Sep 9, 2026

Không có “thế kẹt” trong đối ngoại Việt Nam

          Tre Việt - Ngày 07/9/2026, trên trang Việt Tân, tác giả Hoàng Trường đăng bài viết: “Công du bốn cường quốc, Tô Lâm có thể phá ‘thế kẹt’ của Việt Nam đến đâu?”; trong đó, cố dựng lên một bức tranh về Việt Nam như đang bị “mắc kẹt’ giữa các trung tâm quyền lực lớn, mà chuyến công du Nga, Pháp, Mỹ và Canada được mô tả như một nỗ lực tìm kiếm lối thoát. Từ đó, tác giả đặt hàng loạt nghi vấn về đường lối đối ngoại của Việt Nam, đặc biệt là quan hệ với Mỹ, Trung Quốc và vấn đề “chọn phe”.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm
hội kiến Chủ tịch Đảng Nước Nga Thống nhất,
Phó Chủ tịch Hội đồng An ninh Liên bang Nga
Dmitry Medvedev.

Cách đặt vấn đề ấy thoạt nhìn có vẻ là một phân tích địa - chính trị, nhưng thực chất lại xuất phát từ một tiền đề sai lệch: coi việc Việt Nam chủ động mở rộng quan hệ với các nước lớn là biểu hiện của một “thế kẹt”, rồi suy diễn rằng Việt Nam sớm muộn phải lựa chọn giữa các trung tâm quyền lực. Đây là cách nhìn phiến diện, không phản ánh bản chất đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa của Việt Nam.

Không thể áp đặt “thế kẹt”

Bài viết cố tình xây dựng hình ảnh Việt Nam đứng giữa hai sức ép: một bên là Hoa Kỳ với chính sách được mô tả ngày càng thực dụng, một bên là Trung Quốc “đối tác lớn nhất vừa là sức ép địa - chính trị thường trực”. Từ đó, tác giả hàm ý Việt Nam đang phải lựa chọn giữa các trung tâm quyền lực. Đây là cách nhìn đơn giản hóa quan hệ quốc tế, đồng thời xa rời thực tiễn và đường lối đối ngoại của Việt Nam.

Việt Nam không xây dựng quan hệ với các nước lớn theo logic “chọn bên”, cũng không coi quan hệ với nước này là công cụ để chống nước khác. Đại hội XIV của Đảng tiếp tục khẳng định đường lối đối ngoại “độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại”; “bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc trên cơ sở các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế và Hiến chương Liên hợp quốc, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi”. Nghị quyết số 06-NQ/TW, ngày 19/5/2026 của Bộ Chính trị về triển khai đường lối đối ngoại Đại hội XIV của Đảng xác định yêu cầu phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước, góp phần xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, tạo môi trường quốc tế thuận lợi cho phát triển.

Thực tế đó cho thấy, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn không đồng nghĩa Việt Nam bị đẩy vào thế phải lựa chọn. Ngược lại, chủ động mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với các đối tác, nhất là các nước lớn và các trung tâm kinh tế, chính trị quan trọng, là cách Việt Nam gia tăng không gian chiến lược và dư địa phát triển. Đa phương hóa, đa dạng hóa không phải là “đi hàng hai”; giữ thế cân bằng không phải là thiếu lập trường; hợp tác với nhiều đối tác càng không đồng nghĩa với lệ thuộc vào bất kỳ đối tác nào. Đó là cách Việt Nam mở rộng lựa chọn, tranh thủ nguồn lực bên ngoài và giữ vững quyền tự quyết đối với những vấn đề thuộc lợi ích quốc gia - dân tộc.

Mở rộng quan hệ, gia tăng không gian chiến lược

Tác giả bài viết gắn các chuyến công du của đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm với “vị thế cá nhân” của người đứng đầu, thậm chí suy diễn rằng thành quả đối ngoại có thể trở thành một nguồn “chính danh” trong nước. Cách nhìn này đã quy giản hoạt động đối ngoại của quốc gia thành công cụ phục vụ vị thế của một cá nhân, trong khi ngoại giao cấp cao là hoạt động triển khai đường lối đối ngoại của Đảng, phục vụ lợi ích quốc gia - dân tộc, góp phần tạo dựng môi trường quốc tế thuận lợi cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Thực tiễn đối ngoại thời gian qua cho thấy, việc mở rộng quan hệ với các đối tác không phải để “xin” một vị trí hay tìm kiếm sự “thừa nhận”, mà nhằm củng cố tin cậy chính trị, mở rộng hợp tác và tranh thủ các nguồn lực bên ngoài cho phát triển. Quan hệ Việt Nam - Trung Quốc tiếp tục được thúc đẩy trên nhiều lĩnh vực, trong khi quan hệ với Hoa Kỳ, Nga, Pháp, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia, Liên minh châu Âu và nhiều đối tác khác được mở rộng theo những lĩnh vực, mức độ và khuôn khổ phù hợp. Riêng với Trung Quốc, trong năm 2026 hai bên tiếp tục ký kết nhiều văn kiện hợp tác và duy trì các cơ chế đối thoại chiến lược, cho thấy hợp tác với nước láng giềng này được xử lý trên nền tảng lợi ích và các khuôn khổ quan hệ đã được xác lập.

Bởi vậy, không thể từ việc Việt Nam phát triển quan hệ với nhiều nước lớn mà suy diễn Việt Nam đang bị “ràng buộc” hay phải lựa chọn giữa các trung tâm quyền lực. Chính việc duy trì nhiều kênh quan hệ, nhiều đối tác và nhiều hướng hợp tác tạo thêm khả năng thích ứng trước biến động bên ngoài, hạn chế nguy cơ phụ thuộc và nâng cao năng lực tự chủ. Đây là một lựa chọn chiến lược, thể hiện bản lĩnh Việt Nam luôn “chủ động, tích cực đóng góp vào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển bền vững trên tinh thần là bạn, là đối tác tin cậy, là thành viên tích cực, có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế”.

Không có “thế kẹt” tất yếu từ địa - chính trị

Để củng cố lập luận về một Việt Nam đang “mắc kẹt”, tác giả cho rằng dù Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có thể đi nhiều thủ đô, địa lý chiến lược của Việt Nam vẫn không thay đổi. Nhận định địa lý là yếu tố khách quan là không sai, nhưng từ đó suy diễn Việt Nam tất yếu bị đặt vào một “thế kẹt” lại là cách nhìn giản đơn, tuyệt đối hóa tác động của địa lý và xem nhẹ vai trò của đường lối, năng lực quốc gia cũng như khả năng chủ động kiến tạo môi trường chiến lược.

Việt Nam nằm ở vị trí có ý nghĩa chiến lược tại Đông Nam Á và Biển Đông. Vị trí ấy đồng thời đặt ra những yêu cầu về bảo đảm an ninh, chủ quyền, lợi ích quốc gia - dân tộc, nhưng cũng tạo điều kiện để Việt Nam phát huy vai trò kết nối, tham gia định hình các cơ chế hợp tác khu vực và đóng góp vào giải quyết những vấn đề chung. Vì vậy, không thể nhìn địa - chính trị chỉ từ góc độ sức ép để kết luận về một “thế kẹt” tất yếu. Điều quan trọng là đất nước phải chủ động chuyển hóa điều kiện địa - chính trị thành lợi thế phục vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ và tăng cường nội lực.

Cũng cần thấy rằng, môi trường chiến lược luôn vận động, không thể được quyết định hoàn toàn bởi vị trí địa lý. Quan hệ giữa các quốc gia chịu tác động đồng thời của tương quan lực lượng, lợi ích đan xen, chính sách của mỗi nước và các cơ chế hợp tác khu vực, quốc tế. Vì vậy, địa - chính trị tạo ra những điều kiện và thách thức khách quan, nhưng không quyết định một cách tất yếu cách ứng xử và kết quả chiến lược của mỗi quốc gia. Với Việt Nam, vấn đề đặt ra là chủ động phát huy lợi thế, hóa giải thách thức, tạo dựng môi trường thuận lợi cho phát triển và bảo vệ Tổ quốc, thay vì coi vị trí địa lý như một “định mệnh” dẫn đến thế bị động. Lấy vị trí địa lý làm căn cứ để khẳng định Việt Nam sớm muộn phải rơi vào thế đối đầu hoặc buộc phải lựa chọn giữa các nước lớn vì thế là cách nhìn giản đơn, tuyệt đối hóa yếu tố địa - chính trị và phủ nhận khả năng chủ động của Việt Nam.

Đại hội XIV của Đảng xác định: “Phát triển đối ngoại trong kỷ nguyên mới, tương xứng với tầm vóc lịch sử, văn hóa và vị thế của đất nước”. Đây không phải là hành trình tìm kiếm một “lối thoát” khỏi cái gọi là “thế kẹt”, mà là quá trình chủ động tạo dựng thế và lực mới, mở rộng không gian phát triển, nâng cao vị thế và giữ vững quyền tự quyết chiến lược của đất nước trên cơ sở đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa, bảo đảm và bảo vệ cao nhất lợi ích quốc gia - dân tộc./.

 

0 comments:

Post a Comment