng ký ban hành Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết đã chỉ rõ nguyên nhân, biểu hiện và biện pháp phòng, chống hiểm họa này. 

Trong số các nguyên nhân, Nghị quyết số 04-NQ/TW chỉ rõ nguyên nhân khách quan do tác động từ khủng hoảng của CNXH trên thế giới sau sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu; từ mặt trái của kinh tế thị trường; tác động tiêu cực từ toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế; những khó khăn, thách thức của các nước đi theo con đường XHCN trong bối cảnh quốc tế hiện nay; các thế lực thù địch, phản động đẩy mạnh thực hiện âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”.

Trong số các nguyên nhân chủ quan, Nghị quyết số 04-NQ/TW chỉ rõ tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị và đạo đức, lối sống ở một bộ phận cán bộ, đảng viên; công tác giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên về Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh chưa được coi trọng đúng mức, kém hiệu quả; một số nghị quyết về xây dựng, chỉnh đốn Đảng có nội dung chưa sát thực tiễn; một số cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, trong đó có cả cán bộ cấp cao thiếu tiên phong, gương mẫu; cơ chế kiểm soát quyền lực chậm được hoàn thiện, còn nhiều sơ hở; chậm ban hành quy định xử lý tổ chức, cá nhân có biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đánh giá, bố trí, sử dụng cán bộ còn nể nang, cục bộ; việc thực hiện kỷ cương, kỷ luật của Đảng chưa nghiêm; chưa chủ động và thiếu giải pháp phù hợp để định hướng thông tin trong bối cảnh hội nhập quốc tế sâu rộng; việc phát huy vai trò, trách nhiệm của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị-xã hội, các cơ quan truyền thông và nhân dân trong đấu tranh, ngăn chặn suy thoái, “tự diễn biến’, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên còn hạn chế, hiệu quả chưa cao.

Nghị quyết số 04-NQ/TW đã chỉ ra 9 biểu hiện suy thoái tư tưởng chính trị; 9 biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống và 9 biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nghị quyết xác định phải thực hiện nghiêm các yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng đã được đề ra tại Đại hội XII với 10 giải pháp cơ bản, trong đó nhấn mạnh phải kiên quyết, kiên trì tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI), với trọng tâm là đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ Đảng.

Đến nay, công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phòng, chống “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” đã đạt nhiều kết quả rất quan trọng, góp phần đưa đất nước bước vào thời kỳ phát triển mới với khát vọng xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng cùng những mục tiêu lớn lao vào thời điểm trọng đại kỷ niệm 100 năm thành lập Đảng (2030) và 100 năm thành lập nước (2045), xây dựng thành công nước Việt Nam XHCN, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Với thành tựu trong công cuộc đổi mới và từng bước đạt được các mục tiêu cao cả, Đảng ta đã tiếp tục khẳng định giá trị bất biến của Cách mạng Tháng Mười là mở đầu một thời đại mới trong lịch sử, thời đại quá độ từ CNTB lên CNXH trên toàn thế giới như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dự báo./.

(nguồn: https://www.qdnd.vn/)

 

Liên Xô tan rã và luận điệu do Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm của lịch sử”

            Bài 1: “Mặt trời chói lọi” và quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” của Đảng Cộng sản Liên Xô

Trong những năm “cải tổ” ở Liên Xô (1985-1991) lan truyền luận điệu Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm của lịch sử”, do đó cần xóa bỏ Đảng Cộng sản Liên Xô và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) để “sửa chữa sai lầm lịch sử” đó!?

Luận điệu này là một trong những biểu hiện tập trung của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” dẫn tới tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô và nhà nước XHCN đầu tiên trên thế giới. Tuy nhiên, thực tế lịch sử chứng minh Liên Xô tan rã không phải do Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm của lịch sử”.

Các thành viên Đảng Cộng sản Nga tại lễ kỷ niệm 100 năm
 Cách mạng Tháng 10 Nga ở thủ đô Moskva. (Ảnh: TTXVN) 

Nhân kỷ niệm 107 năm Ngày Cách mạng Tháng Mười Nga (7-11-1917 / 7-11-2024), chúng ta cùng nhìn lại vai trò, ý nghĩa lịch sử của cuộc cách mạng vĩ đại và nguyên nhân nội tại, có ý nghĩa quyết định dẫn tới sự tan rã Liên Xô, những bài học vẫn nguyên tính thời sự đối với sự nghiệp cách mạng của Việt Nam hiện nay.

Hơn 30 năm kể từ khi Liên Xô - cường quốc XHCN đầu tiên trên thế giới sụp đổ, đã có hàng nghìn công trình nghiên cứu, chuyên khảo, hồi ký, chuyên luận và điều tra đi tìm lời giải về thảm họa địa-chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20 này. Tựu trung trong nhiều nghiên cứu chỉ ra, một trong những nguyên nhân có ý nghĩa quyết định dẫn tới thảm họa này là quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong Đảng Cộng sản Liên Xô.

Cuộc cách mạng mở đầu một thời đại mới

Nói về ý nghĩa của Cách mạng Tháng Mười, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Giống như mặt trời chói lọi, Cách mạng Tháng Mười chiếu sáng khắp năm châu, thức tỉnh hàng triệu hàng triệu người bị áp bức, bóc lột trên trái đất. Trong lịch sử loài người chưa từng có cuộc cách mạng nào có ý nghĩa to lớn và sâu xa như thế”.

Không thể phủ nhận sự thật lịch sử là nhà nước Xô viết ra đời từ cuộc Cách mạng Tháng Mười đã đạt được những thành tựu kỳ vĩ trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội (CNXH) dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô. Sinh thời, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng từng khẳng định: “Đảng Cộng sản Liên Xô có lịch sử vô cùng oanh liệt và vẻ vang.

Được V.I.Lênin sáng lập và rèn luyện, Đảng đã từng là một trong những đảng mác-xít, lê-nin-nít hùng mạnh nhất và kiên cường nhất. Đảng đã từng lãnh đạo nhân dân làm nên Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại, đánh thắng chủ nghĩa phát xít trong Chiến tranh thế giới thứ hai, xây dựng những cơ sở vật chất - kỹ thuật quan trọng của CNXH, mở ra một giai đoạn phát triển mới trong lịch sử nhân loại. Đó thật sự là những công việc kinh thiên động địa, những sự tích thần kỳ, được cả loài người tiến bộ cảm phục và kính trọng”. 

Cách mạng Tháng Mười như một cơn địa chấn của thế kỷ 20, không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới đối với nước Nga mà còn cổ vũ mạnh mẽ phong trào cách mạng của giai cấp công nhân các nước, chỉ ra cho họ con đường đi tới thắng lợi trong cuộc đấu tranh chống lại chế độ cũ, xây dựng chế độ mới tốt đẹp hơn. Sau thắng lợi của Cách mạng Tháng Mười và tiếp đó là thắng lợi của nhân dân Liên Xô trong Chiến tranh thế giới thứ hai, CNXH từ một nước đã phát triển thành một hệ thống XHCN thế giới đầy sức sống và hùng mạnh, có vai trò to lớn và từng có tính chất quyết định đến vận mệnh, sự phát triển của thế giới.

Hệ thống XHCN, đứng đầu là Liên Xô đã có những giai đoạn phát triển rực rỡ, đã đoàn kết các dân tộc, mọi tầng lớp nhân dân chung tay xây dựng một xã hội tốt đẹp, bình đẳng, công bằng, mang lại hạnh phúc cho đông đảo nhân dân lao động. Nhờ ảnh hưởng của Cách mạng Tháng Mười và sự giúp đỡ, tác động của hệ thống XHCN thế giới, từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai đến những năm 70 của thế kỷ 20, hàng loạt dân tộc thuộc địa và lệ thuộc đã đứng lên giải phóng khỏi sự áp bức, bóc lột của chủ nghĩa đế quốc và chủ nghĩa thực dân.

Cho nên có thể nói, Cách mạng Tháng Mười Nga mang tầm ảnh hưởng quốc tế to lớn, tính thời đại sâu sắc, mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử phát triển của xã hội loài người. 

“Cải tổ 1.0, 2.0” và hành trình dẫn đến tan rã Liên Xô

Liên Xô sụp đổ là thảm họa địa-chính trị lớn nhất trong thế kỷ 20. Nhiều kẻ cơ hội, phản động được thể xuyên tạc những giá trị lịch sử của nhà nước xã hội đầu tiên trên thế giới được mở đầu bằng cuộc Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại. Từ việc coi Cách mạng Tháng Mười là “sai lầm của lịch sử”, họ phủ nhận những giá trị nhân văn, tốt đẹp của CNXH, đánh đồng sự sụp đổ của mô hình CNXH hiện thực ở Liên Xô, Đông Âu với sự thất bại của Chủ nghĩa Mác-Lênin và rêu rao cuộc cách mạng đó là “đẻ non”, “đã chết” và CNXH đã đến “hồi kết thúc”... Tuy nhiên, từ thực tiễn, chúng ta hoàn toàn có cơ sở để bác bỏ những luận điệu trên. Sự sụp đổ của Liên Xô và các nước XHCN ở Đông Âu là sụp đổ của mô hình cụ thể chứ không phải sụp đổ hay cáo chung của Chủ nghĩa Mác-Lênin, của CNXH như các thế lực thù địch, phản động thường rêu rao, xuyên tạc. Ở khía cạnh cụ thể trong phạm vi bài viết này, chúng tôi xin luận giải một số nguyên nhân nội tại của quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có ý nghĩa quyết định đẩy Đảng Cộng sản Liên Xô tới chỗ tan rã và cường quốc XHCN sụp đổ.

Sai lầm về đường lối chính trị

Ngay sau Cách mạng Tháng Mười, V.I.Lênin từng cảnh báo: “Giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền khó hơn”. Vì thế, V.I.Lênin luôn yêu cầu phải kiên quyết và kịp thời đấu tranh ngăn chặn mọi biểu hiện suy thoái về chính trị trong Đảng. Trong những năm dưới sự lãnh đạo của V.I.Lênin và J.Stalin, Đảng Cộng sản Liên Xô đã tiến hành hiệu quả cuộc đấu tranh này. Tuy nhiên, sau khi J.Stalin qua đời (1953), quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” về đường lối chính trị trong Đảng Cộng sản Liên Xô bắt đầu bộc lộ biểu hiện rất nguy hiểm. 

Trong bản báo cáo mật bên lề Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô khóa XX (1956) đã có chủ trương “xét lại” Chủ nghĩa Mác-Lênin, phủ nhận những thành tựu vĩ đại của Liên Xô trong những năm sau Cách mạng Tháng Mười và trong cuộc Chiến tranh vệ quốc vĩ đại (1941-1945). Nếu không được các đảng viên trung kiên trong Ban Chấp hành Trung ương Đảng ngăn chặn, chủ trương này có thể đưa Liên Xô tới chỗ tan rã. Chính vì thế, giới nghiên cứu lịch sử ở Nga cho rằng chủ trương “xét lại” Chủ nghĩa Mác-Lênin là “cải tổ 1.0”, tuy chưa dẫn tới tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô nhưng đã để lại “di chứng” nặng nề và đã phát tác trong giai đoạn “cải tổ 2.0” thập niên 1980 được khởi xướng bởi M.Gorbachyov trên cương vị Tổng Bí thư và A.Yakovlev trên cương vị Trưởng ban Tuyên truyền của Đảng Cộng sản Liên Xô. Về sau, chính M.Gorbachyov và A.Yakovlev công khai thừa nhận mục tiêu hướng tới của “cải tổ” là xóa bỏ Đảng Cộng sản và chế độ XHCN ở Liên Xô.

Sai lầm trong công tác cán bộ của Đảng

Đường lối cán bộ của Đảng Cộng sản Liên Xô do V.I.Lênin đề xướng dựa trên các nguyên tắc kết hợp việc tuyển chọn cán bộ có đức, có tài với công tác kiểm tra quá trình thực hiện công tác của cán bộ. V.I.Lênin chủ trương “tin tưởng là tốt, nhưng kiểm tra vẫn tốt hơn”. Kiểm tra nhằm kịp thời cảnh báo và ngăn chặn quá trình “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. 

Các thế hệ lãnh đạo của Đảng Cộng sản Liên Xô sau này đã không tuân theo di huấn của Lênin, vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc trong công tác cán bộ của Đảng. Một là, nặng về hình thức trong đào tạo cán bộ theo kiểu “thầy đọc, trò chép và học thuộc lòng”. Vì thế, kiến thức lý luận về Chủ nghĩa Mác-Lênin chỉ nằm trên sách vở mà không được vận dụng vào thực tiễn. Nhiều cán bộ tuy được cấp bằng hoặc chứng chỉ nhưng năng lực lãnh đạo kém, không có khả năng dự phòng và bảo vệ, thậm chí vô cảm trước quá trình diệt vong của Đảng. Hai là, khi tuyển chọn và bổ nhiệm cán bộ thường xuất phát từ tình cảm cá nhân, yêu-ghét chủ quan, cố ý nâng đỡ những kẻ thân tín, bè phái. Ba là, công tác đánh giá cán bộ trở thành công cụ để thực hiện ý đồ của cá nhân người lãnh đạo chứ không nhằm mục đích chọn cán bộ tốt.

Vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc tập trung dân chủ trong Đảng

V.I.Lênin là người đề ra nguyên tắc tập trung dân chủ để xây dựng chính đảng kiểu mới của giai cấp vô sản. Theo nguyên tắc này, thiểu số phục tùng đa số, bộ phận phục tùng tập thể và các cơ quan lãnh đạo cấp dưới phục tùng cơ quan lãnh đạo cấp trên. V.I.Lênin cho rằng, nếu không có tập trung, Đảng sẽ trở thành một “câu lạc bộ” lộn xộn, còn nếu xa rời dân chủ, Đảng sẽ trở thành một tổ chức quan liêu, độc đoán, chuyên quyền. V.I.Lênin đã nhiều lần cảnh báo sự vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ là hiểm họa đe dọa sự sống còn của Đảng và chế độ XHCN.

Các thế hệ lãnh đạo sau này, nhất là M.Gorbachyov đã xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ, lạm dụng quyền lực để loại bỏ những cán bộ trung thành và kiên định với lý tưởng XHCN, bổ nhiệm những kẻ ủng hộ chủ trương “cải tổ” sai lầm của ông. Về sau, chính A.Yakovlev thừa nhận, M.Gorbachyov sử dụng “cơ chế toàn trị” để phá hoại Đảng Cộng sản Liên Xô.

Sự thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống

Sự thoái hóa, biến chất về đạo đức, lối sống trong Đảng Cộng sản Liên Xô trở nên đặc biệt nghiêm trọng trong thời kỳ L.Brezhnev và M.Gorbachyov cầm quyền với những biểu hiện rất đa dạng như tham quyền cố vị; bệnh thành tích, thích được khen thưởng và hưởng lạc; giả dối; tham ô... Biểu hiện điển hình nhất về bệnh thành tích là L.Brezhnev. Tính tổng cộng, L.Brezhnev đã nhận 114 huân chương, trong đó có 8 Huân chương Lênin; 2 Huân chương Sao Đỏ, Huân chương Chiến thắng; 2 Huân chương Cách mạng Tháng Mười... Do không đáp ứng các tiêu chuẩn được nhận, những huân chương dành cho L.Brezhnev đã gây phản ứng rất tiêu cực trong xã hội, làm mất uy tín không chỉ trong mà cả ngoài Đảng.  

Trong Đảng hình thành tầng lớp đặc quyền, đặc lợi. Ở Liên Xô thời đó tồn tại hệ thống cửa hàng đặc biệt dành cho cá nhân và gia đình các thành viên của Ban Chấp hành Trung ương Đảng-nơi họ có thể mua bất cứ thứ hàng hóa xa xỉ nào được nhập khẩu từ phương Tây. Vì thế, nhân dân coi lãnh đạo cấp cao trong Đảng như là một “giai cấp mới” trong xã hội Xô viết, tạo hố ngăn cách ngày càng lớn giữa Đảng và nhân dân. Sự tha hóa, biến chất trong Đảng lên tới đỉnh điểm trong giai đoạn “cải tổ”, trong đó lợi dụng những khe hở của pháp luật trong quá trình tư nhân hóa, các tầng lớp đặc quyền, đặc lợi trong bộ máy lãnh đạo Đảng và quản lý nhà nước mặc sức tham nhũng, vơ vét của công, dẫn tới bước ngoặt căn bản là thúc đẩy quá trình tan rã Đảng Cộng sản Liên Xô và nhà nước Xô viết./.

(nguồn: https://www.qdnd.vn/)

 

Nov 6, 2024

RFA diễn lại “trò lố”

          Tre Việt – Ngày 05/11, trang facebook của Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng Statuts: Người dân kêu gọi đổi mới lần hai để khai thông “điểm nghẽn thể chế”, lu loa rằng: “Bảy tổ chức xã hội dân sự trong nước và 32 cá nhân ngày 3/11 đồng ký thư kiến nghị gửi Tổng Bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam, Quốc hội, Chủ tịch nước và Thủ tướng, trong đó kêu gọi xây dựng một lộ trình Đổi mới lần thứ hai về chính trị sau Cải cách kinh tế năm 1986”.

Cần khẳng định ngay rằng: đây là luận điệu xuyên tạc hết sức lố bịch của RFA và các nhà “dân chủ” nhằm hạ thấp, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, gây tâm lý mơ hồ, hoài nghi và làm xói mòn niềm tin vào chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, cũng như công cuộc đổi mới đất nước ở nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng. Từ đó, kích động thay đổi thể chế chính trị ở nước ta, hướng lái cách mạng Việt Nam đi theo con đường tư bản chủ nghĩa. Tuy nhiên, mưu đồ đó sẽ không bao giao trở thành hiện thực, và nhất định sẽ bị phá sản. Bởi vì:

Giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một nội dung cốt lõi, quan trọng trong quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, được Đảng ta nhất quán thực hiện trong công cuộc đổi mới từ năm 1986 đến nay. Việc nhận thức và giải quyết đúng đắn vấn đề này cũng là khâu đột phá trong tư duy và thực tiễn lãnh đạo sự nghiệp đổi mới của Đảng ta. Không phải ngẫu nhiên mà mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong những mối quan hệ lớn mà các kỳ Đại hội XI, XII, XIII của Đảng luôn xác định cần nhận thức và giải quyết đúng đắn; trong đó, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có vị trí quan trọng hàng đầu. Bởi lẽ, kinh tế là nền tảng của đời sống xã hội, xét đến cùng quyết định các mặt còn lại của đời sống xã hội. Còn chính trị liên quan tới vấn đề lãnh đạo, cầm quyền của Đảng; việc sử dụng quyền lực nhà nước; việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân. Đây là những vấn đề khó khăn, phức tạp và nhạy cảm liên quan tới vận mệnh quốc gia, dân tộc. Với tinh thần cẩn trọng trong đổi mới, đến Đại hội XII, Đảng ta đã có bước phát triển về nhận thức và giải quyết mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị - đó là đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế và thể chế chính trị.

Trên cơ sở những thành tựu đạt được, xuất phát từ yêu cầu của bối cảnh mới, Đại hội XIII, Đảng ta xác định cần đưa quan hệ giữa đổi mới đồng bộ thể chế kinh tế với thể chế chính trị lên một bước mới, đó là: xây dựng, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, trong đó có thể chế phát triển kinh tế và thể chế phát triển chính trị. Về đổi mới kinh tế, Đảng ta xác định nhiệm vụ trung tâm, quan trọng là: hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Về chính trị, Đảng xác định: tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy bản chất giai cấp công nhân của Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, toàn diện, xây dựng Nhà nước tinh, gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; gắn với tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ, gắn bó mật thiết với nhân dân là nhân tố có ý nghĩa quyết định thành công sự nghiệp xây dựng, phát triển và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và của nền văn hóa, con người Việt Nam.

Như vậy, mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế, với đổi mới chính trị đã được Đảng ta nhận thức và giải quyết đồng bộ trên thực tế trong suốt quá trình lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới gần 40 năm qua. Trên cơ sở thành tựu của việc giải quyết quan hệ này, cũng như xuất phát từ yêu cầu thực tiễn mới, mối quan hệ này được Đảng nâng lên thành quan hệ giữa đổi mới đồng bộ thể chế phát triển kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội. Vì thế lời kêu gọi “Đổi mới lần hai về chính trị” của RFA là luận điệu xuyên tạc lố bịch, sẽ chẳng lừa bịp được ai./.


Sự “ngáo ngôn” của Lê Anh Hùng và Huỳnh Ngọc Chênh

          Tre Việt – Lợi dụng việc Tổng Bí thư Tô Lâm có ý kiến chỉ đạo Ban Tuyên giáo Trung ương, một số phần tử cơ hội, bất mãn chính trị đã có các bài viết, bình luận suy diễn, xuyên tạc về công tác tuyên giáo của Đảng trên nền tảng mạng xã hội và phương tiện truyền thông nước ngoài. Đáng chú ý là, ngày 01/11, kênh tiếng Việt, Đài VOA đăng bài: “Hai nhà hoạt động: Tuyên giáo không còn hợp thời, nên dẹp; cần cổ súy xã hội dân sự”. Theo bài viết, Lê Anh Hùng, Huỳnh Ngọc Chênh tự xưng là nhà hoạt động cho “dân chủ”, “nhân quyền” lý giải cho rằng: “lợi ích của nó đối với đất nước bằng không hoặc âm”; “Ít ai quan tâm nói tới Marx-Lenin, đấu tranh giai cấp. Thời đại này thông tin qua truyền thông, mạng xã hội nhiều rồi. Người dân thích cái gì, người ta tìm đến cái đó”. Đây là sự “ngáo ngôn”, suy diễn, xuyên tạc, phủ nhận, “ru ngủ” dư luận về vai trò công tác tuyên giáo của Đảng và Ban Tuyên giáo Trung ương, cần bị vạch trần, lên án, đấu tranh.

Công tác tuyên giáo là hoạt động lãnh đạo của Đảng trên các lĩnh vực, như: tư tưởng, văn hóa và khoa giáo; việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ thông qua hệ thống cơ quan tuyên giáo từ Trung ương tới địa phương. Trong đó, Ban Tuyên giáo Trung ương là cơ quan tham mưu, giúp việc của Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trực tiếp và thường xuyên là Bộ Chính trị, Ban Bí thư trong công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng, đạo đức; về chủ trương, đường lối của Đảng trong các lĩnh vực: tuyên truyền, lý luận chính trị, bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, lịch sử Đảng, báo chí, xuất bản, văn hóa, văn nghệ, thông tin đối ngoại, khoa học, công nghệ, môi trường, giáo dục, đào tạo, dạy nghề, y tế, thể dục, thể thao, dân số, gia đình, trẻ em...; đồng thời, là cơ quan chuyên môn - nghiệp vụ về công tác tuyên giáo của Đảng.

Thực tiễn, hơn 94 năm hoạt động, ngành Tuyên giáo và công tác tuyên giáo đã trở thành bộ phận không thể tách rời, luôn gắn bó sâu sắc với sự nghiệp cách mạng của Đảng và dân tộc, góp phần xây dựng nền tảng chính trị của chế độ, nền tảng tinh thần của xã hội, hoạch định hệ thống quan điểm lý luận, cương lĩnh, đường lối lãnh đạo đúng đắn của Đảng đối với sự nghiệp cách mạng Việt Nam. Với vai trò “đi trước mở đường, đi cùng thực hiện, đi sau tổng kết”, Tuyên giáo đã trở thành niềm tự hào của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân khi tiếp tục đảm nhận vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc, bổ sung, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong Đảng và xã hội, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.

Những đóng góp to lớn của ngành Tuyên giáo và công tác Tuyên giáo trong sự nghiệp cách mạng của Đảng là không thể phủ nhận; đồng thời, đang và sẽ tiếp tục đóng góp quan trọng trong sự nghiệp đổi mới, xây dựng, phát triển và bảo vệ vững chắc Tổ quốc. Bởi, Đảng, Nhà nước, Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và kiên định với mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; lấy chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động. Và, để thực hiện thắng lợi mục tiêu đó thì không thể thiếu sự đồng hành cùng đất nước, dân tộc của công tác tuyên giáo.

Vì thế, việc Lê Anh Hùng, Huỳnh Ngọc Chênh tự xưng “nhà hoạt động” rồi cho rằng: Tuyên giáo không còn hợp thời, nên dẹp; cần cổ súy xã hội dân sự là sự “ngáo ngôn”, với âm mưu, dụng ý xấu, độc nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ. Hành động này cần bị vạch mặt, đấu tranh bác bỏ./. 

 

Oct 24, 2024

Cảnh giác trước sự suy diễn, xuyên tạc về “điểm nghẽn” thể chế

          Tre Việt - Phát biểu tại phiên khai mạc kỳ họp thứ 8 của Quốc hội khóa XV vừa qua, đồng chí Tổng Bí thư Tô Lâm đã nêu ra 3 “điểm nghẽn” lớn nhất hiện nay ảnh hưởng đến quá trình phát triển đất nước là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn”. Lợi dụng vấn đề này, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị đã đăng tải, chia sẻ nhiều bài viết suy diễn, xuyên tạc trên các phương tiện truyền thông quốc tế, mạng xã hội. Đáng chú ý, ngày 23/10, kênh tiếng Việt, Đài Á Châu Tự do (RFA) đăng bài: “Lực lượng dân chủ trong và ngoài nước kêu gọi Việt Nam cải cách thể chế”; trong đó, yêu cầu cần cải cách thể chế chính trị theo chế độ đa nguyên, đa đảng để bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các lực lượng chính trị khác nhau. Đây là sự suy diễn, xuyên tạc vô cùng thâm độc của các phần tử cơ hội chính trị, đòi hỏi chúng ta cần nêu cao cảnh giác, tỉnh táo để nhận diện và đấu tranh bác bỏ.

Cần khẳng định ngay rằng: ở Việt Nam chỉ có một lực lượng chính trị duy nhất nắm quyền lãnh đạo đất nước đó là Đảng Cộng sản Việt Nam và chế độ xã hội cả nước đang hướng tới, đi lên là chủ nghĩa xã hội. Đây là sự lựa chọn khách quan của lịch sử, đồng thời là sự lựa chọn của Đảng, của lãnh tụ Hồ Chí Minh và cả dân tộc Việt Nam. Đến nay, sau gần 90 năm ra đời, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giải phóng dân tộc, giành được chính quyền, thống nhất non sông, nắm quyền lãnh đạo đất nước, Đảng Cộng sản Việt Nam đã, đang khẳng định vai trò, vị thế của mình và con đường đã lựa chọn là hoàn toàn đúng đắn cả về lý luận và thực tiễn. 

Tuy nhiên, đứng trước những thời cơ, thách thức để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới – kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, phát triển nhanh, bền vững, đạt được những mục tiêu mà Đảng ta đã xác định thì toàn Đảng, toàn dân, toàn quân phải nghiêm túc nhìn nhận, đánh giá đúng những vướng mắc, khó khăn, bất cập, “điểm nghẽn” đang cản trở tiến trình hội nhập, phát triển đất nước. Từ đó, có các giải pháp khắc phục, tháo gỡ, đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Trong đó, tháo gỡ về thể chế, “điểm nghẽn” của “điểm nghẽn” là yếu tố rất quan trọng, nhất là trong bối cảnh Việt Nam đang sẵn sàng tâm thế bước vào một giai đoạn phát triển mới. Đặc biệt, với chức năng quan trọng của Quốc hội là lập hiến và lập pháp, cử tri và nhân dân mong muốn Quốc hội và các đại biểu Quốc hội tiếp tục thống nhất, gương mẫu đi đầu, đổi mới tư duy xây dựng pháp luật theo hướng vừa đảm bảo yêu cầu quản lý nhà nước, vừa khuyến khích sáng tạo, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, khơi thông mọi nguồn lực để phát triển đất nước nhanh, bền vững. Bên cạnh đó, là sự vào cuộc đồng bộ của các ban, bộ, ngành, của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương, v.v. Làm được điều đó, nhất định đất nước ta sẽ ngày càng phát triển, giàu mạnh, sánh vai với các cường quốc năm châu.

Song, với bản chất thâm độc, các thế lực thù địch, phản động, phần tử cơ hội chính trị không cam tâm, đành lòng và không bao giờ từ bỏ âm mưu xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, xóa bỏ chế độ xã hội ở nước ta. Ngược lại, chúng luôn rình rập, “bới lông tìm vết”, “lập lờ đánh lận con đen”, tìm mọi cách để chống phá. Việc chúng đưa ra luận điệu: yêu cầu Việt Nam cần: “cải cách thể chế chính trị theo chế độ đa nguyên, đa đảng để bảo đảm cạnh tranh công bằng giữa các lực lượng chính trị khác nhau,... là nguyện vọng của người dân mà còn thể hiện trách nhiệm của Đảng Cộng sản và Nhà nước trong việc giữ vững các giá trị nhân quyền đã cam kết” đã bộc lộ rõ bộ mặt thật, dã tâm xấu độc cần lên án, đấu tranh, bác bỏ./.

 

Oct 23, 2024

Phản bác sự xuyên tạc đường lối văn hóa của Đảng ta

         Tre Việt - Nhằm công kích, xuyên tạc, phủ nhận quan điểm, đường lối xây dựng, phát triển văn hóa, văn nghệ của Đảng ta, các thế lực thù địch, phản động ra sức lợi dụng internet, các phương tiện truyền thông để chống phá; cho rằng Đảng ta không quan tâm đến phát triển văn hóa, phát triển con người, có chăng cũng chỉ là hình thức, mị dân. Mới đây, trên trang Viettan.org, Nguyễn Huy Vũ có bài viết: “Văn hóa”, đã vu cáo, xuyên tạc Đảng Cộng sản Việt Nam góp phần phá hủy văn hóa của quốc gia. Bài viết của Nguyễn Huy Vũ vẫn sử dụng chiêu bài cũ rích với cái giọng điệu thâm thù, vu khống, bịa đặt, bôi nhọ, bóp méo quan điểm, đường lối phát triển văn hóa hiện nay, đồng thời nói xấu Đảng Cộng Sản Việt Nam.

          Cần khẳng định rõ, đây là luận điệu hết sức sai trái, sặc mùi phản động của Nguyễn Huy Vũ, bởi: y núp dưới chiêu bài “tự do ngôn luận”, “tự do sáng tác”, “quyền thông tin” để kích động các quyền “tự do”, “dân chủ” trên lĩnh vực văn hóa; xuyên tạc lịch sử, bóp méo sự thật, nói xấu, vu cáo chế độ, v.v. Mục tiêu của Nguyễn Huy Vũ và những kẻ cùng hội, cùng thuyền với y vẫn là nhằm phủ nhận tính giai cấp, tính Đảng của văn hóa; tiêm nhiễm làm xói mòn, lệch chuẩn văn hóa truyền thống, các giá trị đạo đức, nhân ái, nhân văn tốt đẹp của dân tộc; kích thích tâm lý, lối sống thực dụng, thực hiện mưu đồ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, hình thành ý thức chống đối về chính trị, tiến tới xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta. 

          Một sự thật hiển nhiên ai cũng biết: văn hóa là hồn cốt, sinh khí, sức mạnh của dân tộc; văn hóa còn thì dân tộc còn. Điều này được minh chứng trong suốt chiều dài lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam. Và, tiếp tục được thực tiễn minh chứng, trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn coi trọng xây dựng một nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, coi đây vừa là động lực, vừa là mục tiêu của sự phát triển. Đảng ta đã ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng nhằm định hướng kịp thời con đường phát triển của nền văn hóa dân tộc trên cơ sở tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại. Nổi bật là: Nghị quyết số 05-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa VI), về “Đổi mới và nâng cao trình độ lãnh đạo, quản lý văn học, nghệ thuật và văn hóa, phát huy khả năng sáng tạo, đưa văn học, nghệ thuật và văn hóa phát triển lên một bước mới”; Nghị quyết số 03-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương (khóa VIII), về “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc”; Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa X), về “Tiếp tục xây dựng và phát triển văn học, nghệ thuật trong thời kỳ mới”; Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI), về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”. Đại hội XIII của Đảng tiếp tục nhấn mạnh “Phát triển con người toàn diện và xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc để văn hóa, con người Việt Nam thực sự trở thành sức mạnh nội sinh, động lực phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc”[1]. Và, tại Hội nghị thẩm định Quy hoạch tổng thể quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (ngày 14/9/2022), Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính chỉ đạo: việc xây dựng quy hoạch cần quán triệt và cụ thể hóa phát triển nhanh nhưng bền vững, phát triển hài hòa kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội và môi trường, đặt văn hóa ngang tầm kinh tế, chính trị, xã hội, xác định văn hóa, lịch sử truyền thống là một nguồn lực; không hy sinh tiến bộ, công bằng xã hội và môi trường để chạy theo tăng trưởng kinh tế đơn thuần. Trên thực tiễn, nhiều tấm gương sáng trong phong trào Thi đua yêu nước, phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” đã lan tỏa vào đời sống xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với sự nghiệp xây dựng nền văn hóa nói riêng, xây dựng và phát triển đất nước nói chung.

Đây là minh chứng không thể chối cãi, bác bỏ luận điệu cho rằng: Đảng ta không chăm lo phát triển văn hóa, phá hủy văn hóa quốc gia, không quan tâm đến đời sống tinh thần của nhân dân. Vì vậy, mọi sự xuyên tạc, bóp méo của Nguyễn Huy Vũ về văn hóa ở nước ta là hoàn toàn sai trái; chúng ta cần kiên quyết đấu tranh, vạch trần âm mưu đen tối đó./.

 

 



[1] - ĐCSVN - Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII, Tập I, Nxb CTQG, H. 2021, tr.115-116.

Oct 20, 2024

Freedom House suy diễn, quy chụp vô căn cứ

           Tre Việt - Ngày 16/10, Đài VOA tiếng Việt đăng bài: “Freedom House: Việt Nam tiếp tục xiết chặt không gian mạng”. Theo bài viết, trong Báo cáo mới đây của Freedom House đã liệt Việt Nam vào nhóm các nước không có tự do internet. Lý do mà họ đưa ra là do Việt Nam định danh người dùng, kiểm duyệt nội dung, yêu cầu các nhà mạng xóa bài, v.v. Đây là sự suy diễn, quy chụp vô căn cứ của Freedom House với dụng ý xấu. Bởi vì:

Thực tế, Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, nỗ lực bảo đảm đầy đủ các quyền cơ bản của công dân, như: quyền sống, tự do đi lại, tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng tôn giáo, v.v. Minh chứng là hệ thống pháp luật thường xuyên được bổ sung, hoàn thiện, tạo hành lanh pháp lý để người dân thụ hưởng, thực hiện các quyền của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật. Đặc biệt, quyền tiếp cận internet ở Việt Nam luôn được bảo đảm tốt. Mặc dù, tháng 11/1997 internet mới chính thức vào Việt Nam, nhưng tính đến tháng 01/2024, Việt Nam đã có 78,44 triệu người sử dụng internet, tỷ lệ tiếp cận internet đạt 79,1%; có 72,70 triệu người sử dụng mạng xã hội, tương đương với 73,3% tổng dân số. Điều này đưa Việt Nam trở thành một trong những nước có tỷ lệ dân số truy cập internet nằm trong top đầu thế giới.

Không thể phủ nhận sử dụng internet, mạng xã hội là một trong những giải pháp công nghệ hữu hiệu, tất yếu trong quá trình phát triển xã hội, góp phần phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, nâng cao dân trí, v.v. Tuy nhiên, thời gian gần đây, tình trạng lừa đảo trực tuyến thông qua internet, tài khoản mạng xã hội ngày càng gia tăng. Bên cạnh đó, những hành xử kém văn minh trên không gian mạng, các hoạt động quảng cáo xuyên biên giới, mua bán hàng online tại nước ta diễn biến phức tạp. Ngoài việc dùng tài khoản ảo, ăn cắp tài khoản của người khác để lừa đảo, không ít cá nhân còn sử dụng để livestream các nội dung xuyên tạc, chửi bới, xúc phạm người khác. Nhiều vụ việc xuất phát từ mạng xã hội mà phổ biến, lan truyền theo hướng tiêu cực, tác động xấu đến xã hội. Thậm chí, có một số đối tượng cơ hội chính trị, bất mãn với chế độ đã lợi dụng mạng xã hội để thực hiện các hoạt động tuyên truyền, chống phá Đảng, Nhà nước, chính quyền các cấp; xâm phạm lợi ích của cá nhân, tổ chức; vi phạm pháp luật. Do đó, việc xác thực, định danh tài khoản mạng xã hội là rất cần thiết, giúp bảo vệ tất cả mọi người khi tham gia hoạt động trên môi trường internet, mạng xã hội. Cùng với đó, việc kiểm duyệt nội dung trên internet, mạng xã hội là nhằm xây dựng, tạo môi trường không gian mạng lành mạnh, an toàn.

Trong báo cáo của Freedom House còn rêu rao rằng: nội dung các bài đăng bị xóa ở mức đáng báo động do Việt Nam gây áp lực cho các công ty truyền thông xã hội tuân thủ các yêu cầu xóa nội dung đó. Đây là việc làm hoàn toàn bình thường của các cơ quan chức năng trong quá trình thực thi pháp luật, theo Luật An ninh mạng. Thực tiễn cho thấy, các nội dung bị xóa đều là nội dung không phù hợp, vi phạm các quy định của pháp luật. Bản thân các công ty truyền thông, tập đoàn công nghệ chủ quản các trang mạng xã hội cũng nhận thấy những nội dung, thông tin phía Việt Nam yêu cầu xóa là không phù hợp quy định chung của cộng đồng, là vi phạm pháp luật,... nên họ phải hành động để ngăn chặn. Ngược lại, nếu nội dung đăng trên mạng xã hội là phù hợp với tiêu chuẩn chung của cộng đồng thì cơ quan chức năng Việt Nam có yêu cầu thì họ cũng không xóa.

Vì thế, việc Freedom House dựa vào những thông tin phiến diện, thiếu cơ sở rồi suy diễn, quy chụp cho rằng Việt Nam xiết chặt không gian mạng, không có tự do internet là hoàn toàn vô căn cứ, cần lên án, bác bỏ./.

 

Oct 19, 2024

Tại sao các Zận “dân chủ” lại đòi bỏ ba điều luật (109, 117, 331) trong Bộ luật Hình sự năm 2015

            Tre Việt - Lợi dụng việc các tổ chức, cơ quan chức năng tổ chức các hội nghị, hội thảo để lấy ý kiến đóng góp rộng rãi trong nhân dân để xây dựng các dự Luật (trong đó có nội dung đề nghị bổ sung một số luật) trình Quốc hội xem xét thông qua, các Zận “dân chủ”, lực lượng thù địch, phản động ra sức xuyên tạc ý nghĩa và một số nội dung của định hướng xây dựng luật. Trên các trang mạng xã hội, chúng sử dụng thủ đoạn “trích dẫn”, “cắt ghép” ý kiến của một số luật sư thoái hóa, biến chất, như: Đặng Đình Mạnh, Lê Quốc Quân,… để phủ nhận sự cần thiết, giá trị và một số nội dung bổ sung của luật. Đáng lưu ý là chúng “yêu cầu bãi bỏ ba điều luật (109, 117, 331) trong Bộ luật Hình sự năm 2015.

         Trước hết cần khẳng định rõ đây là đòi hỏi hết sức phi lý. Vậy tại sao chúng lại đưa ra yêu cầu này? Tre Việt xin trao đổi mấy ý kiến như sau:

Thứ nhất, các điều luật mà chúng đòi xóa bỏ là những quy định về nhóm tội phạm xâm phạm an ninh quốc gia, như: Điều 109 “Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”, Điều 117 “Tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, Điều 331 “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”.


Thứ hai, từ thực tiễn đều minh chứng: bản thân các Zận “dân chủ” đã luôn lợi dụng vấn đề “tự do”, “dân chủ”, “nhân quyền”, “tôn giáo”,... để vi phạm các nội dung được quy định rõ trong các điều trên, nhất là Điều 331 “Tội lợi dụng các quyền tự do dân chủ xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân”. Những vi phạm của các nhà Zân “chủ dân” này đều được các cơ quan pháp luật Việt Nam điều tra, xét xử công khai, đúng người, đúng tội. Song, được sự hà hơi, tiếp sức, thậm chí là “vinh danh” của các thế lực phản động, thù địch bên ngoài, chúng ra sức “kêu oan”, xuyên tạc, vu cáo chính quyền, rằng: vi phạm quyền “tự do ngôn luận”, “dân chủ”, quyền “bất khả xâm phạm của con người”,... hòng hướng sự chú ý của dư luận trong nước, cũng như cộng đồng quốc tế, nhất là các tổ chức theo dõi nhân quyền, các cơ quan truyền thông thiếu thiện chí như: RFI, RFA, BBC,… tạo cớ can thiệp, chống phá Việt Nam.

Thứ ba, Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền (1948) khẳng định: “Mỗi người đều có những nghĩa vụ đối với cộng đồng, trong khi hưởng thụ các quyền về tự do cá nhân, phải chịu những hạn chế do luật định nhằm mục đích duy nhất là bảo đảm việc thừa nhận và tôn trọng đối với các quyền tự do của người khác và phù hợp với những đòi hỏi chính đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung”. Thực tiễn, hầu hết các nước trên thế giới hiện nay đều có chế tài, điều khoản luật xử lý nghiêm những hành vi lợi dụng quyền tự do để vi phạm pháp luật. Nói cách khác, quyền tự do ở bất kỳ quốc gia nào cũng phải gắn với chế độ chính trị, điều kiện xã hội, nền tảng đạo đức, pháp lý trong mỗi hoàn cảnh lịch sử cụ thể. Mỗi quốc gia, tùy thuộc vào điều kiện và bối cảnh cụ thể mà đưa ra những giới hạn nhất định đối với việc thực hiện tự do ngôn luận của công dân. Ở Mỹ, giới hạn của tự do ngôn luận được thể hiện chủ yếu qua án lệ của các tòa án, đặc biệt là Tòa án Tối cao Hoa Kỳ, cho phép chính quyền ngăn chặn và trừng phạt các phát ngôn có tính chất khiêu dâm, tục tĩu, phỉ báng, xúc phạm, gây hấn, v.v. Ở Pháp, pháp luật về tự do ngôn luận đưa ra các giới hạn, chế tài nghiêm khắc trừng trị hành vi lạm dụng quyền tự do ngôn luận làm ảnh hưởng tới quyền, lợi ích hợp pháp của người khác, bao gồm việc bảo vệ nhân phẩm con người, chống lại việc vu khống, bôi nhọ; chống phân biệt chủng tộc, tôn giáo; chống kích động bạo lực, gây hận thù (Luật Tự do báo chí, năm 1881); chống lại việc xâm phạm đời tư (Bộ luật Dân sự); cấm xuất bản một số tài liệu liên quan đến an ninh quốc gia (Luật Hình sự). Việc bày tỏ quan điểm cá nhân trên mạng internet cũng chịu sự điều chỉnh của Luật Tự do báo chí, v.v.

 Những điều trên cho ta thấy rõ bản chất của các nhà Zận “dân chủ” và các thế lực thù địch, phản động là: chúng muốn xóa bỏ các điều luật trên để thực hiện âm mưu, ý đồ hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia, tạo môi trường thuận lợi để chống phá Đảng, Nhà nước. Mục đích của chúng là muốn đưa mình thoát khỏi “vùng cấm” của luật pháp, muốn đứng ngoài vòng pháp luật để dễ dàng tiến hành các hoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, như: tuyên truyền chống Nhà nước, thành lập các tổ chức chính trị đối lập, đối trọng với Đảng Cộng sản Việt Nam,… mà không bị chế tài pháp luật xử lý. Đồng thời, hướng lái dư luận xã hội theo chiều hướng tiêu cực, tạo ra suy nghĩ rằng môi trường chính trị của Việt Nam rối ren, tâm lý người dân bất ổn, hoang mang, qua đó hòng tạo áp lực dư luận để đòi hỏi phải thay đổi các quy định hoặc xóa bỏ các điều luật này.

Như vậy, có thể thấy, yêu cầu xóa bỏ các điều (109, 117, 331) trong Bộ luật Hình sự năm 2015 chỉ là những đòi hỏi phi lý, là chiêu trò, thủ đoạn của các nhà Zận “dân chủ” và lực lượng thù địch, phản động hòng bao che, cổ súy cho những hành vi chống phá Đảng, Nhà nước, làm mất ổn định chính trị - xã hội, cản trở sự nghiệp phát triển của Việt Nam. Chúng ta cần cảnh giác và đấu tranh bác bỏ những yêu cầu đòi hỏi phi lý này./.