Aug 25, 2025

Đảng luôn đặt lợi ích của Nhân dân lên trên hết, trước hết

        Trên trang “Doithoaionline”, Phạm Đình Bá đăng tải bài viết với tiêu đề: “Nếu Đảng Cộng sản mở mắt ra, sẽ thấy nhiều thứ”. Y cho rằng: “Những khủng hoảng chồng chéo và đau khổ trong xã hội là do Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lợi ích của thiểu số trong Đảng lên trên phúc lợi của toàn dân”. Đây là một luận điệu không chỉ sai về bản chất, lệch về logic, mà còn gây bất ổn xã hội nếu không kịp thời đấu tranh, phản bác.

       1. Luận điệu của Phạm Đình Bá là phi lý và phản thực tế. Như chúng ta đã biết, nếu Đảng Cộng sản Việt Nam đặt lợi ích của một nhóm thiểu số trong Đảng lên trên phúc lợi nhân dân, thì làm sao đất nước Việt Nam từ tro tàn chiến tranh, có thể vươn lên trở thành một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, duy trì tăng trưởng GDP bền vững hàng năm, và được cộng đồng quốc tế đánh giá là một “hình mẫu phát triển hậu xung đột” điển hình? Chính Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo công cuộc đổi mới, bắt đầu từ năm 1986. Đây là dấu mốc, là bước ngoặt vĩ đại mang lại sự chuyển mình toàn diện cho đất nước. Đảng ta đã chấp nhận đổi mới tư duy, thay đổi mô hình phát triển, dám “tự sửa mình” để dân tộc Việt Nam được ấm no, tự do, hạnh phúc. 

       Trong những năm qua, nếu Đảng vì thiểu số, sao lại quyết liệt phát động và duy trì công cuộc chống tham nhũng, tiêu cực, mà nhiều người gọi là “lò lửa đốt không có vùng cấm”? Bao nhiêu cán bộ cấp cao đã bị xử lý, trong đó có cả Ủy viên Bộ Chính trị, Bộ trưởng, những tướng lĩnh trong lực lượng vũ trang, những người từng giữ trọng trách trong Đảng? Những con người đó có phải chính là “thiểu số trong Đảng” mà luận điệu kia định ám chỉ?

       2. Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện lợi ích toàn dân, luôn tự soi, tự sửa để hoàn thiện, phát triển. Chủ nghĩa Mác - Lênin đã chỉ rõ, Đảng Cộng sản không đại diện cho quyền lực của một giai cấp thiểu số, mà là đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đại biểu trung thành cho lợi ích của nhân dân lao động và của dân tộc. Tổ chức Đảng không tồn tại để ưu đãi nội bộ, mà để dẫn dắt toàn xã hội tiến bộ. Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng là “vì lợi ích của đất nước, của Nhân dân”. Mọi chính sách, pháp luật, kế hoạch phát triển quốc gia đều xoay quanh một trục trung tâm là Nhân dân, lấy dân làm gốc. Từ nghị quyết trung ương đến chính sách cụ thể, luôn lấy hạnh phúc của người dân là thước đo của thành công chính trị. Đây không phải là khẩu hiệu, mà là nguyên lý tổ chức quyền lực kiểu mới, quyền lực gắn liền trách nhiệm với nhân dân. Thực tiễn hiện nay, chúng ta không ai phủ nhận rằng đất nước còn nhiều khó khăn; một bộ phận cán bộ, đảng viên thoái hóa, biến chất; một số chính sách còn chậm thay đổi. Nhưng quy kết toàn bộ trách nhiệm cho “Đảng đặt quyền lợi thiểu số lên trên phúc lợi toàn dân” là sự đánh tráo khái niệm trắng trợn. Chính Đảng đã nhận diện thẳng thắn trong các văn kiện rằng: Có tình trạng “suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống”, có biểu hiện “tự diễn biến, tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nhưng quan trọng là: Đảng không né tránh. Đảng chủ động nhận khuyết điểm, đề ra giải pháp, hành động cụ thể và mạnh mẽ hơn bất kỳ đảng cầm quyền nào ở các quốc gia khác trong việc làm trong sạch bộ máy.

       Những người như Nguyễn Đình Bá tung ra luận điệu trên thường không quan tâm đến nỗi đau của dân, mà lợi dụng khó khăn của dân để thổi bùng tâm lý chống đối, nhằm xuyên tạc bản chất của chế độ, kích động chia rẽ nội bộ, làm suy yếu niềm tin của nhân dân với Đảng. Chúng chỉ nhìn vào biểu hiện cá biệt của một vài phần tử suy thoái để phủ nhận vai trò toàn diện và thành tựu to lớn của một Đảng gần 100 năm gắn bó với dân tộc, từ trong chiến hào kháng chiến đến thời kỳ hội nhập và phát triển. Đó là hành vi thổi phồng thiếu sót để phá hoại chính trị chứ không phải hành động góp ý xây dựng như chúng vẫn ngụy trang.

       Niềm tin của nhân dân Việt Nam dành cho Đảng không phải là niềm tin mù quáng, mà là niềm tin có cơ sở từ thực tiễn lịch sử, lý luận chính trị và đạo lý dân tộc. Những ai thực sự vì Nhân dân, hãy cùng Đảng sửa sai, khắc phục khuyết điểm, thúc đẩy đổi mới. Còn những kẻ đội lốt “nhân danh Nhân dân” như Phạm Đình Bá để phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc, dù chúng có núp dưới vỏ bọc nào, rồi cũng sẽ bị lịch sử và nhân dân đào thải. Đảng Cộng sản Việt Nam chắc chắn là lực lượng duy nhất hiện nay đủ bản lĩnh, trí tuệ và uy tín để lãnh đạo đất nước vững bước tiến lên cùng toàn quân và toàn dân bước vào kỷ nguyên mới của dân tộc Việt Nam./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.vn)


Aug 21, 2025

Sự hiểu biết “mơ hồ”của Phạm Đình Trọng về chủ nghĩa xã hội

           Trên trang “Baotiengdan”, Phạm Đình Trọng có bài viết “Cái đuôi của chính trị”; nội dung bài viết là những luận điệu xuyên tạc, phản động về chủ nghĩa xã hội nói chung và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam nói riêng. Phạm Đình Trọng cho rằng: “Chủ nghĩa xã hội sụp đổ trên phạm vi toàn thế giới… Ở Việt Nam, Chủ nghĩa xã hội là cuộc chiến tranh ý thức hệ đẫm máu…gây li tán sâu sắc cả dân tộc Việt Nam”. Đây là những luận điệu thể hiện rõ sự mơ hồ có chủ đích của Phạm Đình Trọng, bởi vì sự thật lịch sử không phải như vậy:

Một là, chủ nghĩa xã hội được hình thành, phát triển trên mảnh đất hiện thực khoa học và cách mạng. Chủ nghĩa xã hội là một hệ tư tưởng và một phong trào chính trị nhằm xây dựng một xã hội mà ở đó mọi người đều bình đẳng về kinh tế và chính trị; không còn áp bức, bóc lột, bất công. Với thiên tài bẩm sinh, trí tuệ uyên bác, đắm mình vào hoạt động thực tiễn của giai cấp công nhân, quần chúng nhân dân lao động C.Mác, Ph.Ănghen, V.I. Lênin đã đưa chủ nghĩa xã hội từ không tưởng trở thành khoa học; từ lý luận trở thành hiện thực. Thắng lợi Cách mạng Tháng Mười Nga năm 1917 đánh dấu sự ra đời của chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Kể từ đó đến nay, chủ nghĩa xã hội đã không ngừng lớn mạnh về mọi mặt, trở thành lực lượng đối trọng với chủ nghĩa tư bản. Những thành tựu mà Liên Xô và các nước Đông Âu đạt được về kinh tế, khoa học, kỹ thuật, quân sự; đặc biệt trong cuộc chiến tranh vệ quốc cứu nhân loại khỏi thảm hoạ diệt chủng của chủ nghĩa phát xít trong chiến tranh thế giới lần thứ hai là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, cuối thập niên 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX khi bước vào cải tổ, cách cách Liên Xô và các nước Đông Âu đã mắc sai lầm nghiêm trọng về đường lối dẫn đến sụp đổ. Song có thể khẳng định, sự sụp đổ của Liên Xô và các nước Ðông Âu trước đây chỉ là sự sụp đổ của một mô hình chủ nghĩa xã hội cụ thể do nhiều nguyên nhân khác nhau, chứ không thuộc về bản chất của chế độ xã hội chủ nghĩa, không phải do sai lầm trong lý luận về chủ nghĩa xã hội của chủ nghĩa Mác-Lênin mà chỉ là “bước thụt lùi tạm thời”. Bởi sự nghiệp đổi mới, cải cách, cải tổ ở các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay như: Việt Nam, Trung Quốc, Lào, Cuba… với khoảng 1,5 tỷ người đã nói lên sức sống và giá trị thời đại của nó tiếp tục được khẳng định trong tương lai là một chế độ xã hội ưu việt nhất trong lịch sử nhân loại.

Hai là, đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là sự lựa chọn duy nhất đúng. Ngay từ khi ra đời, Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xác định mục tiêu cách mạng, đề ra chủ trương, đường lối đúng đắn, phù hợp với yêu cầu, đòi hỏi của lịch sử. Đảng lãnh đạo cách mạng và được tất cả các giai tầng trong xã hội Việt Nam thừa nhận. Dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam, đất nước ta đã giành những thắng lợi vẻ vang, hoàn thành sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc, kháng chiến bảo vệ Tổ quốc, nhân dân được hưởng nền độc lập, tự do, ấm no, hạnh phúc. Đặc biệt, trong công cuộc đổi mới đất nước, sự lãnh đạo và cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam càng được thử thách và khẳng định, đưa Việt Nam có “thế và lực” mới, đất nước “chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay”. Hiện nay, Việt Nam đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế, kinh tế tăng trưởng khá và trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ của Liên hợp quốc về xóa đói, giảm nghèo, là điểm sáng về giảm nghèo trên thế giới; thiết lập quan hệ ngoại giao với 194 quốc gia trên thế giới; có quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện, Đối tác chiến lược và Đối tác toàn diện với 34 nước; là thành viên tích cực của trên 70 tổ chức khu vực và quốc tế; là một trong 34 nền kinh tế lớn nhất thế giới; quy mô kinh tế tăng gấp 100 lần so với năm 1986. Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 100 USD lên gần 5000 USD, nằm trong nhóm 20 nước có quy mô thương mại lớn nhất thế giới.

Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định: Đi lên chủ nghĩa xã hội là khát vọng của nhân dân ta, là sự lựa chọn đúng đắn của Đảng Cộng sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh, phù hợp với xu thế phát triển của lịch sử. Mỗi người dân Việt Nam luôn tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, vào quan điểm, đường lối phát triển đất nước luôn cần nêu cao tinh thần cảnh giác cách mạng, không nghe, không tin những thông tin sai trái, phản động đi ngược lại với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Aug 19, 2025

Cái nhìn thiển cận của Vũ Đức Khanh

            Trên trang Việt Tân, Vũ Đức Khanh đã đăng tải bài viết “Con đường Việt Nam trong thế kỷ XXI: Lựa chọn giữa Tự do hay Chuyên quyền”, với những luận điệu hết sức thiển cận và vô lý, mang tính chất xuyên tạc, phản động, chống phá Đảng, chống phá nền độc lập, tự do của dân tộc, đi ngược với những thành quả phát triển trong 80 năm qua ở nước ta.

1. Luận điệu cho rằng, Cách mạng Tháng Tám và Tuyên ngôn độc lập 02/9/1945 là giành độc lập dân tộc - nhưng chưa bao giờ có một cuộc cách mạng thực sự để giành lại quyền làm người và quyền làm công dân cho từng người dân. Đây là luận điệu hết sức sai trái, xuyên tạc. Chúng ta cần phải khẳng định, thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945 đã mở ra bước ngoặt vĩ đại trong lịch sử của dân tộc ta, đất nước ta. Thắng lợi này đã chính thức chấm dứt ách đô hộ gần 90 năm của thực dân Pháp đối với nước ta, mở ra kỷ nguyên độc lập “Đưa người nô lệ thành người tự do”. Lần đầu tiên tên nước Việt Nam có trên bản đồ thế giới, với tư cách và vị thế của một quốc gia, dân tộc tự do độc lập, có chủ quyền mà trước đó, trên địa đồ thế giới, tên nước ta đã bị xóa nhòa dưới bốn chữ “Đông Dương thuộc Pháp”. Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời; kháng chiến chống thực dân Pháp thắng lợi, nhân dân ta đã tự “làm chủ vận mệnh” của mình; trở thành nguồn động viên to lớn để nhiều dân tộc thuộc địa đứng lên giành độc lập. Trong lời thoái vị của vua Bảo Đại - Vị vua cuối cùng của triều đình phong kiến nhà Nguyễn đọc trước sự chứng kiến của hàng vạn người dân mít tinh trước cửa Ngọ Môn, kinh thành Huế ngày 30/8/1945, ông đã phát biểu rằng “thà được làm dân của nước tự do hơn làm vua của nước nô lệ”.

2. Luận điệu cho rằng, cuộc cách mạng mùa Thu năm 1945, dù mở đầu của ngôn ngữ tự do, cuối cùng lại kết thúc bằng sự thống trị của một đảng duy nhất. Đây là lời lẽ hết sức phản động, kính động, xuyên tạc. Bởi lẽ, một đảng đã chứng minh giá trị trong lịch sử, đã lãnh đạo toàn dân tộc Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác và ngày nay càng khẳng định vai trò lãnh đạo đất nước đến vị thế cao trên trường quốc tế, vững bước để tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.

Tám mươi năm qua, nhân dân Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam đã giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đoàn kết đấu tranh, lao động cần cù, sáng tạo, vượt qua nhiều khó khăn, thử thách; đất nước giành được nhiều thắng lợi vẻ vang và không ngừng phát triển. Đến nay, nước ta trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đẩy mạnh cộng nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế; kinh tế tăng trưởng khá; chính trị, xã hội ổn định; văn hóa, xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi; quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng, vị thế và uy tín của đất nước trên trường quốc tế được nâng cao. Theo Nghị quyết số 158/2024/QH15 của Quốc hội: tốc độ tăng tổng sản phẩm trong nước (GDP) khoảng 6,5 - 7,0% và phấn đấu khoảng 7,0- 7,5%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.900 USD; Tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới khoảng 80,5 - 81,5%, v.v. Nhiều học giả người nước ngoài có dịp đến Việt Nam và nghiên cứu về Việt Nam đã cho rằng Việt Nam rất thành công và đạt được nhiều tiến bộ trong giải quyết vấn đề liên quan đến con người như chương trình xóa đói giảm nghèo và hoàn thành sớm mục tiêu thiên niên kỷ.

Như vậy, các luận điệu cố gắng bôi nhọ những sự kiện lịch sử trọng đại đã trở thành niềm tự hào của đất nước, của dân tộc như Cách mạng Tháng Tám, Quốc khánh 02/9/1945 và thực tiễn phát triển của đất nước càng phơi bày sự vô lương tâm, thiếu hiểu biết, thiển cận của Vũ Đức Khanh và các thế lực thù địch. Thực tế cuộc sống ấm no, hạnh phúc của người dân và đất nước ta ngày càng được phát triển là những minh chứng bác bỏ mọi âm mưu, thủ đoạn phản động, xuyên tạc của chúng./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Aug 18, 2025

Cáo buộc vô căn cứ về “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” ở Việt Nam

          Thời gian qua, một số tổ chức và cá nhân thiếu thiện chí như Tổ chức Vận động cho Đức tin và Công lý tại Việt Nam (AFJV), Ủy hội Tự do Tôn giáo Quốc tế Hoa Kỳ (USCIRF) hay các phần tử cực đoan lưu vong đã liên tục đưa ra các cáo buộc vô căn cứ về việc Việt Nam hình sự hóa hoạt động tôn giáo; ngăn chặn tụ tập tôn giáo; xâm phạm tài sản tôn giáo; cưỡng ép từ bỏ tôn giáo; từ chối đơn đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân, v.v. Đây là những cáo buộc mang tính suy diễn, một chiều, bóp méo sự thật nhằm can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam, cần được đấu tranh, bác bỏ trên cơ sở khoa học và thực tiễn.

1. Việt Nam luôn tôn trọng, bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo phù hợp với pháp luật quốc tế

Điều 18, Công ước Quốc tế về các quyền dân sự, chính trị (ICCPR) mà Việt Nam là thành viên từ năm 1982 khẳng định quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng, tôn giáo của mọi người. Hiến pháp 2013 của Việt Nam cũng quy định rõ tại Điều 24: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo; theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”.

Trên thực tế, Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, tôn giáo, với hơn 26 triệu tín đồ thuộc 16 tôn giáo và trên 43 tổ chức tôn giáo được Nhà nước công nhận và cấp phép hoạt động. Các hoạt động tôn giáo diễn ra phong phú, đa dạng, từ lễ hội, nghi lễ tôn giáo đến các hoạt động từ thiện, nhân đạo, đều được tôn trọng và tạo điều kiện thực hiện theo quy định của pháp luật. Việt Nam luôn nghiêm túc thực hiện các nghĩa vụ quốc tế về quyền con người, trong đó có tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việt Nam đã tham gia và thực hiện báo cáo định kỳ trước các cơ chế của Liên hợp quốc như: UPR, ICCPR,… và chủ động đối thoại với các tổ chức quốc tế trên tinh thần xây dựng, minh bạch.

2. Nhận diện và phản bác các luận điệu vu cáo về tự do tôn giáo, tín ngưỡng ở Việt Nam

Một là, luận điệu “Hình sự hóa hoạt động tôn giáo” là hoàn toàn sai lệch. Nhà nước Việt Nam chỉ xử lý những hành vi lợi dụng tôn giáo để vi phạm pháp luật như: Kích động bạo lực, tuyên truyền chống Nhà nước, xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự xã hội, chứ không bao giờ xử lý đơn thuần vì lý do tôn giáo. Trường hợp linh mục Đặng Hữu Nam mà AFJV đề cập không liên quan đến quyền tự do tôn giáo mà xuất phát từ việc ông này có các hoạt động lợi dụng tôn giáo để xuyên tạc sự kiện Formosa, kích động biểu tình, gây rối trật tự. Hơn nữa, chính Giám mục Nguyễn Hữu Long - người có đầy đủ thẩm quyền trong Giáo hội Công giáo tại Việt Nam đã áp dụng các biện pháp quản lý đối với linh mục Nam hoàn toàn theo nội bộ giáo luật Công giáo, không phải là sự can thiệp của chính quyền.

Hai là, luận điệu “Ngăn chặn tụ tập tôn giáo” là sự bóp méo bản chất. Việt Nam tạo điều kiện cho các hoạt động tụ tập tôn giáo hợp pháp. Việc kiểm soát một số hoạt động tụ tập trái phép, không tuân thủ quy định là nhằm bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, điều mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới đều áp dụng. Không thể nhân danh tôn giáo để bao biện cho các hành vi lợi dụng tụ tập gây rối, phá hoại như những gì xảy ra tại Nghệ An giai đoạn sau sự cố môi trường biển miền Trung.

Ba là, luận điệu “Xâm phạm tài sản tổ chức tôn giáo” là cáo buộc vô căn cứ. Thực tế, Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo hộ tài sản hợp pháp của các tổ chức tôn giáo. Nhiều cơ sở tôn giáo được sửa chữa, xây dựng mới với sự hỗ trợ từ chính quyền các cấp. Nếu có mâu thuẫn liên quan đến đất đai, tài sản, đều được giải quyết theo pháp luật chung, không có sự phân biệt đối xử tôn giáo.

Bốn là, luận điệu “Cưỡng ép từ bỏ tôn giáo” là hoàn toàn bịa đặt. Không có chính sách, văn bản nào của Nhà nước Việt Nam quy định hoặc khuyến khích việc cưỡng ép từ bỏ tôn giáo. Đây là thủ đoạn tuyên truyền nhằm hạ thấp hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế.

Năm là, luận điệu “Từ chối đơn xin đăng ký tổ chức tôn giáo là pháp nhân” là vu cáo trắng trợn. Việc đăng ký tổ chức tôn giáo tại Việt Nam được thực hiện theo quy định chặt chẽ, minh bạch nhằm bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các tổ chức tôn giáo, tránh bị lợi dụng để hoạt động trái pháp luật. Những trường hợp không được cấp phép thường do không đáp ứng đủ điều kiện về pháp lý, nhân sự, cơ cấu tổ chức hoặc có dấu hiệu hoạt động trái pháp luật, chứ không phải vì lý do kỳ thị tôn giáo.

Tóm lại, AFJV được thành lập tại Mỹ, hoạt động dưới danh nghĩa “bảo vệ công lý”, nhưng thực chất là công cụ chính trị nhằm xuyên tạc tình hình tôn giáo tại Việt Nam. USCIRF - tổ chức liên tục đưa Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt” (CPC) về tự do tôn giáo - cũng đã nhiều lần bị các chuyên gia quốc tế và ngay cả nội bộ Mỹ chỉ trích về sự thiên lệch, thiếu khách quan, sử dụng tiêu chí kép để gây sức ép chính trị. Những cáo buộc cho rằng Việt Nam “đàn áp tự do tôn giáo, tín ngưỡng” là thiếu căn cứ, bóp méo bản chất sự việc, phục vụ ý đồ chính trị của một số tổ chức, cá nhân cực đoan. Việt Nam kiên quyết phản bác các luận điệu sai trái này, đồng thời khẳng định cam kết tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, tạo điều kiện cho các tổ chức, cá nhân hoạt động tôn giáo hợp pháp, đóng góp cho sự phát triển chung của đất nước./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Aug 15, 2025

Cái giá phải trả cho kẻ lợi dụng dân chủ để chống phá Nhà nước

          Tre Việt - Ngày 14/8, Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội chính thức ban hành Quyết định truy nã đối tượng Đoàn Bảo Châu (sinh năm 1968, hộ khẩu thường trú tại phường Giảng Võ, Thành phố Hà Nội) về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Ngay lập tức, trang facebook Việt Tân đăng status: “Bộ Công an Cộng sản Việt Nam phát lệnh truy nã nhà báo tự do Đoàn Bảo Châu vì lên tiếng phê phán các bất công xã hội”!, nhằm mục đích tạo sự chú ý của các tổ chức, cá nhân chống đối trong và ngoài nước bao che, cổ súy cho đối tượng chống đối này.

Đối tượng Đoàn Bảo Châu và lệnh truy nã

          Như được biết, thời gian gần đây, cái tên Đoàn Bảo Châu liên tục xuất hiện trên không gian mạng xã hội. Điều đáng nói là, sự xuất hiện đó của Đoàn Bảo Châu không phải bởi những đóng góp tích cực cho cộng đồng, mà chủ yếu là vì hàng loạt phát ngôn và bài viết gây tranh cãi, mang tính chất xuyên tạc, kích động, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ. Trong những bài viết của mình, Đoàn Bảo Châu liên tục tự nhận là người vô tội, là người đấu tranh ôn hòa vì chính nghĩa. Tuy nhiên, điều đáng lưu ý là bên cạnh việc tự thanh minh, ông ta không ngần ngại công kích chính quyền bằng những lời lẽ phiến diện, quy chụp và thiếu căn cứ, thậm chí lật lại những sự kiện lịch sử với mục đích xuyên tạc, kích động dư luận. 

          Điển hình là, dưới danh nghĩa phản biện xã hội, Đoàn Bảo Châu thường xuyên lợi dụng các sự kiện tiêu cực, những bất cập trong đời sống xã hội để bóp méo, xuyên tạc bản chất sự việc, từ đó gieo rắc nghi ngờ và tạo ra ấn tượng sai lệch trong dư luận. Mới đây, ông ta đã theo đuôi một số luồng thông tin trên mạng xã hội để công kích, phủ nhận giá trị của Nghị định 168/2024/NĐ-CP, đây là văn bản pháp lý thay thế cho Nghị định 100/2019/NĐ-CP (được sửa đổi tại Nghị định 123/NĐ-CP) chính thức có hiệu lực từ ngày 01/01/2025. Không chỉ bày tỏ quan điểm phản đối, Đoàn Bảo Châu còn sử dụng ngôn từ miệt thị, xúc phạm thô lỗ khi gọi nghị định là “ngu xuẩn và khốn kiếp”, thậm chí còn đưa ra lời thách thức thiếu văn hóa đối với những người xây dựng chính sách. Cùng với đó, Đoàn Bảo Châu lợi dụng quyền tự do ngôn luận để kích động, chia rẽ và phá hoại khối đoàn kết xã hội. Dưới vỏ bọc “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền”, Đoàn Bảo Châu không ngừng công kích chính quyền, cổ vũ cho sự can thiệp của các tổ chức nước ngoài vào công việc nội bộ của Việt Nam. Các bài viết không nhằm phản biện để cải thiện xã hội, mà chủ yếu nhằm mục đích khoét sâu sự bất đồng giữa chính quyền và người dân, chia rẽ các tầng lớp xã hội, kích động tâm lý phản kháng cực đoan. Trong bài viết “Tại sao tôi đau xót?”, Đoàn Bảo Châu cố tình xuyên tạc, bóp méo tình hình đất nước, tung hô ca ngợi những kẻ vi phạm pháp luật là “người yêu nước”, gọi những cá nhân bị kết án vì hành vi chống phá nhà nước là “tù nhân lương tâm”. Thực chất, đây là cách mà các thế lực phản động, thù địch, chống đối vẫn thường sử dụng, đó là khoác cho những kẻ phản loạn lớp vỏ “lương tâm” để từ đó đánh tráo khái niệm và gây nhiễu loạn nhận thức cộng đồng. Những nhân vật là “nhà yêu nước”, “tù nhân lương tâm”, như: Trần Huỳnh Duy Thức, Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang,… mà Châu ca ngợi thì đều là những đối tượng đã bị xử lý theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam vì hành vi vi phạm nghiêm trọng trật tự, an ninh quốc gia. Việc Đoàn Bảo Châu cổ súy, tung hô, ca ngợi những đối tượng này là hành vi tiếp tay cho luận điệu phản động, đi ngược lại lợi ích của quốc gia, dân tộc. Đoàn Bảo Châu còn sử dụng không gian mạng như một công cụ để công kích, thách thức chính quyền. Trong bài viết “Các vị đã thua”, Châu không ngần ngại tự nhận mình là người có lý tưởng cao cả, là đại diện cho công luận, là người “bất khuất không sợ hãi”. Không chỉ dừng lại ở việc tự ca ngợi, tung hô mình, ông ta còn buông lời đe dọa, thách thức nếu bị bắt thì sẽ không hợp tác, không trả lời, “thích đánh thì đánh nhưng nhớ trói tay tôi vào”. Những phát ngôn như vậy của Đoàn Bảo Châu không chỉ thể hiện sự ngạo mạn, mà còn mang màu sắc kích động, lôi kéo, khơi dậy tâm lý chống đối và bất hợp tác với pháp luật. 

          Với những hành vi và phát ngôn của Đoàn Bảo Châu không còn dừng lại ở giới hạn của một cá nhân phản biện xã hội mà là hành vi lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước. Việc Cơ quan An ninh điều tra Công an Thành phố Hà Nội quyết định truy nã đối với Đoàn Bảo Châu là hoàn toàn đúng quy định pháp luật để giữ nghiêm kỷ cương xã hội và bảo vệ nền tảng pháp lý của quốc gia; toàn thể người dân cùng chung tay cung cấp thông tin, để phục vụ công tác điều tra và đưa đối tượng về quy án. Đây chính là cái giá phải trả cho kẻ lợi dụng dân chủ, tự do ngôn luận để chống phá Nhà nước. Những chiêu trò mà Việt Tân và các tổ chức, cá nhân chống đối cố tình rêu rao sẽ không bao giờ trở thành tấm bình phong để bao biện cho hành vi vi phạm pháp luật của Đoàn Bảo Châu./.


Aug 14, 2025

Nghị quyết 68 là động lực, bệ phóng, không phải tấm băng rôn

            Tre Việt - Ngày 12/8/2025, trang facebook Việt Tân có bài viết cho rằng: Nghị quyết 68, ngày 04/5/2025 của Ban Chấp hành Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân không phải là động lực phát triển đất nước, chỉ là khẩu hiệu treo cho đẹp???

Thực tế, tiếp sau đại dịch Covid-19, là các cuộc xung đột quân sự, chiến tranh thương mại, cộng với quá trình biến đổi khí hậu làm khủng hoảng chuỗi cung ứng, tác động mạnh đến kinh tế mọi quốc gia trên thế giới. Do đó, trong năm 2024 và những tháng đầu năm 2025, các quốc gia đều tập trung tái cấu trúc nền kinh tế, lấy tư nhân quốc tế đóng vai trò chính trong đổi mới - sáng tạo, đầu tư, chuyển dịch nền kinh tế số. Ở Việt Nam, Đảng, Nhà nước đang hướng tới mục tiêu trở thành nước thu nhập trung bình cao trước 2030 và phát triển thịnh vượng, công bằng, bền vững; đồng thời, kinh tế tư nhân đã và đang chứng tỏ tính năng động, sáng tạo, bù đắp khoảng trống mà khu vực nhà nước chưa thể tiếp cận nhanh nhạy, nhất là trong các ngành mới, như: công nghệ thông tin, kinh tế số, năng lượng sạch, logistics, v.v. Nên Nghị quyết 68-NQ/TW, ngày 04/5/2025, về “phát triển kinh tế tư nhân” ra đời là phù hợp bối cảnh, đánh dấu bước ngoặt khẳng định kinh tế tư nhân không chỉ là một thành phần kinh tế, mà còn là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Tính động lực được thể hiện trên nhiều khía cạnh.

1. Đổi mới tư duy phát triển. Trước đây, kinh tế tư nhân dù được thừa nhận về mặt chính thức thì vẫn bị coi là thành phần nền kinh tế “có điều kiện”. Nghị quyết 68 chính thức nâng tầm kinh tế tư nhân thành “động lực quan trọng” - điều này không chỉ mang ý nghĩa pháp lý mà còn có giá trị chiến lược, tạo xung lực phát triển.

2. Khẳng định vai trò trong cơ cấu kinh tế. Việc khẳng định vai trò đó giúp xóa bỏ tư tưởng “thiệt thòi”, giúp kinh tế tư nhân trở thành đối tác bình đẳng trong liên kết công - tư, góp phần xây dựng nền kinh tế đa thành phần cởi mở, linh hoạt và phát triển toàn diện.

3. Đột phá hỗ trợ, nâng tầm kinh tế tư nhân, như: (1). Về tầm nhìn chiến lược và mục tiêu, đã gắn phát triển kinh tế tư nhân: với xây dựng chính phủ kiến tạo, phục vụ; với hội nhập quốc tế, chuyển đổi số, và phát triển xanh. Và kinh tế tư nhân không còn là “bộ phận phụ trợ”, mà là nhân tố trung tâm, động lực chủ đạo của nền kinh tế thị trường. Mục tiêu phấn đấu đến năm 2030, kinh tế tư nhân đóng góp một tỉ trọng đáng kể trong GDP, tạo thêm hàng triệu việc làm chất lượng, tăng số lượng doanh nghiệp tư nhân hoạt động hiệu quả, có quy mô ngang tầm khu vực và quốc tế góp phần đưa đất nước có trên 2 triệu doanh nghiệp. (2). Giảm gánh nặng hành chính; đơn giản hóa các loại giấy phép, rút ngắn thời gian, minh bạch hóa quy trình; doanh nghiệp tư nhân được tiếp cận vốn, đất đai, nguồn lực công như doanh nghiệp nhà nước,… tạo sân chơi bình đẳng. (3) Khuyến khích đổi mới sáng tạo, hỗ trợ đào tạo và phát triển năng lực; ưu đãi thuế cho nghiên cứu, phát triển, khởi nghiệp, chuyển đổi số; hỗ trợ kết nối với hệ sinh thái khởi nghiệp, các quỹ đầu tư, trường đại học; nâng cao kỹ năng quản trị, chuyển giao công nghệ, quản trị quốc tế. (4). Tạo khung pháp lý bảo vệ quyền sở hữu, đầu tư và cạnh tranh lành mạnh; chống độc quyền, lãng phí, lạm quyền; minh bạch thông tin; bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, v.v.

4. Thúc đẩy thực tiễn phát triển. Nghị quyết 68 cho doanh nghiệp cảm nhận rõ: “Chính phủ và Đảng đồng hành lâu dài” đã tác động mạnh đến tâm lý và niềm tin; nó củng cố niềm tin cho các doanh nhân, nhất là người trẻ, sáng tạo, khởi nghiệp; xóa bỏ rào cản tâm lý “không dám”, “ngại rủi ro chính sách”. Đồng thời, môi trường kinh doanh cải thiện mạnh; thủ tục đăng ký doanh nghiệp giảm từ hàng chục ngày xuống vài ngày với chi phí giảm đáng kể; các doanh nghiệp tư nhân được đưa vào trung tâm khởi nghiệp đổi mới sáng tạo nên số lượng startup tăng nhanh, góp phần bảo toàn nguồn nhân lực công nghệ. Với niềm tin được khẳng định, dòng vốn đầu tư tư nhân, trong nước, lẫn từ kiều hối được huy động mạnh hơn; các doanh nghiệp trong nước - đặc biệt các tập đoàn lớn - mạnh dạn tiếp cận công nghệ cao, M&A, liên doanh với tập đoàn toàn cầu,… góp phần nâng tầm năng lực ngành.

Nhờ đó, tăng trưởng GDP bình quân đạt mức cao hơn trung bình giai đoạn trước, (quý 2/2025 tăng trưởng gần 08%); tỷ lệ đóng góp của kinh tế tư nhân vào GDP tăng từ 40% lên 50 - 60%; thương mại quốc tế phát triển, theo hướng xuất khẩu giá trị gia tăng, sản phẩm công nghệ - chuyển dịch dần khỏi xuất khẩu lao động chân tay; văn hóa đổi mới, khởi nghiệp lan rộng từ đô thị ra vùng nông thôn, vùng kinh tế mới, v.v. Như vậy, Nghị quyết 68 mở ra cơ hội để các doanh nghiệp tư nhân mạnh dạn đầu tư, đổi mới, tạo việc làm, đóng thuế, thúc đẩy hội nhập, phát triển nguồn nhân lực tại địa phương,… góp phần gắn kết cộng đồng, lan tỏa trách nhiệm xã hội, là động lực mới, quan trọng đóng góp trực tiếp vào tăng trưởng - ổn định kinh tế quốc gia./.

Aug 12, 2025

Phản bác cáo buộc Việt Nam hạn chế tự do báo chí và internet

          Trong thời gian gần đây, một số tổ chức quốc tế như FIDH hay CSW đã liên tục đưa ra các cáo buộc cho rằng Việt Nam kiểm soát chặt chẽ báo chí và hạn chế tự do internet. Những thông cáo này không chỉ thiếu cơ sở mà còn cố tình bóp méo sự thật, nhằm phục vụ các mục tiêu chính trị không trong sáng. Thực tế, Việt Nam đã đạt được những thành tựu đáng kể trong việc thúc đẩy tự do tiếp cận thông tin, đồng thời xây dựng một không gian mạng an toàn, lành mạnh cho người dân. 

Trước hết, cần khẳng định rằng cáo buộc Việt Nam hạn chế tự do báo chí và internet là hoàn toàn không chính xác. Với hơn 70 triệu người dùng internet, chiếm khoảng 70% dân số, Việt Nam là một trong những quốc gia có tỷ lệ tiếp cận mạng cao nhất khu vực Đông Nam Á. Theo Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2024, Việt Nam hiện có hơn 800 cơ quan báo chí, bao gồm hàng trăm tờ báo in, báo điện tử và các kênh truyền hình, hoạt động sôi nổi trên mọi lĩnh vực từ chính trị, kinh tế đến văn hóa, xã hội. Các nền tảng mạng xã hội như Facebook, YouTube hay TikTok cũng thu hút hàng chục triệu người dùng hoạt động hàng ngày, với hàng tỷ bài đăng, video và bình luận được chia sẻ. Những con số này là minh chứng sống động cho một môi trường thông tin cởi mở, đa dạng, trái ngược hoàn toàn với bức tranh u ám mà các tổ chức như FIDH cố tình vẽ nên.

          Hơn nữa, Luật An ninh mạng 2018, thường bị các báo cáo quốc tế viện dẫn như một công cụ kiểm soát tự do ngôn luận, thực chất được ban hành để bảo vệ người dùng trước các mối đe dọa như tin giả, lừa đảo trực tuyến và các nội dung độc hại. Báo cáo của Bộ Thông tin và Truyền thông năm 2024 chỉ rõ rằng luật này không hề cấm đoán các hoạt động bày tỏ quan điểm hợp pháp, mà tập trung vào việc ngăn chặn thông tin sai lệch, kích động bạo lực hoặc xâm phạm an ninh quốc gia. Những quy định này tương đồng với các tiêu chuẩn quốc tế, chẳng hạn như Luật An ninh Trực tuyến 2023 của Anh, vốn cũng yêu cầu các nền tảng số kiểm soát nội dung bất hợp pháp. Thành tựu của Việt Nam trong lĩnh vực này được quốc tế ghi nhận, khi Báo cáo của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU) năm 2024 xếp Việt Nam đứng thứ 5 thế giới về chỉ số tiếp cận internet, vượt qua nhiều quốc gia phát triển.

          Đằng sau những cáo buộc sai lệch là các động cơ chính trị rõ ràng. Một số tổ chức như FIDH hay CSW dường như đang tìm cách kích động dư luận quốc tế, làm suy yếu các chính sách an ninh mạng của Việt Nam để phục vụ các lợi ích không minh bạch. Thủ đoạn của họ thường là bóp méo các quy định pháp luật, gắn mác “kiểm soát tự do ngôn luận” cho những nỗ lực bảo vệ an ninh quốc gia của Việt Nam. Hành vi này không phải lần đầu được ghi nhận. Năm 2022, tờ Jakarta Post từng chỉ trích FIDH vì đưa ra báo cáo sai lệch về tự do báo chí tại Indonesia, trong đó cố tình thổi phồng các hạn chế để gây áp lực lên chính phủ nước này. Tương tự, CSW lại giữ im lặng trước những quy định nghiêm ngặt về internet tại Anh, như Luật An ninh Trực tuyến 2023, vốn bị chỉ trích vì trao quá nhiều quyền kiểm soát nội dung cho chính phủ. Sự thiếu nhất quán này cho thấy tiêu chuẩn kép trong cách các tổ chức này đánh giá các quốc gia, đặc biệt là những nước đang phát triển như Việt Nam.

Một chiêu trò khác thường được sử dụng là lợi dụng các sự kiện ngoại giao để khuếch đại các cáo buộc. Chẳng hạn, trong dịp chuyến thăm của Tổng thống Pháp Emmanuel Macron đến Việt Nam, một số tổ chức đã cố tình tung ra các báo cáo hoặc tuyên bố nhằm gây áp lực lên chính sách truyền thông của Việt Nam. Hành vi này không mới. Năm 2018, Global Witness từng lợi dụng Diễn đàn Kinh tế Thế giới được tổ chức tại Việt Nam để phát tán các thông tin xuyên tạc về tự do báo chí, khiến VnExpress phải lên tiếng bác bỏ. Những hành động này không chỉ thiếu thiện chí mà còn cố tình làm phức tạp hóa các mối quan hệ ngoại giao, gây hiểu lầm trong cộng đồng quốc tế về thực trạng tự do thông tin tại Việt Nam.

Quan trọng hơn, các cáo buộc này còn vi phạm nghiêm trọng các nguyên tắc của luật pháp quốc tế. Theo Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị (ICCPR), mọi quốc gia có quyền tự quyết trong việc xây dựng các chính sách phù hợp với bối cảnh văn hóa, chính trị và xã hội của mình. Việc các tổ chức như FIDH can thiệp vào chính sách truyền thông của Việt Nam, thông qua các báo cáo sai lệch hoặc áp lực quốc tế, là hành vi xâm phạm quyền tự quyết của một quốc gia có chủ quyền. Hành động tương tự đã từng bị Nga lên án mạnh mẽ vào năm 2022, khi FIDH bị cáo buộc đưa ra các báo cáo sai sự thật về tự do báo chí, được RT mô tả như một hình thức “tấn công chủ quyền”. Những tiền lệ này cho thấy các tổ chức như FIDH không chỉ thiếu khách quan mà còn đang lạm dụng danh nghĩa bảo vệ nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của các quốc gia khác.

          Những cáo buộc rằng Việt Nam hạn chế tự do báo chí và internet là hoàn toàn thiếu cơ sở, đi ngược lại với thực tế về một đất nước có môi trường thông tin sôi động và cởi mở. Các con số về người dùng internet, số lượng cơ quan báo chí và xếp hạng quốc tế của Việt Nam là minh chứng rõ ràng cho sự phát triển của tự do tiếp cận thông tin. Đằng sau những luận điệu sai trái là các động cơ chính trị, tiêu chuẩn kép và các chiêu trò lợi dụng sự kiện ngoại giao nhằm gây áp lực lên Việt Nam. Hơn thế nữa, các hành vi này vi phạm luật pháp quốc tế, đe dọa quyền tự quyết của một quốc gia có chủ quyền. Việt Nam, với những nỗ lực không ngừng trong việc xây dựng một không gian mạng an toàn và một nền báo chí đa dạng, xứng đáng được nhìn nhận công bằng thay vì trở thành mục tiêu của những cáo buộc thiếu thiện chí.

 (Trích nguồn: nhanquyenvn.org)

 

Thủ đoạn chống phá núp bóng “phản biện chính trị”

           Bài viết “Thời gian vay mượn của Đảng Cộng sản Việt Nam phải chấm dứt” của Chu Tuấn Anh đang được tán phát rộng rãi trên nhiều diễn đàn phản động là “sản phẩm” của hoạt động tuyên truyền chống phá Đảng và Nhà nước ta bằng thủ đoạn núp bóng “phản biện chính trị”. Đằng sau vỏ bọc từ ngữ có vẻ học thuật, bài viết chứa đựng nhiều luận điệu sai trái, mang tính xuyên tạc, kích động, nhằm phủ nhận thành tựu cách mạng Việt Nam, phá hoại niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng.

1. Xuyên suốt bài viết, Chu Tuấn Anh đưa ra một chuỗi lập luận ngụy biện, xuyên tạc nhằm phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và kích động tâm lý chống đối trong xã hội. Y cố tình quy chụp rằng Đảng ta đang “vay mượn ngôn ngữ chính trị” từ các tổ chức đối lập; cho rằng các khái niệm như “dân chủ”, “phát triển”, “kỷ nguyên vươn mình” là sản phẩm riêng của phe chống đối. Đây là sự đánh tráo khái niệm trắng trợn, bởi những khái niệm đó là tài sản chung của nhân loại, không thuộc về bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào. Việc Đảng ta sử dụng và vận dụng linh hoạt các khái niệm thời đại, gắn với điều kiện thực tiễn Việt Nam trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện sự chủ động, sáng tạo trong tư duy chiến lược, chứ không phải sự “sao chép” như y xuyên tạc.

Chu Tuấn Anh còn cố tình bóp méo cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, khi gọi đó là “tranh giành quyền lực” giữa các “phe phái” trong nội bộ Đảng. Đây là luận điệu cũ kỹ, nhằm làm xói mòn niềm tin của nhân dân; phủ nhận thực tế “không có vùng cấm, không có ngoại lệ” trong cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở nước ta. Y viện dẫn một cách khập khiễng các mô hình chính trị ở Thái Lan, Campuchia, Iran hay Israel để so sánh với Việt Nam, từ đó rút ra kết luận phi lý rằng Việt Nam đang tụt hậu. Đây là sự so sánh lệch chuẩn, sai cả về lý luận lẫn thực tiễn, bởi Việt Nam là quốc gia xã hội chủ nghĩa với mô hình phát triển riêng, được lịch sử lựa chọn, Hiến pháp quy định, nhân dân và bạn bè quốc tế ủng hộ. Việc áp đặt chủ quan mô hình thể chế chính trị của nước ngoài để phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta không ngoài mục đích cổ súy cho đa nguyên, đa đảng, hướng lái con đường phát triển của Việt Nam theo quỹ đạo tư bản chủ nghĩa.

Thực chất, toàn bộ bài viết của Chu Tuấn Anh không nhằm phản biện hay góp ý xây dựng, mà là một sản phẩm có chủ đích chống phá, lồng ghép mưu đồ chính trị đen tối. Những luận điệu này đang tiếp tay cho các âm mưu, thủ đoạn “diễn biến hòa bình”, kích động sự bất mãn trong xã hội, hòng làm suy yếu hệ thống chính trị hiện tại của Việt Nam. Tác hại của những luận điệu này không chỉ dừng lại ở mặt tư tưởng, mà còn tiềm ẩn nguy cơ tạo ra các phản ứng tiêu cực trong xã hội, gây chia rẽ giữa Đảng với dân, làm giảm niềm tin vào chế độ, kích động tâm lý “vô chính phủ”, đòi thay đổi thể chế chính trị bằng “biện pháp mềm”. Nếu không được nhận diện và phản bác kịp thời, đó có thể là mầm mống dẫn đến khủng hoảng niềm tin, bất ổn xã hội, tạo cớ để thế lực thù địch, phản động can thiệp vào công việc nội bộ của nước ta.

2. Trước những luận điệu xuyên tạc của Chu Tuấn Anh, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên và người dân Việt Nam cần nêu cao tinh thần tỉnh táo, cảnh giác, nhận diện đúng bản chất, mưu đồ chính trị đen tối, kiên quyết không để những lời lẽ “bọc đường” nhưng đầy toan tính kia làm lung lay niềm tin chính trị. Tiếp tục nâng cao hiệu quả tuyên truyền, giáo dục sâu rộng trong xã hội, đặc biệt là thế hệ trẻ, về những giá trị cốt lõi của chế độ, về vai trò lịch sử của Đảng trong lãnh đạo đưa đất nước thoát khỏi đói nghèo, tụt hậu và vươn lên mạnh mẽ như ngày nay.

Cấp ủy, chính quyền các cấp cần lấy việc củng cố lòng dân làm “phương thuốc đặc trị” chống lại các luận điệu sai trái, thù địch. Một chính quyền gần dân, vì dân, hành động vì lợi ích chung, sẽ luôn là bức tường vững chắc trước mọi sự công kích thù địch, dù tinh vi, xảo quyệt đến đâu. Cơ quan báo chí, truyền thông, nhà báo, nhà khoa học, trí thức… cần chủ động xây dựng, tuyên truyền các luận cứ khoa học để phản bác kịp thời trước những thông tin xấu độc một cách thuyết phục, linh hoạt. Thay vì phản ứng một chiều, cần chọn lọc thông tin, phản biện có tính học thuật và nhân văn, từ đó định hướng dư luận một cách hiệu quả, đúng đắn. Nhân rộng các mô hình tuyên truyền sáng tạo, đa phương tiện (như videoclip ngắn, podcast, infographic, đối thoại trực tuyến…) để đưa thông tin lành mạnh đến với công chúng một cách tự nhiên, dễ tiếp nhận, đặc biệt là với giới trẻ.

Tóm lại, đấu tranh với những luận điệu như của Chu Tuấn Anh không chỉ là việc “bắt bẻ câu chữ” mà là cuộc chiến bảo vệ nền tảng tư tưởng, niềm tin chính trị và sự ổn định lâu dài của đất nước. Mỗi người dân tỉnh táo, mỗi tổ chức chính trị – xã hội chủ động, mỗi cấp chính quyền trách nhiệm, mỗi cán bộ đảng viên gương mẫu chính là “vaccine” chống lại những mầm mống xuyên tạc, chống phá đang ngày càng tinh vi, phức tạp./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)

 

Aug 8, 2025

Bác bỏ thông tin xuyên tạc của Việt Tân về tìm kiếm hài cốt quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam

        Tre Việt – Ngày 05/8, trang facebook Việt Tân đăng bài “Xác minh 25 hài cốt lính Mỹ, cộng sản Việt Nam lấy 86 triệu USD”, trong bài viết họ thông tin xuyên tạc rằng: “Mới đây, chính quyền cộng sản Việt Nam bị National League - một Liên minh Quốc gia Gia đình Tù binh và Người mất tích Mỹ ở Đông Nam Á tố cáo nhận 86 triệu USD trong 9 năm chỉ xác minh được 25 hài cốt lính Mỹ mất tích trong chiến tranh Việt Nam (MIA)”. Đây là thông tin xuyên tạc, sai sự thật về kết quả và những nỗ lực hợp tác đầy đủ giữa chính phủ Hoa Kỳ và Việt Nam trong công việc nhân đạo tìm kiếm MIA đã làm trong suốt 50 năm qua.

Lễ ký biên bản bàn giao hài cốt quân nhân Hoa Kỳ
 lần thứ 170

Ngày 02/8/2025, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết phản ứng của Việt Nam trước những thông tin trong báo cáo của Liên đoàn Quốc gia Gia đình Tù binh và Người mất tích tại Đông Nam Á về hoạt động hợp tác nhân đạo tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA), Người Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng nêu rõ: đây là những thông tin xuyên tạc, sai sự thật và chúng tôi kiên quyết phản đối. Hoạt động hợp tác nhân đạo tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) đã được chính phủ hai nước Việt Nam và Hoa Kỳ triển khai tích cực và hiệu quả trong hơn 50 năm qua, giúp hàng nghìn hài cốt quân nhân Hoa Kỳ được nhận dạng và trao trả cho gia đình. Đây là kết quả rất ý nghĩa, góp phần thúc đẩy hợp tác khắc phục hậu quả chiến tranh giữa hai nước và là minh chứng sinh động của tinh thần nhân đạo, góp phần xây dựng và củng cố lòng tin, tình hữu nghị giữa Việt Nam và Hoa Kỳ. Hiệu quả hợp tác MIA của Việt Nam luôn được phía Hoa Kỳ ghi nhận và đánh giá cao, coi là hình mẫu trong quan hệ quốc tế.

Như được biết, hoạt động hợp tác nhân đạo tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam được hai nước triển khai ngay sau khi Hiệp định Paris được ký kết năm 1973, đến nay đã đạt được những kết quả tích cực, giúp Hoa Kỳ nhận dạng và trả hài cốt về gia đình 735 trường hợp trong số 1.973 trường hợp quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh tại Việt Nam. Gần đây nhất, ngày 25/7 vừa qua, tại thành phố Đà Nẵng, hai nước đã phối hợp tổ chức Lễ trao trả hài cốt quân nhân Mỹ lần thứ 170, tại buổi Lễ, Việt Nam đã bàn giao cho phía Mỹ 03 hòm đựng hài cốt.

Thời gian tới, hai nước sẽ tiếp tục hợp tác đầy đủ trong lĩnh vực này theo đúng tinh thần Tuyên bố chung về nâng cấp quan hệ Việt Nam - Hoa Kỳ lên Đối tác chiến lược toàn diện vì hòa bình, hợp tác và phát triển bền vững.

Những thông tin xuyên tạc, sai sự thật trong báo cáo của Liên đoàn Quốc gia Gia đình Tù binh và Người mất tích tại Đông Nam Á về hoạt động hợp tác nhân đạo tìm kiếm và kiểm kê quân nhân Hoa Kỳ mất tích trong chiến tranh ở Việt Nam (MIA) mà Việt Tân rêu rao cần kiên quyết phản đối và đấu tranh bác bỏ./.

Aug 7, 2025

Tinh giản bộ máy hành chính là phù hợp với thực tiễn ở Việt Nam

           Trên trang “Saigonnhonew” Minh Hải đã đăng tải bài viết với tựa đề “Chia vùng cài cắm người, chóp bu CSVN chuẩn bị quyết đấu”. Trong bài viết, Minh Hải đã đưa ra một số luận điệu xuyên tạc, bôi nhọ, phủ nhận những thành tựu đổi mới của đất nước, gieo rắc sự hoài nghi trong dư luận và bóp méo chủ trương tinh gọn bộ máy hành chính của Đảng và Nhà nước ta.

Một là, xuyên tạc, vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam thực hiện chủ trương tinh giản bộ máy hành chính với mục đích “cơ cấu lại quyền lực địa phương để tập trung quyền lực ở Trung ương”. Đây là luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật, phủ nhận những nỗ lực cải cách hành chính, gieo rắc tư tưởng nghi ngờ, kích động tâm lý phản đối chính sách, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân và làm suy yếu niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam.

Cần khẳng định rằng, tinh giản bộ máy hành chính, tái cơ cấu chính quyền địa phương hai cấp là một quá trình tất yếu, phù hợp với xu thế phát triển của quản trị hiện đại. Nó hướng tới mục tiêu nâng cao hiệu quả hoạt động của bộ máy Nhà nước, xóa bỏ sự chồng chéo và tăng cường tính chuyên nghiệp. Mục đích cốt lõi là phục vụ người dân tốt hơn, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của từng địa phương, chứ không phải nhằm mục đích để “tập trung quyền lực” về Trung ương.

Thực tế cho thấy, một bộ máy cồng kềnh, nhiều tầng nấc, kém hiệu quả sẽ làm chậm quá trình ra quyết định, gây lãng phí nguồn lực và tạo ra những rào cản không cần thiết cho sự phát triển. Tinh giản bộ máy nhằm loại bỏ những khâu trung gian, chồng chéo, giảm bớt thủ tục hành chính rườm rà, qua đó nâng cao năng lực điều hành của các cơ quan nhà nước. Điều này giúp đẩy nhanh tiến độ triển khai các chính sách, nghị quyết của Đảng và Nhà nước, đưa các chủ trương lớn đi vào cuộc sống một cách nhanh chóng và hiệu quả hơn.

Việc tinh giản bộ máy, giảm bớt các khâu trung gian, thay vì làm suy yếu chính quyền địa phương, lại giúp các địa phương chủ động hơn trong việc đưa ra các quyết sách phù hợp với đặc thù và tiềm năng của mình. Quyền lực không hề bị “thu về Trung ương” một cách cứng nhắc, mà được tổ chức lại một cách khoa học hơn để tạo điều kiện cho địa phương phát huy tối đa nội lực.

Hai là, quy chụp, vu khống Đảng, Nhà nước Việt Nam đang lợi dụng việc tinh giản bộ máy hành chính để phân chia phe nhóm, chuẩn bị địa bàn, tạo mâu thuẫn quyền lực để “chia ghế tại đại hội XIV”. Luận điệu này phản ánh một tư duy thiển cận, cố tình bóp méo, xuyên tạc quy trình nhân sự của Đảng, đánh đồng cải cách hành chính với tranh giành nội bộ, phớt lờ những lợi ích lớn lao mà tinh giản bộ máy mang lại.

Có thể khẳng định, việc tinh giản bộ máy hành chính là một chủ trương lớn, xuyên suốt của Đảng và Nhà nước ta trong nhiều năm qua, không phải là vấn đề mới xuất hiện hay chỉ dành cho một kỳ đại hội cụ thể. Chủ trương này ra đời từ yêu cầu khách quan của thực tiễn, nhằm khắc phục tình trạng cồng kềnh, kém hiệu quả, chồng chéo chức năng nhiệm vụ, tệ nạn quan liêu, tham nhũng trong bộ máy. Qua đó, nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, kinh doanh và phát triển bền vững, đồng thời hướng tới xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, phục vụ tốt nhất lợi ích của nhân dân và doanh nghiệp.

Nếu chỉ là “chia ghế”, tại sao Đảng và Nhà nước phải dày công xây dựng, ban hành hàng loạt nghị quyết, chỉ thị, đề án chi tiết về tinh giản biên chế, sắp xếp lại tổ chức bộ máy? Tại sao phải tiến hành đánh giá, sàng lọc, luân chuyển cán bộ một cách khoa học, dựa trên tiêu chí năng lực, phẩm chất, hiệu quả công tác? Những quy trình này đều được thực hiện công khai, minh bạch, có sự giám sát chặt chẽ từ nhân dân và các tổ chức chính trị xã hội. Việc sáp nhập một số cơ quan Trung ương, tỉnh, xã, giải thể cấp quận, huyện hay điều chuyển cán bộ đều tuân thủ các nguyên tắc, quy định chặt chẽ, hướng đến mục tiêu tối ưu hóa hiệu quả hoạt động, chứ không phải để tạo ra “địa bàn” cho bất kỳ phe nhóm nào.

Hơn nữa, quy trình chuẩn bị nhân sự cho các Đại hội Đảng, đặc biệt là Đại hội toàn quốc, là một quy trình chặt chẽ, dân chủ, công khai và minh bạch, tuân thủ các nguyên tắc của Đảng. Việc lựa chọn cán bộ dựa trên năng lực, phẩm chất, uy tín và sự tín nhiệm của tập thể, chứ không phải là sự “chia chác” vị trí. Quá trình này diễn ra từ cơ sở, qua nhiều vòng hiệp thương, lấy ý kiến rộng rãi trong toàn Đảng và nhân dân, đảm bảo sự lựa chọn những cán bộ đủ tiêu chuẩn, đủ đức, đủ tài gánh vác trọng trách. Do đó, việc gắn tinh giản bộ máy với “chia ghế” là hoàn toàn vô lý, nhằm hạ thấp uy tín, làm suy giảm niềm tin của nhân dân vào công tác cán bộ của Đảng.

Tóm lại, chủ trương tinh giản bộ máy hành chính của Đảng là một quyết sách đúng đắn, thể hiện tầm nhìn chiến lược trong việc xây dựng một nền hành chính phục vụ nhân dân. Đây là một bước đi quan trọng để củng cố sức mạnh của hệ thống chính trị, đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong giai đoạn mới. Những luận điệu xuyên tạc như “tập trung quyền lực ở Trung ương”, “chia ghế”, “chia phe nhóm” hay “chuẩn bị điạ bàn” thực chất cũng chỉ là những chiêu trò cũ rích. Vì vậy, mỗi chúng ta cần hết sức cảnh giác, không để những thông tin độc hại này đầu độc tư tưởng và làm lung lay ý chí./.

(Trích nguồn: nhanvanviet.com)