Jun 11, 2025

Miễn viện phí cho toàn dân là mục tiêu hiện thực

           Trên trang “Baotiengdan”, Vũ Hoàng Linh đăng bài: “Miễn viện phí cho toàn dân: giấc mơ có thực?”, cho rằng: “Chưa miễn phí mà bệnh nhân đã phải chung giường rồi… Rồi miễn phí thì chắc tranh nhau đến cả nằm đất…”; “ở một đất nước mà ngân sách y tế còn eo hẹp, bệnh viện tuyến trên vẫn quá tải, và người dân ở những vùng sâu, vùng xa còn phải đi hàng chục cây số để siêu âm hay lấy thuốc, việc bàn đến miễn viện phí cho toàn dân có vẻ như một lời hứa xa vời”. Thực tế, Vũ Hoàng Linh đang cố tình xuyên tạc chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng và bản chất tốt đẹp của chế độ xã hội chủ nghĩa ở nước ta. Cần khẳng định rằng, việc miễn viện phí cho toàn dân là điều Việt Nam hoàn toàn làm được.

Thứ nhất, Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: trước yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên phát triển hùng cường, giàu mạnh, thịnh vượng của dân tộc, công tác bảo vệ và chăm sóc sức khỏe Nhân dân vừa là mục tiêu, vừa là động lực để phát triển đất nước nhanh và bền vững. Công tác chăm sóc sức khoẻ Nhân dân cần hướng đến mục tiêu xây dựng một nước Việt Nam khỏe mạnh, mọi người dân đều được sống lâu, sống khỏe, sống lành mạnh, sống hạnh phúc; nguồn nhân lực phải có đủ sức khỏe về thể chất, tinh thần, trí tuệ và đạo đức để thực hiện mục tiêu đến năm 2030 Việt Nam trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình cao, đến năm 2045 Việt Nam trở thành nước phát triển, có thu nhập cao. Như vậy, miễn viện phí cho người dân không chỉ là định hướng chiến lược lâu dài mà còn là mục tiêu của cả hệ thống chính trị nói chung, ngành y tế nói riêng. Đây là chính sách chạm đến trái tim hàng triệu người dân, đồng thời là mong mỏi của người dân và toàn ngành y tế Việt Nam.

Thứ hai, hiện thực hóa miễn viện phí cho toàn dân, trước mắt Việt Nam sẽ khẩn trương nghiên cứu, triển khai kiện toàn hệ thống tổ chức ngành y tế từ Trung ương tới cơ sở phù hợp mô hình tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp, gắn với mô hình phân tầng kỹ thuật y tế rõ ràng, hiệu quả, bảo đảm tính kế thừa, hỗ trợ lẫn nhau giữa các cấp, các tuyến y tế chuyên môn. Đặc biệt quan tâm, củng cố, nâng cao năng lực y tế tuyến cơ sở. Đây là tuyến y tế gần dân nhất, đóng vai trò “gác cửa” của hệ thống y tế quốc gia, cần được củng cố toàn diện, bảo đảm chức năng chăm sóc sức khỏe ban đầu, dự phòng, quản lý bệnh mãn tính, phát hiện sớm và điều trị ban đầu, khám sức khỏe định kỳ, cập nhật sử dụng hồ sơ sức khỏe điện tử, v.v. Vì vậy, cần xây dựng hệ thống y tế tuyến cơ sở vững mạnh, đủ năng lực, đủ con người, đủ công nghệ, phải là nơi người dân đặt niềm tin và hy vọng. Chỉ như vậy, mới có thể thực hiện được việc chăm sóc sức khỏe toàn dân một cách bền vững, công bằng và hiệu quả.

Thứ ba, Việt Nam sẽ rà soát lại tổng thể các chương trình, kế hoạch, đề án liên quan đến chăm sóc sức khỏe cho Nhân dân để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp tình hình mới; thống nhất thực hiện chủ trương khám sức khỏe định kỳ cho Nhân dân ít nhất mỗi năm một lần; nghiên cứu xây dựng đề án với lộ trình từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế cho người dân, tiến tới miễn viện phí toàn dân vào giai đoạn từ 2030-2035. Miễn viện phí cho toàn dân đòi hỏi quyết tâm, nỗ lực và sự vào cuộc quyết liệt của các cấp, ngành, địa phương, trên cơ sở: tăng ngân sách cùng với đồng bộ hoàn thiện thể chế, kiện toàn tổ chức, nguồn lực tài chính, nhân lực, cơ sở hạ tầng, đồng thời nâng cao năng lực y tế cơ sở, đến cải thiện tốt hơn việc cung ứng dịch vụ công theo lĩnh vực ở nước ta trong thời gian tới. Đồng thời, học hỏi kinh nghiệm quốc tế, rà soát các chương trình hiện hành, phân kỳ thực hiện theo nhóm đối tượng ưu tiên là hướng đi phù hợp với thực tiễn Việt Nam hiện nay. Để chủ trương miễn viện phí toàn dân sớm đi vào đời sống xã hội, theo Bộ Y tế, lộ trình triển khai chính sách dự kiến chia làm hai giai đoạn: giai đoạn 2026-2030, tập trung tăng cường y tế tuyến cơ sở, bảo đảm 90% dân số được chăm sóc y tế dự phòng; miễn viện phí cho nhóm người yếu thế: người già, người cao tuổi, người neo đơn, người tàn tật, người nghèo, cận nghèo, gia đình chính sách, trẻ em, đồng bào các dân tộc vùng sâu, vùng cao, vùng xa, biên giới, hải đảo, v.v. Giai đoạn 2030 - 2035, triển khai miễn viện phí toàn dân đồng bộ với bảo hiểm y tế bắt buộc và cải cách cơ chế thanh toán y tế trên cơ sở huy động tối đa các nguồn lực, nhất là ngân sách Nhà nước và xã hội hóa tài chính y tế.

Một lần nữa, cần khẳng định rằng: việc miễn viện phí cho toàn dân giai đoạn 2030 - 2035 là hoàn toàn có thể thực hiện được. Việc các thế lực thù địch bôi nhọ, vu cáo, trắng trợn, xuyên tạc chủ trương miễn viện phí cho toàn dân ở Việt Nam, là đi ngược lại chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, bản chất ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa và lợi ích nguyện vọng, chính đáng của Nhân dân. Chúng ta cần đề cao cảnh giác và kiên quyết đấu tranh ngăn chặn./.

(Trich nguồn: nhanvanviet.com)

 

Vạch trần luận điệu xuyên tạc của Việt Tân

            Tre Việt - Ngày 11/6, trang facebook Việt Tân đăng staus “Đất nước nào hàng giả tràn ngập, thì đất nước đó có nhiều lãnh đạo giả và người thi hành công vụ giả tràn lan”. Đây là luận điệu quy chụp, thể hiện ý đồ chính trị hết sức phản động của Việt Tân khi núp bóng một vấn đề kinh tế - xã hội đang được nhân dân ta quan tâm trong thời gian gần đây là tình trạng hàng giả, hàng nhái để xuyên tạc tình hình, bóp méo bản chất sự việc, kích động, gây hoài nghi, làm suy giảm niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên. Từ đó, phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng, hướng đến mục tiêu lật đổ thể chế chính trị hiện hành.

Trước hết, cần phải thẳng thắn thừa nhận rằng, tình trạng sản phẩm giả mạo, kém chất lượng không chỉ tồn tại ở Việt Nam, mà đây còn là vấn nạn tại nhiều nước có nền kinh tế thị trường phát triển lâu đời, như: Hoa Kỳ, Đức, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc, v.v. Đây là hậu quả của sự suy đồi đạo đức trong kinh doanh, của lòng tham vô độ và sự tiếp tay của một số cán bộ, doanh nghiệp bất chấp pháp luật để trục lợi. Việc đấu tranh chống hàng giả, hàng nhái là yêu cầu khách quan của bất kỳ quốc gia nào trong quá trình phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế.

Ở Việt Nam vấn nạn hàng giả, hàng nhái kém chất lượng hiện nay vẫn có nhiều “cơ hội” trà trộn nghiễm nhiên có mặt ở khắp nơi từ vùng quê cho đến thành thị thậm chí là tại những trung tâm thương mại cao cấp tại các thành phố lớn, như: Thành phố Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh. Hầu hết các nhãn hiệu uy tín trong và ngoài nước đều bị làm giả một cách tinh vi từ màu sắc, kiểu dáng, mẫu mã vô cùng phong phú, muôn vàn các mức giá, thậm chí tem nhãn chống hàng giả vẫn bị làm giả, khiến người tiêu dùng khó mà phân biệt đâu là hàng thật đâu là giả. Trong khi đó, hàng giả không chỉ được mua bán trực tiếp mà còn được đưa lên gian hàng trực tuyến, mua bán online nên công tác kiểm tra, quản lý, xử phạt gặp nhiều khó khăn, nên mỗi ngày các sản phẩm giả mạo vẫn ngang nhiên xuất hiện và lộng hành hơn. Hàng nhái gây tổn thất về mặt tài chính cho người tiêu dùng, không chỉ dừng lại ở đó mà các sản phẩm thuốc chữa bệnh, thực phẩm chức năng,… bị làm giả thì hậu quả ảnh hưởng đến sức khỏe thật sự khôn lường. Còn doanh nghiệp có hàng bị làm nhái khiến doanh thu giảm sút, mất lòng tin đối với khách hàng, mất đi cạnh tranh trên thị trường, gây thất thoát ngân sách, nguồn thu của Nhà nước, v.v.  

Việc lợi dụng vấn đề này để quy chụp trách nhiệm, đánh đồng giữa thực trạng hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng đang tràn lan trên thị trường hiện nay, với chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức thực thi công vụ của Đảng, Nhà nước ta là một sự ngụy biện phản động, vừa phi logic, vừa phản khoa học; không có bất kỳ mối liên hệ nhân quả nào giữa hàng giả, hàng nhái với cán bộ, công chức.

Chiêu trò “lập lờ đánh lận con đen” giữa một vấn đề kinh tế - xã hội (hàng giả, hàng nhái) với chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, công chức thực thi công vụ của Đảng, Nhà nước là thủ đoạn nguy hiểm, cố tình dẫn dắt dư luận theo hướng sai lệch, nhằm kích động tâm lý bất mãn, chống đối trong xã hội. Dòi hỏi, mỗi người dân cần tỉnh táo, nhận diện rõ âm mưu của các thế lực thù địch, không để bị dẫn dắt bởi những luận điệu mị dân, trá hình.

Chống hàng giả, hàng nhái là một yêu cầu cấp thiết, nhưng chống lại những luận điệu lợi dụng hàng giả, hàng nhái để kích động, xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ, cũng cần được xác định là một nhiệm vụ rất quan trọng để giữ vững ổn định chính trị, đảm bảo cho đất nước phát triển bền vững./.

 

Jun 10, 2025

Lật tẩy luận điệu chống phá Đại hội XIV của Đảng

          Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng Cộng sản Việt Nam là một sự kiện chính trị trọng đại, dự kiến diễn ra vào tháng 1 năm 2026 tại Thủ đô Hà Nội. Lợi dụng sự kiện chính trị trọng đại này, trên trang “Saigonhonew”, Minh Hai đã đăng bài viết: “Ván bài lật ngửa”. Bài viết này có một số luận điệu xuyên tạc, chống phá Đại hội XIV của Đảng.

1. Minh Hải xuyên tạc rằng, trước đại hội XIV, Đảng Cộng sản Việt Nam “nội bộ rối ren, đấu đá quyền lực, tranh giành ảnh hưởng chính trị”. Đây là luận điệu xuyên tạc, vu khống có chủ đích, nhằm hạ thấp uy tín và gây hoài nghi trong dư luận về sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Như chúng ta đã biết, quá trình chuẩn bị Đại hội Đảng là một chuỗi hoạt động rộng lớn, dân chủ và minh bạch, bao gồm việc tổng kết thực tiễn, đề ra phương hướng, nhiệm vụ cho nhiệm kỳ tới và đặc biệt là công tác nhân sự. Đây là thời điểm để các cấp ủy Đảng đánh giá khách quan, toàn diện về đội ngũ cán bộ, lựa chọn những đồng chí đủ đức, đủ tài để gánh vác trọng trách của đất nước. Quá trình này được tiến hành hết sức chặt chẽ, từ cơ sở đến Trung ương, thông qua các bước hiệp thương, lấy ý kiến, bỏ phiếu kín theo đúng quy định của Điều lệ Đảng.

Thực tế cho thấy, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn duy trì sự đoàn kết, thống nhất cao độ từ Trung ương đến cơ sở. Nguyên tắc tập trung dân chủ được quán triệt và thực hiện nghiêm túc, đảm bảo mọi quyết sách đều là kết quả của quá trình thảo luận dân chủ, công khai và minh bạch. Đây là bản chất của một tổ chức chính trị chặt chẽ, có kỷ luật. Hơn nữa, trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, việc xử lý nghiêm minh các trường hợp vi phạm không phải là biểu hiện của “nội bộ rối ren” mà là minh chứng cho sự trong sạch, vững mạnh và quyết tâm tự đổi mới, tự chỉnh đốn của Đảng. Chính nhờ những nỗ lực này mà Đảng ngày càng củng cố được uy tín và vị thế của mình trong lòng nhân dân.

Âm mưu quy chụp cho Đảng Cộng sản Việt Nam cái mác “đấu đá quyền lực” của Minh Hải là phi thực tế, thiếu khách quan và mang tính suy diễn. Bởi lẽ, quá trình chuẩn bị cho đại hội là giai đoạn tập trung trí tuệ và sự đồng thuận cao độ. Các quy trình thảo luận, góp ý về đường lối, chính sách và công tác nhân sự được tiến hành một cách dân chủ và chặt chẽ, từ cơ sở đến cấp Trung ương. Việc lựa chọn cán bộ không phải là sự “đấu đá quyền lực” mà là quá trình đánh giá toàn diện năng lực, phẩm chất và uy tín để tìm ra những người đủ tầm, đủ tài gánh vác trọng trách của đất nước.

2. Minh Hải cho rằng, Đảng Cộng sản Việt Nam đang phân chia quyền lực thành hai nhánh “Chính phủ - Hành pháp - Quân đội và Đảng - chính trị nội bộ -Công an”. Luận điệu này cực kỳ nguy hiểm, không phản ánh đúng bản chất hệ thống chính trị Việt Nam. Cách phân chia này là ngụy biện, nhằm gây hoang mang dư luận và hạ thấp vai trò lãnh đạo của Đảng.

Trước hết, cần khẳng định Đảng Cộng sản Việt Nam là lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với Nhà nước và toàn xã hội. Đây là nguyên tắc hiến định và là thực tiễn khách quan trong hệ thống chính trị Việt Nam. Việc tách biệt “Đảng, chính trị nội bộ” ra khỏi “Chính phủ, hành pháp, quân đội” như hai thực thể đối trọng là một sự nhầm lẫn cơ bản về vai trò của Đảng. Trên thực tế, Chính phủ, các cơ quan hành pháp, Quân đội nhân dân và Công an nhân dân đều được đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp, toàn diện của Đảng. Các tổ chức Đảng được thành lập và hoạt động trong mọi cấp độ của bộ máy nhà nước và các lực lượng vũ trang, đảm bảo mọi hoạt động đều tuân thủ đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng. Đây là sự lãnh đạo thống nhất, không phải sự phân chia hay đối lập.

Hơn nữa, việc gán ghép này hoàn toàn bỏ qua nguyên tắc tập trung dân chủ và mối quan hệ hữu cơ giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị Việt Nam. Các quyết sách lớn của quốc gia đều bắt nguồn từ sự lãnh đạo của Đảng, được thảo luận và quyết định tại các cơ quan của Đảng, sau đó được Quốc hội thể chế hóa thành luật pháp và giao cho Chính phủ, các cơ quan hành pháp tổ chức thực hiện. Quân đội và Công an là công cụ bạo lực sắc bén của Nhà nước dưới sự lãnh đạo của Đảng, có nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc và giữ gìn an ninh trật tự. Mối quan hệ giữa các cơ quan này là mối quan hệ phối hợp chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện mục tiêu chung, chứ không phải là sự “phân chia quyền lực” thành các “nhánh” đối đầu.

Tóm lại, Bài viết của Minh Hải là sự xuyên tạc có chủ đích, là một cách nhìn sai lệch, không phản ánh đúng bản chất hệ thống chính trị Việt Nam. Đây không phải là những nhận định khách quan mà là các chiêu trò thâm độc, được tung ra nhằm phá hoại sự ổn định chính trị, làm nhiễu loạn thông tin, gây chia rẽ trong xã hội và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng trước thềm Đại hội XIV./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Jun 9, 2025

Tham gia góp ý sửa đổi Hiến pháp là hoàn toàn tự giác


Tre Việt - Ngày 09/6, trên trang facebook Chân Trời  Mới Media, Thiện Nhân có đăng bài “Sửa đổi Hiến pháp khi “góp ý” trở thành mệnh lệnh”, xuyên tạc kết quả tổ chức lấy ý kiến nhân dân về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, rằng: “Quá trình này không mang tính tự nguyện, mà là mệnh lệnh từ trên xuống dưới, buộc người dân và cán bộ phải nhấn nút “đồng ý”… Việc áp đặt ý chí tập thể một cách cưỡng bức không chỉ làm mất đi giá trị của sự tham vấn, mà còn khoét sâu vào khoảng cách giữa nhà nước và người dân”.

Nhân dân tích cực đóng góp ý kiến 
sửa đổi Hiến pháp qua ứng dụng VNelD
            Cần khẳng định rằng, sau hơn mười năm thực thi, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định vai trò là nền tảng pháp lý của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước vào một giai đoạn phát triển mới với yêu cầu ngày càng cao về cải cách thể chế, đổi mới mô hình tăng trưởng và tinh gọn bộ máy, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp trở nên cấp thiết. Đây là bước đi cần thiết nhằm tháo gỡ những rào cản hiện hữu, tạo hành lang pháp lý cho những bứt phá mạnh mẽ trong kỷ nguyên mới. Chính vì vậy, việc sửa đổi, bổ sung Hiến pháp lần này không chỉ là sự điều chỉnh kỹ thuật pháp lý đơn thuần, mà mang tính chiến lược, nhằm hiện thực hóa chủ trương lớn về sắp xếp, tinh gọn bộ máy, nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hệ thống chính trị trong giai đoạn mới. Trọng tâm sửa đổi tập trung vào các quy định liên quan đến Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị - xã hội và cơ chế tổ chức chính quyền địa phương. Đây là những cấu phần then chốt trong cấu trúc quyền lực và vận hành của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa.

Trên tinh thần lắng nghe, tôn trọng ý kiến của nhân dân, Đảng và Nhà nước ta đã tổ chức một đợt lấy ý kiến rộng rãi về chủ trương sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013. Theo đó, bám sát Kế hoạch số 05/KH-UBDTSĐBSHP, ngày 05/5/2025 của Ủy ban dự thảo sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013, chỉ đạo của Chính phủ, việc tổ chức lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết đã được các bộ, ngành, địa phương triển khai nghiêm túc, công khai, dân chủ, khoa học, đúng tiến độ. Quá trình tổ chức lấy ý kiến tuân thủ nghiêm túc sự chỉ đạo của cấp có thẩm quyền, bảo đảm sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, đề cao trách nhiệm người đứng đầu và sự phối hợp giữa các cơ quan, tổ chức; các hình thức lấy ý kiến được sử dụng rất phong phú, đa dạng. Qua thống kê, tổng số hội nghị triển khai, quán triệt và các hội nghị, hội thảo, tọa đàm lấy ý kiến về Dự thảo Nghị quyết đã được tổ chức là hơn 288.000 cuộc. Đặc biệt, tính hết ngày 29/5/2025, theo thống kê của Bộ Công an, đã có hơn 20 triệu người dân tham gia góp ý trên ứng dụng VNeID. Việc lấy ý kiến nhân dân trên ứng dụng VNeID đã tạo thuận lợi cho người dân tham gia đóng góp ý kiến một cách trực tiếp, nhanh chóng, hiệu quả, vừa bảo đảm công khai, minh bạch, vừa bảo đảm thuận tiện cho người dân có thể góp ý, tham gia xây dựng chính sách bất cứ thời gian, địa điểm nào.

Dù được tổ chức trong thời gian ngắn, với yêu cầu gấp rút, nhưng đợt lấy ý kiến này đã thu được kết quả hết sức đáng mừng. Theo báo cáo tổng hợp kết quả, chỉ trong vòng 01 tháng (từ ngày 06/5 đến ngày 05/6/2025), đã có hơn 280 triệu lượt ý kiến đóng góp của các cơ quan, tổ chức, cá nhân trên toàn quốc gửi cho Dự thảo Nghị quyết sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp năm 2013; trong đó, tỷ lệ tán thành các nội dung sửa đổi, bổ sung đạt 99,75%. Điều đó, đã phản ánh sự đồng thuận, thống nhất rất cao trong toàn xã hội đối với chủ trương, đường lối mà Đảng, Nhà nước ta đề ra. Đây là biểu hiện sinh động của mối quan hệ mật thiết giữa Đảng và nhân dân, khi “ý Đảng, lòng dân” hòa quyện. Khi chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước phản ánh đúng ý chí, nguyện vọng của nhân dân, thì việc triển khai trên thực tế sẽ nhận được sự ủng hộ rộng rãi, sự đóng góp trí tuệ và tâm huyết của người dân.

Qua đợt sinh hoạt chính trị quan trọng, rộng lớn này, tinh thần dân chủ, ý thức về quyền và trách nhiệm của nhân dân đã được thể hiện rõ nét hơn bao giờ hết. Từ các cơ quan Trung ương đến từng địa phương, từ các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp đến cộng đồng dân cư, các tầng lớp nhân dân - tất cả đều thể hiện sự quan tâm sâu sắc và chủ động đóng góp tiếng nói vào một văn kiện nền tảng cho đời sống chính trị - pháp lý của quốc gia. Đây hoàn toàn không phải là “mệnh lệnh”, lại càng không có sự “khoét sâu vào khoảng cách giữa nhà nước và người dân” như Thiện Nhân và Chân Trời Mới Media rêu rao. Luận điệu xuyên tạc lố bịch này cần bị lên án và đấu tranh bác bỏ./.

Jun 5, 2025

Sự võ đoán thiển cận của Quốc Việt

           Mới đây, trên trang “Vietnamthoibao”, Quốc Việt đã đăng bài viết “Việt Nam gia nhập WTO năm 2007: Phân tích các điểm lợi và hại”, xuyên tạc đường lối phát triển kinh tế đối ngoại và những thành tựu kinh tế Việt Nam đạt được từ khi gia nhập WTO. Quốc Việt cho rằng: “…Nhà nước biến việc tham gia WTO để biến Việt Nam thành một quốc gia làm thuê, biến (rất nhiều) người Việt Nam thành người làm thuê cho nước ngoài với mức lương rẻ mạt, không đủ sống và điều kiện làm việc tồi tệ”.

1. Cần khẳng định, Việt Nam gia nhập WTO là quyết định đúng đắn và những thành tựu về kinh tế của Việt Nam đạt được kể từ khi gia nhập WTO là không thể phủ nhận. Việt Nam ra nhập WTO là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và nhà nước ta, nhằm tạo ra khả năng hội nhập kinh tế quốc tế, tạo động lực và là động năng mạnh mẽ để giúp Việt Nam phát triển kinh tế, nâng cao quyền lực mềm, ngày càng trở thành một quốc gia cạnh tranh và hiện đại, đồng thời mang lại cho người dân cuộc sống tốt đẹp hơn. Quyết định gia nhập WTO không chỉ mở ra một kỷ nguyên mới trong quan hệ thương mại quốc tế của Việt Nam mà còn mang lại những cơ hội lớn cho các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam đã có nền tảng để cải cách sâu rộng hơn về chính sách kinh tế, mở rộng thị trường xuất khẩu và nâng cao năng lực cạnh tranh. Đồng thời, quá trình này cũng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam nâng cao chất lượng sản phẩm và chuẩn bị tốt hơn để đáp ứng những tiêu chuẩn cao của thị trường quốc tế.

Sau khi gia nhập WTO, Việt Nam đã trải qua một hành trình đầy biến động nhưng cũng đạt được những thành tựu đáng tự hào. Những nỗ lực trong việc mở cửa nền kinh tế, cải cách thể chế và tăng cường hợp tác quốc tế đã mang lại cho Việt Nam không chỉ sự tăng trưởng vượt bậc về thương mại, mà còn giúp thu hút nguồn đầu tư nước ngoài lớn, góp phần làm thay đổi diện mạo nền kinh tế Việt Nam, giúp Việt Nam có vị thế vững chắc trong khu vực và trên thế giới. Đến hết năm 2024, GDP của Việt Nam đạt 476 tỉ USD, lọt top 32, nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Việc Việt Nam gia nhập WTO đã thúc đẩy sự tăng trưởng thương mại, mở rộng hợp tác kinh tế và đa dạng hóa thị trường xuất khẩu. Tính đến tháng 10/2024, Việt Nam đã ký kết, thực thi 17 FTA và đang đàm phán 2 FTA khác. Trong đó, các FTA thế hệ mới, bao gồm Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – EU (EVFTA), Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)… Qua đó, giúp Việt Nam tiếp cận sâu rộng vào các thị trường lớn, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2023, kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam và EU đạt 72,3 tỷ USD. Việt Nam hiện là đối tác thương mại lớn nhất của EU trong ASEAN. Bên cạnh đó, thương mại với Mỹ, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc cũng ghi nhận nhiều tiến bộ, đưa Việt Nam trở thành đối tác thương mại quan trọng tại khu vực châu Á -      Thái Bình Dương. Nhờ mở rộng thị trường, các doanh nghiệp Việt Nam đã có điều kiện cải thiện sản phẩm, nâng cao chất lượng và đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế ngày càng khắt khe.

2. Việc đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài là một chủ trương hoàn toàn đúng đắn của Đảng và Nhà nước, mang lại nhiều lợi ích cho cá nhân và đất nước. Đưa người lao động Việt Nam đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm và xem là một chiến lược quan trọng, lâu dài, góp phần xây dựng đội ngũ lao động cho công cuộc xây dựng đất nước trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa; là một phần của hợp tác quốc tế, góp phần củng cố quan hệ hữu nghị, hợp tác lâu dài với các nước. Việt Nam hiện có hơn 500 doanh nghiệp dịch vụ được cấp phép đưa người lao động đến hơn 40 quốc gia và vùng lãnh thổ làm việc, trong đó từ năm 2010 đến nay đã đưa trên 1,4 triệu lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn. Bình quân mỗi năm, các cơ quan, doanh nghiệp đưa khoảng 120.000 đến 143.000 lao động ra nước ngoài làm việc. Lượng kiều hối từ lực lượng lao động này gửi về đạt khoảng 3,54 tỉ USD, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội đất nước.

Cùng với đó, công tác thông tin, tuyên truyền chính sách, pháp luật về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài được chú trọng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, kịp thời xử lý các vấn đề phát sinh, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, doanh nghiệp.

Tóm lại, những luận điệu nêu ra trong bài viết của Quốc Việt đã bộc lộ dã tâm thâm độc, xuyên tạc sự thật về đường lối phát triển kinh tế đối ngoại và những thành tựu kinh tế Việt Nam đạt được từ khi gia nhập WTO của Đảng và Nhà nước, làm giảm lòng tin của Nhân dân với Đảng và chế độ. Do vậy, chúng ta cần hết sức cảnh giác, kiên quyết đấu tranh bác bỏ âm mưu, thủ đoạn trên./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jun 3, 2025

Vũ Đức Khanh không hiểu gì về giá trị hạnh phúc

          Mới đây, trên trang “Bureau CTM Media - Âu Châu”, Vũ Đức Khanh lại tiếp tục đăng bài: “Độc lập nhưng tự do, hạnh phúc ở đâu”, trong đó có giật tít: “Sau ngần ấy năm độc lập, dân tộc có thật sự được tự do và hạnh phúc?…”. Những thông tin sai lệch của Khanh trong bài viết đã thể hiện sự không hiểu biết của y về giá trị của hạnh phúc.

1. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định. “Nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc chính là mục tiêu, “đích đến” của Đảng, Nhà nước ta. Đại hội XIII của Đảng chỉ rõ: “Phải luôn quán triệt sâu sắc, thực hiện nghiêm túc quan điểm “lấy dân là gốc”; Nhân dân là trung tâm, là chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; mọi chủ trương, chính sách phải thực sự xuất phát từ nguyện vọng, quyền và lợi ích chính đáng của Nhân dân; lấy hạnh phúc, ấm no của Nhân dân làm mục tiêu phấn đấu, củng cố và tăng cường niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa”. Phấn đấu vì nhân dân, “lấy ấm no, hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu” không chỉ có ở Việt Nam mà còn là những giá trị bất biến mà nhân loại tiến bộ trên thế giới phấn đấu để đạt được.

2. Qua gần 40 năm tiến hành công cuộc đổi mới, phát triển đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, chúng ta đã thu được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử: Đất nước ta từ một trong những nước nghèo nhất trên thế giới trở thành nước đang phát triển, có thu nhập trung bình; đời sống của nhân dân ngày càng được cải thiện căn bản, toàn diện, vị thế, uy tín của đất nước ta trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Theo Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2025 do Trung tâm Nghiên cứu Hạnh phúc của Đại học Oxford (Anh) công bố ngày 20/3/2025, Việt Nam xếp thứ 46 trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng, tăng 8 bậc so với năm 2023. Việt Nam nằm trong số các nước có xếp hạng chỉ số hạnh phúc liên tục tăng nhanh trong 3 năm trở lại đây.

Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, luận điệu xuyên tạc, phản động của Vũ Đức Khanh về hạnh phúc ở Việt Nam là hoàn toàn sai trái, bịa đặt, không đúng sự thật. Chứng tỏ Vũ Đức Khanh là kẻ không hiểu gì về giá trị hạnh phúc, về đất nước Việt Nam đang từng ngày phát triển bền vững, hùng cường và thịnh vượng. Dù rằng xã hội Việt Nam hiện nay còn không ít vấn đề cần giải quyết như: phân hóa giàu nghèo; tình trạng tham nhũng, lãng phí, tiêu cực chưa được ngăn chặn triệt để; dịch vụ chăm sóc y tế vẫn ở mức cao; ô nhiễm môi trường còn xảy ra ở một số nơi, v.v. Nhưng với những kết quả đã đạt được trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam không chỉ góp phần xây dựng một xã hội tốt đẹp “vì hạnh phúc của Nhân dân” mà còn tạo ra một lực lượng xã hội hùng hậu có sức mạnh tương ứng, tự giác bảo vệ cho chế độ xã hội; bảo vệ Nhân dân khỏi những toan tính của những lực lượng phản động muốn phá hoại Nhà nước xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Đó cũng là cơ sở niềm tin để khơi dậy khát vọng của Nhân dân ta về một xã hội xã hội chủ nghĩa phồn vinh, hạnh phúc, một sự nghiệp sáng tạo vĩ đại, đầy thử thách khó khăn, một sự nghiệp tự giác, liên tục, hướng đích lâu dài vì mục tiêu tối thượng là vì hạnh phúc của Nhân dân./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

May 25, 2025

BPSOS lạm dụng danh nghĩa quốc tế để xuyên tạc thực tế Tây Nguyên

      Trong loạt bài “Tây Nguyên: Nước mắt và máu” đăng trên trang machsongmedia.org, Ủy ban cứu người vượt biển (BPSOS) viện dẫn các tổ chức quốc tế như Liên hợp quốc để gia tăng độ tin cậy cho những cáo buộc về tình hình Tây Nguyên. Tuy nhiên, cách tiếp cận này không phải là nỗ lực phản ánh sự thật mà là chiêu trò nhằm đánh bóng uy tín, đồng thời bóp méo thông tin để phục vụ mục đích tuyên truyền chống phá. Thực tế, việc sử dụng danh nghĩa quốc tế của BPSOS mang tính chọn lọc, cố tình bỏ qua các đánh giá tích cực, từ đó tạo ra một bức tranh sai lệch về chính sách và đời sống tại Tây Nguyên.

Xuyên suốt 9 bài viết, BPSOS liên tục trích dẫn các khái niệm và báo cáo quốc tế để củng cố luận điệu của mình. Chẳng hạn, trong bài “Phần 7: Quyền Bản Địa Bị Phủ Nhận”, tác giả sử dụng cụm từ “Montagnard Indigenous Peoples” - được một số tài liệu Liên hợp quốc đề cập - để cáo buộc Việt Nam không công nhận quyền bản địa của người Thượng, thậm chí đàn áp các phong trào đòi hỏi quyền này. Tương tự, bài “Phần 3: Tôn Giáo Dưới Áp Lực” viện dẫn các báo cáo quốc tế về tự do tôn giáo để khẳng định rằng chính quyền Việt Nam hạn chế nghiêm trọng hoạt động tín ngưỡng tại Tây Nguyên. Những trích dẫn này được trình bày như bằng chứng không thể chối cãi, nhưng thực chất chỉ là sản phẩm của việc chọn lọc thông tin một chiều. BPSOS không hề nhắc đến các đánh giá tích cực từ chính các tổ chức quốc tế mà họ viện dẫn, qua đó phơi bày ý đồ xuyên tạc và thủ đoạn lợi dụng danh nghĩa để đánh lừa dư luận.

Thực tế, các báo cáo từ Liên hợp quốc và các tổ chức quốc tế khác cho thấy một góc nhìn hoàn toàn khác về Tây Nguyên. Trong hơn một thập kỷ qua, khu vực này được ghi nhận với những bước tiến đáng kể về giảm nghèo và phát triển kinh tế – xã hội. Tỷ lệ hộ nghèo tại Tây Nguyên giảm từ 23,1% năm 2010 xuống còn 5,7% năm 2020, một thành tựu được đánh giá cao trong bối cảnh địa lý và điều kiện tự nhiên đầy thách thức. Tại tỉnh Đắk Nông, hơn 80% hộ dân tộc thiểu số đã tiếp cận được điện lưới và nước sạch nhờ các dự án đầu tư quốc gia, một nỗ lực được các báo cáo quốc tế ghi nhận như minh chứng cho sự quan tâm đến vùng sâu, vùng xa. Những dữ liệu này không phải là bí mật mà được công bố rộng rãi, nhưng BPSOS cố tình né tránh để duy trì hình ảnh Tây Nguyên như một khu vực bị bỏ rơi và áp bức.

Hơn nữa, BPSOS còn bóp méo khái niệm quốc tế để áp đặt lên bối cảnh Việt Nam mà không xem xét sự khác biệt về pháp lý và lịch sử. Việc sử dụng thuật ngữ “quyền bản địa” trong bài viết là một ví dụ điển hình. Tại Việt Nam, 54 dân tộc được công nhận bình đẳng theo Hiến pháp, không phân biệt “bản địa” hay “không bản địa” như cách hiểu của một số nước phương Tây. Chính sách này nhằm tránh phân biệt đối xử và xây dựng khối đoàn kết chung, khác với mô hình mà BPSOS cố gắng áp đặt. Thực tế, hơn 1.000 tỉ đồng đã được đầu tư vào các chương trình phát triển vùng dân tộc thiểu số tại Tây Nguyên trong giai đoạn 2016-2020, bao gồm hỗ trợ đất sản xuất và nhà ở cho người M’Nông tại Đắk Nông. Những nỗ lực này được quốc tế đánh giá là bước đi tích cực, nhưng không một dòng nào xuất hiện trong loạt bài của BPSOS.

Một chiêu trò khác là việc BPSOS trích dẫn báo cáo quốc tế về tự do tôn giáo để vu cáo chính quyền đàn áp tín ngưỡng. Thực tế, hơn 1.200 tổ chức tôn giáo đang hoạt động hợp pháp tại Tây Nguyên, với hàng trăm nghìn tín đồ, chủ yếu là người dân tộc thiểu số. Tại tỉnh Kon Tum, hơn 300 nhà thờ Tin Lành được xây dựng và cấp phép trong 10 năm qua, phục vụ cộng đồng người Ba Na và Xơ Đăng. Những con số này cho thấy quyền tự do tín ngưỡng được bảo đảm, trái ngược với cáo buộc “hạn chế nghiêm trọng” của BPSOS. Nếu tham khảo các báo cáo quốc tế đầy đủ, có thể thấy Việt Nam được ghi nhận đã cải thiện đáng kể môi trường tôn giáo, nhưng BPSOS chỉ chọn những đoạn tiêu cực để đánh lạc hướng.

Thêm vào đó, BPSOS còn cố tình bỏ qua các đánh giá tích cực về văn hóa và giáo dục tại Tây Nguyên. Lễ hội Cồng Chiêng, một di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại, được tổ chức thường xuyên với sự hỗ trợ lớn từ chính quyền, thu hút hàng nghìn người Thượng tham gia mỗi năm. Tại huyện Ea Kar, tỉnh Đắk Lắk, hơn 20 lớp học song ngữ Êđê - Việt đã được mở để bảo tồn ngôn ngữ dân tộc, với giáo viên là người bản địa. Những thành tựu này không chỉ được người dân địa phương ghi nhận mà còn nhận được sự đánh giá cao từ các tổ chức quốc tế. Tuy nhiên, BPSOS không hề đề cập, mà chỉ tập trung vào những câu chuyện bịa đặt như “đàn áp văn hóa” để tạo ấn tượng sai lệch.

Cách BPSOS lợi dụng danh nghĩa quốc tế còn thể hiện qua việc phóng đại các vấn đề nhỏ lẻ thành khủng hoảng lớn. Trong bài “Phần 8: Cái Chết Bí Ẩn”, tác giả kể về một trường hợp tự tử và ngụ ý rằng chính quyền gây áp lực, nhưng không có tài liệu quốc tế nào xác nhận sự việc này liên quan đến chính sách đàn áp. Thực tế, các báo cáo quốc tế gần đây ghi nhận Tây Nguyên đã giảm đáng kể tỷ lệ tử thi liên quan đến nghèo đói hay xung đột, nhờ cải thiện y tế và kinh tế. Tại huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, hơn 10 trạm y tế mới được xây dựng trong 5 năm qua, phục vụ miễn phí cho người Thượng. Những dữ liệu này bị BPSOS cố tình làm ngơ để phục vụ luận điệu tuyên truyền.

Hành vi lạm dụng danh nghĩa quốc tế của BPSOS không chỉ là thủ đoạn xuyên tạc mà còn làm suy giảm giá trị của các báo cáo khách quan. Thay vì phản ánh toàn diện, họ chọn lọc thông tin tiêu cực, bỏ qua những tiến bộ được chính các tổ chức như Liên hợp quốc ghi nhận. Sự thật về Tây Nguyên là vùng đất đang phát triển với những chính sách thiết thực, mang lại lợi ích cho người dân bất kể dân tộc. Những con số về giảm nghèo, tôn giáo, và văn hóa là minh chứng rõ ràng, không thể bị bóp méo bởi các chiêu trò bịa đặt. BPSOS có thể tiếp tục viện dẫn quốc tế, nhưng sự thật vẫn là điều họ không thể phủ nhận./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

May 23, 2025

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo của chủ nghĩa Mác - Lênin

            Nhân dịp kỷ niệm 135 năm Ngày sinh Chủ tịch Hồ Chí Minh, lãnh tụ thiên tài của cách mạng Việt Nam, các thế lực thù địch lại tăng cường các hoạt động chống phá. Bài viết “Tư tưởng Hồ Chí Minh mâu thuẫn, đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin” của Kiều Phong đăng trên trang “Viettan” là điển hình của sự chống phá này. Thông qua bài viết y đã phủ nhận nền tảng tư tưởng, cương lĩnh chính trị của Đảng ta, chia rẽ khối đoàn kết toàn dân, với mưu đồ làm “chệch hướng” con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh ra đời trong lòng chủ nghĩa Mác – Lênin

Tư tưởng Hồ Chí Minh không phải là sự thay thế hay đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin mà là sự kết tinh giữa chủ nghĩa Mác – Lênin với tinh thần yêu nước Việt Nam và truyền thống văn hóa dân tộc. Ngay từ những năm đầu của thế kỷ XX, Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã khảo nghiệm nhiều học thuyết cứu nước. Nhưng chỉ khi đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, Người mới tìm thấy con đường đúng đắn cho dân tộc mình: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác ngoài con đường cách mạng vô sản”. Không chỉ tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin như một lý thuyết cách mạng, Hồ Chí Minh còn trở thành một trong những nhà cách mạng thực hành chủ nghĩa ấy một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Người từng nhấn mạnh: “Chủ nghĩa Mác – Lênin là chủ nghĩa chân chính nhất, cách mạng nhất và khoa học nhất”. Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Người luôn kiên định lấy chủ nghĩa Mác – Lênin làm nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho hành động của Đảng và cách mạng Việt Nam.

Tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin trong điều kiện Việt Nam

Các thế lực thù địch cố tình đánh tráo khái niệm “phát triển sáng tạo” với “mâu thuẫn, đối lập”. Tuy nhiên, lịch sử và thực tiễn cách mạng Việt Nam đã chứng minh tư tưởng Hồ Chí Minh là sự phát triển, cụ thể hóa, vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, không hề đối lập với nó. Trong điều kiện một nước thuộc địa, nửa phong kiến như Việt Nam, Hồ Chí Minh đã khéo léo gắn mục tiêu cách mạng xã hội chủ nghĩa với nhiệm vụ giải phóng dân tộc, đưa chủ nghĩa Mác – Lênin vào phong trào yêu nước. Việc Người nhấn mạnh đến yếu tố “dân tộc” không phải là mâu thuẫn với quốc tế vô sản mà là sự vận dụng linh hoạt nguyên lý: “Không có cách mạng xã hội chủ nghĩa thì không có giải phóng dân tộc triệt để, và ngược lại”. Sự sáng tạo của Hồ Chí Minh còn thể hiện trong cách xây dựng Đảng kiểu mới, trong nghệ thuật quân sự nhân dân, trong đường lối đại đoàn kết toàn dân tộc, và trong ngoại giao “dĩ bất biến, ứng vạn biến”, v.v. Tất cả đều xuất phát từ nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin nhưng được vận dụng phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam.

Luận điệu xuyên tạc “tư tưởng Hồ Chí Minh mâu thuẫn, đối lập với chủ nghĩa Mác – Lênin” là một âm mưu chính trị nguy hiểm

Việc cho rằng tư tưởng Hồ Chí Minh mâu thuẫn với chủ nghĩa Mác – Lênin là một trong những thủ đoạn nham hiểm của các thế lực thù địch nhằm phá hoại nền tảng tư tưởng, làm “suy yếu từ bên trong” công cuộc xây dựng Đảng, Nhà nước và hệ thống chính trị Việt Nam. Chúng lợi dụng những diễn biến mới trong tình hình thế giới, những khó khăn trong nước để thúc đẩy “diễn biến hòa bình”, cổ súy cho các quan điểm “xét lại”, “phi chính trị hóa” quân đội “từ bỏ chủ nghĩa Mác – Lênin”, v.v. Bằng cách cố tình đối lập tư tưởng Hồ Chí Minh với chủ nghĩa Mác – Lênin, các thế lực thù địch muốn tạo ra sự hoài nghi trong xã hội, đặc biệt là trong thế hệ trẻ. Từ đó phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, phủ nhận nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh.

Trước những thủ đoạn xuyên tạc, chúng ta cần tiếp tục khẳng định rằng: chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh là nền tảng tư tưởng, kim chỉ nam cho mọi hành động cách mạng của Đảng ta. Đây không chỉ là vấn đề lý luận, mà còn là sự tổng kết từ thực tiễn lịch sử cách mạng Việt Nam hơn 90 năm qua. Tư tưởng Hồ Chí Minh không hề mâu thuẫn với chủ nghĩa Mác – Lênin. Ngược lại, đó là sự phát triển sáng tạo, vận dụng đúng đắn học thuyết cách mạng của chủ nghĩa Mác – Lênin vào thực tiễn Việt Nam.

Những luận điệu xuyên tạc của Kiều Phong là hành vi chống phá nguy hiểm cần lên án, đấu tranh và kiên quyết loại bỏ. Mỗi cán bộ, đảng viên, mỗi người dân Việt Nam, đặc biệt là thế hệ trẻ, cần nêu cao cảnh giác, giữ vững niềm tin, phát huy giá trị bền vững của tư tưởng Hồ Chí Minh và chủ nghĩa Mác – Lênin trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hôm nay và mai sau./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

May 21, 2025

Chiêu trò “đánh lận con đen” của Dân Trần

           Ngay sau khi một số tỉnh, thành trong cả nước công bố quyết định thực hiện chỉ trả cho những trường hợp được nghỉ hưu trước tuổi, nghỉ thôi việc theo các Nghị định số 177/2024/ND-CP, 178/2024/NĐ-CP và 67/2025/NĐ-CP, một số kẻ bất mãn với chế độ đã tung ra những luận điệu xuyên tạc, đã kích đường lối của Đảng, Nhà nước ta, điển hình là bài viết “Đền bù cán bộ về hưu sớm tới 2,8 tỉ đồng, tỉnh tiền theo công thức nào?” của Dân Trần trên “Vietnamthoibao”.

Để đã kích, tô vẽ, xuyên tạc về sự bình đẳng của chế độ, Dân Trần cho rằng “Về hưu mà nhận mức lương ngang với người còn làm việc là bất công, nhân gấp 2 - 3 lần thì quá phi lý”. Đây rõ ràng là sự bịa đặt trơ trảo, đánh đồng giữa khái niệm “trợ cấp” “lương”, giữa một bên là việc cung cấp, hỗ trợ cho nhóm người chịu tác động từ việc nghỉ hưu sớm với một bên là việc chỉ trả cho người lao động để thực hiện công việc nào đó. Điều đó có nghĩa là, mức hỗ trợ có thể cao hơn hoặc thấp hơn so với mức lương mà người lao động đó được hưởng trước khi nghỉ việc. Nhìn rộng ra, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có những quy định về mức hỗ trợ cho người mất việc, tùy vào điều kiện cụ thể của mỗi quốc gia, mức hỗ trợ này là rất khác nhau. Như ở nước Mỹ, mức hộ trợ mất việc do từng bang quy định, tối đa là 26 tuần với số tiền hỗ trợ từ 235 - 823 USD/tuần. Mới đây, ngày 12/2/2025, người phát ngôn Văn phòng quản lý nhân sự của Chính phủ Mỹ (OPM) cho biết đã có 75.000 nhân viên liên bang đăng ký tham gia chương trình mua lại hợp đồng nhân sự liên bang, họ sẽ nghi việc và nhận hỗ trợ tương đương mức lương 8 tháng. Như vậy, điều chắc chắn rằng, không một ai, không một quốc gia nào gọi số tiền “hỗ trợ” này là “tiền lương” như kiểu nhập nhằng “đánh lận con đen” của Dân Trần.

Cần thấy rằng, việc ban hành các Nghị định số 177/2024/NĐ-CP, 178/2024/NĐ-CP và 67/2025/NĐ-CP không chỉ nhằm đảm bảo quyền lợi, ổn định đời sống cho cán bộ, công chức, viên chức nghỉ việc do sắp xếp tổ chức bộ máy, mà còn thể hiện sự quan tâm của Đảng và Nhà nước đối với đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, động viên cán bộ yên tâm công tác và tạo điều kiện cho đội ngũ cán bộ trẻ, năng động có cơ hội cống hiến, góp phần thực hiện mục tiêu sắp xếp tổ chức bộ máy tỉnh gọn, cơ cấu lại và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Vì vậy, không thể lập luận như Dân Trần rằng “không làm việc gì cả”“mỗi tháng được nhận 50 triệu tiền lương”.

Liên quan đến vấn đề mức hỗ trợ cho những đối tượng nghỉ hưu sớm, Dân Trần quy chụp “có vấn đề về tham nhũng ngân sách” và cho rằng các Nghị định của Chính phủ “mỗi nơi áp dụng một kiểu”. Chưa hết, để đánh lừa những người kém hiểu biết và cũng cố cho những luận điệu xuyên tạc, vu khống của mình, Y viện dẫn lý do “thành phố Hồ Chí Minh công bố mức đền bù nghỉ hưu sớm lên tới 2,7 tỉ đồng… Vấp phải chỉ trích của dư luận, thành phố này đã cắt bớt 1,1 tỉ”. Trên thực tế thì sao? Theo nội dung tờ trình của Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh gửi Hội đồng nhân dân thành phố quy định chế độ hỗ trợ thêm cho cán bộ, công chức, viên chức, người lao động khi sắp xếp tổ chức bộ máy, để đảm bảo nguồn kinh phí khi triển khai hỗ trợ, thành phố tính dựa trên trường hợp nhận mức tối đa là một chuyên viên, bậc lương 9, hệ số 4,98 và hai loại phụ cấp tổng 30%, đã đóng bảo hiểm xã hội 30 năm và còn 5 năm đến tuổi hưu. Theo Nghị định 178, người này nhận hơn 1,575 tỉ đồng và theo chính sách hỗ trợ thêm của thành phố là trên 1,1 tỉ đồng. Tổng dự kiến mức hỗ trợ là gần 2,7 tỉ đồng. Như vậy, con số “1,1 tỉ đồng” đó là số tiền dự kiến hỗ trợ thêm của riêng thành phố Hồ Chí Minh, là số tiền hỗ trợ dựa trên khả năng của từng địa phương, chứ đâu phải là sự tùy tiện áp dụng Nghị định của Chính phủ như Dân Trần đang cố tình xuyên tạc.

Tóm lại, việc Đảng, Nhà nước ta ban hành các quy định, cơ chế, chính sách với người nghỉ hưu trước tuổi là bước đi rất kịp thời và ý nghĩa, thể hiện các giá trị nhân văn, tính ưu việt của chính sách, phù hợp với nguồn lực, bối cảnh hiện tại của đất nước, góp phần thúc đẩy kiện toàn bộ máy hành chính, thực hiện chủ trương sắp xếp bộ máy tổ chức không để làm ảnh hưởng đến hoạt động và thực hiện các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội. Những gì mà Dân Trần và đồng bọn đưa ra chỉ là chiêu trò với mục đích xấu xa, chỉ là sự “hậm hực” của những kẻ ganh ghét, đố kị trước sự phát triển đi lên của đất nước./.

(nhanvanviet.com)

 

May 20, 2025

Bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Chân Trời Mới Media về rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV

         Tre Việt - Ngày 20/5, trang facebook Chân Trời Mới Media đăng status “Liệu nước cờ rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV có giúp cho ông Tô Lâm củng cố quyền lực hay chỉ là một bước đi vội vã trong thế yếu? Điều đó còn phụ thuộc vào phản ứng từ các thế lực khác đang âm thầm định hình lại cục diện mới của chính trường”. Cần khẳng định ngay rằng, đây là luận điệu chống phá, cố tình bóp méo sự thật, xuyên tạc, nhằm gây tư tưởng hoài nghi, mất niềm tin của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trước những quyết sách quan trọng của Đảng, Nhà nước và Quốc hội. Đồng thời, hạ thấp uy tín của Tổng Bí thư Tô Lâm, kích động, phá hoại truyền thống, sức mạnh đoàn kết, thống nhất trong Đảng.

Như thông tin được biết, sáng 12/5, tại kỳ họp thứ chín, Quốc hội khóa XV, Phó Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Thị Thanh đã trình Quốc hội về việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021-2026. Theo đó, Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được bầu cử vào ngày chủ nhật 23/5/2021, đến ngày 20/7/2026 Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 sẽ kết thúc nhiệm kỳ và chậm nhất là ngày 24/5/2026 Quốc hội khóa XVI, hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 phải được bầu xong.

Tuy nhiên, căn cứ chủ trương của Đảng, yêu cầu thực tiễn cho thấy cần rút ngắn khoảng thời gian giữa Đại hội Đảng toàn quốc và kỳ họp thứ nhất của Quốc hội, hội đồng nhân dân khóa mới. Việc này để kịp thời kiện toàn nhân sự cấp cao, thực hiện việc phân công cấp ủy viên khóa mới đảm bảo tính đồng bộ, tổng thể, ổn định liên tục, liên thông đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể chính trị - xã hội. Đồng thời giúp cấp ủy các cấp nhiệm kỳ mới kịp thời triển khai nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XIV và Đại hội Đảng các cấp.

Trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, pháp luật, để thực hiện nghị quyết 60 của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 11, sau khi cân nhắc thận trọng, kỹ lưỡng, toàn diện, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nhận thấy: Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 dự kiến sẽ được tổ chức vào Chủ nhật, ngày 15/3/2026 là phù hợp với các yêu cầu thực tiễn. Do vậy, việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 là cần thiết. Để rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội, hội đồng nhân dân với mục tiêu nêu trên nhưng vẫn có đủ thời gian thực hiện các thủ tục, quy trình trong công tác bầu cử, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị nhiệm kỳ Quốc hội khóa XV và hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2021 - 2026 được rút ngắn 3 tháng, kết thúc vào đầu tháng 4/2026 (thay vì tháng 7/2026). Và nội dung này vẫn đang được Quốc hội thảo luận.

Như vậy, việc rút ngắn nhiệm kỳ Quốc hội là một quyết định quan trọng, được thực hiện theo quy trình pháp lý chặt chẽ, dựa trên Hiến pháp và các luật liên quan. Việc rút ngắn này dựa trên cơ sở quy định pháp lý và yêu cầu thực tiễn, nhằm để kịp thời kiện toàn nhân sự cấp cao, thực hiện việc phân công cấp ủy viên khóa mới bảo đảm tính đồng bộ, tổng thể, ổn định liên tục, liên thông đội ngũ cán bộ chủ chốt trong các cơ quan Đảng, Nhà nước, Chính phủ, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể; đồng thời, đảm bảo để cấp ủy các cấp nhiệm kỳ mới kịp thời triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIV và Đại hội Đảng các cấp. Điều đó hoàn toàn trái ngược với luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật mà Chân Trời Mới Media và các thế lực thù địch, phản động cố tình rêu rao./.