Aug 15, 2023

Việt Tân lại “mơ hão”


Tre Việt - Ngày 14/8/2023, trên trang facebook Việt Tân đăng hình ảnh với nội dung: bây giờ đã có mạng. Không ai tin báo đài. Nên bỏ Ban Tuyên giáo. Đỡ tốn tiền, đỡ hài. Bất kể ai đọc status này của Việt Tân đều thấy hài ước và hiểu được trình độ thấp kém của những “anh hùng bàn phím” Việt Tân.

Mạng xã hội (social network) là hệ thống thông tin cung cấp cho cộng đồng người sử dụng mạng các dịch vụ lưu trữ, cung cấp, sử dụng, tìm kiếm, chia sẻ và trao đổi thông tin với nhau, bao gồm dịch vụ tạo trang thông tin điện tử cá nhân, diễn đàn (forum), trò chuyện (chat) trực tuyến, chia sẻ âm thanh, hình ảnh và các hình thức dịch vụ tương tự khác. Hiện nay, mạng xã hội là không gian mở; nó cũng là mảnh đất màu mỡ, môi trường thuận lợi để các đối tượng “xã hội đen”, kẻ xấu, các thế lực thù địch, phản động, những đối tượng bất mãn chế độ,… lợi dụng để kêu gào, tuyên truyền phát tán những nội dung xấu độc, tạo dư luận xấu, nhằm làm đảo lộn cuộc sống của người dân, gây mất ổn định an ninh chính trị, qua đó hòngchống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội của Việt Nam. Thời gian qua, trên mạng xã hội, mạng internet xuất hiện rất nhiều thông tin giả mạo, thông tin không chính thống, không được kiểm chứng, không được công bố bởi các cơ quan chức năng. Những thông tin giả mạo này được một số đối tượng xấu, theo tư duy đám đông chia sẻ, lan truyền mạnh mẽ, nhất là khi trong đời sống xã hội và cá nhân xuất hiện những sự việc nhạy cảm. Với bản chất là một trang tin chuyên “chống cộng sản”, nên trang tin của Việt Tân luôn được sử dụng để đăng tải, phát tán, lan truyền những bài viết có nội dung xấu độc, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội của Việt Nam. Chính vì vậy, những thông tin mà Việt Tân đưa ra đều là sự xuyên tạc, thổi phồng quá mức để vu khống, không đáng tin cậy.

Những tin tức trên kênh thông tin của Ban Tuyên giáo đều chuyển tải những chủ trương, định hướng lãnh đạo của Đảng, Nhà nước; phản ánh trung thực tình hình phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng Đảng, bảo đảm quốc phòng, an ninh đất nước, v.v. Thì trang thông tin của Việt Tân lại luôn tìm mọi cách, mọi thủ đoạn hèn hạ để hạ bệ, xuyên tạc sai sự thật, bôi nhọ, v.v.Thực tiễn đã minh chứng: sự thật là chân lý, tự nó sẽ bác bỏ mọi xuyên tạc. Và, như thế có lẽ, ước mơ của Việt Tân là “bỏ Ban Tuyên giáo” sẽ chỉ là “mơ hão”, không bao giờ trở thành hiện thực, vì vai trò của Ban Tuyên giáo vô cùng quan trọng trong xã hội. Những thông tin của Ban Tuyên giáo không chỉ phản bác, bẻ cong các luận điệu xuyên tạc mà còn thể hiện vai trò “đi trước mở đường, đi cùng thực hiện, đi sau tổng kết”; đảm nhận vai trò tiên phong trên mặt trận tư tưởng, văn hóa của Đảng, góp phần bảo vệ vững chắc, bổ sung, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; tạo sự thống nhất về nhận thức và hành động trong toàn Đảng và trong xã hội; củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; khơi dậy ý chí, khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc của dân tộc Việt Nam./.

 

Aug 14, 2023

Quỹ nhân quyền lại lộng ngôn, hàm hồ

Tre Việt - Mới đây, kênh tiếng Việt Đài RFA phát tán tài liệu: “Quỹ nhân quyền (HRF): Việt Nam nằm trong số các quốc gia đàn áp báo chí nhất ở châu Á”, trong đó cho rằng: Việt Nam “kiểm duyệt hà khắc” internet, mạng xã hội, khi yêu cầu các công ty công nghệ (Facebook, Google) xóa các nội dung chỉ trích chế độ, sử dụng “điều luật mơ hồ để đàn áp” các nhà báo đăng tải các bài viết về các chủ đề nhạy cảm liên quan đến nhân quyền, môi trường, dân chủ, v.v. Thông tin này là hoàn toàn vô lý, không phản ánh đúng tình hình thực tế đang diễn ra tại Việt Nam, cho thấy HRF đang lộng ngôn, hàm hồ.

Cần khẳng định rõ: Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn nhất quán quan điểm, chủ trương bảo đảm thực thi đầy đủ các quyền của công dân, như: quyền tự do ngôn luận, tự do tôn giáo, tự do tín ngưỡng, v.v. Điều này, đã được quy định rõ trong hệ thống văn bản pháp luật, mà cao nhất là Hiến pháp, các Luật và văn bản dưới luật. Những năm qua, Việt Nam luôn nỗ lực xây dựng, hoàn chỉnh hệ thống văn bản pháp luật phù hợp với thực tiễn đặt ra. Trong lịch trình, kế hoạch làm việc của Quốc hội - Cơ quan quyền lực cao nhất thì nội dung xây dựng, điều chỉnh, bổ sung, sửa đổi các văn bản pháp luật luôn được coi trọng, đề cao. Mọi công dân Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, được tự do thực hiện các quyền của mình theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, không có ngoại lệ.

Ở Việt Nam, hệ thống các cơ quan báo chí được quan tâm xây dựng, phát triển, đồng hành cùng dân tộc trong công cuộc xây dựng đất nước, bảo vệ Tổ quốc. Năm 2022, Việt Nam có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí; 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình với khoảng 41.000 người hoạt động trong lĩnh vực báo chí, hơn 19.300 trường hợp được cấp thẻ nhà báo. Nhiều cơ quan báo chí lớn đã đặt cơ quan đại diện, văn phòng thường trú ở hầu khắp các địa phương trong cả nước và tại nhiều quốc gia trên thế giới. Những người làm báo chân chính đều được phép tự do hoạt động, hành nghề theo quy định của Luật Báo chí và được pháp luật tôn trọng, bảo vệ. Vì thế, đời sống báo chí ở Việt Nam là một bức tranh vô cùng sinh động, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội, là nơi cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội, tạo sự đồng thuận, gắn kết các tầng lớp nhân dân, tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào công cuộc đổi mới đất nước, phát triển phồn vinh, hạnh phúc. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, có một số nhà báo đã thiếu bản lĩnh, tỉnh táo, bị kích động, xúi giục, mua chuộc,… dẫn đến có những bài viết, chia sẻ thông tin chưa được kiểm chứng, thông tin không phù hợp ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia, dân tộc, vi phạm đạo đức người làm báo, vi phạm pháp luật nên đã bị các cơ quan chức năng điều tra, xử lý với đầy đủ chứng cớ xác thực. Vì vậy, HRF cho rằng: Việt Nam sử dụng “điều luật mơ hồ để đàn áp” các nhà báo đăng tải các bài viết về các chủ đề nhạy cảm liên quan đến nhân quyền, môi trường, dân chủ,… là hoàn toàn phi lý, không có cơ sở. Ngược lại, chính họ đang lợi dụng vấn đề này để tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước Việt Nam, cần bị lên án, bác bỏ.

Trước sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin, nhất là trên không gian mạng, với việc ngày càng hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật, các cơ quan chức năng tăng cường kiểm tra, kiểm soát nội dung đăng tải trên báo chí, nhất là mạng xã hội, sẽ hạn chế các kẻ hở, cơ hội để các tổ chức, cá nhân lợi dụng làm trái quy định của pháp luật Việt Nam. Do đó, việc các công ty công nghệ, như: Facebook, Google,… khi hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam đều phải tuân thủ pháp luật Việt Nam, xóa bỏ các nội dung có tính chất kích động bạo lực, tuyên truyền, xuyên tạc, chống phá chế độ, vi phạm pháp luật là điều đương nhiên. Vấn đề này, không chỉ có ở Việt Nam mà khi họ hoạt động, kinh doanh ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều phải tuân thủ pháp luật của quốc gia đó. Vì thế, việc HRF đề cập: Việt Nam “kiểm duyệt hà khắc” Internet, mạng xã hội là sự cố tình vu khống, làm phức tạp thêm tình hình./.     

 

Aug 2, 2023

Trò xuyên tạc suy diễn, võ đoán của RFA

           Tre Việt - Ngày 25/7, Đài Á Châu Tự Do (RFA) đăng bài: “Chạy chức chạy quyền: không thể dẹp chỉ bằng quy định của Đảng”. Trong bài viết, họ rêu rao, rằng: “dù có ban hành bao nhiêu quy định đi chăng nữa mà đảng vẫn đảm nhiệm công tác nhân sự thì không dẹp bỏ được nạn chạy chức chạy quyền dẫn đến tham nhũng”“nếu chỉ chăm chăm vào việc xóa bỏ nạn chạy chức chạy quyền hay con ông cháu cha bằng những quy định, mà không quyết tâm thay đổi cơ chế hiện hành, thì mọi việc chỉ dừng lại ở mức độ kêu gọi, hy vọng mà thôi”!

Cần khẳng định ngay rằng, những luận điệu trên là hết sức lố bịch, nhằm xuyên tạc Quy định số 114-QĐ/TW của Bộ Chính trị về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ.

Chúng ta đã biết, ngày 11/7/2023, thay mặt Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư, Trưởng Ban Tổ chức Trung ương Trương Thị Mai ký ban hành Quy định số 114-QĐ/TW của Bộ Chính trị “Về kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”, thay thế Quy định số 205-QĐ/TW, ngày 23/9/2019 của Bộ Chính trị “về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền”. Quy định số 114-QĐ/TW, gồm có 5 chương và 16 điều, nội dung cơ bản tiếp tục kế thừa nội dung đã được quy định trong Quy định số 205. Lần này, Quy định số 114-QĐ/TW có bổ sung, sửa đổi nhiều điểm mới rõ hơn, cụ thể hơn, rộng hơn để phù hợp với tình hình thực tế. Trước đây, xác định chạy chức, chạy quyền là một tiêu cực trong công tác cán bộ nhưng bây giờ, nếu chỉ chống chạy chức, chạy quyền thì chưa hết được tiêu cực, mà còn nhiều tiêu cực khác. Cho nên tên của Quy định số 114-QĐ/TW là “Kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực trong công tác cán bộ”, sẽ đầy đủ hơn, rộng hơn, bao hàm, kín kẽ hơn tất cả các mặt.

Quy định số 114-QĐ/TW, đã mở rộng nội hàm “nhốt quyền lực vào cơ chế” bằng những điều cụ thể: cấm hành vi lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn, gồm: dùng uy tín, ảnh hưởng của bản thân và người có quan hệ gia đình gợi ý, tác động, gây áp lực để người khác quyết định, chỉ đạo, tham mưu, đề xuất, nhận xét, đánh giá, biểu quyết, lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu nhân sự, bỏ phiếu bầu theo ý mình, để người có quan hệ gia đình, mối quan hệ thân quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn, uy tín của bản thân tác động, thao túng, can thiệp vào các khâu trong công tác cán bộ. Quy định còn nói rõ: không bố trí người có quan hệ gia đình đồng thời đảm nhiệm các chức danh liên quan như thành viên trong cùng ban thường vụ cấp ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, tập thể lãnh đạo cơ quan, đơn vị, v.v.

Con người là tài sản quý nhất, công tác cán bộ là công tác con người, là công tác đầu tiên, then chốt trong mọi công tác của Đảng, thể hiện Đảng lãnh đạo trực tiếp về công tác cán bộ. Quy định số 114-QĐ/TW ban hành thể hiện tính minh bạch, tin cậy trong công tác lãnh đạo; tăng cường trách nhiệm kiểm soát quyền lực; kịp thời phục vụ công tác lãnh đạo của Đảng trong thời kỳ mới. Đồng thời, thể hiện sự quyết tâm của Đảng trong việc hình thành và xây dựng văn hóa chính trị công bằng, trung thực, giúp tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước. Vì vậy, cái trò xuyên tạc của RFA sẽ chẳng lừa bịp được ai, mỗi người hãy đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh bác bỏ./.


Aug 1, 2023

Vạch trần âm mưu chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc

           Tre Việt - Vừa qua, các trang mạng xã hội của tổ chức và một số cá nhân thuộc “Liên đoàn Khmers Kampuchea-Krom” đưa thông tin cuộc họp của “Ban chuyên gia Liên hợp quốc về quyền con người, dân tộc bản địa” (EMRIP) tại Thụy Sĩ; trong đó, yêu cầu: “chính quyền Việt Nam không được bắt người dân tộc Khmer đi lính, sử dụng đất người Khmer xây doanh trại quân đội”. Đây là yêu cầu hết sức phi lý, nhằm kích động, chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, chống đối đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước cần bị vạch trần, lên án, bác bỏ.


           Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, với 54 dân tộc anh em cùng sinh sống. Trải qua lịch sử hàng nghìn năm dựng nước đi đôi với giữ nước đã khẳng định cộng đồng các dân tộc sinh sống trên lãnh thổ Việt Nam luôn đoàn kết, gắn bó, cùng nhau đánh đuổi giặc ngoại xâm, xây dựng đất nước, giữ vững truyền thống, bản sắc văn hóa của dân tộc Việt Nam nói chung, của từng dân tộc nói riêng, không bị đồng hóa về ngôn ngữ, chữ viết, v.v. Đặc biệt, trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ xâm lược, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cộng đồng các dân tộc Việt Nam đã đoàn kết, phát huy truyền thống yêu nước, quyết tâm, đồng lòng đứng lên đánh giặc. Đồng bào các dân tộc đã không tiếc máu xương, tính mạng, của cải,… cùng cả nước kháng chiến, đánh giặc. Và trong cuộc trường trinh ấy đã có rất nhiều những tấm gương chiến đấu anh dũng, sẵn sàng hi sinh vì độc lập, tự do, thống nhất của đất nước.

Bước vào thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhất là trong công cuộc đổi mới đất nước hiện nay, Đảng, Nhà nước ta tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, coi đây là sức mạnh nội sinh, tiềm tàng của đất nước. Đảng, Nhà nước ta đã có nhiều chủ trương, chính sách quan tâm phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, giáo dục,… vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu, vùng xa để miền núi tiến kịp miền xuôi. Riêng với cộng đồng dân tộc Khmer, những năm qua, Đảng, Nhà nước, cấp ủy, chính quyền các địa phương luôn quan tâm, có nhiều chủ trương, chính sách, dự án phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội của đồng bào Khmer, làm cho cuộc sống của người Khmer từng bước đổi thay, khởi sắc, đóng góp tích cực vào sự nghiệp xây dựng, phát triển đất nước, bảo vệ Tổ quốc.

Có thể khẳng định rằng: người Khmer đã, đang và sẽ mãi là một bộ phận không thể tách rời trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Mỗi người Khmer là một công dân Việt Nam, mỗi tấc đất của người Khmer đều là của đất nước Việt Nam. Chính vì vậy, họ đều có quyền lợi, trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, Tổ quốc bình đẳng như mọi công dân khác. Và đất đai của đất nước Việt Nam thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước là đại diện chủ sở hữu quản lý. Do đó, ngoài việc giao đất cho nhân dân sử dụng thì còn được dùng vào mục đích phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh khi cần.

Vì thế, những yêu sách hết sức phi lý của những kẻ vốn có thâm thù với đất nước, với dân tộc, sống lưu vong ở nước ngoài, tự cho mình là “đại diện” cho người Khmer hòngkích động, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc sẽ bị sự thực vạch trần, không lừa được ai. Bởi, 54 dân tộc anh em sinh sống trên đất nước Việt Nam luôn là một khối thống nhất, bền vững, không gì có thể lay chuyển được. Đó là chân lý không bao giờ thay đổi./.

 

Jul 27, 2023

Nguyễn Đình Cống - kẻ vong ân, bội nghĩa

           Tre Việt – Phát huy truyền thống, đạo lý “uống nước nhớ nguồn, ăn quả nhớ kẻ trồng cây” của dân tộc, trong những ngày này, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta đã và đang tổ chức rất nhiều hoạt động thiết thực, ý nghĩa kỷ niệm 76 năm Ngày Thương binh - Liệt sĩ (27/7/1947 – 27/7/2023). Ấy thế mà, Nguyễn Đình Cống lại viết bài “Ngày Thương binh Liệt sĩ: Một sự thật không được nói tới” đăng trên trang “baotiengdan”, thể hiện tính chất phản động, thù địch, khi cho rằng: Nhà nước ta tổ chức kỷ niệm Ngày Thương binh Liệt sĩ chỉ là “thủ đoạn ngụy biện bản chất của sự hy sinh”.

Đoàn viên, thanh niên dâng hương, dâng hoa
tại phần mộ các liệt sĩ. Ảnh: Hoài Thu/TTXVN.

Nguyễn Đình Cống đã cố tình quên, rằng: trong cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, giành độc lập, tự do cho Tổ quốc và cuộc sống bình yên, hạnh phúc của nhân dân; dưới sự lãnh đạo của Đảng, hàng triệu người con ưu tú của dân tộc đã dũng cảm chiến đấu, anh dũng hy sinh, hiến dâng máu xương của mình cho Tổ quốc. Máu đào và sự hy sinh của các anh hùng liệt sĩ đã tô thắm lá cờ cách mạng vẻ vang của Đảng, để đất nước ta nở hoa độc lập, kết trái tự do! Riêng đối với gia đình Nguyễn Đình Cống có 05 người là liệt sĩ.

Đảng, Nhà nước và nhân dân ta mãi mãi ghi công và đời đời biết ơn sự hy sinh, cống hiến to lớn của các anh hùng liệt sĩ. Các thế hệ người Việt Nam luôn tự hào và nguyện sống xứng đáng với sự hy sinh cao cả của các thế hệ đi trước! Thấm nhuần đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” của dân tộc Việt Nam, những năm qua, Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội luôn quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, thực hiện tốt công tác đền ơn đáp nghĩa, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của thương binh, bệnh binh, thân nhân liệt sĩ, người có công với cách mạng. Đại hội XIII của Đảng một lần nữa khẳng định: “Hoàn thiện và thực hiện tốt luật pháp, chính sách đối với người có công trên cơ sở nguồn lực của Nhà nước và xã hội, bảo đảm người có công và gia đình có mức sống từ trung bình khá trở lên trong địa bàn cư trú, giải quyết căn bản chính sách đối với người có công; nâng cấp các công trình “đền ơn đáp nghĩa”. Đây là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng, Nhà nước, thể hiện tình cảm, trách nhiệm, tính nhân văn sâu sắc để phát huy tinh thần yêu nước thương nòi, truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn”, “đền ơn đáp nghĩa” của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Các cấp, các ngành, các địa phương và toàn xã hội, đã có nhiều hoạt động sôi nổi, thiết thực, như: chăm sóc, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng, tặng quà, tặng sổ tiết kiệm, xây dựng nhà tình nghĩa, giúp đỡ, động viên gia đình chính sách, con em thương binh, liệt sĩ, tu bổ, tôn tạo nghĩa trang liệt sĩ và các công trình “đền ơn đáp nghĩa”, v.v. Đặc biệt, Lễ thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ được tiến hành vào dịp kỷ niệm ngày 27/7 năm nay tổ chức tại 63 tỉnh, thành ở tất cả các nghĩa trang, đài tưởng niệm liệt sĩ trong cả nước là một hoạt động có ý nghĩa nhân văn sâu sắc. Những hoạt động thiết thực đó đã góp phần thực hiện có hiệu quả chính sách “đền ơn đáp nghĩa”, “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc ta.

Hiện nay, đồng bào, chiến sĩ cả nước đã và đang tiếp nối những giá trị tốt đẹp của dân tộc ta để tri ân, báo đáp, đền ơn đối với những gia đình có công với cách mạng, những thương binh vẫn mang trên mình những vết thương của chiến tranh. Vậy hà cớ gì mà Nguyễn Đình Cống lại vong ân đến vậy? bội nghĩa đến thế? đối với đất nước, dân tộc, với chế độ xã hội chủ nghĩa và chính cả sự hy sinh của những người thân trong gia đình dòng tộc!


Jul 25, 2023

Chăm sóc người có công với cách mạng - sự thực không thể xuyên tạc

           Tre Việt – Thực hiện âm mưu, thủ đoạn chống phá Việt Nam, hễ cứ vào dịp tháng 7 hằng năm, trong khi cả nước hướng về Ngày Thương binh, Liệt sĩ 27/7 với biết bao lòng thành kính, nhớ ơn công lao to lớn của các anh hùng, liệt sĩ thì các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị lại đưa ra những luận điệu sai trái, xuyên tạc. Chúng lợi dụng những khó khăn, bất cập trong quá trình thực hiện chính sách ưu đãi đối với người có công ở một số địa phương để vu cáo: chính quyền không quan tâm “bỏ mặc các gia đình liệt sĩ, các thương, bệnh binh”, nhằm hạ bệ, phủ nhận vai trò, nỗ lực của Đảng, Nhà nước trong chăm lo người có công.

Cần khẳng định rõ: đây là luận điệu hết sức sai trái, thể hiện bản chất phi nhân văn, phản đạo đức của các thế lực thù địch. Bởi, những thông tin sai trái phát tán trên mạng xã hội trắng trợn xuyên tạc, cố ý lập lờ đánh lận con đen, đánh tráo giá trị, đổi trắng thay đen, đổi đen thành trắng, nói không thành có, nói có thành không nhằm gây xáo trộn tư tưởng, tạo hoài nghi, mất tin tưởng về chính sách của Đảng, Nhà nước đối với người có công. Mục đích của chúng không chỉ kích động chống phá Đảng, Nhà nước mà còn cố tình làm băng hoại truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc Việt Nam, giảm sự chung tay của toàn xã hội trong chăm lo người có công với cách mạng, gia đình chính sách.

Thực tiễn minh chứng, sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Máu đào của các liệt sĩ ấy đã làm cho lá cờ cách mạng thêm đỏ chói. Sự hy sinh anh dũng của các liệt sĩ đã chuẩn bị cho đất nước ta nở hoa độc lập, kết quả tự do. Nhân dân ta đời đời ghi nhớ công ơn các liệt sĩ và chúng ta phải luôn luôn học tập tinh thần dũng cảm của các liệt sĩ để vượt tất cả mọi khó khăn, gian khổ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng mà các liệt sĩ đã chuyển lại cho chúng ta”. Tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được Đảng, Nhà nước ta vận dụng, kế thừa, phát huy và cụ thể hóa thành nhiều chương trình, chính sách giúp đỡ thương binh, gia đình liệt sĩ. Đặc biệt, thực hiện Chỉ thị số 14-CT/TW, ngày 19/7/2017 của Ban Bí thư Trung ương Ðảng (khóa XII) “Về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng đối với công tác người có công với cách mạng”, ngày 09/12/2020, Ủy ban thường vụ Quốc hội ban hành Pháp lệnh số 02/2020/UBTVQH14 (Pháp lệnh) về ưu đãi người có công với cách mạng có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01/7/2021 với nhiều điểm mới nhằm thể chế hóa quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng về ưu đãi người có công với cách mạng. Theo đó, các cấp, ngành, địa phương không ngừng hoàn thiện, bổ sung thể chế, chính sách ưu đãi người có công với cách mạng và thân nhân người có công với cách mạng; xây dựng, ban hành quy hoạch hệ thống cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng người có công với cách mạng thời kì 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp nối đạo lý “uống nước nhớ nguồn” của dân tộc, cả hệ thống chính trị và toàn xã hội đã vào cuộc mạnh mẽ để chăm lo người có công với cách mạng và thân nhân của họ với nhiều nội dụng cụ thể, thiết thực, như: xây dựng Quỹ “Đền ơn đáp nghĩa”, nhà tình nghĩa, vườn cây tình nghĩa, sổ tiết kiệm tình nghĩa, chăm sóc bố, mẹ liệt sĩ già yếu cô đơn, con liệt sĩ mồ côi, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam anh hùng; tổ chức dâng hương, tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ tại Đài Tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ và viếng Chủ tịch Hồ Chí Minh; tổ chức lễ dâng hương và thắp nến tri ân các anh hùng liệt sĩ tại các nghĩa trang liệt sĩ trên toàn quốc, v.v. Đến nay, người có công với cách mạng và thân nhân được hưởng chế độ ưu đãi về bảo hiểm y tế, điều dưỡng phục hồi sức khỏe; cấp phương tiện trợ giúp, dụng cụ chỉnh hình, phương tiện, thiết bị phục hồi chức năng cần thiết theo chỉ định của cơ sở chỉnh hình, phục hồi chức năng thuộc ngành lao động – thương binh và xã hội hoặc của bệnh viện tuyến tỉnh trở lên; ưu tiên trong tuyển sinh, tạo việc làm; hỗ trợ để theo học đến trình độ đại học tại các cơ sở giáo dục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân. Thực hiện việc hỗ trợ người có công với cách mạng có khó khăn về nhà ở theo Quyết định số 22/2013/QĐ-TTg, ngày 26/4/2013 của Thủ tướng Chính phủ, cả nước có 393.707 hộ người có công cần hỗ trợ về nhà ở đã được Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội thẩm tra, với tổng kinh phí khoảng 10.654 tỉ đồng.

Hiện cả nước đã xác nhận được trên 9,2 triệu người có công, trong đó có trên 1,3 triệu người có công được hưởng trợ cấp hằng tháng. Mỗi năm giải quyết chế độ trợ cấp một lần cho gần 08 nghìn trường hợp, đưa trên 580 nghìn lượt người có công đi điều dưỡng định kỳ và hỗ trợ giáo dục cho khoảng 40 nghìn lượt người. Đặc biệt, trong giai đoạn dịch Covid-19 diễn biến phức tạp, các địa phương triển khai chi trả hỗ trợ khó khăn kịp thời, đầy đủ cho 994.626 đối tượng người có công với kinh phí khoảng 1.483 tỉ đồng. Mạng lưới các cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng, chỉnh hình, phục hồi chức năng được quy hoạch tổng thể, rộng khắp trong cả nước với 65 cơ sở nuôi dưỡng, điều dưỡng được đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị và bố trí nhân sự đủ để đáp ứng cơ bản yêu cầu chăm sóc, điều dưỡng người có công, nhất là thương binh nặng. Tính đến năm 2022, cả nước đã đầu tư xây dựng, nâng cấp, tu bổ 3.200 nghĩa trang liệt sĩ và trên 3.000 công trình ghi công liệt sĩ trên khắp cả nước. Tất cả Mẹ Việt Nam anh hùng còn sống luôn được chăm lo đời sống bằng nhiều việc làm cụ thể như tặng quà, hỗ trợ kinh phí sửa chữa, xây mới nhà tình nghĩa; các tổ chức, cá nhân, doanh nghiệp nhận phụng dưỡng mẹ suốt đời, v.v.

Những việc làm thiết thực, cụ thể, hiệu quả trên đã góp phần ổn định và không ngừng nâng cao đời sống vật chất, tinh thần đối với thương bệnh binh, thân nhân liệt sĩ và người có công. Sự thực đó không thể xuyên tạc và là minh chứng phản bác mọi xuyên tạc của kẻ xấu về chính sách của Đảng, Nhà nước, sự quan tâm của toàn xã hội đối với những người đã cống hiến cho nền độc lập, tự do của Tổ quốc./.

 

 

Jul 21, 2023

Vẫn là trò “bới lông tìm vết”

             Tre Việt – Những ngày gần đây trên các trang mạng xã hội facebook phản động, như: Việt Tân, Chân Trời Mới Media, Tiếng Dân, Việt Nam Thời Báo,… đăng tải mật độ dày đặc các bài viết liên quan đến vụ án “Chuyến bay giải cứu” đang được các cơ quan chức năng xét xử. Trong đó, phần lớn nội dung các bài viết đã lợi dụng các tình tiết, diễn biến trong quá trình xét xử vụ án rồi suy diễn, xuyên tạc cho rằng: các cơ quan chức năng đang bỏ lọt tội phạm, chưa tìm ra “trùm cuối” hay càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng phổ biến, v.v. Thực chất đây vẫn là chiêu trò “bới lông tìm vết” nhằm chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta.

Trước hết, cần nhận thức rõ việc đưa ra xét xử công khai các vụ án tham nhũng, tiêu cực trong đó có vụ án chuyến bay giải cứu của các cơ quan chức năng thực thi pháp luật đã cho thấy quyết tâm làm trong sạch bộ máy, trong sạch đội ngũ cán bộ, đảng viên. Đồng thời, khẳng định quan điểm nhất quán trong công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực của Đảng, Nhà nước ta là không có vùng cấm, không nể nang, né tránh, dù người đó là ai, giữ cương vị, chức trách gì. Chính quan điểm nhất quán, hành động quyết liệt, đồng bộ của cả hệ thống chính trị, nhất là các cơ quan chức năng trong việc đẩy nhanh tiến độ điều tra, đưa ra xét xử các vụ án tham nhũng, tiêu cực trong thời gian qua được dư luận đồng tình ủng hộ, củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với sự lãnh đạo của Đảng.

Thứ hai, không riêng gì vụ án này, mà trong tất cả các vụ án tham nhũng, tiêu cực khác, các cơ quan chức năng đều dành nhiều thời gian để điều tra, truy xét kỹ càng, thận trọng, bóc gỡ hết các “mắt xích”, bảo đảm không để sót, lọt tội phạm cũng như oan sai cho các bị can. Trên cơ sở đó, xét xử nghiêm minh, khách quan, công bằng, đúng người đúng tội theo quy định của pháp luật. Do đó, các ý kiến cho rằng cơ quan chức năng đang bỏ lọt tội phạm, chưa tìm ra “trùm cuối,… là vô căn cứ, suy diễn vô lý.

Thứ ba, việc tha hóa quyền lực, tham ô, tham nhũng, tiêu cực của một bộ phận cán bộ, đảng viên trong đó có cả những cán bộ cao cấp là một thực tế đáng buồn. Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phận cán bộ, đảng viên thiếu tư dưỡng, rèn luyện, tha hóa, biến chất, suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống cộng với tác động từ mặt trái cơ chế thị trường, sự cám dỗ của đồng tiền, lối sống thực dụng, hưởng thụ, v.v. Việc phải đưa ra xét xử những cán bộ, đảng viên vi phạm pháp luật là nỗi đau, song, không vì thế mà Đảng ta không làm. Ngược lại, Đảng ta vẫn làm kiên quyết, triệt để, coi đây là “cuộc chiến” không ngừng, không nghỉ để thanh lọc, tiến tới làm trong sạch bộ máy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng; đồng thời, là lời cảnh báo, răn đe đối với những ai đang có ý định vi phạm. Vì thế, chắc chắn không thể có chuyện càng chống tham nhũng thì tham nhũng càng phổ biến, như họ rêu rao.

Thực chất các trang mạng xã hội phản động vốn đã chẳng ưa gì chế độ chính trị ở Việt Nam, nên chúng luôn rình rập, “bới lông tìm vết” từ thực tiễn, nhất là những mặt trái, mặt tiêu cực của xã hội, của nền kinh tế thị trường,… để xuyên tạc, bôi nhọ, nói xấu chế độ, chống phá Đảng, Nhà nước. Nhưng với nỗ lực, quyết tâm của cả hệ thống chính trị, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta trong sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc sẽ là những minh chứng sinh động bác bỏ sự xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động./.

 

Jul 20, 2023

Trò “đánh lận con đen” của Việt Tân

           Tre Việt - Ngày 19/7, trang facebook Việt Tân đăng status xuyên tạc phát biểu của lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong Đại hội XVIII của Đảng xã hội Pháp tại Thành phố Tours (Pháp) năm 1920: “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp cũng không có”. Từ đó, họ quy chụp lố bịch rằng: “Dưới chế độ cộng sản hiện nay, các quyền này vẫn còn là giấc mơ xa vời đối với dân tộc Việt Nam!”.

Cần khẳng định ngay rằng, đây là trò “ đánh lận con đen” khi Việt Tân so sánh tình trạng kiểm soát, ngăn trở tự do báo chí ở Việt Nam dưới chế độ thực dân Pháp cai trị xứ Đông Dương (trước năm 1945) với thực tiễn hết sức sinh động trong bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam hiện nay. Bởi, dưới chế độ Pháp thuộc, chính quyền Đông Dương áp dụng các biện pháp kiểm soát, ngăn trở tự do báo chí, thực thi chánh sách “bóp nghẹt” tự do báo chí và xuất bản. Tất cả những tờ báo in bằng quốc ngữ Việt Nam, bằng Hán ngữ hay bằng bất cứ một thứ ngôn ngữ nào khác ngoài Pháp ngữ, phải có sự cho phép trước của quan toàn quyền, sau khi toàn quyền hội ý với Ban Thường trực Thượng Hội đồng Đông Dương. Toàn quyền Đông Dương có quyền cho phép hay không cho phép, gây khó dễ hay cấm chỉ các báo Việt ngữ và có quyền đưa ra truy tố những tờ báo chống Pháp. Các phương tiện thông tin còn quá nhiều hạn chế, hầu như dân chúng đều không thể biết kịp thời tình hình thế giới và trong nước xảy ra trước đó một vài ngày. Trong nước, chỉ có các tổ chức cách mạng và các tòa báo có trang bị máy thu thanh săn tin thế giới, còn thường dân chỉ rất ít người khá giả mới có, lại phải nghe lén lút, vì nếu chính quyền phát hiện nghe đài nước ngoài thì tịch thu máy, phạt vạ. Người Việt đọc sách báo, nghe đài thường là lớp khá giả, trung lưu, có học, công chức, dân thành thị, còn phần lớn dân chúng (gần 90%) sống ở nông thôn, gần như không được xem sách, báo, nghe đài, nếu có biết tin tức gì, thì đó chỉ là nghe đồn, truyền miệng trong dân cư với nhau.

Trái ngược với đó, dưới chế độ xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ở Việt Nam luôn được tôn trọng và bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật. Quan điểm xuyên suốt và nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của công dân. Điều 25, Hiến pháp (năm 2013) của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam ghi rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi để quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận của công dân được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật. Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng đã đề ra chủ trương “Xây dựng nền báo chí, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại”. Tại Chương II, Luật Báo chí (năm 2016) cũng quy định về quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí của công dân; trong đó, Điều 13 quy định: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình”. Đồng thời, cũng quy định: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân”.

Số liệu thống kê đến cuối năm 2022 cho thấy, Việt Nam có 127 cơ quan báo, 670 cơ quan tạp chí (trong đó có 327 tạp chí lý luận chính trị, khoa học và 72 tạp chí văn học nghệ thuật); 72 cơ quan đài phát thanh, truyền hình. Số người đang làm việc trong lĩnh vực báo chí là 41.000 người, với 19.356 người đã được cấp thẻ nhà báo. Cùng với các cơ quan báo chí trong nước, nhiều hãng truyền thông, thông tấn quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, như: CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo; Hãng thông tấn Asia, Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Rossiya Segodnya (Nga), v.v. Với lực lượng làm báo hùng hậu như trên, đời sống báo chí ở Việt Nam diễn ra hết sức sôi động, phản ánh mọi mặt của đời sống xã hội.

Tuy nhiên, cũng giống như các quốc gia khác trên thế giới, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam là quyền tự do có giới hạn. Việc giới hạn quyền tự do đó được quy định theo “nguyên tắc gây hại”, “nguyên tắc xúc phạm”, hoặc xung đột với các quyền khác. Những quy định hạn chế quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trong luật pháp Việt Nam đối với một số trường hợp là hoàn toàn tương thích với các văn kiện quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã tham gia, cam kết. Mọi hành vi lạm dụng, lợi dụng quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và công dân đều bị nghiêm cấm và có chế tài xử lý nghiêm khắc.

Có thể khẳng định, quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận của người dân Việt Nam luôn được bảo đảm. Vì lẽ đó, trò “đánh lận con đen” của Việt Tân nhằm quy chụp, xuyên tạc trắng trợn về tình hình bảo đảm quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận ở Việt Nam là “lố bịch”, chẳng lừa được ai!./.

 

 

Jul 18, 2023

Vạch trần hành động đội lốt “nhân quyền” để tung hô, cổ xúy cho đối tượng vi phạm pháp luật của Phil Robertson

         Tre Việt - Ngày 13/7, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã xét xử và tuyên án phúc thẩm đối với Trương Văn Dũng (sinh năm 1958, trú tại số 69, ngõ 73, Nguyễn Lương Bằng, phường Nam Đồng, quận Đống Đa, Thành phố Hà Nội) về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo quy định tại Điều 88, Bộ luật Hình sự.

Ngay sau đó, trên VOA Tiếng Việt đăng status trích phát biểu của ông Phil Robertson, Phó Giám đốc Ban châu Á của cái gọi là Tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW – Human Rights Watch) nói rằng: “Ông Trương Văn Dũng đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống suy thoái môi trường, chống chiếm đoạt đất đai và tham nhũng, đáng được tuyên dương chứ không phải bị bỏ tù”! Ngoài ra, trên một số trang web phản động ở nước ngoài, ông Phil Robertson còn có những phát biểu bày tỏ rõ quan điểm bênh vực, bao che, cố xúy hành động sai trái và đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng. Trong khi đó trên thực tế, hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Trương Văn Dũng là rất rõ ràng.

Về hành vi của Dũng: từ tháng 10/2015 đến tháng 5/2022, thông qua trả lời chương trình “Từ cánh đồng mây” tại một file video và một file audio, Trương Văn Dũng có hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền những luận điệu “chiến tranh tâm lý”, phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân thông qua các bài phỏng vấn, video, clip đăng tải trên mạng xã hội. Dũngcòn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề “Những mảnh đời sau song sắt” và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề “Chính trị bình dân” có nội dung xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân, v.v. Cùng với đó, Dũng còn có 31 băng rôn, biểu ngữ in trên vải bạt và 11 tài liệu in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Sau khi xem xét, đánh giá tài liệu, chứng cứ thu thập được và lời khai tại phiên tòa, Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tuyên Trương Văn Dũng y án sơ thẩm “6 năm tù về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Mọi tình tiết liên quan đến vụ án đã rõ như ban ngày, thế nhưng thật là nực cười, trong con mắt của ông Phil Robertson, Trương Văn Dũng lại được cổ xúy là: “đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống suy thoái môi trường, chống chiếm đoạt đất đai và tham nhũng, đáng được tuyên dương chứ không phải bị bỏ tù”.

Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong khuôn khổ luật pháp. Ví dụ như: Điều 18, Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”. Điều 19, Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Tuy nhiên, tại Điều 29 của văn bản này cũng khẳng định: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định,… nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”. Nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc, ông Ban Ki-moon cũng từng khẳng định: “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí,… chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng”.  Rõ ràng những hành vi của Trương Văn Dũng vừa trái với Công ước quốc tế, vừa vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận, bảo đảm việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội của công dân nhưng phải theo quy định của pháp luật. Những hành vi lợi dụng các quyền này để chống phá chính quyền nhà nước thì không chỉ ở Việt Nam, mà bất kỳ quốc gia nào khác trên thế giới cũng đều không thể chấp nhận.

Vì thế, những phát biểu của ông Phil Robertson cho thấy rõ sự hồ đồ, xuyên tạc, bằng cách tiếp cận hết sức thiển cận, chủ quan, phiến diện đối với các quy định của Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam về quyền con người. Đây cũng là hành động cố tình đội lốt “nhân quyền”, coi tự do, dân chủ, nhân quyền là tấm bình phong để tung hô, cổ xúy cho đối tượng có hành vi sai trái, vi phạm pháp luật và can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam. Hành động đó cần được lên án và đấu tranh bác bỏ./.


Jul 17, 2023

Sự cố tình so sánh khập khiễng của Việt Tân?

    Tre Việt – Ngày 16/7, facebook Việt Tân lại lôi chuyện giá xây dựng Sân bay Long Thành (16 tỉ USD) đắt hơn so với giá xây dựng một số sân bay khác của thế giới, như: sân bay Istanbul, Thổ Nhĩ Kỳ vốn đầu tư 12,4 tỉ USD; sân bay Đại Hưng của Trung quốc, vốn đầu tư chỉ 11,5 tỉ USD,... qua đó, đánh dấu hỏi về những uẩn khúc từ sự chênh lệch này; nghi ngờ có sự tiếp tay, tham nhũng ở các cấp; làm cho dư luận thêm phần tiêu cực. Thực tế, rất khó so sánh chi tiết về giá xây dựng ở các quốc gia khác nhau, nhưng chúng ta có thể dễ dàng thống nhất về một số lý do sau.

    1) Sự khác nhau về quy mô và kinh phí giải phóng mặt bằng, tái định cư. Sân bay Long Thành là cảng trung chuyển hàng không của Việt Nam và quốc tế. Có 4 đường cất hạ cánh (dài 4000 m, rộng 60 m); có 4 nhà ga hành khách rộng, hiện đại có công suất phục vụ 100 triệu khách/năm; nhà ga hàng hóa công suất 5 triệu tấn/năm. Dự án có diện tích vào khoảng 5.000 ha, cần đền bù, giải phóng mặt bằng cho nhân dân trên 1.970 ha (chiếm 59% diện tích đất bị thu hồi trong dự án); di dời, tái định cư khoảng 15.000 người. Ngoài ra, có trên 1.920 ha diện tích đất của các công trình tôn giáo, công ty kinh doanh, trụ sở,… sẽ phải thu hồi khi thực hiện dự án. Tổng số tiền để thực hiện công tác bồi thường, hỗ trợ cho người dân và các cơ quan tổ chức là trên 1 tỉ USD. Trong khi đó, Sân bay Đại Hưng (Trung Quốc) có diện tích 4.700 ha, công suất 100 triệu hành khách/năm và 4 triệu tấn hàng hóa/năm; Sân bay Istanbul (Thổ Nhĩ Kỳ), diện tích 3.500 ha, công suất 90 triệu lượt hành khách/năm; đều có quy mô nhỏ hơn. Đồng thời, Sân bay Istanbul xây trên 80% diện tích thuộc sở hữu nhà nước là khu vực có mỏ than đá cũ, hầu như không mất tiền đền bù, tái định cư.

    2) Sự khác nhau về giá trị của đồng USD theo thời gian. Cả hai sân bay Đại Hưng và Istanbul cùng được vận hành năm 2019. Còn Sân bay Long Thành triển khai theo 3 giai đoạn chính là: 2019 - 2025, 2025 - 2035, 2035 - 2050. Do đó, giá trị đồng USD có sự thay đổi theo thời gian do lạm phát và do nước Mỹ in quá nhiều USD. Trong lịch sử, năm 1944, khi tiền tệ quốc tế còn dùng bản vị vàng (tiền giấy có thể đổi trực tiếp ra vàng), thì 1 Ounce vàng tương đương 35 USD. Do nhu cầu USD ngày càng tăng, Mỹ in nhiều tiền nhưng không đủ vàng để bảo đảm nên năm 1971, nước Mỹ đã từ bỏ chế độ bản vị vàng. Đến nay, giá vàng trên thế giới đã lên tới 1.955 USD/ounce. Cho thấy tốc độ mất giá của USD trung bình khoảng 139%/năm. Như vậy, theo thời gian, giá vật tư ngày càng tăng sẽ đội vốn dự án.

    3) Sự khác nhau về chuỗi cung ứng vật tư. Trung Quốc là công xưởng của thế giới, nơi sản xuất 100% các loại mặt hàng cho các nước; từ những sản phẩm thông thường đến sản phẩm công nghệ cao. Do vậy, quá trình xây dựng của họ sử dụng gần 100% vật tư nội địa, không mất thuế, cước và thời gian vận chuyển. Tương tự, Thổ Nhĩ Kỳ cùng có sự hậu thuẫn lớn từ thị trường tự do của khối EU; là những lợi thế về giá. Sân bay Long thành cần rất nhiều vật tư ngoại nhập nên tất yếu sẽ có sự tốn kém hơn.

     4) Sự khác nhau về tính hiện đại. Sân bay Long thành thiết kế sau, đạt tiêu chuẩn quốc tế cấp 4F - mức cao nhất theo tiêu chuẩn của ICAO; phục vụ mọi loại máy hiện nay trên thế giới. Đây là hướng đi mở để sẵn sàng ứng dụng công nghệ 4.0 trong khai thác, sử dụng và phát triển nên cần sử dụng nhiều vật tư, thiết bị, công nghệ cao, đắt tiền.

       Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo, giám sát của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ Việt Nam đã nghiên cứu, đánh giá tác động nhiều chiều và được Nhật Bản tư vấn thiết kế nên Dự án Sân bay Long Thành sau khi hoàn thành sẽ mang lại hiệu quả cao trong phát triển kinh tế cho đất nước. Mọi sự so sánh đều khập khiễng, nhất là sự so sánh ấy mang đầy tính chủ quan, dụng ý xấu. Bởi vậy, mọi người cần cảnh giác, tỉnh táo nhận diện, đấu tranh phê phán./.