Jul 18, 2022

CPJ cần chấm dứt ngay trò “vinh danh” các cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam

          Tre Việt – Ngày 14/7, Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), công bố danh sách chủ nhân của giải thưởng Tự do Báo chí quốc tế năm 2022. Theo đó, bốn nhà báo từ châu Mỹ, châu Âu, và châu Á đã được vinh danh; trong đó, có Phạm Đoan Trang của Việt Nam. Lợi dụng vào đó, đài RFA đăng bài: “Nhà báo Phạm Đoan Trang được trao giải Tự do Báo chí quốc tế năm 2022”, nhằm xuyên tạc, bôi nhọ tự do báo chí ở Việt Nam; đồng thời, tung hô, cổ súy cho chiến tích của “nữ chúa trong làng zân chủ” - Phạm Đoan Trang. Họ cho rằng: “Giải thưởng này một lần nữa minh định cho sự thừa nhận của cộng đồng quốc tế đối với những nỗ lực của Đoan Trang với việc phát triển báo chí độc lập, cũng như việc dân chủ hóa ở Việt Nam”.

Tre Việt cho rằng, việc CPJ trao giải thưởng “Tự do Báo chí quốc tế năm 2022” cho Phạm Đoan Trang - đối tượng đang phải chấp hành bản án 09 năm tù giam vì tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”, theo quy định tại Điểm a, b, c, Khoản 1, Điều 88, Bộ luật Hình sự nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) là một hành động thiếu khách quan, không phù hợp. “Trò” này của CPJ mang ý đồ chính trị, họ đã tự “khoác” cho mình chiếc áo tự do báo chí để trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí là một trong những quyền tự do dân chủ về chính trị rất quan trọng đã được quy định trong các quy định của quốc tế. Mặc dù luật pháp quốc tế có những quy định về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, nhưng đó không phải là quyền tự do một cách tuyệt đối; trong khi thực hiện các quyền tự do này thì lại phải chịu một số hạn chế nhất định, mà hạn chế đó là vì lý do an ninh quốc gia, trật tự công cộng, đạo đức xã hội và quyền tự do của người khác. Không có nền báo chí nào, dù là của phương Đông hay phương Tây, cổ vũ cho cái gọi là tự do vô hạn độ. Ngay tại nước Mỹ, nơi được mệnh danh là “thiên đường” tự do, nhưng nếu báo chí mà cổ động để lật đổ chế độ Mỹ xem, chắc chắn báo chí sẽ không còn tồn tại. Gần đây nhất, một tờ tạp chí của Mỹ - quốc gia được mệnh danh là bình đẳng, tự do, bác ái, chỉ một bức tranh biếm họa người đứng đầu tôn giáo Mohamed, tòa soạn đó lập tức bị tẩy chay. Phạm Đoan Trang đang chịu án tù ở Việt Nam mà CPJ lại trao giải thưởng này, đó là những điều phi lý và không có giá trị pháp lý.

Phạm Đoan Trang là một nhà báo, lẽ ra phải hoạt động, tác nghiệp theo đúng tôn chỉ, mục đích của cơ quan báo chí, nhưng không, Trang đã lợi dụng quyền tự do báo chí để chống phá đất nước. Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội, trong khoảng thời gian từ ngày 16/11/2017 đến ngày 05/12/2018, Phạm Đoan Trang có hành vi làm, tàng trữ, lưu hành các tài liệu, bài viết có nội dung nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ngoài ra, Trang còn trả lời phỏng vấn truyền thông nước ngoài với nội dung xuyên tạc đường lối, chính sách của Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân, phao tin bịa đặt gây hoang mang trong nhân dân, v.v.

Điều đó cho thấy, Phạm Đoan Trang không xứng đáng với tư cách, phẩm chất của một nhà báo. Vì lẽ đó, việc CPJ trao giải thưởng Tự do Báo chí cho Phạm Đoan Trang là “trò” lố bịch về nhận thức. Việc làm đó là trò hề, nhằm cổ súy cho kẻ tuyền truyền chống phá nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. CPJ cần chấm dứt ngay “trò” “vinh danh” các cá nhân vi phạm pháp luật Việt Nam./.

Jul 10, 2022

Hội đồng Nhân quyền thông qua nghị quyết do Việt Nam cùng Bangladesh, Philippines đề xuất

  

Ngày 8/7 tại trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) tại Geneva, Thụy Sỹ, Hội đồng Nhân quyền (HĐNQ) LHQ đã kết thúc khóa họp thường kỳ lần thứ 50, với 23 Nghị quyết và 1 Quyết định được thông qua, trong đó có Nghị quyết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và quyền con người do Việt Nam cùng Bangladesh và Philipines soạn thảo và đề xuất, tập trung vào quyền lương thực và BĐKH.

Khóa 50 HĐNQ diễn ra từ ngày 13/6-08/7 theo hình thức kết hợp giữa trực tiếp và trực tuyến, bao gồm 9 phiên đối thoại với Cao ủy Nhân quyền LHQ; 8 phiên thảo luận chuyên đề về các chủ đề; và 27 phiên đối thoại với các Thủ tục đặc biệt; 1 phiên thảo luận khẩn cấp về tình hình nhân quyền của phụ nữ và trẻ em gái tại Afghanistan. Tại khóa họp, HĐNQ cũng đã xem xét, thảo luận 76 báo cáo chuyên đề; xem xét thông qua báo cáo Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) của 13 nước; tiến hành bổ nhiệm nhân sự cho 8 Thủ tục đặc biệt. Quyền của phụ nữ là ưu tiên lớn nhất tạ khóa họp này với hầu hết các phiên thảo luận chuyên đề đều có chủ đề liên quan đến quyền của phụ nữ.

Đoàn Việt Nam do Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Đỗ Hùng Việt dẫn đầu, đã tích cực tham dự khóa 50, trong đó cùng với Bangladesh và Philippines đồng tổ chức Phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh BĐKH. Phiên thảo luận đã thu hút sự tham gia của đông đảo các quốc gia và tổ chức quốc tế như Quỹ dân số LHQ và một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Geneva.

Các diễn giả và đại biểu các nước, tổ chức quốc tế, tổ chức phi chính phủ đều nhấn mạnh, BĐKH tạo ra cùng lúc khủng hoảng về môi trường sống và công bằng xã hội, trong đó những nhóm dễ bị tổn thường nhất, bao gồm các cộng đồng ở nông thôn, dân tộc thiểu số, phụ nữ, trẻ em, người di cư, người khuyết tật… tiếp tục gánh chịu những tác động tiêu cực nhất về quyền con người do BĐKH gây ra; kêu gọi các nước đảm bảo sự tham gia của các cộng đồng, tổ chức đại diện các nhóm dễ bị tổn thương trong xây dựng biện pháp, chính sách về ứng phó với BĐKH.

Với nỗ lực đề xuất, soạn thảo nội dung và vận động của Phái đoàn Việt Nam cùng các Phái đoàn Bangladesh và Philippines tại Geneva, ngày 7/7, HĐNQ đã thông qua bằng đồng thuận Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và BĐKH, với đông đảo các nước tham gia đồng bảo trợ. Đây là Nghị quyết được Việt Nam giới thiệu hàng năm về BĐKH và quyền con người, với trọng tâm mỗi năm tập trung vào từng nhóm cụ thể như quyền trẻ em, quyền sức khoẻ, quyền của người di cư, quyền phụ nữ… trong bối cảnh BĐKH. Sự tham gia tích cực trong nhóm nòng cốt xây dựng và giới thiệu Nghị quyết này của HĐNQ phản ánh nỗ lực của Việt Nam trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người cũng như trong ứng phó BĐKH, đồng thời góp phần thực hiện chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.

Đặc biệt nhân dịp khóa họp này của HĐNQ, Việt Nam đã tổ chức “Triển lãm ảnh về các cộng đồng dân tộc và tôn giáo tại Việt Nam: Hòa hợp trong đa dạng” tại trụ sở LHQ tại Geneva, Thụy Sỹ, khai mạc ngày 28/7 đúng vào ngày Gia đình Việt Nam. Thông qua triển lãm diễn ra từ ngày 28/6-8/7, bạn bè quốc tế hiểu thêm về cuộc sống hòa hợp của đại gia đình 54 dân tộc Việt Nam, với những nét đẹp văn hóa, di sản, tập tục thể hiện sự tự do về tôn giáo, tín ngưỡng của người dân Việt Nam, cũng như nỗ lực, thành tựu của Việt Nam về bảo vệ và phát huy bản sắc dân tộc, bảo đảm tự do tôn giáo, tín ngưỡng. 

Đoàn Việt Nam đã tích cực phát biểu tại 18 phiên họp như các phiên thảo luận về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh BĐKH, quản trị tốt trong bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền trong và sau đại dịch COVID-19, hợp tác kỹ thuật và xây dựng năng lực nhằm thúc đẩy bình đẳng và sự tiến bộ của phụ nữ, quyền sức khỏe, quyền giáo dục…

Tại các phát biểu, đoàn Việt Nam đề cao chủ trương nhất quán, nỗ lực và thành tựu trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người; khẳng định Việt Nam cam kết phát triển bền vững vì lợi ích của người dân, trong đó đặt người dân vào trung tâm của các biện pháp và chính sách của chính phủ trong quá trình phục hồi sau đại dịch COVID-19; kêu gọi cộng đồng quốc tế tiếp tục hỗ trợ các nước đang phát triển trong quá trình phục hồi sau đại dịch COVID-19 để quá trình này xanh hơn và bền vững hơn; nhấn mạnh tầm quan trọng của tính đa đạng về xã hội, văn hóa, lịch sử và chủ quyền quốc gia trong thúc đẩy và bảo vệ quyền con người, đồng thời kêu gọi Văn phòng Cao ủy nhân quyền LHQ và các cơ chế nhân quyền LHQ hoạt động một cách công bằng và khách quan trên cơ sở các nguyên tắc khách quan, công bằng, đối thoại xây dựng và hợp tác. 

Cùng với các nước ASEAN, đoàn Việt Nam cũng đã có một số phát biểu chung về các chủ đề ASEAN cùng quan tâm, chia sẻ như hợp tác kỹ thuật và xây dựng năng lực nhằm thúc đẩy bình đẳng giới và sự tiến bộ của phụ nữ; BĐKH và quyền con người; quản trị tốt trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong và sau đại dịch COVID-19. Ngoài ra, đoàn Việt Nam tích cực tiếp xúc, trao đổi, tham vấn với các đoàn đại diện của các nước, tham gia xây dựng nội dung các văn kiện, đồng bảo trợ nhiều sáng kiến trên tinh thần đối thoại và hợp tác, thể hiện quan điểm, chính sách nhất quán, thành tựu của Việt Nam và quan điểm, thành tựu chung của ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ các quyền con người, góp phần cùng các nước đảm bảo hoạt động của HĐNQ phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của luật pháp quốc tế.

Sự tham gia tích cực của đoàn Việt Nam tại khóa họp 50 của HĐNQ cùng với triển lãm nêu trên cũng như việc Việt Nam ứng cử thành viên Hội đồng Nhân quyền LHQ nhiệm kỳ 2023-2025 thể hiện nỗ lực và trách nhiệm của Việt Nam, đồng thời góp phần tích cực kỷ niệm 50 năm Việt Nam tham gia LHQ (1977-2022)./.

           (Nguồn: Hương Sen Việt)

Phòng tránh “từ sớm, từ xa” để đất nước ta hạnh phúc

 

Quan điểm sai trái, thù địch là một dạng thông tin xấu, độc, loại “vi rút” gây bệnh, phá hoại tình yêu, cuộc sống an lành, hạnh phúc của mọi người; biểu hiện của âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình” chống phá Việt Nam của những người xấu. Quan điểm sai trái, thù địch dưới mọi hình thức biểu hiện đều trái ngược với lập trường, quan điểm, lợi ích của nhân dân và đối lập với hiến pháp, pháp luật của Nhà nước ta. Bản chất của nó là giả tạo, tuyên truyền sai sự thật; biến đúng thành sai, phải thành trái, thật thành giả; chứa đựng sự hằn thù, mưu đồ kích động, gây rối, làm mất ổn chính trị, trật tự, an toàn xã hội, tạo ra sự “suy thoái”, biến chấtở một bộ phận người dân nhằm “chuyển hóa” chế độ ta theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa, rất cần nhận thức đúng, phòng ngừa kẻxấu “từ sớm, từ xa” để chúng ta luôn an lành, hạnh phúc.

Ba nhóm quan điểm sai trái, thù địch cần nhận diện đúng

Những người có quan điểm sai trái, thù địch, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta là rất phức tạp, tập trung ở ba nhóm lớn, đó là: (1) Nhóm người chuyên nghiên cứu lý luận – thực tiễn, chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ thông qua cuộc đấu tranh ý thức hệ giữa chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa tư bản. Nhóm này chủ yếu là các phần tử chống cộng và một số lãnh đạo ở một số quốc gia phương Tây. (2) Nhóm phần tử cực đoan chủ yếu là người Việt sống ở nước ngoài luôn lôi kéo, tập hợp lực lượng lưu vong cấu kết với một bộ phận văn nghệ sĩ, trí thức, công chức bất mãn ở trong nước, lập ra các tổ chức phản động chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta. (3) Nhóm một số cán bộ, đảng viên (có một số đảng viên đã từng giữ chức vụ trung, cao cấp trong hệ thống chính trị của nước ta) suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và một bộ phận người dân do nhận thức lệch lạc, bị lôi kéo, bị mua chuộc nên theo đuôi bọn xấu. Đây là những người phản bội dân tộc, luôn đề cao chủ nghĩa cá nhân, không đồng ý với chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về, giải quyết các vấn đề lợi ích và không thỏa mãn sự hài lòng, ham muốn của họ.

Quan điểm sai trái, thù địch có thể là những lời nói, bài viết, hành vi, hành động của cá nhân, nhóm xã hội, phản ánh xuyên tạc sự thật, bôi đen đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, con người Việt Nam hoặc thổi phồng mâu thuẫn, khuyết điểm, các tệ nạn xã hội, xuyên tạc, bóp méo chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước với mục đích xấu sa nhằm thiết lập chế độ chính trị – xã hội mới, đối lập với chế độ xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta đang xây dựng.

Tính hai mặt của “quan điểm khác” cần phân biệt rõ

Giữa quan điểm sai trái, thù địch” với “ý kiến khác” có sự khác nhau, cần nhận diện đúng, phân biệt rõ để tránh sai lầm trong nhận thức và hành động. Ý kiến khác là loại ý kiến “lấp lửng”, “nước đôi”, có thể là lời nói, bài viết với mục đích gây rối, chống đối, “sinh chuyện”, gây khó cho tổ chức nhưng cũng có thể là lời nói, bài viết mang tính xây dựng, sự góp ý, đề đạt, kiến nghị với chính quyền thoạt nghe rất “gai góc”, hàm chứa tính “bạo lực” nhưng suy xét kỹ nó chứa đựng “nhân tố hợp lý”, những người có trách nhiệm cần lắng nghe, cần tiếp thu vì nó có lợi cho cách mạng.

          Ý kiến khác có ba dạng: 1) Ý kiến của những người có động cơ, mục đích chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, nhất thiết chúng ta phải đề cao cảnh giác, kiên quyết, kiên trì đấu tranh, loại bỏ; không được “dĩ hòa vi quý” với loại ý kiến này; 2) Ý kiến của những người do trình độ nhận thức còn hạn chế, thông tin chưa đầy đủ, cách tiếp cận không phù hợp, phát ra không đúng lức; chúng ta cần bình tĩnh lắng nghe và có biện pháp giáo dục, thuyết phục; 3) Ý kiến của những người có mong muốn góp ý, xây dựng với tinh thần trách nhiệm, quan điểm, thái độ khách quan, vô tư, trong sáng nhưng phương pháp, thái độ góp ý chưa phù hợp trong việc phát hiện những hạn chế, khuyết điểm, bất cập để những cán bộ có thẩm quyền “dễ nghe”, kịp thời bổ sung, hoàn thiện chủ trương, đường lối, cơ chế, chính sách. Trong những tình huống này, chúng ta cần bình tĩnh lắng nghe, tiếp thu có chọn lọc với sự trân trọng.

Mục đích, chiêu trò, thủ đoạn của quan điểm sai trái, thù địch

Mục đích xuyên suốt và lâu dài của quan điểm sai trái, thù địch là phá hoại nền tảng tư tưởng của Đảng, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước và tính ưu việt của hệ thống chính trị Việt Nam, tiến tới xóa bỏ chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng ta lãnh đạo. Vì vậy, những người này đã, đang và sẽ tiếp tục thực hiện âm mưu, thủ đoạn, hoạt động “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, thúc đẩy “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, triệt để lợi dụng internet, mạng xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta, thông qua việc xây dựng các trang web, blog, tài khoản ở các máy chủ đặt ở nước ngoài làm “các máy cái, hà hơi, tiếp sức” cho các blog, tài khoản trong nước chống phá Việt Nam.

Các chiêu trò và thủ đoạn chống phá của quan điểm sai trái, thù địch là vô cùng nham hiểm, đó là: (1) Tạo các luồng dư luận xã hội xấu, độc; triệt để tận dụng và khái thác tối đa các phương tiện thông tin, truyền thông để tuyên truyền xuyên tạc, lừa gạt, làm nhiễu loạn đời sống tinh thần, từ đó làm lung lay niềm tin của nhân dân vào Đảng, Nhà nước, tiến tới lật đổ chế độ xã hội chủ nghĩa. (2) Tiến hành nhiều hoạt động gián điệp, thúc đẩy “ngoại giao thân thiện”, tăng cường “viện trợ nhân đạo”, tìm cách tạo cớ để tiếp xúc với nhân dân ta, kết hợp với trao đổi văn hóa, y tế, giáo dục,… để truyền bá tư tưởng chính trị, lối sống thực dụng và văn hóa phương Tây vào Việt Nam, thực hiện chiêu thức “mưa dầm thấm sâu”, “nước chảy đá mòn” để chuyển hóa Việt Nam theo con đường tư bản chủ nghĩa. (3) Kiềm chế sự phát triển nền kinh tế Việt Nam thông qua việc sử dụng các chiêu bài “kinh tế” để biến nước ta ngày càng lệ thuộc, bị ràng buộc bởi phương Tây hoặc thêm khó khăn về kinh tế, từ đó gây áp lực về chính trị, đặt ra các yêu sách về chính trị để xâm nhập, chuyển hóa, khống chế và khi cần sẽ sử dụng các đòn “trừng phạt kinh tế” buộc chúng ta phải nhượng bộ về chính trị. (4) Nuôi dưỡng các “thế lực dân chủ”, “gieo trồng hạt giống tự do”, từng bước phá hoại “bức tường đồng, vách thép” của chủ nghĩa xã hội; tiến tới “giải phóng dân chủ” ở Việt Nam.

Nội dung và phương thức thể hiện quan điểm sai trái, thù địch

Nội dung của quan điểm sai trái, thù địch là chống phá, xuyên tạc, phủ nhận giá trị khoa học, cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới ở Việt Nam; tách rời, đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin; phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng; xuyên tạc tư tưởng Hồ Chí Minh, phủ nhận những cống hiến, đóng góp của Người cho dân tộc, cho nhân loại; kêu gọi “dân chủ”, “nhân quyền”, “đa nguyên chính trị”, “đa đảng đối lập”, đòi “phi chính trị hóa” lực lượng vũ trang; phủ nhận thành tựu cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo; thổi phồng khuyết điểm, hạ thấp và phủ nhận thành tựu đổi mới đất nước; xuyên tạc, bội nhọ, hạ thấp uy tín, vị thế của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng, Nhà nước, Quân đội, Công an…

Phương thức chống phá của các quan điểm sai trái, thù địch rất đa dạng, đó là: (a) Lợi dụng các trang mạng lớn trên thế giới để chống phá Việt Nam; (b) Sử dụng và nhân rộng mạng lưới cộng tác viên để viết bài, đưa tin chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta; (c) Sử dụng các thông tin chống phá Việt Nam của các quốc gia, tổ chức quốc tế lớn, những cá nhân có ảnh hưởng lớn ở trong và ngoài nước để tán phát thông tin xấu, độc; (d) Tạo dựng các trang web, blog các tài khoản cá nhân trên mạng xã hội, đặc biệt là trên facebook, youtube để chia sẻ (share), phát tán thông tin; (e) Nắm bắt, tận dụng thời cơ, thời điểm quan trọng, nhất là lợi dụng các vấn đề, sự cố lớn của đất nước để phát tán thông tin xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước…

Các thủ đoạn, chiêu bài và hình hài của quan điểm sai trái, thù địch

Các thủ đoạn, chiêu bài chống phá Đảng, Nhà nước ta…cũng rất đa dạng, đó là: Gửi “kiến nghị”, “thư ngỏ” của hội, nhóm, “thư riêng”, các tài liệu của cá nhân (có danh và mạo danh) đến cơ quan, tổ chức và các đồng chí lãnh đạo cấp cao: Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chấp hành Trung ương Đảng… Biên tập và phát tán các tin, bài có nội dung xấu, độc trên mạng xã hội để tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của xã hội, truyền bá quan điểm chính trị sai trái và gây áp lực đối với Đảng, Nhà nước. Ra “tuyên ngôn”, “tuyên bố” (với tư cách là nhóm xã hội hoặc các cá nhân có uy tín) về một vấn đề nào đó để tạo sóng gió, gây bão dư luận. Phát tán trên mạng xã hội tin, bài, bằng các hình thức bình luận (comment), hoặc thể hiện trạng thái (status) video clip, hình ảnh ở tài khoản cá nhân trên facebook, youtube…Vì lẽ đó, hơn bao giờ hết,lúc nàybảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng của Đảng, bảo vệ Đảng, Nhà nước và nhân dân; đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch có hiệu quả là một nội dung cơ bản, rất hệ trọng, mang ý nghĩa sống còn của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của toàn Đảng, toàn quân, toàn dân ta; là công việc thường xuyên, tự giác của các cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận tổ quốc, tổ chức đoàn thể chính trị – xã hội, của từng địa phương, cơ quan, đơn vị, của từng cán bộ, đảng viên, chiến sĩ, trước hết là người đứng đầu cơ quan, đơn vị./.


(Nguồn: Hương sen Việt)

 

 

 


 

Jul 6, 2022

Không thể phủ nhận tình hình tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam

         Tre Việt - Trang facebook Việt Nam Thời Báo, ngày 05/7 đăng bài “Người Mông tại Hội nghị thượng đỉnh về tự do tôn giáo” của Quang Nguyên. Theo bài viết, Hội nghị thượng đỉnh về tự do tôn giáo thế giới tổ chức cuối tháng 6 vừa qua tại thủ đô Washington, Hoa Kỳ gồm nhiều đoàn đại biểu của 31 quốc gia tham dự. Đoàn Việt Nam đông nhất với hơn 60 người, trong đó có nhóm Tin lành người Mông. Tác giả bài viết cho rằng: “Họ là những nhân chứng sống về sự đàn áp tự do tín ngưỡng qua những phương cách tàn nhẫn, vô nhân tính của cộng sản Việt Nam”. Đây là phát ngôn vu cáo trắng trợn về tình hình tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam.

Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Đến nay, trên cả nước có khoảng 45.000 cơ sở tín ngưỡng; trong đó, có hơn 2.900 di tích gắn với cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo. Riêng với lĩnh vực tôn giáo, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được Nhà nước công nhận, cấp phép hoạt động với hơn 26,5 triệu tín đồ. Những năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm, tạo điều kiện để hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của công dân theo đúng quy định của pháp luật, coi đây là một phần cuộc sống, sinh hoạt của những người theo tôn giáo. Năm 2016, Việt Nam đã ban hành Luật Tín ngưỡng, tôn giáo để tạo hành lang pháp lý cho các tôn giáo đăng ký, cấp phép hoạt động, tạo điều kiện để các tín đồ “sống tốt đời, đẹp đạo”.

Tuy nhiên, trong quá trình hội nhập quốc tế, đã có những tôn giáo, đạo lạ, tà đạo,… có giáo lý đi ngược lại với thuần phong mỹ tục của dân tộc xâm nhập vào Việt Nam. Mặc dù, chưa được cấp phép hoạt động nhưng những người đứng đầu vẫn lén lút tìm mọi cách tuyên truyền, truyền đạo và tổ chức các hoạt động trái phép nhất là tại vùng đồng bào dân tộc thiểu số, tiềm ẩn gây mất an ninh, trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Thậm chí có những phần tử lợi dụng, núp bóng tự do tôn giáo để có hành động tuyên truyền, chống phá chính quyền, kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc. Những hành động đó đã vi phạm pháp luật Việt Nam, nên bị các cơ quan chức năng điều tra, xét xử theo quy định của pháp luật. Việc làm này là hoàn toàn bình thường, không thể gọi đó là hành động đàn áp tự do tôn giáo như bài viết đã nêu.

Trong bài viết còn cho rằng: “khi đạo Tin Lành được truyền đến miền núi phía Bắc Việt Nam, đã giúp người Mông hiểu được chỉ có Đức Chúa Trời cứu rỗi được linh hồn họ. Rất đông người nghe theo Tin Lành của Chúa. Người Mông thay đổi nếp sống hủ lậu. Cuộc sống, văn hóa lạc hậu dần thay đổi, các tệ nạn xã hội dần mất hẳn theo lời dạy của Đức Chúa trời “Vàng Chứ””. Đây là sự ngộ nhận, ấu trĩ đến nực cười về nhận thức của Quang Nguyên. Bởi, đúng là cuộc sống, văn hóa của đồng bào Mông đã, đang dần thay đổi. Nhưng để có được điều đó là nhờ có đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam đối với đồng bào các dân tộc thiểu số. Và có một sự thật, một thực tế không thể phủ nhận là có hàng trăm nghìn cán bộ, chiến sĩ các đơn vị Quân đội, Bộ đội Biên phòng, các đơn vị kinh tế quốc phòng,… đang từng ngày, từng giờ ba cùng, bốn cùng, gắn bó mật thiết với đồng bào để tuyên tuyền, vận động đồng bào thay đổi nếp nghĩ, xóa bỏ hủ tục lạc hậu, hướng dẫn cách sản xuất, phát triển kinh tế gia đình, thay đổi cuộc sống. Hoàn toàn không thể có chuyện Đức Chúa Trời đã cứu rỗi, làm thay đổi cuộc sống của đồng bào.

Còn với nhóm Tin Lành người Mông dự Hội nghị không hề đại diện cho tiếng nói, nguyện vọng của cộng đồng đồng bào Mông ở Việt Nam. Mà thực chất đây là những phần tử bất mãn với chế độ, với chính quyền. Họ đã lợi dụng, núp bóng chiêu trò “đấu tranh cho tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng” để vu cáo, phản ánh không đúng tình hình tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo ở Việt Nam, dưới sự giật dây của các thế lực thù địch mà thôi./.

Jul 5, 2022

Kết cục của kẻ “lộng ngôn” Nguyễn Lân Thắng

          Tre Việt - Ngày 05/7, Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội đã thực hiện lệnh bắt bị can để tạm giam đối với Nguyễn Lân Thắng (Sinh năm 1975, hiện trú tại 32/221, ngõ Thịnh Quang, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội).

Bị can Nguyễn Lân Thắng

Bị can Nguyễn Lân Thắng bị bắt về tội làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, quy định tại Điều 117, Bộ Luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Nguyễn Lân Thắng sinh ra trong một gia đình có truyền thống cách mạng và hiếu học.Các thành viên trong dòng họ Nguyễn Lân đã và đang hết lòng cống hiến thật sự cho đất nước, góp phần xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Nguyễn Lân Thắng được gia đình cho ăn học tử tế và có tấm bằng kỹ sư kiến trúc; thế nhưng Thắng đã không tiếp bước truyền thống gia đình theo con đường học tập, nghiên cứu khoa học, phục vụ đất nước, mà tự chọn cho mình con đường cá biệt là chống phá đất nước, với cái mác “đấu tranh dân chủ”. Mặc dù, Nguyễn Lân Thắng đã nhiều lần được gia đình và chính quyền các cấp nhắc nhở, giáo dục, thuyết phục, uốn lắn, thậm chí là cảnh cáo, ren đe, song y không biết hối cải, mà tiếp tục lún sâu vào con đường tội lỗi là: chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng đất nước.

Các quyết định và lệnh bắt Nguyễn Lân Thắng đã được Viện Kiểm sát nhân dân Thành phố Hà Nội phê chuẩn là một lẽ đương nhiên. Hiện vụ án đang được điều tra làm rõ. Đây cũng là cái kết xứng đáng và là bài học cảnh tỉnh đối với những kẻ lợi dụng “tự do”, “dân chủ”, ngông nguồng, chống phá Đảng, Nhà nước và công cuộc xây dựng đất nước. Chắc chắn rằng, với sự “Thượng tôn pháp luật”, sẽ có một bản án thích đáng cho nhà “đấu tranh dân chủ” Nguyễn Lân Thắng./.

 

Trăm sự phi lý phía sau “bộ cánh tự do tôn giáo”

     Một trong những nguyên nhân khiến các thế lực thù địch và đối tượng xấu thường xuyên bịa đặt, vu cáo về tình hình tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam là nhằm bẻ lái luật pháp về tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam theo các tiêu chuẩn phương Tây. 

Những đòi hỏi vô lý, quá trớn

Những năm qua, do cách nhìn thiên lệch, thiếu thiện chí nên một số cá nhân, tổ chức hoạt động dưới danh nghĩa “người bảo vệ” tự do tôn giáo và nhân quyền thế giới vẫn tung ra những thông tin thiếu khách quan, những nhận định sai trái về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam. Điển hình là gần đây, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) công bố báo cáo về tình hình tự do tôn giáo quốc tế năm 2021, trong đó nêu tình hình và kết quả thực hiện tôn giáo của 27 nước và một số thực thể, tổ chức trên thế giới mà USCIRF đánh giá là có những vi phạm “nghiêm trọng” hoặc “đặc biệt nghiêm trọng” để đề xuất Bộ Ngoại giao Mỹ đưa vào “danh sách các nước cần quan tâm đặc biệt” hoặc “danh sách cần theo dõi đặc biệt” về tự do tôn giáo, từ đó nhằm áp đặt chế tài với các quốc gia này trong hỗ trợ tài chính và hợp tác trên một số lĩnh vực.

Trong nội dung báo cáo về Việt Nam, USCIRF đưa ra nhận xét với giọng điệu đầy kẻ cả rằng điều kiện tự do tôn giáo của Việt Nam trong năm 2021 không có gì khác biệt so với năm 2020. Và, thông qua việc đả kích tình hình bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam, USCIRF thậm chí còn đòi sửa đổi Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam.

Phải khẳng định rằng, không chỉ riêng báo cáo năm 2021 mà các báo cáo thường niên của USCIRF đưa ra trong những năm gần đây đều được đánh giá là chưa chính xác, thiếu thiện chí, thiếu khách quan về tình hình tự do tôn giáo ở nhiều nước, trong đó có Việt Nam. Thậm chí, ngay cả trong chính giới Mỹ và các tổ chức nhân quyền ở Mỹ cũng xuất hiện những ý kiến cho rằng, cách tiếp cận của USCIRF nặng về chỉ trích, không giúp cải thiện tự do tôn giáo trên toàn cầu đúng với mục đích mà Quốc hội và Chính phủ Mỹ đặt ra.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia có nhiều loại hình tín ngưỡng tôn giáo, trong đó có cả tôn giáo nội sinh và tôn giáo ngoại nhập và từng được ví như một “bảo tàng” về tín ngưỡng, tôn giáo của thế giới. Theo thống kê cập nhật từ Ban Tôn giáo Chính phủ, hiện nay ở Việt Nam có khoảng 95% dân số có đời sống tín ngưỡng và hơn 26,5 triệu tín đồ, chức sắc của các tôn giáo. Tính đến hết năm 2021 đã có 16 tôn giáo được Nhà nước Việt Nam công nhận, trong đó có Phật giáo, Công giáo, Tin lành, Cao đài, Phật giáo Hòa hảo…

Chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là bảo đảm và thúc đẩy quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của người dân, bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử với các tôn giáo. Việt Nam cũng là một trong số ít các quốc gia trên thế giới có đạo luật về tôn giáo, cụ thể là Luật Tín ngưỡng, tôn giáo được Quốc hội thông qua ngày 18/11/2016, có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2018. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam quy định rất rõ các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật, không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo và lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật. Đồng thời, Nhà nước Việt Nam tôn trọng, bảo vệ giá trị văn hóa, đạo đức tốt đẹp của tín ngưỡng, tôn giáo, truyền thống thờ cúng tổ tiên, tôn vinh người có công với đất nước và cộng đồng, đáp ứng nhu cầu tinh thần của nhân dân. Nhà nước cũng bảo hộ các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo và tài sản hợp pháp của các cơ sở tín ngưỡng, tổ chức tôn giáo. Đồng thời, nghiêm cấm các hành vi phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo, ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo, xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo; các hoạt động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, xâm phạm đời sống xã hội cũng như thân thể, tính mạng, sức khỏe của nhân dân,… Và việc xử lý đối với các hoạt động vi phạm pháp luật liên quan đến tôn giáo cũng dựa trên những quy định này.

Quyền tự do tôn giáo là vấn đề có tính lịch sử, nghĩa là phụ thuộc vào từng thời điểm lịch sử cụ thể ở từng quốc gia, gắn với từng thể chế chính trị-xã hội và điều kiện kinh tế-văn hóa-xã hội cụ thể nhất định. Nói cách khác, không thể tồn tại một khái niệm về quyền tự do tôn giáo chung chung, trừu tượng mà không gắn với một bối cảnh và thực thể nhất định.

Vì lẽ đó, không thể đem giá trị, quan niệm về tự do tôn giáo ở một quốc gia này để áp dụng hay đo lường, đánh giá mức độ quyền tự do tôn giáo ở một quốc gia khác. Đặc biệt, trên phương diện quan hệ đối ngoại giữa các quốc gia, thể chế chính trị bình đẳng, độc lập thì càng không thể đem tiêu chuẩn về tự do tôn giáo ở quốc gia này để áp đặt lên một quốc gia khác và buộc quốc gia đó phải tuân theo. Đây cũng là những điều mà USCIRF hay bất cứ cá nhân, tổ chức nào đang muốn đưa ra những đòi hỏi quá trớn đối với việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam cần phải học thuộc!

Cần xem lại cách nhìn, quan niệm về tự do tôn giáo

Những năm gần đây, sự sôi động trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở việc liên tục gia tăng số lượng các cơ sở thờ tự trong tôn giáo và tín đồ. Bất chấp điều đó, các thế lực thù địch vẫn vu cáo Việt Nam ngăn cản tự do tôn giáo, không công nhận các tổ chức tôn giáo. Theo số liệu từ Ban Tôn giáo Chính phủ, nếu như năm 1985, số lượng tín đồ các tôn giáo ở Việt Nam vào khoảng 14 triệu, thì đến năm 2021 đã tăng lên hơn 26,5 triệu. Thành tựu trong bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam còn được thể hiện qua sự gia tăng số lượng các trường đào tạo chức sắc. Tính đến tháng 4/2022, các tôn giáo ở Việt Nam có 66 cơ sở đào tạo chức sắc với 10.000 học viên đang theo học, riêng Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 47 cơ sở đào tạo, trong đó có 04 học viện Phật giáo. Các cơ sở thờ tự cũng được quan tâm sửa chữa, xây mới. Tính đến ngày 31/12/2021, cả nước có 29.800 cơ sở thờ tự của các tôn giáo, tăng thêm 5.800 cơ sở so với năm 2008.

Hiện ở Việt Nam cũng có nhiều hệ thống tổ chức giáo hội có tầm hoạt động quốc tế, đặc biệt là Công giáo, Phật giáo và một số tổ chức tôn giáo có nguồn gốc nước ngoài du nhập vào Việt Nam, thể hiện thông qua việc mở rộng quan hệ với các tổ chức tôn giáo các nước và tiến hành các hoạt động thiện nguyện ở nước ngoài. Chẳng hạn như giữa tháng 6 vừa qua, Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã tổ chức lễ trao tặng tài trợ, giúp đỡ nhân dân Sri Lanka vượt qua khó khăn do cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại đất nước này.

Không chỉ phát triển mạnh mẽ về số lượng, các tổ chức tôn giáo, tín đồ, chức sắc ở Việt Nam đã chứng tỏ tầm ảnh hưởng tích cực đối với đời sống, sẵn sàng đóng góp cho cộng đồng thông qua các hoạt động thiện nguyện và đồng hành với các hoạt động của đất nước, mà những gì diễn ra trong giai đoạn đại dịch Covid-19 phức tạp là một ví dụ điển hình.

Những con số và ví dụ nói trên một mặt phản ánh sự quan tâm của Nhà nước Việt Nam trong thực hiện nhất quán quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; mặt khác khẳng định Việt Nam không phân biệt giữa người có tín ngưỡng, tôn giáo hay không; không phân biệt hay kỳ thị bất kỳ tôn giáo nào dù nội sinh hay được truyền từ nước ngoài, dù là tôn giáo đã ổn định lâu dài hay mới được công nhận.

Thực tế cũng cho thấy, các tín đồ tôn giáo ở Việt Nam ngày càng đông và họ được tự do hành lễ dù ở nhà riêng hay nơi thờ tự. Mỗi người Việt Nam cũng thường có tín ngưỡng riêng, chẳng hạn như thờ cúng tổ tiên, ngày rằm mùng một thắp hương… nhưng vẫn có thể theo tôn giáo. Ngoài ra, nhiều lễ hội tôn giáo diễn ra hằng năm không còn là chuyện riêng của từng tôn giáo mà đã có sức lan tỏa lớn trong cộng đồng xã hội, qua đó làm giàu thêm đời sống tinh thần của nhân dân. 

Qua đó để thấy rằng, việc một số cá nhân, tổ chức nước ngoài thường xuyên bóp méo hoặc có cái nhìn sai lệch về tình hình tự do tôn giáo ở Việt Nam có thể do mưu đồ rắp tâm chống phá Việt Nam thông qua vấn đề dân chủ, tôn giáo và nhân quyền, hoặc cũng có thể do sự khác biệt trong cách nhìn và quan niệm của họ về vấn đề này. 

Can thiệp sâu vào tình hình tự do nhân quyền cũng như tự do tín ngưỡng, tôn giáo của các quốc gia khác và cố bắt các quốc gia ấy phải mặc “bộ cánh tự do tôn giáo” mang màu sắc phương Tây là điều không thể chấp nhận được. Bộ cánh ấy qua mô tả thì rất mỹ miều và hợp thời, nhưng liệu đã có ai thừa nhận sự chuẩn mực của nó?

          (Nguồn: Hương Sen Việt)

Jul 1, 2022

Không thể xuyên tạc chủ trương, chính sách hợp lòng dân

  

Đồng chí Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng nhiều lần nhấn mạnh công tác cán bộ là “khâu then chốt của mọi then chốt”, “nguyên nhân của mọi nguyên nhân”, là cơ sở để đấu tranh phòng, chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống; “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ, chống chủ nghĩa cá nhân. Vì thế, đồng chí Tổng Bí thư yêu cầu toàn Đảng phải chuyển biến mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo” Bác, gắn với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu.

Mới đây, Ban Chấp hành Trung ương (khóa XIII) đã ban hành Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25/10/2021 về “Đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” và Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm. Đây là cơ sở lý luận – thực tiễn rất quan trọng để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và bác bỏ mọi quan điểm sai trái, xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Đảng, khi cho rằng Đảng ta “không đủ năng lực xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh”, “Đảng không đủ phẩm chất lãnh đạo đất nước”, v.v..

Những điểm mới nổi bật và quyết tâm chính trị của Đảng ta trong Kết luận số 21-KL/TW

So với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Kết luận số 21-KL/TW của Đảng thể hiện rõ thái độ, quan điểm, lập trường và quyết tâm chính trị của Đảng ta về tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng với một số điểm mới cần nắm vững:

(1). Mở rộng phạm vi, không chỉ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng mà còn bao gồm cả trong xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh.

(2). Thể hiện rõ quan điểm, lập trường và quyết tâm chính trị nhất quán, quyết liệt hơn, cùng với ngăn chặn, đẩy lùi còn phải chủ động phòng ngừa, kiên quyết đấu tranh, xử lý nghiêm sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những hành vi tham nhũng, tiêu cực, chống mọi biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân

(3). Mục tiêu được xác định cao hơn và sát hợp hơn với tình hình mới. Trong đó nhấn mạnh: Kiên quyết đấu tranh chống chủ nghĩa cá nhân và kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa “xây” và “chống”, xây là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; chống là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách, thường xuyên. Điểm mới nổi bật trong mục tiêu trên là nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội.

(4). Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu là toàn diện, đồng bộ và sắc bén hơn. Nếu Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) đề ra 04 nhóm nhiệm vụ, giải pháp thì lần này, Kết luận Trung ương 4 (khóa XIII) đề ra 05 nhóm nhiệm vụ, giải pháp lớn:

Một là, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác chính trị, tư tưởng, tự phê bình và phê bình.

Hai là, tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược và người đứng đầu gắn với đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Đây là giải pháp mới, rất hợp lòng dân.

Ba là, tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách, trước hết là: (1). Rà soát, thể chế hoá, kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định, quy chế hiện có, bảo đảm đồng bộ, thống nhất giữa quy định của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước. (2). Kiểm soát quyền lực, chống chạy chức, chạy quyền; xây dựng cơ chế chú trọng phát hiện, lựa chọn, đào tạo, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. (3). Nghiên cứu, ban hành các cơ chế về thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; có cơ chế bảo vệ, khuyến khích nhân dân tố giác cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực. (4). Chú trọng hoàn thiện hệ thống pháp luật: đầy đủ, đồng bộ, công khai, minh bạch; không để xảy ra tình trạng lồng ghép “lợi ích nhóm. (5). Hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực trong các lĩnh vực, nhất là các lĩnh vực dễ phát sinh tham nhũng, tiêu cực như quản lý tài chính, ngân sách, đất đai, cơ sở vật chật,…

Bốn là, tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm. So với Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII), Kết luận Hội nghị Trung ương 4 (khóa XIII) đã bổ sung nội dung “kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực; xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên vi phạm”. Đây là một trong những điểm mới nổi bật.

Năm là, phát huy vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, trong đó: (1). Tiếp tục hoàn thiện cơ chế nhân dân tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. (2). Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp phải tăng cường trách nhiệm giải trình, thực hiện nghiêm quy định của Đảng, Nhà nước về tiếp công dân, đối thoại với công dân.

Những điểm mới nổi bật trong Quy định số 37-QĐ/TW về những điều đảng viên không được làm: sự hội tụ “ý Đảng – lòng Dân”

Quy định số 37-QĐ/TW, ngày 25/10/2021 về những điều đảng viên không được làm (gọi tắt là Quy định số 37-QĐ/TW) giữ nguyên 19 điều như trước đây nhưng đưa nội dung của 2 điều vào những điều khác và thêm 02 điều mới; kế thừa cơ bản những nội dung còn phù hợp, bổ sung một số nội dung mới, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ xây dựng, chỉnh đốn Đảng phù hợp với tình hình mới. Cụ thể như sau:

Một là, đưa nội dung của 02 điều vào các điều khác, đó là: (1). Đưa nội dung của Điều 7 trong Quy định số 47: “Đảng viên tự ứng cử, nhận đề cử và đề cử các chức danh của tổ chức nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội (theo quy định phải do tổ chức đảng giới thiệu) khi chưa được tổ chức đảng có thẩm quyền cho phép” vào Điều 2, Quy định số 37; (2). Đưa nội dung Điều 10, Quy định số 47: “Can thiệp, tác động đến tổ chức, cá nhân để bản thân hoặc người khác được bổ nhiệm, đề cử, ứng cử, đi học, đi nước ngoài trái quy định. Lợi dụng chức vụ được giao để chiếm dụng, vay, mượn tiền, tài sản của đối tượng trực tiếp quản lý trái quy định. Ép buộc, mua chuộc cá nhân hoặc tổ chức để bao che, giảm tội cho người khác” vào nội dung Điều 12 và Điều 13, Quy định số 37.

Hai là, bổ sung 02 điều mới, cụ thể là: (1). Bổ sung Điều 3, Quy định số 37: quy định về những hành vi suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Đó là “Phản bác, phủ nhận, xuyên tạc chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; không thực hiện trách nhiệm nêu gương; chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, vụ lợi; “tư duy nhiệm kỳ”, đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, xa rời quần chúng”. (2). Bổ sung Điều 13, Quy định số 37: đảng viên không được “Can thiệp, tác động vào hoạt động kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, xét đặc xá, giải quyết khiếu nại, tố cáo để bao che, tiếp tay cho các hành vi vi phạm quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước; tác động, ép buộc, mua chuộc tổ chức, cá nhân để giảm trách nhiệm, hình phạt cho người khác”.

Ba là, Quy định số 37-QĐ/TW đã bổ sung vào một số điều so với Quy định số 47-QĐ/TW với nội dung “cấm đảng viên” như sau: (1). Điều 6: Bổ sung nội dung cấm đảng viên “Đe dọa, trù dập, trả thù người khiếu nại, tố cáo; không thực hiện các quy định của Đảng và pháp luật về bảo vệ người tố cáo, phê bình, góp ý”; (2). Điều 9: Bổ sung nội dung cấm đảng viên “Sử dụng văn bằng, chứng chỉ, chứng nhận giả, không hợp pháp; nhập quốc tịch, chuyển tiền, tài sản ra nước ngoài, mở tài khoản và mua bán tài sản ở nước ngoài trái quy định”; (3). Điều 11: Bổ sung nội dung cấm đảng viên “Lợi dụng chủ trương khuyến khích và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung để thực hiện hoặc bao che hành vi vụ lợi, tham nhũng, tiêu cực, vi phạm quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước”; (4). Điều 12: Bổ sung nội dung cấm đảng viên “Có hành vi chạy chức, chạy quyền”; (5). Điều 14: Bổ sung nội dung cấm đảng viên “Tham ô”; (6). Điều 18: Bổ sung nội dung cấm đảng viên “Thờ ơ, vô cảm với các hành vi sai trái trong xã hội”.

Bốn là, thay đổi thứ tự một số điều không được làm, như Điều số 2 trong Quy định số 47 là đảng viên không được “Cung cấp, để lộ, làm mất hoặc viết bài, đăng thông tin, tài liệu bí mật của Đảng và Nhà nước…” trong Quy định số 37-QĐ/TW được xếp ở Điều 4.

Năm là, chính xác hóa thể thức văn bản và diễn đạt một số điều cho chặt chẽ hơn và biên tập, diễn đạt một số điều cho dễ hiểu, dễ nhớ hơn.

Rõ ràng, hai văn bản nêu trên là minh chứng sinh động, đầy thuyết phục để bác bỏ mọi chiêu trò xuyên tạc, nói xấu, hạ thấp uy tín, vị thế và tầm ảnh hưởng to lớn, có ý nghĩa quyết định mọi thắng lợi cách mạng Việt Nam do Đảng ta lãnh đạo mà những người có quan điểm đối lập với Đảng, Nhà nước ta đang ra sức tuyên truyền trên mạng xã hội.

Điều đó chứng tỏ rằng, ở Việt Nam mọi sự bịa đặt, tung tin sai trái không thể lừa bịp được nhân dân. Bởi, nhân dân luôn bênh vực, bảo vệ và đứng về lẽ phải, tin tưởng và hết lòng ủng hộ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước vì nó hợp lòng dân.

Đúng là, sự thật không thể xuyên tạc; chân lý khoa học không thể “bẻ cong”. Sự chống phá, xuyên tạc của những người có tâm địa xấu không thể ngăn bước, cản đường đi tới, thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của nhân dân ta./.

(Nguồn: Hương Sen Việt)

 

Jun 28, 2022

Kiên quyết đấu tranh quét sạch chủ nghĩa cá nhân, xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị


Phẩm chất cao đẹp, danh hiệu cao quý “Bộ đội Cụ Hồ” là hồn cốt, là cội nguồn sức mạnh, là thành trì của Quân đội nhân dân Việt Nam. Song, giá trị cốt lõi đó đang chịu sự tác động, chống phá từ nhiều mặt; trong đó, chủ nghĩa cá nhân là sự phá hoại nội sinh, nguy hiểm nhất, khó chống đỡ nhất. Vì vậy, kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, vừa cấp bách, cần làm ngay, vừa thường xuyên, lâu dài của các cấp ủy, tổ chức đảng; là trách nhiệm của mọi cán bộ, đảng viên và quần chúng trong Quân đội, trước hết là đội ngũ cấp ủy viên, cán bộ chủ trì các cấp.

Kiên quyết quét sạch chủ nghĩa cá nhân để phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” phát huy, tỏa sáng, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị đòi hỏi phải tiến hành tổng thể các hoạt động của cấp ủy, chỉ huy các cấp trong lãnh đạo, chỉ đạo và quá trình tu dưỡng, rèn luyện, thực hiện chức trách, nhiệm vụ của mỗi quân nhân; trong đó, cần tập trung thực hiện tốt một số giải pháp sau:

Một là, tăng cường công tác giáo dục, tuyên truyền. Những giá trị cốt lõi của “Bộ đội Cụ Hồ” được hun đúc và xuất phát từ chính nhận thức, tình cảm và trách nhiệm vì Tổ quốc, vì nhân dân của mỗi cán bộ, chiến sĩ. Đối lập với đó, gốc rễ chủ nghĩa cá nhân cũng nảy sinh từ những nhận thức sai trái, lệch lạc của mỗi quân nhân. Vì vậy, giải pháp nền tảng, xuyên suốt là thường xuyên giáo dục, tuyên truyền làm cho mọi cán bộ, chiến sĩ thực sự giác ngộ mục tiêu, lý tưởng cách mạng; luôn thấm sâu trong nhận thức rằng: giữ gìn và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân vừa là trách nhiệm của thế hệ hôm nay với những cống hiến, hy sinh to lớn của thế hệ cha anh đi trước, vừa là nhu cầu khẳng định bản thân cũng như giá trị của “Bộ đội Cụ Hồ” trong xã hội hiện nay. Để đạt hiệu quả, cấp ủy, tổ chức đảng các cấp cần nhận thức đúng và coi trọng lãnh đạo thực hiện tốt công tác giáo dục chính trị, tư tưởng với tinh thần đổi mới, sáng tạo, thực chất. Nội dung giáo dục phải toàn diện, song cần tập trung vào những vấn đề cốt lõi là: chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu, lý tưởng cách mạng; các nghị quyết, chỉ thị của Đảng, Quân ủy Trung ương; đạo đức cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư và tinh thần suốt đời phụng sự Tổ quốc, phụng sự nhân dân của người quân nhân cách mạng. Trong tiến hành giáo dục phải không ngừng đổi mới nội dung, phương pháp bằng nhiều hình thức phong phú, đa dạng, sinh động, phù hợp với từng đối tượng. Đồng thời, kết hợp chặt chẽ với nắm bắt tư tưởng, kịp thời phát hiện, giải quyết từ gốc những vấn đề nảy sinh, đặc biệt là tư tưởng bất mãn, dao động, v.v. Cùng với đó, cần đẩy mạnh công tác tuyên truyền gương người tốt, việc tốt trong học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, phấn đấu xứng danh “Bộ đội Cụ Hồ”,… tạo sự lan tỏa sâu rộng trong đơn vị. Qua đó, xây dựng cho cán bộ, chiến sĩ luôn có bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng; khơi dậy niềm vinh dự, tự hào, khát vọng cống hiến, khắc phục mọi khó khăn, thử thách, “vượt qua chính mình” trước những “cám dỗ” về vật chất, địa vị và sự lôi kéo, kích động của các thế lực thù địch để toàn tâm, toàn ý phấn đấu thực hiện mục tiêu, lý tưởng cách mạng của Đảng, hoàn thành xuất sắc mọi nhiệm vụ được giao.

Hai là, nêu cao ý thức “tự soi, tự sửa” trong tu dưỡng, rèn luyện đạo đức của mỗi quân nhân. Chủ nghĩa cá nhân nảy sinh trước hết từ mỗi cá nhân. Cá nhân lơ là, xem nhẹ, buông lỏng, thiếu ý thức tu dưỡng, rèn luyện đạo đức sẽ dẫn tới tha hóa, biến chất, thậm chí phản bội Tổ quốc. Đây cũng là điều mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng chỉ rõ: “Đạo đức cách mạng không phải trên trời sa xuống. Nó do đấu tranh, rèn luyện bền bỉ hằng ngày mà phát triển và củng cố. Cũng như ngọc càng mài càng sáng, vàng càng luyện càng trong”1. Vì vậy, trong tu dưỡng đạo đức cách mạng, mỗi quân nhân phải thường xuyên nghiêm túc “tự soi, tự sửa”, coi đó là nghĩa vụ, trách nhiệm, mục tiêu của bản thân. Để làm được điều đó, phải tự giác, thật thà, thẳng thắn “tự soi” những tồn tại, hạn chế, khuyết điểm của mình, nhất là hạn chế trong tư tưởng, suy nghĩ (mầm mống của suy thoái về tư tưởng chính trị), từ đó chủ động “tự sửa” với các biện pháp tích cực, nhằm ngăn chặn, đẩy lùi, loại bỏ những suy nghĩ và hành động trái với đạo đức của người quân nhân cách mạng.

Hiện nay, đạo đức của người quân nhân cách mạng chịu sự tác động của nhiều yếu tố; trong đó, lợi ích vật chất, “lợi ích cá nhân” là vấn đề cốt yếu, dẫn đến nhiều sai phạm. Vì vậy, mỗi quân nhân, nhất là cán bộ, chủ trì các cấp phải giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa lợi ích chung và lợi ích riêng theo nguyên tắc: luôn đặt lợi ích của cách mạng, của Đảng, của nhân dân, của Quân đội và tập thể cơ quan, đơn vị lên trên hết, trước hết; không được cơ hội, vụ lợi, thu vén vì lợi ích cho bản thân, gia đình mà bỏ qua lợi ích tập thể. Bởi, thực tiễn cho thấy: chỉ khi nào mọi quân nhân, nhất là đội ngũ cán bộ, đảng viên hết lòng, hết sức cho sự ổn định, phát triển của cơ quan, đơn vị thì khi đó chủ nghĩa cá nhân được đẩy lùi và phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được gìn giữ, bồi đắp và phát huy.

Ba là, xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp vừa hồng, vừa chuyên. Đây là giải pháp căn bản nhất để đẩy lùi chủ nghĩa cá nhân trong từng cơ quan, đơn vị. Bởi, cán bộ là cái gốc của mọi công việc. Cán bộ tốt thì xây phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” thuận lợi; cán bộ xấu thì chống “chủ nghĩa cá nhân” rất khó khăn. Vì vậy, trong xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ trì các cấp, vấn đề quan trọng hàng đầu là: phẩm chất đạo đức trong sáng, ý thức tổ chức kỷ luật nghiêm; kiến thức, năng lực toàn diện,… đặc biệt là, bản lĩnh chính trị vững vàng, tuyệt đối trung thành với Tổ quốc, với Đảng, với Nhân dân; giữ vững và phát huy phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”; đề cao trách nhiệm nêu gương, quyết tâm đổi mới, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sẵn sàng đương đầu với khó khăn, thử thách, luôn nỗ lực hành động vì lợi ích chung của đất nước, Quân đội và đơn vị. Để có được đội ngũ cán bộ như vậy, các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt, triển khai đồng bộ các giải pháp đổi mới, nâng cao chất lượng ở tất cả các khâu, các bước trong công tác cán bộ theo phương châm thẳng thắn, khách quan, minh bạch, công khai. Triệt để loại bỏ tư tưởng cục bộ địa phương, “kéo bè, kéo cánh”, trù dập, chèn ép,… trong công tác cán bộ, tạo động lực mạnh mẽ để mọi cán bộ yên tâm công tác, phát huy hết năng lực, sở trường; có cơ hội và môi trường thuận lợi để cống hiến và phát triển.

Bốn là, thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ. Đảng lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt đối với Quân đội là nguyên tắc bất biến. Và, tập trung dân chủ là nguyên tắc nền tảng, vô cùng quan trọng, góp phần bảo đảm cho Quân đội vững mạnh về chính trị, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Chính vì thế, vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ được xác định là một trong những nguyên nhân cơ bản của nhiều vụ việc vi phạm ở một số tổ chức, cá nhân trong Quân đội thời gian qua. Vì vậy, các cấp ủy cần tiếp tục thực hiện nghiêm Quy định số 104-QĐ/QU, ngày 16/02/2017 của Quân ủy Trung ương về “Một số vấn đề cơ bản về thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ của tổ chức đảng trong Đảng bộ Quân đội nhân dân Việt Nam”. Trong đó, những vấn đề trọng yếu, nhạy cảm, dễ phát sinh tiêu cực, tham nhũng, như: công tác quân lực, công tác cán bộ; công tác tài chính, mua sắm vật tư, trang bị, tài sản công; xây dựng cơ bản, quy hoạch quản lý, sử dụng đất và công trình quốc phòng; chính sách nhà ở, đất ở của cán bộ,… nhất thiết phải được tập thể cấp ủy, tổ chức đảng thông qua mới thực hiện. Trong sinh hoạt đảng, nhất là ở chi bộ, từng đảng viên phải đề cao trách nhiệm tự phê bình và phê bình, bày tỏ chính kiến thẳng thắn, trung thực, khách quan, thấy đúng phải kiên quyết bảo vệ, thấy sai dám đấu tranh bác bỏ. Những vấn đề quan trọng, những ý kiến khác nhau phải được thảo luận kỹ, kết luận rõ ràng trước khi biểu quyết. Thực hiện tốt nội dung này sẽ ngăn chặn đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ trì - những người có chức, quyền sa vào chủ nghĩa cá nhân ngay từ gốc. Bởi, chi bộ là nơi quản lý, rèn luyện, giáo dục đảng viên.

Năm là, đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; kiên quyết xử lý nghiêm các sai phạm. Để tạo sức mạnh trong đấu tranh, ngăn chặn và quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, cấp ủy, tổ chức đảng các cơ quan, đơn vị cần tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác kiểm tra, kiểm soát theo nguyên tắc: mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế, quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch; nhất là trong công tác cán bộ và các lĩnh vực dễ để chủ nghĩa cá nhân chi phối dẫn đến nảy sinh tiêu cực, tham nhũng, lãng phí. Ủy ban kiểm tra các cấp cần tăng cường công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất để kịp thời cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm, kiên quyết không để lọt những người không bảo đảm tiêu chuẩn, điều kiện, có biểu hiện cơ hội chính trị, tham vọng quyền lực, tư duy nhiệm kỳ vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo, chỉ huy, quản lý. Phối hợp chặt chẽ giữa công tác bảo vệ chính trị nội bộ với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, chủ động nắm chắc tình hình mọi mặt của cơ quan, đơn vị, kịp thời phát hiện, ngăn ngừa các biểu hiện, hành vi của chủ nghĩa cá nhân, vi phạm đạo đức, phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” từ sớm, từ xa. Kiên quyết xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật Nhà nước, kỷ luật đảng, kỷ luật Quân đội theo tinh thần không có “vùng cấm”, loại bỏ “cành sâu, mục để giữ cho cây khỏe mạnh” ngay trong từng cơ quan, đơn vị.

Cùng với đó, các cấp ủy, cơ quan, đơn vị cần chăm lo xây dựng tổ chức đảng, tổ chức chỉ huy trong sạch, vững mạnh, các tổ chức quần chúng vững mạnh xuất sắc; đồng thời, xây dựng môi trường văn hóa tốt đẹp, phong phú, lành mạnh, tạo điều kiện thuận lợi để đấu tranh quyét sạch chủ nghĩa cá nhân, làm cho phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” được phát huy và lan tỏa sâu rộng.

Tiến hành các giải pháp trên đòi hỏi nhận thức sâu sắc, quyết tâm chính trị cao, hành động quyết liệt, chủ động, sáng tạo của cấp ủy, chỉ huy các cấp và cán bộ, chiến sĩ toàn quân. Thực hiện tốt nội dung quan trọng này không chỉ làm cho chủ nghĩa cá nhân bị quyét sạch, mà còn tô thắm và làm sáng mãi phẩm chất cao đẹp “Bộ đội Cụ Hồ”, góp phần xây dựng Quân đội vững mạnh về chính trị, nâng cao chất lượng tổng hợp, sức mạnh chiến đấu; xứng đáng là lực lượng chính trị, lực lượng chiến đấu trung thành, bảo vệ Đảng, Nhà nước và Nhân dân.

(nguồn Tạp chí Quốc phòng toàn dân)

Jun 22, 2022

Sự can thiệp thô bạo, vô lý vào công việc nội bộ Việt Nam của Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ

            Tre Việt - Ngày 17/6 vừa qua, Tòa án nhân dân Thành phố Hà Nội đã tuyên phạt bà Ngụy Thị Khanh (sinh năm 1976, trú tại số 41, Hồ Tùng Mậu, quận Nam Từ Liêm, Thành phố Hà Nội), Giám đốc Trung tâm Phát triển sáng tạo xanh (GreenID) 24 tháng tù giam với tội danh trốn thuế theo Điều 200, Bộ luật Hình sự. Lợi dụng việc này, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do cho Ngụy Thị Khanh. Lý do mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ đưa ra là bà này hoạt động vì môi trường nên việc trốn thuế là không thể xảy ra. Trong tuyên bố của mình, họ kêu gọi Chính phủ Việt Nam trả tự do cho bà Khanh, người được quốc tế công nhận về các nỗ lực chống biến đổi khí hậu và thúc đẩy các vấn đề năng lượng bền vững ở Việt Nam. Hoa Kỳ cũng kêu gọi Việt Nam trả tự do cho các nhà hoạt động môi trường khác đang bị giam giữ - những người hoạt động vì lợi ích của Việt Nam và người dân. Như nắng hạn gặp trời mưa, đám kền kền “dân chủ” hùa theo để xuyên tạc về vụ án này, khi rêu rao: “Chúng tôi tin rằng các cáo buộc pháp lý chống lại cô ấy là một phần trong nỗ lực rộng lớn hơn nhằm bịt miệng các nhà lãnh đạo môi trường ở Việt Nam”.

Việc xét xử công dân Việt Nam vi phạm pháp luật Việt Nam là chuyện hết sức bình thường, vậy mà Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ không biết vì lý do gì lại lên tiếng can thiệp vào việc này. Không phân biệt được giữa công và tội khi kể lể dài dòng các công trạng của bà Khanh với môi trường, nhưng họ lại quên không liệt kê hành vi trốn thuế của bà này. Pháp luật cần phải có sự công bằng, có công thì thưởng, có tội thì phạt. Hành vi chốn thuế là vi phạm pháp luật, lẽ đương nhiên sẽ bị xử lý để bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật, dù công trạng của bà này có nhiều như nào đi chăng nữa.

Chúng ta đều biết, thuế là một khoản thu bắt buộc, không bồi hoàn trực tiếp của Nhà nước đối với các tổ chức và các cá nhân nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu của Nhà nước vì lợi ích chung. Thuế được dùng để làm nguồn thu vào ngân sách nhà nước, từ đó thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng hạ tầng, cơ sở vật chất công cộng, phục vụ cho người dân, trong đó một phần sẽ được sử dụng để cải tạo môi trường. Do đó, Ngụy Thị Khanh và GreenID trốn thuế là sai trái cần bị xử lý theo pháp luật. Điều đáng nói ở đây là hành vi của Khanh phạm vào tội trốn thuế khi bà này là Giám đốc trung tâm phát triển sáng tạo xanh GreenID. Mặc dù dưới danh nghĩa là hoạt động môi trường nhưng Công ty của bà Khanh là công ty tư nhân, hoạt động có lợi nhuận, việc trốn tránh nghĩa vụ đóng thuế không thể chối bỏ, mặc dù có thể công ty GreenID cũng có những hoạt động hữu ích. Khanh bị kết án về tội trốn thuế, là tội danh mà bất cứ quốc gia nào cũng xử lý nghiêm khắc, trong đó có Hoa Kỳ. Vậy tại sao Bộ Ngoại giao Mỹ lại kêu gọi Việt Nam trả tự do cho bà ta chỉ với lý do bà ta là “người hoạt động vì môi trường”.

Mặt khác, nếu cho rằng cơ quan pháp luật của Việt Nam kết án về tội trốn thuế cho bà Khanh là oan, vậy Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ hãy đưa ra chứng cứ để chứng minh, thay vì cứ đưa ra những thông tin lập lờ, nhằm đánh lận bản chất vụ án, hướng lái, xuyên tạc chính quyền cố tình “bắt bớ người vô tội”, gây chia rẽ, làm giảm niềm tin của nhân dân đối với chính quyền các cấp.

Vì thế, việc Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ kêu gọi trả tự do cho Ngụy Thị Khanh là hành vi sai trái và rất vô lý, can thiệp trắng trợn vào công việc nội bộ của Việt Nam, hành vi đó cần phải lên án, bác bỏ./.

Cảnh giác trước luận điệu xuyên tạc về chính sách đất đai

  

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Nội dung này được đông đảo người dân đồng tình, ủng hộ. Bất chấp thực tế đó, các thế lực thù địch, phản động, cực đoan thường xuyên tuyên truyền những luận điệu sai trái, xuyên tạc chính sách đất đai của Việt Nam, âm mưu làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta.

Điều 53 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Đất đai, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, vùng trời, tài nguyên thiên nhiên khác và các tài sản do Nhà nước đầu tư, quản lý là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý”. Xét từ góc độ lý luận và thực tiễn cho thấy chế độ sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam hiện nay thể hiện tính đúng đắn, phù hợp điều kiện cụ thể của nước ta cũng như định hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta lựa chọn.

Trong thời kỳ quá độ, Việt Nam phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chấp nhận đa thành phần kinh tế, đa hình thức sở hữu để phù hợp trình độ không đồng đều của lực lượng sản xuất nhằm giải phóng sức sản xuất, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tuy nhiên, ngay từ đầu, mục tiêu phát triển kinh tế của Việt Nam là bảo đảm kết quả tăng trưởng kinh tế phục vụ cho lợi ích của tất cả mọi giai tầng trong xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Trong nền kinh tế Việt Nam, chế độ công hữu tư liệu sản xuất chủ yếu giữ vai trò chủ đạo bởi như vậy mới giúp tạo ra sự bình đẳng về kinh tế, tạo cơ sở để người dân thực hiện quyền bình đẳng và quyền làm chủ của mình trên các lĩnh vực khác của đời sống. Do đó, đất đai với tư cách là một trong những loại tư liệu sản xuất đặc biệt quan trọng có tính chất quyết định trong phát triển kinh tế cũng thuộc quyền sở hữu toàn dân.

Từ đây có thể thấy, quan điểm cho rằng Việt Nam phát triển kinh tế đa thành phần, nhiều hình thức sở hữu thì phải thừa nhận chế độ đa sở hữu về đất đai (tức là thừa nhận sở hữu tư nhân về đất đai) như nhiều nước trên thế giới mới phù hợp và bảo đảm dân chủ, công bằng là hết sức võ đoán và phi lý. Ở nhiều nước tư bản hiện nay thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai gồm: sở hữu tư nhân, sở hữu tập thể, sở hữu của các cơ quan nhà nước, tuy nhiên đa phần diện tích đất ở và đất sản xuất, kinh doanh đều thuộc sở hữu tư nhân, mà chủ yếu là các nhà tư bản. Đây là một trong những nguyên nhân làm gia tăng tình trạng phân hóa giàu nghèo, phân hóa xã hội ngày càng sâu sắc tại các quốc gia này. Tất nhiên, theo quy định pháp luật khi cần Nhà nước cũng có thể thu hồi đất của tư nhân để phục vụ phát triển kinh tế-xã hội hay thực hiện nhiệm vụ quốc phòng-an ninh. Nhưng Nhà nước tư sản do giai cấp tư sản lập nên và sử dụng để bảo vệ tối đa cho quyền và lợi ích của mình, do đó, nếu có thu hồi, trưng dụng đất tư vì bất cứ mục đích gì thì cũng không nằm ngoài phạm vi bảo vệ và phục vụ tốt hơn cho lợi ích cho giai cấp tư sản. Cho nên, sở hữu tư nhân, đa sở hữu về đất đai không thể trở thành cơ sở để bảo đảm mục tiêu phát triển kinh tế vì con người, gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội như chế độ công hữu về đất đai, tất cả mọi người dân đều là chủ sở hữu của đất đai như ở Việt Nam hiện nay. Điều này đồng nghĩa với việc đòi hỏi từ bỏ chế độ sở hữu toàn dân về đất đai để thừa nhận sở hữu tư nhân hay chế độ đa sở hữu về đất đai là nhằm mưu đồ đòi hỏi từ bỏ những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”, làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa, theo đúng ý đồ của các thế lực thù địch.

Theo quy định của Hiến pháp và pháp luật Việt Nam, đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Theo đó, Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu có thể thực hiện vai trò kiểm soát, quản lý và điều tiết các quan hệ đất đai trên cơ sở bảo đảm sự bình đẳng của người dân trong việc thực hiện các quyền với tư cách là chủ sở hữu thật sự đối với tài nguyên đất nhằm hưởng lợi tối đa từ nguồn tài nguyên này một cách công bằng; khắc phục và hạn chế ở mức thấp nhất những vấn đề liên quan đến sự phân hóa giàu nghèo, bất bình đẳng về thu nhập từ đất đai. Hơn nữa, việc đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý cũng tạo điều kiện thuận lợi cho Nhà nước Việt Nam có thể sử dụng nguồn tài nguyên này phục vụ các mục tiêu phát triển kinh tế-xã hội. Như vậy, Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý về đất đai là nhằm mục đích để tài nguyên đất được sử dụng một cách hợp lý và hiệu quả nhất phục vụ cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa, vì lợi ích của nhân dân. Do đó, việc các thế lực thù địch đưa ra luận điệu cho rằng “sở hữu toàn dân về đất đai ở Việt Nam là thực hiện quyền làm chủ của nhân dân trên hình thức còn thực tế đã tước quyền sở hữu của nhân dân bởi thực chất, đất đai thuộc quyền sở hữu, quản lý của Nhà nước, của các cơ quan, tổ chức và những người trong bộ máy Nhà nước” là đánh tráo khái niệm nhằm mục đích dẫn đến cách hiểu sai lầm về bản chất của chế độ sở hữu đất đai ở Việt Nam.

Bên cạnh đó, với chế độ sở hữu toàn dân về đất đai do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, luật pháp Việt Nam nhất là Luật Đất đai năm 2013 đã cung cấp những căn cứ để phân định rõ ràng quyền hạn cũng như trách nhiệm của người sử dụng đất (người được giao đất và người thuê đất) và người đại diện chủ sở hữu toàn dân, thống nhất quản lý đất (cơ quan nhà nước các cấp). Cụ thể: Điều 5 của Luật Đất đai năm 2013 quy định: Người sử dụng đất gồm: tổ chức trong nước; hộ gia đình, cá nhân trong nước; cộng đồng dân cư; cơ sở tôn giáo; tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao; người Việt Nam định cư ở nước ngoài; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Điều 7, 8 của Luật Đất đai cũng quy định rõ cá nhân nào có đủ tư cách là đại diện pháp lý trong các giao dịch đất đai của các chủ thể sử dụng đất theo Điều 5; đồng thời luật cũng phân định rõ ràng các quyền hạn và trách nhiệm của Nhà nước với tư cách đại diện chủ sở hữu toàn dân về đất đai (từ Điều 13 đến Điều 21).

Như vậy, không có chuyện như các thế lực thù địch vẫn rêu rao, xuyên tạc đó là sở hữu đất đai toàn dân thì “mù mờ về pháp lý”, không tìm thấy các chủ thể trong các quan hệ pháp lý về đất đai, đặc biệt khi có những tranh chấp, xung đột, mâu thuẫn… về đất đai xảy ra thì không có cơ sở pháp lý để giải quyết đúng đắn, công bằng. Và càng không thể có chuyện phải chuyển từ sở hữu toàn dân sang đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì mới giải quyết được tình trạng này.

Ở các nước trên thế giới khi thực hiện chế độ đa sở hữu về đất đai, thừa nhận sở hữu tư nhân thì những tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột vẫn xảy ra khá phổ biến vì nhiều lý do mà một trong số đó là bởi Nhà nước vẫn có quyền thu hồi, trưng dụng đất tư trong những trường hợp cần thiết. Điều đó cũng rất dễ nảy sinh tình trạng lạm quyền, tiêu cực dẫn đến các tranh chấp, mâu thuẫn, xung đột đất đai gây bức xúc trong dư luận xã hội. Thực tế, ở nhiều nước chính quyền đã mang xe ủi đi cưỡng chế giải tỏa đất đai cho mục tiêu phát triển kinh tế của mình. Điều này đồng nghĩa với việc sở hữu toàn dân không phải là căn nguyên của tình trạng tiêu cực, mâu thuẫn, tranh chấp, xung đột hay những điểm nóng về đất đai ở nước ta hiện nay. Muốn giải quyết những tiêu cực, bức xúc, tranh chấp, điểm nóng về đất đai thì phải bắt đầu từ sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện chính sách, pháp luật, quy định về quản lý, sử dụng đất; có những biện pháp tổ chức thực hiện hiệu quả chứ không phải là nằm ở việc thay đổi chế độ sở hữu.

Có thể thấy, tất cả những quan điểm phê phán chế độ sở hữu đất đai toàn dân ở Việt Nam hiện nay là mục đích thu hẹp dần và tiến tới loại bỏ vai trò của Nhà nước Việt Nam trong quản lý đất đai, xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng với hoạt động đất đai để làm chệch hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Do đó, đòi hỏi chúng ta phải tỉnh táo nhận diện, cảnh báo người dân không bị lôi kéo, tin nghe theo các thông tin sai sự thật liên quan đến vấn đề đất đai; kịp thời đấu tranh phản bác các luận điệu xuyên tạc chế độ sở hữu toàn dân về đất đai./.

(Nguồn: Hương Sen Việt)