Apr 16, 2025

Kiên quyết bác bỏ luận điệu của các thế lực thù địch cho rằng 30/4/1975 là “Ngày Quốc hận”

           Thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, đỉnh cao là Đại thắng mùa Xuân 1975 đã đánh bại đế quốc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước, đưa Việt Nam bước vào kỷ nguyên độc lập, tự do, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Thế nhưng, hàng năm, cứ đến dịp kỷ niệm Ngày chiến thắng 30/4, các thế lực thù địch lại rêu rao xuyên tạc, bóp méo sự kiện lịch sử này và luôn cho rằng đó là “Ngày Quốc hận”.

Trong tháng 4 này, tràn lan trên một số diễn đàn, trang mạng nổi tiếng về việc “chống Cộng” như: BBC tiếng việt; RFA, VOA, Việt Tân, “Dân làm báo”, “Báo tiếng dân”,… chúng ngụy biện bản chất, tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân Việt Nam thực chất chỉ là cuộc nội chiến nội bộ giữa hai miền Nam – Bắc do sự khác biệt về lý tưởng cộng sản và không cộng sản. Hơn nữa, họ hạ thấp ý nghĩa của những chiến thắng nhân dân Việt Nam giành được, cho rằng “Đại thắng mùa Xuân 1975” không thể gọi là một chiến thắng vẻ vang, mà chỉ là một kết quả tất nhiên khi Hoa Kỳ thay đổi chính sách đối ngoại, rút quân, cắt viện trợ, bỏ rơi chính quyền và quân đội Sài Gòn.

Họ còn nói bừa rằng, cuộc chiến tranh này “không có kẻ thua, người thắng, mà chỉ nhân dân là chịu thiệt thòi”, rằng cuộc kháng chiến chống Mỹ của nhân dân Việt Nam là “hoàn toàn vô nghĩa, lẽ ra dân tộc Việt Nam đã có thể tránh được cuộc chiến tranh này”. Họ ra sức biện hộ cho hành động xâm lược của Mỹ là để giúp “Việt Nam tiếp cận văn minh phương Tây, chứ không phải là xâm lược Việt Nam”, rằng vì miền Bắc cộng sản “xâm lược, thôn tính miền Nam” nên Mỹ phải “có trách nhiệm bảo vệ đồng minh của mình”. Các thế lực thù địch thường “thảng thốt” rằng, chiến thắng lịch sử của nhân dân Việt Nam ngày 30/4/1975 đối với họ là “Tháng 4 đen”; “Ngày quốc hận”…  Có thể nói, đó là những luận điệu đầy ác ý, rất thâm độc và xảo quyệt của các thế lực thù địch, là những thiên kiến lệch lạc, những ngộ nhận, mơ hồ trong nhìn nhận, đánh giá lịch sử thiếu khách quan.

Sự thật lịch sử đã chỉ ra rằng, nhân dân Việt Nam giành được thắng lợi trong cuộc chiến tranh khốc liệt và tàn ác do đế quốc Mỹ gây ra không phải dễ dàng mà phải chịu nhiều đau thương, mất mát: hơn 3 triệu đồng bào, chiến sĩ của ta đã ngã xuống, hàng nghìn làng mạc, thành phố bị tàn phá nặng nề… Có nhiều nguyên nhân tạo nên chiến thắng, nhưng nguyên nhân chủ yếu mang tính quyết định là sự lãnh đạo đúng đắn, sáng tạo của Đảng Lao động Việt Nam.

Sau Hiệp định Paris về chấm dứt chiến tranh, lập lại hòa bình ở Việt Nam được ký kết (27/1/1973), nhận thấy tương quan so sánh lực lượng đã hoàn toàn nghiêng về phía ta, ngày 7/1/1975, Bộ Chính trị họp “Bàn về tình hình và nhiệm vụ cuộc chống Mỹ, cứu nước” hạ quyết tâm lịch sử: Giải phóng miền Nam. Bộ Chính trị nhận thấy quân Mỹ khó có khả năng quay lại tham chiến tại miền Nam và nhất trí thông qua phương án giải phóng miền Nam trong hai năm 1975 – 1976, đồng thời chọn chiến trường Tây Nguyên làm hướng tiến công chủ yếu và xác định: “Chúng ta phải cố gắng cao nhất để thắng gọn trong năm 1975. Điều đó là một khả năng hiện thực”.

Do vậy, Bộ Chính trị quyết định: Chúng ta phải nắm vững thời cơ chiến lược, quyết tâm thực hiện tổng tiến công và nổi dậy, kết thúc thắng lợi chiến tranh giải phóng trong thời gian ngắn nhất. Tốt hơn cả là bắt đầu và kết thúc trong tháng 4 năm nay, không  để chậm”.

Thực hiện quyết tâm của Bộ Chính trị, toàn Đảng, toàn dân và toàn quân đã đoàn kết một lòng, nỗ lực cao độ, tập trung lực lượng áp đảo, tạo thành sức mạnh “triều dâng thác đổ”, tiến hành Chiến dịch Hồ Chí Minh – Trận quyết chiến chiến lược quyết định. Chỉ trong một thời gian ngắn, với tinh thần “một ngày bằng hai mươi năm”, các lực lượng tham gia chiến dịch với quân số lớn chưa từng có cùng một khối lượng lớn vật chất hậu cần đã có mặt ở khu vực tập kết, sẵn sàng tổng tiến công nội đô Sài Gòn. Thực tế, Chiến dịch Hồ Chí Minh đã diễn ra và kết thúc thắng lợi vào ngày cuối cùng của tháng Tư (30/4/1975), giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước. Với ý nghĩa đó, chiến thắng 30/4/1975 chính là sự hội tụ tầm cao trí tuệ và bản lĩnh Việt Nam, thể hiện tài thao lược và sự chỉ đạo đúng đắn của Đảng Lao động Việt Nam.

          Thực tiễn lịch sử đã bác bỏ hoàn toàn những luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch. Bởi thời điểm 1975, sự suy yếu của chính quyền và quân đội Sài Gòn như là một hệ quả tất yếu trước sự tiến công liên tục, mãnh liệt của quân và dân Việt Nam. Đồng thời, điều kiện lịch sử lúc đó cũng không cho phép đế quốc Mỹ vi phạm Hiệp định Paris, tái đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam. Và nếu đế quốc Mỹ có tái đưa quân đội vào miền Nam Việt Nam nhằm cứu vãn chính quyền và quân đội Sài Gòn thì lịch sử cũng không thể bị đảo ngược, sớm muộn gì chúng cũng sẽ thất bại… Thắng lợi vĩ đại của nhân dân Việt Nam là kết quả của cả một quá trình đấu tranh anh dũng, kiên cường, bất khuất của nhân dân Việt Nam với bao tổn thất, hy sinh dưới sự lãnh đạo tài tình của Đảng.

Chiến thắng 30/4/1975 cách nay tròn nửa thế kỷ. Nhân dân Việt Nam với tinh thần “Gác lại quá khứ/Hướng tới tương lai” luôn mong muốn hòa bình, xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với nhân dân các nước trên thế giới, đặc biệt là với nhân dân Mỹ. Nhưng điều đó không có nghĩa chúng ta quên đi quá khứ; quên đi sự tàn bạo, phi nhân tính, tội ác của kẻ thù đã gây ra cho nhân dân Việt Nam và càng không cho phép bất cứ ai, với danh nghĩa gì để xuyên tạc, bóp méo giá trị thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước. Bởi sự thật lịch sử về chiến thắng vĩ đại của nhân dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước đã quá rõ ràng, làm sao có thể phủ nhận, lẫn lộn trắng đen! Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận, hạ thấp ý nghĩa chiến thắng của nhân dân Việt Nam chủ yếu là nhằm chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc, phủ nhận sự lãnh đạo của Đảng, phủ nhận sự hy sinh, đóng góp vô cùng lớn lao của nhân dân và Quân đội ta ở cả hai miền Nam – Bắc, sự giúp đỡ của bè bạn quốc tế trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam; đồng thời, còn nhằm kích động các phần tử chống đối, lực lượng tay sai, phản động chống phá cách mạng Việt Nam. Bằng tất cả lý luận và thực tiễn xác đáng, chúng ta kiên quyết bác bỏ mọi luận điệu xuyên tạc về chiến thắng 30/4 của dân tộc Việt Nam.

 

Không thể cố tình nói xấu, xuyên tạc về chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình

           Chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình diễn ra (từ ngày 14-15/4/2025), theo lời mời của Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Lương Cường đã thu hút sự quan tâm, chú ý đặc biệt của các tầng lớp xã hội và dư luận trong nước, quốc tế. Trên các phương tiện thông tin truyền thông, nhất là các trang mạng xã hội trong và ngoài nước những ngày qua, xuất hiện nhiều bài viết, bài bình luận với tần số dày đặc liên quan chuyến thăm. Đa số các bài viết, bài bình luận phản ánh khách quan, trung thực, tích cực về diễn biến, nội dung, mục đích, ý nghĩa, cũng như đánh giá cao kết quả của chuyến thăm. Tuy nhiên, cũng xuất hiện một số bài viết với dụng ý xấu, xuyên tạc bản chất đích thực chuyến thăm, hòng cố tình nói xấu, bôi nhọ quan hệ hợp tác, hữu nghị truyền thống lâu đời giữa hai nước Việt Nam và Trung Quốc. Đáng chú ý, trên mạng Việt Tân, đã phát tán bài viết “Việt Tân phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam”.

Với danh nghĩa “Ban Biên tập Việt Tân”, họ cáo buộc, rằng “Chính quyền Trung Quốc dưới sự lãnh đạo của ông Tập Cận Bình, trong nhiều năm đã xuyên tạc, tuyên truyền dối trá với người dân của họ và quốc tế về chủ quyền Biển Đông… Mối quan hệ với Trung Quốc đang gây ra những thiệt hại đáng kể về kinh tế đối với Việt Nam… Nhân chuyến thăm, chắc chắn Tập Cận Bình sẽ lại rao giảng, mua chuộc, cột chặt các quan chức CSVN vào tình hữu nghị viển vông “4 tốt, 16 chữ vàng” và ký kết các hiệp định bất bình đẳng, trong đó Việt Nam luôn ở phái yếu như vị thế của một chư hầu… đã đến lúc CSVN cần xem xét lại mối quan hệ với Bắc Kinh và đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết. Trong đó, kiên quyết “Thoát Trung” bằng việc huỷ bỏ những hiệp định bất bình đẳng và chấm dứt tình trạng gian lận thương mại… Hãy cùng nhau, chúng ta phản đối Tập Cận Bình đến Việt Nam!”!?

Mọi người thừa biết, cái gọi là “Ban Biên tập Việt Tân” là bộ phận truyền thông Việt Tân (Việt Nam Canh tân Cách mạng Đảng). Tổ chức này thành lập năm 1982, bởi một nhóm người Việt tại Mỹ với ý đồ nhằm lật đổ Chính phủ Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam. Chính phủ Việt Nam coi Việt Tân là một tổ chức khủng bố và phản cách mạng. Việc “Ban Biên tập Việt Tân” lợi dụng chuyến thăm để phản đối là nằm trong mưu đồ đen tối của họ, với nhiều toan tính, hòng thu hút sự chú ý của dư luận về cái “thây ma chính trị lụi tàn” mà Việt Tân cố tình dựng lên để bấu vứu. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn thể hiện quan điểm rõ ràng và nhất quán, phản đối mạnh mẽ, thẳng thừng bác bỏ hoàn toàn những luận điệu bịa đặt, nói xấu, xuyên tạc, cũng như các hành động mang tính cực đoan của Việt Tân đối với các chuyến thăm của lãnh đạo cấp cao nước ngoài đến Việt Nam, trong đó có chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Trung Quốc Tập Cận Bình.

Hơn thế nữa, Việt Tân là một tổ chức phản động, có mục đích chống phá Việt Nam. Có thể nói, hành vi cố tình nói xấu, xuyên tạc của Việt Tân về chuyến thăm xuất phát từ những âm mưu đen tối và ý đồ chính trị riêng của họ, đều bị xem là hành vi thù địch, gây cản trở, phá hoại mối quan hệ tốt đẹp giữa hai nước, có thể bị xem là hành vi gây rối trật tự công cộng, đi ngược lại lợi ích quốc gia và các quy định pháp luật của Việt Nam, không đại diện cho ý chí và nguyện vọng của đa số người dân Việt Nam. Việt Nam luôn thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, trong đó có việc coi trọng quan hệ láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện với Trung Quốc, coi đây là một trong những ưu tiên hàng đầu trong chính sách đối ngoại. Việc duy trì và phát triển quan hệ ổn định, hữu nghị và hợp tác với Trung Quốc là mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai nước, kể cả khu vực và quốc tế. Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn chủ trương giải quyết mọi bất đồng và khác biệt với Trung Quốc thông bằng biện pháp hòa bình, qua đàm trên cơ sở tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và luật pháp quốc tế.

Hơn thế nữa, việc duy trì quan hệ cân bằng với các cường quốc lớn giúp Việt Nam tối đa hóa lợi ích, tránh bị phụ thuộc vào một bên, và tạo môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đây là một chiến lược khôn ngoan và chủ động, không phải là sự hèn nhát như Việt Tân đặt điều, cáo buộc. Việt Nam luôn đặt lợi ích quốc gia lên hàng đầu trong mọi quyết sách đối ngoại. Việc duy trì quan hệ tốt với cả Mỹ và Trung Quốc không có nghĩa là Việt Nam từ bỏ các nguyên tắc của mình, đặc biệt là về độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ. Việt Nam vẫn kiên quyết bảo vệ chủ quyền ở Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình và pháp lý. Thực tế, chính sách ngoại giao “đa phương hóa, đa dạng hóa” và “Ngoại giao cây tre” là một chiến lược khôn ngoan, chủ động và hiệu quả, giúp Việt Nam bảo vệ lợi ích quốc gia và nâng cao vị thế trên trường quốc tế trong bối cảnh thế giới đầy biến động. Chính sách này đã được nhiều quốc gia, tổ chức quốc tế công nhận, đánh giá cao về sự độc lập, tự chủ và đóng góp tích cực vào hòa bình, ổn định khu vực, thế giới. Việc Việt Nam nâng cấp quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với nhiều cường quốc, bao gồm cả Mỹ và Trung Quốc, cho thấy sự tin tưởng và coi trọng của các nước đối với vai trò của Việt Nam. Có thể nói, những cáo buộc của Việt Tân trong quan hệ với Trung Quốc, như “Việt Nam luôn ở phái yếu như vị thế của một chư hầu… đã đến lúc CSVN cần xem xét lại mối quan hệ với Bắc Kinh và đặt quyền lợi của Tổ quốc lên trên hết. Trong đó, kiên quyết “Thoát Trung” bằng việc huỷ bỏ những hiệp định bất bình đẳng và chấm dứt tình trạng gian lận thương mại…” là một sự xuyên tạc trắng trợn và diễn giải tiêu cực, xuất phát từ mục tiêu chính trị hèn hạ, đối lập của Việt Tân, nhằm làm suy yếu lòng tin của người dân vào đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ của Đảng và Nhà nước. Việc khơi gợi những ký ức lịch sử không vui vẻ và những lo ngại hiện tại (nếu có) về sự ảnh hưởng của Trung Quốc, hòng tạo ra sự bất mãn trong dư luận, hướng sự chỉ trích vào Chính phủ Việt Nam. Mục đích cuối cùng của Việt Tân, cũng như các thế lực thù địch thường là gây bất ổn chính trị, tạo ra sự phản đối trong dân chúng và tiến tới thay đổi hệ thống chính trị ở Việt Nam. Việc hiểu rõ bản chất của những luận điệu xuyên tạc này của Việt Tân và các thế lực thù địch, cùng những phản biện sắc bén dựa trên sự thật và lợi ích quốc gia là biện pháp rất quan trọng, vạch rõ bản chất địch thực cùng bộ mặt thật của chúng.

Trong chuyến thăm Việt Nam lần này, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đã có các cuộc hội đàm cấp cao với Tổng Bí thư Tô Lâm và Chủ tịch nước Lương Cường, cùng các cuộc hội kiến Thủ tướng Phạm Minh Chính và Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn nhằm thúc đẩy quan hệ trên các lĩnh vực; đồng thời đã tham gia một số hoạt động đối ngoại quan trọng.

Chuyến thăm đã thành công, kết thúc tốt đẹp và đạt được những thành quả trên nhiều lĩnh vực. Đó là: Tăng cường trao đổi chiến lược cấp cao, đặc biệt là tiếp xúc thường xuyên giữa Lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước, qua đó làm vững chắc hơn nữa nền tảng tin cậy chính trị, chia sẻ kinh nghiệm về quản trị và phát triển đất nước, định hướng cho sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ song phương trong bối cảnh tình hình quốc tế và khu vực tiếp tục diễn biến phức tạp. Xác định rõ những phương hướng lớn, trọng tâm triển khai hợp tác trên các lĩnh vực; nâng tầm hợp tác thực chất giữa hai nước theo hướng ngày càng chất lượng, hiệu quả, bền vững; thúc đẩy tạo “điểm sáng” về hợp tác trình độ cao, nhất là trong các lĩnh vực Việt Nam có nhu cầu, Trung Quốc có thế mạnh như đường sắt khổ tiêu chuẩn, thương mại nông sản, khoa học công nghệ, giáo dục đào tạo, kinh tế số, kinh tế xanh… đáp ứng nguyện vọng và lợi ích của nhân dân hai nước. Lan tỏa hiệu ứng tích cực của chuyến thăm đến các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân hai bên; thúc đẩy triển khai tốt Năm giao lưu nhân văn Việt Nam – Trung Quốc 2025, tăng cường giao lưu hữu nghị giữa các đoàn thể quần chúng, tổ chức chính trị – xã hội, mở rộng hợp tác giữa các địa phương hai nước, qua đó tăng cường hiểu biết và tin cậy lẫn nhau cho quan hệ song phương. Các cuộc tiếp xúc, trao đổi trên tinh thần thẳng thắn, chân thành, thực chất, hiểu biết lẫn nhau, đặt mình vào vị trí của nhau để cùng xử lý thỏa đáng những vấn đề tồn tại về biên giới lãnh thổ, kiểm soát và giải quyết tốt hơn bất đồng trên biển theo nhận thức chung cấp cao, không để vấn đề trên biển ảnh hưởng đến đà phát triển lành mạnh của quan hệ hai Đảng, hai nước, góp phần duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực cũng như trên thế giới. Trong chuyến thăm, các bộ ngành, cơ quan, địa phương hai bên đã ký kết nhiều văn kiện hợp tác trên hàng loạt lĩnh vực, tạo cơ sở quan trọng để triển khai hợp tác hiệu quả hơn nữa trong thời gian tới. Chuyến thăm đã công tốt đẹp trên mọi phương diện, trở thành mốc son mới trong quan hệ láng giềng hữu nghị, Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam – Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược. Thành công của chuyến thăm, cũng như thành công của sự nghiệp hữu nghị giữa hai Đảng, hai nước Việt Nam Trung Quốc không chỉ mang lại hạnh phúc, phục vụ tốt nhất lợi ích của nhân dân hai nước, còn đóng góp ngày càng thiết thực, có trách nhiệm cho hòa bình, ổn định, tiến bộ xã hội và phát triển phồn vinh của các dân tộc trong khu vực và trên thế giới.

Báo chí Trung Quốc và quốc tế đều đánh giá cao việc Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình tới Việt Nam, khẳng định chuyến thăm thể hiện tình hữu nghị bền chặt giữa hai nước. Đây cũng là những minh chứng cụ thể, phản bác lại các luận điệu cố tình nói xấu, xuyên tạc về chuyến thăm Việt Nam của Tổng Bí thư, Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình, mà Việt Tân cùng các thế lực thù địch, phản động đã, đang thực hiện. Các tầng lớp nhân dân và dự luận xã hội cần tỉnh táo, đề cáo cảnh giác trước các âm mưu, thủ đoạn và luận điệu xuyên tạc này./.

 

Apr 10, 2025

Ðấu tranh, phản bác luận điệu sai trái, xuyên tạc lịch sử, thành quả cách mạng

           Trước sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, những thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Ðấu tranh với các luận điệu sai trái không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân.

Sự thật lịch sử không thể bị bóp méo

Sau gần nửa thế kỷ thống nhất đất nước, Việt Nam đã và đang vươn lên mạnh mẽ, khẳng định vị thế trên trường quốc tế. Tuy nhiên, song hành với những thành tựu đáng tự hào ấy, vẫn còn những thế lực thù địch và phần tử phản động không ngừng tìm cách xuyên tạc, bóp méo sự thật lịch sử, bôi nhọ thành quả cách mạng, hòng làm lung lay niềm tin của Nhân dân vào con đường mà Ðảng, Bác Hồ và toàn dân tộc đã chọn. Họ phủ nhận cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước chính nghĩa của dân tộc ta, cho rằng đó là một cuộc “nội chiến” phi nghĩa, cố tình lờ đi sự thật rằng chính Nhân dân Việt Nam đã anh dũng đứng lên giành lại độc lập, chủ quyền từ ách xâm lược. Họ cũng xuyên tạc vai trò lãnh đạo của Ðảng, bóp méo những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội, hòng gieo rắc tâm lý hoài nghi, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân.

Thực tế đã chứng minh, sau ngày đất nước thống nhất, Việt Nam không chỉ khắc phục hậu quả chiến tranh mà còn không ngừng phát triển và hội nhập sâu rộng với thế giới. Những thành tựu về kinh tế, giáo dục, khoa học – công nghệ, quốc phòng - an ninh, an sinh xã hội,… là minh chứng rõ nét cho bản lĩnh kiên cường của dân tộc. Từ một đất nước bị cấm vận, Việt Nam giờ đây là một nền kinh tế năng động trong khu vực, với tốc độ tăng trưởng ổn định, đời sống Nhân dân ngày càng nâng cao. Việt Nam cũng tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc, ASEAN, APEC,… khẳng định vai trò và trách nhiệm của mình trên trường quốc tế, như lời phát biểu của cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng: “Ðất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”.

Tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng

Trước những âm mưu chống phá của các thế lực thù địch, các cấp uỷ đảng đóng vai trò nòng cốt trong việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm sự phát triển bền vững của đất nước. Trong đó, cần quan tâm là: các cấp uỷ đảng cần tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng; kịp thời định hướng dư luận, giúp cán bộ, đảng viên và Nhân dân nhận diện rõ các luận điệu sai trái, xuyên tạc. Chủ động đấu tranh trên mặt trận tư tưởng, phản bác các thông tin bịa đặt, kích động gây chia rẽ khối đại đoàn kết dân tộc.

Ðẩy mạnh công tác truyền thông, phát huy vai trò của báo chí, truyền hình, các nền tảng mạng xã hội trong việc lan toả thông tin chính thống, đấu tranh với các luận điệu sai trái. Các cấp uỷ đảng, chính quyền địa phương cần sâu sát, lắng nghe tâm tư nguyện vọng của Nhân dân, giải quyết kịp thời những vấn đề bức xúc, tránh để các thế lực xấu lợi dụng xuyên tạc, kích động.

Bên cạnh sự vào cuộc của Ðảng và chính quyền, cán bộ, đảng viên và Nhân dân có vai trò quan trọng trong việc bảo vệ sự thật lịch sử, đấu tranh với những thông tin sai trái. Do đó, cần tập trung định hướng tuyên truyền, quán triệt để nâng cao cảnh giác, không tiếp tay cho các thông tin sai lệch. Cán bộ, đảng viên và Nhân dân cần tỉnh táo, tiếp cận thông tin một cách chọn lọc, không chia sẻ hay lan truyền những nội dung chưa được kiểm chứng, nhất là trên các nền tảng mạng xã hội.

Tích cực tuyên truyền, lan toả giá trị chân - thiện - mỹ, mỗi cá nhân có thể góp phần bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng bằng cách chia sẻ những câu chuyện, hình ảnh, thông tin tích cực về đất nước, con người Việt Nam, khẳng định sự phát triển bền vững của dân tộc. Chủ động tham gia đấu tranh trên không gian mạng, khi phát hiện các luận điệu xuyên tạc, cán bộ, đảng viên và Nhân dân có thể phản biện bằng những thông tin chính thống, góp phần vạch trần âm mưu của các thế lực phản động.

Trước sự phát triển mạnh mẽ của đất nước, những thế lực thù địch luôn tìm cách phá hoại, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân. Ðấu tranh với các luận điệu sai trái không chỉ là nhiệm vụ của các cơ quan chức năng mà còn là trách nhiệm chung của cả hệ thống chính trị và toàn thể Nhân dân. Hơn bao giờ hết, chúng ta cần phát huy tinh thần yêu nước, giữ vững niềm tin vào con đường mà Ðảng và Nhân dân đã chọn; tiếp tục bảo vệ nền tảng tư tưởng của Ðảng, lịch sử hào hùng của dân tộc./.

 

Cảnh giác với những luận điệu xuyên tạc cuộc cách mạng tinh, gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam hiện nay

           Gần đây, lợi dụng việc Đảng ta đẩy mạnh cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị ra sức tung ra các luận điệu xuyên tạc, chống phá nguy hiểm. Do đó, cần nhận diện rõ bản chất của những luận điệu đó để tạo sự thống nhất về tư tưởng và hành động của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về nhiệm vụ chính trị quan trọng này.

Những luận điệu xuyên tạc, chống phá không thể xem nhẹ

Hiện nay, trên một số trang mạng xã hội phản động, các thế lực thù địch đưa ra nhiều thông tin, luận điệu xuyên tạc về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị mà Việt Nam đang tiến hành rất ráo riết. Những luận điệu đó tập trung vào 3 nhóm vấn đề sau:

Tổng Bí thư Tô Lâm phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc
quán triệt, triển khai tổng kết việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TƯ
của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Một là, có một số luận điệu cho rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam là “ý muốn chủ quan”, “ý muốn cá nhân” của một số lãnh đạo cấp cao của Việt Nam. Có một số kẻ còn cáo buộc rằng “sáp nhập là cách Đảng muốn thanh trừng phe cánh”, giải quyết “đấu đá nội bộ” hay đây chỉ là “miếng bánh phân chia quyền lực”, chuyện của “các phe phái”… Do đó, chủ trương này được tiến hành rất nhanh chóng.

Hai là, một số luận điệu khác cho rằng việc tinh gọn tổ chức bộ máy của Việt Nam chỉ là trò “đánh trống khua chiêng”, tuy được tiến hành rầm rộ nhưng “không thực chất” bởi “cơ cấu bộ máy nhà nước nói là tinh gọn nhưng không thay đổi mà chỉ chuyển người từ chỗ này sang chỗ khác, chỉ gây tốn kém, phức tạp”. Do đó, họ cáo buộc rằng “Việc tinh giản biên chế ở Việt Nam chỉ là hình thức, mị dân”; “việc tinh giản biên chế sẽ khiến nhiều người mất việc, là thiếu tính nhân văn, gây ra mất ổn định xã hội”, v.v.

Ba là, từ thực tế sau khi tinh gọn, sáp nhập, một số đơn vị có số lượng cấp phó tăng lên nhiều hơn so với quy định, có quan điểm cho rằng “Càng tinh gọn lại càng phình ra”… Vì thế, có phần tử cơ hội chính trị còn võ đoán rằng chủ trương tinh gọn này trước sau cũng “chết yểu”, rồi “đâu lại vào đấy” và bộ máy chính trị của Việt Nam luôn có sẵn những “khuyết tật không thể giải quyết”!

Đáng lo ngại hơn cả, không chỉ có những luận điệu xuyên tạc, chống phá của các thế lực thù địch, phản động bên ngoài mà ngay chính một bộ phận cán bộ, đảng viên do mơ hồ về nhận thức, dao động về lập trường tư tưởng đã tỏ ra hoang mang, tin theo những luận điệu sai trái hoặc có thái độ hoài nghi, mất niềm tin vào chủ trương lớn của Đảng. Đây là những biểu hiện không thể xem thường vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả của cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy, sâu xa hơn là ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân vào chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước.

Tinh gọn tổ chức bộ máy – tiền đề vững chắc để Việt Nam bước vào kỷ nguyên mới

Trong lịch sử dân tộc từ đầu thế kỷ XX đến nay, Việt Nam đã trải qua một số thay đổi mang tính cách mạng có tính bước ngoặt. Đó là cách mạng Tháng Tám năm 1945, cách mạng xã hội chủ nghĩa những năm 60, thời kỳ đổi mới bắt đầu từ năm 1986… Chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy cũng được coi là những chuyển đổi mang tính cách mạng, hiện đang được triển khai rất nhanh chóng, đồng bộ, quyết liệt từ Trung ương đến các bộ, ngành, địa phương.

Một là, tinh gọn tổ chức bộ máy đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn, không phải là “ý muốn chủ quan” của một cá nhân, tổ chức nào. Từ khi tiến hành sự nghiệp đổi mới, đặc biệt từ Đại hội VII (1991) đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam liên tục ban hành nhiều nghị quyết, kết luận để lãnh đạo thực hiện chủ trương đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, như: Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa VII “về tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”; Nghị quyết số 10-NQ/TƯ, ngày 9/2/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về đổi mới, kiện toàn tổ chức bộ máy các cơ quan Đảng, định hướng đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị - xã hội”; Nghị quyết số 17-NQ/TƯ, ngày 1/8/2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy nhà nước”; Nghị quyết số 39-NQ/TƯ, ngày 17/4/2015 của Bộ Chính trị “về tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức”; đặc biệt là Nghị quyết số 18-NQ/TƯ ngày 25/10/2017 “về một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Đây là những chủ trương, đường lối đúng đắn, thể hiện quyết tâm của Đảng trong đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Do đó, không thể cáo buộc rằng chủ trương tinh gọn tổ chức bộ máy là ý muốn chủ quan của một cá nhân hay tổ chức nào.

Trong giai đoạn hiện nay, tinh gọn tổ chức bộ máy hệ thống chính trị càng trở nên cấp thiết hơn lúc nào hết vì về cơ bản, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị vẫn còn cồng kềnh, nhiều tầng nấc trung gian, nhiều đầu mối, chồng chéo, hiệu lực, hiệu quả hoạt động chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ ngày càng cao. Chi thường xuyên cho bộ máy chiếm tới gần 70% tổng chi ngân sách nhà nước (trong khi con số này ở nhiều nước chỉ khoảng 48 - 50%), do đó không còn đủ nguồn lực để đầu tư phát triển, v.v.

Hơn nữa, một số bộ, ngành còn ôm đồm nhiệm vụ của địa phương, dẫn đến tồn tại cơ chế xin – cho, dễ nảy sinh tiêu cực, tham nhũng. Công tác tinh giản biên chế gắn với vị trí việc làm, nâng cao chất lượng và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức còn thiếu triệt để. Đây là một trong những nguyên nhân dẫn đến cản trở phát triển, tăng thủ tục hành chính, lãng phí thời gian, công sức của doanh nghiệp, công dân, làm lỡ thời cơ phát triển đất nước.

Trong bài viết: “Tinh - gọn - mạnh - hiệu năng - hiệu lực - hiệu quả”, Tổng Bí thư Tô Lâm một lần nữa nhấn mạnh tầm quan trọng, tính tất yếu phải đẩy mạnh sắp xếp, tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị theo quan điểm bảo đảm “Tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả”, xác định đây là nhiệm vụ chính trị hệ trọng, yêu cầu cả hệ thống chính trị phải tập trung giải quyết. Do đó, tinh gọn tổ chức bộ máy là yêu cầu tất yếu để xây dựng bộ máy chính trị hoạt động hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu cấp bách của thực tiễn phát triển đất nước giai đoạn hiện nay.

Hai là, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức bộ máy đã bước đầu đạt được những kết quả quan trọng, ngày càng đi vào thực chất chứ không phải mang tính hình thức, mị dân.  Thực hiện chủ trương của Đảng, nước ta đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong việc đổi mới, sắp xếp lại tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị. Việc tinh giản biên chế và giảm bớt các đầu mối, tầng nấc trung gian đã đem lại hiệu quả rõ rệt. Chỉ riêng đối với Bộ Công an, từ năm 2018 đến nay, qua hai lần kiện toàn tổ chức bộ máy, Bộ Công an đã giảm 7 tổng cục và tương đương, 55 đơn vị cấp cục, 7 trường Công an nhân dân, 20 sở Cảnh sát phòng cháy, chữa cháy cấp tỉnh, gần 1.200 đơn vị cấp phòng, trên 3.500 đơn vị cấp đội. Sau sắp xếp, kiện toàn bộ máy, Bộ Công an vẫn hoạt động hiệu quả, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo đảm an ninh, trật tự với nhiều dấu ấn nổi bật, đóng góp rất quan trọng vào những thành tựu, kết quả chung của đất nước.

Những ngày gần đây, ngay sau khi cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy được đẩy mạnh, toàn bộ các cơ quan của hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương đã vào cuộc xây dựng đề án sắp xếp tinh gọn bộ máy theo đúng lộ trình đặt ra. Ngày 30/12/2024, Bộ Chính trị công bố quyết định về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy, mối quan hệ công tác của 13 cơ quan ban Đảng, đơn vị sự nghiệp của Đảng, Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội ở Trung ương. Đây là những hành động và kết quả thực chất của việc tinh gọn bộ máy, từ đó phản bác luận điệu xuyên tạc của các thế lực thù địch cho rằng, cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy “chỉ mang tính hình thức”, “không thực chất”, “mị dân”. Thực tiễn cho thấy, việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức, bộ máy thể hiện quyết tâm chính trị rất cao của Đảng và Nhà nước ta với mục đích rõ ràng, hoàn toàn không có chuyện “làm cho có”, “chỉ là hình thức”, “tranh giành quyền lực” hay “đấu đá nội bộ”… như các thế lực thù địch xuyên tạc, rêu rao, bóp méo.

Ba là, trong giai đoạn đầu của quá trình tinh gọn tổ chức bộ máy, cần chấp nhận những “bước quá độ” với sự tăng lên về số lượng cán bộ cấp phó nhưng đó là một bước đi cần thiết. Đúng là có thực tế sau khi thực hiện sáp nhập, hợp nhất, tổ chức lại thì số cán bộ cấp phó ở một số cơ quan từ Trung ương đến địa phương tăng cao hơn so với quy định. Tuy nhiên, đây là giải pháp phù hợp cho giai đoạn chuyển tiếp, bởi số lượng cơ quan và cán bộ lãnh đạo thuộc diện phải sáp nhập, giải thể… là rất lớn, không thể máy móc áp dụng đúng số lượng cấp phó ngay tại thời điểm sắp xếp lại. Khi hợp nhất, sáp nhập hai cơ quan thì việc một cán bộ cấp trưởng và đội ngũ cán bộ cấp phó của hai cơ quan này nếu vẫn còn thời gian công tác, có trình độ, năng lực, kinh nghiệm, trở thành cấp phó của người đứng đầu cơ quan mới cũng là hợp tình hợp lý, vừa không lãng phí nguồn nhân lực, vừa mang ý nghĩa nhân văn.

Hơn nữa, đây cũng chỉ là giải pháp tình thế, sau một thời gian, số lượng cấp phó sẽ phải giảm đi. Điều này đã được đề cập trong nghị quyết của Kỳ họp bất thường lần thứ 9, Quốc hội khóa XV diễn ra ngày 19/2/2025, quy định về xử lý một số vấn đề liên quan đến sắp xếp tổ chức bộ máy nhà nước. Theo đó, nghị quyết nêu rõ, khi sắp xếp tổ chức bộ máy mà số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan nhiều hơn số lượng tối đa theo quy định của pháp luật thì chậm nhất là 5 năm kể từ ngày quyết định sắp xếp tổ chức bộ máy của cấp có thẩm quyền có hiệu lực, số lượng cấp phó của người đứng đầu cơ quan phải giảm theo đúng quy định.

Như vậy, về lâu dài thì không hề có chuyện “càng tinh gọn lại càng phình ra” như các luận điệu xuyên tạc vẫn rao rêu. Việc tăng số lượng cấp phó của người đứng đầu Chính phủ, Quốc hội, các bộ, cơ quan… chỉ là giải pháp tình thế cho giai đoạn chuyển tiếp, tồn tại trong một thời gian nhất định.

Tuy nhiên, cũng cần thấy rằng, việc tinh gọn tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị là việc làm không hề dễ dàng, liên quan nhiều vấn đề nhạy cảm, phức tạp. Do đó, để công tác quan trọng này đi tới thành công đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu phải có tinh thần mạnh mẽ hơn, với quyết tâm chính trị cao, thống nhất về tư tưởng, hành động quyết liệt, tiến hành nhanh, gọn nhưng phải hiệu quả và không để kéo dài.

Đặc biệt, cần phải công khai, minh bạch trong các bước thực hiện, tránh để các thế lực thù địch lợi dụng thông tin mơ hồ, gây hoang mang; tăng cường đối thoại, giải thích trực tiếp, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên và Nhân dân, tạo sự đồng thuận trong suốt quá trình thực hiện. Đồng thời, cần đẩy mạnh vai trò của báo chí và truyền thông trong đấu tranh, phản bác trực diện các luận điệu xuyên tạc, bóp méo của các thế lực thù địch về cuộc cách mạng tinh gọn tổ chức, bộ máy mà toàn Đảng, toàn quân và toàn dân ta đang quyết liệt thực hiện…

Sở dĩ tinh gọn tổ chức bộ máy được coi là một cuộc cách mạng vì nó có thể tạo ra những thay đổi căn bản, toàn diện của hệ thống chính trị; góp phần xây dựng hệ thống chính của Việt Nam theo hướng tinh, gọn, mạnh. Những kết quả quan trọng mà Việt Nam đã đạt được cùng một khí thế mới của cả hệ thống chính trị sau khi tiến hành sắp xếp, tổ chức lại các cơ quan, đơn vị chính là luận cứ giàu sức thuyết phục để phản bác lại các quan điểm sai trái, thù địch về tinh gọn tổ chức bộ máy ở Việt Nam hiện nay. Đây cũng chính là tiền đề quan trọng để Việt Nam vững bước tiến vào kỷ nguyên phát trển mới./.

Apr 3, 2025

Cảnh giác với những lời kêu gọi thay đổi thể chế chính trị ở Việt Nam

 Kêu gọi Việt Nam thay đổi thể chế chính trị hiện nay là một thủ đoạn rất thâm độc của các thế lực thù địch, nhằm kích động tư tưởng đòi thiết lập chế độ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập, hướng lái đất nước đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Đó là những lời kêu gọi rất nguy hiểm, cần cảnh giác và kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Thủ đoạn này không mới, nhưng lại được các thế lực thù địch “hâm nóng” khi Nhà nước ta có những thay đổi nhân sự lãnh đạo ở cấp cao nhất và Đảng ta đang bước vào thời gian tiến hành đại hội đảng các cấp, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV, đất nước chuẩn bị bước vào kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Để thực hiện thủ đoạn này, các thế lực thù địch thường tung ra rất nhiều luận điệu xuyên tạc về thể chế chính trị ở nước ta gắn với sự độc tôn lãnh đạo xã hội của Đảng Cộng sản Việt Nam. Đơn cử, họ cho rằng: “Thể chế chính trị với một đảng (Đảng Cộng sản Việt Nam) lãnh đạo thì không có dân chủ, cản trở sự phát triển của đất nước và là nguyên nhân của tham nhũng”, hay “một đảng cầm quyền thì không thể có dân chủ, chỉ dẫn đến độc tài, độc trị” (!). Từ đó, họ kêu gọi: “Cần loại bỏ sự toàn trị của Đảng Cộng sản Việt Nam, thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng” (!). Gần đây, lợi dụng phát biểu của Tổng Bí thư Tô Lâm tại phiên khai mạc Kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XV, ngày 21/10/2024: “Trong ba điểm nghẽn lớn nhất hiện nay là thể chế, hạ tầng và nhân lực thì thể chế là điểm nghẽn của điểm nghẽn”, các thế lực thù địch xuyên tạc và kêu gọi “đã đến lúc phải xóa bỏ điểm nghẽn của điểm nghẽn đó” (!). Trắng trợn hơn, ngày 25/10/2024, tổ chức khủng bố Việt Tân đăng trên trang facebook của mình rằng: “Điểm nghẽn sự phát triển của Việt Nam là Điều 4 Hiến pháp (Hiến pháp 2013 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam)”, do vậy “Chỉ cần quất một phát cho Điều 4 Hiến pháp đi chỗ khác chơi là giải quyết được mọi vấn đề của đất nước” (!), v.v. Mục tiêu của tất cả những luận điệu xuyên tạc, sai trái nói trên đều hướng tới cổ vũ cho lời kêu gọi chuyển đổi thể chế chính trị hiện hành sang thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập. Những luận điệu đó thật thâm độc, hoàn toàn sai trái, cần kiên quyết đấu tranh, bác bỏ.

Trước hết, quan điểm một đảng cầm quyền chỉ dẫn đến độc tài, mất dân chủ, cản trở sự phát triển, còn đa đảng đồng nghĩa với dân chủ, phát triển” là hoàn toàn không có cơ sở khoa họcTrên phương diện lý luận, dân chủ và phát triển không phụ thuộc vào thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng, hay do một đảng cầm quyền - lãnh đạo xã hội. Nói cách khác, một quốc gia thực hiện chế độ đa nguyên, đa đảng không hẳn là có dân chủ, không dẫn tới độc tài; ngược lại, một nước chỉ duy nhất có một đảng lãnh đạo - cầm quyền, cũng không có nghĩa rằng đó là chế độ độc tài, mất dân chủ. Do vậy, không phải cứ đa nguyên chính trị, đa đảng đối lập thì mới có dân chủ và không có đa nguyên, đa đảng thì không có dân chủ. Bởi, bản chất của dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân. Theo đó, một đất nước có thể chế dù là nhất nguyên hay đa nguyên, một đảng hay nhiều đảng, nhưng nếu chính đảng cầm quyền và nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực thuộc về nhân dân thì xã hội đó có dân chủ thực sự. Mặt khác, ở các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, về hình thức là dựa trên chế độ đa đảng, nhưng về bản chất vẫn dựa trên sự nhất nguyên chính trị; nghĩa là vẫn dựa trên chế độ một đảng - đảng tư sản. Đảng tư sản nào cầm quyền cũng là kết quả sự phân chia quyền lực giữa các phe phái của giai cấp tư sản, đại diện và phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản là chủ yếu.

Trên phương diện thực tiễn, có thể thấy ở nhiều quốc gia trên thế giới theo chế độ đa đảng nhưng vẫn mất dân chủ, chính trị không ổn định, vẫn là những nước nghèo, kém phát triển, điển hình như nhiều nước ở châu Phi. Trong khi đó, nhiều quốc gia chỉ có một đảng lãnh đạo nhưng chính trị ổn định, dân chủ được phát huy, kinh tế - xã hội vẫn phát triển, đời sống nhân dân được đảm bảo và ngày càng cải thiện, như ở Trung Quốc và Việt Nam hiện nay. Lịch sử thế giới trong thế kỷ XX cũng cho thấy, trong những giai đoạn lịch sử nhất định, chính thể chế chính trị đa nguyên, đa đảng lại gắn liền với các chế độ độc tài, hạn chế dân chủ như chế độ độc tài của Hitle ở nước Đức quốc xã, Mussolini ở nước Ý phát xít, Park Chung-hee ở Hàn Quốc, Pinochet ở Chile, Suharto ở Indonesia, v.v. Mặt khác, lịch sử cũng ghi nhận thời kỳ Tổng thống Park Chung-hee cầm quyền (1961 - 1979), duy trì chế độ độc tài, nhưng kinh tế Hàn Quốc vẫn có sự phát triển thần kỳ; từ một quốc gia đói nghèo với thu nhập bình quân đầu người năm 1961 chỉ 94 USD/năm đã tăng lên đến 1.784 USD/năm vào năm 1979, trở thành “con Rồng châu Á”. Điều đó cho thấy luận điểm “chế độ đa đảng thì có dân chủ và phát triển, còn một đảng thì mất dân chủ và cản trở sự phát triển” không thể đứng vững. Việc duy trì chế độ một đảng lãnh đạo - cầm quyền, hay đa đảng phụ thuộc vào những điều kiện chính trị, lịch sử, xã hội, văn hóa, tôn giáo,… cụ thể của mỗi dân tộc; và mỗi quốc gia, dân tộc lựa chọn thể chế chính trị nào, đa đảng hay một đảng là quyền tự quyết của quốc gia, dân tộc đó. Điều này hoàn toàn phù hợp với Điều 1 của cả Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị cũng như Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa mà Liên hợp quốc đã thông qua.

Thứ hai, coi tham nhũng là “căn bệnh kinh niên” của chế độ một đảng cầm quyền cũng là luận điểm hoàn toàn sai trái. Bởi lẽ, về mặt lý luận, tệ nạn tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh” của quyền lực; ở đâu có quyền lực, ở đó có nguy cơ xảy ra tham nhũng, một khi quyền lực bị lạm dụng. Tham nhũng là “căn bệnh” của nhà nước, do quyền lực nhà nước bị thao túng, tha hóa gây ra; có nhà nước là có tham nhũng, không phân biệt nhà nước đó tổ chức theo thể chế chính trị đa đảng hay một đảng. Mặt khác, nếu quyền lực được kiểm soát chặt chẽ với cơ chế quản lý, phòng ngừa đồng bộ, ngày càng hoàn thiện, thì tình trạng tham nhũng sẽ được kiểm soát và hạn chế tối đa. Do đó, chế độ một đảng lãnh đạo - cầm quyền không phải là nguyên nhân sinh ra tham nhũng và cũng không phải là không thể chống được tham nhũng. Về mặt thực tiễn, ở các nước theo chế độ tư bản chủ nghĩa, duy trì chế độ đa đảng, tham nhũng vẫn tồn tại; thậm chí một số nguyên thủ quốc gia (như ở: Tunisia, Hàn Quốc, Malaysia, Philippin, Indonesia, Pakixtan, Brazil,…) cũng dính vào tội tham nhũng. Chẳng thế mà hằng năm, Tổ chức Minh bạch quốc tế (TI) đều công bố chỉ số cảm nhận tham nhũng (CPI) trong khu vực công, để cung cấp cái nhìn tổng quát về mức độ tham nhũng tương đối của 180 quốc gia và vùng lãnh thổ, chủ yếu là các quốc gia đi theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa, thực hiện chế độ đa đảng. Nhìn vào bảng xếp hạng CPI năm 2023 (công bố ngày 30/01/2024) có thể thấy rất rõ quốc gia nào cũng có tham nhũng, chỉ khác nhau ở mức độ nghiêm trọng, bởi không có quốc gia nào đạt được điểm 100 (tức là không có tham nhũng). Những nước đứng đầu bảng xếp hạng CPI là Đan Mạch, Phần Lan và New Zealand, cũng chỉ đạt lần lượt là 90, 87, 85 điểm, nghĩa là vẫn có tham nhũng. Còn những nước đứng cuối bảng là: Somalia, Syria và Nam Sudan chỉ đạt từ 11 đến 13 điểm, đều là các nước theo thể chế chính trị tư bản chủ nghĩa. Bảng xếp hạng còn cho biết trong giai đoạn 2012 - 2023, có 34 quốc gia đã giảm đáng kể về chỉ số CPI, nghĩa là tham nhũng ở những nước này có xu hướng gia tăng, trong đó có Thụy Điển, Vương quốc Anh - những nước theo chế độ đa đảng. Điều đó chứng tỏ luận điểm “chế độ một đảng là nguyên nhân tham nhũng” chỉ là sự xuyên tạc, bịa đặt, không có cơ sở khoa học và thực tiễn vững chắc.

Ở nước ta, từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời đến nay, sự lãnh đạo độc tôn của Đảng luôn là nhân tố đảm bảo mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Đó là sự lựa chọn khách quan, khắt khe của lịch sử trong cuộc đấu tranh giành độc lập cho dân tộc và xây dựng đất nước trong hòa bình. Do vậy, nói “Chế độ độc đảng là nguyên nhân tham nhũng, cản trở dân chủ và phát triển” là sự xuyên tạc, bịa đặt, coi thường tính khách quan của lịch sử. Trên thực tế, Đảng Cộng sản Việt Nam là người đại diện chân chính duy nhất cho lợi ích và nguyện vọng của nhân dân lao động, của cả dân tộc Việt Nam trong cuộc đấu tranh bảo vệ quyền sống, quyền tự do, dân chủ và quyền mưu cầu hạnh phúc. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, không một lực lượng chính trị nào ở Việt Nam có thể đưa ra cương lĩnh, đường lối đúng đắn để tập hợp được mọi tầng lớp nhân dân trong cuộc đấu tranh vì độc lập, tự do của dân tộc, vì hạnh phúc của nhân dân. Lịch sử đã ghi nhận rằng, trong mấy chục năm cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, nhân dân ta đã liên tục vùng lên dưới ngọn cờ lãnh đạo của các giai cấp: phong kiến, tiểu tư sản và tư sản dân tộc để đấu tranh chống thực dân Pháp, nhằm giành lại độc lập cho dân tộc, nhưng không có lấy một thành công. Bởi, các ngọn cờ đó không phù hợp với xu thế của thời đại, không đưa ra được đường lối đúng đắn cho phép giải quyết các mâu thuẫn cơ bản của xã hội Việt Nam, không thỏa mãn được lợi ích và nguyện vọng chính đáng của cả dân tộc, nên không tập hợp được sức mạnh của cả dân tộc. Chính sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam, với vai trò kiệt xuất của lãnh tụ Hồ Chí Minh, đã tạo ra bước ngoặt căn bản trong phong trào yêu nước của dân tộc ta lúc đó; đánh dấu sự kết thúc thời kỳ khủng hoảng đường lối cứu nước của dân tộc, đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã làm nên cuộc Cách mạng Tháng Tám 1945; tiếp đó là giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến 9 năm chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ. Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam tiếp tục độc tôn lãnh đạo nhân dân cả nước đánh bại mọi chiến lược chiến tranh của đế quốc Mỹ, hoàn thành sự nghiệp cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, thực hiện thống nhất nước nhà, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Tiếp đó, trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, cũng chính Đảng Cộng sản Việt Nam là người khởi xướng và lãnh đạo thực hiện công cuộc đổi mới nhằm mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, công cuộc đổi mới gần 40 năm qua đã giành được những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; lợi ích quốc gia, dân tộc được bảo đảm. Nước ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 trong 200 quốc gia trên toàn thế giới; xây dựng được các mối quan hệ đối tác, hợp tác chiến lược, đối tác chiến lược toàn diện với tất cả các cường quốc trên thế giới và khu vực1. Hai lần được bầu làm Ủy viên không thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2008 - 2009 và 2020 - 2021); hai lần đảm trách nhiệm vụ thành viên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc (nhiệm kỳ 2014 - 2016 và 2023 - 2025); từ năm 2014, bắt đầu tham gia vào sứ mệnh gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc là minh chứng vững chắc khẳng định vị thế và uy tín quốc tế của Việt  Nam trên trường quốc tế. Trên lĩnh vực kinh tế, nước ta đã là thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới từ năm 2007; đến nay đã có quan hệ thương mại với 230 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việc thực hiện đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã đem lại những thành tựu to lớn. Từ chỗ phải nhập khẩu lương thực, nay chúng ta đã đứng vào nhóm nước hàng đầu thế giới về xuất khẩu lương thực2 và nhiều mặt hàng khác. Nước ta đã ra khỏi tình trạng kinh tế kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có mức thu nhập trung bình. Quy mô và tiềm lực kinh tế của đất nước không ngừng tăng lên, từ chỗ chỉ đạt 6,3 tỉ USD vào năm 1989, thì đến năm 2024 đạt 476,3 tỉ USD, đứng thứ 32 nền kinh tế lớn nhất thế giới, trong nhóm 20 nền kinh tế hàng đầu về thương mại và thu hút đầu tư nước ngoài3. Nhờ đó, đời sống nhân dân cả về vật chất và tinh thần được cải thiện rõ rệt. Thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2024 đạt 4.700 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 1,93% năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu trong thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng; quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” được thực hiện ngày càng hiệu quả. Quy chế Dân chủ cơ sở được tổ chức thực hiện rộng rãi, ngày càng chặt chẽ theo đúng phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” đã góp phần nâng cao hiệu quả cuộc đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, tăng cường sự đoàn kết dân tộc, giữ vững sự ổn định chính trị - xã hội, tạo nền tảng để phát triển kinh tế - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh và hội nhập quốc tế.

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nói trên luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là minh chứng sinh động bác bỏ sự xuyên tạc về thể chế chính trị của Việt Nam hiện nay. Xin nhấn mạnh rằng, trong cam kết của tất cả các nước khi đặt quan hệ, hoặc nâng cấp quan hệ ngoại giao với Việt Nam, kể cả Hoa Kỳ gần đây, đều khẳng định sự “tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ và thể chế chính trị của Việt Nam”4. Vì vậy, kêu gọi Việt Nam thay đổi thể chế chính trị của các thế lực thù địch chỉ là tiếng nói lạc lõng, nhưng cần cảnh giác.

NGUYỄN NGỌC HỒI
_______________
        

1 - Tính đến tháng 11/2024, Việt Nam có quan hệ Đối tác chiến lược và toàn diện với 32 quốc gia; trong đó, có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện với 09 quốc gia là: Trung Quốc (5/2008), Liên bang Nga (7/2012), Ấn Độ (9/2016), Hàn Quốc (12/2022), Mỹ (9/2023), Nhật Bản (11/2023), Australia (3/2024), Pháp (10/2024) và Malaysia (11/2024). Đối với Lào và Campuchia là quan hệ đặc biệt.

2 - Năm 2024, xuất khẩu gạo đạt 09 triệu tấn.

3 - Năm 2024, tổng giá trị xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt 786,29 tỉ USD; Việt Nam nằm trong 15 nước đang phát triển thu hút vốn FDI lớn nhất thế giới.

4 - Phát biểu của Tổng thống Hợp chúng quốc Hoa Kỳ Joe Biden trong chuyến thăm cấp Nhà nước tới Việt Nam từ ngày 10 - 11/9/2023.

Kỷ nguyên vươn mình không phải bánh vẽ

            Nguyễn Văn Lợi, một kẻ ẩn danh dưới bút danh trên mạng xã hội, đã tung ra bài viết mang tên “Kỷ nguyên vươn mình chỉ là ‘bánh vẽ’?”, chứa đựng những luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ tầm nhìn chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam và Tổng Bí thư Tô Lâm về “kỷ nguyên mới - kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam”. Y trắng trợn cho rằng khái niệm này chỉ là “khẩu hiệu”, thiếu cơ sở khoa học và thực tiễn, đồng thời rêu rao rằng Việt Nam muốn vươn lên thì phải xóa bỏ Điều 4 Hiến pháp, thực hiện tam quyền phân lập và dân chủ đa nguyên. Những lời lẽ bẩn thỉu này không chỉ phơi bày dã tâm chống phá của Nguyễn Văn Lợi mà còn nhằm kích động, gây nghi ngờ trong nhân dân, phủ nhận những thành tựu to lớn mà đất nước đã đạt được sau 40 năm đổi mới. Trước luận điệu độc hại này, cần đấu tranh mạnh mẽ, vạch trần sự thật và khẳng định tính đúng đắn, khoa học của “kỷ nguyên vươn mình” mà Đảng và nhân dân Việt Nam đang hướng tới.

Tổng bí thư Tô Lâm trao đổi chuyên đề về
"Kỷ nguyên phát triển mới - Kỷ nguyên vươn mình
của dân tộc Việt Nam - Ảnh: TTXVN

Nguyễn Văn Lợi mở đầu bằng việc xuyên tạc rằng “trong suốt 80 năm, Đảng Cộng sản Việt Nam tồn tại dựa trên sự tiếm quyền, không phải sự lựa chọn của nhân dân”. Đây là một sự bóp méo lịch sử trắng trợn, đi ngược lại thực tế mà cả dân tộc Việt Nam và cộng đồng quốc tế đã chứng kiến. Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời năm 1930, lãnh đạo nhân dân đấu tranh giành độc lập, thống nhất đất nước qua hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, đưa Việt Nam từ một nước thuộc địa nghèo nàn trở thành quốc gia độc lập, có vị thế ngày càng cao trên trường quốc tế. Hơn 94 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân Việt Nam đã lựa chọn và tin tưởng con đường xã hội chủ nghĩa, điều được ghi nhận rõ ràng trong Điều 4 Hiến pháp 2013: Đảng là “lực lượng lãnh đạo Nhà nước và xã hội”, gắn bó mật thiết với nhân dân, chịu sự giám sát và trách nhiệm trước nhân dân. Vai trò này không phải “tiếm quyền” như Nguyễn Văn Lợi vu khống, mà là sự giao phó thiêng liêng của lịch sử và ý chí của toàn dân. Thực tế, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc: kinh tế tăng trưởng gấp 96 lần từ năm 1986 đến 2023, thuộc top 40 nền kinh tế lớn nhất thế giới, thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia, trong đó có quan hệ đối tác chiến lược với các cường quốc. Những con số này không phải là “bánh vẽ” mà là minh chứng sống động cho sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng và sự đồng lòng của nhân dân, điều mà Nguyễn Văn Lợi cố tình lờ đi để phục vụ mưu đồ chống phá.

“Kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” mà Tổng Bí thư Tô Lâm đề cập trong Hội nghị Trung ương lần thứ 10 không phải là khẩu hiệu suông hay sản phẩm của sự tưởng tượng, mà là tầm nhìn chiến lược dựa trên cơ sở khoa học và thực tiễn. Kỷ nguyên, theo khái niệm lịch sử, là giai đoạn phát triển đặc biệt, đánh dấu những bước chuyển mình vượt bậc của một quốc gia. Với Việt Nam, kỷ nguyên vươn mình là thời kỳ mà đất nước hội tụ đủ điều kiện để bứt phá, dựa trên thế và lực tích lũy sau 40 năm đổi mới, kết hợp với thời cơ từ bối cảnh quốc tế. Về mặt khách quan, thế giới đang chứng kiến xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển, dù vẫn còn xung đột. Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư với trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, Internet vạn vật đang mở ra cơ hội chưa từng có cho các quốc gia biết tận dụng khoa học - công nghệ để phát triển. Việt Nam, với vị thế ngày càng cao, đang tham gia sâu vào chuỗi cung ứng toàn cầu, thu hút đầu tư và ứng dụng công nghệ hiện đại, tạo nền tảng để vươn lên trong trật tự thế giới mới. Về mặt chủ quan, sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã xây dựng được nội lực mạnh mẽ: kinh tế phát triển vượt bậc, chính trị ổn định dưới sự lãnh đạo của Đảng, xã hội ngày càng công bằng, an ninh - quốc phòng được củng cố, và quan hệ quốc tế mở rộng. Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh rằng, với nguồn lực nội sinh, con người làm nền tảng, khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo làm đột phá, Việt Nam hoàn toàn có cơ sở để bước vào kỷ nguyên mới. Đây không phải là “bánh vẽ” như Nguyễn Văn Lợi xuyên tạc, mà là định hướng chiến lược được đúc kết từ thực tiễn, phản ánh khát vọng của toàn dân tộc.

Nguyễn Văn Lợi còn rêu rao rằng “kỷ nguyên vươn mình” chỉ là chiêu bài tuyên truyền, thiếu thực tế, và Việt Nam muốn phát triển thì phải xóa Điều 4 Hiến pháp, thực hiện tam quyền phân lập và đa nguyên đa đảng. Đây là luận điệu quen thuộc của các thế lực thù địch, nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng và đẩy Việt Nam vào con đường lệ thuộc phương Tây. Thực tế, mô hình nhà nước Việt Nam theo Hiến pháp 2013 là “của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân”, quyền lực nhà nước thống nhất, không phân chia tam quyền mà phân công, phối hợp giữa các cơ quan dưới sự lãnh đạo của Đảng. Chính mô hình này đã giúp Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế và bảo vệ độc lập, chủ quyền trong suốt gần một thế kỷ qua. Việc đòi xóa Điều 4 Hiến pháp không chỉ là âm mưu xóa bỏ vai trò của Đảng mà còn muốn phá vỡ sự ổn định, đoàn kết của dân tộc - điều mà lịch sử đã chứng minh là yếu tố sống còn để Việt Nam vượt qua mọi thử thách. Nhìn ra thế giới, những quốc gia bị lôi kéo vào đa nguyên, đa đảng dưới chiêu bài “dân chủ” của phương Tây như Iraq, Libya đã rơi vào hỗn loạn, chiến tranh, người dân chịu cảnh lầm than. Việt Nam, với con đường xã hội chủ nghĩa phù hợp lịch sử và văn hóa dân tộc, không cần và không bao giờ chạy theo mô hình xa lạ mà Nguyễn Văn Lợi ra sức cổ súy.

Hơn nữa, luận điệu của Nguyễn Văn Lợi còn kích động “dân tộc Việt Nam cần đứng lên tranh đấu” vì một “Việt Nam tự do, dân chủ, giàu mạnh”. Đây là chiêu bài bẩn thỉu nhằm kêu gọi bạo loạn, lật đổ chế độ, nhưng chỉ là tiếng kêu tuyệt vọng của một kẻ lạc lõng trước dòng chảy lịch sử. Thực tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng, Việt Nam đã và đang thực hiện khát vọng “giàu mạnh” bằng những bước đi cụ thể: từ tăng trưởng kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, đến ứng dụng khoa học – công nghệ để hiện đại hóa đất nước. Tự do và dân chủ không phải là thứ mà Nguyễn Văn Lợi và các thế lực thù địch có thể ban phát, bởi nhân dân Việt Nam đã giành được tự do qua máu xương của hàng triệu anh hùng liệt sĩ, và đang thực hành dân chủ thực chất qua cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân làm chủ”. Những thành tựu như đưa GDP bình quân đầu người từ vài trăm USD năm 1986 lên hơn 4.000 USD hiện nay, hay vị thế quốc tế ngày càng cao, là bằng chứng rõ ràng rằng Việt Nam không cần “tranh đấu” theo kiểu kích động của Nguyễn Văn Lợi, mà đang vươn lên bằng nội lực và sự đồng lòng của toàn dân.

Tóm lại, “kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam” không phải là “bánh vẽ” như Nguyễn Văn Lợi xuyên tạc, mà là tầm nhìn chiến lược, có cơ sở khoa học và thực tiễn, phản ánh khát vọng của cả dân tộc. Những luận điệu của y chỉ là sản phẩm của sự tưởng tượng và ác ý, không thể làm lung lay niềm tin của nhân dân vào Đảng và con đường phát triển của đất nước. Việt Nam, với thế và lực hiện có, đang vững bước tiến vào kỷ nguyên mới, bất chấp mọi chiêu trò bôi nhọ của các thế lực thù địch. Nhân dân cần cảnh giác trước những kẻ như Nguyễn Văn Lợi, nhận diện rõ dã tâm chống phá và tiếp tục ủng hộ Đảng trong hành trình đưa đất nước vươn xa trên trường quốc tế.

(nguồn: nhanquyen.vn)

 

Mar 27, 2025

Đừng nhầm lẫn giữa lòng nhân đạo và sự tôn trọng

     


       T
ổng thống Mỹ Donald Trump phát biểu tại hội nghị, nói về những kẻ thuộc “Viet Nam Cong Hoa \|/ tức là Tổ chức cầm quyền Sài Gòn trước năm 1975” đang tị nạn tại Mỹ như sau: các anh là những kẻ phản bội chính Tổ quốc của mình. Một khi đã phản bội đất nước với Tổ quốc thì chắc chắn các anh mãi mãi là kẻ không bao giờ đáng tin. Làm sao chúng tôi có thể đặt niềm tin vào những kẻ đã quay lưng vào đồng bào mình trong giờ phút quan trọng nhất. Các anh là những kẻ không chỉ phản bội Tổ quốc, mà còn phản bội các giá trị căn bản nhất của con người. Người Cộng sản chiến đấu đến cùng, hy sinh tất cả vì đất nước, vì lòng yêu nước. Còn các anh bỏ chạy, cúi đầu và biến mình thành những kẻ sống nhờ vào lòng thương hại. Người Cộng sản Họ là những chiến binh, còn các anh chỉ là những kẻ hèn nhát. Những kẻ từng bán rẻ Tổ quốc , phản bội dân tộc mình, thì ở đâu cũng chỉ là những kẻ cơ hội! Các anh chỉ là những con tốt thí không giá trị trong bàn cờ chính trị. Chúng tôi không cần và không thể tin tưởng những kẻ như vậy. Sự có mặt của các anh tại Mỹ không phải vì cống hiến hay đóng góp mà chỉ là kết quả của chính sách nhân đạo của chúng tôi. Các anh có mặt ở đây không phải vì các anh xứng đáng, mà bởi vì đất nước chúng tôi đủ bao dung để chứa chấp những kẻ bị Tổ Quốc ruồng bỏ !!! NHƯNG ĐỪNG NHẦM LẪN GIỮA LÒNG NHÂN ĐẠO và SỰ TÔN TRỌNG ! SỰ TÔN TRỌNG CỦA CHÚNG TÔI CHẮC CHẮN CÁC ANH KHÔNG BAO GIỜ CÓ ĐƯỢC !!! Donald Trump

Mar 25, 2025

Việt Nam thăng hạng hạnh phúc - Sự thật không thể xuyên tạc

           Tre Việt - Ngày 24/3, trong bài viết “Chuyện hài xứ “thiên đường”: Việt Nam tăng 8 hạng trong Báo cáo hạnh phúc” đăng trên trang fanfage Việt Tân, Hạnh Nhân xuyên tạc, rằng: “không phản ánh đúng thực tế… hạnh phúc thì ngẫm thôi cũng quá xa vời”!

Như đã biết, trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 công bố ngày 19/3/2025 của Liên Hợp quốc, Việt Nam đã ghi dấu ấn mạnh mẽ khi vươn từ vị trí 54 (năm 2024) lên vị trí 46 (năm 2025) trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng. Sự phát triển kinh tế, xã hội và tinh thần của người dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của hệ thống chính trị do Đảng Cộng sản Việt Nam đứng đầu, đã tạo nên một bức tranh xã hội đầy sức sống, thành quả này không chỉ thể hiện sự ổn định mà còn khẳng định Việt Nam đang tiến bộ vượt bậc, được thế giới công nhận qua những chỉ số khách quan. Đây không chỉ là một bước tiến đáng tự hào mà còn là minh chứng sống động đập tan những luận điệu xuyên tạc, bôi đen của Hạnh Nhân và các thế lực thù địch.

Báo cáo Hạnh phúc thế giới hằng năm do Viện Gallup, Trung tâm Nghiên cứu hạnh phúc Oxford và Mạng lưới giải pháp phát triển bền vững của Liên Hợp quốc thực hiện, đánh giá dựa trên 06 tiêu chí, gồm: thu nhập bình quân đầu người, hỗ trợ xã hội, tuổi thọ khỏe mạnh, lòng hào phóng, tự do cá nhân và nhận thức về tham nhũng. Việt Nam đã chứng minh được sự tiến bộ trên từng khía cạnh, phản ánh vai trò lãnh đạo hiệu quả của Đảng và Nhà nước. Sự thăng hạng của Việt Nam trong Báo cáo Hạnh phúc thế giới năm 2025 không phải là kết quả ngẫu nhiên mà là thành quả của những nỗ lực bền bỉ, đồng bộ của hệ thống chính trị Việt Nam trong suốt những năm qua.

Về kinh tế, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB) năm 2024, GDP bình quân đầu người của Việt Nam đạt hơn 4.300 USD, tăng gấp hơn 40 lần so với năm 1990. Dù chưa phải là con số cao nhất trong khu vực, mức sống thực tế của người dân vượt xa con số thống kê nhờ giá cả sinh hoạt thấp và chính sách hỗ trợ phát triển đồng đều.

Về hỗ trợ xã hội, hệ thống an sinh xã hội của Việt Nam đã được xây dựng đồng bộ qua gần 40 năm đổi mới. Thành tựu nổi bật của Việt Nam trong bảo đảm an sinh xã hội được thế giới thừa nhận, đánh giá cao là công tác xóa đói, giảm nghèo về đích trước thời hạn theo mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ và Phát triển bền vững của Liên hợp quốc. Tỷ lệ hộ nghèo giảm từ gần 60% (năm 1986) xuống còn 1,93% (năm 2024), trở thành một trong 30 quốc gia đầu tiên trên thế giới áp dụng chuẩn nghèo đa chiều. Các chính sách bảo hiểm xã hội, trợ cấp thất nghiệp, hỗ trợ người có công và cứu trợ thiên tai kịp thời đã tạo nên một mạng lưới an toàn cho người dân. Chính sách trợ giúp xã hội được thực hiện rộng hơn về quy mô, đối tượng thụ hưởng với mức trợ giúp ngày càng tăng; đã bao phủ các nhóm đối tượng, bảo đảm người dân được hỗ trợ kịp thời khi gặp rủi ro, thiên tai, dịch bệnh. Năm 2023, đã có 100% số đối tượng bảo trợ xã hội được hưởng trợ cấp hằng tháng, 100% số người dân bị thiệt hại do thiên tai được trợ giúp kịp thời, 99% số hộ Người có công có mức sống bằng hoặc cao hơn mức sống trung bình của người dân nơi cư trú, hơn 90% số người khuyết tật khó khăn được trợ giúp xã hội, chăm sóc, phục hồi chức năng và hơn 90% số người cao tuổi khó khăn được trợ giúp xã hội, phụng dưỡng, chăm sóc. Hằng năm, Chính phủ đã hỗ trợ cho người dân thiếu lương thực hàng chục nghìn tấn gạo. Gần đây nhất, trước hậu quả nặng nề của cơn bão Yagi gây ra, Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo với tinh thần bảo vệ tính mạng, an toàn, sức khỏe của nhân dân là trên hết, trước hết; không để người bệnh thiếu nơi cứu chữa; các cháu học sinh phải được đến trường sớm nhất có thể; bảo đảm an sinh xã hội, không để người dân thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu chỗ ở, thiếu nước sạch; sớm khôi phục các hoạt động đời sống, xã hội để ổn định cuộc sống nhân dân. Thủ tướng Chính phủ đã quyết định trích dự phòng ngân sách Trung ương 430 tỉ đồng và xuất cấp từ dự trữ quốc gia 432.585 tấn gạo để các địa phương, cơ quan thực hiện chính sách hỗ trợ các gia đình bị thiệt hại và cứu trợ cho người dân có nguy cơ thiếu đói. Và, mới đây, Đảng, Nhà nước đã quyết định chính sách miễn học phí từ mầm non đến trung học phổ thông công lập, bắt đầu từ năm học 2025 - 2026 là một bước đi đột phá nhằm đảm bảo quyền tiếp cận giáo dục cho mọi trẻ em. Điều này không chỉ thể hiện tinh thần đoàn kết mà còn khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc đảm bảo phúc lợi, một yếu tố quan trọng trong tiêu chí “hỗ trợ xã hội” của Báo cáo Hạnh phúc thế giới.

Về chống tham nhũng, Việt Nam đã thể hiện quyết tâm mạnh mẽ với chiến dịch “đốt lò” do Cố Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng khởi xướng. Từ năm 2016 đến nay, hàng nghìn cán bộ, bao gồm cả những cán bộ cấp cao đã bị kỷ luật hoặc truy tố vì các hành vi tham nhũng; riêng năm 2023, hơn 2.500 vụ án tham nhũng đã được xử lý, thu hồi hàng chục nghìn tỉ đồng cho ngân sách. Cuộc chiến này không chỉ làm trong sạch bộ máy mà còn củng cố niềm tin của người dân, góp phần nâng cao chỉ số “nhận thức về tham nhũng” trong đánh giá hạnh phúc.

Về tự do cá nhân và lòng hào phóng, Việt Nam ghi điểm nhờ sự ổn định chính trị và văn hóa cộng đồng sâu sắc. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tự do ngôn luận được đảm bảo trong khuôn khổ pháp luật, với hơn 95% dân số có quyền tiếp cận thông tin qua internet. Đồng thời, tinh thần “lá lành đùm lá rách” của người Việt được thể hiện qua các hoạt động thiện nguyện, như quỹ “Vì người nghèo” của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, quyên góp hơn 1.500 tỉ đồng mỗi năm để hỗ trợ các hoàn cảnh khó khăn, v.v.

Việc Việt Nam tăng 08 bậc trong bảng xếp hạng hạnh phúc từ vị trí 54 lên vị trí 46 trong năm 2025 và đứng thứ hai Đông Nam Á chỉ sau Singapore, khẳng định thực tế sự phát triển vượt bậc của đất nước. Thực tế đó cũng chính là minh chứng sinh động, đầy thuyết phục; tự nó bác bỏ sự xuyên tạc của Hạnh Nhân và đồng bọn về chỉ số hạnh phúc ở Việt Nam./.


 

Mar 24, 2025

Họ lại diễn trò “chọc gậy bách xe”

         Tre Việt - Nhằm phá hoại mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước và các tổ chức quốc tế, trong đó có quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, các thế lực thù địch, phản động không từ một thủ đoạn nào. Chúng triệt để lợi dụng mạng xã hội để tung ra các luận điệu vô căn cứ, như: quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ sẽ không thể phát triển nếu Việt Nam không cải thiện tình hình nhân quyền và không xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng; hoặc thậm chí kêu gọi Chính phủ Hoa Kỳ gây sức ép với Việt Nam trong vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, v.v. Đặc biệt, gần đây, trước việc chính quyền mới ở Hoa Kỳ quyết định tạm dừng các dự án hỗ trợ của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID), bao gồm các dự án hỗ trợ của USAID liên quan tới khắc phục hậu quả chiến tranh ở Việt Nam, Bộ Ngoại giao Việt Nam cùng một số địa phương đã bày tỏ mong muốn và đề nghị cùng Hoa Kỳ tiếp tục triển khai thực chất, hiệu quả các hoạt động hợp tác này. Ngay lập tức, một số tổ chức, cá nhân phản động lại lợi dụng vấn đề này để “chọc ngoáy” nhằm khiến dư luận hiểu sai về thực trạng quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ, điển hình là tổ chức phản động Việt Tân: chúng rêu rao trên Facebook rằng Việt Nam “mặt dày” đề nghị Hoa Kỳ tiếp tục tài trợ tiền bạc; và rằng công việc rà phá bom, mìn vốn là việc của Việt Nam, chứ chẳng nước nào có trách nhiệm làm giúp.

Cần khẳng định rằng, việc phát triển mối quan hệ với Hoa Kỳ hay bất cứ quốc gia nào trên thế giới là chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Đây cũng là tất yếu khách quan, phù hợp với xu thế chung của thời đại và đường lối đối ngoại: độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, có hiệu quả; là thành viên tích cực và có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế; đẩy mạnh và làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác song phương với các đối tác, tiếp tục đưa các mối quan hệ đi vào chiều sâu, đồng thời tạo thế đan xen lợi ích, tăng độ tin cậy,... được Đảng, Nhà nước Việt Nam đã đề ra.

Thực tiễn thời gian qua minh chứng: trong các cuộc trao đổi, tiếp xúc, lãnh đạo nước ta đã nhiều lần khẳng định Việt Nam coi trọng phát triển quan hệ với Hoa Kỳ, mong muốn tiếp tục thúc đẩy quan hệ hai nước theo hướng hợp tác cùng có lợi, đóng góp vào việc duy trì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển bền vững ở khu vực cũng như thế giới. Và, tương tự, quan điểm của lãnh đạo cấp cao Hoa Kỳ cũng là mong muốn thúc đẩy quan hệ với Việt Nam và cam kết ủng hộ một Việt Nam “mạnh, độc lập, tự cường và thịnh vượng”. Việt Nam và Hoa Kỳ nâng cấp quan hệ lên đối tác chiến lược toàn diện (tháng 9/2023) đã mở ra cơ hội để tiếp tục phát triển quan hệ hai nước trong các lĩnh vực. Theo đó, ngày càng có nhiều doanh nghiệp hàng đầu của Hoa Kỳ bày tỏ mong muốn đặt thêm các cơ sở làm ăn, kinh doanh tại Việt Nam. Điều này cho thấy: nếu như mối bang giao giữa hai nước không phát triển tốt đẹp thì chắc chắn các doanh nghiệp Hoa Kỳ sẽ không sẵn lòng đầu tư tiền của vào các dự án ở Việt Nam.

Riêng đối với những vấn đề còn tồn tại sự khác biệt về quan điểm, chẳng hạn như “nhân quyền”, những năm qua, Việt Nam và Hoa Kỳ đã trao đổi thẳng thắn thông qua các cơ chế đối thoại liên quan nhằm “giảm thiểu khác biệt”, dựa trên tinh thần xây dựng và những nguyên tắc được coi là nền tảng trong quan hệ song phương, đó là: tôn trọng Hiến chương Liên hợp quốc, luật pháp quốc tế, độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, thể chế chính trị của nhau, hợp tác bình đẳng, cùng có lợi.

Một minh chứng không thể xuyên tạc: việc khắc phục hậu quả chiến tranh vẫn là lĩnh vực ưu tiên trong quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ trong nhiều năm qua. Điều này được thể hiện thông qua các hoạt động tìm kiếm quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh (MIA); tìm kiếm liệt sĩ Việt Nam mất tin, mất tích; xử lý ô nhiễm dioxin, hỗ trợ người khuyết tật ở Việt Nam. Những hoạt động hiệu quả này đã nhận được sự đồng tình, ủng hộ của cả chính giới lẫn người dân hai nước, góp phần chữa lành vết thương chiến tranh trong quá khứ và thúc đẩy hòa giải, mở rộng hợp tác trên nhiều lĩnh vực khác. Mới đây, 17 cựu Đại sứ Hoa Kỳ từng công tác tại Việt Nam, Lào và Campuchia đã cùng ký vào một bức thư ngỏ gửi Ngoại trưởng Hoa Kỳ, trong đó đề nghị chính quyền của Tổng thống Donald Trump nối lại viện trợ cho các chương trình rà phá bom, mìn và vật liệu chưa nổ tại ba quốc gia này. Các cựu Đại sứ Hoa Kỳ cũng khẳng định các chương trình khắc phục hậu quả chiến tranh mang lại lợi ích cho chính an ninh quốc gia của Hoa Kỳ, bởi nó giảm nguy cơ phổ biến vật liệu nổ cho những kẻ xấu tiềm tàng có thể tái sử dụng vì mục đích bất chính, dẫn đến bạo lực hoặc bất ổn. Và, nếu không được dọn sạch, bom, mìn và vật liệu chưa nổ còn đe dọa đến tính mạng của nhân viên Hoa Kỳ trong khu vực, nhà thầu và nhân viên cứu trợ.

Một điều hiển nhiên cả thế giới đều biết: chính quyền Hoa Kỳ chỉ mới “tạm dừng” các dự án viện trợ nước ngoài và đang trong quá trình đánh giá lại hiệu quả của mỗi dự án, chứ không phải dừng hẳn. Đây là chính sách được áp dụng trên phạm vi toàn cầu, với mọi dự án liên quan ở mọi quốc gia chứ không chỉ riêng ở Việt Nam. Việc các thế lực phản động lợi dụng vấn đề này để bày trò “chọc gậy bánh xe” nhằm phá hoại mối quan hệ đang phát triển giữa Việt Nam - Hoa Kỳ. Vì vậy, chúng ta cần tỉnh táo, nhận diện, đấu tranh bác bỏ./.

Mar 18, 2025

Xuất khẩu lao động là “ích nước, lợi dân”

           Tre Việt - Ngày 16/3, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng status: “Việt Nam đang ở trong thời kỳ dân số vàng, là cơ hội lớn để phát triển kinh tế thần tốc như Nhật, Hàn, Đài…  Nhưng các quan chức Cộng sản Việt Nam thì lại tận dụng thời kỳ này để đưa thanh niên đi xuất khẩu lao động”, nhằm kích động, xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước ta về đưa người đi lao động ở nước ngoài.

          Cần khẳng định: chủ trương đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là hoạt động kinh tế đối ngoại quan trọng đối với mỗi quốc gia, nhất là với các nước đang phát triển như Việt Nam, nhằm giải quyết việc làm, tạo thu nhập, phân công lại lao động, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, tăng nguồn thu ngoại tệ và góp phần phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Đây là hoạt động mang lại lợi ích cho chính người lao động, cộng đồng và sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.

Dân số Việt Nam hiện đang ở trong giai đoạn dân số vàng, đây là cơ hội để chúng ta tận dụng lợi thế, đề ra các chính sách về phát triển nguồn nhân lực để tăng trưởng kinh tế. Người Việt Nam với đặc tính là cần cù, thông minh và năng động, do đó, xuất khẩu lao động như một cánh cửa mở ra cơ hội cho người lao động bước ra thế giới, tiếp cận và hoàn thiện kỹ năng làm việc trong môi trường hội nhập quốc tế và quan trọng hơn hết, là tăng thu nhập, nâng cao chất lượng cuộc sống.

Từ năm 2021 đến năm 2024, gần 500.000 lao động Việt Nam ra nước ngoài làm việc; trong đó, chỉ riêng trong năm 2024, đã có khoảng 150.000 lao động ra nước ngoài làm việc, đạt 120% kế hoạch, cho thấy nhu cầu việc làm lớn và hiệu quả của chính sách. Hiện nay, Việt Nam đang có khoảng gần 700.000 lao động đang làm việc tại 40 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Các quốc gia tiếp nhận lao động Việt Nam, như: Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc,… thường xuyên đánh giá cao tính cần cù và kỹ năng của người Việt, điều đó đã giúp mở rộng cơ hội hợp tác lao động. Nhờ làm việc ở nước ngoài, người lao động Việt Nam có nhiều cơ hội tìm kiếm nguồn thu nhập tốt, góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của hàng trăm nghìn gia đình. Hằng năm, lao động Việt Nam ở nước ngoài gửi về khoảng 3,5 - 4 tỉ USD, đóng góp nguồn kiều hối lớn cho đất nước, góp phần tăng nguồn ngoại tệ, hỗ trợ cán cân thanh toán quốc gia, và cải thiện kinh tế đất nước. Đây là nguồn lực quan trọng giúp giảm nợ nước ngoài, tăng cường dự trữ ngoại hối và đầu tư phát triển. Trung bình mỗi năm, số lao động Việt Nam đi nước ngoài chiếm xấp xỉ 10% chỉ tiêu việc làm mà nhu cầu trong nước cần giải quyết. Khi làm việc tại nước ngoài, trung bình 03 năm, người lao động có thể tích lũy được từ 500 - 700 triệu đồng, thu nhập bình quân cao hơn từ 5 đến 8 lần so với thu nhập ở trong nước. Với số tiền tích lũy được, nhiều gia đình đã vươn lên thoát nghèo, người lao động sau khi về nước có khả năng đầu tư vào sản xuất kinh doanh, phát triển sản xuất, quan trọng hơn là tay nghề, trình độ của họ cũng trở thành một nguồn lực quý khi về nước. Đây là nguồn vốn lớn bổ sung vào đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân trong nước.

Cùng với đó, những lợi ích từ xuất khẩu lao động còn có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, góp phần giải quyết việc làm cho người dân - một trong những thách thức lớn với một nước đang phát triển như Việt Nam. Đồng thời, đây cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ lao động được làm việc trong môi trường quốc tế, tiếp cận công nghệ hiện đại và học hỏi kỹ năng chuyên môn cao.

Như vậy, xuất khẩu lao động là chính sách đúng đắn, mang tính nhân văn của Đảng và Nhà nước Việt Nam; là chủ trương, chính sách mang lại lợi ích kép “ích nước, lợi dân”. Thực tiễn, không phải chỉ riêng Việt Nam đang thực hiện mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng đang tăng cường thực hiện; thậm chí có quốc gia, như:  Ấn Độ, Mexico, Trung Quốc, Philippines,… còn xác định xuất khẩu lao động trở thành động lực quan trọng để phát triển đất nước. Vì thế, luận điệu xuyên tạc chủ trương, chính sách đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài, hòng bôi nhọ, hạ thấp uy tín của Đảng và Nhà nước ta mà Chân Trời Mới Media rêu rao, cần bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.