Jul 7, 2025

Kịnh bản vụng về, xảo trá của Trần Bình Thản

           Trên trang “Luatkhoa”, Trần Bình Thản đã đăng tải bài viết: “Tại sao đốt lò ở Việt Nam thất bại?”, với nhiều luận điệu sai trái, thâm độc. Để bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, củng cố niềm tin trong xã hội, cần nhận diện và đấu tranh bác bỏ luận điệu xuyên tạc của Trần Bình Thản.

Một là, luận điệu cho rằng “chống tham nhũng ở Việt Nam mang đậm màu sắc đấu đá nội bộ” nhằm chia rẽ nội bộ, làm giảm uy tín của Đảng, gây mất ổn định chính trị - xã hội. Thực tiễn cho thấy, công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam được triển khai bài bản, chặt chẽ, thận trọng, đúng nguyên tắc, quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước với tinh thần “không có vùng cấm, không có ngoại lệ, bất kể người đó là ai”. Từ Đại hội XII đến nay, hàng loạt vụ án lớn đã được đưa ra xét xử công khai, minh bạch. Chỉ tính riêng nhiệm kỳ Đại hội XIII (từ 2021 đến cuối năm 2024), đã có hơn 168.000 đảng viên bị kỷ luật, trong đó hơn 7.390 trường hợp do tham nhũng, tiêu cực; hơn 170 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý, gồm cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư tỉnh ủy, Bộ trưởng, Thứ trưởng, tướng lĩnh quân đội, công an. Điều đó cho thấy sự kiên quyết làm trong sạch bộ máy, củng cố niềm tin của Nhân dân, chứ hoàn toàn không phải “đấu đá phe phái” như Trần Bình Thản xuyên tạc.

Hai là, luận điệu cho rằng “Việt Nam ban hành nhiều nghị quyết, quy định, văn bản luật nhưng không cải thiện tình hình và chống tham nhũng còn “rất yếu” là phủ nhận trắng trợn những nỗ lực của Đảng và Nhà nước Việt Nam trong xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật về phòng, chống tham nhũng. Luật Phòng, chống tham nhũng sửa đổi năm 2018 đã mở rộng phạm vi điều chỉnh, tăng cường minh bạch, kiểm soát tài sản, thu nhập, phòng ngừa xung đột lợi ích và tăng vai trò giám sát xã hội. Đặc biệt, Việt Nam đã tham gia Công ước Liên hợp quốc về chống tham nhũng (UNCAC), tích cực hợp tác quốc tế trong điều tra, xử lý nhiều vụ án lớn có yếu tố nước ngoài. Đơn cử như các vụ án xảy ra tại Tập đoàn Vạn Thịnh Phát, Ngân hàng SCB, Tân Hoàng Minh, FLC,… năm 2023. Đây là những minh chứng sinh động bác bỏ luận điệu cho rằng hệ thống pháp luật chỉ nằm trên giấy, không cải thiện được tình hình tham nhũng.

Ba là, luận điệu cho rằng “Việt Nam không có cơ chế bảo vệ người tố cáo và thiếu kiểm soát độc lập” là cố tình xuyên tạc thực tiễn phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam. Thực tế, Luật Phòng, chống tham nhũng 2018, Luật Tố cáo 2018 và các văn bản liên quan đã quy định rất rõ về cơ chế bảo vệ người tố cáo. Nhiều vụ án tham nhũng lớn được phát hiện từ tố giác của quần chúng, báo chí, mạng xã hội. Các cơ quan kiểm tra, thanh tra, điều tra, kiểm toán, xét xử ở nước ta hoạt động theo chức năng độc lập, phối hợp chặt chẽ nhưng không chồng chéo. Năm 2024, các cơ quan tố tụng cả nước đã khởi tố mới 4.732 vụ án với 10.430 bị can về các tội tham nhũng, kinh tế, chức vụ. Các cơ quan thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị xử lý tài chính trên 104.000 tỷ đồng, thu hồi gần 19.000 tỷ đồng tài sản tham nhũng. Những con số đó đã tự nó bác bỏ hoàn toàn sự xuyên tạc “thiếu cơ chế kiểm soát độc lập” hay “thiếu nguồn lực chống tham nhũng”.

Bốn là, luận điệu cho rằng “hệ thống bổ nhiệm cán bộ chủ yếu dựa trên mua chức mua quyền nên không có động lực chống tham nhũng thực chất” là sự quy chụp ác ý, bịa đặt nhằm hạ thấp uy tín của Đảng. Công tác cán bộ ở Việt Nam được thực hiện rất chặt chẽ, đúng quy trình, tiêu chuẩn, nguyên tắc, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch. Trong những năm gần đây, hàng loạt trường hợp bổ nhiệm sai quy định, vi phạm pháp luật đã bị phát hiện, xử lý nghiêm minh, kể cả cán bộ cấp cao thuộc diện Trung ương quản lý. Riêng nhiệm kỳ Đại hội XIII, đã có 141 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, trong đó có 31 Ủy viên, nguyên Ủy viên Trung ương; 24 sĩ quan cấp tướng bị xử lý. Nhiều cán bộ tự giác xin từ chức là minh chứng thể hiện sự chuyển biến tích cực trong công tác cán bộ của Đảng.

Tóm lại, công cuộc phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam là cuộc chiến lâu dài, phức tạp, nhưng với sự vào cuộc quyết liệt của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị, kết quả đạt được là rất rõ rệt. Những luận điệu xuyên tạc, phủ nhận thành tựu đó chỉ càng cho thấy thủ đoạn thâm độc của Trần Bình Thản nhằm phá hoại uy tín, sự ổn định và phát triển bền vững của đất nước.

Do đó, mỗi cán bộ, đảng viên và nhân dân phải kiên quyết, chủ động đấu tranh phản bác mọi luận điệu xuyên tạc, sai trái, thù địch về công tác phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jul 6, 2025

Miễn học phí - Chính sách nhân văn hợp “lòng dân, ý Đảng”

          Bóp méo, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách là những luận điệu, chiêu trò quen thuộc mà Việt Tân và các thế lực thù địch, phản động sử dụng để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. Nhất là khi Đảng, Nhà nước ta thực hiện miễn học phí cho học sinh các trường công lập từ bậc học mẫu giáo đến hết trung học phổ thông, chúng xuyên tạc rằng: “giữa bão thuế phí, giảm học phí là trò xoa dịu dư luận”. Song, thực tiễn lại trái với những xuyên tạc của chúng, bởi lẽ:

1. Miễn học phí là một trong những quyết sách rất nhân văn và có ý nghĩa lớn, chứ không thể đong đếm bằng những con số. Cần khẳng định rằng, miễn học phí là một trong những quyết sách rất nhân văn và có ý nghĩa lớn, một quyết định hợp lòng dân của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Theo thống kê, hiện cả nước có 23,2 triệu học sinh (chưa bao gồm học sinh học tại các trung tâm giáo dục nghề nghiệp và giáo dục thường xuyên), trong đó: 3,1 triệu học sinh mầm non dưới 5 tuổi; 1,7 triệu học sinh mầm non 5 tuổi; 8,9 triệu học sinh tiểu học; 6,5 triệu học sinh trung học cơ sở và 3 triệu học sinh trung học phổ thông. Miễn học phí tạo động lực để hàng triệu gia đình có thêm điều kiện chăm lo, đầu tư cho việc học tập cho con em; giúp giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, nhất là ở các địa phương miền núi, vùng sâu, vùng xa, làm cho giáo dục công bằng và bình đẳng hơn. Qua đó, tác động tích cực đến chất lượng dân số, giáo dục và sự phát triển nguồn nhân lực của đất nước. Miễn học phí cũng mở ra cho ngành giáo dục rất nhiều cơ hội để nâng cao chất lượng toàn diện và môi trường học đường sẽ sớm được văn minh, lành mạnh hơn, góp phần xây dựng một xã hội tiến bộ và phát triển bền vững, tạo được sự đồng thuận cao trong xã hội, thể hiện tính ưu việt của chế độ, đúng với chủ trương của Đảng, Nhà nước đối với giáo dục, đào tạo và phù hợp với xu thế chung của các nước phát triển.

2. Miễn học phí là bước tiến cụ thể hóa chủ trương “giáo dục là quốc sách hàng đầu” của Đảng, Nhà nước ta, chứ không phải là trò xoa dịu dư luận. Như chúng ta đã biết, xuyên suốt quá trình lãnh đạo sự nghiệp cách mạng, Đảng ta luôn kiên định quan điểm giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt để phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc. Mới đây nhất, tại Kết luận số 91-KL/TW, ngày 12/8/2024 của Bộ Chính trị một lần nữa nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân” và “đầu tư cho giáo dục và đào tạo là đầu tư cho phát triển, được ưu tiên trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội”. Đặc biệt, Kết luận số 91-KL/TW cũng chỉ rõ chủ trương: “Tiếp tục đổi mới cơ chế quản lý, bảo đảm đủ điều kiện cơ sở vật chất và nguồn lực tài chính cho phát triển giáo dục và đào tạo; bảo đảm ngân sách nhà nước chi cho giáo dục, đào tạo tối thiểu 20% tổng chi ngân sách nhà nước như Nghị quyết số 29-NQ/TƯ đã đề ra. Đồng thời, kịp thời điều chỉnh tăng mức chi ngân sách nhà nước cho giáo dục và đào tạo phù hợp với tăng trưởng của nền kinh tế”.

Trong bối cảnh Việt Nam đã chuyển từ một quốc gia có thu nhập thấp sang thu nhập trung bình, việc miễn học phí toàn quốc đánh dấu một cột mốc quan trọng trong việc đảm bảo mọi trẻ em, bất kể hoàn cảnh kinh tế gia đình, đều có quyền tiếp cận giáo dục cơ bản. Đây là một quyết sách đột phá, không chỉ dừng ở việc miễn học phí cho tiểu học (theo Nghị định 81/2021/NĐ-CP) hay một số đối tượng đặc thù như hộ nghèo, dân tộc thiểu số, mà mở rộng ra toàn bộ học sinh phổ thông công lập – một bước đi chưa từng có trong lịch sử giáo dục Việt Nam, trực tiếp gỡ bỏ rào cản tài chính, vốn là nguyên nhân chính khiến nhiều trẻ em, đặc biệt ở vùng sâu, vùng xa, phải bỏ học. Miễn học phí sẽ là “cú hích” để đảm bảo quyền học tập cơ bản cho mọi trẻ em. Đồng thời, thể hiện rõ trách nhiệm của Đảng, Nhà nước trong việc chăm lo cho tương lai của thế hệ trẻ. Đây là bước đi chiến lược nhằm hiện thực hóa công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách vùng miền và phát triển nguồn nhân lực bền vững, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo. Chính sách miễn học phí cũng thể hiện tính ưu việt của chế độ ta là “không để ai bị bỏ lại phía sau”, thực hiện đúng tinh thần bảo đảm các dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng, trong đó có giáo dục theo Nghị quyết số 42-NQ/TW, ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XIII) về tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng chính sách xã hội, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới.

Tóm lại, miễn học phí cho học sinh công lập từ mầm non đến hết giáo dục phổ thông của Đảng, Nhà nước ta là chính sách thiết thực, mang ý nghĩa sâu sắc và giàu tính nhân văn. Mỗi người chúng ta cần nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranh với mưu đồ xuyên tạc chính sách miễn học phí của Việt Tân và các thế lực thù địch chống phá Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam./.

 (Trích nguồn: nhanvanviet.com)

Jul 1, 2025

Chúng ta vẫn là người Việt Nam khi địa chỉ hành chính thay đổi

           Tre Việt - Ngày 01/7, trang facebook Việt Tân đăng status “Sau một đêm tỉnh giấc, chúng ta sẽ mất rất nhiều thứ: mất tỉnh, mất huyện, mất xã”, nhằm dụng ý kích động, xuyên tạc thời khắc thiêng liêng và trọng đại của dân tộc khi chúng ta chính thức đồng loạt vận hành bộ máy chính quyền hai cấp tại 34 tỉnh, thành phố trong cả nước - một chỉnh thể hành chính mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Cần khẳng định ngay rằng, công cuộc sắp xếp tổ chức, tinh gọn bộ máy hành chính của hệ thống chính trị đang được triển khai sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị với tinh thần quyết liệt và khẩn trương. Việc thu gọn đầu mối, xóa bỏ chồng chéo chức năng, giảm tầng nấc trung gian và xây dựng mô hình chính quyền ba cấp không chỉ là yêu cầu cấp thiết mà còn là bước đi chiến lược nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước. Dù khó khăn, Trung ương đã khẳng định: “Khó mấy cũng phải làm”, bởi đây là thời điểm vàng, khi đất nước đã hội đủ điều kiện về kinh tế, chính trị, xã hội sau gần 40 năm đổi mới. Mục tiêu cao nhất là kiến tạo một nền hành chính tinh gọn, phục vụ người dân ngày càng tốt hơn và tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững của quốc gia. Tinh thần cải cách này lan tỏa mạnh mẽ từ Trung ương đến địa phương, được nhân dân đồng tình, ủng hộ. Các chủ trương lớn đang nhanh chóng đi vào thực tiễn với khí thế “chỉ bàn làm, không bàn lùi”, trở thành mệnh lệnh hành động của cả hệ thống chính trị. 

Hôm nay, ngày 01/7, Quyết định “Sắp xếp lại giang sơn” vì sự phát triển bền vững và khoa học của Đảng, Nhà nước ta bắt đầu trở thành hiện thực. Đây là thời khắc thiêng liêng và trọng đại của dân tộc khi bộ máy chính quyền địa phương hai cấp tại 34 tỉnh, thành phố trong cả nước chính thức vận hành. Sự kiện đánh dấu một chỉnh thể hành chính mới của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với tầm vóc chiến lược đặc biệt lớn lao, được thiết kế cho cả hiện tại và tương lai, nhằm kiến tạo mô hình và không gian phát triển mới lâu dài và bền vững. Việc sáp nhập đơn vị hành chính không đơn thuần là sắp xếp lại bản đồ. Đó là một bước chuyển mang tính thể chế sâu sắc, khi Việt Nam chính thức bỏ cấp chính quyền trung gian ở cấp huyện - mô hình vốn tồn tại từ thời thuộc địa, từng phục vụ nhiều hơn cho quản trị hành chính chứ không tối ưu cho quản trị phát triển. Giờ đây, chính quyền cấp tỉnh và cấp xã sẽ trực tiếp “gần dân hơn, sát việc hơn”, loại bỏ tầng nấc trung gian, giảm chi phí bộ máy và tăng hiệu quả phục vụ. Đây là một thay đổi lớn, có thể ban đầu gây lẫn lộn về tên gọi, thủ tục, thậm chí là bâng khuâng trong tâm thức. Nhưng lịch sử luôn đòi hỏi dũng cảm - dám từ bỏ cái cũ để kiến tạo cái mới, nếu cái mới ấy phục vụ tốt hơn cho nhân dân, cho đất nước.

Cũng chính vì vậy mà, hàng triệu người dân từ Bắc chí Nam thức dậy trong một “địa chỉ hành chính mới” - tên tỉnh đổi khác, tên huyện không còn. Nhưng có một điều không đổi, không thể đổi: chúng ta vẫn là người Việt Nam, cùng chung một vùng trời quê hương, một dòng máu, một niềm tự hào không thể chia cắt. Nhiều người có thể bùi ngùi khi tên gọi một huyện, một xã, một tỉnh từng gắn với ký ức nay chỉ còn là dòng lịch sử. Nhưng chính trong giây phút ấy, chúng ta phải nhận ra: địa linh không nằm ở tên gọi, mà ở tinh thần và con người gắn bó với mảnh đất đó. Dù bạn sống ở bất cứ một xã của tỉnh mới, hay ở bất kỳ một đơn vị hành chính nào thì bạn đều đang sống dưới bầu trời Tổ quốc Việt Nam thân yêu. Không có mảnh đất nào bị mất đi, không có cộng đồng nào bị lãng quên. Mọi đổi thay đều để phục vụ tốt hơn cho người dân ở chính nơi ấy - có dịch vụ công nhanh hơn, có bộ máy hiệu quả hơn.

Do đó, luận điệu xuyên tạc, kích động Việt Tân rằng “chúng ta sẽ mất rất nhiều thứ: mất tỉnh, mất huyện, mất xã”, chẳng lừa bịp được ai, mà còn trở thành lố bịch, luận điệu đo nhất định sẽ bị phá sản. Bởi vì: “khi địa chỉ hành chính thay đổi chúng ta vẫn là người Việt Nam”./.

 

Jun 30, 2025

Cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy: Bước chuyển lịch sử không thể bị xuyên tạc

          Trong dòng chảy cải cách mạnh mẽ và quyết liệt hiện nay, cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy Nhà nước chính là minh chứng sinh động cho tầm nhìn chiến lược, sự đổi mới tư duy và dũng khí chính trị của Đảng, Nhà nước. Đây không đơn thuần là một cuộc sáp nhập hành chính, mà là hành động cải tổ có tính căn cơ, chiến lược - thể hiện bản lĩnh cải cách vì dân, vì nước. Thế nhưng, trong khi cả hệ thống chính trị đang đồng lòng vào cuộc, thì một số thế lực thù địch, các tổ chức phản động như Việt Tân lại ra sức bóp méo sự thật, tung ra luận điệu xuyên tạc, thiếu tinh thần xây dựng và phản dân hại nước.

Cuộc sáp nhập lần này không phải là sự “chia việc cơ học”, càng không phải là “cuộc chiến chính trị” như những kẻ chống phá suy diễn. Đây là bước chuyển lớn của bộ máy Nhà nước, lần đầu tiên trong gần nửa thế kỷ, số đơn vị hành chính cấp tỉnh được thu gọn còn 34 - là con số ít nhất kể từ sau ngày thống nhất đất nước. Đây không phải là một con số khô khan, mà phản ánh một bước tiến về tư duy quản trị quốc gia, nhằm xóa bỏ tình trạng cồng kềnh, chồng chéo, trùng lặp và lãng phí nguồn lực kéo dài trong nhiều năm qua.

Sự tinh gọn lần này không đơn thuần dựa trên ranh giới hành chính hay mật độ dân cư, mà là một cuộc tái cấu trúc chiến lược toàn diện, tính đến không gian phát triển dài hạn, năng lực tích hợp vùng, hạ tầng kết nối, văn hóa - xã hội - quốc phòng và đặc biệt là hiệu quả phục vụ nhân dân. Điều này đập tan luận điệu rằng việc sáp nhập làm “khó khăn thêm cho người dân”. Ngược lại, một bộ máy nhỏ hơn, rõ ràng hơn về phân quyền - phân cấp sẽ giúp tinh giản thủ tục, tiết kiệm thời gian, nâng cao chất lượng dịch vụ công. Một cấp xã hoạt động hiệu quả là tiền đề để Trung ương mạnh, để công cuộc quản trị quốc gia bước sang một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên của Chính phủ số - công dân số - và xã hội số.

Chỉ trong vòng vài tháng triển khai, hơn 70% các địa phương đã hoàn tất việc sắp xếp tổ chức, kiện toàn nhân sự, vận hành bộ máy mới - đó là sự đồng thuận, không chỉ của hệ thống chính trị mà còn là niềm tin của nhân dân. Câu nói của Thủ tướng Phạm Minh Chính tại hội nghị ngày 15/6/2025: “Đảng chỉ đạo, Chính phủ thống nhất, Quốc hội đồng tình, nhân dân ủng hộ thì chỉ bàn làm, không bàn lùi” - chính là bản tuyên ngôn cho quyết tâm và niềm tin chiến lược đó.

Vậy thì tại sao một số kẻ lại cố tình công kích, bịa đặt rằng “Quốc hội chịu sự chi phối của Bộ Chính trị” để hạ thấp vai trò của cơ quan quyền lực cao nhất? Đơn giản, vì mục tiêu thật sự của họ không phải là phản biện chính sách mà là công kích thể chế, cổ súy cho mô hình “tam quyền phân lập”, “xã hội dân sự kiểu phương Tây” và mưu toan lái Việt Nam ra khỏi quỹ đạo mà nhân dân đã lựa chọn. Đó là giọng điệu không mới, nhưng ngày càng xảo quyệt, tinh vi, khi núp bóng những vấn đề được quan tâm để đánh lạc hướng dư luận, gieo rắc hoài nghi, chia rẽ niềm tin.

Một số kẻ còn lớn tiếng đòi “xem lại ý nghĩa sáp nhập”, rồi rêu rao rằng “tái cấu trúc bộ máy là cuộc chiến nội bộ để giành quyền lực”. Đây là một sự vu khống trắng trợn. Thực tế, việc sáp nhập không những không gây bất ổn, mà ngược lại đã khai phóng cơ hội thăng tiến cho cán bộ thực chất, có năng lực, chấm dứt tư duy “chia ghế theo đơn vị hành chính”, giúp tạo ra môi trường cạnh tranh lành mạnh, góp phần trẻ hóa và chuẩn hóa đội ngũ công chức, viên chức từ cơ sở lên cấp tỉnh.

Từ góc độ cải cách thể chế, cuộc cách mạng lần này là cú huých mạnh vào “điểm nghẽn lịch sử” - tình trạng trì trệ, dàn trải, cơ cấu phình to nhưng hiệu quả thấp. Chúng ta không thể bước vào kỷ nguyên mới bằng tư duy hành chính cũ, mô hình quản lý lạc hậu. Chúng ta cần một bộ máy nhỏ nhưng tinh, một hệ thống công quyền mà mỗi đồng lương công chức đi kèm với giá trị phục vụ rõ rệt cho nhân dân, chứ không phải một hệ thống mà mỗi “ghế” là một “biên chế cồng kềnh”.

Dưới góc nhìn lịch sử, chưa bao giờ đất nước ta hội tụ được đồng thời: ý chí chính trị mạnh mẽ, cơ hội chuyển đổi số toàn diện, và sự đồng thuận xã hội sâu rộng như lúc này. Những ai từng đi qua thời kỳ chia tách tỉnh ồ ạt sau năm 1975 để quản lý dễ hơn, sẽ hiểu rằng lần cải cách hiện nay không phải là “đi lùi” - mà là bước nhảy vọt về chất lượng quản trị. Nếu như khi xưa, chia tách để nắm bắt sát sao, thì ngày nay, kết nối số, hạ tầng hiện đại, và phương thức điều hành khoa học cho phép chúng ta quản lý cả vùng rộng lớn với hiệu quả cao hơn mà không cần nhân sự phình to thêm.

Một cuộc cải cách tầm cỡ như vậy tất yếu sẽ vấp phải những phản ứng từ những nhóm lợi ích cũ, từ các thế lực không muốn thay đổi vì sợ mất đặc quyền, đặc lợi. Nhưng cũng như mọi cuộc cải cách vĩ đại khác, sự chính danh, đúng đắn, và lòng dân chính là lá chắn vững chắc nhất. Những tiếng nói xuyên tạc, bôi nhọ sẽ sớm bị lật tẩy bởi chính sự vận hành hiệu quả của bộ máy mới, bởi sự hài lòng thực chất của người dân, và bởi sự phát triển bền vững trong thời gian tới.

Tinh gọn để mạnh hơn. Cải cách để phục vụ dân tốt hơn. Và dám thay đổi để tiến xa hơn. Đó là con đường đúng, là quyết sách lịch sử mà không thế lực thù địch nào có thể ngăn cản được. Đã đến lúc chúng ta tin tưởng, ủng hộ, và cùng đồng hành với cuộc cách mạng tinh gọn bộ máy - không chỉ bằng lời nói, mà bằng sự hợp tác, đồng thuận và hành động cụ thể vì một Việt Nam hiện đại, minh bạch và thịnh vượng./.

(Trich nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Jun 26, 2025

Vạch trần chiêu trò xuyên tạc, công kích của Trương Nhân Tuấn về “biên giới mềm”

           Trong bối cảnh Việt Nam đang khẳng định vai trò và vị thế trên trường quốc tế, phát ngôn của Thủ tướng Phạm Minh Chính - “Hàng không Việt Nam bay tới đâu, biên giới mềm của Việt Nam tới đó” - đã gây chú ý lớn. Đây không chỉ là một hình ảnh biểu trưng mà còn là thông điệp chiến lược về sức mạnh mềm, hội nhập và kết nối toàn cầu.

Tuy nhiên, trong khi phần lớn giới chuyên môn và công chúng đón nhận phát ngôn này một cách tích cực, Trương Nhân Tuấn - một cây bút phản động có thâm niên chống phá, lại chọn cách bóp méo và công kích một cách thô thiển. Trong bài viết mang giọng điệu hằn học, ông ta gọi Thủ tướng Việt Nam là “đầu đất”, và biến khái niệm “biên giới mềm” thành trò cười rẻ tiền bằng việc gán ghép nó với những hình ảnh lệch lạc như “buôn lậu”, “ăn cắp”, “trồng cần sa”.

Cần nói rõ: “biên giới mềm” không phải là một phát ngôn ngẫu hứng, mà là một ẩn dụ được xây dựng trên nền tảng của học thuyết “quyền lực mềm” do giáo sư Joseph Nye (Harvard) khởi xướng. Đó là năng lực gây ảnh hưởng thông qua sức hấp dẫn văn hóa, mô hình phát triển, tri thức, sáng tạo - thay vì vũ lực hay ép buộc. Khi Việt Nam mở đường bay tới nhiều trung tâm kinh tế lớn trên thế giới, điều đó thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xuất khẩu hình ảnh quốc gia: từ du lịch, thương mại đến giáo dục, khoa học và giao lưu nhân dân.

Việc Trương Nhân Tuấn cố tình cào bằng “biên giới mềm” với các hiện tượng cá biệt tiêu cực là một hành động vừa thiếu hiểu biết, vừa mang động cơ bôi nhọ. Những vụ việc như buôn lậu, ăn cắp tuy có thật, nhưng chỉ là số ít và không thể đại diện cho hàng triệu người Việt đang sinh sống, học tập và lao động chân chính tại hơn 100 quốc gia. Chính họ - từ những kỹ sư ở Nhật, bác sĩ ở Pháp, doanh nhân ở Mỹ, đến các nhà khoa học đoạt giải quốc tế - mới là biểu hiện sống động nhất của “biên giới mềm”.

Thủ đoạn của Trương Nhân Tuấn không dừng lại ở việc phỉ báng lãnh đạo hay xuyên tạc phát ngôn. Ông ta còn tỏ rõ ác ý khi khái quát xã hội Việt Nam bằng những cụm từ hằn học như “trai làm nô, gái làm tì”. Phải chăng hàng chục tỉ USD kiều hối mà người lao động gửi về mỗi năm - chỉ riêng Thành phố Hồ Chí Minh đã nhận 5,2 tỉ USD trong nửa đầu năm 2024 - cũng là “dấu hiệu nô lệ”? Kiều hối không chỉ là tiền, đó là niềm tin, là sự kết nối vô hình giữa hàng triệu trái tim Việt xa quê với đất mẹ - một trong những “biên giới mềm” bền vững nhất.

Không dừng lại ở đó, Trương Nhân Tuấn còn sử dụng chiêu trò xưa cũ: quy chụp chủ trương “toàn dân làm giàu” thành “vòng kim cô xã hội chủ nghĩa”. Ông ta phớt lờ thực tế rằng kinh tế tư nhân Việt Nam đang phát triển mạnh, đóng góp ngày càng lớn vào GDP. Các startup như MoMo, Sky Mavis, VinFast đang gây tiếng vang toàn cầu. Việt Nam còn là quốc gia đầu tiên trong ASEAN tự sản xuất và xuất khẩu điện thoại 5G do kỹ sư trong nước phát triển - đó chẳng phải là biểu hiện rõ ràng của một “biên giới mềm công nghệ” hay sao?

Trên lĩnh vực văn hóa, từ phim đoạt giải tại các liên hoan quốc tế, đến món ăn Việt xuất hiện trong Michelin Guide, nhạc Việt lan tỏa tại Nhật, Hàn,… tất cả đều là những “đường bay vô hình” mà hình ảnh Việt Nam đang vươn xa. Chúng không phải sản phẩm của tuyên truyền, mà là thành quả của sự nỗ lực bền bỉ và sáng tạo. Bài viết của Trương Nhân Tuấn, thay vì phản biện chính sách, lại chỉ chọn cách phủ định mọi thành tựu - từ kinh tế, giáo dục đến văn hóa. Đó không còn là phản biện, mà là vu cáo và xuyên tạc có chủ đích.

Một xã hội hiện đại cần tiếng nói phản biện, nhưng phản biện không thể là sự giễu cợt mang tính hạ nhục, càng không thể là tấm bình phong cho định kiến và mưu đồ chính trị. Khi một Thủ tướng phát biểu về tầm nhìn “biên giới mềm”, điều cần làm là cùng nhau suy nghĩ: làm sao để tầm nhìn đó được hiện thực hóa? Làm sao để hàng không Việt Nam không chỉ chở hành khách mà còn chở theo hình ảnh tích cực về con người, trí tuệ, sản phẩm và văn hóa Việt Nam?

Sẽ luôn có người tìm cách mỉa mai, bóp méo, hoặc thậm chí bịa đặt, nhưng điều quan trọng là: chúng ta - những người quan tâm đến sự phát triển đất nước cần tỉnh táo để không bị dẫn dắt bởi những lời lẽ giật gân, cực đoan như của Trương Nhân Tuấn. Vì rốt cuộc, câu hỏi không còn là “biên giới mềm có tồn tại hay không” - mà là: mỗi công dân Việt Nam làm gì để nó ngày càng lan tỏa, vững chắc và đáng tự hào./.

(Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Jun 25, 2025

Kịnh bản vụng về, xỏ xiên về thuế khóa của Dư Lan

         Trên trang RFA, bút danh Dư Lan đã đăng bài: “Muốn tiểu thương khai thuế minh bạch, chính quyền phải làm sạch mình trước”. Với những lời lẽ “xỏ xiên”, Y cho rằng: “Việt Nam thiếu luật pháp minh bạch. Thiếu hệ thống công an, thuế, “quản lý thị trường” trong sạch; hay Quốc hội Việt Nam và Bộ tài chính đã thực thi một chiến dịch gần như “đánh úp” dân… không có lộ trình cho dân chuẩn bị về nhận thức, tài chính và phương tiện”. Và cuối cùng Y đi đến kết luận: “Nhà nước đang vận hành một hệ thống bị lỗi… Nhà nước phải sửa lỗi hệ thống trước”. Vậy, hãy xem “ẩn sâu bên trong” những lời lẽ của Dư Lan đúng hay sai?

          Thứ nhất, không thể lấy “cái riêng” để suy diễn, quy chụp và phủ nhận vai trò của cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường. Việc một số cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường có những hành vi vi phạm trong thực thi nhiệm vụ liên quan đến hộ kinh danh nhỏ lẻ như Dư Lan đưa ra là hoàn toàn không sai. Tuy nhiên, vấn đề này cần nhận thức là, số cán bộ đó đã vi phạm kỷ luật Đảng, pháp luật Nhà nước và quy định của từng ngành trong thực thi nhiệm vụ, đó là do số cán bộ này thiếu tu dưỡng, rèn luyện, dẫn đến suy thoái về phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống, sa vào chủ nghĩa cá nhân trong quá trình công tác. Những khuyết điểm, sai phạm của một số cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường nói trên chỉ là cá biệt của một bộ phận chứ không phải là tất cả, không thể quy kết cái hiện tượng riêng lẻ thành cái chung và phổ biến. Và tất cả hành vi lệch chuẩn của một số cán bộ gây nhũng nhiễu, khó khăn cho hộ kinh doanh cá thể trong thời gian qua chỉ là hiện tượng thuộc về hành vi, đạo đức cá nhân, đây là những “con sâu làm rầu nồi canh”, chứ không phải là nguyên nhân từ việc “Nhà nước đang vận hành một hệ thống bị lỗi” như lời của Dư Lan. Do đó, không thể lấy cái cá nhân (cái riêng) để suy diễn, quy chụp lên cái tổng thể, bản chất. Không thể duy ý chí, cảm tính chỉ dựa vào thiếu sót, hạn chế của một vài cá nhân mà phủ nhận sạch trơn vai trò của đội ngũ cán bộ công an, thuế và quản lý thị trường trong sự nghiệp phát triển của đất nước.
          Thứ hai, chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai thực tế là bước tiến giúp nâng cao hiệu quả công tác quản lý thuế, tạo sự minh bạch, công bằng trong kinh doanh. Chúng ta đều biết, thuế khoán đối với hộ kinh doanh được thực hiện trong điều kiện nền kinh tế ở trình độ phát triển thấp, khoa học và công nghệ chưa hiện đại; khả năng áp dụng công nghệ của hộ kinh doanh nhỏ chưa tốt, không có điều kiện sử dụng sổ sách kế toán để ghi nhận doanh thu thực tế, nên cần ước tính doanh thu để tính thuế. Những năm qua, ở nước ta thuế khoán đối với các hộ kinh doanh nhỏ lẻ là giải pháp hữu hiệu để huy động đầy đủ các nguồn thu vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, trong điều kiện phát triển của nền kinh tế số hiện nay, khi hạ tầng thanh toán không dùng tiền mặt và các công cụ hỗ trợ quản lý doanh thu kinh doanh phát triển mạnh, đảm bảo các điều kiện để chuyển sang phương thức kê khai thuế. Cho nên, việc bỏ thuế khoán sẽ đảm bảo tính minh bạch, bình đẳng trước pháp luật giữa các đối tượng kinh doanh, dù là cá nhân hay doanh nghiệp. Đồng thời, thúc đẩy các hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp – đây là giải pháp quan trọng để đạt mục tiêu có thêm 1 triệu doanh nghiệp vào năm 2030 mà Nghị quyết số 68-NQ/TW đã đề ra.
          Thứ ba, chuyển đổi từ thuế khoán sang kê khai thực tế là biện pháp quan trọng trong chống buôn lậu, hàng giả, bảo vệ doanh nghiệp, thúc đẩy kinh tế tư nhân phát triển bền vững. Nghị quyết số 68-NQ/TW đặt ra nhiệm vụ vừa trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài đối với đất nước trong kỷ nguyên mới là “phát triển kinh tế tư nhân”. Không chỉ vậy, mà phải “phát triển nhanh.”, “bền vững”, “hiệu quả” và “chất lượng cao” vừa là nhiệm vụ trọng tâm, cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài; cần được cụ thể hóa trong các chiến lược, chính sách phát triển của đất nước; nhằm phát huy mọi tiềm năng, thế mạnh, giải phóng toàn bộ sức sản xuất, kích hoạt, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực, nhất là nguồn lực trong Nhân dân cho phát triển kinh tế - xã hội. Tuy nhiên, phát triển kinh tế tư nhân nhanh, không đồng nghĩa với việc làm ngơ trước những gian lận thương mại với lời biện bạch, “chiếu cố người buôn bán nhỏ”… thì làm sao có sự bền vững chứ chưa nói đến chuyện giải phóng sức sản xuất.
           Khi hàng giả còn trà trộn với hàng thật thì những doanh nghiệp làm ăn chân chính, nói không với hàng không rõ nguồn gốc, hàng vi phạm bản quyền trí tuệ, mua và bán đều theo quy định về hóa đơn, đóng thuế đầy đủ sẽ rất khó cạnh tranh bình đẳng về giá. Rất dễ thua trên thị trường nội địa vì chịu nhiều thua thiệt, những “ngay thương” lại mang tiếng xấu như “gian thương”. Vì, mua bán theo quy định về hóa đơn, xuất xứ hàng hóa không chỉ là để “nộp thuế đúng” dựa trên doanh thu thực, mà cũng là một cách để minh bạch hóa thương trường, tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho mọi thành phần tham gia. Việc cánh cửa “lách luật,” “né thuế” bị thu hẹp dần sẽ tạo tâm lý yên tâm, không so bì từ phía doanh nghiệp làm ăn lành mạnh và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đối với Nhà nước.
            Cho nên, trước tình trạng một số hộ kinh doanh tạm nghỉ buôn bán trong thời gian gần đây hay từ chối hình thức thanh toán chuyển khoản có thể là do họ chưa tìm hiểu thấu đáo các quy định mới, hoặc có thể đây là sự chống đối cơ quan chức năng từ một số đối tượng. Chúng ta cần nhìn nhận một cách đầy đủ và tỉnh táo, tránh vô tình cổ xúy cho hành vi sai trái hoặc mắc mưu theo luận điệu của các đối tượng phản động như Dư Lan./.
(Trích nguồn: nhanvanviet.com)


Jun 24, 2025

Uy tín - Không phải để mang ra “phát sóng”

        Tre Việt - Uy tín chính là sự tin cậy, tôn trọng và kính nể mà người khác dành cho một cá nhân, tổ chức hay quốc gia, dựa trên những hành động, lời nói và cách cư xử nhất quán với các giá trị đạo đức, trách nhiệm và hiệu quả trong công việc cũng như trong cuộc sống. Trong chính trị nói chung, ngoại giao nói riêng, uy tín không phải là một “mỹ từ” để đem ra khoe mẽ, cũng không phải là một vật trang trí để trưng trên bàn hội đàm, mà là một giá trị cần được xây dựng bằng hành động, giữ bằng danh dự và nuôi bằng trách nhiệm. Bởi, uy tín mà bị “phát sóng”, sử dụng làm mục đích chính trị thì còn đâu… chữ “tín”!

Mới đây, một đoạn ghi âm bị rò rỉ trong một động thái ngoại giao mềm dẻo giữa hai vị nguyên thủ của hai quốc gia. Một bên gọi điện mang theo tinh thần thiện chí, mở lời thân mật với “danh xưng” như người thân trong một dòng họ. Nhưng ai ngờ, đầu dây bên kia… ghi âm! Ở đây, chuyện ghi âm không có gì là mới lạ, cũng không phải lần đầu xuất hiện trong ngoại giao. Nhưng vấn đề nằm ở chỗ, ghi thì được, nhưng đem “phát sóng” thì cần phải suy nghĩ thật kỹ. Bởi lẽ, nếu cứ thấy “hữu ích” là chia sẻ, thấy “vui tai” là đưa lên mạng xã hội, thì đâu còn không gian để ngoại giao… nói thật? Việc “phát sóng” những lời như vô hại ấy, một khi lọt ra ngoài văn cảnh, hoặc tệ hơn, bị “trích khúc” theo một mục đích chính trị thì nó lại trở nên vô cùng nguy hiểm!

Thế là chỉ một đoạn ghi âm vài phút, bỗng chốc biến một cuộc gọi thiện chí trở thành “một trận cuồng phong” giáng vào niềm tin nội bộ. Liên minh cầm quyền có nguy cơ tan vỡ, thị trường chao đảo, dân chúng xuống đường biểu tình. Người trong cuộc phải bước ra xin lỗi! Thế mới nói, “uy tín” không nằm trong lời hứa, mà nằm ở cách giữ lời. Nó không cần được tô son hay dán nhãn “tôi đây uy tín”, mà chỉ bền khi người khác biết nâng niu, giữ gìn. Nhất là trong thời đại số, nơi mà mọi phát ngôn riêng tư đều có thể bị ghi lại và phát tán, khiến một cuộc trò chuyện tưởng chừng kín đáo cũng có thể trở thành tâm điểm của dư luận.

Người ta vẫn nói, “người uy tín” đâu cần nói nhiều. Quả thực, có những người chỉ cần im lặng cũng đủ khiến người khác lắng nghe và tự soi lại mình. Bởi, cái trọng lượng của uy tín nằm ở hành vi, chứ không phải ở tần suất lên tiếng. Trái lại, người đã “đánh rơi uy tín” thì dù có nhắc đi nhắc lại một điều đến ngàn lần, người ta nghe không phải để tin, mà để cảnh giác. Cảnh giác để lần sau đừng nhấn gọi nhầm, đừng tâm sự với những người không đáng tin và những nơi không đáng nói.

Chính trị, về bản chất luôn cần lòng tin. Nhưng lòng tin không được xây bằng “danh xưng thân mật”, mà bằng hành xử có trách nhiệm với từng lời đã nói, từng cam kết đã hứa. Có người tưởng rằng “uy tín đến từ ngôn từ êm dịu”, nhưng thực tế chứng minh: nó chỉ đến từ “kiên cường trong hành động và tử tế trong cả khi không ai nhìn thấy”. Bởi, thế giới hôm nay đang “ghi âm cả những gì không phát sóng”, và “phát sóng cả những gì không cần ghi âm”. Vậy nên, những ai vẫn tìm kiếm “ngoại giao tình cảm”, thì xin hãy cẩn trọng và nhớ rằng, mỗi lời nói ra đều mang hệ lụy và không phải cuộc gọi nào cũng chỉ dừng ở hồi chuông./.


Jun 23, 2025

Không thể xuyên tạc vai trò lịch sử và bản chất cách mạng của báo chí Việt Nam

           Mới đây, bài viết “Báo chí cách mạng, trăm tuổi mới xây văn hóa” của Gió Bấc, đăng trên trang “Bureau CTM Media - Âu châu”, đã thể hiện rõ mưu đồ chống phá báo chí cách mạng. Với lối viết mỉa mai, xảo ngôn và lập luận độc hại, tác giả này đã ngạo mạn tuyên bố: “Báo chí cách mạng Việt Nam xưa nay vốn là công cụ tuyên truyền, cờ, đèn, kèn, trống cho Đảng, Nhà nước, cả hệ thống chính trị, thì nay có thêm nét văn hóa mới là phục vụ cho các đại gia”. Đây không phải là một nhận định mang tính “phản biện” như cách các thế lực này thường rêu rao, mà là một luận điệu xuyên tạc có chủ đích, bóp méo bản chất, phủ định vai trò lịch sử, chính trị, xã hội của nền báo chí cách mạng Việt Nam.

1. Bản chất chính trị của báo chí cách mạng - sự thật không thể xuyên tạc. Trước hết, cần khẳng định một cách rạch ròi: báo chí cách mạng Việt Nam là bộ phận của sự nghiệp cách mạng, là công cụ sắc bén trong công cuộc đấu tranh tư tưởng, tuyên truyền chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước. Gió Bấc cho rằng đó là điều đáng xấu hổ, cần thoát ly - nhưng đó là cách nhìn của kẻ muốn tước đoạt linh hồn chính trị của báo chí cách mạng. Như chúng ta đã thấy, ở bất cứ quốc gia nào, báo chí đều mang bản chất chính trị, dù dưới danh nghĩa “tự do”, “độc lập”. Điều khác biệt ở đây là: báo chí cách mạng Việt Nam không phục vụ cho lợi ích nhóm, không là công cụ thao túng của tư bản tài phiệt, mà đặt lợi ích của quốc gia, dân tộc và nhân dân lên trên hết. Cái gọi là “cờ, đèn, kèn, trống” mà Gió Bấc phỉ báng chính là ánh sáng lý tưởng, là sự cổ vũ, động viên quần chúng đứng lên làm cách mạng, bảo vệ độc lập dân tộc, xây dựng chủ nghĩa xã hội. Câu chữ miệt thị, lối ví von cay độc chỉ lột tả được tâm địa thâm hiểm, phản động, chứ không làm lu mờ bản chất chân chính và sứ mệnh lịch sử cao cả của báo chí cách mạng.

2. Luận điệu “phục vụ đại gia” cú đánh kép nhằm hạ uy tín và chia rẽ nội bộ. Một mũi tên mà Gió Bấc cố tình bắn vào báo chí cách mạng Việt Nam là luận điệu xuyên tạc: “nay có thêm nét văn hóa mới là phục vụ các đại gia”. Ẩn sau luận điệu này là sự đánh tráo bản chất. Từ vài biểu hiện cá biệt sai phạm, Y đã dựng nên một hình ảnh báo chí bị mua chuộc, thao túng, trở thành công cụ truyền thông của các nhóm lợi ích - một lối quy chụp đầy ác ý. Thủ đoạn ở đây là dựng chuyện có thật về một số sai phạm cá nhân (mà Đảng và Nhà nước ta không bao che, luôn xử lý nghiêm), sau đó dùng phương pháp phóng đại, đổ lỗi cho cả hệ thống, để gieo rắc hoài nghi, ly gián nội bộ, kích động sự bất mãn trong giới làm báo và xã hội.

Cần khẳng định: nền báo chí cách mạng Việt Nam không bao giờ dung túng cho những biểu hiện thoái hóa, biến chất, thương mại hóa làm lu mờ vai trò chính trị. Văn hóa báo chí cách mạng không phải là những trò phô diễn hình thức, không nằm ở màu mực trình bày hay chiêu trò giật tít, mà chính là ở bản lĩnh chính trị vững vàng, đạo đức nghề nghiệp trong sáng, lương tâm xã hội cao cả, dấn thân vì sự thật, vì nhân dân. Chính báo chí cách mạng, với chức năng giám sát, điều tra, phản biện xã hội, đã phát hiện và phanh phui nhiều vụ việc sai phạm, góp phần làm trong sạch bộ máy. Những cây bút dũng cảm, trung thực, những tờ báo sống chết với sự thật, đó mới là diện mạo chính của báo chí cách mạng, chứ không phải bức tranh đen tối mà Gió Bấc vẽ ra bằng óc thù hằn.

Thực chất, bài viết của Gió Bấc không đơn thuần là một bài “bình luận báo chí”; đó là một sản phẩm truyền thông phá hoại tư tưởng, đánh vào niềm tin của Nhân dân với báo chí cách mạng, gieo mầm nghi ngờ trong cán bộ làm báo, từng bước thúc đẩy diễn biến hòa bình về tư tưởng, chính trị. Bằng những chiêu bài ngôn ngữ hàm ý sâu độc, Gió Bấc tìm cách xóa nhòa ranh giới giữa đúng, sai, giữa báo chí cách mạng và báo chí phản động, giữa phục vụ lý tưởng và phục vụ đồng tiền. Đó là cách chúng từng bước thúc đẩy “phi chính trị hóa” báo chí, một mũi nhọn trong chiến lược xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng trên mặt trận tư tưởng.

Chống phá nền báo chí cách mạng chính là chống phá nền tảng tư tưởng, văn hóa của Đảng. Những luận điệu của Gió Bấc phải được nhận diện rõ là một thủ đoạn phá hoại về tư tưởng; cần kiên quyết phản bác, đấu tranh đến cùng. Báo chí cách mạng Việt Nam, trong 100 năm lịch sử, đã chứng minh bản lĩnh chính trị, đạo đức nghề nghiệp và văn hóa cách mạng của mình. Những lời bôi nhọ, xuyên tạc dù có thay hình đổi dạng thế nào, cũng không thể làm lu mờ ánh sáng của lý tưởng cách mạng và giá trị nhân văn cao đẹp mà báo chí Việt Nam đang gìn giữ và phát huy./.

(Trích nguồn: Nhanvanviet.com)

 

Tự do báo chí ở Việt Nam bị hạn chế là luận điệu xuyên tạc

         Trên mạng xã hội “Vietnamthoibao”, danh xưng “Liên minh vì dân chủ cho Việt Nam” đã đăng: “Bài nói ngắn về tự do báo chí trong gian hàng triển lãm: Dân chủ cho Việt Nam, tại Đài Loan”. Nội dung bài viết cho rằng “Việt Nam là một trong những quốc gia có mức độ tự do báo chí hạn chế nhất thế giới”; “Mọi hoạt động báo chí độc lập bị xem là vi phạm pháp luật”. Đây là hành động cố tình xuyên tạc, bóp méo chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước ta về các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, hòng làm giảm uy tín của Đảng, của Nhà nước ta với nhân dân, với quốc tế; do đó, cần phải được lên án, bác bỏ và nghiêm trị.

1. Việt Nam có đầy đủ cơ sở pháp lý bảo đảm quyền tự do báo chí của công dân. Như chúng ta đã biết, việc đảm bảo mọi công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí trong khuôn khổ quy định của pháp luật là chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin…Việc thực hiện các quy định này do pháp luật quy định”. Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 và Luật Tiếp cận thông tin năm 2016 cũng nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí; bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; bảo đảm cung cấp thông tin chính xác, đầy đủ, kịp thời, minh bạch, thuận lợi; Điều 11 Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 quy định công dân có quyền: “Phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; góp ý kiến, phê bình, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo trên báo chí đối với các tổ chức và cá nhân”. Đồng thời, Luật Báo chí sửa đổi năm 2016 cũng nêu rõ: “Báo chí, nhà báo hoạt động trong khuôn khổ pháp luật và được Nhà nước bảo hộ; không tổ chức, cá nhân nào được hạn chế, cản trở báo chí, nhà báo hoạt động. Không ai được lạm dụng quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, tập thể và công dân”.

Thực tế những năm qua, Nhà nước Việt Nam luôn quan tâm bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của con người, trong đó có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin. Điều này được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản pháp luật liên quan, đồng thời được triển khai thực hiện trong thực tế đời sống chính trị, kinh tế, xã hội ở Việt Nam. Qua đó, báo chí đã có những đóng góp quan trọng vào công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc; luôn tích cực đấu tranh với các biểu hiện sai trái, tiêu cực trong xã hội, góp tiếng nói quan trọng vào việc phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, củng cố, hoàn thiện nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, đồng thời là cầu nối quan trọng với bạn bè quốc tế.

2. Từ thực tiễn, hệ thống truyền thông, báo chí của Việt Nam luôn không ngừng phát triển đáp ứng yêu cầu, quyền lợi chính đáng cho mọi người dân. Hiện nay, Việt Nam có khoảng hơn 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí, 779 cơ quan báo chí (trong đó có 142 báo, 612 tạp chí, 25 cơ quan báo chí điện tử độc lập), 72 cơ quan được cấp phép hoạt động phát thanh – truyền hình với tổng số 87 kênh phát thanh và 193 kênh truyền hình. Trong khi đó, sóng của các cơ quan truyền thông quốc tế lớn như CNN, BBC, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg…đều được tiếp cận dễ dàng tại Việt Nam. Việt Nam cũng được ghi nhận là một trong những nước có tốc độ tăng trưởng và sử dụng internet cao nhất thế giới với hơn 70 triệu người sử dụng Internet (chiếm hơn 70% dân số).

Thực tế cho thấy, tại Việt Nam cũng không ai bị xét xử, bắt giữ vì bày tỏ chính kiến hay bảo vệ nhân quyền đúng pháp luật. Chỉ có những đối tượng lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, vi phạm pháp luật; tung tin giả, tin “xấu độc” hòng gây mất an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, gây hoang mang dư luận… mới bị kiên quyết xử lý theo pháp luật.

Tóm lại, chiêu bài mượn danh tự do báo chí, tự do ngôn luận để chống phá Đảng, Nhà nước của các phần tử thù địch, phản động là không đại diện cho quyền lợi, trách nhiệm xã hội của những người làm báo, cản trở và đi ngược lại xu thế đổi mới, phát triển toàn diện của đất nước. Do đó, cần phải đấu tranh bác bỏ và xử lý nghiêm minh./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Jun 19, 2025

Thực tiễn sinh động là minh chứng bác bỏ luận điệu xuyên tạc, kích động của Việt Tân

            Tre Việt - Ngày 18/6, trang facebook Việt Tân đăng bài: “Thúc đẩy tự do, công bằng và công lý vì Việt Nam”. Trong bài viết, họ rêu rao: “Tiêu ngữ ở quốc hiệu “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” là một xác định: sau khi đất nước độc lập, tự do rất cần thiết với người dân… đất nước đã độc lập, nhưng dân thiếu hạnh phúc”.

Cần khẳng định ngay, đây là luận điệu bịa đặt, mang bản chất thù địch của Việt Tân nhằm xuyên tạc, phủ nhận vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam trong lãnh đạo xây dựng, phát triển đất nước; đồng thời, xuyên tạc, hạ thấp giá trị của độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc, khát vọng và mục tiêu cao cả trong suốt quá trình dựng nước và giữ nước mà cả dân tộc, nhân dân Việt Nam đang nỗ lực phấn đấu thực hiện.

Chúng ta đều biết, “Độc lập - Tự do - Hạnh phúc” luôn là mục tiêu, khát vọng và là sự lựa chọn của các quốc gia, dân tộc, trong đó có Việt Nam. Ngay sau Cách mạng Tháng Tám thành công, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa (nay là Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam). Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”. Độc lập - Tự do - Hạnh phúc chính là mục tiêu, “đích đến” của Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta. Phấn đầu vì mục tiêu, khát vọng cao cả này, nên bao thế hệ người Việt Nam đã chiến đấu, hy sinh để bảo vệ quyền độc lập, tự do của Tổ quốc. Hơn tất cả các dân tộc trên thế giới, dân tộc Việt Nam hiểu sâu sắc các giá trị của Độc lập - Tự do - Hạnh phúc. Vì vậy, dân tộc Việt Nam lựa chọn Độc lập - Tự do - Hạnh phúc gắn liền với Quốc hiệu và là mục tiêu xuyên suốt của cách mạng Việt Nam.

Thực tiễn lịch sử Việt Nam đã chứng minh: từ một nước bị thống trị, không có tên trên bản đồ thế giới, nhưng với sự đoàn kết, đồng lòng, quyết tâm của cả dân tộc trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, Việt Nam đã trở thành quốc gia độc lập, người dân được tự do, làm chủ vận mệnh của mình và được hưởng hạnh phúc thực sự. Nhất là, sau gần 40 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo, với chính sách ngày càng hoàn thiện, đồng bộ và đi vào cuộc sống, bảo đảm an sinh xã hội của Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, quan trọng trên các lĩnh vực. Trong đó, đáng chú ý là: thu nhập bình quân đầu người trong những năm đầu đổi mới chỉ khoảng 250 USD/năm, thì đến năm 2024 đạt 4.700 USD, đứng thứ năm trong ASEAN. Tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh từ 58% năm 1993 xuống còn 1,93% năm 2024 theo chuẩn nghèo đa chiều, được Liên hợp quốc xếp là một trong những nước đứng đầu về thực hiện Mục tiêu Thiên niên kỷ. Văn hóa - xã hội có bước phát triển tích cực; dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng mở rộng; quyền làm chủ của người dân ngày càng được phát huy. Mới đây, Bộ Chính trị (khóa XIII) đã quyết định từ đầu năm học mới 2025 - 2026, trên phạm vi cả nước sẽ miễn toàn bộ học phí cho học sinh từ bậc mầm non đến hết bậc phổ thông trung học công lập. Thời gian tới, Việt Nam sẽ rà soát lại tổng thể các chương trình, kế hoạch, đề án liên quan đến chăm sóc sức khỏe cho nhân dân để bổ sung, sửa đổi cho phù hợp tình hình mới; thống nhất thực hiện chủ trương khám sức khỏe định kỳ cho nhân dân ít nhất mỗi năm một lần; nghiên cứu xây dựng đề án với lộ trình từng bước giảm gánh nặng chi phí y tế cho người dân, tiến tới miễn viện phí toàn dân vào giai đoạn từ 2030 - 2035. Những nỗ lực đó còn được minh chứng trong Báo cáo Hạnh phúc Thế giới 2025 do Trung tâm Nghiên cứu Hạnh phúc của Đại học Oxford (Anh) công bố ngày 20/3/2025, Việt Nam xếp thứ 46 trong số 143 quốc gia và vùng lãnh thổ được xếp hạng, nằm trong số các nước có xếp hạng chỉ số hạnh phúc liên tục tăng nhanh trong 3 năm trở lại đây (năm 2022 xếp thứ 77, năm 2023 xếp thứ 65 và năm 2024 xếp thứ 54).

Những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử nói trên luôn gắn liền với sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, là minh chứng sinh động bác bỏ luận điệu đất nước đã độc lập, nhưng dân thiếu hạnh phúc”. Đồng thời, khẳng định Độc lập - Tự do - Hạnh phúc là mục tiêu, khát vọng và sự lựa chọn đúng đắn của dân tộc Việt Nam, không thế lực nào có thể xuyên tạc, kích động/.